• Thứ Năm, 21 tháng 9, 2017

    NHẬT HÀNH THIÊN LÍ
    日行千里
    NGÀY ĐI NGÀN DẶM

    Giải thích: hình dung tốc độ cực nhanh.
    Xuất xứ: Bắc triều . Bắc Tề . Nguỵ Thu 魏收: Nguỵ thư – Thổ Cốc Hồn truyện 魏书 - 吐谷浑传.

              Thời cổ, thủ lĩnh Thiệp Quy 涉归 của tộc Tiên Ti 鲜卑 có hai người con, người con lớn tên là Thổ Cốc Hồn 吐谷浑, người con thứ hai tên là Nhược Lạc Hối 若洛廆. Sau khi Thiệp Quy qua đời, Nhược Lạc Hối tiếp thay vị trí của phụ thân, còn Thổ Cốc Hồn được phân 700 hộ mục dân.
              Ngày nọ, bầy ngựa của Thổ Cốc Hồn và Nhược Lạc Hối đấu nhau. Nhược Lạc Hối sai người đi nói với Thổ Cốc Hồn:
              - Phụ thân của ông đã phân chia gia tài, sao ông chưa đi xa một chút?
              Thổ Cốc Hồn nói với người nọ rằng:
              - Ngựa là loài súc vật, ngựa đấu nhau mà lại đi oán người, không có đạo lí gì cả. Ông ta đã nói như vậy thì ta đưa bầy ngựa ra nơi ngoài ngàn dặm!
              Nhược Lạc Hối hối hận đã đuổi anh đi, liền sai đại thần đuổi theo gọi về. Thổ Cốc Hồn nói với vị đại thần nọ rằng:
              - Nếu ông có thể đuổi bầy ngựa của tôi trở về, tôi sẽ theo ông về.
              Thủ hạ của vị đại thần nọ ra sức chạy theo bầy ngựa của Thổ Cốc Hồn, đuổi theo mấy trăm bước, bầy ngựa đột nhiên cất tiếng hí vang rồi quay đầu chạy về phía tây. Thế là Thổ Cốc Hồn không chịu về, liền dẫn đám mục dân tiếp tục đi về phía tây, đi đến vùng thảo nguyên Thanh Hải 青海, tự lập thành một bộ lạc.
              Lần di chuyển quy mô này của bộ lạc Thổ Cốc Hồn là đương vào cuối thời Tây Tấn. Về sau, bộ lạc này dần phát triển mạnh lên, đồng thời cũng dần bị người Hán đồng hoá. Đến đời Đường, con cháu đời sau của ông được phong làm Thanh Hải Vương 青海王. Năm đó Thổ Cốc Hồn từng có được mấy con ngựa giống Ba Tư, ông thả mấy con ngựa này bên hồ Thanh Hải, và đã sản sinh ra giống ngựa sắc xanh trắng, giống ngựa này có thể “ngày đi ngàn dặm”, người ta gọi chúng là “Thanh Hải thông” 青海骢.

                                                              Huỳnh Chương Hưng
                                                    Quy Nhơn 21/9/2017

    Nguyên tác Trung văn
    NHẬT HÀNH THIÊN LÍ
    日行千里
    TRUNG QUỐC THÀNH NGỮ CỐ SỰ TỔNG TẬP
    中国成语故事总集
    (tập 1)
    Chủ biên: Đường Kì 唐麒
    Trường Xuân – Thời đại văn nghệ xuất bản xã, 2004.

    Dịch thuật: Nhật hành thiên lí (thành ngữ)

    Đăng lúc  19:55  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    NHẬT HÀNH THIÊN LÍ
    日行千里
    NGÀY ĐI NGÀN DẶM

    Giải thích: hình dung tốc độ cực nhanh.
    Xuất xứ: Bắc triều . Bắc Tề . Nguỵ Thu 魏收: Nguỵ thư – Thổ Cốc Hồn truyện 魏书 - 吐谷浑传.

              Thời cổ, thủ lĩnh Thiệp Quy 涉归 của tộc Tiên Ti 鲜卑 có hai người con, người con lớn tên là Thổ Cốc Hồn 吐谷浑, người con thứ hai tên là Nhược Lạc Hối 若洛廆. Sau khi Thiệp Quy qua đời, Nhược Lạc Hối tiếp thay vị trí của phụ thân, còn Thổ Cốc Hồn được phân 700 hộ mục dân.
              Ngày nọ, bầy ngựa của Thổ Cốc Hồn và Nhược Lạc Hối đấu nhau. Nhược Lạc Hối sai người đi nói với Thổ Cốc Hồn:
              - Phụ thân của ông đã phân chia gia tài, sao ông chưa đi xa một chút?
              Thổ Cốc Hồn nói với người nọ rằng:
              - Ngựa là loài súc vật, ngựa đấu nhau mà lại đi oán người, không có đạo lí gì cả. Ông ta đã nói như vậy thì ta đưa bầy ngựa ra nơi ngoài ngàn dặm!
              Nhược Lạc Hối hối hận đã đuổi anh đi, liền sai đại thần đuổi theo gọi về. Thổ Cốc Hồn nói với vị đại thần nọ rằng:
              - Nếu ông có thể đuổi bầy ngựa của tôi trở về, tôi sẽ theo ông về.
              Thủ hạ của vị đại thần nọ ra sức chạy theo bầy ngựa của Thổ Cốc Hồn, đuổi theo mấy trăm bước, bầy ngựa đột nhiên cất tiếng hí vang rồi quay đầu chạy về phía tây. Thế là Thổ Cốc Hồn không chịu về, liền dẫn đám mục dân tiếp tục đi về phía tây, đi đến vùng thảo nguyên Thanh Hải 青海, tự lập thành một bộ lạc.
              Lần di chuyển quy mô này của bộ lạc Thổ Cốc Hồn là đương vào cuối thời Tây Tấn. Về sau, bộ lạc này dần phát triển mạnh lên, đồng thời cũng dần bị người Hán đồng hoá. Đến đời Đường, con cháu đời sau của ông được phong làm Thanh Hải Vương 青海王. Năm đó Thổ Cốc Hồn từng có được mấy con ngựa giống Ba Tư, ông thả mấy con ngựa này bên hồ Thanh Hải, và đã sản sinh ra giống ngựa sắc xanh trắng, giống ngựa này có thể “ngày đi ngàn dặm”, người ta gọi chúng là “Thanh Hải thông” 青海骢.

                                                              Huỳnh Chương Hưng
                                                    Quy Nhơn 21/9/2017

    Nguyên tác Trung văn
    NHẬT HÀNH THIÊN LÍ
    日行千里
    TRUNG QUỐC THÀNH NGỮ CỐ SỰ TỔNG TẬP
    中国成语故事总集
    (tập 1)
    Chủ biên: Đường Kì 唐麒
    Trường Xuân – Thời đại văn nghệ xuất bản xã, 2004.

    Thứ Tư, 20 tháng 9, 2017

    TẠI SAO NGƯỜI XƯA DÙNG “LƯỠNG TỤ THANH PHONG”
    ĐỂ VÍ QUAN LẠI THANH CHÍNH LIÊM KHIẾT

              “Lưỡng tụ thanh phong” 两袖清风 vốn chỉ trong hai ống tay áo ngoài gió ra, không còn có thứ gì khác, dẫn đến ý nghĩa quan lại thanh liêm, khắc kỉ phụng công. Điển cố này liên quan đến Vu Khiêm 于谦, vị quan liêm khiết nổi tiếng triều Minh. Vu Khiêm có bài Thạch hôi ngâm 石灰吟 nổi tiếng:
    Thiên chuỳ vạn tạc xuất thâm sơn
    Liệt hoả phần thiêu nhược đẳng nhàn
    Phấn cốt toái thân hồn bất phạ
    Yếu lưu thanh bạch tại nhân gian
    千锤万凿出深山
    烈火焚烧若等闲
    粉骨碎身浑不怕
    要留清白在人间
    (Đá vôi) Ngàn lần xoi vạn lần đục mới có thể lấy ra được từ núi sâu
    Lửa nóng đốt lên, vẫn cảm thấy bình thường
    Cho dù tan xương nát thân cũng không sợ
    Chỉ cần lưu lại sự thanh bạch chốn nhân gian
              Thời Chính Thống 正统 nhà Minh, hoạn quan Vương Chấn 王振 dùng quyền mưu việc riêng. Mỗi khi triều hội, quan lại các nơi đều muốn lấy lòng ông ta, nên đã dâng nhiều châu ngọc bạc vàng. Tuần phủ Vu Khiêm mỗi khi vào kinh tấu sự, luôn không mang theo bất cứ lễ vật gì. Đồng liêu khuyên ông rằng:
              - Ông tuy không dâng vàng ngọc để cầu quyền quý, cũng nên mang theo một ít đặc sản nổi tiếng như hương sợi, nấm, khăn tay v.v... để tặng.
              Vu Khiêm cười giơ hai tay áo lên nói, nhằm châm biếm mấy quan lại a dua nịnh bợ:
              - Có mang theo gió mát.
              Trong bài Nhập kinh thi 入京诗 ông viết:
    Quyên mạt ma cô dữ tuyến hương
    Bản tư dân dụng phản vi ương
    Thanh phong lưỡng tụ triều thiên khứ
    Miễn đắc lư diêm thoại đoản trường
    绢帕蘑菇与线香
    本资民用反为殃
    清风两袖朝天去
    免得闾阎话短长
    Ý nghĩa là, khăn lụa, nấm, sợi hương những thứ này vốn là của dân dùng, sao có thể lấy làm lễ vật để tặng. Lên triều chỉ cần gió mát hai ống tay áo, tránh được bách tính dị nghị nói ra nói vào.
              Về sau dùng “lưỡng tụ thanh phong” để biểu đạt sự thanh chính liêm khiết của quan lại. Như câu thơ trong bài Thứ vận Ngô Giang đạo trung 次韵吴江道中 của Trần Cơ 陈基:
    Lưỡng tụ thanh phong thân dục phiêu
    Trượng lê tuỳ nguyệt bộ trường kiều
    两袖清风身欲飘
    杖藜随月步长桥
    Hai ống tay áo đầy gió mát, thân nhẹ nhàng như muốn bay lên
    Chống gậy lê bước dưới trăng qua chiếc cầu dài
              Và như Lí Bảo Gia 李宝嘉 đời Thanh trong Văn minh tiểu sử 文明小史 hồi thứ 12 có viết:
              Tha tự kỉ tố liễu kỉ thập niên đích quan, y nhiên thị lưỡng tụ thanh phong.
              他自己做了几十年的官, 依然是两袖清风.
              (Ông ấy làm quan đã mấy chục năm, vẫn “lưỡng tụ thanh phong”)

                                                        Huỳnh Chương Hưng
                                                         Quy Nhơn 20/9/2017

    Nguyên tác Trung văn
    Trong quyển
    THÚ VỊ VĂN HOÁ TRI THỨC ĐẠI TOÀN
    趣味文化知识大全
    Thanh Thạch 青石 biên soạn
    Trung Quốc Hoa kiều xuất bản xã, 2013


    Dịch thuật: Tại sao người xưa dùng "lưỡng tụ thanh phong" ...

    Đăng lúc  21:46  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    TẠI SAO NGƯỜI XƯA DÙNG “LƯỠNG TỤ THANH PHONG”
    ĐỂ VÍ QUAN LẠI THANH CHÍNH LIÊM KHIẾT

              “Lưỡng tụ thanh phong” 两袖清风 vốn chỉ trong hai ống tay áo ngoài gió ra, không còn có thứ gì khác, dẫn đến ý nghĩa quan lại thanh liêm, khắc kỉ phụng công. Điển cố này liên quan đến Vu Khiêm 于谦, vị quan liêm khiết nổi tiếng triều Minh. Vu Khiêm có bài Thạch hôi ngâm 石灰吟 nổi tiếng:
    Thiên chuỳ vạn tạc xuất thâm sơn
    Liệt hoả phần thiêu nhược đẳng nhàn
    Phấn cốt toái thân hồn bất phạ
    Yếu lưu thanh bạch tại nhân gian
    千锤万凿出深山
    烈火焚烧若等闲
    粉骨碎身浑不怕
    要留清白在人间
    (Đá vôi) Ngàn lần xoi vạn lần đục mới có thể lấy ra được từ núi sâu
    Lửa nóng đốt lên, vẫn cảm thấy bình thường
    Cho dù tan xương nát thân cũng không sợ
    Chỉ cần lưu lại sự thanh bạch chốn nhân gian
              Thời Chính Thống 正统 nhà Minh, hoạn quan Vương Chấn 王振 dùng quyền mưu việc riêng. Mỗi khi triều hội, quan lại các nơi đều muốn lấy lòng ông ta, nên đã dâng nhiều châu ngọc bạc vàng. Tuần phủ Vu Khiêm mỗi khi vào kinh tấu sự, luôn không mang theo bất cứ lễ vật gì. Đồng liêu khuyên ông rằng:
              - Ông tuy không dâng vàng ngọc để cầu quyền quý, cũng nên mang theo một ít đặc sản nổi tiếng như hương sợi, nấm, khăn tay v.v... để tặng.
              Vu Khiêm cười giơ hai tay áo lên nói, nhằm châm biếm mấy quan lại a dua nịnh bợ:
              - Có mang theo gió mát.
              Trong bài Nhập kinh thi 入京诗 ông viết:
    Quyên mạt ma cô dữ tuyến hương
    Bản tư dân dụng phản vi ương
    Thanh phong lưỡng tụ triều thiên khứ
    Miễn đắc lư diêm thoại đoản trường
    绢帕蘑菇与线香
    本资民用反为殃
    清风两袖朝天去
    免得闾阎话短长
    Ý nghĩa là, khăn lụa, nấm, sợi hương những thứ này vốn là của dân dùng, sao có thể lấy làm lễ vật để tặng. Lên triều chỉ cần gió mát hai ống tay áo, tránh được bách tính dị nghị nói ra nói vào.
              Về sau dùng “lưỡng tụ thanh phong” để biểu đạt sự thanh chính liêm khiết của quan lại. Như câu thơ trong bài Thứ vận Ngô Giang đạo trung 次韵吴江道中 của Trần Cơ 陈基:
    Lưỡng tụ thanh phong thân dục phiêu
    Trượng lê tuỳ nguyệt bộ trường kiều
    两袖清风身欲飘
    杖藜随月步长桥
    Hai ống tay áo đầy gió mát, thân nhẹ nhàng như muốn bay lên
    Chống gậy lê bước dưới trăng qua chiếc cầu dài
              Và như Lí Bảo Gia 李宝嘉 đời Thanh trong Văn minh tiểu sử 文明小史 hồi thứ 12 có viết:
              Tha tự kỉ tố liễu kỉ thập niên đích quan, y nhiên thị lưỡng tụ thanh phong.
              他自己做了几十年的官, 依然是两袖清风.
              (Ông ấy làm quan đã mấy chục năm, vẫn “lưỡng tụ thanh phong”)

                                                        Huỳnh Chương Hưng
                                                         Quy Nhơn 20/9/2017

    Nguyên tác Trung văn
    Trong quyển
    THÚ VỊ VĂN HOÁ TRI THỨC ĐẠI TOÀN
    趣味文化知识大全
    Thanh Thạch 青石 biên soạn
    Trung Quốc Hoa kiều xuất bản xã, 2013


    Thứ Ba, 19 tháng 9, 2017



    水仙子
    讥时
    铺眉苫眼早三公
    裸袖揎拳享万钟
    胡言乱语成时用
    大刚来都是烘
    说英雄谁是英雄
    五眼鸡岐山鸣凤
    两头蛇南阳卧龙
    三脚猫渭水飞熊
                               (张鸣善)

    THUỶ TIÊN TỬ
    KI THỜI
    Phô mi thiêm nhãn (1) tảo tam công (2)
    Loả tụ tuyên quyền (3) hưởng vạn chung (4)
    Hồ ngôn loạn ngữ (5) thành thời dụng
    Đại cương lai đô thị hồng
    Thuyết anh hùng thuỳ thị anh hùng?
    Ngũ nhãn kê (6) Kì sơn (7) minh phụng
    Lưỡng đầu xà (8) Nam Dương Ngoạ Long (9)
    Tam cước miêu (10) Vị thuỷ phi hùng (11).
                                                                             (Trương Minh Thiện)

    CHÂM BIẾM THỜI THẾ
    (theo điệu Thuỷ tiên tử)
     Những kẻ ngạo mạn hống hách làm ra vẻ lại sớm được lên chức tam công
    Những phường hung ác, xắn tay áo xoa nắm đấm lại hưởng bổng lộc vạn chung
    Những tên ăn nói bậy bạ dối đời cướp danh lại được thông suốt trong xã hội
    Tóm lại tất cả đều là càn bậy dối trá
    Luận bàn anh hùng thì ai là anh hùng?
    Loại gà trống năm mắt háo đấu trở thành phụng hoàng ở Kì Sơn
    Loại rắn hai đầu trở thành rồng nằm ở Nam Dương
    Loại mèo ba chân cũng được tôn là gấu bay nơi sông Vị.

    Chú thích
    Trương Minh Thiện 张鸣善 (không rõ năm sinh năm mất): tản khúc gia đời Nguyên, tự Trạch , hiệu Ngoan Lão Tử 顽老子, tổ tịch ở Bình Dương 平阳 (nay thuộc Sơn Tây), nhà tại Hồ Nam 湖南, lưu ngụ tại Dương Châu 扬州.

    1-  Phô mi thiêm nhãn 铺眉苫眼:làm ra vẻ mặt mày thư thái, dùng uy quyền ngạo mạn khinh thường người khác.
    2- Tam công 三公:chức quan tối cao nắm giữ đại quyền quân chính phụ tá quân chủ. Thời Chu là Thái sư 太师, Thái phó 太傅傅, Thái bảo 太保 ; thời Tây Hán là Đại tư mã 大司马, Đại tư đồ 大司徒, Đại tư không 大司空 ; thời Đông Hán là Thái uý 太尉, Tư đồ 司徒, Tư không 司空 . Thời Đường Tống vẫn có tên gọi
    Tam công, nhưng đã không có thực quyền.
    3- Loả tụ tuyên quyền 裸袖揎拳: xắn tay áo để lộ cùi chỏ, xoa nắm đấm.
    4- Vạn chung 万钟: ý nói bổng lộc nhiều.
    5- Hồ ngôn loạn ngữ 胡言乱语: nói bậy bạ.
    6- Ngũ nhãn kê 五眼鸡: gà 5 mắt, loại quái vật khó thấy.
    7- Kì sơn 岐山: nơi phát tích của nhà Chu, nay tại đông bắc huyện Kì Sơn tỉnh Thiểm Tây. Theo truyền thuyết, khi nhà Chu sắp hưng thịnh có chim phụng hoàng kêu ở Kì Sơn.
    Kì sơn minh phụng 岐山鸣凤: phụng hoàng kêu ở Kì sơn, chỉ Chu Văn Vương
    8- Lưỡng đầu xà 两头蛇: rắn 2 đầu, loài vật bất tường. Tương truyền, người nào thấy rắn 2 đầu sẽ chết.
    9- Nam Dương Ngoạ Long 南阳卧龙: rồng nằm ở Nam Dương, chỉ Chư Cát Lượng
    10- Tam cước miêu 三脚猫: mèo 3 chân. Tục chỉ hạng người chỉ biết bại sự, cũng ví cho đồ vật không hoàn thiện.
    11- Vị thuỷ phi hùng渭水飞熊: gấu bay nơi sông Vị, chỉ Khương Tử Nha.

                                                                      Huỳnh Chương Hưng
                                                                      Quy Nhơn 19/9/2017


    Dịch thuật: Ki thời (Trương Minh Thiện)

    Đăng lúc  19:45  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »



    水仙子
    讥时
    铺眉苫眼早三公
    裸袖揎拳享万钟
    胡言乱语成时用
    大刚来都是烘
    说英雄谁是英雄
    五眼鸡岐山鸣凤
    两头蛇南阳卧龙
    三脚猫渭水飞熊
                               (张鸣善)

    THUỶ TIÊN TỬ
    KI THỜI
    Phô mi thiêm nhãn (1) tảo tam công (2)
    Loả tụ tuyên quyền (3) hưởng vạn chung (4)
    Hồ ngôn loạn ngữ (5) thành thời dụng
    Đại cương lai đô thị hồng
    Thuyết anh hùng thuỳ thị anh hùng?
    Ngũ nhãn kê (6) Kì sơn (7) minh phụng
    Lưỡng đầu xà (8) Nam Dương Ngoạ Long (9)
    Tam cước miêu (10) Vị thuỷ phi hùng (11).
                                                                             (Trương Minh Thiện)

    CHÂM BIẾM THỜI THẾ
    (theo điệu Thuỷ tiên tử)
     Những kẻ ngạo mạn hống hách làm ra vẻ lại sớm được lên chức tam công
    Những phường hung ác, xắn tay áo xoa nắm đấm lại hưởng bổng lộc vạn chung
    Những tên ăn nói bậy bạ dối đời cướp danh lại được thông suốt trong xã hội
    Tóm lại tất cả đều là càn bậy dối trá
    Luận bàn anh hùng thì ai là anh hùng?
    Loại gà trống năm mắt háo đấu trở thành phụng hoàng ở Kì Sơn
    Loại rắn hai đầu trở thành rồng nằm ở Nam Dương
    Loại mèo ba chân cũng được tôn là gấu bay nơi sông Vị.

    Chú thích
    Trương Minh Thiện 张鸣善 (không rõ năm sinh năm mất): tản khúc gia đời Nguyên, tự Trạch , hiệu Ngoan Lão Tử 顽老子, tổ tịch ở Bình Dương 平阳 (nay thuộc Sơn Tây), nhà tại Hồ Nam 湖南, lưu ngụ tại Dương Châu 扬州.

    1-  Phô mi thiêm nhãn 铺眉苫眼:làm ra vẻ mặt mày thư thái, dùng uy quyền ngạo mạn khinh thường người khác.
    2- Tam công 三公:chức quan tối cao nắm giữ đại quyền quân chính phụ tá quân chủ. Thời Chu là Thái sư 太师, Thái phó 太傅傅, Thái bảo 太保 ; thời Tây Hán là Đại tư mã 大司马, Đại tư đồ 大司徒, Đại tư không 大司空 ; thời Đông Hán là Thái uý 太尉, Tư đồ 司徒, Tư không 司空 . Thời Đường Tống vẫn có tên gọi
    Tam công, nhưng đã không có thực quyền.
    3- Loả tụ tuyên quyền 裸袖揎拳: xắn tay áo để lộ cùi chỏ, xoa nắm đấm.
    4- Vạn chung 万钟: ý nói bổng lộc nhiều.
    5- Hồ ngôn loạn ngữ 胡言乱语: nói bậy bạ.
    6- Ngũ nhãn kê 五眼鸡: gà 5 mắt, loại quái vật khó thấy.
    7- Kì sơn 岐山: nơi phát tích của nhà Chu, nay tại đông bắc huyện Kì Sơn tỉnh Thiểm Tây. Theo truyền thuyết, khi nhà Chu sắp hưng thịnh có chim phụng hoàng kêu ở Kì Sơn.
    Kì sơn minh phụng 岐山鸣凤: phụng hoàng kêu ở Kì sơn, chỉ Chu Văn Vương
    8- Lưỡng đầu xà 两头蛇: rắn 2 đầu, loài vật bất tường. Tương truyền, người nào thấy rắn 2 đầu sẽ chết.
    9- Nam Dương Ngoạ Long 南阳卧龙: rồng nằm ở Nam Dương, chỉ Chư Cát Lượng
    10- Tam cước miêu 三脚猫: mèo 3 chân. Tục chỉ hạng người chỉ biết bại sự, cũng ví cho đồ vật không hoàn thiện.
    11- Vị thuỷ phi hùng渭水飞熊: gấu bay nơi sông Vị, chỉ Khương Tử Nha.

                                                                      Huỳnh Chương Hưng
                                                                      Quy Nhơn 19/9/2017


    Thứ Hai, 18 tháng 9, 2017

    GIÁP CỐT VĂN, KIM VĂN, TIỂU TRIỆN, ĐẠI TRIỆN

    Giáp cốt văn 甲骨文
              Giáp cốt văn là văn tự thời Thương Chu được khắc trên mai rùa xương thú, cũng gọi là quy giáp văn 龟甲文, quy bản văn 龟版文, khế văn 契文, Ân khế 殷契, bốc từ 卜辞, giáp cốt bốc từ 甲骨卜辞, Ân khư văn tự 殷墟文字 ... Trong Hán tự mà chúng ta có thể biết thì giáp cốt văn là văn tự cổ nhất.
    Kim văn 金文
              Cũng gọi là “đồng khí minh văn” 铜器铭文 hoặc “chung đỉnh văn” 钟鼎文. Là loại minh văn được khắc hoặc đúc trên những đồ đồng thời Thương Chu, thuộc hệ thống đại triện 大篆. Văn tự trên đồ đồng thời Ân tương đối ít, văn tự trên đồ đồng thời Chu tương đối nhiều, nội dung đa phần là những ghi chép liên quan đến tế tự, ban tặng, chinh phạt, khế ước của giai cấp thống trị.
    Tiểu triện 小篆
              Một thể thức của cổ Hán tự. Do bởi tự thể của loại này là tự thể được dùng lúc Tần Thuỷ Hoàng 秦始皇篁 thống nhất văn tự, cho nên cũng gọi là “Tần triện” 秦篆. Thời Tiên Tần, hình thể văn tự các nước không thống nhất, sau khi Tần Thuỷ Hoàng thống nhất 6 nước, theo kiến nghị của Lí Tư 李斯, cấm chỉ sử dụng các tự thể của các nước trước khi thống nhất và văn tự khác với văn tự của nước Tần, đồng thời Lí Tư 李斯 làm ra Thương Hiệt thiên 仓颉篇, Trung thư phủ lệnh Triệu Cao 赵高 làm ra Viên lịch thiên 爰历篇, Thái sử lệnh Hồ Mẫu Kính 胡母敬 (1) làm ra Bác học thiên 博学篇, những bộ sách này đều là giáo trình dùng để dạy cho trẻ em học chữ. Đến đời Hán, tự thể tiểu triện được tiếp tục sử dụng. Trong bộ Thuyết văn giải tự 说文解字 của Hứa Thận 许慎thời Đông Hán đã dùng 9353 tự thể tiểu triện để làm tự đầu (chữ xếp đầu tiên ở mỗi loại trong tự điển). Tự thể tiểu triện lấy đầy đặn mượt mà, đối xứng, quy chỉnh, đường nét cong và thẳng đều nhau hình thành đặc điểm. Trong lịch sử phát triển hình thể Hán tự, tiểu triện được xem là hình thức cuối cùng của tự thể cổ văn tự. Thừa tiếp đời trước mở ra cho đời sau, tiểu triện có tác dụng lịch sử trọng yếu.
    Đại triện 大篆
              Cũng gọi là “Trứu thư” 籀书. Theo nghĩa hẹp mà nói, nó chỉ Trứu văn 籀文, nhân vì được viết ở Sử Trứu thiên 史籀篇 nên có tên. Theo nghĩa rộng, nó chỉ giáp cốt văn, kim văn. Trứu văn và tiểu triện là văn tự thông hành ở 6 nước thời Xuân Thu Chiến Quốc.

    Chú của người dịch
    1- Trong Hán tự đích cố sự 汉字的故事 do Úc Nãi Nghiêu 郁乃尧 biên soạn, Quang Minh nhật báo xuất bản xã xuất bản năm 2005, tên nhân vật này là Hồ Vô Kính 胡毋敬.

                                                                     Huỳnh Chương Hưng
                                                                      Quy Nhơn 18/9/2017

    Nguồn
    TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI VĂN HOÁ THƯỜNG THỨC
    中国古代文化常识
    Biên soạn: Thiệu Sĩ Mai 邵士梅
                      Đào Tịch Giai 陶夕佳
                      Tưởng Tiểu Ba 蒋筱波
    Tam Xuân xuất bản xã, 2008


    Dịch thuật: Giáp cốt văn, kim văn, tiểu triện, đại triện

    Đăng lúc  20:20  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    GIÁP CỐT VĂN, KIM VĂN, TIỂU TRIỆN, ĐẠI TRIỆN

    Giáp cốt văn 甲骨文
              Giáp cốt văn là văn tự thời Thương Chu được khắc trên mai rùa xương thú, cũng gọi là quy giáp văn 龟甲文, quy bản văn 龟版文, khế văn 契文, Ân khế 殷契, bốc từ 卜辞, giáp cốt bốc từ 甲骨卜辞, Ân khư văn tự 殷墟文字 ... Trong Hán tự mà chúng ta có thể biết thì giáp cốt văn là văn tự cổ nhất.
    Kim văn 金文
              Cũng gọi là “đồng khí minh văn” 铜器铭文 hoặc “chung đỉnh văn” 钟鼎文. Là loại minh văn được khắc hoặc đúc trên những đồ đồng thời Thương Chu, thuộc hệ thống đại triện 大篆. Văn tự trên đồ đồng thời Ân tương đối ít, văn tự trên đồ đồng thời Chu tương đối nhiều, nội dung đa phần là những ghi chép liên quan đến tế tự, ban tặng, chinh phạt, khế ước của giai cấp thống trị.
    Tiểu triện 小篆
              Một thể thức của cổ Hán tự. Do bởi tự thể của loại này là tự thể được dùng lúc Tần Thuỷ Hoàng 秦始皇篁 thống nhất văn tự, cho nên cũng gọi là “Tần triện” 秦篆. Thời Tiên Tần, hình thể văn tự các nước không thống nhất, sau khi Tần Thuỷ Hoàng thống nhất 6 nước, theo kiến nghị của Lí Tư 李斯, cấm chỉ sử dụng các tự thể của các nước trước khi thống nhất và văn tự khác với văn tự của nước Tần, đồng thời Lí Tư 李斯 làm ra Thương Hiệt thiên 仓颉篇, Trung thư phủ lệnh Triệu Cao 赵高 làm ra Viên lịch thiên 爰历篇, Thái sử lệnh Hồ Mẫu Kính 胡母敬 (1) làm ra Bác học thiên 博学篇, những bộ sách này đều là giáo trình dùng để dạy cho trẻ em học chữ. Đến đời Hán, tự thể tiểu triện được tiếp tục sử dụng. Trong bộ Thuyết văn giải tự 说文解字 của Hứa Thận 许慎thời Đông Hán đã dùng 9353 tự thể tiểu triện để làm tự đầu (chữ xếp đầu tiên ở mỗi loại trong tự điển). Tự thể tiểu triện lấy đầy đặn mượt mà, đối xứng, quy chỉnh, đường nét cong và thẳng đều nhau hình thành đặc điểm. Trong lịch sử phát triển hình thể Hán tự, tiểu triện được xem là hình thức cuối cùng của tự thể cổ văn tự. Thừa tiếp đời trước mở ra cho đời sau, tiểu triện có tác dụng lịch sử trọng yếu.
    Đại triện 大篆
              Cũng gọi là “Trứu thư” 籀书. Theo nghĩa hẹp mà nói, nó chỉ Trứu văn 籀文, nhân vì được viết ở Sử Trứu thiên 史籀篇 nên có tên. Theo nghĩa rộng, nó chỉ giáp cốt văn, kim văn. Trứu văn và tiểu triện là văn tự thông hành ở 6 nước thời Xuân Thu Chiến Quốc.

    Chú của người dịch
    1- Trong Hán tự đích cố sự 汉字的故事 do Úc Nãi Nghiêu 郁乃尧 biên soạn, Quang Minh nhật báo xuất bản xã xuất bản năm 2005, tên nhân vật này là Hồ Vô Kính 胡毋敬.

                                                                     Huỳnh Chương Hưng
                                                                      Quy Nhơn 18/9/2017

    Nguồn
    TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI VĂN HOÁ THƯỜNG THỨC
    中国古代文化常识
    Biên soạn: Thiệu Sĩ Mai 邵士梅
                      Đào Tịch Giai 陶夕佳
                      Tưởng Tiểu Ba 蒋筱波
    Tam Xuân xuất bản xã, 2008


    Chủ Nhật, 17 tháng 9, 2017

    VƯƠNG TIỄN
    (tiếp theo kì 2)

              Lúc bấy giờ, quân Tần đã công hạ thành Trưởng Tử và Hồ Quan. Tin tức truyền đến, Thành Kiểu ăn ngủ không yên. Thành Kiểu gặp Phàn Ô Kì, nói rằng:
              - Tướng quân, chúng ta phải làm gì bây giờ? Ta quả thực rất sợ!
              Phàn Ô Kì nghe nói thành Trưởng Tử và Hồ Quan thất thủ, nhưng cố làm ra vẻ bình tĩnh nói:
              - Vương đệ chớ có lo, nếu bọn họ đến đánh, tôi sẽ dẫn quân quyết chiến cùng bọn họ. Nếu thắng ta tấn công Hàm Dương, nếu bại thì chạy đến nước Yên và nước Triệu hợp tung kháng Tần.
              Thành Kiểu nói rằng:
              - Lỡ thua thì sao? Xin tướng quân chớ có đêm ta ra làm con dê tế thần.
              - Tôi một lòng trung thành, cần giúp ông đoạt vương vị, ông lại giữa đường hối hận, quả thực khiến tôi cũng thất vọng! Hiện tại, chúng ta ngoài cách liều chết ra thì không còn con đường nào khác để đi.
              Thành Kiểu ú ớ nói không ra lời. Đột nhiên, quân Tần đại cử công thành. Phàn Ô Kì vội dẫn quân nghinh chiến. Chẳng bao lâu, Phàn Ô Kì đánh bại quân Tần, đuổi theo sát không tha. Dương Đoan Hoà vội cầu kiến Trường An Quân, nói là có đại sự cơ mật.
              Quân sĩ vào thông báo. Trường An Quân lập tức tiếp kiến, cho tả hữu lui xuống, hỏi rằng:
              - Các hạ đến khuyên hàng phải không?
             - Tôi từng là môn khách của điện hạ, chưa có dịp báo đáp. Nay liều chết đến khuyên hàng. Hàng hay không hàng đương nhiên là ở ngài.
              - Ta hiện có mười mấy vạn đại quân, muốn ta đầu hàng Vương Tiễn à. Chớ có mơ tưởng.
              - Như nay, ngài chỉ dựa vào Đồn Lưu, khoảnh đất nhỏ như hòn đạn, mà đối kháng với Tần, có kết quả tốt được sao?
              - Ta có thể chạy đến Yên Triệu, hợp tung 6 nước, đối kháng cùng Tần!
              Dương Đoan Hoà cười nói rằng:
              - Hợp tung kháng tần, Túc Hầu nước Triệu, Vị Vương nước Tề, Tín Lăng Quân nước Nguỵ, Xuân Thân Quân nước Sở, người nào mà chẳng thử qua? Tan rồi muốn hợp, hợp rồi muốn tan. Thiên hạ quá rộng, nhân tâm không đồng, các nước đều muốn lợi ích riêng cho mình, làm sao có thể trường kì hợp tung? Nay nước nào dám chọc giận nước Tần. Họ sợ Tần giống như dê sợ sói, ngài chạy đến nước nào, nước Tần cũng phái binh truy bắt, nước nào dám không giao ngài ra?
             - Chỉ trách ta tuổi nhỏ không biết, nghe lời huyễn hoặc của Phàn Ô Kì làm việc xuẩn ngốc. Nay ta phải làm sao?
              Dương Đoan Hoà nói rằng:
              - Vương Tiễn biết ngài bị Phàn Ô Kì quyến dụ nến đã viết mật thư sai tôi giao cho ngài.
              Thành Kiểu vội mở ra xem, trong thư nói rằng:
              “Ngài với đại vương là anh em ruột, đại vương phong ngài làm Trường An Quân, đủ để quý trọng tình nghĩa. Ngài nếu giết Phàn Ô Kì, hối lỗi nhận tội, đại vương sẽ tha tội. Nếu do dự không quyết, hối hận cũng không kịp.”
              - Ta làm sao nhẫn tâm giết Phàn tướng quân?
              Dương  Đoan Hoà nói rằng:
              - Nếu ngài không kịp thời quyết đoán, tôi phải đi đây.
              Thành Kiểu níu Dương Đoan Hoà, nói rằng:
              - Đừng đi, để ta suy nghĩ.
              - Chúng ta lên đầu thành đi, không chừng quân Tần sắp đến nơi.
              Nói xong, Dương Đoan Hoà kéo Thành Kiểu lên tường thành.
              Lúc này, Phàn Ô Kì dẫn quân trở về. Hoá ra, lúc Phàn Ô Kì truy sát, trúng mai phục của Vương Tiễn, đại bại quay về.
              Phàn Ô Kì hét lớn:
              - Mau mở cổng để ta vào thành!
              Dương Đoan Hoà rút gươm, bức Thành Kiểu hướng xuống dưới thành nói lớn:
              - Trường An Quân đã đầu hàng, xin Phàn tướng quân tự lo cho mình đi!
              Dương Đoan Hoà lấy ra một lá cờ, đưa cho Thành Kiểu, buộc Thành Kiểu để quân sĩ kéo lên. Thành Kiểu đành làm theo.Tướng sĩ thủ thành nhìn thấy, không ai là không sợ, lập tức buông vũ khí.
              Phàn Ô Kì nhìn thấy cờ hàng giương lên, cả giận mắng rằng:
              - Thành Kiểu! Ông quá ngốc, hãy đợi mà xem.
              Quân Tần trùng trùng lớp lớp bao vây Phàn Ô Kì, giết chết Phàn Ô Kì rất dễ, nhưng Tần Vương ra lệnh nhất định bắt sống. Phàn Ô Kì liều mình một đường, quân Tần không dám giết chết, Phàn Ô Kì thừa cơ mở huyết lộ tháo chạy đến nước Yên.
              Cổng thành mở rộng, Vương Tiễn dẫn quân vào thành.
              Tần Vương Chính hạ lệnh, lấy ngàn cân vàng, 10 vạn thực ấp trọng thưởng cho ai bắt được Phàn Ô Kì! Chẳng bao lâu, Tần Vương Chính diệt cửu tộc của Phàn Ô Kì, Thành Kiểu bị giam nơi công quán.
    Thái hậu đến, xoả tóc thay Thành Kiểu cầu xin. Bất luận thái hậu nói như thế nào, Tần Vương Chính cũng không đáp ứng.
              Lã Bất Vi cũng tới, hoá ra Lã Bất Vi muốn hại chết Trường An Quân, cho nên mới kiến nghị để Trường An Quân xuất chinh! Không ngờ, Thành Kiểu và Phàn Ô Kì đã vạch ra cái xấu Lã Bất Vi. Thái hậu ra mặt cầu xin, Lã Bất Vi cũng đành tới cầu xin. Tần Vương Chính vẫn không đồng ý, sai sứ giả hoả tốc đến Lưu Đồn, hướng đến Vương Tiễn truyền đạt ý chỉ xử trảm Trường An Quân. Thành Kiểu bị áp giải đến pháp trường, đích thân Vương Tiễn đến nơi giám sát.
              Thành Kiểu khóc, nói rằng:
              - Chẳng phải Vương tướng quân viết thư nói là chỉ cần ta đầu hàng, tướng quân sẽ cầu xin giùm ta sao?
              Vương Tiễn nói rằng:
              - Quả thực ta đã cầu xin rồi, ngay cả thái hậu, Lã Bất Vi cũng cầu xin cho ông, nhưng đại vương tâm ý đã quyết, tôi đành phải chấp hành theo ý chỉ của đại vương, nào dám trái mệnh.
              Thành Kiểu than rằng;
              - Vương huynh làm như thế là tuyệt tình, lẽ nào vương huynh không phải là cốt nhục của tiên vương?
              Nghe mấy lời đó, người ở pháp trường không ai là không bịt tai.
              Tần Vương Chính năm thứ 9 (năm 238 trước công nguyên), nguyên môn khách của Lã Bất vi là Lao Ải 嫪毐, nhân vì hầu hạ thái hậu có công, được phong làm Trường Tín Hầu 长信侯, Tần Vương Chính đem vùng Sơn Dương 山阳 phong cho ông ta. Lao Ải bắt chước Lã Bất Vi gầy dựng bọn thân tín, quyền lực khuynh loát triều đình.
              Vương Tiễn nhìn thấy rõ: những việc đại vương làm, chẳng khác nào nuôi sói để phòng ngừa cọp, dùng Lao Ải ức chế Lã Bất Vi. Tần Vương Chính lệnh cho Vương Tiễn nắm giữ binh quyền toàn quốc, để phòng ngừa hoạ hoạn.
              Ngày nọ, Tần Vương Chính định đến Ung Thành 雍城 để cử hành nghi thức gia miện, đêm đó ở Hàm Dương có sao chổi xuất hiện, quan Thái sử bói một quẻ nói rằng điềm báo tai hoạ đao binh. Quần thần đều đến can ngăn, nhưng Tần Vương Chính nhất quyết đi. Tần Vương Chính triệu Vương Tiễn đến, nói rằng:
              - Quần thần đều khuyên quả nhân, riêng ông sao không tở thái độ?
              Vương Tiễn nói rằng:
              - Nghi thức gia miện là đại sự, há có thể chần chừ.
              - Lão tướng quân, người mà ta sợ nhất là Lã Bất Vi, ông ấy chủ trì quốc chính, một khi tạo phản, không kịp ứng phó. Vì việc này ta mới phong Lao Ải làm Trường Tín Hầu, làm yếu quyền lực của Lã Bất Vi. Đương nhiên, quan trọng nhất là binh quyền.
              Vương Tiễn lập tức quỳ xuống, khóc rằng:
              - Đại vương hậu ái như thế, lão thần há dám chối từ, xin đại vương hạ lệnh.
              Tần Vương Chính nói rằng:
              - Sau khi ta đi, nếu Lã Bất Vi tạo phản, ông có thể xuất binh khống chế.
              Nói  xong, trao cho Vương Tiễn một đạo mật chỉ:
              “Vương Tiễn là thầy của quả nhân. Quả nhân đến Ung Thành, nhờ Vương Tiễn thay nắm giữ quân quyền quốc sự.”
              Vương Tiễn nói rằng:
              - Trường Tín Hầu Lao Ải càng nguy hiểm, mong đại vương đề phòng nhiều hơn.
              Tần Vương Chính nói rằng:
              - Y không biết chữ, võ chẳng bằng người, con người tiểu nhân ấy có gì mà phải lo.
              Vương Tiễn nói:
              - Đại vương, tiểu nhân một khi đắc thế, thì không phải là loại tầm thường.
              Tần Vương Chính cười bảo rằng:
              - Tướng quân quá lo.
              Vương Tiễn nói:
              - Đại vương đến Ung Thành, thần nhất định điều binh hộ tống.
              Tần Vương Chính gật đầu đồng ý.
              Mấy ngày sau, Tần Vương chính đến Ung Thành, Vương Tiễn điều 3 vạn tinh binh hộ giá.
              Hai ngày sau, Tần Vương Chính đến Kì Sơn 岐山. Tần Vương Chính hạ lệnh cấm chỉ đại quân đi theo. Sau khi Tần Vương Chính đến Ung Thành, phát sinh loạn Lao Ải. May nhờ 3 vạn tinh binh từ Kì Sơn triệu đến, dẹp phản loạn. Tần Vương Chính ra tay đem Lao Ải và con riêng của thái hậu xử tử, phàm những ai tham gia phản loạn, đều giết chết. Tần Vương chính giam lỏng thái hậu, phế bỏ xưng hiệu “quốc mẫu”.
              Sự kiện này liên luỵ đến Lã Bất Vi, Tần Vương Chính bãi chức tướng của Lã Bất Vi, biếm ông ta đến đất phong ở Lạc Dương, Hà Nam.
              Lã Bất Vi đến Lạc Dương , các nước tấp nập phái sứ giả đến, tranh bái chức tướng. Tần Vương Chính sau khi biết được, viết một phong thư, sai sứ đưa đến Lạc Dương. Lã Bất Vi mở ra xem, vừa thấy đã biết là bút tích của Tần Vương Chính:
              “Ông lập công lao gì cho Tần, mà được phong 10 vạn hộ? Ông với quả nhân có quan hệ gì mà được gọi là “Trọng phụ”? Những bí mật trong cung đình, lịch sử nước Tần, quả nhân há không biết. Nước Tần đối với ông đủ tốt, ông lại không biết đủ! Hai vị tiên vương bạo tử đều có ông can dự. Lao Ải đại nghịch, cũng do ông dẫn đến. Quả nhân vẫn không nỡ gia hại, cho ông về đất phong. Ông lại không hối cải, dám tư thông cùng sứ giả các nước, khiến quả nhân thất vọng. Tội của ông không gì sánh bằng, quả nhân ban cho ông lông con chim trấm (1), hãy tự xử mình đi.”
              Xem qua thư, Lã Bất Vi biết khó thoát khỏi cái chết, lấy li vàng đựng rượu, dùng lông chim trấm khuấy qua, uống rượu độc mà chết. Như vậy, Tần Vương Chính đã dẹp yên được “lưỡng Hầu chi loạn” 两侯之乱. (còn tiếp)

    Chú của người dịch
    1- Chim trấm (trấm điểu 鸩鸟): trong truyền thuyết của Hán tộc, chim trấm là loài chim độc, đem lông của nó bỏ vào trong rượu, chất độc của nó có thể giết chết người.

                                                                     Huỳnh Chương Hưng
                                                                      Quy Nhơn 17/9/2017

    Nguyên tác
    VƯƠNG TIỄN
    王翦
    Trong quyển
    HỔ CHI UY
    虎之威
    Tác giả: Hàn Tố Văn 韩素文
    Bắc Kinh: Trung Quốc Trường An xuất bản xã, 1006.

    Dịch thuật: Vương Tiễn (tiếp theo kì 2)

    Đăng lúc  19:33  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    VƯƠNG TIỄN
    (tiếp theo kì 2)

              Lúc bấy giờ, quân Tần đã công hạ thành Trưởng Tử và Hồ Quan. Tin tức truyền đến, Thành Kiểu ăn ngủ không yên. Thành Kiểu gặp Phàn Ô Kì, nói rằng:
              - Tướng quân, chúng ta phải làm gì bây giờ? Ta quả thực rất sợ!
              Phàn Ô Kì nghe nói thành Trưởng Tử và Hồ Quan thất thủ, nhưng cố làm ra vẻ bình tĩnh nói:
              - Vương đệ chớ có lo, nếu bọn họ đến đánh, tôi sẽ dẫn quân quyết chiến cùng bọn họ. Nếu thắng ta tấn công Hàm Dương, nếu bại thì chạy đến nước Yên và nước Triệu hợp tung kháng Tần.
              Thành Kiểu nói rằng:
              - Lỡ thua thì sao? Xin tướng quân chớ có đêm ta ra làm con dê tế thần.
              - Tôi một lòng trung thành, cần giúp ông đoạt vương vị, ông lại giữa đường hối hận, quả thực khiến tôi cũng thất vọng! Hiện tại, chúng ta ngoài cách liều chết ra thì không còn con đường nào khác để đi.
              Thành Kiểu ú ớ nói không ra lời. Đột nhiên, quân Tần đại cử công thành. Phàn Ô Kì vội dẫn quân nghinh chiến. Chẳng bao lâu, Phàn Ô Kì đánh bại quân Tần, đuổi theo sát không tha. Dương Đoan Hoà vội cầu kiến Trường An Quân, nói là có đại sự cơ mật.
              Quân sĩ vào thông báo. Trường An Quân lập tức tiếp kiến, cho tả hữu lui xuống, hỏi rằng:
              - Các hạ đến khuyên hàng phải không?
             - Tôi từng là môn khách của điện hạ, chưa có dịp báo đáp. Nay liều chết đến khuyên hàng. Hàng hay không hàng đương nhiên là ở ngài.
              - Ta hiện có mười mấy vạn đại quân, muốn ta đầu hàng Vương Tiễn à. Chớ có mơ tưởng.
              - Như nay, ngài chỉ dựa vào Đồn Lưu, khoảnh đất nhỏ như hòn đạn, mà đối kháng với Tần, có kết quả tốt được sao?
              - Ta có thể chạy đến Yên Triệu, hợp tung 6 nước, đối kháng cùng Tần!
              Dương Đoan Hoà cười nói rằng:
              - Hợp tung kháng tần, Túc Hầu nước Triệu, Vị Vương nước Tề, Tín Lăng Quân nước Nguỵ, Xuân Thân Quân nước Sở, người nào mà chẳng thử qua? Tan rồi muốn hợp, hợp rồi muốn tan. Thiên hạ quá rộng, nhân tâm không đồng, các nước đều muốn lợi ích riêng cho mình, làm sao có thể trường kì hợp tung? Nay nước nào dám chọc giận nước Tần. Họ sợ Tần giống như dê sợ sói, ngài chạy đến nước nào, nước Tần cũng phái binh truy bắt, nước nào dám không giao ngài ra?
             - Chỉ trách ta tuổi nhỏ không biết, nghe lời huyễn hoặc của Phàn Ô Kì làm việc xuẩn ngốc. Nay ta phải làm sao?
              Dương Đoan Hoà nói rằng:
              - Vương Tiễn biết ngài bị Phàn Ô Kì quyến dụ nến đã viết mật thư sai tôi giao cho ngài.
              Thành Kiểu vội mở ra xem, trong thư nói rằng:
              “Ngài với đại vương là anh em ruột, đại vương phong ngài làm Trường An Quân, đủ để quý trọng tình nghĩa. Ngài nếu giết Phàn Ô Kì, hối lỗi nhận tội, đại vương sẽ tha tội. Nếu do dự không quyết, hối hận cũng không kịp.”
              - Ta làm sao nhẫn tâm giết Phàn tướng quân?
              Dương  Đoan Hoà nói rằng:
              - Nếu ngài không kịp thời quyết đoán, tôi phải đi đây.
              Thành Kiểu níu Dương Đoan Hoà, nói rằng:
              - Đừng đi, để ta suy nghĩ.
              - Chúng ta lên đầu thành đi, không chừng quân Tần sắp đến nơi.
              Nói xong, Dương Đoan Hoà kéo Thành Kiểu lên tường thành.
              Lúc này, Phàn Ô Kì dẫn quân trở về. Hoá ra, lúc Phàn Ô Kì truy sát, trúng mai phục của Vương Tiễn, đại bại quay về.
              Phàn Ô Kì hét lớn:
              - Mau mở cổng để ta vào thành!
              Dương Đoan Hoà rút gươm, bức Thành Kiểu hướng xuống dưới thành nói lớn:
              - Trường An Quân đã đầu hàng, xin Phàn tướng quân tự lo cho mình đi!
              Dương Đoan Hoà lấy ra một lá cờ, đưa cho Thành Kiểu, buộc Thành Kiểu để quân sĩ kéo lên. Thành Kiểu đành làm theo.Tướng sĩ thủ thành nhìn thấy, không ai là không sợ, lập tức buông vũ khí.
              Phàn Ô Kì nhìn thấy cờ hàng giương lên, cả giận mắng rằng:
              - Thành Kiểu! Ông quá ngốc, hãy đợi mà xem.
              Quân Tần trùng trùng lớp lớp bao vây Phàn Ô Kì, giết chết Phàn Ô Kì rất dễ, nhưng Tần Vương ra lệnh nhất định bắt sống. Phàn Ô Kì liều mình một đường, quân Tần không dám giết chết, Phàn Ô Kì thừa cơ mở huyết lộ tháo chạy đến nước Yên.
              Cổng thành mở rộng, Vương Tiễn dẫn quân vào thành.
              Tần Vương Chính hạ lệnh, lấy ngàn cân vàng, 10 vạn thực ấp trọng thưởng cho ai bắt được Phàn Ô Kì! Chẳng bao lâu, Tần Vương Chính diệt cửu tộc của Phàn Ô Kì, Thành Kiểu bị giam nơi công quán.
    Thái hậu đến, xoả tóc thay Thành Kiểu cầu xin. Bất luận thái hậu nói như thế nào, Tần Vương Chính cũng không đáp ứng.
              Lã Bất Vi cũng tới, hoá ra Lã Bất Vi muốn hại chết Trường An Quân, cho nên mới kiến nghị để Trường An Quân xuất chinh! Không ngờ, Thành Kiểu và Phàn Ô Kì đã vạch ra cái xấu Lã Bất Vi. Thái hậu ra mặt cầu xin, Lã Bất Vi cũng đành tới cầu xin. Tần Vương Chính vẫn không đồng ý, sai sứ giả hoả tốc đến Lưu Đồn, hướng đến Vương Tiễn truyền đạt ý chỉ xử trảm Trường An Quân. Thành Kiểu bị áp giải đến pháp trường, đích thân Vương Tiễn đến nơi giám sát.
              Thành Kiểu khóc, nói rằng:
              - Chẳng phải Vương tướng quân viết thư nói là chỉ cần ta đầu hàng, tướng quân sẽ cầu xin giùm ta sao?
              Vương Tiễn nói rằng:
              - Quả thực ta đã cầu xin rồi, ngay cả thái hậu, Lã Bất Vi cũng cầu xin cho ông, nhưng đại vương tâm ý đã quyết, tôi đành phải chấp hành theo ý chỉ của đại vương, nào dám trái mệnh.
              Thành Kiểu than rằng;
              - Vương huynh làm như thế là tuyệt tình, lẽ nào vương huynh không phải là cốt nhục của tiên vương?
              Nghe mấy lời đó, người ở pháp trường không ai là không bịt tai.
              Tần Vương Chính năm thứ 9 (năm 238 trước công nguyên), nguyên môn khách của Lã Bất vi là Lao Ải 嫪毐, nhân vì hầu hạ thái hậu có công, được phong làm Trường Tín Hầu 长信侯, Tần Vương Chính đem vùng Sơn Dương 山阳 phong cho ông ta. Lao Ải bắt chước Lã Bất Vi gầy dựng bọn thân tín, quyền lực khuynh loát triều đình.
              Vương Tiễn nhìn thấy rõ: những việc đại vương làm, chẳng khác nào nuôi sói để phòng ngừa cọp, dùng Lao Ải ức chế Lã Bất Vi. Tần Vương Chính lệnh cho Vương Tiễn nắm giữ binh quyền toàn quốc, để phòng ngừa hoạ hoạn.
              Ngày nọ, Tần Vương Chính định đến Ung Thành 雍城 để cử hành nghi thức gia miện, đêm đó ở Hàm Dương có sao chổi xuất hiện, quan Thái sử bói một quẻ nói rằng điềm báo tai hoạ đao binh. Quần thần đều đến can ngăn, nhưng Tần Vương Chính nhất quyết đi. Tần Vương Chính triệu Vương Tiễn đến, nói rằng:
              - Quần thần đều khuyên quả nhân, riêng ông sao không tở thái độ?
              Vương Tiễn nói rằng:
              - Nghi thức gia miện là đại sự, há có thể chần chừ.
              - Lão tướng quân, người mà ta sợ nhất là Lã Bất Vi, ông ấy chủ trì quốc chính, một khi tạo phản, không kịp ứng phó. Vì việc này ta mới phong Lao Ải làm Trường Tín Hầu, làm yếu quyền lực của Lã Bất Vi. Đương nhiên, quan trọng nhất là binh quyền.
              Vương Tiễn lập tức quỳ xuống, khóc rằng:
              - Đại vương hậu ái như thế, lão thần há dám chối từ, xin đại vương hạ lệnh.
              Tần Vương Chính nói rằng:
              - Sau khi ta đi, nếu Lã Bất Vi tạo phản, ông có thể xuất binh khống chế.
              Nói  xong, trao cho Vương Tiễn một đạo mật chỉ:
              “Vương Tiễn là thầy của quả nhân. Quả nhân đến Ung Thành, nhờ Vương Tiễn thay nắm giữ quân quyền quốc sự.”
              Vương Tiễn nói rằng:
              - Trường Tín Hầu Lao Ải càng nguy hiểm, mong đại vương đề phòng nhiều hơn.
              Tần Vương Chính nói rằng:
              - Y không biết chữ, võ chẳng bằng người, con người tiểu nhân ấy có gì mà phải lo.
              Vương Tiễn nói:
              - Đại vương, tiểu nhân một khi đắc thế, thì không phải là loại tầm thường.
              Tần Vương Chính cười bảo rằng:
              - Tướng quân quá lo.
              Vương Tiễn nói:
              - Đại vương đến Ung Thành, thần nhất định điều binh hộ tống.
              Tần Vương Chính gật đầu đồng ý.
              Mấy ngày sau, Tần Vương chính đến Ung Thành, Vương Tiễn điều 3 vạn tinh binh hộ giá.
              Hai ngày sau, Tần Vương Chính đến Kì Sơn 岐山. Tần Vương Chính hạ lệnh cấm chỉ đại quân đi theo. Sau khi Tần Vương Chính đến Ung Thành, phát sinh loạn Lao Ải. May nhờ 3 vạn tinh binh từ Kì Sơn triệu đến, dẹp phản loạn. Tần Vương Chính ra tay đem Lao Ải và con riêng của thái hậu xử tử, phàm những ai tham gia phản loạn, đều giết chết. Tần Vương chính giam lỏng thái hậu, phế bỏ xưng hiệu “quốc mẫu”.
              Sự kiện này liên luỵ đến Lã Bất Vi, Tần Vương Chính bãi chức tướng của Lã Bất Vi, biếm ông ta đến đất phong ở Lạc Dương, Hà Nam.
              Lã Bất Vi đến Lạc Dương , các nước tấp nập phái sứ giả đến, tranh bái chức tướng. Tần Vương Chính sau khi biết được, viết một phong thư, sai sứ đưa đến Lạc Dương. Lã Bất Vi mở ra xem, vừa thấy đã biết là bút tích của Tần Vương Chính:
              “Ông lập công lao gì cho Tần, mà được phong 10 vạn hộ? Ông với quả nhân có quan hệ gì mà được gọi là “Trọng phụ”? Những bí mật trong cung đình, lịch sử nước Tần, quả nhân há không biết. Nước Tần đối với ông đủ tốt, ông lại không biết đủ! Hai vị tiên vương bạo tử đều có ông can dự. Lao Ải đại nghịch, cũng do ông dẫn đến. Quả nhân vẫn không nỡ gia hại, cho ông về đất phong. Ông lại không hối cải, dám tư thông cùng sứ giả các nước, khiến quả nhân thất vọng. Tội của ông không gì sánh bằng, quả nhân ban cho ông lông con chim trấm (1), hãy tự xử mình đi.”
              Xem qua thư, Lã Bất Vi biết khó thoát khỏi cái chết, lấy li vàng đựng rượu, dùng lông chim trấm khuấy qua, uống rượu độc mà chết. Như vậy, Tần Vương Chính đã dẹp yên được “lưỡng Hầu chi loạn” 两侯之乱. (còn tiếp)

    Chú của người dịch
    1- Chim trấm (trấm điểu 鸩鸟): trong truyền thuyết của Hán tộc, chim trấm là loài chim độc, đem lông của nó bỏ vào trong rượu, chất độc của nó có thể giết chết người.

                                                                     Huỳnh Chương Hưng
                                                                      Quy Nhơn 17/9/2017

    Nguyên tác
    VƯƠNG TIỄN
    王翦
    Trong quyển
    HỔ CHI UY
    虎之威
    Tác giả: Hàn Tố Văn 韩素文
    Bắc Kinh: Trung Quốc Trường An xuất bản xã, 1006.

    Thứ Bảy, 16 tháng 9, 2017

    VƯƠNG TIỄN
    (kì 2)

    LÂM NGUY THỌ MỆNH
     HAI LẦN BÌNH ĐỊNH PHẢN LOẠN TRONG NƯỚC

              Năm 251 trước công nguyên, Tần Chiêu Vương 秦昭王 qua đời, Thái tử An Quốc Quân 安国君 kế vị là Hiếu Văn Vương 孝文王, Tử Sở 子楚 làm thái tử.
              Năm 250 trước công nguyên, Hiếu Văn Vương bệnh mất, Tử Sở kế vị là Trang Tương Vương 庄襄王. Ba năm sau, Trang Tương Vương cũng qua đời, thái tử Doanh Chính 嬴政 tức vị, tôn Lã Bất Vi 吕不韦 làm “Trọng phụ” 仲父.
              Thời Trang Tương Vương, đem 12 huyện ở Lam Điền 蓝田 phong cho Lã Bất Vi làm phong ấp, sau đó, lại đem ruộng đất 10 vạn hộ ở Lạc Dương 洛阳 Hà Nam 河南 phong cho Lã Bất Vi. Lã Bất Vi giữ chức Thừa tướng, quyền hành khuynh đảo cả trong triều ngoài nội. Khi Doanh Chính 13 tuổi kế vị, Lã Bất Vi bắt chước 4 đại công tử: “Mạnh Thường Quân 孟尝君của nước Tề, Bình Nguyên Quân 平原君君 của nước Triệu, Tín Lăng Quân 信陵君 của nước Nguỵ, Xuân Thân Quân 春申君 của nước Sở”, chiêu tập môn khách, kết giao hiền sĩ. Môn khách ngày càng đông, danh tiếng vang khắp thiên hạ.
              Từ Chiêu Vương  đến Tần Vương Doanh Chính kế vị, Vương Tiễn 王翦 trải qua 4 triều. Đương nhiên Vương Tiễn biết rõ Tử Sở nhờ sự giúp đỡ của Lã Bất Vi mới thành quốc quân, cũng biết rõ Triệu thái hậu nguyên là ái cơ của Lã Bất Vi, Tần Vương Doanh Chính là con của Lã Bất Vi. Vương Tiễn không quên những bài học của Thương Ưởng 商鞅: không thực hành biến pháp, thì làm sao có thể đắc tội với Tần Huệ Vương? Không cắt mũi công tử Kiền , thích chữ vào mặt công tử Giả , thì làm sao đắc tội với bọn quyền quý? Không thực hiện khốc hình, thì làm sao đến nỗi vướng vào cảnh “ngũ ngưu phân thi”, cả nhà bị giết?
              Vương Tiễn không quên bài học của Vũ An Quân 武安君: không tranh công, thì làm sao có thể đắc tội với Thừa tướng Phạm Thư 范雎? Không cự lại vương mệnh, thì làm sao có thể bị giáng xuống làm lính? Không nói ra những lời oán hận, thì làm sao có thể rước lấy cái hoạ diệt thân?
              Vương Tiễn chế định cho mình nguyên tắc xử thế; không tính toán địa vị danh dự, không công cao tự kiêu, không khi phụ quần thần; chỉ phục tùng vương mệnh, không nghị luận chính trị. Thừa tướng Phạm Thư thời Chiêu Vương, Thừa tướng Thái Trạch 蔡泽 thời Hiếu Văn Vương, Lã Bất Vi thời Trang Tương Vương, và còn có cả các đại thần văn võ đều rất tôn trọng Vương Tiễn.
              Tần Vương Chính năm thứ 8, Doanh Chính 21 tuổi, thân cao 8 xích, uy vũ hùng tráng, uẩn tàng hùng tài đại lược, hiển lộ uy nghi của bậc quân vương. Tần Vương Doanh Chính không hiểu quân sự, nhưng có tráng chí hùng tâm thống nhất thiên hạ. Tần Vương chính thương nghị cùng Trọng phụ Lã Bất Vi. Tần  Vương Chính nói rằng:
              - Tần muốn bình thiên hạ, cần phải đánh nước nào trước tiên?
              Lã Bất Vi nói rằng”
              - Nay các nước, trừ Tần ra, nước Triệu mạnh nhất, cầm tặc tiên cầm vương, nước Triệu một khi bị ngã, các nước nghe tin hoảng sợ, thì sẽ dễ dàng đối phó.
              Tần Vương Chính nói:
              - Có phải cần Tướng quân Vương Tiễn xuất mã?
              Lã Bất vi đáp:
              - Không cần phải Vương Tiễn xuất mã. Theo thần thấy, có thể chia binh làm 2 lộ, một lộ do Mông Ngao 蒙骜 làm chủ tướng, Trương Đường 张唐 làm phó tướng, một lộ khác do vương đệ là Trường An Quân Thành Kiểu 成峤 làm chủ tướng. Phàn Ô Kì 樊于期  (1) làm phó tướng, mỗi lộ thống lĩnh 15 vạn quân đủ để đối phó với quân Triệu.
              Tần Vương Chính nói rằng:
              - Thành Kiểu em ta chưa từng đánh trận, làm sao có thể chế ngự quân địch?
              - Thành Kiểu tuy còn trẻ, nhưng hết sức trung thành, còn Phàn Ô Kì dũng mãnh vô địch, xin đại vương yên tâm!
              Sau khi đại quân xuất chinh, Tần Vương Chính thỉnh giáo Vương Tiễn, Vương Tiễn nói rằng:
              - Mông Ngao, Vương Đường đều hữu dũng vô mưu, không có cách gì kháng cự với quân Triệu. Hơn nữa, xuất binh viễn chinh, 15 vạn người là quá ít.
              Tần Vương Chính bảo rằng:
              - Còn có 15 vạn quân của Thành Kiểu, Phàn Ô Kì tiếp ứng?
              Vương Tiễn đáp rằng:
              - Thành Kiểu dã tâm lang sói, tướng quân Mông Ngao hung đa cát thiểu!
              Tần Vương Chính không tin, phái sứ giả ra tiền tuyến do thám tình hình. Kết quả, lộ quân của Mông Ngao xuất phát từ Hàm Cốc quan, lấy lộ Thượng Đảng 上党. Quân Triệu chiếm cứ cao điểm Nghiêu sơn 尧山, hướng xuống dưới dũng mãnh tấn công. Trương Đường dẫn 2 vạn quân Tần kháng cự, bị thương vong hơn một nửa. May có  tướng quân Mông Ngao tới kịp, cứu Trương Đường về Đô sơn 都山. Mông Ngao giục Thành Kiểu tiến lên cứu viện. Phàn Ô Kì, Thành Kiểu lấy lí do Lã Bất Vi nạp thiếp, dẫn quân tạo phản.
              Thành Kiểu, Phàn Ô Kì đã công hạ Tử Hồ quan 子壶关. Mông Ngao sau khi biết tin, dẫn quân tháo chạy. Quân Triệu nấp trong rừng sâu ở núi Thái Hàng 太行 phục kích, đánh bại quân Tần, Mông Ngao bị giết. Quân Triệu đắc thắng trở về.
              Tần Vương Chính nghe nói Trường An Quân Thành Kiểu tạo phản, vội bái Vương Tiễn làm tướng, đem 10 vạn quân chinh phạt Trường An Quân. Vương Tiễn dẫn quân đến Đồn Lưu 屯留, hợp binh cùng Trương Đường.
              Thành Kiểu hoảng kinh, nói với Phàn Ô Kì:
              - Phàn tướng quân! Làm sao bây giờ?
              Phàn Ô Kì nói rằng:
              - Như nay đã cưỡi lên lưng cọp, chỉ có cách giết cọp mà thôi!
              Ngày hôm sau, Vương Tiễn dẫn quân đến dưới thành. Phàn Ô Kì dẫn quân
    Xuất chiến. Vương Tiễn nói rằng:
              - Ông tại sao lại khuyến khích Trường An Quân tạo phản?
              Phàn Ô Kì đứng tại trận chiến, nói rằng:
              - Tần Vương Chính là con riêng của Lã Bất Vi, Trường An Quân mới là cốt huyết của tiên vương. Nếu tướng quân còn nghĩ đến ân điển của tiên vương, thì cùng chúng tôi tiến đến Hàm Dương giết chết Lã Bất Vi và Tần Vương Chính, lập Trường An Quân làm vương. Đến lúc đó, tướng quân không mất địa vị phong hầu. Tướng quân có bằng lòng không?
              Vương Tiễn hét rằng:
              - Ông chớ có hồ đồ. Thái hậu mang thai Doanh Chính 10 tháng, ai dám nói đại vương không phải là cốt huyết của tiên đế. Ông huỷ báng đại vương, phạm vào đại tội diệt môn, lại còn làm nhiễu loạn quân tâm, bắt được ông, sẽ chém ông ra làm muôn khúc.
              Phàn Ô Kì huơ trường đao, xông đến quân Tần đại sát. Phàn Ô Kì vô cùng kiêu dũng, phút chốc đã giết một số lượng lớn quân Tần. Vương Tiễn sai tướng sĩ vây bắt Phàn Ô Kì, cuối cùng không có cách nào bắt được, trời đã tối, đành thu binh.
              Vương Tiễn cho rằng Thành Kiểu tuổi nhỏ không biết, không hề có chủ kiến, bị bức tạo phản; Phàn Ô Kì hữu dũng vô mưu, thề đối địch với triều Tần. Có thể trước tiên làm Trường An Quân dao động, nghĩ cách sai người đi khuyên. Đương lúc đêm tối, Vương Tiễn triệu tập các tướng lĩnh bàn về chuyện đó, nói rõ tính toán của mình. Dương Đoan Hoà 杨端和 nói rằng:
              - Mạt tướng từng là môn khách dưới trướng của Trường An Quân, nguyện nghe theo lời sai bảo của tướng quân.
              Vương Tiễn lệnh cho các tường về nghỉ, chỉ giữ lại Dương Đoan Hoà:
              - Ta sẽ viết một phong thư ông giao tận tay Thành Kiểu, khuyên ông ấy nên sớm quy thuận!
              - Mạt tướng làm sao có thể vào thành?
              - Ngày mai, ta cùng với Phàn Ô Kì giao chiến, đợi lúc lệnh thu binh, ông giả trang thừa cơ trà trộn. Sau khi vào thành, ông xem thế công của quân ta ngày càng dũng mãnh thì hãy gặp Trường An Quân. Đến lúc đó, ông nhìn thời cơ mà hành sự, cả cứng lẫn mềm, bức Trường An Quân đầu hàng.
              Ngày hôm sau, Vương Tiễn phái hai viên mãnh tướng, mỗi người dẫn một lộ nhân mã, chia ra tấn công thành Hồ Quan 壶关và thành Trưởng Tử 长子. Vương Tiễn đích thân tấn công Đồn Lưu 屯留.
              Vương Tiễn nghinh chiến Phàn Ô Kì, chưa tới 5 hồi đã bại. Phàn Ô Kì cười nói rằng:
              - Lão già Vương Tiễn, ông trước giờ kiêu dũng thiện chiến, nay sao lại như thế?
              Vương Tiễn đáp rằng:
              - Hôm nay coi như tôi thua ông. Sau này chúng ta sẽ phân thắng bại.
              Phàn Ô Kì biết Vương Tiễn túc trí đa mưu, không dám truy kích, liền dẫn quân về thành. Dương Đoan Hoà thừa cơ trà trộn vào, ở nhờ nhà thân thích, đợi  thời cơ hành sự. (còn tiếp)

    Chú của người dịch
    1- Với tên nhân vật 樊于期:
    Chữ : theo Từ điển Trung Việt của nhà xuất bản Khoa học xã hội, âm Bắc Kinh hiện đại có mấy cách đọc sau: yu (thanh 2) / wu (thanh 1) / yu (thanh 1).
              Với âm yu (thanh 1) giải thích rằng : Yu Ô (họ)
              Trong Hán Việt tự điển của Thiều Chửu có âm Vu  và âm Hu
              Ở đây, tên nhân vật nếu viết theo dạng phồn thể sẽ là .
    - Với chữ , trong Khang Hi tự điển có 2 âm như sau:
              - Âm Bắc Kinh là wu (thanh 1)
                 Đường vận 唐韻  phiên thiết là AI ĐÔ 哀都 (ô).
                 Tập vận 集韻, Vận hội 韻會, Chính vận 正韻 phiên thiết là UÔNG HỒ 汪胡.
              Đều có âm là .
              - Âm Bắc Kinh là yu (thanh 2) .
              Quảng vận 廣韻 phiên thiết là ƯƠNG CƯ 央居 (ư)
    Tập vận 集韻, Vận hội 韻會, Chính vận 正韻 phiên thiết là Y HƯ 衣虛 (ư).
    Đều có âm là .
    (trang 430, Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 2003)
    Hán Việt tự điển của Thiều Chửu có 2 âm: ƯÔ
    - Với chữ , trong Khang Hi tự điển cũng có 2 âm:
              - Âm Bắc Kinh là qi (thanh 1)
               Đường vận 唐韻 , Tập vận 集韻, Vận hội 韻會  đều phiên thiết là CỪ CHI 渠之 (kì)
              - Âm Bắc Kinh là ji (thanh 1)
              Tập vận 集韻  phiên thiết là CƯ CHI 居之 (ki)
    (trang 454, Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 2003)
    Hán Việt tự điển của Thiều Chửu có 2 âm: KỲKY
    Theo http://baike.baidu.com/view/671559.htm, tên của nhân vật viết theo dạng phồn thể là樊於期 với âm Bắc Kinh chú bên cạnh là Fan Wu ji, phiên theo âm Hán Việt sẽ là Phàn Ô Ki.
    Theo http://www.zwbk.org/MylemmaShow.aspx, tên của nhân vật lại chú âm Bắc Kinh là Fan Wu qi, phiên theo âm Hán Việt sẽ là Phàn Ô Kì.
    Trong Sử Kí, bản dịch của Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê phiên âm là Phàn Ô Kì; bản của Phan Ngọc, bản dịch của Phạm Văn Ánh phiên âm là Phàn Ư Kỳ.

                                                                 Huỳnh Chương Hưng
                                                                 Quy Nhơn 16/9/2017

    Nguyên tác
    VƯƠNG TIỄN
    王翦
    Trong quyển
    HỔ CHI UY
    虎之威
    Tác giả: Hàn Tố Văn 韩素文
    Bắc Kinh: Trung Quốc Trường An xuất bản xã, 1006.

    Dịch thuật: Vương Tiễn (kì 2)

    Đăng lúc  18:47  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    VƯƠNG TIỄN
    (kì 2)

    LÂM NGUY THỌ MỆNH
     HAI LẦN BÌNH ĐỊNH PHẢN LOẠN TRONG NƯỚC

              Năm 251 trước công nguyên, Tần Chiêu Vương 秦昭王 qua đời, Thái tử An Quốc Quân 安国君 kế vị là Hiếu Văn Vương 孝文王, Tử Sở 子楚 làm thái tử.
              Năm 250 trước công nguyên, Hiếu Văn Vương bệnh mất, Tử Sở kế vị là Trang Tương Vương 庄襄王. Ba năm sau, Trang Tương Vương cũng qua đời, thái tử Doanh Chính 嬴政 tức vị, tôn Lã Bất Vi 吕不韦 làm “Trọng phụ” 仲父.
              Thời Trang Tương Vương, đem 12 huyện ở Lam Điền 蓝田 phong cho Lã Bất Vi làm phong ấp, sau đó, lại đem ruộng đất 10 vạn hộ ở Lạc Dương 洛阳 Hà Nam 河南 phong cho Lã Bất Vi. Lã Bất Vi giữ chức Thừa tướng, quyền hành khuynh đảo cả trong triều ngoài nội. Khi Doanh Chính 13 tuổi kế vị, Lã Bất Vi bắt chước 4 đại công tử: “Mạnh Thường Quân 孟尝君của nước Tề, Bình Nguyên Quân 平原君君 của nước Triệu, Tín Lăng Quân 信陵君 của nước Nguỵ, Xuân Thân Quân 春申君 của nước Sở”, chiêu tập môn khách, kết giao hiền sĩ. Môn khách ngày càng đông, danh tiếng vang khắp thiên hạ.
              Từ Chiêu Vương  đến Tần Vương Doanh Chính kế vị, Vương Tiễn 王翦 trải qua 4 triều. Đương nhiên Vương Tiễn biết rõ Tử Sở nhờ sự giúp đỡ của Lã Bất Vi mới thành quốc quân, cũng biết rõ Triệu thái hậu nguyên là ái cơ của Lã Bất Vi, Tần Vương Doanh Chính là con của Lã Bất Vi. Vương Tiễn không quên những bài học của Thương Ưởng 商鞅: không thực hành biến pháp, thì làm sao có thể đắc tội với Tần Huệ Vương? Không cắt mũi công tử Kiền , thích chữ vào mặt công tử Giả , thì làm sao đắc tội với bọn quyền quý? Không thực hiện khốc hình, thì làm sao đến nỗi vướng vào cảnh “ngũ ngưu phân thi”, cả nhà bị giết?
              Vương Tiễn không quên bài học của Vũ An Quân 武安君: không tranh công, thì làm sao có thể đắc tội với Thừa tướng Phạm Thư 范雎? Không cự lại vương mệnh, thì làm sao có thể bị giáng xuống làm lính? Không nói ra những lời oán hận, thì làm sao có thể rước lấy cái hoạ diệt thân?
              Vương Tiễn chế định cho mình nguyên tắc xử thế; không tính toán địa vị danh dự, không công cao tự kiêu, không khi phụ quần thần; chỉ phục tùng vương mệnh, không nghị luận chính trị. Thừa tướng Phạm Thư thời Chiêu Vương, Thừa tướng Thái Trạch 蔡泽 thời Hiếu Văn Vương, Lã Bất Vi thời Trang Tương Vương, và còn có cả các đại thần văn võ đều rất tôn trọng Vương Tiễn.
              Tần Vương Chính năm thứ 8, Doanh Chính 21 tuổi, thân cao 8 xích, uy vũ hùng tráng, uẩn tàng hùng tài đại lược, hiển lộ uy nghi của bậc quân vương. Tần Vương Doanh Chính không hiểu quân sự, nhưng có tráng chí hùng tâm thống nhất thiên hạ. Tần Vương chính thương nghị cùng Trọng phụ Lã Bất Vi. Tần  Vương Chính nói rằng:
              - Tần muốn bình thiên hạ, cần phải đánh nước nào trước tiên?
              Lã Bất Vi nói rằng”
              - Nay các nước, trừ Tần ra, nước Triệu mạnh nhất, cầm tặc tiên cầm vương, nước Triệu một khi bị ngã, các nước nghe tin hoảng sợ, thì sẽ dễ dàng đối phó.
              Tần Vương Chính nói:
              - Có phải cần Tướng quân Vương Tiễn xuất mã?
              Lã Bất vi đáp:
              - Không cần phải Vương Tiễn xuất mã. Theo thần thấy, có thể chia binh làm 2 lộ, một lộ do Mông Ngao 蒙骜 làm chủ tướng, Trương Đường 张唐 làm phó tướng, một lộ khác do vương đệ là Trường An Quân Thành Kiểu 成峤 làm chủ tướng. Phàn Ô Kì 樊于期  (1) làm phó tướng, mỗi lộ thống lĩnh 15 vạn quân đủ để đối phó với quân Triệu.
              Tần Vương Chính nói rằng:
              - Thành Kiểu em ta chưa từng đánh trận, làm sao có thể chế ngự quân địch?
              - Thành Kiểu tuy còn trẻ, nhưng hết sức trung thành, còn Phàn Ô Kì dũng mãnh vô địch, xin đại vương yên tâm!
              Sau khi đại quân xuất chinh, Tần Vương Chính thỉnh giáo Vương Tiễn, Vương Tiễn nói rằng:
              - Mông Ngao, Vương Đường đều hữu dũng vô mưu, không có cách gì kháng cự với quân Triệu. Hơn nữa, xuất binh viễn chinh, 15 vạn người là quá ít.
              Tần Vương Chính bảo rằng:
              - Còn có 15 vạn quân của Thành Kiểu, Phàn Ô Kì tiếp ứng?
              Vương Tiễn đáp rằng:
              - Thành Kiểu dã tâm lang sói, tướng quân Mông Ngao hung đa cát thiểu!
              Tần Vương Chính không tin, phái sứ giả ra tiền tuyến do thám tình hình. Kết quả, lộ quân của Mông Ngao xuất phát từ Hàm Cốc quan, lấy lộ Thượng Đảng 上党. Quân Triệu chiếm cứ cao điểm Nghiêu sơn 尧山, hướng xuống dưới dũng mãnh tấn công. Trương Đường dẫn 2 vạn quân Tần kháng cự, bị thương vong hơn một nửa. May có  tướng quân Mông Ngao tới kịp, cứu Trương Đường về Đô sơn 都山. Mông Ngao giục Thành Kiểu tiến lên cứu viện. Phàn Ô Kì, Thành Kiểu lấy lí do Lã Bất Vi nạp thiếp, dẫn quân tạo phản.
              Thành Kiểu, Phàn Ô Kì đã công hạ Tử Hồ quan 子壶关. Mông Ngao sau khi biết tin, dẫn quân tháo chạy. Quân Triệu nấp trong rừng sâu ở núi Thái Hàng 太行 phục kích, đánh bại quân Tần, Mông Ngao bị giết. Quân Triệu đắc thắng trở về.
              Tần Vương Chính nghe nói Trường An Quân Thành Kiểu tạo phản, vội bái Vương Tiễn làm tướng, đem 10 vạn quân chinh phạt Trường An Quân. Vương Tiễn dẫn quân đến Đồn Lưu 屯留, hợp binh cùng Trương Đường.
              Thành Kiểu hoảng kinh, nói với Phàn Ô Kì:
              - Phàn tướng quân! Làm sao bây giờ?
              Phàn Ô Kì nói rằng:
              - Như nay đã cưỡi lên lưng cọp, chỉ có cách giết cọp mà thôi!
              Ngày hôm sau, Vương Tiễn dẫn quân đến dưới thành. Phàn Ô Kì dẫn quân
    Xuất chiến. Vương Tiễn nói rằng:
              - Ông tại sao lại khuyến khích Trường An Quân tạo phản?
              Phàn Ô Kì đứng tại trận chiến, nói rằng:
              - Tần Vương Chính là con riêng của Lã Bất Vi, Trường An Quân mới là cốt huyết của tiên vương. Nếu tướng quân còn nghĩ đến ân điển của tiên vương, thì cùng chúng tôi tiến đến Hàm Dương giết chết Lã Bất Vi và Tần Vương Chính, lập Trường An Quân làm vương. Đến lúc đó, tướng quân không mất địa vị phong hầu. Tướng quân có bằng lòng không?
              Vương Tiễn hét rằng:
              - Ông chớ có hồ đồ. Thái hậu mang thai Doanh Chính 10 tháng, ai dám nói đại vương không phải là cốt huyết của tiên đế. Ông huỷ báng đại vương, phạm vào đại tội diệt môn, lại còn làm nhiễu loạn quân tâm, bắt được ông, sẽ chém ông ra làm muôn khúc.
              Phàn Ô Kì huơ trường đao, xông đến quân Tần đại sát. Phàn Ô Kì vô cùng kiêu dũng, phút chốc đã giết một số lượng lớn quân Tần. Vương Tiễn sai tướng sĩ vây bắt Phàn Ô Kì, cuối cùng không có cách nào bắt được, trời đã tối, đành thu binh.
              Vương Tiễn cho rằng Thành Kiểu tuổi nhỏ không biết, không hề có chủ kiến, bị bức tạo phản; Phàn Ô Kì hữu dũng vô mưu, thề đối địch với triều Tần. Có thể trước tiên làm Trường An Quân dao động, nghĩ cách sai người đi khuyên. Đương lúc đêm tối, Vương Tiễn triệu tập các tướng lĩnh bàn về chuyện đó, nói rõ tính toán của mình. Dương Đoan Hoà 杨端和 nói rằng:
              - Mạt tướng từng là môn khách dưới trướng của Trường An Quân, nguyện nghe theo lời sai bảo của tướng quân.
              Vương Tiễn lệnh cho các tường về nghỉ, chỉ giữ lại Dương Đoan Hoà:
              - Ta sẽ viết một phong thư ông giao tận tay Thành Kiểu, khuyên ông ấy nên sớm quy thuận!
              - Mạt tướng làm sao có thể vào thành?
              - Ngày mai, ta cùng với Phàn Ô Kì giao chiến, đợi lúc lệnh thu binh, ông giả trang thừa cơ trà trộn. Sau khi vào thành, ông xem thế công của quân ta ngày càng dũng mãnh thì hãy gặp Trường An Quân. Đến lúc đó, ông nhìn thời cơ mà hành sự, cả cứng lẫn mềm, bức Trường An Quân đầu hàng.
              Ngày hôm sau, Vương Tiễn phái hai viên mãnh tướng, mỗi người dẫn một lộ nhân mã, chia ra tấn công thành Hồ Quan 壶关và thành Trưởng Tử 长子. Vương Tiễn đích thân tấn công Đồn Lưu 屯留.
              Vương Tiễn nghinh chiến Phàn Ô Kì, chưa tới 5 hồi đã bại. Phàn Ô Kì cười nói rằng:
              - Lão già Vương Tiễn, ông trước giờ kiêu dũng thiện chiến, nay sao lại như thế?
              Vương Tiễn đáp rằng:
              - Hôm nay coi như tôi thua ông. Sau này chúng ta sẽ phân thắng bại.
              Phàn Ô Kì biết Vương Tiễn túc trí đa mưu, không dám truy kích, liền dẫn quân về thành. Dương Đoan Hoà thừa cơ trà trộn vào, ở nhờ nhà thân thích, đợi  thời cơ hành sự. (còn tiếp)

    Chú của người dịch
    1- Với tên nhân vật 樊于期:
    Chữ : theo Từ điển Trung Việt của nhà xuất bản Khoa học xã hội, âm Bắc Kinh hiện đại có mấy cách đọc sau: yu (thanh 2) / wu (thanh 1) / yu (thanh 1).
              Với âm yu (thanh 1) giải thích rằng : Yu Ô (họ)
              Trong Hán Việt tự điển của Thiều Chửu có âm Vu  và âm Hu
              Ở đây, tên nhân vật nếu viết theo dạng phồn thể sẽ là .
    - Với chữ , trong Khang Hi tự điển có 2 âm như sau:
              - Âm Bắc Kinh là wu (thanh 1)
                 Đường vận 唐韻  phiên thiết là AI ĐÔ 哀都 (ô).
                 Tập vận 集韻, Vận hội 韻會, Chính vận 正韻 phiên thiết là UÔNG HỒ 汪胡.
              Đều có âm là .
              - Âm Bắc Kinh là yu (thanh 2) .
              Quảng vận 廣韻 phiên thiết là ƯƠNG CƯ 央居 (ư)
    Tập vận 集韻, Vận hội 韻會, Chính vận 正韻 phiên thiết là Y HƯ 衣虛 (ư).
    Đều có âm là .
    (trang 430, Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 2003)
    Hán Việt tự điển của Thiều Chửu có 2 âm: ƯÔ
    - Với chữ , trong Khang Hi tự điển cũng có 2 âm:
              - Âm Bắc Kinh là qi (thanh 1)
               Đường vận 唐韻 , Tập vận 集韻, Vận hội 韻會  đều phiên thiết là CỪ CHI 渠之 (kì)
              - Âm Bắc Kinh là ji (thanh 1)
              Tập vận 集韻  phiên thiết là CƯ CHI 居之 (ki)
    (trang 454, Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 2003)
    Hán Việt tự điển của Thiều Chửu có 2 âm: KỲKY
    Theo http://baike.baidu.com/view/671559.htm, tên của nhân vật viết theo dạng phồn thể là樊於期 với âm Bắc Kinh chú bên cạnh là Fan Wu ji, phiên theo âm Hán Việt sẽ là Phàn Ô Ki.
    Theo http://www.zwbk.org/MylemmaShow.aspx, tên của nhân vật lại chú âm Bắc Kinh là Fan Wu qi, phiên theo âm Hán Việt sẽ là Phàn Ô Kì.
    Trong Sử Kí, bản dịch của Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê phiên âm là Phàn Ô Kì; bản của Phan Ngọc, bản dịch của Phạm Văn Ánh phiên âm là Phàn Ư Kỳ.

                                                                 Huỳnh Chương Hưng
                                                                 Quy Nhơn 16/9/2017

    Nguyên tác
    VƯƠNG TIỄN
    王翦
    Trong quyển
    HỔ CHI UY
    虎之威
    Tác giả: Hàn Tố Văn 韩素文
    Bắc Kinh: Trung Quốc Trường An xuất bản xã, 1006.

    Mã nguồn bởi Huỳnh Chương Hưng
    Copyright © 2012 Huỳnh Chương Hưng.
    back to top