• Thứ Hai, 24 tháng 6, 2019

    XƯNG VỊ MANG TÍNH KHẨU NGỮ DÂN GIAN THỜI ĐƯỜNG
    (kì 3)

    Ra bên ngoài kết giao bạn bè, xưng hô như thế nào
              Đại Đường là một quốc độ hữu hảo, chỉ nhìn từ thơ văn có thể chọn ra từng đôi, từng cặp bạn bè. Bạch Cư Dị 白居易 và Lưu Vũ Tích 刘禹锡, Đỗ Phủ 杜甫 và Lí Bạch 李白, Hàn Dũ 韩愈 và Mạnh Giao 孟交, quả thực là rất nhiều. Nếu những người này sống cùng niên đại lại đều có sân chơi để trò chuyện, họ sẽ “like” lẫn nhau, thơ Đường khả năng cũng hướng đến trình độ phát triển cao. Nhưng nếu họ tụ tập lại với nhau, trò chuyện về thơ ca, về văn chương, về quan trường, về nhân sinh, mở miệng xưng hô đối phương như thế nào đây? Như phần trên có nói Bạch Cư Dị xưng hô Nguyên Chẩn là “Nguyên Cửu” 元九, mà nói tới danh nhân văn hoá Đại Đường, làm sao có thể quên “Lí Đỗ”?
              Đỗ Phủ và Lí Bạch hai người thường giao lưu với nhau, có rượu cùng uống, có thịt cùng ăn, cùng dạo chơi cùng ca hát, có thế xếp đầu bảng “Đại Đường văn đàn thập đại kiệt xuất hảo bằng hữu” 大唐文坛十大杰出好朋友 (Mười bằng hữu đại kiệt xuất của văn đàn thời Đường). Đã là bạn bè, thì làm thơ đưa bạn đọc. Lí Bạch tự Thái Bạch 太白. Trong gia đình, Lí Bạch là thứ 12, cho nên có lúc Đỗ Phủ trong tiêu để bài thơ ghi rõ “Lí Thập Nhị Bạch” 李十二白, có nghĩa như là “@” Lí Bạch, dùng kiểu xưng hô như vậy chính là cách sau tính thị thêm thứ tự hàng và tên.
              Bạn bè cũng chia làm nhiều loại, như Nguyên Chẩn và Bạch Cư Dị đã nói ở phần trước, Lí Bạch và Đỗ Phủ đều là những người bạn cực tốt, nhưng trong cuộc sống cũng không tránh khỏi mấy lần “điểm đầu chi giao” 点头之交 (1), bạn bè như thế phải xưng hô như thế nào? Nói một cách đơn giản, có thể tham chiếu “Tiêu Thập Nhất Lang” 萧十一郎 trong tiểu thuyết của Cổ Long 古龙, những gì Cổ Long tiên sinh miêu tả tuy nói là giang hồ, nhưng cách xưng hô Tiêu Thập Nhất Lang như thế quả thực là tồn tại ở Đại Đường, đồng thời được sử dụng rộng rãi.
              Nếu gặp phải nữ giới thì sao? hãy nghĩ tới đệ tử “Lí Thập Nhị Nương” 李十二娘 của Công Tôn Đại Nương 公孙大娘 múa kiếm. Bách tính triều Đường với người nam quen biết gọi là “lang” , với người nữ gọi một tiếng “nương” , sau đó phía trước theo thứ tự gia thêm thứ tự hàng và tính thị của họ. Nhân khẩu Đại Đường rất đông, tên của nhiều người có thể lúc họ còn sống đã bị quên mất. Khi họ xuất hiện trong phạm vi tầm mắt của người triều Đường, họ thường được xưng là “Trương Ngũ Lang” 张五郎 hoặc “Lí Tứ Nương” 李四娘v.v...
              Thế thì bách tính triều Đường lúc bình thường tự xưng ra sao? Về điểm này, Đại Đường vẫn nam nữ hữu biệt. Nhìn chung, nữ tự xưng là “nhi” , nam tự xưng là “mỗ”, bất luận người gặp là xa lạ hay bạn bè, hoặc là quan viên, bách tính đều có thể tự xưng như lúc trò chuyện. Nếu khi bạn được hỏi “Nễ hạnh phúc ma” 你幸福吗 (bạn hạnh phúc không?), bạn phải đáp rằng: “Mỗ (nhi) ngận hạnh phúc” () 很幸福 (tôi rất hạnh phúc)!
              Nói tóm lại, xưng vị mang tính khẩu ngữ dân gian triều Đường, có chỗ không khác mấy với hiện đại, ví dụ “lão công”, “lão bà”, có chỗ lại khác xa với hiện đại, ví dụ “nương tử”, “tướng công”. Tập quán này, nếu bạn nói đúng không ai khen, nhưng bạn nói sai có thể trở thành trò cười. Cho dù thân tại Đại Đường, cũng không thể yêu cầu phục cổ, cũng không thể từ những xưng vị hiện đại mà triều Đường lưu truyền lại tiến hành phủ định hết, cần phải hiểu rõ khí tượng Đại Đường chân chính từ miệng người triều Đường, từ xưng vị đơn giản học lấy tinh thần bình đẳng của triều Đường, đọc ra được thái độ văn hoá uẩn tàng nơi đầu phố cuối ngõ của triều Đường. Cho nên muốn nối tiếp địa khí của Đại Đường, đầu tiên là phải làm rõ tập quán nói năng của nhân dân Đại Đường, tìm ra được bí quyết của xưng vị.   (hết)

    Chú của người dịch
    1- Điểm đầu chi giao 点头之交: ý nói giao tình rất nhạt, gặp mặt chẳng qua chỉ gật gật đầu để chào mà thôi.

                                                                   Huỳnh Chương Hưng
                                                                   Quy Nhơn 24/6/2019

    Nguồn
    HOẠT TẠI ĐẠI ĐƯỜNG
    活在大唐
    Tác giả: Hầu Duyệt 侯悦
    Thành Đô: Tứ Xuyên nhân dân xuất bản xã, 2018   

    Dịch thuật: Xưng vị mang tính khẩu ngữ dân gian thời Đường (kì 3 - hết)

    Đăng lúc  17:26  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    XƯNG VỊ MANG TÍNH KHẨU NGỮ DÂN GIAN THỜI ĐƯỜNG
    (kì 3)

    Ra bên ngoài kết giao bạn bè, xưng hô như thế nào
              Đại Đường là một quốc độ hữu hảo, chỉ nhìn từ thơ văn có thể chọn ra từng đôi, từng cặp bạn bè. Bạch Cư Dị 白居易 và Lưu Vũ Tích 刘禹锡, Đỗ Phủ 杜甫 và Lí Bạch 李白, Hàn Dũ 韩愈 và Mạnh Giao 孟交, quả thực là rất nhiều. Nếu những người này sống cùng niên đại lại đều có sân chơi để trò chuyện, họ sẽ “like” lẫn nhau, thơ Đường khả năng cũng hướng đến trình độ phát triển cao. Nhưng nếu họ tụ tập lại với nhau, trò chuyện về thơ ca, về văn chương, về quan trường, về nhân sinh, mở miệng xưng hô đối phương như thế nào đây? Như phần trên có nói Bạch Cư Dị xưng hô Nguyên Chẩn là “Nguyên Cửu” 元九, mà nói tới danh nhân văn hoá Đại Đường, làm sao có thể quên “Lí Đỗ”?
              Đỗ Phủ và Lí Bạch hai người thường giao lưu với nhau, có rượu cùng uống, có thịt cùng ăn, cùng dạo chơi cùng ca hát, có thế xếp đầu bảng “Đại Đường văn đàn thập đại kiệt xuất hảo bằng hữu” 大唐文坛十大杰出好朋友 (Mười bằng hữu đại kiệt xuất của văn đàn thời Đường). Đã là bạn bè, thì làm thơ đưa bạn đọc. Lí Bạch tự Thái Bạch 太白. Trong gia đình, Lí Bạch là thứ 12, cho nên có lúc Đỗ Phủ trong tiêu để bài thơ ghi rõ “Lí Thập Nhị Bạch” 李十二白, có nghĩa như là “@” Lí Bạch, dùng kiểu xưng hô như vậy chính là cách sau tính thị thêm thứ tự hàng và tên.
              Bạn bè cũng chia làm nhiều loại, như Nguyên Chẩn và Bạch Cư Dị đã nói ở phần trước, Lí Bạch và Đỗ Phủ đều là những người bạn cực tốt, nhưng trong cuộc sống cũng không tránh khỏi mấy lần “điểm đầu chi giao” 点头之交 (1), bạn bè như thế phải xưng hô như thế nào? Nói một cách đơn giản, có thể tham chiếu “Tiêu Thập Nhất Lang” 萧十一郎 trong tiểu thuyết của Cổ Long 古龙, những gì Cổ Long tiên sinh miêu tả tuy nói là giang hồ, nhưng cách xưng hô Tiêu Thập Nhất Lang như thế quả thực là tồn tại ở Đại Đường, đồng thời được sử dụng rộng rãi.
              Nếu gặp phải nữ giới thì sao? hãy nghĩ tới đệ tử “Lí Thập Nhị Nương” 李十二娘 của Công Tôn Đại Nương 公孙大娘 múa kiếm. Bách tính triều Đường với người nam quen biết gọi là “lang” , với người nữ gọi một tiếng “nương” , sau đó phía trước theo thứ tự gia thêm thứ tự hàng và tính thị của họ. Nhân khẩu Đại Đường rất đông, tên của nhiều người có thể lúc họ còn sống đã bị quên mất. Khi họ xuất hiện trong phạm vi tầm mắt của người triều Đường, họ thường được xưng là “Trương Ngũ Lang” 张五郎 hoặc “Lí Tứ Nương” 李四娘v.v...
              Thế thì bách tính triều Đường lúc bình thường tự xưng ra sao? Về điểm này, Đại Đường vẫn nam nữ hữu biệt. Nhìn chung, nữ tự xưng là “nhi” , nam tự xưng là “mỗ”, bất luận người gặp là xa lạ hay bạn bè, hoặc là quan viên, bách tính đều có thể tự xưng như lúc trò chuyện. Nếu khi bạn được hỏi “Nễ hạnh phúc ma” 你幸福吗 (bạn hạnh phúc không?), bạn phải đáp rằng: “Mỗ (nhi) ngận hạnh phúc” () 很幸福 (tôi rất hạnh phúc)!
              Nói tóm lại, xưng vị mang tính khẩu ngữ dân gian triều Đường, có chỗ không khác mấy với hiện đại, ví dụ “lão công”, “lão bà”, có chỗ lại khác xa với hiện đại, ví dụ “nương tử”, “tướng công”. Tập quán này, nếu bạn nói đúng không ai khen, nhưng bạn nói sai có thể trở thành trò cười. Cho dù thân tại Đại Đường, cũng không thể yêu cầu phục cổ, cũng không thể từ những xưng vị hiện đại mà triều Đường lưu truyền lại tiến hành phủ định hết, cần phải hiểu rõ khí tượng Đại Đường chân chính từ miệng người triều Đường, từ xưng vị đơn giản học lấy tinh thần bình đẳng của triều Đường, đọc ra được thái độ văn hoá uẩn tàng nơi đầu phố cuối ngõ của triều Đường. Cho nên muốn nối tiếp địa khí của Đại Đường, đầu tiên là phải làm rõ tập quán nói năng của nhân dân Đại Đường, tìm ra được bí quyết của xưng vị.   (hết)

    Chú của người dịch
    1- Điểm đầu chi giao 点头之交: ý nói giao tình rất nhạt, gặp mặt chẳng qua chỉ gật gật đầu để chào mà thôi.

                                                                   Huỳnh Chương Hưng
                                                                   Quy Nhơn 24/6/2019

    Nguồn
    HOẠT TẠI ĐẠI ĐƯỜNG
    活在大唐
    Tác giả: Hầu Duyệt 侯悦
    Thành Đô: Tứ Xuyên nhân dân xuất bản xã, 2018   

    Chủ Nhật, 23 tháng 6, 2019

    XƯNG VỊ MANG TÍNH KHẨU NGỮ DÂN GIAN THỜI ĐƯỜNG
    (kì 2)

    Về nhà, giữa “huynh” và “ca ca” không được lẫn lộn
              Gia đình của người triều Đường thân ái hoà mục, cha mẹ con cái tụ tập một nhà, vui vẻ đầm ấm bên nhau. Thế thì giữa vợ chồng xưng hô như thế nào? Đương nhiên “tướng công” 相公 là từ xưng hô chỉ Tể tướng, vậy “nương tử” 娘子có thể được không? Tuyệt đối không thể, bởi vào triều Đường, đàn bà con gái đi trên phố, bạn đều gọi là “nương tử”, tuổi không cao thì gọi là “tiểu nương tử” 小娘子. Lúc bấy giờ nếu bạn gọi vợ của mình là “nương tử”, cô ta cảm thấy bạn không yêu cô ta, bởi trong lòng bạn, cô gái bên gối này và các cô trên phố chẳng có gì là khác cả. Cho nên, để phục thù, cô ta sẽ gọi bạn là “lang” hoặc “lang quân” 郎君. Chớ có mà vui mừng, bởi phàm là thiếu niên đều có thể được gọi là “lang quân”.
              Nếu bạn muốn bảo lưu cách xưng hô đặc biệt giữa vợ chồng, giống như từ “đạt linh” 达令và “cáp ni” 哈尼 (1) có phạm vi quốc tế mang tính thời thượng, tây một chút, trình độ cao một chút, thì nhẹ nhàng đơn giản gọi là “lão công” 老公 “lão bà” 老婆, bởi hai từ này là do triều Đường khai sáng ra, hoàn toàn mới mẻ.
              Cách gọi “lão công” và “lão bà” có thể làm cho bạn cảm thấy tập tục của người triều Đường rất gần với người hiện đại, nhưng phàm mọi việc không thể cho là đương nhiên như thế, nếu không sẽ gây ra chuyện cười. Ví dụ từ “ca ca” 哥哥, trong mắt người triều Đường không giống như cách lí giải của người hiện đại. Rất nhiều tác phẩm điện ảnh có liên quan tới triều Đường, không bao giờ  dùng đến từ “ca ca” này, nhưng người sống vào thời Đại Đường thì lại sử dụng. Tại triều Đường, “ca” có thể dùng để chỉ phụ thân, đương nhiên từ “đại nhân” 大人 mà đã nói ở trên cũng là một cách bạn xưng hô với phụ thân. Bản thân từ “phụ thân” 父亲 cũng có thể dùng. Còn như nếu bạn gặp người nam có tuồi lớn hơn bạn một chút thì bạn gọi là “huynh” .
              Triều Đường vẫn chưa có chính sách sinh đẻ có kế hoạch, một nhà có thể có rất nhiều con, em trai gặp anh trai, thì xưng là “huynh” , gặp anh thứ 3, thì xưng là “tam huynh” 三兄, nếu cảm thấy không thuận miệng, thì có thể gọi là “a huynh” 阿兄. Các anh gặp em trai thì xưng là “lang” , cũng như vậy, cũng có thể xưng là “a lang” 阿郎.
              Phân biệt rõ quan hệ giữa “ca” và “huynh” vẫn chưa đủ, người mẹ có một vai trò quan trọng trong gia đình, cũng cần phải chú ý đến cách xưng hô đối với mẹ. Bình thường, cách xưng hô đối với mẹ có từ “nương” và “a nương” 阿娘 hoặc “nương nương” 娘娘 rất quen thuộc với người hiện đại. Từ “nương nương” ở đây khác rất xa với Quý phi nương nương trong hoàng cung và Vương Mẫu nương nương xa tận Dao Trì 瑶池. Nếu bạn gặp phải rắc rối, lúc này chỉ cần bạn nghiêm cẩn, cung kính gọi một tiếng “mẫu thân” 母亲 là được.
              Đương nhiên, những cách xưng hô này trong gia đình không phải là nhất thành bất biến, mà là đều không ngừng biến hoá. Kì thực, những thú vị trong cuộc sống  của người triều Đường không ít hơn người hiện đại, mỗi gia đình đối với cách xưng hô của nhà mình cũng thiên biến vạn hoá, nếu bạn quả thực không biết phải xưng hô anh chị em trai em gái trong nhà như thế nào, thế thì nghe nhiều và ghi nhớ thứ tự hàng của họ, sẽ nhận biết được quy luật. ... (còn tiếp)

    Chú của người dịch
    1- Đạt linh达令và cáp ni哈尼: dịch âm từ tiếng Anh.
    达令 darling: (người) yêu quý, thân yêu.
    哈尼 honey:  bảo bối, mật ngọt
    Cả 2 là từ xưng hô thân mật giữa vợ chồng hoặc người yêu với nhau.

                                                                   Huỳnh Chương Hưng
                                                                   Quy Nhơn 23/6/2019

    Nguồn
    HOẠT TẠI ĐẠI ĐƯỜNG
    活在大唐
    Tác giả: Hầu Duyệt 侯悦
    Thành Đô: Tứ Xuyên nhân dân xuất bản xã, 2018   

    Dịch thuật: Xưng vị mang tính khẩu ngữ dân gian thời Đường (kì 2)

    Đăng lúc  18:50  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    XƯNG VỊ MANG TÍNH KHẨU NGỮ DÂN GIAN THỜI ĐƯỜNG
    (kì 2)

    Về nhà, giữa “huynh” và “ca ca” không được lẫn lộn
              Gia đình của người triều Đường thân ái hoà mục, cha mẹ con cái tụ tập một nhà, vui vẻ đầm ấm bên nhau. Thế thì giữa vợ chồng xưng hô như thế nào? Đương nhiên “tướng công” 相公 là từ xưng hô chỉ Tể tướng, vậy “nương tử” 娘子có thể được không? Tuyệt đối không thể, bởi vào triều Đường, đàn bà con gái đi trên phố, bạn đều gọi là “nương tử”, tuổi không cao thì gọi là “tiểu nương tử” 小娘子. Lúc bấy giờ nếu bạn gọi vợ của mình là “nương tử”, cô ta cảm thấy bạn không yêu cô ta, bởi trong lòng bạn, cô gái bên gối này và các cô trên phố chẳng có gì là khác cả. Cho nên, để phục thù, cô ta sẽ gọi bạn là “lang” hoặc “lang quân” 郎君. Chớ có mà vui mừng, bởi phàm là thiếu niên đều có thể được gọi là “lang quân”.
              Nếu bạn muốn bảo lưu cách xưng hô đặc biệt giữa vợ chồng, giống như từ “đạt linh” 达令và “cáp ni” 哈尼 (1) có phạm vi quốc tế mang tính thời thượng, tây một chút, trình độ cao một chút, thì nhẹ nhàng đơn giản gọi là “lão công” 老公 “lão bà” 老婆, bởi hai từ này là do triều Đường khai sáng ra, hoàn toàn mới mẻ.
              Cách gọi “lão công” và “lão bà” có thể làm cho bạn cảm thấy tập tục của người triều Đường rất gần với người hiện đại, nhưng phàm mọi việc không thể cho là đương nhiên như thế, nếu không sẽ gây ra chuyện cười. Ví dụ từ “ca ca” 哥哥, trong mắt người triều Đường không giống như cách lí giải của người hiện đại. Rất nhiều tác phẩm điện ảnh có liên quan tới triều Đường, không bao giờ  dùng đến từ “ca ca” này, nhưng người sống vào thời Đại Đường thì lại sử dụng. Tại triều Đường, “ca” có thể dùng để chỉ phụ thân, đương nhiên từ “đại nhân” 大人 mà đã nói ở trên cũng là một cách bạn xưng hô với phụ thân. Bản thân từ “phụ thân” 父亲 cũng có thể dùng. Còn như nếu bạn gặp người nam có tuồi lớn hơn bạn một chút thì bạn gọi là “huynh” .
              Triều Đường vẫn chưa có chính sách sinh đẻ có kế hoạch, một nhà có thể có rất nhiều con, em trai gặp anh trai, thì xưng là “huynh” , gặp anh thứ 3, thì xưng là “tam huynh” 三兄, nếu cảm thấy không thuận miệng, thì có thể gọi là “a huynh” 阿兄. Các anh gặp em trai thì xưng là “lang” , cũng như vậy, cũng có thể xưng là “a lang” 阿郎.
              Phân biệt rõ quan hệ giữa “ca” và “huynh” vẫn chưa đủ, người mẹ có một vai trò quan trọng trong gia đình, cũng cần phải chú ý đến cách xưng hô đối với mẹ. Bình thường, cách xưng hô đối với mẹ có từ “nương” và “a nương” 阿娘 hoặc “nương nương” 娘娘 rất quen thuộc với người hiện đại. Từ “nương nương” ở đây khác rất xa với Quý phi nương nương trong hoàng cung và Vương Mẫu nương nương xa tận Dao Trì 瑶池. Nếu bạn gặp phải rắc rối, lúc này chỉ cần bạn nghiêm cẩn, cung kính gọi một tiếng “mẫu thân” 母亲 là được.
              Đương nhiên, những cách xưng hô này trong gia đình không phải là nhất thành bất biến, mà là đều không ngừng biến hoá. Kì thực, những thú vị trong cuộc sống  của người triều Đường không ít hơn người hiện đại, mỗi gia đình đối với cách xưng hô của nhà mình cũng thiên biến vạn hoá, nếu bạn quả thực không biết phải xưng hô anh chị em trai em gái trong nhà như thế nào, thế thì nghe nhiều và ghi nhớ thứ tự hàng của họ, sẽ nhận biết được quy luật. ... (còn tiếp)

    Chú của người dịch
    1- Đạt linh达令và cáp ni哈尼: dịch âm từ tiếng Anh.
    达令 darling: (người) yêu quý, thân yêu.
    哈尼 honey:  bảo bối, mật ngọt
    Cả 2 là từ xưng hô thân mật giữa vợ chồng hoặc người yêu với nhau.

                                                                   Huỳnh Chương Hưng
                                                                   Quy Nhơn 23/6/2019

    Nguồn
    HOẠT TẠI ĐẠI ĐƯỜNG
    活在大唐
    Tác giả: Hầu Duyệt 侯悦
    Thành Đô: Tứ Xuyên nhân dân xuất bản xã, 2018   

    Thứ Bảy, 22 tháng 6, 2019

    XƯNG VỊ MANG TÍNH KHẨU NGỮ DÂN GIAN THỜI ĐƯỜNG
    (kì 1)

             Nếu như bạn tại Trường An bị lạc đường, làm sao có thể gọi người khác một cách thành công, bất luận là nam hoặc nữ để hỏi đường người đó? Gặp một anh bạn thời Đại Đường và kết giao, sợ gọi thẳng tên thì không lịch sự, làm thế nào bây giờ? Nhớ tới cách xưng hô “nương tử” 娘子, “tướng công” 相公trong các tác phẩm điện ảnh, cách xưng hô đó có phải cũng thông dụng tại triều Đường?
              Muốn biết cuộc sống ở Đại Đường, đầu tiên là phải học cách xưng hô mà người triều Đường quen dùng, tuyệt đối không thể buột miệng xưng hô “công tử” 公子, “tiểu thư” 小姐, tuy cách xưng hô đó phục cổ nhiều hơn so với “tiên sinh” 先生, “nữ sĩ” 女士, nhưng bách tính triều Đường nghe không hiểu, có phục cổ lại cũng không có tác dụng. Đại Đường đối với chúng ta thân thiết vô cùng nhưng rốt cuộc niên đại quá xa, muốn bắt chước phong cách người triều Đường mà không làm cho bách tính triều Đường cảm thấy bạn là một quái nhân, thì về phương diện xưng hô có chút công phu, phải học kĩ cách xưng hô tối lưu hành ở triều Đường.

    Bước vào hoàng cung, Ngọc Hoàn tại sao gọi Huyền Tông là “Tam Lang”
              Từ xa xưa, hoàng cung có nhiều quy củ, có thể nói “xưng hô không đúng, bạn mắc tội đại bất kính”. Đã như thế, tại sao Dương Ngọc Hoàn 杨玉环gọi Huyền Tông 玄宗 là “Tam Lang” 三郎? Lẽ nào xinh đẹp thì có thể tuỳ ý? Sự thực, không chỉ riêng Ngọc Hoàn, những người có quan hệ mật thiết với Huyền Tông cũng đều gọi ông ta như thế. Nhưng nếu bạn gặp hoàng đế, cả hai không quen biết, lúc đó phải làm sao? Hãy học theo Huyền Trang 玄奘 trong Tây du kí 西游记, xưng “bệ hạ” 陛下 , đó là cách lựa chọn tốt nhất.
              Bạn nghe nói đến “Thánh nhân” 圣人, phản ứng đầu tiên là sẽ nghĩ đến Khổng Mạnh 孔孟, nghe đến “chúa thượng” 主上 , cảm giác mình đang ở thời Tam Quốc, nhưng những từ đó cũng đều là từ mà người triều Đường thường dùng để xưng hô hoàng đế. Điều bạn cần chú ý là, “hoàng thượng” 皇上và “vạn tuế” 万岁 tuyệt đối chớ có nơi miệng bạn. Hai cách xưng hô này tuy hiện đại rất lưu hành, nhưng tại triều Đường với hai từ đó, từ trước là dùng trong sách vở, từ sau là một loại khẩu hiệu biểu thị sự tán tụng hoàng đế, tuy rất khí phái, nhưng tại triều Đường hoàn toàn không thích nghi.
              Đã bước vào hoàng cung, không tránh khỏi gặp những quan viên từ nơi làm việc của hoàng đế bước ra, ví dụ như Phòng Huyền Linh 房玄龄 và Đỗ Như Hối 杜如晦 cùng từ nơi làm việc ra về, nhiều người muốn bắt chuyện cùng với hai vị này, phải xưng hô như thế nào mới thể hiện có trình độ lịch sự? Bạn có thể ôn hoà gọi “Lưỡng vị tướng công” 两位相公 (Chào hai vị tướng công). Chớ có lầm, người mà có thể được gọi là “tướng công” chỉ có Tể tướng, cho nên bạn hãy bỏ khái niệm nguyên bản của nó trong đầu đi. Thế thì con của Tể tướng phải xưng hô như thế nào? Rất đơn giản, gọi “công tử”. “Tướng công” là chỉ Tể tướng, “công tử” chính là con của “tướng công”.
              Trừ “Phòng mưu Đỗ đoán” 房谋杜断 (1) ra, đối với các quan viên khác thì phải xưng hô như thế nào? Ở đây cần phải nói lại, các quan viên khác không thể được xưng là “tướng công” 相公, cũng không thể xưng họ là “đại nhân” 大人. Tuy từ “đại nhân” thường xuất hiện trong tác phẩm điện ảnh và trong tiểu thuyết, nhưng “đại nhân” trong mắt người triều Đường là bậc trưởng bối trong nhà mình, hai chữ này đồng nghĩa với từ “ba ba, ma ma” 爸爸, 妈妈 thời hiện đại. “Ba ba, ma ma” có thể tuỳ tiện gọi sao? Rõ ràng là không thể.
             Không thể gọi “đại nhân” 大人 cũng không thể nói “Nễ hảo” 你好 (Chào ông) sao”? Chớ vội, Bạch Cư Dị 白居易 có cách. Bạch Cư Dị và Nguyên Chẩn 元稹là hai người bạn cùng làm quan đồng triều. Hai người có quan hệ rất tốt, thường viết thư qua lại cho đối phương, giống như thanh niên văn nghệ hiện nay, đem tác phẩm của mình đưa cho bạn văn nghệ xem. Phương thức giao lưu của hai người này càng truyền thống, càng sâu đậm.
              Bạch Cư Dị viết văn muốn đưa cho Nguyên Chẩn xem, Nguyên Chẩn trong gia đình xếp hàng thứ 9, nhân đó Bạch Cư Dị gọi ông là Nguyên Cửu 元九, đương nhiên không thể giống như hiện nay, trên weibo “@” , thế thì làm thế nào? Bạch cư Dị trực tiếp đem tiêu đề bài văn của mình viết thành “Dữ Nguyên Cửu thư” 与元九书. Cho nên nói, nếu quan viên mà bạn gặp là bạn, trực tiếp xưng hô tính thị và thứ tự hàng thứ mấy của người đó là được, cách xưng hô này rất phổ biến. Nhân vì triều Đường là triều đại coi trọng thứ tự hàng trong gia đình. Bất luận là cung đình, quan trường hay trong nhà bách tính thường dân, tập quán xưng vị của họ ở một trình độ nhất định đều thể hiện thứ tự hàng trong gia đình của họ, cách gọi có chút phục cổ này chính là “hàng đệ” 行第. ...  (còn tiếp)

    Chú của người dịch
    1- Phòng mưu Đỗ đoán 房谋杜断: Đường Thái Tông Lí Thế Dân 李世民 có 2 vị Tể tướng đắc lực, một người là “Thượng thư Tả bộc dạ” Phòng Huyền Linh, người kia là “Thượng thư Hữu bộc dạ” Đỗ Như Hối. Lúc bầy giờ, triều Đường khai quốc chưa được lâu, nhiều điển chương pháp độ đều do hai người thương lượng chế đính. Mọi người gọi hai người họ là “Phòng” “Đỗ”. Trong Cựu Đường thư – Phòng Huyền Linh Đỗ Như Hối truyện 旧唐书 - 房玄龄杜如晦传 nói rằng, khi Đường Thái Tông cùng Phòng Huyền Linh nghiên cứu quốc sự, Phòng Huyền Linh luôn đề xuất ý kiến tinh tế và biện pháp cụ thể, nhưng thường không thể quyết định. Lúc này Đường Thái Tông cần phải triệu Đỗ Như Hối đến. Đỗ Như Hối đem vấn đề phân tích, lập tức khẳng định ý kiến và biện pháp của Phòng Huyền Linh. Phòng, Đỗ hai người, một người giỏi đề xuất kế mưu, một người giỏi quyết đoán, cho nên gọi là “Phòng mưu Đỗ đoán”.

                                                                   Huỳnh Chương Hưng
                                                                   Quy Nhơn 22/6/2019

    Nguồn
    HOẠT TẠI ĐẠI ĐƯỜNG
    活在大唐
    Tác giả: Hầu Duyệt 侯悦
    Thành Đô: Tứ Xuyên nhân dân xuất bản xã, 2018

    Dịch thuật: Xưng vị mang tính khẩu ngữ dân gian thời Đường (kì 1)

    Đăng lúc  18:28  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    XƯNG VỊ MANG TÍNH KHẨU NGỮ DÂN GIAN THỜI ĐƯỜNG
    (kì 1)

             Nếu như bạn tại Trường An bị lạc đường, làm sao có thể gọi người khác một cách thành công, bất luận là nam hoặc nữ để hỏi đường người đó? Gặp một anh bạn thời Đại Đường và kết giao, sợ gọi thẳng tên thì không lịch sự, làm thế nào bây giờ? Nhớ tới cách xưng hô “nương tử” 娘子, “tướng công” 相公trong các tác phẩm điện ảnh, cách xưng hô đó có phải cũng thông dụng tại triều Đường?
              Muốn biết cuộc sống ở Đại Đường, đầu tiên là phải học cách xưng hô mà người triều Đường quen dùng, tuyệt đối không thể buột miệng xưng hô “công tử” 公子, “tiểu thư” 小姐, tuy cách xưng hô đó phục cổ nhiều hơn so với “tiên sinh” 先生, “nữ sĩ” 女士, nhưng bách tính triều Đường nghe không hiểu, có phục cổ lại cũng không có tác dụng. Đại Đường đối với chúng ta thân thiết vô cùng nhưng rốt cuộc niên đại quá xa, muốn bắt chước phong cách người triều Đường mà không làm cho bách tính triều Đường cảm thấy bạn là một quái nhân, thì về phương diện xưng hô có chút công phu, phải học kĩ cách xưng hô tối lưu hành ở triều Đường.

    Bước vào hoàng cung, Ngọc Hoàn tại sao gọi Huyền Tông là “Tam Lang”
              Từ xa xưa, hoàng cung có nhiều quy củ, có thể nói “xưng hô không đúng, bạn mắc tội đại bất kính”. Đã như thế, tại sao Dương Ngọc Hoàn 杨玉环gọi Huyền Tông 玄宗 là “Tam Lang” 三郎? Lẽ nào xinh đẹp thì có thể tuỳ ý? Sự thực, không chỉ riêng Ngọc Hoàn, những người có quan hệ mật thiết với Huyền Tông cũng đều gọi ông ta như thế. Nhưng nếu bạn gặp hoàng đế, cả hai không quen biết, lúc đó phải làm sao? Hãy học theo Huyền Trang 玄奘 trong Tây du kí 西游记, xưng “bệ hạ” 陛下 , đó là cách lựa chọn tốt nhất.
              Bạn nghe nói đến “Thánh nhân” 圣人, phản ứng đầu tiên là sẽ nghĩ đến Khổng Mạnh 孔孟, nghe đến “chúa thượng” 主上 , cảm giác mình đang ở thời Tam Quốc, nhưng những từ đó cũng đều là từ mà người triều Đường thường dùng để xưng hô hoàng đế. Điều bạn cần chú ý là, “hoàng thượng” 皇上và “vạn tuế” 万岁 tuyệt đối chớ có nơi miệng bạn. Hai cách xưng hô này tuy hiện đại rất lưu hành, nhưng tại triều Đường với hai từ đó, từ trước là dùng trong sách vở, từ sau là một loại khẩu hiệu biểu thị sự tán tụng hoàng đế, tuy rất khí phái, nhưng tại triều Đường hoàn toàn không thích nghi.
              Đã bước vào hoàng cung, không tránh khỏi gặp những quan viên từ nơi làm việc của hoàng đế bước ra, ví dụ như Phòng Huyền Linh 房玄龄 và Đỗ Như Hối 杜如晦 cùng từ nơi làm việc ra về, nhiều người muốn bắt chuyện cùng với hai vị này, phải xưng hô như thế nào mới thể hiện có trình độ lịch sự? Bạn có thể ôn hoà gọi “Lưỡng vị tướng công” 两位相公 (Chào hai vị tướng công). Chớ có lầm, người mà có thể được gọi là “tướng công” chỉ có Tể tướng, cho nên bạn hãy bỏ khái niệm nguyên bản của nó trong đầu đi. Thế thì con của Tể tướng phải xưng hô như thế nào? Rất đơn giản, gọi “công tử”. “Tướng công” là chỉ Tể tướng, “công tử” chính là con của “tướng công”.
              Trừ “Phòng mưu Đỗ đoán” 房谋杜断 (1) ra, đối với các quan viên khác thì phải xưng hô như thế nào? Ở đây cần phải nói lại, các quan viên khác không thể được xưng là “tướng công” 相公, cũng không thể xưng họ là “đại nhân” 大人. Tuy từ “đại nhân” thường xuất hiện trong tác phẩm điện ảnh và trong tiểu thuyết, nhưng “đại nhân” trong mắt người triều Đường là bậc trưởng bối trong nhà mình, hai chữ này đồng nghĩa với từ “ba ba, ma ma” 爸爸, 妈妈 thời hiện đại. “Ba ba, ma ma” có thể tuỳ tiện gọi sao? Rõ ràng là không thể.
             Không thể gọi “đại nhân” 大人 cũng không thể nói “Nễ hảo” 你好 (Chào ông) sao”? Chớ vội, Bạch Cư Dị 白居易 có cách. Bạch Cư Dị và Nguyên Chẩn 元稹là hai người bạn cùng làm quan đồng triều. Hai người có quan hệ rất tốt, thường viết thư qua lại cho đối phương, giống như thanh niên văn nghệ hiện nay, đem tác phẩm của mình đưa cho bạn văn nghệ xem. Phương thức giao lưu của hai người này càng truyền thống, càng sâu đậm.
              Bạch Cư Dị viết văn muốn đưa cho Nguyên Chẩn xem, Nguyên Chẩn trong gia đình xếp hàng thứ 9, nhân đó Bạch Cư Dị gọi ông là Nguyên Cửu 元九, đương nhiên không thể giống như hiện nay, trên weibo “@” , thế thì làm thế nào? Bạch cư Dị trực tiếp đem tiêu đề bài văn của mình viết thành “Dữ Nguyên Cửu thư” 与元九书. Cho nên nói, nếu quan viên mà bạn gặp là bạn, trực tiếp xưng hô tính thị và thứ tự hàng thứ mấy của người đó là được, cách xưng hô này rất phổ biến. Nhân vì triều Đường là triều đại coi trọng thứ tự hàng trong gia đình. Bất luận là cung đình, quan trường hay trong nhà bách tính thường dân, tập quán xưng vị của họ ở một trình độ nhất định đều thể hiện thứ tự hàng trong gia đình của họ, cách gọi có chút phục cổ này chính là “hàng đệ” 行第. ...  (còn tiếp)

    Chú của người dịch
    1- Phòng mưu Đỗ đoán 房谋杜断: Đường Thái Tông Lí Thế Dân 李世民 có 2 vị Tể tướng đắc lực, một người là “Thượng thư Tả bộc dạ” Phòng Huyền Linh, người kia là “Thượng thư Hữu bộc dạ” Đỗ Như Hối. Lúc bầy giờ, triều Đường khai quốc chưa được lâu, nhiều điển chương pháp độ đều do hai người thương lượng chế đính. Mọi người gọi hai người họ là “Phòng” “Đỗ”. Trong Cựu Đường thư – Phòng Huyền Linh Đỗ Như Hối truyện 旧唐书 - 房玄龄杜如晦传 nói rằng, khi Đường Thái Tông cùng Phòng Huyền Linh nghiên cứu quốc sự, Phòng Huyền Linh luôn đề xuất ý kiến tinh tế và biện pháp cụ thể, nhưng thường không thể quyết định. Lúc này Đường Thái Tông cần phải triệu Đỗ Như Hối đến. Đỗ Như Hối đem vấn đề phân tích, lập tức khẳng định ý kiến và biện pháp của Phòng Huyền Linh. Phòng, Đỗ hai người, một người giỏi đề xuất kế mưu, một người giỏi quyết đoán, cho nên gọi là “Phòng mưu Đỗ đoán”.

                                                                   Huỳnh Chương Hưng
                                                                   Quy Nhơn 22/6/2019

    Nguồn
    HOẠT TẠI ĐẠI ĐƯỜNG
    活在大唐
    Tác giả: Hầu Duyệt 侯悦
    Thành Đô: Tứ Xuyên nhân dân xuất bản xã, 2018

    Thứ Sáu, 21 tháng 6, 2019



    VỀ CÁI CHẾT CỦA HOÀNG SÀO

    Đãi đáo thu lai cửu nguyệt bát
    Ngã hoa khai hậu bách hoa sát
    Xung thiên hương trận thấu Trường An
    Mãn thành tận đới hoàng kim giáp
    待到秋来九月八
    我花开后百花杀
    冲天香阵透长安
    满城尽带黄金甲
    (Đợi đến mùa thu ngày tám tháng chín
    Lúc hoa của ta nở rộ thì trăm hoa đã đều héo rụng
    Từng trận mùi hương xông lên trời, thấu đến Trường An
    Khắp cả kinh thành đều mặc hoàng kim giáp)

    Táp táp thu phong mãn viện tài,
    Nhuỵ hàn hương lãnh điệp nan lai.
    Tha niên nhược ngã vi Thanh đế,
    Báo dữ đào hoa nhất xứ khai.
    飒飒秋风满院栽,
    蕊寒香冷蝶难来.
    他年若我为青帝,
    报与桃花一处开.
    (Gió thu xào xạc thổi đến, khắp sân hoa cúc đều lay động,
    Mùi hương từ nhuỵ toả ra mang hơi lạnh, ong bướm khó đến gần.
    Một ngày nào đó nếu ta là Thanh đế
    Sẽ sắp xếp cho hoa cúc và hoa đào cùng đua nở.)

              Nhắc đến 2 bài thơ này, mọi người nhất định liên tưởng đến khí phách của Hoàng Sào 黄巢, thủ lĩnh quân khởi nghĩa cuối thời Đường. Năm đó Hoàng Sào thống lĩnh quân khởi nghĩa chinh nam chiến bắc, công khắc đô thành Trường An 长安, kiến lập chính quyền Đại Tề 大齐, kiên trì đấu tranh đến 10 năm, giáng một đòn trầm trọng vào sự thống ttrị của triều Đường. Năm Trung Hoà 中和 thứ 4 đời Đường Hi Tông 唐僖宗, tức năm 884, dưới sự trấn áp điên cuồng của đội quân triều Đường, quân khởi nghĩa cuối cùng bị thất bại. Kết cục sinh tử của Hoàng Sào cũng theo đó trở thành một bí ẩn, đến nay khó mà luận định.
              Những ghi chép trong chính sử đa phần là 2 cách nói: Hoàng Sào bị giết và Hoàng Sào tự sát.
              1- Hoàng Sào binh bại bị giết. theo Cựu Đường thư – Hoàng Sào truyện 旧唐书 - 黄巢传, Hoàng Sào vào Thái sơn 泰山, Thời Phổ 时溥sai đại tướng Trương Hữu 张友 và Thượng Nhượng 尚让 truy bắt đội quân Hoàng Sào. Đội quân Hoàng Sào sau khi rút lui về Lang Hổ cốc 狼虎谷 ở Thái sơn泰山Sơn Đông 山东, bộ tướng Lâm Ngôn 林言, thủ hạ của Hoàng Sào đã giết Hoàng Sào và chém lấy thủ cấp Hoàng Nghiệp 黄邺, Hoàng Quỹ 黄揆, em trai của Hoàng Sào, tổng cộng là 7 người, vợ con họ thì đưa về Từ Châu 徐州. Hi Tông kí 僖宗记Thời Phổ truyện 时溥传 cũng ghi chép như thế. Về sau, trong Tư trị thông giám 资治通鉴, Tư Mã Quang 司马光 cũng thu thập cách nói này.
              2- Hoàng Sào binh bại bèn tự sát nhưng chưa chết, cuối cùng nhờ cháu gọi bằng cậu là Lâm Ngôn 林言 giúp kết thúc sinh mệnh. Trong Tân Đường thư – Hoàng Sào truyện 新唐书 - 黄巢传 chép như sau, Thời Phổ 时溥sai Trần Cảnh Du 陈景瑜 và Thượng Nhượng 尚让truy đuổi đến Lang Hổ cốc狼虎谷, Hoàng Sào kế cùng, nói với Lâm Ngôn rằng:
              - Ta muốn thảo phạt gian thần, làm trong sạch triều đình, sự việc hoàn thành thì lui về, nhưng cũng nhầm vậy. Ngươi lấy thủ cấp của ta dâng lên thiên tử, có thể được giàu sang. Chớ có làm lợi cho người khác.
              Lâm Ngôn không nỡ giết Hoàng Sào, thế là Hoàng Sào tự vẫn, nhưng không thành công. Lâm Ngôn nén nỗi đau chém lấy đầu Hoàng Sào, cả anh em vợ con của Hoàng Sào, đều “thủ cấp đựng vào hộp, dâng lên Thời Phổ”. Còn Bác Dã quân 博野军 Thái Nguyên 太原 lại giết Lâm Ngôn lấy thủ cấp cùng thủ cấp của Hoàng Sào đưa đến chỗ Thời Phổ.
              Có một thuyết đối lập lại với thuyết Hoàng Sào bị giết và tự sát là Hoàng Sào binh bại trốn vào cửa Không làm tăng. Quan điểm này cho rằng, sau khi quân khởi nghĩa bị bại, Hoàng Sào không chết, ông thoát khỏi miệng cọp, làm hoà thượng, đồng thời về sau được thiện chung. Thiệu Bác 劭博 triều Tống trong Nam Thiệu thị văn kiến hậu lục 河南劭氏闻见后录 từng chỉ ra rằng:
              Tháng 6 năm Trung Hoà thứ 4 của triều Đường, Thời Phó dâng thủ cấp Hoàng Sào là giả. Hai đô đông tây cựu lão tương truyền, Hoàng Sào thực không chết, lúc Thượng Nhượng truy gấp, vây hãm Lang Hổ cốc ở Thái sơn, ông bèn cạo tóc làm tăng mà thoát được, đến đầu với Hà Nam doãn Trương Toàn Nghĩa 张全义 (1), người đảng cũ của Sào. Không ai dám nhận biết nhau, nhưng dựng Nam Thiền tự 南禅寺để ông trú ở đó.
             Từ tình huống thực tế chúng ta phân tích, nếu nói Lâm Ngôn tại Lang Hổ cốc giết Hoàng Sào, đồng thời đưa thủ cấp đến Từ Châu, hai nơi cách nhau khoảng năm sáu trăm dặm, cho dù ngựa đi nhanh, lộ trình cũng phải mất 3 ngày, rồi Từ Châu đến Thành Đô, hai nơi cách nhau ba bốn ngàn dặm, ngựa không dừng chạy, ngày đêm đi, cũng cần đến 20 ngày. Đương thời gặp lúc mùa hè nóng bức, “hàm thủ” 函首 (thủ cấp đựng trong hộp) e rằng bốc mùi không cách nào nhận ra. Huống hồ bị “hàm thủ” có anh em Hoàng Sào 7 người, trong đó không có thủ cấp nào có trạng mạo giống Hoàng Sào sao? Nên điều đó không tránh khỏi xuất hiện tình hình lời của Thiệu Bác trong Hà Nam Thiệu thị văn kiến hậu lục 河南劭氏闻见后录  “dâng thủ cấp Hoàng Sào lên”, là giả. Còn trong những sử thư quan tu hoặc khâm định, sự tình đại loại như Hoàng Sào trốn thoát được thì tuyệt không dám nói trực tiếp, đó cũng chính là những ghi chép trong chính sử như Tân, Cựu Đường thưTư trị thông giám có chỗ đáng hoài nghi. Còn chúng ta nhờ vào những ghi chép ở dã sử, tiểu thuyết bút kí, lại luôn có thể tìm thấy những đáp án càng phù hợp với sự thực.
              Ngoài Nam Thiệu thị văn kiến hậu lục 河南劭氏闻见后录  ra, còn có rất nhiều những ghi chép khác có liên quan. Như Đào Cốc 陶毂trong Ngũ đại loạn li kỉ 五代乱离纪 nói rằng, Hoàng Sào trốn không chết, sau cạo đầu làm tăng, lại có thơ rằng:
    Tam thập niên tiền thảo thượng phi
    Thiết y trứ tận trứ tăng y
    Thiên Tân kiều thượng vô nhân vấn
     Độc ỷ nguy lan khán lạc huy
    三十年前草上飞
    铁衣著尽著僧衣
    天津桥上无人问
    独倚危栏看落晖
    (Ba mươi năm trước phi ngựa như bay trên cỏ
    Áo giáp mặc xong giờ mặc áo tăng
    Trên cầu Thiên Tân không ai hỏi đến
    Một mình tựa lan can cầu nhìn ánh nắng chiều)
              Thiệu Bác 劭博 cũng từng nói qua, ông từng nhiều lần đến chơi Nam Thiền tự 南禅寺, nơi Hoàng Sào cư trú, nhìn thấy trên vách có hoạ tượng Hoàng Sào mặc tăng phục, “hình trạng không vượt qua người bình thường, duy chỉ ‘chính xà nhãn’ 正蛇眼là có khác”. Căn cứ vào lời nói của người đương thời, trong tự miếu còn có những tấm lụa mà Hoàng Sào đề thi bên trên. Người Tống còn có nhiều bút kí tiến thêm một bước cho rằng sau khi Hoàng Sào binh bại đã trốn vào cửa Không làm hoà thượng, rồi lại dựa vào Hà Nam doãn là Trương Đoan Nghĩa 张端义 (1), dựng nhà ở Nam Thiền tự tại Lạc Dương, cuối cùng dời đến Tuyết Đậu sơn 雪窦山 ở Minh Châu 明州 (nay là Ninh Ba 宁波 Chiết Giang 浙江), pháp hiệu là Tuyết Đậu Thiền Sư 雪窦禅师. Quý nhĩ tập 贵耳集 của Trương Đoan Nghĩa nói rằng:
              Hoàng Sào về sau làm tăng, từng ở tại chùa, thiền đạo được mọi người trong tự viện coi trọng.
              Trước lúc nhập tịch, ông chỉ dưới chân, có 2 chữ “Hoàng Sào”. Theo lời kể, thời Nam Tống, trên Tuyết Đậu sơn còn có mộ Hoàng Sào, hàng năm quan ấp đều phái người tế tự. Đối với bài thơ mà tương truyền cho là do Hoàng Sào sáng tác, Triệu Dữ Thời 赵与时 đời Tống trong Tân thoái lục 宾退录từng chỉ ra rằng, bài thơ đó là lấy từ 2 bài Trí Độ Sư 智度师 của thi nhân Nguyên Chẩn 元稹 hợp lại mà thành (2), là nguỵ tác. Nhưng những gì ông phủ định chỉ là thơ không đáng tin, đối với kết cục của Hoàng Sào không có trình bày điều gì, càng không có khả năng tính phủ định việc Hoàng Sào ở ẩn.
         Tung tích của Hoàng Sào rốt cuộc như thế nào vẫn là vấn đề đáng hoài nghi. Nếu không có những phát hiện sử liệu mới, muốn xác định kết cục chân chính e không phải là việc dễ dàng.

    Chú của người dịch
    1- Ở đoạn dưới, nguyên tác in nhầm là Trương Đoan Nghĩa 张端义.
              Trương Toàn Nghĩa 张全义 (năm 852 – năm 926): ban đầu tên là Cư Ngôn 居言, một tên khác là Tông Thích 宗奭 (Chu Ôn 朱温 ban cho tên này), tự Quốc Duy 国维, người Lâm Bộc 临濮 Bộc Châu 濮州 (nay là phía tây nam Nhân Thành 鄄城 Sơn Đông 山东), tướng lãnh cuối thời Đường đến thời Ngũ Đại.
              Trương Toàn Nghĩa xuất thân nhà nông, từng tham gia khởi nghĩa Hoàng Sào, được trao chức Lại bộ Thượng thư, sung Thuỷ vận sứ. Sau đầu hàng Tiết độ sứ Hà Dương là Chư Cát Sảng ,诸葛爽  lập nhiều chiến công, được làm Trạch Châu Thứ sử, sau là Trung vũ quân Tiết độ sứ, giữ chức Trung thư lệnh, phong Đông Bình Vương 东平王. Ông tính tình cần kiệm, giỏi dưỡng quân, chính tích nổi tiếng. Làm quan trải qua 2 triều Hậu Lương 后梁 và Hậu Đường 后唐, giữ chức Thái uý, Trung thư lệnh, Hà Nam doãn kiêm lãnh Hà Dương Tiết độ sứ, phong Tề Vương 齐王.
              Năm Đồng Quang 同光thứ 4 nhà Hậu Đường (năm 926), Trương Toàn Nghĩa qua đời, hưởng niên 75 tuồi. Sau được sách tặng là Thái sư, thuỵ hiệu là “Trung Túc” 忠肃.  

    2- Hai bài Trí Độ sư 智度师 của Nguyên Chẩn là:
    Bài 1
    Tứ thập niên tiền mã thượng phi
    Công danh tàng tận ủng tăng y
    Thạch lựu viên hạ cầm sinh xứ
    Độc tự nhàn hành độc tự quy
    四十年前马上飞
    功名藏尽拥僧衣
    石榴园下禽生处
    独自闲行独自归

    Bài 2
    Tam hãm tư minh tam đột vi
    Thiết y phao tận nạp thiền y
    Thiên Tân kiều thượng vô nhân thức
    Nhàn bằng lan can vọng lạc huy
    三陷思明三突围
    铁衣抛尽衲禅衣
    天津桥上无人识
    闲凭栏杆望落晖

                                                          Huỳnh Chương Hưng
                                                           Quy Nhơn 21/6/2019

    Nguyên tác Trung văn
    HOÀNG SÀO TỬ NHÂN HÀ TẠI
    黄巢死因何在
    Trong quyển
    TRUNG QUỐC VỊ GIẢI CHI MÊ
    中国未解之谜
    Tác giả: Hải Tử 海子
    Trung Quốc Hoa Kiều xuất bản xã, 2013 

    Dịch thuật: Về cái chết của Hoàng Sào

    Đăng lúc  21:22  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »



    VỀ CÁI CHẾT CỦA HOÀNG SÀO

    Đãi đáo thu lai cửu nguyệt bát
    Ngã hoa khai hậu bách hoa sát
    Xung thiên hương trận thấu Trường An
    Mãn thành tận đới hoàng kim giáp
    待到秋来九月八
    我花开后百花杀
    冲天香阵透长安
    满城尽带黄金甲
    (Đợi đến mùa thu ngày tám tháng chín
    Lúc hoa của ta nở rộ thì trăm hoa đã đều héo rụng
    Từng trận mùi hương xông lên trời, thấu đến Trường An
    Khắp cả kinh thành đều mặc hoàng kim giáp)

    Táp táp thu phong mãn viện tài,
    Nhuỵ hàn hương lãnh điệp nan lai.
    Tha niên nhược ngã vi Thanh đế,
    Báo dữ đào hoa nhất xứ khai.
    飒飒秋风满院栽,
    蕊寒香冷蝶难来.
    他年若我为青帝,
    报与桃花一处开.
    (Gió thu xào xạc thổi đến, khắp sân hoa cúc đều lay động,
    Mùi hương từ nhuỵ toả ra mang hơi lạnh, ong bướm khó đến gần.
    Một ngày nào đó nếu ta là Thanh đế
    Sẽ sắp xếp cho hoa cúc và hoa đào cùng đua nở.)

              Nhắc đến 2 bài thơ này, mọi người nhất định liên tưởng đến khí phách của Hoàng Sào 黄巢, thủ lĩnh quân khởi nghĩa cuối thời Đường. Năm đó Hoàng Sào thống lĩnh quân khởi nghĩa chinh nam chiến bắc, công khắc đô thành Trường An 长安, kiến lập chính quyền Đại Tề 大齐, kiên trì đấu tranh đến 10 năm, giáng một đòn trầm trọng vào sự thống ttrị của triều Đường. Năm Trung Hoà 中和 thứ 4 đời Đường Hi Tông 唐僖宗, tức năm 884, dưới sự trấn áp điên cuồng của đội quân triều Đường, quân khởi nghĩa cuối cùng bị thất bại. Kết cục sinh tử của Hoàng Sào cũng theo đó trở thành một bí ẩn, đến nay khó mà luận định.
              Những ghi chép trong chính sử đa phần là 2 cách nói: Hoàng Sào bị giết và Hoàng Sào tự sát.
              1- Hoàng Sào binh bại bị giết. theo Cựu Đường thư – Hoàng Sào truyện 旧唐书 - 黄巢传, Hoàng Sào vào Thái sơn 泰山, Thời Phổ 时溥sai đại tướng Trương Hữu 张友 và Thượng Nhượng 尚让 truy bắt đội quân Hoàng Sào. Đội quân Hoàng Sào sau khi rút lui về Lang Hổ cốc 狼虎谷 ở Thái sơn泰山Sơn Đông 山东, bộ tướng Lâm Ngôn 林言, thủ hạ của Hoàng Sào đã giết Hoàng Sào và chém lấy thủ cấp Hoàng Nghiệp 黄邺, Hoàng Quỹ 黄揆, em trai của Hoàng Sào, tổng cộng là 7 người, vợ con họ thì đưa về Từ Châu 徐州. Hi Tông kí 僖宗记Thời Phổ truyện 时溥传 cũng ghi chép như thế. Về sau, trong Tư trị thông giám 资治通鉴, Tư Mã Quang 司马光 cũng thu thập cách nói này.
              2- Hoàng Sào binh bại bèn tự sát nhưng chưa chết, cuối cùng nhờ cháu gọi bằng cậu là Lâm Ngôn 林言 giúp kết thúc sinh mệnh. Trong Tân Đường thư – Hoàng Sào truyện 新唐书 - 黄巢传 chép như sau, Thời Phổ 时溥sai Trần Cảnh Du 陈景瑜 và Thượng Nhượng 尚让truy đuổi đến Lang Hổ cốc狼虎谷, Hoàng Sào kế cùng, nói với Lâm Ngôn rằng:
              - Ta muốn thảo phạt gian thần, làm trong sạch triều đình, sự việc hoàn thành thì lui về, nhưng cũng nhầm vậy. Ngươi lấy thủ cấp của ta dâng lên thiên tử, có thể được giàu sang. Chớ có làm lợi cho người khác.
              Lâm Ngôn không nỡ giết Hoàng Sào, thế là Hoàng Sào tự vẫn, nhưng không thành công. Lâm Ngôn nén nỗi đau chém lấy đầu Hoàng Sào, cả anh em vợ con của Hoàng Sào, đều “thủ cấp đựng vào hộp, dâng lên Thời Phổ”. Còn Bác Dã quân 博野军 Thái Nguyên 太原 lại giết Lâm Ngôn lấy thủ cấp cùng thủ cấp của Hoàng Sào đưa đến chỗ Thời Phổ.
              Có một thuyết đối lập lại với thuyết Hoàng Sào bị giết và tự sát là Hoàng Sào binh bại trốn vào cửa Không làm tăng. Quan điểm này cho rằng, sau khi quân khởi nghĩa bị bại, Hoàng Sào không chết, ông thoát khỏi miệng cọp, làm hoà thượng, đồng thời về sau được thiện chung. Thiệu Bác 劭博 triều Tống trong Nam Thiệu thị văn kiến hậu lục 河南劭氏闻见后录 từng chỉ ra rằng:
              Tháng 6 năm Trung Hoà thứ 4 của triều Đường, Thời Phó dâng thủ cấp Hoàng Sào là giả. Hai đô đông tây cựu lão tương truyền, Hoàng Sào thực không chết, lúc Thượng Nhượng truy gấp, vây hãm Lang Hổ cốc ở Thái sơn, ông bèn cạo tóc làm tăng mà thoát được, đến đầu với Hà Nam doãn Trương Toàn Nghĩa 张全义 (1), người đảng cũ của Sào. Không ai dám nhận biết nhau, nhưng dựng Nam Thiền tự 南禅寺để ông trú ở đó.
             Từ tình huống thực tế chúng ta phân tích, nếu nói Lâm Ngôn tại Lang Hổ cốc giết Hoàng Sào, đồng thời đưa thủ cấp đến Từ Châu, hai nơi cách nhau khoảng năm sáu trăm dặm, cho dù ngựa đi nhanh, lộ trình cũng phải mất 3 ngày, rồi Từ Châu đến Thành Đô, hai nơi cách nhau ba bốn ngàn dặm, ngựa không dừng chạy, ngày đêm đi, cũng cần đến 20 ngày. Đương thời gặp lúc mùa hè nóng bức, “hàm thủ” 函首 (thủ cấp đựng trong hộp) e rằng bốc mùi không cách nào nhận ra. Huống hồ bị “hàm thủ” có anh em Hoàng Sào 7 người, trong đó không có thủ cấp nào có trạng mạo giống Hoàng Sào sao? Nên điều đó không tránh khỏi xuất hiện tình hình lời của Thiệu Bác trong Hà Nam Thiệu thị văn kiến hậu lục 河南劭氏闻见后录  “dâng thủ cấp Hoàng Sào lên”, là giả. Còn trong những sử thư quan tu hoặc khâm định, sự tình đại loại như Hoàng Sào trốn thoát được thì tuyệt không dám nói trực tiếp, đó cũng chính là những ghi chép trong chính sử như Tân, Cựu Đường thưTư trị thông giám có chỗ đáng hoài nghi. Còn chúng ta nhờ vào những ghi chép ở dã sử, tiểu thuyết bút kí, lại luôn có thể tìm thấy những đáp án càng phù hợp với sự thực.
              Ngoài Nam Thiệu thị văn kiến hậu lục 河南劭氏闻见后录  ra, còn có rất nhiều những ghi chép khác có liên quan. Như Đào Cốc 陶毂trong Ngũ đại loạn li kỉ 五代乱离纪 nói rằng, Hoàng Sào trốn không chết, sau cạo đầu làm tăng, lại có thơ rằng:
    Tam thập niên tiền thảo thượng phi
    Thiết y trứ tận trứ tăng y
    Thiên Tân kiều thượng vô nhân vấn
     Độc ỷ nguy lan khán lạc huy
    三十年前草上飞
    铁衣著尽著僧衣
    天津桥上无人问
    独倚危栏看落晖
    (Ba mươi năm trước phi ngựa như bay trên cỏ
    Áo giáp mặc xong giờ mặc áo tăng
    Trên cầu Thiên Tân không ai hỏi đến
    Một mình tựa lan can cầu nhìn ánh nắng chiều)
              Thiệu Bác 劭博 cũng từng nói qua, ông từng nhiều lần đến chơi Nam Thiền tự 南禅寺, nơi Hoàng Sào cư trú, nhìn thấy trên vách có hoạ tượng Hoàng Sào mặc tăng phục, “hình trạng không vượt qua người bình thường, duy chỉ ‘chính xà nhãn’ 正蛇眼là có khác”. Căn cứ vào lời nói của người đương thời, trong tự miếu còn có những tấm lụa mà Hoàng Sào đề thi bên trên. Người Tống còn có nhiều bút kí tiến thêm một bước cho rằng sau khi Hoàng Sào binh bại đã trốn vào cửa Không làm hoà thượng, rồi lại dựa vào Hà Nam doãn là Trương Đoan Nghĩa 张端义 (1), dựng nhà ở Nam Thiền tự tại Lạc Dương, cuối cùng dời đến Tuyết Đậu sơn 雪窦山 ở Minh Châu 明州 (nay là Ninh Ba 宁波 Chiết Giang 浙江), pháp hiệu là Tuyết Đậu Thiền Sư 雪窦禅师. Quý nhĩ tập 贵耳集 của Trương Đoan Nghĩa nói rằng:
              Hoàng Sào về sau làm tăng, từng ở tại chùa, thiền đạo được mọi người trong tự viện coi trọng.
              Trước lúc nhập tịch, ông chỉ dưới chân, có 2 chữ “Hoàng Sào”. Theo lời kể, thời Nam Tống, trên Tuyết Đậu sơn còn có mộ Hoàng Sào, hàng năm quan ấp đều phái người tế tự. Đối với bài thơ mà tương truyền cho là do Hoàng Sào sáng tác, Triệu Dữ Thời 赵与时 đời Tống trong Tân thoái lục 宾退录từng chỉ ra rằng, bài thơ đó là lấy từ 2 bài Trí Độ Sư 智度师 của thi nhân Nguyên Chẩn 元稹 hợp lại mà thành (2), là nguỵ tác. Nhưng những gì ông phủ định chỉ là thơ không đáng tin, đối với kết cục của Hoàng Sào không có trình bày điều gì, càng không có khả năng tính phủ định việc Hoàng Sào ở ẩn.
         Tung tích của Hoàng Sào rốt cuộc như thế nào vẫn là vấn đề đáng hoài nghi. Nếu không có những phát hiện sử liệu mới, muốn xác định kết cục chân chính e không phải là việc dễ dàng.

    Chú của người dịch
    1- Ở đoạn dưới, nguyên tác in nhầm là Trương Đoan Nghĩa 张端义.
              Trương Toàn Nghĩa 张全义 (năm 852 – năm 926): ban đầu tên là Cư Ngôn 居言, một tên khác là Tông Thích 宗奭 (Chu Ôn 朱温 ban cho tên này), tự Quốc Duy 国维, người Lâm Bộc 临濮 Bộc Châu 濮州 (nay là phía tây nam Nhân Thành 鄄城 Sơn Đông 山东), tướng lãnh cuối thời Đường đến thời Ngũ Đại.
              Trương Toàn Nghĩa xuất thân nhà nông, từng tham gia khởi nghĩa Hoàng Sào, được trao chức Lại bộ Thượng thư, sung Thuỷ vận sứ. Sau đầu hàng Tiết độ sứ Hà Dương là Chư Cát Sảng ,诸葛爽  lập nhiều chiến công, được làm Trạch Châu Thứ sử, sau là Trung vũ quân Tiết độ sứ, giữ chức Trung thư lệnh, phong Đông Bình Vương 东平王. Ông tính tình cần kiệm, giỏi dưỡng quân, chính tích nổi tiếng. Làm quan trải qua 2 triều Hậu Lương 后梁 và Hậu Đường 后唐, giữ chức Thái uý, Trung thư lệnh, Hà Nam doãn kiêm lãnh Hà Dương Tiết độ sứ, phong Tề Vương 齐王.
              Năm Đồng Quang 同光thứ 4 nhà Hậu Đường (năm 926), Trương Toàn Nghĩa qua đời, hưởng niên 75 tuồi. Sau được sách tặng là Thái sư, thuỵ hiệu là “Trung Túc” 忠肃.  

    2- Hai bài Trí Độ sư 智度师 của Nguyên Chẩn là:
    Bài 1
    Tứ thập niên tiền mã thượng phi
    Công danh tàng tận ủng tăng y
    Thạch lựu viên hạ cầm sinh xứ
    Độc tự nhàn hành độc tự quy
    四十年前马上飞
    功名藏尽拥僧衣
    石榴园下禽生处
    独自闲行独自归

    Bài 2
    Tam hãm tư minh tam đột vi
    Thiết y phao tận nạp thiền y
    Thiên Tân kiều thượng vô nhân thức
    Nhàn bằng lan can vọng lạc huy
    三陷思明三突围
    铁衣抛尽衲禅衣
    天津桥上无人识
    闲凭栏杆望落晖

                                                          Huỳnh Chương Hưng
                                                           Quy Nhơn 21/6/2019

    Nguyên tác Trung văn
    HOÀNG SÀO TỬ NHÂN HÀ TẠI
    黄巢死因何在
    Trong quyển
    TRUNG QUỐC VỊ GIẢI CHI MÊ
    中国未解之谜
    Tác giả: Hải Tử 海子
    Trung Quốc Hoa Kiều xuất bản xã, 2013 

    Thứ Năm, 20 tháng 6, 2019



    CHỮ “KHÍ”
     
    Bính âm qi (thanh điệu 4)

    4 nét
    10 nét

    1- Không khí, cũng phiếm chỉ thể khí:
              Khí áp 气压 / đại khí 大气 / dưỡng khí 氧气 / môi khí 煤气 / chưng khí 蒸气 / độc khí  毒气.
    2- Luồng khí khi con người hô hấp:  
              Thượng khí bất tiếp hạ khí 上气不接下气 / suyễn khí 喘气 / thán khí 叹气.
    3- Chỉ hiện tượng của giới tự nhiên như lạnh nóng, âm u trong sáng:
              Khí hậu 气候 / khí tượng 气象 .
    4- Vị:
              Khí vị 气味 / hương khí 香气 / xú khí 臭气 / toan khí 酸气.
    5- Chỉ thái độ tinh thần, tác phong, tập khí của con người:
              Khí độ 气度 / khí thế 气势 / khí phách 气魄 / chí khí 志气 / triêu khí 朝气 / trĩ khí 稚气 / thư sinh khí 书生气 / kiều khí 娇气.
    6- Phát nộ, giận:
              Khí cấp bại hoại 气急败坏 / khí đắc bất đắc liễu 气得不得了.
    7- Khiến người khác giận:
              Khí tử ngã liễu 气死我了 / cố ý khí tha 故意气他.
    8- Ức hiếp, ăn hiếp:
              Thụ khí 受气.
    9- Theo Trung y, chỉ nguyên động lực trong thân thể con người khiến các khí quan vận động bình thường:
              Khí huyết 气血 / khí mạch 气脉 / khí hư 气虚 / nguyên khí 元气.
    10- Chỉ một loại bịnh tượng nào đó trong Trung y:
              Thấp khí 湿气 / đàm khí 痰气.

    Thuyết giải
              Chữ , bộ , kết cấu độc thể. Chữ là chữ gốc của chữ.
    Trong Thuyết văn - Khí bộ 说文 - 气部có ghi
    Khí, vân khí dã. Tượng hình
    , 云气也. 象形
    (Khí là khí mây. Thuộc chữ tượng hình)
               Trong sách vở của đời sau đa phần đều dùng chữ .
     Trong Thuyết văn cho rằng nghĩa gốc của chữ là:
    Hí khách sô mễ
    饩客刍米
    (Tặng cho người lương thực và thức ăn gia súc)
              Về sau viết là (giản thể là ), lấy để biểu thị khí mây. Nay dùng chữ   làm giản hoá tự của chữ cũng có thể nói là đã khôi phục chữ gốc cổ.
              Chữ 气 có thể dùng làm thiên bàng giản hoá, như / (hi / khái / khải / hất), / (hí).

                                                          Huỳnh Chương Hưng
                                                          Quy Nhơn 20/6/2019

    Nguồn
    GIẢN HOÁ TỰ, PHỒN THỂ TỰ ĐỐI CHIẾU TỰ ĐIỂN
    简化字繁体字对照字典
    Chủ biên: Giang Lam Sinh 江蓝生, Lục Tôn Ngô 陆尊梧
    Thượng Hải – Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 1998

    Dịch thuật: Chữ "khí" (Đối chiếu tự điển)

    Đăng lúc  21:21  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »



    CHỮ “KHÍ”
     
    Bính âm qi (thanh điệu 4)

    4 nét
    10 nét

    1- Không khí, cũng phiếm chỉ thể khí:
              Khí áp 气压 / đại khí 大气 / dưỡng khí 氧气 / môi khí 煤气 / chưng khí 蒸气 / độc khí  毒气.
    2- Luồng khí khi con người hô hấp:  
              Thượng khí bất tiếp hạ khí 上气不接下气 / suyễn khí 喘气 / thán khí 叹气.
    3- Chỉ hiện tượng của giới tự nhiên như lạnh nóng, âm u trong sáng:
              Khí hậu 气候 / khí tượng 气象 .
    4- Vị:
              Khí vị 气味 / hương khí 香气 / xú khí 臭气 / toan khí 酸气.
    5- Chỉ thái độ tinh thần, tác phong, tập khí của con người:
              Khí độ 气度 / khí thế 气势 / khí phách 气魄 / chí khí 志气 / triêu khí 朝气 / trĩ khí 稚气 / thư sinh khí 书生气 / kiều khí 娇气.
    6- Phát nộ, giận:
              Khí cấp bại hoại 气急败坏 / khí đắc bất đắc liễu 气得不得了.
    7- Khiến người khác giận:
              Khí tử ngã liễu 气死我了 / cố ý khí tha 故意气他.
    8- Ức hiếp, ăn hiếp:
              Thụ khí 受气.
    9- Theo Trung y, chỉ nguyên động lực trong thân thể con người khiến các khí quan vận động bình thường:
              Khí huyết 气血 / khí mạch 气脉 / khí hư 气虚 / nguyên khí 元气.
    10- Chỉ một loại bịnh tượng nào đó trong Trung y:
              Thấp khí 湿气 / đàm khí 痰气.

    Thuyết giải
              Chữ , bộ , kết cấu độc thể. Chữ là chữ gốc của chữ.
    Trong Thuyết văn - Khí bộ 说文 - 气部có ghi
    Khí, vân khí dã. Tượng hình
    , 云气也. 象形
    (Khí là khí mây. Thuộc chữ tượng hình)
               Trong sách vở của đời sau đa phần đều dùng chữ .
     Trong Thuyết văn cho rằng nghĩa gốc của chữ là:
    Hí khách sô mễ
    饩客刍米
    (Tặng cho người lương thực và thức ăn gia súc)
              Về sau viết là (giản thể là ), lấy để biểu thị khí mây. Nay dùng chữ   làm giản hoá tự của chữ cũng có thể nói là đã khôi phục chữ gốc cổ.
              Chữ 气 có thể dùng làm thiên bàng giản hoá, như / (hi / khái / khải / hất), / (hí).

                                                          Huỳnh Chương Hưng
                                                          Quy Nhơn 20/6/2019

    Nguồn
    GIẢN HOÁ TỰ, PHỒN THỂ TỰ ĐỐI CHIẾU TỰ ĐIỂN
    简化字繁体字对照字典
    Chủ biên: Giang Lam Sinh 江蓝生, Lục Tôn Ngô 陆尊梧
    Thượng Hải – Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 1998

    Thứ Tư, 19 tháng 6, 2019

    TRƯỜNG XUÂN CHÂN NHÂN

              Khâu Xử Cơ 丘处机 (1) là đạo sĩ nổi tiếng thời Kim, Nguyên, hiệu Trường Xuân Tử 长春子, người đời xưng là Trường Xuân Chân Nhân 长春真人, là một trong Toàn Chân Đạo Bắc thất chân 全真道北七真của Đạo giáo, tổ sư mà Long Môn phái 龙门派 tôn phụng.
              Đạo giáo rất ít dùng tổ chức thân phận trực tiếp tham gia chính trị xã hội, nhưng Khâu Xử Cơ vẫn dùng ảnh hưởng và hành động của mình, tích cực phục vụ xã hội.
              Mùa xuân năm 1220, Khâu Xử Cơ đã gần 80 tuổi trú tại Ngô Thiên quán 吴天观ở Lai Châu 莱州 Sơn Đông 山东 tu đạo. Đương thời Thành Cát Tư Hàn (Hãn) 成吉思汗 (2) tây chính đến Đại Tuyết sơn 大雪山 (nay là trong biên gới A Phú Hãn 阿富汗) (Afghanistan – ND), nhân mộ danh Khâu Xử Cơ, đã đặc biệt phái thị thần Lưu Trọng Lộc 刘仲禄 đi mời đến truyền giáo. Đại Tuyết sơn cách Sơn Đông không biết mấy ngàn vạn dặm, lại thêm gặp phải chiến loạn, đường đi hung hiểm, nhưng Khâu Xử Cơ vốn có hoằng nguyện “dục bãi can qua trí thái bình” 欲罢干戈致太平 (muốn dẹp can qua đem lại thái bình), không nghĩ đến tuổi cao, vẫn cứ đi, vượt bao gian khổ, đến tháng 3 năm 1222 mới tới hành dinh của Đại Hàn (Hãn). Lúc bấy giờ Thành Cát Tư Hàn (Hãn) đang tây chinh, hàng ngày đều chiến đấu, cho nên có một cơ hội là Khâu Xử Cơ liền dùng lời “trừ tàn khứ bạo” 除残去暴 tiến dâng Đại Hàn (Hãn), đồng thời nhấn mạnh:
     - Phàm muốn thống nhất thiên hạ, nhất định không được hiếu sát.
     Cuối cùng, Thành Cát Tư Hàn (Hãn) tiếp nhận cách nói của ông, chủ động hỏi tới phương kế trị lí thiên hạ. Khâu Xử Cơ đáp rằng:
              - Phải lấy việc kính trời yêu dân làm gốc.
              Cách nói này được Thành Cát Tư Hàn (Hàn) tán thưởng, đồng thời ban cho Khâu Xử Cơ một đạo thánh chỉ và một lệnh bài đầu hổ, cho phép Khâu Xử Cơ cứu trợ dân chúng vô tội.
              Trên đường trở về, Khâu Xử Cơ lợi dụng thánh chỉ và lệnh bài đầu hổ mà Đại Hàn (Hãn) ban cho, làm rất nhiều việc có ích cho dân sinh. Đương thời, quân Nguyên giẫm đạp trung nguyên, đặc biệt là Hà Nam 河南, Hà Bắc 河北 bị nghiêm trọng, nhiều dân chúng một khi bị bắt làm tù binh thì không có cách nào đào thoát tính mệnh. Khâu Xử Cơ sau khi về đến đất Yên (nay là thành phố Bắc Kinh 北京), liền phái đồ đệ mang thánh chỉ và lệnh bài đầu hổ, chiêu cầu dân chúng sau khi bị bắt làm nô lệ, lên đến hai ba vạn người. Sau đó, Khâu Xử Cơ tuân thủ giáo đạo “công thành thân thoái” 公成身退 của Lão Tử 老子, quyết không giành công, cũng không ngạo mạn, đợi sau khi hoàn thành công việc liền lập tức thoái cư.

    Chú của người dịch
    1- Về chữ /:
    Trong Khang Hi tự điển 康熙字典 có các bính âm như sau: chǔ (âm Hán Việt: xử), chù (âm Hán Việt: xứ), (âm Hán Việt: cứ).
    (“Khang Hi tự điển”, Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 2003, trang 1046)
    tên nhân vật丘处机 / 丘處機 , Trung văn bính âm là qiū chǔjī, (丘處機 ;pinyin : qiū chǔjī) như vậy ở đây phiên âm là Khâu Xử Cơ.

    2- Về chữ :
    Trong Khang Hi tự điển 康熙字典có các bính âm như sau: hàn (âm Hán Việt:  hãn), hán (âm Hán Việt: hàn), gān (âm Hán Việt: can). 
    - Với âm “hàn” bính âm hán:
              “Đường vận”: hồ an thiết.
              “Tập vận”, “Vận hội”, “Chính vận”: hà can thiết. Tịnh âm (hàn)
              Khắc Hàn, tù trưởng chi xưng. Độc nhược 克韓 (khắc hàn).
              Hựu Bàn Hàn, Hán huyện danh. Độc Bàn Hàn.
              “唐韻”: 胡安切.
         集韻”, “韻會”, “正韻”: 河干切. 並音寒.
         可汗, 酋長之稱. 讀若克韓.
         又番汗, 漢縣名. 音盤寒.
              “Đường vận” phiên thiết là hồ an.
              “Tập vận”, “Vận hội”, “Chính vận” phiên thiết là “hà can”. Đều có âm đọc là (hàn).
              可汗 “Khắc hàn là từ gọi tù trưởng. Đọc như 克韓 “khắc hàn”.”
              Lại có Bàn Hàn, tên một huyện đời Hán. Đọc là “Bàn Hàn”.
              (“Khang Hi tự điển”, Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 2003, trang 553)

    Trong Hán Việt tự điển của Thiều Chửu có âm “hãn” và “hàn”. Với âm “hàn” ghi rằng:
              Một âm là hàn, vua rợ Đột quyết gọi là khả hàn 可汗.
              (Ở chữ trang 73 thì có âm đọc là khắc hàn, ở đây lại là khả hàn. Chắc có lẽ tác giả nhầm – ND)
              (Nhà xuất bản Hồng Đức, 2015, trang 299)

              Trong Từ điển Hán Việt văn ngôn dẫn chứng của Nguyễn Tôn Nhan, chữ cũng có 2 âm đọc: “hãn” và  “hàn”. Với âm “hàn” ghi rằng:
              Vua Hung Nô được gọi là Khả Hàn 可汗 (cũng quen đọc là Hãn)
              Ở chữ ghi rằng:
              Tên gọi vua Tây Vực (Khả Hãn 可汗, đọc như Khắc Hàn)
              (Nhà xuất bản TP Hồ chí Minh, 2002, trang 736, trang 195)
              Như vậy chữ với nghĩa là tù trưởng đọc là “Hàn”, ta quen đọc là “Hãn”. 可汗 đọc là “Khắc Hàn”, ta quen đọc là “Khả Hãn”.
         成吉思汗  theo Trung văn, bính âm là  chéng jí sī hán, như vậy tên nhân vật đọc là Thành Cát Tư Hàn, nhưng ta quen đọc là Thành Cát Tư Hãn.

                                                            Huỳnh Chương Hưng
                                                            Quy Nhơn 19/6/2019

    Nguyên tác Trung văn
     TRƯỜNG XUÂN CHÂN NHÂN
    长春真人
    Trong quyển
    BÁCH GIA TÍNH
    百家姓
    Biên soạn: Triệu Dương 赵阳
    Cát Lâm Đại học xuất bản xã, 2005 

    Dịch thuật: Trường Xuân Chân Nhân

    Đăng lúc  18:29  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    TRƯỜNG XUÂN CHÂN NHÂN

              Khâu Xử Cơ 丘处机 (1) là đạo sĩ nổi tiếng thời Kim, Nguyên, hiệu Trường Xuân Tử 长春子, người đời xưng là Trường Xuân Chân Nhân 长春真人, là một trong Toàn Chân Đạo Bắc thất chân 全真道北七真của Đạo giáo, tổ sư mà Long Môn phái 龙门派 tôn phụng.
              Đạo giáo rất ít dùng tổ chức thân phận trực tiếp tham gia chính trị xã hội, nhưng Khâu Xử Cơ vẫn dùng ảnh hưởng và hành động của mình, tích cực phục vụ xã hội.
              Mùa xuân năm 1220, Khâu Xử Cơ đã gần 80 tuổi trú tại Ngô Thiên quán 吴天观ở Lai Châu 莱州 Sơn Đông 山东 tu đạo. Đương thời Thành Cát Tư Hàn (Hãn) 成吉思汗 (2) tây chính đến Đại Tuyết sơn 大雪山 (nay là trong biên gới A Phú Hãn 阿富汗) (Afghanistan – ND), nhân mộ danh Khâu Xử Cơ, đã đặc biệt phái thị thần Lưu Trọng Lộc 刘仲禄 đi mời đến truyền giáo. Đại Tuyết sơn cách Sơn Đông không biết mấy ngàn vạn dặm, lại thêm gặp phải chiến loạn, đường đi hung hiểm, nhưng Khâu Xử Cơ vốn có hoằng nguyện “dục bãi can qua trí thái bình” 欲罢干戈致太平 (muốn dẹp can qua đem lại thái bình), không nghĩ đến tuổi cao, vẫn cứ đi, vượt bao gian khổ, đến tháng 3 năm 1222 mới tới hành dinh của Đại Hàn (Hãn). Lúc bấy giờ Thành Cát Tư Hàn (Hãn) đang tây chinh, hàng ngày đều chiến đấu, cho nên có một cơ hội là Khâu Xử Cơ liền dùng lời “trừ tàn khứ bạo” 除残去暴 tiến dâng Đại Hàn (Hãn), đồng thời nhấn mạnh:
     - Phàm muốn thống nhất thiên hạ, nhất định không được hiếu sát.
     Cuối cùng, Thành Cát Tư Hàn (Hãn) tiếp nhận cách nói của ông, chủ động hỏi tới phương kế trị lí thiên hạ. Khâu Xử Cơ đáp rằng:
              - Phải lấy việc kính trời yêu dân làm gốc.
              Cách nói này được Thành Cát Tư Hàn (Hàn) tán thưởng, đồng thời ban cho Khâu Xử Cơ một đạo thánh chỉ và một lệnh bài đầu hổ, cho phép Khâu Xử Cơ cứu trợ dân chúng vô tội.
              Trên đường trở về, Khâu Xử Cơ lợi dụng thánh chỉ và lệnh bài đầu hổ mà Đại Hàn (Hãn) ban cho, làm rất nhiều việc có ích cho dân sinh. Đương thời, quân Nguyên giẫm đạp trung nguyên, đặc biệt là Hà Nam 河南, Hà Bắc 河北 bị nghiêm trọng, nhiều dân chúng một khi bị bắt làm tù binh thì không có cách nào đào thoát tính mệnh. Khâu Xử Cơ sau khi về đến đất Yên (nay là thành phố Bắc Kinh 北京), liền phái đồ đệ mang thánh chỉ và lệnh bài đầu hổ, chiêu cầu dân chúng sau khi bị bắt làm nô lệ, lên đến hai ba vạn người. Sau đó, Khâu Xử Cơ tuân thủ giáo đạo “công thành thân thoái” 公成身退 của Lão Tử 老子, quyết không giành công, cũng không ngạo mạn, đợi sau khi hoàn thành công việc liền lập tức thoái cư.

    Chú của người dịch
    1- Về chữ /:
    Trong Khang Hi tự điển 康熙字典 có các bính âm như sau: chǔ (âm Hán Việt: xử), chù (âm Hán Việt: xứ), (âm Hán Việt: cứ).
    (“Khang Hi tự điển”, Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 2003, trang 1046)
    tên nhân vật丘处机 / 丘處機 , Trung văn bính âm là qiū chǔjī, (丘處機 ;pinyin : qiū chǔjī) như vậy ở đây phiên âm là Khâu Xử Cơ.

    2- Về chữ :
    Trong Khang Hi tự điển 康熙字典có các bính âm như sau: hàn (âm Hán Việt:  hãn), hán (âm Hán Việt: hàn), gān (âm Hán Việt: can). 
    - Với âm “hàn” bính âm hán:
              “Đường vận”: hồ an thiết.
              “Tập vận”, “Vận hội”, “Chính vận”: hà can thiết. Tịnh âm (hàn)
              Khắc Hàn, tù trưởng chi xưng. Độc nhược 克韓 (khắc hàn).
              Hựu Bàn Hàn, Hán huyện danh. Độc Bàn Hàn.
              “唐韻”: 胡安切.
         集韻”, “韻會”, “正韻”: 河干切. 並音寒.
         可汗, 酋長之稱. 讀若克韓.
         又番汗, 漢縣名. 音盤寒.
              “Đường vận” phiên thiết là hồ an.
              “Tập vận”, “Vận hội”, “Chính vận” phiên thiết là “hà can”. Đều có âm đọc là (hàn).
              可汗 “Khắc hàn là từ gọi tù trưởng. Đọc như 克韓 “khắc hàn”.”
              Lại có Bàn Hàn, tên một huyện đời Hán. Đọc là “Bàn Hàn”.
              (“Khang Hi tự điển”, Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 2003, trang 553)

    Trong Hán Việt tự điển của Thiều Chửu có âm “hãn” và “hàn”. Với âm “hàn” ghi rằng:
              Một âm là hàn, vua rợ Đột quyết gọi là khả hàn 可汗.
              (Ở chữ trang 73 thì có âm đọc là khắc hàn, ở đây lại là khả hàn. Chắc có lẽ tác giả nhầm – ND)
              (Nhà xuất bản Hồng Đức, 2015, trang 299)

              Trong Từ điển Hán Việt văn ngôn dẫn chứng của Nguyễn Tôn Nhan, chữ cũng có 2 âm đọc: “hãn” và  “hàn”. Với âm “hàn” ghi rằng:
              Vua Hung Nô được gọi là Khả Hàn 可汗 (cũng quen đọc là Hãn)
              Ở chữ ghi rằng:
              Tên gọi vua Tây Vực (Khả Hãn 可汗, đọc như Khắc Hàn)
              (Nhà xuất bản TP Hồ chí Minh, 2002, trang 736, trang 195)
              Như vậy chữ với nghĩa là tù trưởng đọc là “Hàn”, ta quen đọc là “Hãn”. 可汗 đọc là “Khắc Hàn”, ta quen đọc là “Khả Hãn”.
         成吉思汗  theo Trung văn, bính âm là  chéng jí sī hán, như vậy tên nhân vật đọc là Thành Cát Tư Hàn, nhưng ta quen đọc là Thành Cát Tư Hãn.

                                                            Huỳnh Chương Hưng
                                                            Quy Nhơn 19/6/2019

    Nguyên tác Trung văn
     TRƯỜNG XUÂN CHÂN NHÂN
    长春真人
    Trong quyển
    BÁCH GIA TÍNH
    百家姓
    Biên soạn: Triệu Dương 赵阳
    Cát Lâm Đại học xuất bản xã, 2005 

    Thứ Ba, 18 tháng 6, 2019



    NGUỒN GỐC HỌ KHÂU

    Về nguồn gốc họ (tính) Khâu chủ yếu xuất phát từ tính Khương , là hậu duệ của Khương Thái Công.
              Đầu thời Tây Chu, Thái sư Lữ Thượng 吕尚 (tính Khương ) nhân có công phò tá Vũ Vương 武王 diệt Thương, được phong ở đất Tề , kiến lập đô thành Doanh Khâu 营丘nước Tề, hiệu xưng là Tề Thái Công 齐太公, tục xưng Khương Thái Công 姜太公. Con cháu đời sau của ông có người lấy tên đất làm thị, xưng là Khâu thị. Sử xưng là “Khâu thị chính tông” 丘氏正宗.
              Thời cổ, chữ (khâu) và chữ (khâu) dùng thông nhau, trước đời Thanh đa phần dùng làm tính thị. Thời Ung Chính 雍正, để tị huý danh hiệu của Khổng Tử 孔子, hạ lệnh đổi chữ sang thành chữ .
              Thời Dân Quốc, có người trong tộc tính , đổi dùng họ gốc là , nhưng đại đa số vẫn dùng chữ này.
    Họ Khâu ước chiếm 0,27% nhân khẩu của dân tộc Hán trong cả nước, chiếm vị trí thứ 77. Các tỉnh Tứ Xuyên, Hồ Nam, Quảng Đông, Hồ Bắc có nhiều người mang họ .

    Danh nhân các đời
              Thời Tây Hán có văn học gia Khâu Trọng 丘仲, nhà Lương thời Nam Triều có văn học gia Khâu Trì 邱迟. Thời Đường có thi nhân Khâu Vi 丘为. Thời Tống có tướng kháng Kim Khâu Hoán 丘奂, Nho học gia Khâu Phú Quốc 丘富国. Thời Nguyên có Trường Xuân chân nhân Khâu Xứ Cơ 丘处机, thi nhân Khâu Nhất Trung 丘一中. Thời Minh có Thái tử Thái sư Khâu Phúc 丘福, thi nhân Khâu Cát 丘吉. Thời Thanh thủ lĩnh quân Thái Bình “Khâu lão hổ” Khâu Triều Quý 邱朝贵, hí khúc gia Khâu Viên 邱园.

                                                            Huỳnh Chương Hưng
                                                            Quy Nhơn 18/6/2019

    Nguyên tác Trung văn
     KHÂU TÍNH UYÊN NGUYÊN
    邱姓渊源
    Trong quyển
    BÁCH GIA TÍNH
    百家姓
    Biên soạn: Triệu Dương 赵阳
    Cát Lâm Đại học xuất bản xã, 2005 

    Dịch thuật: Nguồn gốc họ Khâu (Bách gia tính)

    Đăng lúc  21:56  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »



    NGUỒN GỐC HỌ KHÂU

    Về nguồn gốc họ (tính) Khâu chủ yếu xuất phát từ tính Khương , là hậu duệ của Khương Thái Công.
              Đầu thời Tây Chu, Thái sư Lữ Thượng 吕尚 (tính Khương ) nhân có công phò tá Vũ Vương 武王 diệt Thương, được phong ở đất Tề , kiến lập đô thành Doanh Khâu 营丘nước Tề, hiệu xưng là Tề Thái Công 齐太公, tục xưng Khương Thái Công 姜太公. Con cháu đời sau của ông có người lấy tên đất làm thị, xưng là Khâu thị. Sử xưng là “Khâu thị chính tông” 丘氏正宗.
              Thời cổ, chữ (khâu) và chữ (khâu) dùng thông nhau, trước đời Thanh đa phần dùng làm tính thị. Thời Ung Chính 雍正, để tị huý danh hiệu của Khổng Tử 孔子, hạ lệnh đổi chữ sang thành chữ .
              Thời Dân Quốc, có người trong tộc tính , đổi dùng họ gốc là , nhưng đại đa số vẫn dùng chữ này.
    Họ Khâu ước chiếm 0,27% nhân khẩu của dân tộc Hán trong cả nước, chiếm vị trí thứ 77. Các tỉnh Tứ Xuyên, Hồ Nam, Quảng Đông, Hồ Bắc có nhiều người mang họ .

    Danh nhân các đời
              Thời Tây Hán có văn học gia Khâu Trọng 丘仲, nhà Lương thời Nam Triều có văn học gia Khâu Trì 邱迟. Thời Đường có thi nhân Khâu Vi 丘为. Thời Tống có tướng kháng Kim Khâu Hoán 丘奂, Nho học gia Khâu Phú Quốc 丘富国. Thời Nguyên có Trường Xuân chân nhân Khâu Xứ Cơ 丘处机, thi nhân Khâu Nhất Trung 丘一中. Thời Minh có Thái tử Thái sư Khâu Phúc 丘福, thi nhân Khâu Cát 丘吉. Thời Thanh thủ lĩnh quân Thái Bình “Khâu lão hổ” Khâu Triều Quý 邱朝贵, hí khúc gia Khâu Viên 邱园.

                                                            Huỳnh Chương Hưng
                                                            Quy Nhơn 18/6/2019

    Nguyên tác Trung văn
     KHÂU TÍNH UYÊN NGUYÊN
    邱姓渊源
    Trong quyển
    BÁCH GIA TÍNH
    百家姓
    Biên soạn: Triệu Dương 赵阳
    Cát Lâm Đại học xuất bản xã, 2005 

    Thứ Hai, 17 tháng 6, 2019



    BÍM TÓC CŨNG LIÊN QUAN ĐẾN CHÍNH TRỊ
    (kì 2)

              Đất nước mở cửa, ngày càng đông người nước ngoài đến Trung Quốc, đối với kiểu tóc ở đây họ nhìn với một nhãn quang khác lạ. Tuy nói lúc đó người Trung Quốc tự cho bím tóc của mình đã thô đến mức gọi là “ngưu vĩ” (đuôi trâu), nhưng người nước ngoài vẫn gọi là “pigtail” (trư vĩ ba 猪尾巴 – đuôi heo), điều đó nói rõ có hàm chứa sự chê cười và khinh miệt.
              Người Trung Quốc ra nước ngoài càng khó thừa nhận áp lực tinh thần này, rất nhiều người đem bím tóc vấn lên đầu lấy mũ đội lên thật chặt, chỉ sợ người khác trông thấy, người bạo gan hơn lén cắt phăng bím tóc. Nhóm “giả dương quỷ tử” 假洋鬼子 cắt bỏ bím tóc sớm nhất xuất hiện trong đám lưu học sinh với học bổng của nhà nước được tuyển chọn sang Mĩ.
              Nhằm bồi dưỡng nhân tài kiểu mới, triều đình từ năm Đồng Trị 同治 thứ 11 (năm 1872) bắt đầu tuyển chọn trẻ em khoảng 10 tuổi đến Mĩ lưu học. Những em này bắt đầu từ tiểu học học Anh ngữ trước, biết rõ văn hoá ngoại quốc, sau đó học chuyên khoa hoặc bổn khoa, nắm vững tri thức chuyên môn và kĩ năng, cuối cùng học xong về lại xây dựng triều Đại Thanh. Nhóm trẻ em đầu tiên mặc trường bào mã quái, với bím tóc đen bóng bước lên bờ đại dương bên kia, lập tức đã khiến cho đám người Mĩ vây lại xem: Ồ! Rất nhiều “Chinese girl” đến kìa, Nhiệt liệt chào đón! Lúc này chúng tôi mới rõ , bím tóc lớn đã khiến người ta xem chúng tôi lả con gái. Điều đó khiến cho đám thuần một sắc đàn ông sao chịu được. Một khi đi cảm thấy ấm ức, về sau với một thời gian dài ở Mĩ, dần dần tiếp thụ phương thức sinh hoạt và quan niệm tư tưởng phương tây, tứ thư ngũ kinh không đọc nữa, trường bào mã quái cũng đổi sang trang phục phương tây hoặc quần áo jean, có người dứt khoát cắt bỏ bím tóc, và tự do yêu đương với các cô gái nơi đó.
              Triều đình trông thấy, cho là đại nghịch bất đạo, hoàn toàn mất đi khí độ và sự kiêu hãnh vốn có của triều Đại Thanh. Thế là liền triệu hồi toàn bộ lưu học sinh đã phái đi. Đại bộ phận chưa hoàn thành việc học. Những người này sau khi về nước đành phải làm bím tóc giả để đối phó, khi khấu đầu hành lễ quan lão gia phải vô cùng cẩn thận để tránh dùng quá sức bím tóc giả sẽ rơi ra, truy cứu có thể đại hoạ tới bên “đầu”.
              Đến năm Quang Tự 光绪 thứ 24 (năm 1898), lãnh tụ Mậu Tuất biến pháp  là Khang Hữu Vi 康有为 nhìn hình thế quốc tế, cho rằng trên người mặc phục trang kì dị sẽ dẫn đến các nước bè bạn xem mình như dị loại, không có lợi cho việc bang giao và đề cao địa vị quốc tế của Đại Thanh, thế là để cao độ hướng đến cuộc sống hiện đại và phục sức tiếp cận với quỹ đạo quốc tế, ông đã đề nghị cắt bỏ bím tóc, đổi cách phục sức. Quang Tự đế vui vẻ tiếp thụ, định ban đạo thánh chỉ cho chấp hành trong phạm vi cả nước. Nhưng hoàng thượng quên mất, hai đường lối gốc mà Từ Hi thái hậu 慈禧太后lên tiếng  - chỉ cần quốc hiệu Đại Thanh không thay đổi, bím tóc không cắt bỏ, những điều khác hoàng thường muốn thay đổi như thế nào thì tuỳ ý. Xem ra lão thái hậu vẫn hết mực đem bím tóc đặt vào chiến lược thống trị tượng trưng. Đã cho cải cách của hoàng thượng chẳng ra làm sao, bà đành phải từ hậu đài bước ra chủ trì đại cục. Cho nên chẳng đợi hoàng đế hạ lệnh cắt bỏ bím tóc, ông đã bị giam nơi Doanh Đài 瀛台, giống như một tù phạm cao cấp nhất của Đại Thanh.
              Mãi cho đến sau khi Trung Hoa Dân Quốc thành lập, Tôn Trung Sơn 孙中山 lấy thân phận lâm thời đại tổng thống ban bố văn cáo cắt bỏ bím tóc, yêu cầu quốc dân nội trong 20 ngày cắt sạch bím tóc, nếu không sẽ bị luận xử là vi pháp. Từ đó, người trong nước cuối cùng đã đem bím tóc sau gáy hơn 200 năm cắt bỏ, nghinh đón thời đại mới của Dân Quốc.  (hết)

                                                                 Huỳnh Chương Hưng
                                                                  Quy Nhơn 17/6/2019

    Nguồn
    HOẠT TẠI ĐẠI THANH
    活在大清
    Tác giả: Mao Soái 毛帅
    Thành Đô: Tứ Xuyên nhân dân xuất bản xã, 2018

    Dịch thuật: Bím tóc cũng liên quan đến chính trị (kì 2)

    Đăng lúc  19:09  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »



    BÍM TÓC CŨNG LIÊN QUAN ĐẾN CHÍNH TRỊ
    (kì 2)

              Đất nước mở cửa, ngày càng đông người nước ngoài đến Trung Quốc, đối với kiểu tóc ở đây họ nhìn với một nhãn quang khác lạ. Tuy nói lúc đó người Trung Quốc tự cho bím tóc của mình đã thô đến mức gọi là “ngưu vĩ” (đuôi trâu), nhưng người nước ngoài vẫn gọi là “pigtail” (trư vĩ ba 猪尾巴 – đuôi heo), điều đó nói rõ có hàm chứa sự chê cười và khinh miệt.
              Người Trung Quốc ra nước ngoài càng khó thừa nhận áp lực tinh thần này, rất nhiều người đem bím tóc vấn lên đầu lấy mũ đội lên thật chặt, chỉ sợ người khác trông thấy, người bạo gan hơn lén cắt phăng bím tóc. Nhóm “giả dương quỷ tử” 假洋鬼子 cắt bỏ bím tóc sớm nhất xuất hiện trong đám lưu học sinh với học bổng của nhà nước được tuyển chọn sang Mĩ.
              Nhằm bồi dưỡng nhân tài kiểu mới, triều đình từ năm Đồng Trị 同治 thứ 11 (năm 1872) bắt đầu tuyển chọn trẻ em khoảng 10 tuổi đến Mĩ lưu học. Những em này bắt đầu từ tiểu học học Anh ngữ trước, biết rõ văn hoá ngoại quốc, sau đó học chuyên khoa hoặc bổn khoa, nắm vững tri thức chuyên môn và kĩ năng, cuối cùng học xong về lại xây dựng triều Đại Thanh. Nhóm trẻ em đầu tiên mặc trường bào mã quái, với bím tóc đen bóng bước lên bờ đại dương bên kia, lập tức đã khiến cho đám người Mĩ vây lại xem: Ồ! Rất nhiều “Chinese girl” đến kìa, Nhiệt liệt chào đón! Lúc này chúng tôi mới rõ , bím tóc lớn đã khiến người ta xem chúng tôi lả con gái. Điều đó khiến cho đám thuần một sắc đàn ông sao chịu được. Một khi đi cảm thấy ấm ức, về sau với một thời gian dài ở Mĩ, dần dần tiếp thụ phương thức sinh hoạt và quan niệm tư tưởng phương tây, tứ thư ngũ kinh không đọc nữa, trường bào mã quái cũng đổi sang trang phục phương tây hoặc quần áo jean, có người dứt khoát cắt bỏ bím tóc, và tự do yêu đương với các cô gái nơi đó.
              Triều đình trông thấy, cho là đại nghịch bất đạo, hoàn toàn mất đi khí độ và sự kiêu hãnh vốn có của triều Đại Thanh. Thế là liền triệu hồi toàn bộ lưu học sinh đã phái đi. Đại bộ phận chưa hoàn thành việc học. Những người này sau khi về nước đành phải làm bím tóc giả để đối phó, khi khấu đầu hành lễ quan lão gia phải vô cùng cẩn thận để tránh dùng quá sức bím tóc giả sẽ rơi ra, truy cứu có thể đại hoạ tới bên “đầu”.
              Đến năm Quang Tự 光绪 thứ 24 (năm 1898), lãnh tụ Mậu Tuất biến pháp  là Khang Hữu Vi 康有为 nhìn hình thế quốc tế, cho rằng trên người mặc phục trang kì dị sẽ dẫn đến các nước bè bạn xem mình như dị loại, không có lợi cho việc bang giao và đề cao địa vị quốc tế của Đại Thanh, thế là để cao độ hướng đến cuộc sống hiện đại và phục sức tiếp cận với quỹ đạo quốc tế, ông đã đề nghị cắt bỏ bím tóc, đổi cách phục sức. Quang Tự đế vui vẻ tiếp thụ, định ban đạo thánh chỉ cho chấp hành trong phạm vi cả nước. Nhưng hoàng thượng quên mất, hai đường lối gốc mà Từ Hi thái hậu 慈禧太后lên tiếng  - chỉ cần quốc hiệu Đại Thanh không thay đổi, bím tóc không cắt bỏ, những điều khác hoàng thường muốn thay đổi như thế nào thì tuỳ ý. Xem ra lão thái hậu vẫn hết mực đem bím tóc đặt vào chiến lược thống trị tượng trưng. Đã cho cải cách của hoàng thượng chẳng ra làm sao, bà đành phải từ hậu đài bước ra chủ trì đại cục. Cho nên chẳng đợi hoàng đế hạ lệnh cắt bỏ bím tóc, ông đã bị giam nơi Doanh Đài 瀛台, giống như một tù phạm cao cấp nhất của Đại Thanh.
              Mãi cho đến sau khi Trung Hoa Dân Quốc thành lập, Tôn Trung Sơn 孙中山 lấy thân phận lâm thời đại tổng thống ban bố văn cáo cắt bỏ bím tóc, yêu cầu quốc dân nội trong 20 ngày cắt sạch bím tóc, nếu không sẽ bị luận xử là vi pháp. Từ đó, người trong nước cuối cùng đã đem bím tóc sau gáy hơn 200 năm cắt bỏ, nghinh đón thời đại mới của Dân Quốc.  (hết)

                                                                 Huỳnh Chương Hưng
                                                                  Quy Nhơn 17/6/2019

    Nguồn
    HOẠT TẠI ĐẠI THANH
    活在大清
    Tác giả: Mao Soái 毛帅
    Thành Đô: Tứ Xuyên nhân dân xuất bản xã, 2018

    Mã nguồn bởi Huỳnh Chương Hưng
    Copyright © 2012 Huỳnh Chương Hưng.
    back to top