• Thứ Ba, 22 tháng 1, 2019

    MINH TƯ TÔNG CHU DO KIỂM

              Chu Do Kiểm 朱由检là con thứ 5 của Minh Quang Tông Chu Thường Lạc 明光宗朱常洛, mẫu thân là Lưu thị 刘氏, Lưu thị mất sớm.
              Chu Do Kiểm sinh vào tháng 12 năm Vạn Lịch 万历 thứ 38 đời Minh Thần Tông 明神宗 (năm 1610). 12 tuổi phong Tín Vương 信王.
              Tháng 7 năm Vạn Lịch thứ 48, Thần Tông qua đời, con trưởng là Thường Lạc kế vị, tức Minh Quang Tông. Quang Tông lên ngôi chẳng bao lâu, bị bệnh lị. Nội thị của Trịnh quý phi 郑贵妃là Thôi Văn Thăng 崔文升 dâng thuốc đại hoàng. Quang Tông sau khi uống, bệnh tình càng trở nên nguy kịch, trong một ngày một đêm mà đi tiêu đến 34 lần. Quan Hồng lô tự là Lí Khả Chước 李可灼dâng 2 viên hồng hoàn, xưng là tiên đan. Quang Tông sau khi uống đã qua đời, sử xưng là “Hồng hoàn án” 红丸案.
              Quang Tông tại vị 29 ngày, lúc mất chỉ mới 39 tuổi.
              Quang Tông mất, con trưởng là Chu Do Hiệu 朱由校tức vị, đó là Minh Hi Tông 明熹宗.
              Hi Tông tại vị 8 năm, mất vào tháng 8 năm Thiên Khải 天启thứ 7 tại cung Càn Thanh 乾清, hưởng niên 23 tuổi. Chu Do Kiểm nhận di mệnh của Hi Tông, lên ngôi hoàng đế tức Minh Tư Tông.
              Chu Do Kiểm tức vị, lấy niên hiệu Sùng Trinh 崇祯. Hoàng đế Sùng Trinh sau khi lên ngôi, việc đầu tiên là thanh trừ lãnh tụ Yêm đảng 阉党gây hoạ cho đất nước và nhân dân là Nguỵ Trung Hiền 魏忠贤, lệnh cho ông ta tự sát, bình đình nghịch đảng, chia Yêm đảng ra làm 6 cấp, nặng thì xử tử, nhẹ thì chung thân bất dụng. Đồng thời huỷ bỏ “tam triều yếu điển” 三朝要典 vu tội người của đảng Đông Lâm 东林, ra sức cứu vãn tình thế rối loạn, hăng hái dốc chí, để triều Minh được trung hưng. Nhưng vương triều Đại Minh lúc bấy giờ khí số đã tận, như bệnh đã nhiễm vào xương cốt, nội ưu ngoại hoạn, nguy cơ bốn phía. Tháng 4 năm Sùng Trinh nguyên niên (năm 1628), Hậu Kim 后金khởi binh tại đông bắc, chuẩn bị đánh Cẩm Châu 锦州, lấy đó đánh thông đường đến Sơn Hải quan 山海关. Sùng Trinh khởi dụng Đại tướng Viên Sùng Hoán 袁崇焕 đã bãi chức về quê xuất nhậm Binh bộ Thượng thư, thúc quân Kế , Liêu dẹp phản loạn Hậu Kim. Quân Hậu Kim vượt qua Thanh Thành 青城, chia đường từ Hỉ Phong khẩu 喜峰口, Long Tỉnh quan 龙井关, Đại An khẩu 大安口, Hồng Sơn khẩu 洪山口tiến vào biên giới, công hãm Tuân Hoá 遵化, cả kinh sư chấn động.
              Viên Sùng Hoán đem quân cứu viện, quân hai bên đại chiến tại Kế Châu 蓟州. Sau khi Hậu Kim chiến bại dẫn quân tiến về phía tây, đánh thẳng vào kinh sư. Viên Sùng Hoán nghe tin, hành quân hai ngày đêm hơm 300 dặm, đồn binh ở phía ngoài kinh sư, đánh bại Hậu Kim một lần nữa. Chúa Hậu Kim là Hoàng Thái Cực 皇太极 bèn dùng kế phản gián, mưu sát Viên Sùng Hoán. Sùng Trinh đế đa nghi, trúng kế phản gián, bắt Viên Sùng Hoán hạ ngục xử tử. Bộ tướng của Viên Sùng Hoán là Tổ Đại Thọ 祖大寿nghe tin cả kinh, liền dẫn sở bộ của mình phá Sơn Hải quan mà ra, chạy thẳng đến Cẩm Châu, đầu bôn Hậu Kim. Chiến cục nhanh chóng chuyển hướng. Sùng Trinh vội mệnh cho quan Tổng binh Đại Đồng 大同là Mãn Quế 满桂làm kinh lược, thống lĩnh quân cần vương các lộ. Hậu Kim ban đêm tập kích vào doanh trại Mãn Quế, Mãn Quế chiến tử, kinh sư nguy trước mắt. Hậu Kim người ngựa đều mệt, bèn theo đường Lãnh Khẩu quan 冷口关 quay về bắc. Năm Sùng Trinh thứ 4, Tuần phủ Khâu Hoà Gia 邱禾嘉vi phạm mệnh lệnh của Binh bộ Thượng thư Tôn Thừa Tông 孙承宗, đi tu sửa 2 thành là Hữu Đồn 右屯và Đại Lăng Hà 大凌河. Hoàng Thái Cực tấn công Đại Lăng Hà, vây khốn 2 tháng liền, trong thành hết lương thực, ra hàng. Hoàng Thái Cực sau khi huỷ Đại Lăng Hà liền hồi sư về Thẩm Dương 沈阳. Năm Sùng Trinh thứ 7, quân Hậu Kim chia làm 4 lộ tấn công Đại Đồng 大同, Tuyên phủ 宣府 ...  Năm thứ 9 (1), Hậu Kim đổi quốc hiệu là Đại Thanh 大清, một lần nữa tiến vào Trường thành. Năm thứ 11, xâm nhập Đại Minh, bắt đi 46 vạn người, lấy hơn trăm vạn lượng vàng bạc. Hoàng Thái Cực biết rõ, nếu không được Sơn Hải quan, thì không thể tiến vào làm chủ trung nguyên; còn nếu được Sơn Hải quan, đầu tiên là công hạ Ninh Châu 宁州, Cẩm Châu 锦州. Mùa đông năm Sùng Trinh thứ 13 (năm 1640), quân Thanh vây Cẩm Châu. Tháng 7 năm sau, hoàng đế Sùng Trinh phái Tổng đốc Kế Liêu là Hồng Thừa Trừ 洪承畴 thống lĩnh 8 tổng binh (2) như Ngô Tam Quế 吴三桂, Vương Phác 王朴 ....., với 13 vạn quân đi cứu viện. Sùng Trinh nhiều lần ra lệnh đốc thúc tốc chiến. Kết quả, quân Minh trước tiên bị bại ở Tùng Sơn 松山, sau đó bị bại ở Cẩm Châu 锦州, chủ soái Hồng Thừa Trừ bị bắt, 8 tổng binh chỉ có Vương Phác, Ngô Tam Quế đào tẩu.
     Nội loạn của vương triều Minh cũng nổi lên như ong. Diên Tuy 延绥 giương cờ nghĩa, Sơn Tây 山西, Hà Bắc 河北hưởng ứng, làn sóng lan ra cả nước. Quân khởi nghĩa trước tiên mỗi nơi tự nắm chính quyền riêng, đến năm 1635, cử hành đại hội tại Huỳnh Dương 荥阳, cùng cử Cao Nghinh Tường 高迎祥làm thủ lĩnh. Năm sau, họ Cao hi sinh, cử Lí Tự Thành 李自成làm Sấm Vương 闯王. Năm Sùng Trinh thứ 14, quân khởi nghĩa công chiếm Lạc Dương 洛阳, binh có đến cả trăm vạn.
              Năm Sùng Trinh thứ 15, quân Thanh vào quan trung, chiếm lĩnh Kế Châu 蓟州, thâm nhập Hà Bắc 河北, Sơn Đông 山东东, phá 3 phủ, 18 châu, 88 thành, bắt hơn 26 vạn bách tính, đoạt hơn 120 vạn lượng vàng bạc, cũng 55 vạn bò dê. Hoàng Thái Cực bệnh và qua đời, binh Hậu Kim tạm thời hoà hoãn. Thế lực của quân khởi nghĩa như chẻ tre. Hạ Đồng Quan 潼关, phá Tây An 西安, trực chỉ Bắc Kinh 北京. Tháng 2 năm Sùng Trinh thứ 17, quân khởi nghĩa sau khi công phá Thái Nguyên 太原, chia quân làm 2 lộ. Lí Tự Thành thống lĩnh quân chủ lực đi qua Đại Đồng 大同, Tuyên Phủ 宣府, Cư Dung quan 居庸关, ngày 12 tháng 3 đến Xương Bình 昌平ngoại ô kinh sư. 5 ngày sau, tấn công 9 cửa kinh sư (3). Hoàng Đế Sùng Trinh không còn đường chạy, cuối cùng vào ngày 19 tháng 3 năm thứ 17 khi thành bị vây hãm, Sùng Trinh đã tự tận tại Môi sơn 煤山 phía bắc hoàng cung, tại vị chỉ 18 năm hưởng niên 35 tuổi. Đại Minh trải qua 16 chúa, tổng cộng 277 năm đến đây thì diệt vong.
              Ngày 17 tháng 3 năm Sùng Trinh thứ 17 (năm 1644), quân khởi nghĩa tiến đến dưới thành, tình thế kinh sư vô cùng nguy hiểm. Ngày 18, quân khởi nghĩa công phá ngoại thành. Hoàng đế Sùng Trinh biết đại thế đã tận, sau khi cáo biệt hoàng hậu, tần phi, đã lệnh bức Chu hoàng hậu 周皇后 tự sát, tại cung Ninh Thọ 宁寿 chém trưởng nữ công chúa An Lạc安乐, giết chết ấu nữ công chúa Chiêu Nhân 昭仁. Trong đêm, Sùng Trinh dẫn thái giám xông ra cung môn, bị thần liêu ngăn lại, quay về lại cung. Sáng sớm ngày 19, hoàng thành bị công phá. Sùng Trinh không có sự lựa chọn nào khác, đành leo lên Môi sơn 煤山, tức Vạn Thọ sơn 万寿山, treo cổ tự tận tại cây hoè bên cạnh đình Thọ Hoàng 寿皇.
              Trước khi chết, Sùng Trinh đã viết lên vạt áo: nhân vì mất giang sơn, không còn mặt mũi nào gặp tổ tông dưới suối vàng, không dám chết nơi chính tẩm. Người chết theo là thái giám Vương Thừa Ân 王承恩. Môi sơn 煤山tại phía bắc cung thành của Tử Cấm thành, nay là Cảnh sơn 景山. Nơi Sùng Trinh tự tận đến nay vẫn được bảo tồn, chỉ có điều là cây hoè đã chết.

    Chú của người dịch
    1- Năm thứ 9 tức năm Sùng Trinh thứ 9 triều Minh (năm 1636), năm này Hoàng Thái Cực 皇太极xưng đế, đổi quốc hiệu là là Đại Thanh 大清, sử xưng là “Thanh triều”.
    2- Tám Tổng binh gồm: Vương Phác 王朴, Đường Thông 唐通, Tào Biến Giao 曹变蛟, Ngô Tam Quế 吴三桂, Bạch Quảng Ân 白广恩, Mã Khoa 马科, Vương Đình Thần 王廷臣, Dương Quốc Trụ 杨国柱.
    3- Chín cửa kinh sư tức kinh sư cửu môn 京师九门gồm:
              Triều Dương môn 朝阳门, Sùng Văn môn 崇文门, Chính Dương môn 正阳门, Tuyên Vũ môn 宣武门, Phụ Thành môn 阜成门, Đức Thắng môn 德胜门, An Định môn 安定门, Đông Trực môn 东直门, Tây Trực môn 西直门.

                                                                    Huỳnh Chương Hưng
                                                                Quy Nhơn 22/01/2019

    Nguồn
    HOÀNG TRIỀU ĐIỂN CỐ KỈ VĂN
    皇朝典故纪闻
    Tác giả: Hướng Tư 向斯
    Bắc Kinh: Trung Quốc văn sử xuất bản xã, 2002

    Dịch thuật: Minh Tư Tông Chu Do Kiểm

    Đăng lúc  21:02  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    MINH TƯ TÔNG CHU DO KIỂM

              Chu Do Kiểm 朱由检là con thứ 5 của Minh Quang Tông Chu Thường Lạc 明光宗朱常洛, mẫu thân là Lưu thị 刘氏, Lưu thị mất sớm.
              Chu Do Kiểm sinh vào tháng 12 năm Vạn Lịch 万历 thứ 38 đời Minh Thần Tông 明神宗 (năm 1610). 12 tuổi phong Tín Vương 信王.
              Tháng 7 năm Vạn Lịch thứ 48, Thần Tông qua đời, con trưởng là Thường Lạc kế vị, tức Minh Quang Tông. Quang Tông lên ngôi chẳng bao lâu, bị bệnh lị. Nội thị của Trịnh quý phi 郑贵妃là Thôi Văn Thăng 崔文升 dâng thuốc đại hoàng. Quang Tông sau khi uống, bệnh tình càng trở nên nguy kịch, trong một ngày một đêm mà đi tiêu đến 34 lần. Quan Hồng lô tự là Lí Khả Chước 李可灼dâng 2 viên hồng hoàn, xưng là tiên đan. Quang Tông sau khi uống đã qua đời, sử xưng là “Hồng hoàn án” 红丸案.
              Quang Tông tại vị 29 ngày, lúc mất chỉ mới 39 tuổi.
              Quang Tông mất, con trưởng là Chu Do Hiệu 朱由校tức vị, đó là Minh Hi Tông 明熹宗.
              Hi Tông tại vị 8 năm, mất vào tháng 8 năm Thiên Khải 天启thứ 7 tại cung Càn Thanh 乾清, hưởng niên 23 tuổi. Chu Do Kiểm nhận di mệnh của Hi Tông, lên ngôi hoàng đế tức Minh Tư Tông.
              Chu Do Kiểm tức vị, lấy niên hiệu Sùng Trinh 崇祯. Hoàng đế Sùng Trinh sau khi lên ngôi, việc đầu tiên là thanh trừ lãnh tụ Yêm đảng 阉党gây hoạ cho đất nước và nhân dân là Nguỵ Trung Hiền 魏忠贤, lệnh cho ông ta tự sát, bình đình nghịch đảng, chia Yêm đảng ra làm 6 cấp, nặng thì xử tử, nhẹ thì chung thân bất dụng. Đồng thời huỷ bỏ “tam triều yếu điển” 三朝要典 vu tội người của đảng Đông Lâm 东林, ra sức cứu vãn tình thế rối loạn, hăng hái dốc chí, để triều Minh được trung hưng. Nhưng vương triều Đại Minh lúc bấy giờ khí số đã tận, như bệnh đã nhiễm vào xương cốt, nội ưu ngoại hoạn, nguy cơ bốn phía. Tháng 4 năm Sùng Trinh nguyên niên (năm 1628), Hậu Kim 后金khởi binh tại đông bắc, chuẩn bị đánh Cẩm Châu 锦州, lấy đó đánh thông đường đến Sơn Hải quan 山海关. Sùng Trinh khởi dụng Đại tướng Viên Sùng Hoán 袁崇焕 đã bãi chức về quê xuất nhậm Binh bộ Thượng thư, thúc quân Kế , Liêu dẹp phản loạn Hậu Kim. Quân Hậu Kim vượt qua Thanh Thành 青城, chia đường từ Hỉ Phong khẩu 喜峰口, Long Tỉnh quan 龙井关, Đại An khẩu 大安口, Hồng Sơn khẩu 洪山口tiến vào biên giới, công hãm Tuân Hoá 遵化, cả kinh sư chấn động.
              Viên Sùng Hoán đem quân cứu viện, quân hai bên đại chiến tại Kế Châu 蓟州. Sau khi Hậu Kim chiến bại dẫn quân tiến về phía tây, đánh thẳng vào kinh sư. Viên Sùng Hoán nghe tin, hành quân hai ngày đêm hơm 300 dặm, đồn binh ở phía ngoài kinh sư, đánh bại Hậu Kim một lần nữa. Chúa Hậu Kim là Hoàng Thái Cực 皇太极 bèn dùng kế phản gián, mưu sát Viên Sùng Hoán. Sùng Trinh đế đa nghi, trúng kế phản gián, bắt Viên Sùng Hoán hạ ngục xử tử. Bộ tướng của Viên Sùng Hoán là Tổ Đại Thọ 祖大寿nghe tin cả kinh, liền dẫn sở bộ của mình phá Sơn Hải quan mà ra, chạy thẳng đến Cẩm Châu, đầu bôn Hậu Kim. Chiến cục nhanh chóng chuyển hướng. Sùng Trinh vội mệnh cho quan Tổng binh Đại Đồng 大同là Mãn Quế 满桂làm kinh lược, thống lĩnh quân cần vương các lộ. Hậu Kim ban đêm tập kích vào doanh trại Mãn Quế, Mãn Quế chiến tử, kinh sư nguy trước mắt. Hậu Kim người ngựa đều mệt, bèn theo đường Lãnh Khẩu quan 冷口关 quay về bắc. Năm Sùng Trinh thứ 4, Tuần phủ Khâu Hoà Gia 邱禾嘉vi phạm mệnh lệnh của Binh bộ Thượng thư Tôn Thừa Tông 孙承宗, đi tu sửa 2 thành là Hữu Đồn 右屯và Đại Lăng Hà 大凌河. Hoàng Thái Cực tấn công Đại Lăng Hà, vây khốn 2 tháng liền, trong thành hết lương thực, ra hàng. Hoàng Thái Cực sau khi huỷ Đại Lăng Hà liền hồi sư về Thẩm Dương 沈阳. Năm Sùng Trinh thứ 7, quân Hậu Kim chia làm 4 lộ tấn công Đại Đồng 大同, Tuyên phủ 宣府 ...  Năm thứ 9 (1), Hậu Kim đổi quốc hiệu là Đại Thanh 大清, một lần nữa tiến vào Trường thành. Năm thứ 11, xâm nhập Đại Minh, bắt đi 46 vạn người, lấy hơn trăm vạn lượng vàng bạc. Hoàng Thái Cực biết rõ, nếu không được Sơn Hải quan, thì không thể tiến vào làm chủ trung nguyên; còn nếu được Sơn Hải quan, đầu tiên là công hạ Ninh Châu 宁州, Cẩm Châu 锦州. Mùa đông năm Sùng Trinh thứ 13 (năm 1640), quân Thanh vây Cẩm Châu. Tháng 7 năm sau, hoàng đế Sùng Trinh phái Tổng đốc Kế Liêu là Hồng Thừa Trừ 洪承畴 thống lĩnh 8 tổng binh (2) như Ngô Tam Quế 吴三桂, Vương Phác 王朴 ....., với 13 vạn quân đi cứu viện. Sùng Trinh nhiều lần ra lệnh đốc thúc tốc chiến. Kết quả, quân Minh trước tiên bị bại ở Tùng Sơn 松山, sau đó bị bại ở Cẩm Châu 锦州, chủ soái Hồng Thừa Trừ bị bắt, 8 tổng binh chỉ có Vương Phác, Ngô Tam Quế đào tẩu.
     Nội loạn của vương triều Minh cũng nổi lên như ong. Diên Tuy 延绥 giương cờ nghĩa, Sơn Tây 山西, Hà Bắc 河北hưởng ứng, làn sóng lan ra cả nước. Quân khởi nghĩa trước tiên mỗi nơi tự nắm chính quyền riêng, đến năm 1635, cử hành đại hội tại Huỳnh Dương 荥阳, cùng cử Cao Nghinh Tường 高迎祥làm thủ lĩnh. Năm sau, họ Cao hi sinh, cử Lí Tự Thành 李自成làm Sấm Vương 闯王. Năm Sùng Trinh thứ 14, quân khởi nghĩa công chiếm Lạc Dương 洛阳, binh có đến cả trăm vạn.
              Năm Sùng Trinh thứ 15, quân Thanh vào quan trung, chiếm lĩnh Kế Châu 蓟州, thâm nhập Hà Bắc 河北, Sơn Đông 山东东, phá 3 phủ, 18 châu, 88 thành, bắt hơn 26 vạn bách tính, đoạt hơn 120 vạn lượng vàng bạc, cũng 55 vạn bò dê. Hoàng Thái Cực bệnh và qua đời, binh Hậu Kim tạm thời hoà hoãn. Thế lực của quân khởi nghĩa như chẻ tre. Hạ Đồng Quan 潼关, phá Tây An 西安, trực chỉ Bắc Kinh 北京. Tháng 2 năm Sùng Trinh thứ 17, quân khởi nghĩa sau khi công phá Thái Nguyên 太原, chia quân làm 2 lộ. Lí Tự Thành thống lĩnh quân chủ lực đi qua Đại Đồng 大同, Tuyên Phủ 宣府, Cư Dung quan 居庸关, ngày 12 tháng 3 đến Xương Bình 昌平ngoại ô kinh sư. 5 ngày sau, tấn công 9 cửa kinh sư (3). Hoàng Đế Sùng Trinh không còn đường chạy, cuối cùng vào ngày 19 tháng 3 năm thứ 17 khi thành bị vây hãm, Sùng Trinh đã tự tận tại Môi sơn 煤山 phía bắc hoàng cung, tại vị chỉ 18 năm hưởng niên 35 tuổi. Đại Minh trải qua 16 chúa, tổng cộng 277 năm đến đây thì diệt vong.
              Ngày 17 tháng 3 năm Sùng Trinh thứ 17 (năm 1644), quân khởi nghĩa tiến đến dưới thành, tình thế kinh sư vô cùng nguy hiểm. Ngày 18, quân khởi nghĩa công phá ngoại thành. Hoàng đế Sùng Trinh biết đại thế đã tận, sau khi cáo biệt hoàng hậu, tần phi, đã lệnh bức Chu hoàng hậu 周皇后 tự sát, tại cung Ninh Thọ 宁寿 chém trưởng nữ công chúa An Lạc安乐, giết chết ấu nữ công chúa Chiêu Nhân 昭仁. Trong đêm, Sùng Trinh dẫn thái giám xông ra cung môn, bị thần liêu ngăn lại, quay về lại cung. Sáng sớm ngày 19, hoàng thành bị công phá. Sùng Trinh không có sự lựa chọn nào khác, đành leo lên Môi sơn 煤山, tức Vạn Thọ sơn 万寿山, treo cổ tự tận tại cây hoè bên cạnh đình Thọ Hoàng 寿皇.
              Trước khi chết, Sùng Trinh đã viết lên vạt áo: nhân vì mất giang sơn, không còn mặt mũi nào gặp tổ tông dưới suối vàng, không dám chết nơi chính tẩm. Người chết theo là thái giám Vương Thừa Ân 王承恩. Môi sơn 煤山tại phía bắc cung thành của Tử Cấm thành, nay là Cảnh sơn 景山. Nơi Sùng Trinh tự tận đến nay vẫn được bảo tồn, chỉ có điều là cây hoè đã chết.

    Chú của người dịch
    1- Năm thứ 9 tức năm Sùng Trinh thứ 9 triều Minh (năm 1636), năm này Hoàng Thái Cực 皇太极xưng đế, đổi quốc hiệu là là Đại Thanh 大清, sử xưng là “Thanh triều”.
    2- Tám Tổng binh gồm: Vương Phác 王朴, Đường Thông 唐通, Tào Biến Giao 曹变蛟, Ngô Tam Quế 吴三桂, Bạch Quảng Ân 白广恩, Mã Khoa 马科, Vương Đình Thần 王廷臣, Dương Quốc Trụ 杨国柱.
    3- Chín cửa kinh sư tức kinh sư cửu môn 京师九门gồm:
              Triều Dương môn 朝阳门, Sùng Văn môn 崇文门, Chính Dương môn 正阳门, Tuyên Vũ môn 宣武门, Phụ Thành môn 阜成门, Đức Thắng môn 德胜门, An Định môn 安定门, Đông Trực môn 东直门, Tây Trực môn 西直门.

                                                                    Huỳnh Chương Hưng
                                                                Quy Nhơn 22/01/2019

    Nguồn
    HOÀNG TRIỀU ĐIỂN CỐ KỈ VĂN
    皇朝典故纪闻
    Tác giả: Hướng Tư 向斯
    Bắc Kinh: Trung Quốc văn sử xuất bản xã, 2002

    Thứ Hai, 21 tháng 1, 2019

    MINH THẾ TÔNG VÌ SAO TỰ ĐẶT HIỆU LÀ “TỬ CỰC TIÊN ÔNG”

              Minh Thế Tông Chu Hậu Thông 明世宗朱厚熜sùng tín Đạo giáo, tự xưng là “Tử Cực Tiên Ông” 紫极仙翁, thường liên hệ đại sự triều đình với tín ngưỡng Đạo giáo của ông, biến cung đình thành đạo trường của mình.
              Thuở nhỏ, Chu Hậu Thông theo cha mẹ sống tại vùng Hồ Bắc 湖北, mà Hồ Bắc đương thời rất thịnh hành Đạo giáo, Minh Thế Tông từ nhỏ đã tiêm nhiễm, cảm thấy rất hứng thú với Đạo giáo, lại thêm thiên sinh thể chất của ông yếu đuối nhiều bệnh, nên đem hi vọng trừ được bệnh tật kéo dài tuổi thọ gởi gắm vào Đạo giáo. Nhân vì Đạo giáo cho rằng: lập đàn cúng tế có thể trừ tai tiêu ách. Thế Tông bắt đầu từ năm Gia Tĩnh 嘉靖thứ 2 (năm 1523), hàng ngày lập đàn cúng tế trong cung. Sau năm Gia Tĩnh thứ 15 (năm 1523) cho xây bí điện trai cung, công trường đạt đến mấy chục nơi, số thợ lên đến mấy vạn người, hàng năm phí dụng cả mấy trăm vạn lượng bạc, chỉ riêng cơm chay đã tiêu tốn 1 vạn 8 lượng bạc. Sau khi trai cung hoàn thành,, biển đối ở môn đàn phải dùng vàng để viết, mỗi lần lập trai đàn cúng tế tốn đến mấy ngàn lượng vàng. Quan viên chấp bút chiếm lấy vàng ròng làm của riêng, không ít người nhân đó là phất lên giàu có. Đàn miếu tu sửa xong, hàng năm cần đến hơn 30 vạn cân bạch lạp thơm. Loại trân quý đương thời gọi là “long diên hương” 龙涎香, trong số quan viên có người nhân tiến dâng long diên hương mà được gia quan tấn tước, cũng có người do vì tiến dâng không kịp thời mà bị cách chức. Trong triều ngoài nội đều biết long diên hương là vật phẩm mà Minh Thế Tông cần nhất. năm Gia Tĩnh thứ 34 (năm 1555), có một người ở Ma Thành 麻城Hồ Quảng 湖广 (1) tên Ngô Thượng Nghiêu 吴尚尧, mạo sung chữ của Đào Trọng Văn 陶仲文 (2), mệnh lệnh cho huyện Định Biên 定边 ở Vân Nam 云南 tiến dâng long diên hương lên triều đình. Viên huyện lệnh nơi đó sai người đi tìm khắp nơi, từ trong khe hở của thạch nhũ lấy ra được 3 khối vật, nói đó là long diên hương, đưa cho Ngô Thượng Nghiêu. Ngô Thượng Nghiêu lại đem bán cho một số  thương nhân, bảo họ dâng lên Minh Thế Tông để kiếm chác tiền lời. Để lập đàn cúng tế, Minh Thế Tông đã khiến cho dân thì cùng tài thì tận, đương thời trong dân gian lưu truyền câu ngạn ngữ:
    Gia Tĩnh Gia Tĩnh tựu thị gia cùng tịnh quang tịnh. (3)
    嘉靖嘉靖就是家穷净光净
    (Gia Tĩnh Gia Tĩnh là nhà nghèo đến nỗi không còn gì)
              Năm Gia Tĩnh thứ 18 (năm 1539), một ngày nọ Thế Tông tuần thị Hồ Bắc 湖北, trên đường đi ngang qua Vệ Huy 卫辉 Nam 河南, đột nhiên một trận cuồng phong thổi đến, cờ trước xe quay vòng, ngựa hí vang. Thế Tông lập tức triệu kiến Đào Trọng Văn, hỏi trận gió đó có điềm gì. Đào Trọng Văn đáp rằng:
              - Thần đã tính, tối nay có thể có hoả tai.
              Đến khi đêm tối, phía sau hành cung quả nhiên phát sinh hoả tai, ngọn lửa cháy rừng rực, nhanh chóng đã thiêu rụi hành cung, cung nhân tử thương quá nửa. Sau sự kiện đó, Thế Tông vô cùng tin tưởng Đào Trọng Văn, ban cho ông ta hiệu “Thần Tiêu Bảo Quốc Tuyên Giáo Cao Sĩ” 神霄保国宣教高士. Tình hình thực tế là, để Thế Tông tin tưởng những lời dự báo của mình, Đào Trọng Văn đã lệnh cho thủ hạ phóng hoả thiêu đốt hành cung. Chính là Đào Trọng Văn đã dùng thủ đoạn lừa bịp làm tổn hại cho người mà nhằm có lợi cho mình, để giành lấy sự tín nhiệm của Thế Tông.
              Lần đi Hà Nam đó, khiến Thế Tông càng tăng lòng tin đối với Đạo giáo, nảy sinh ra tư tưởng thoái triều ẩn cư. Năm Gia Tĩnh thứ 21 (năm 1542), hậu cung phát sinh “Nhâm Dần cung biến” 壬寅宫变, nhân lúc Thế Tông ngủ say cung nữ đã dùng dây siết cổ Thế Tông. Thế Tông đại nạn không chết cho rằng là do quỷ thần bảo hộ, nên càng dốc lòng tin Đạo giáo, từ đó dọn đến cung cũ ở Tây uyển 西苑, đem đại sự triều chính giao cho Đại học sĩ Nghiêm Tung 严嵩 nắm giữ.
              Ngoài tu luyện đạo pháp ra, Thế Tông còn thường tự phong đạo hiệu. Năm Gia Tĩnh thứ 35 (năm 1556), trước sau ông phong cho mình là:
              Linh Tiêu Thượng Thanh Thống Lôi Nguyên Dương Diệu Nhất Phi Thiên Chân Quân
              灵霄上清统雷元阳妙一飞天真君
              Cửu Thiên Hoành Giáo Phổ Tế Sinh Linh Chưởng Âm Dương Công Quá Đại Đạo Ân Nhân Tử Cực Tiên Ông Nhất Dương Chân Nhân Nguyên Hư Huyền Ứng Khai Hoá Phục Ma Trung Hiếu Đế Quân      
              九天宏教普济生灵掌阴阳功过大道恩仁紫极仙翁一阳真人元虚玄应开化伏魔忠孝帝君
              Thái Thượng Đại La Thiên Tiên Tử Cực Trường Sinh Thánh Trí Chiêu Linh Thống Tam Nguyên Chứng Ứng Vương Hư Tổng Chưởng Ngũ Lôi Đại Chân Nhân Huyền Đô Cảnh Vạn Thọ Đế Quân.
              太上大罗天仙紫极长生圣智昭灵统三元证应王虚总掌五雷大真人玄都境万寿帝君
              Dân gian bách tính gọi ông là “Tử Cực Tiên Ông”
              Vị hoàng đế đạo sĩ xưng là “Tử Cực Tiên Ông” này, trường kì uống tiên đan, huyễn tưởng có một ngày sẽ thành tiên thành thần, không ngờ tiên đan chưa làm cho ông ta trường sinh, mà ngược lại đã mất mạng chốn suối vàng. Mùa đông năm Gia Tĩnh thứ 45 (năm 1566), vị “Tiên Ông” khất cầu trường sinh này đã nhắm đôi mắt mà không chịu nhắm lại, đi đối thoại với thiên thần.

    Chú của người dịch
    1- Hồ Quảng 湖广: địa danh, thời Minh Thanh và sau này chỉ lưỡng Hồ tức Hồ Nam 湖南 và Hồ Bắc 湖北.
    2- Đào Trọng Văn 陶仲文 (1475 – 1560): vốn tên Điển Chân 典真, người Hoàng Cương 黄冈 Hồ Bắc 湖北 thời Minh, đạo sĩ nổi tiếng, rất được Minh Thế Tông tin dùng.
    3- Liên quan đến câu này còn có câu của Hải Thuỵ 海瑞 (1514 – 1587) mắng hoàng đế. Hải Thuỵ được coi là nhân vật tương đối nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc. Ông tính tình cương trực, không xu nịnh, lại còn dám mắng cả hoàng đế:
    Gia Tĩnh Gia Tĩnh, gia gia can tịnh.
    嘉靖嘉靖, 家家干净
    (Gia Tĩnh Gia Tĩnh là nhà nghèo, nghèo đến mức trong nhà sạch trơn.)

                                                           Huỳnh Chương Hưng
                                                           Quy Nhơn 21/01/2019

    Nguyên tác Trung văn
    MINH THẾ TÔNG VỊ HÀ TỰ HIỆU “TỬ CỰC TIÊN ÔNG”
    明世宗为何自号紫极仙翁
    Trong quyển
    TRUNG QUỐC VỊ GIẢI CHI MÊ
    中国未解之谜
    Tác giả: Hải Tử 海子
    Trung Quốc Hoa Kiều xuất bản xã, 2013 

    Dịch thuật: Minh Thế Tông vì sao tự đặt hiệu là "Tử Cực Tiên Ông"

    Đăng lúc  21:59  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    MINH THẾ TÔNG VÌ SAO TỰ ĐẶT HIỆU LÀ “TỬ CỰC TIÊN ÔNG”

              Minh Thế Tông Chu Hậu Thông 明世宗朱厚熜sùng tín Đạo giáo, tự xưng là “Tử Cực Tiên Ông” 紫极仙翁, thường liên hệ đại sự triều đình với tín ngưỡng Đạo giáo của ông, biến cung đình thành đạo trường của mình.
              Thuở nhỏ, Chu Hậu Thông theo cha mẹ sống tại vùng Hồ Bắc 湖北, mà Hồ Bắc đương thời rất thịnh hành Đạo giáo, Minh Thế Tông từ nhỏ đã tiêm nhiễm, cảm thấy rất hứng thú với Đạo giáo, lại thêm thiên sinh thể chất của ông yếu đuối nhiều bệnh, nên đem hi vọng trừ được bệnh tật kéo dài tuổi thọ gởi gắm vào Đạo giáo. Nhân vì Đạo giáo cho rằng: lập đàn cúng tế có thể trừ tai tiêu ách. Thế Tông bắt đầu từ năm Gia Tĩnh 嘉靖thứ 2 (năm 1523), hàng ngày lập đàn cúng tế trong cung. Sau năm Gia Tĩnh thứ 15 (năm 1523) cho xây bí điện trai cung, công trường đạt đến mấy chục nơi, số thợ lên đến mấy vạn người, hàng năm phí dụng cả mấy trăm vạn lượng bạc, chỉ riêng cơm chay đã tiêu tốn 1 vạn 8 lượng bạc. Sau khi trai cung hoàn thành,, biển đối ở môn đàn phải dùng vàng để viết, mỗi lần lập trai đàn cúng tế tốn đến mấy ngàn lượng vàng. Quan viên chấp bút chiếm lấy vàng ròng làm của riêng, không ít người nhân đó là phất lên giàu có. Đàn miếu tu sửa xong, hàng năm cần đến hơn 30 vạn cân bạch lạp thơm. Loại trân quý đương thời gọi là “long diên hương” 龙涎香, trong số quan viên có người nhân tiến dâng long diên hương mà được gia quan tấn tước, cũng có người do vì tiến dâng không kịp thời mà bị cách chức. Trong triều ngoài nội đều biết long diên hương là vật phẩm mà Minh Thế Tông cần nhất. năm Gia Tĩnh thứ 34 (năm 1555), có một người ở Ma Thành 麻城Hồ Quảng 湖广 (1) tên Ngô Thượng Nghiêu 吴尚尧, mạo sung chữ của Đào Trọng Văn 陶仲文 (2), mệnh lệnh cho huyện Định Biên 定边 ở Vân Nam 云南 tiến dâng long diên hương lên triều đình. Viên huyện lệnh nơi đó sai người đi tìm khắp nơi, từ trong khe hở của thạch nhũ lấy ra được 3 khối vật, nói đó là long diên hương, đưa cho Ngô Thượng Nghiêu. Ngô Thượng Nghiêu lại đem bán cho một số  thương nhân, bảo họ dâng lên Minh Thế Tông để kiếm chác tiền lời. Để lập đàn cúng tế, Minh Thế Tông đã khiến cho dân thì cùng tài thì tận, đương thời trong dân gian lưu truyền câu ngạn ngữ:
    Gia Tĩnh Gia Tĩnh tựu thị gia cùng tịnh quang tịnh. (3)
    嘉靖嘉靖就是家穷净光净
    (Gia Tĩnh Gia Tĩnh là nhà nghèo đến nỗi không còn gì)
              Năm Gia Tĩnh thứ 18 (năm 1539), một ngày nọ Thế Tông tuần thị Hồ Bắc 湖北, trên đường đi ngang qua Vệ Huy 卫辉 Nam 河南, đột nhiên một trận cuồng phong thổi đến, cờ trước xe quay vòng, ngựa hí vang. Thế Tông lập tức triệu kiến Đào Trọng Văn, hỏi trận gió đó có điềm gì. Đào Trọng Văn đáp rằng:
              - Thần đã tính, tối nay có thể có hoả tai.
              Đến khi đêm tối, phía sau hành cung quả nhiên phát sinh hoả tai, ngọn lửa cháy rừng rực, nhanh chóng đã thiêu rụi hành cung, cung nhân tử thương quá nửa. Sau sự kiện đó, Thế Tông vô cùng tin tưởng Đào Trọng Văn, ban cho ông ta hiệu “Thần Tiêu Bảo Quốc Tuyên Giáo Cao Sĩ” 神霄保国宣教高士. Tình hình thực tế là, để Thế Tông tin tưởng những lời dự báo của mình, Đào Trọng Văn đã lệnh cho thủ hạ phóng hoả thiêu đốt hành cung. Chính là Đào Trọng Văn đã dùng thủ đoạn lừa bịp làm tổn hại cho người mà nhằm có lợi cho mình, để giành lấy sự tín nhiệm của Thế Tông.
              Lần đi Hà Nam đó, khiến Thế Tông càng tăng lòng tin đối với Đạo giáo, nảy sinh ra tư tưởng thoái triều ẩn cư. Năm Gia Tĩnh thứ 21 (năm 1542), hậu cung phát sinh “Nhâm Dần cung biến” 壬寅宫变, nhân lúc Thế Tông ngủ say cung nữ đã dùng dây siết cổ Thế Tông. Thế Tông đại nạn không chết cho rằng là do quỷ thần bảo hộ, nên càng dốc lòng tin Đạo giáo, từ đó dọn đến cung cũ ở Tây uyển 西苑, đem đại sự triều chính giao cho Đại học sĩ Nghiêm Tung 严嵩 nắm giữ.
              Ngoài tu luyện đạo pháp ra, Thế Tông còn thường tự phong đạo hiệu. Năm Gia Tĩnh thứ 35 (năm 1556), trước sau ông phong cho mình là:
              Linh Tiêu Thượng Thanh Thống Lôi Nguyên Dương Diệu Nhất Phi Thiên Chân Quân
              灵霄上清统雷元阳妙一飞天真君
              Cửu Thiên Hoành Giáo Phổ Tế Sinh Linh Chưởng Âm Dương Công Quá Đại Đạo Ân Nhân Tử Cực Tiên Ông Nhất Dương Chân Nhân Nguyên Hư Huyền Ứng Khai Hoá Phục Ma Trung Hiếu Đế Quân      
              九天宏教普济生灵掌阴阳功过大道恩仁紫极仙翁一阳真人元虚玄应开化伏魔忠孝帝君
              Thái Thượng Đại La Thiên Tiên Tử Cực Trường Sinh Thánh Trí Chiêu Linh Thống Tam Nguyên Chứng Ứng Vương Hư Tổng Chưởng Ngũ Lôi Đại Chân Nhân Huyền Đô Cảnh Vạn Thọ Đế Quân.
              太上大罗天仙紫极长生圣智昭灵统三元证应王虚总掌五雷大真人玄都境万寿帝君
              Dân gian bách tính gọi ông là “Tử Cực Tiên Ông”
              Vị hoàng đế đạo sĩ xưng là “Tử Cực Tiên Ông” này, trường kì uống tiên đan, huyễn tưởng có một ngày sẽ thành tiên thành thần, không ngờ tiên đan chưa làm cho ông ta trường sinh, mà ngược lại đã mất mạng chốn suối vàng. Mùa đông năm Gia Tĩnh thứ 45 (năm 1566), vị “Tiên Ông” khất cầu trường sinh này đã nhắm đôi mắt mà không chịu nhắm lại, đi đối thoại với thiên thần.

    Chú của người dịch
    1- Hồ Quảng 湖广: địa danh, thời Minh Thanh và sau này chỉ lưỡng Hồ tức Hồ Nam 湖南 và Hồ Bắc 湖北.
    2- Đào Trọng Văn 陶仲文 (1475 – 1560): vốn tên Điển Chân 典真, người Hoàng Cương 黄冈 Hồ Bắc 湖北 thời Minh, đạo sĩ nổi tiếng, rất được Minh Thế Tông tin dùng.
    3- Liên quan đến câu này còn có câu của Hải Thuỵ 海瑞 (1514 – 1587) mắng hoàng đế. Hải Thuỵ được coi là nhân vật tương đối nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc. Ông tính tình cương trực, không xu nịnh, lại còn dám mắng cả hoàng đế:
    Gia Tĩnh Gia Tĩnh, gia gia can tịnh.
    嘉靖嘉靖, 家家干净
    (Gia Tĩnh Gia Tĩnh là nhà nghèo, nghèo đến mức trong nhà sạch trơn.)

                                                           Huỳnh Chương Hưng
                                                           Quy Nhơn 21/01/2019

    Nguyên tác Trung văn
    MINH THẾ TÔNG VỊ HÀ TỰ HIỆU “TỬ CỰC TIÊN ÔNG”
    明世宗为何自号紫极仙翁
    Trong quyển
    TRUNG QUỐC VỊ GIẢI CHI MÊ
    中国未解之谜
    Tác giả: Hải Tử 海子
    Trung Quốc Hoa Kiều xuất bản xã, 2013 

    Chủ Nhật, 20 tháng 1, 2019

    LƯU BANG CHỌN NHÂN TÀI

              Nguỵ Vô Tri 魏无知là người cuối đời Tần, trong chiến tranh Hán Sở đã theo Hán Vương Lưu Bang 刘邦. Sau khi Lưu Bang kiến lập chính quyền, ông được bái làm Thừa tướng triều Hán. Sau đó, Nguỵ Vô Tri tiến cử Trần Bình 陈平cho Lưu Bang, giúp Lưu Bang cùng trị lí thiên hạ. Nhân vì có công tiến cử nhân tài nên Nguỵ Vô Tri rất được Lưu Bang ngưỡng mộ.

              Đầu triều Hán, đại thần Nguỵ Vô Tri 魏无知tiến cử hàng thần Trần Bình 陈平cho Lưu Bang 刘邦, nhân vì rất tin tưởng Nguỵ Vô Tri nên Lưu Bang lập
    Tức phong Trần Bình làm Hộ quân trung uý 护军中尉. Nhưng chẳng bao lâu, có người ngầm nói với Lưu Bang rằng:
              - Trần Bình chỉ được cái quyền cước bề ngoài, thực tế không có tài năng thực học. Không chỉ thế, ông ta còn là loại tiểu nhân phẩm hạnh thấp hèn. Ông ta đến với nước Nguỵ bị nước Nguỵ không dung, lại chạy đến nước Sở, nhưng nước Sở không hợp với ý, không còn cách nào khác, ông ta mới chạy đến chỗ ngài. Vừa mới làm quan, ông ta đã nhận hối lộ của người khác. Trọng dụng loại người tiểu nhân như thế, sợ hậu hoạn vô cùng.
              Lưu Bang nghe qua vô cùng giận, liền trách hỏi Nguỵ Vô Tri. Nguỵ Vô Tri đáp rằng:
              - Điều mà thần tiến cử đó là tài năng của Trần Bình, chứ không phải phẩm hạnh của ông ta, hai việc đó căn bản không phải là một. Người có phẩm đức tốt nhưng không có tài năng, làm sao có thể giúp ngài trị lí thiên hạ? Nay đang là lúc dùng người, nếu cứ đợi người vừa có tài năng, có phẩm đức mà không ai có thể xoi mói được, thì không biết tháng nào năm nào mới chọn được. Xin hoàng thượng suy nghĩ kĩ những lời thần nói, xem thử có lí hay không.
              Lưu Bang là vị hoàng đế giỏi dùng người, ông ta cho triệu Trần Bình đến. Nghe những lời chất vấn của Lưu Bang, Trần Bình tự tin đáp rằng:
              - Thần li khai Nguỵ Vương là nhân vì ông ta cứ khăng khăng làm theo ý riêng của mình; thần li khai Sở Vương là nhân vì Sở Vương quá đa nghi, chỉ biết dùng người thân của mình; thần đến với hoàng thượng, là nhân vì nghe nói ngài là một vị minh quân chỉ biết dùng người hiền, thần ở đây có thể thi triển tài năng. Quả thực thần có nhận hối lộ của hạ thuộc, nhưng ngài có thể sai người đến nhà thần tra xét, số vàng mà thần nhận, một lượng cũng không đụng đến, toàn bộ dùng quân ấn niêm phong lại, bên trên giấy phong viết mấy chữ ‘đặc thù quân hướng’ 特殊军饷 (lương bỗng đặc biệt dành cho quân đội). Thần nghĩ rắng số vàng này dùng để ban thưởng lúc chiến tranh, bởi có trọng thưởng tất có dũng phu.
              Lưu Bang nghe qua cả mừng, ngầm cho mình được may mắn, bản thân không tin những lời phiến diện làm mất lương thần. Lưu Bang thăng chức quan cho Trần Bình, còn nhậm mệnh ông ta chuyên giám đốc các tướng. Từ đó, Trần Bình một lòng một dạ phò tá Lưu Bang, giúp Lưu Bang cai trị thiên hạ. Ông làm quan đến chức Tể tướng, trở thành một mưu thần nổi tiếng của triều Tây Hán.

                                                             Huỳnh Chương Hưng
                                                            Quy Nhơn 20/01/2019

    Nguyên tác Trung văn
    LƯU BANG TUYỂN TÀI
    刘邦选才
    Trong quyển
    TRUNG QUỐC LỊCH SỬ CỐ SỰ (tập 2)
    中国历史故事
    Biên soạn: Sơ Dương Tả Tả 初阳姐姐
    Trường Xuân: Cát Lâm văn sử xuất bản xã, 2015

    Dịch thuật: Lưu Bang chọn nhân tài

    Đăng lúc  22:55  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    LƯU BANG CHỌN NHÂN TÀI

              Nguỵ Vô Tri 魏无知là người cuối đời Tần, trong chiến tranh Hán Sở đã theo Hán Vương Lưu Bang 刘邦. Sau khi Lưu Bang kiến lập chính quyền, ông được bái làm Thừa tướng triều Hán. Sau đó, Nguỵ Vô Tri tiến cử Trần Bình 陈平cho Lưu Bang, giúp Lưu Bang cùng trị lí thiên hạ. Nhân vì có công tiến cử nhân tài nên Nguỵ Vô Tri rất được Lưu Bang ngưỡng mộ.

              Đầu triều Hán, đại thần Nguỵ Vô Tri 魏无知tiến cử hàng thần Trần Bình 陈平cho Lưu Bang 刘邦, nhân vì rất tin tưởng Nguỵ Vô Tri nên Lưu Bang lập
    Tức phong Trần Bình làm Hộ quân trung uý 护军中尉. Nhưng chẳng bao lâu, có người ngầm nói với Lưu Bang rằng:
              - Trần Bình chỉ được cái quyền cước bề ngoài, thực tế không có tài năng thực học. Không chỉ thế, ông ta còn là loại tiểu nhân phẩm hạnh thấp hèn. Ông ta đến với nước Nguỵ bị nước Nguỵ không dung, lại chạy đến nước Sở, nhưng nước Sở không hợp với ý, không còn cách nào khác, ông ta mới chạy đến chỗ ngài. Vừa mới làm quan, ông ta đã nhận hối lộ của người khác. Trọng dụng loại người tiểu nhân như thế, sợ hậu hoạn vô cùng.
              Lưu Bang nghe qua vô cùng giận, liền trách hỏi Nguỵ Vô Tri. Nguỵ Vô Tri đáp rằng:
              - Điều mà thần tiến cử đó là tài năng của Trần Bình, chứ không phải phẩm hạnh của ông ta, hai việc đó căn bản không phải là một. Người có phẩm đức tốt nhưng không có tài năng, làm sao có thể giúp ngài trị lí thiên hạ? Nay đang là lúc dùng người, nếu cứ đợi người vừa có tài năng, có phẩm đức mà không ai có thể xoi mói được, thì không biết tháng nào năm nào mới chọn được. Xin hoàng thượng suy nghĩ kĩ những lời thần nói, xem thử có lí hay không.
              Lưu Bang là vị hoàng đế giỏi dùng người, ông ta cho triệu Trần Bình đến. Nghe những lời chất vấn của Lưu Bang, Trần Bình tự tin đáp rằng:
              - Thần li khai Nguỵ Vương là nhân vì ông ta cứ khăng khăng làm theo ý riêng của mình; thần li khai Sở Vương là nhân vì Sở Vương quá đa nghi, chỉ biết dùng người thân của mình; thần đến với hoàng thượng, là nhân vì nghe nói ngài là một vị minh quân chỉ biết dùng người hiền, thần ở đây có thể thi triển tài năng. Quả thực thần có nhận hối lộ của hạ thuộc, nhưng ngài có thể sai người đến nhà thần tra xét, số vàng mà thần nhận, một lượng cũng không đụng đến, toàn bộ dùng quân ấn niêm phong lại, bên trên giấy phong viết mấy chữ ‘đặc thù quân hướng’ 特殊军饷 (lương bỗng đặc biệt dành cho quân đội). Thần nghĩ rắng số vàng này dùng để ban thưởng lúc chiến tranh, bởi có trọng thưởng tất có dũng phu.
              Lưu Bang nghe qua cả mừng, ngầm cho mình được may mắn, bản thân không tin những lời phiến diện làm mất lương thần. Lưu Bang thăng chức quan cho Trần Bình, còn nhậm mệnh ông ta chuyên giám đốc các tướng. Từ đó, Trần Bình một lòng một dạ phò tá Lưu Bang, giúp Lưu Bang cai trị thiên hạ. Ông làm quan đến chức Tể tướng, trở thành một mưu thần nổi tiếng của triều Tây Hán.

                                                             Huỳnh Chương Hưng
                                                            Quy Nhơn 20/01/2019

    Nguyên tác Trung văn
    LƯU BANG TUYỂN TÀI
    刘邦选才
    Trong quyển
    TRUNG QUỐC LỊCH SỬ CỐ SỰ (tập 2)
    中国历史故事
    Biên soạn: Sơ Dương Tả Tả 初阳姐姐
    Trường Xuân: Cát Lâm văn sử xuất bản xã, 2015

    Thứ Bảy, 19 tháng 1, 2019

    TRIỀU TẦN CHUYÊN CHẾ TẬP QUYỀN
    THỰC HIỆN RỘNG RÃI CHẾ ĐỘ QUẬN HUYỆN
    (Chế độ chính trị triều Tần)
    (kì 3)

              Cơ cấu hành chính địa phương triều Tần chia ra 2 cấp là quận và huyện. Về các việc như tuyển chọn, bổ nhiệm, khảo khoá, ban tước, trật bổng ... của quan lại, triều Tần cũng có chế độ tương ứng.
              Về phương diện tuyển chọn bổ nhiệm quan lại, triều Tần theo chế độ biến pháp của Thương Ưởng 商鞅 từ trước, phế bỏ chế độ thế khanh, thế lộc, thực hiện quan liêu chế phong kiến “dĩ công thụ quan” 以功授官 (theo công trạng mà trao chức quan). Ở chế độ này, căn cứ vào quân công mà trao chức quan là con đường chủ yếu để tuyển chọn và bổ nhiệm quan lại. Một số người trong cuộc chiến tranh thống nhất có quân công, hoặc có cống hiến đặc thù, Tần Thuỷ Hoàng sẽ trao cho các chức quan khác nhau. Đối với việc tin dùng võ quan cao cấp, có người được tôn sủng gấp bội, thậm chí trở thành chức quan mấy đời nối nhau. Tướng Tần Mông Điềm 蒙恬 cùng tổ phụ, Vương Tiễn 王翦 cùng con cháu của ông ta đều là tướng lĩnh cao cấp 3 đời nối tiếp nhau. Tư Mã Thiên 司马迁xưng là “Vương thị, Mông thị công vi đa, danh thi vu hậu thế” 王氏, 蒙氏功为多, 名施于后世 (Họ Vương, họ Mông công nhiều, danh tiếng truyền hậu thế) (Sử kí – Bạch Khởi Vương Tiễn liệt truyện 史记 - 白起王翦列传). Quân công hiển hách không chỉ là bậc thang thăng tiến, mà còn là điều kiện cho con cháu nối tiếp được phong là võ quan. Nhìn từ “Mông Điềm nhân gia thế đắc vi Tần tướng” 蒙恬因家世得为秦将  (Mông Điềm nhân gia thế mà được làm tướng triều Tần) (Sử kí – Mông Điềm liệt truyện史记 - 蒙恬列传), hiện tượng võ quan triều Tần nối đời giữ chức, hiển nhiên thuộc loại được ban tặng nhờ “ân ấm” 恩荫.
              Nhưng, theo sự thống nhất của đất nước, chiến tranh giảm dần, biện pháp lấy quân công để tuyển chọn đã không thể thích ứng hoàn toàn với yêu cầu trong tình thế mới. Nhất là khi triều Tần tăng cường thực hành rộng rãi trung ương tập quyền, chính sự toàn quốc ngày càng tăng nhiều, cơ cấu các cấp của quốc gia cần các loại nhân tài, nhân đó các con đường khác để tuyển chọn quan lại cũng đồng thời được tiến hành. Như mời nhân sĩ ra giúp, hoặc từ trong đám lại viên cấp thấp mà trưng cử nhân tài, chính là một trong số những con đường đó. Loại trước như thời kì Tần Thuỷ Hoàng, Thúc Tôn Thông 叔孙通  “dĩ văn học trưng” 以文学征  (nhờ tài văn học nên được mời) (Sử kí – Lưu Kính Thúc Tôn Thông liệt truyện 史记 - 刘敬叔孙通列传), đãi chiếu trong hàng ngũ Bác sĩ; loại sau như Tiêu Hà  萧何với thân phận tốt lại của quận, khi thi được đỗ đầu, Giám ngự sử tấu lên triều đình trưng dụng Tiêu Hà. Tuyển quan mang tính chất trưng triệu này, kẻ sĩ được mời có đi hoặc không có thể tự lựa chọn, như Tiêu Hà không ứng theo lời triệu mời.
              Đối với việc tuyển chọn quan lại cấp thấp, triều Tần thực hiện biện pháp do địa phương tiến cử. Trong Sử kí – Hoài Âm Hầu liệt truyện 史记 - 淮阴侯列传 có ghi rằng: Hàn Tín 韩信 “thuỷ vi bố y thời, bần vô hạnh, bất đắc thôi trạch vi lại” 始为布衣时贫无行不得推择为吏 (lúc còn mặc áo vải, nghèo không giữ đức hạnh, không được chọn làm lại). Phương thức chọn quan này, không chỉ bị hạn chế về điều kiện tài sản, phẩm hạnh, tuổi tác ... mà còn bị người tiến cử yêu cầu kinh qua thi chức vụ, mới có thể chính thức nhậm dụng. Lưu Bang 刘邦lúc triều Tần, “cập tráng, thí vi lại” 及壮, 试为吏 (Sử kí – Cao Tổ bản kỉ 史记 - 高祖本纪), tức kinh qua thi chức vụ, sau đó được nhậm mệnh làn Đình trưởng Tứ Thuỷ 泗水.
              Ngoài ra, chế độ nhậm dụng tiến cử thịnh hành thời Tần, hoặc xưng là “bảo cử” 保举, đại khái thời kì đầu Tần thống nhất hãy còn thực hành. Đây là do quan lại tiến cử nhân tài, đồng thời đảm bảo luôn người đó, phủ quan tăng cường phương thức tuyển quan theo cách nhậm dụng. Như thời kì Tần Doanh Chính 秦嬴政, Lí Tư 李斯vào đất Tần, chính là do Lữ Bất Vi 吕不韦đứng ra bảo đảm nhậm chức Lang . Nhưng, nếu vi phạm chế độ bảo cử, hoặc không xứng đáng, thì người đứng ra bảo cử chịu trừng phạt. Ở Tần luật tạp sao – Trừ lại luật  秦律杂抄 - 除吏律trong Tần giản 秦简 tại Vân Mộng云梦 quy định, nếu bảo cử từng bị bãi chức, vĩnh viễn không được chọn dùng người làm lại, phạt 2 giáp. Trừ đệ tử luật 除弟子律 quy định, nếu bảo cử con em không xứng đáng, thì sẽ “nại vi hậu” 耐为候, tức xử “nại hình” 耐刑 cạo bỏ râu và tóc mai, phạt làm công việc quan sát tình hình quân địch.
              Triều Tần đối với việc khảo khoá quan lại địa phương, chế độ thực hành là “thướng kế” 上计chế. Tức mỗi năm vào lúc cuối năm, địa phương phái người đến kinh sư dâng kế bạ, báo cáo về tình hình cai trị của địa phương. Nội dung “thướng kế” rất rộng, như nông tang, hộ khẩu, phú thuế, tiền lương, trị an, hình ngục ... để trung ương hiểu rõ phong tục chính sự các vùng, khảo sát chính tích quan lại địa phương, đồng thời làm căn cứ để thăng chức thưởng phạt quan lại.
              Chế độ ban tước của triều Tần, nguyên vốn là chế độ ban tước của nước Tần. Sau khi thống nhất toàn quốc, cũng phát sinh một số thay đổi. Tần thực hiện rộng rãi chế độ ban tước, ý là nhằm vào việc tưởng thưởng quân công. Phàm người có được tước vị, có thể căn cứ đẳng cấp khác nhau mà hưởng thụ một số đặc quyền, như nhập sĩ làm quan, chuộc tội chuộc thân, có được đất đai nhà cửa, sai khiến thứ tử (1), phong ấp thực thuế v.v... Sau khi Doanh Chính tức vị, lấy quân công ban tước vẫn không có sự thay đổi. Như năm 238 trước công nguyên, khi Tần dẹp yên được loạn Lao Ải 嫪毐, đối với người giết địch lập công đều bái tước, hoạn quan tham chiến cũng bái tước một cấp. Nhưng sau khi toàn quốc được thống nhất, việc ban tước xuất hiện sự thay đổi rõ, tức những người tu sửa đường xá cùng những người lao dịch nơi biên giới cũng được ban cho tước.
              Quan trật của triều Tần tức đẳng cấp quan giai và bỗng lộc, thực hiện theo chế độ “trật thạch” 秩石. Đây chính là lấy số lượng của “thạch” biểu thị quan giai, dựa theo đẳng cấp quan giai khác nhau mà ban lộc. Như trước khi Tần thống nhất, do vì liên luỵ đến sự kiện của Lã Bất Vi, một số quan lại bị bị chuyển đi phòng vệ lăng, trong số đó có quan “600 thạch” “500 thạch”. Sau khi  toàn quôc thống nhất, đại khái vẫn theo chế độ này, nhưng sự sai biệt đẳng cấp quan lại, cùng với bổng lộc của quan lại có đẳng cấp khác nhau, đến nay vẫn chưa cách nào xác định rõ.
              Tóm lại, sau khi Tần thống nhất toàn quốc, đã kiến lập một chế độ chính trị hoàn chỉnh, mới mẻ, từ trung ương đến địa phương, khai sáng sự thống trị phong kiến theo chủ nghĩa chuyên chế trung ương tập quyền, đặt nền móng cho chế độ chính trị phong kiến 2000 năm của Trung Quốc.   (hết)

    Chú của người dịch
    1- Thứ tử 庶子: “thứ tử” ở đây chỉ những người không có tước vị, phục vụ cho người có tước vị, tương đương nông nô, nô bộc. Thời Chiến Quốc, nước Tần lệ thuộc vào “thứ tử”. Người có tước vị xin người không có tước vị làm “thứ tử” cho mình. Cấp đầu tiên có thể xin 1 người. Lúc không có việc quân, thứ tử mỗi tháng phục dịch cho đại phu của mình 6 ngày; khi có việc, căn cứ vào tình hình thực tế mà sai khiến thứ tử.
              (Theo http://baike.baudu.com/item...)

                                                                         Huỳnh Chương Hưng
                                                                         Quy Nhơn 19/01/2019

    Nguyên tác Trung văn
    CHUYÊN CHẾ TẬP QUYỀN, THÔI HÀNH QUẬN HUYỆN
    专制集权, 推行郡县
    Trong quyển
    TẦN HÁN SỬ THOẠI
    秦汉史话
    Tác giả: Phan Quốc Cơ 潘国基
    Bắc Kinh: Trung Quốc quốc tế quảng bá xuất bản xã, 2007

    Dịch thuật: Triều Tần chuyên chế tập quyền ... (kì 3 - hết)

    Đăng lúc  22:23  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    TRIỀU TẦN CHUYÊN CHẾ TẬP QUYỀN
    THỰC HIỆN RỘNG RÃI CHẾ ĐỘ QUẬN HUYỆN
    (Chế độ chính trị triều Tần)
    (kì 3)

              Cơ cấu hành chính địa phương triều Tần chia ra 2 cấp là quận và huyện. Về các việc như tuyển chọn, bổ nhiệm, khảo khoá, ban tước, trật bổng ... của quan lại, triều Tần cũng có chế độ tương ứng.
              Về phương diện tuyển chọn bổ nhiệm quan lại, triều Tần theo chế độ biến pháp của Thương Ưởng 商鞅 từ trước, phế bỏ chế độ thế khanh, thế lộc, thực hiện quan liêu chế phong kiến “dĩ công thụ quan” 以功授官 (theo công trạng mà trao chức quan). Ở chế độ này, căn cứ vào quân công mà trao chức quan là con đường chủ yếu để tuyển chọn và bổ nhiệm quan lại. Một số người trong cuộc chiến tranh thống nhất có quân công, hoặc có cống hiến đặc thù, Tần Thuỷ Hoàng sẽ trao cho các chức quan khác nhau. Đối với việc tin dùng võ quan cao cấp, có người được tôn sủng gấp bội, thậm chí trở thành chức quan mấy đời nối nhau. Tướng Tần Mông Điềm 蒙恬 cùng tổ phụ, Vương Tiễn 王翦 cùng con cháu của ông ta đều là tướng lĩnh cao cấp 3 đời nối tiếp nhau. Tư Mã Thiên 司马迁xưng là “Vương thị, Mông thị công vi đa, danh thi vu hậu thế” 王氏, 蒙氏功为多, 名施于后世 (Họ Vương, họ Mông công nhiều, danh tiếng truyền hậu thế) (Sử kí – Bạch Khởi Vương Tiễn liệt truyện 史记 - 白起王翦列传). Quân công hiển hách không chỉ là bậc thang thăng tiến, mà còn là điều kiện cho con cháu nối tiếp được phong là võ quan. Nhìn từ “Mông Điềm nhân gia thế đắc vi Tần tướng” 蒙恬因家世得为秦将  (Mông Điềm nhân gia thế mà được làm tướng triều Tần) (Sử kí – Mông Điềm liệt truyện史记 - 蒙恬列传), hiện tượng võ quan triều Tần nối đời giữ chức, hiển nhiên thuộc loại được ban tặng nhờ “ân ấm” 恩荫.
              Nhưng, theo sự thống nhất của đất nước, chiến tranh giảm dần, biện pháp lấy quân công để tuyển chọn đã không thể thích ứng hoàn toàn với yêu cầu trong tình thế mới. Nhất là khi triều Tần tăng cường thực hành rộng rãi trung ương tập quyền, chính sự toàn quốc ngày càng tăng nhiều, cơ cấu các cấp của quốc gia cần các loại nhân tài, nhân đó các con đường khác để tuyển chọn quan lại cũng đồng thời được tiến hành. Như mời nhân sĩ ra giúp, hoặc từ trong đám lại viên cấp thấp mà trưng cử nhân tài, chính là một trong số những con đường đó. Loại trước như thời kì Tần Thuỷ Hoàng, Thúc Tôn Thông 叔孙通  “dĩ văn học trưng” 以文学征  (nhờ tài văn học nên được mời) (Sử kí – Lưu Kính Thúc Tôn Thông liệt truyện 史记 - 刘敬叔孙通列传), đãi chiếu trong hàng ngũ Bác sĩ; loại sau như Tiêu Hà  萧何với thân phận tốt lại của quận, khi thi được đỗ đầu, Giám ngự sử tấu lên triều đình trưng dụng Tiêu Hà. Tuyển quan mang tính chất trưng triệu này, kẻ sĩ được mời có đi hoặc không có thể tự lựa chọn, như Tiêu Hà không ứng theo lời triệu mời.
              Đối với việc tuyển chọn quan lại cấp thấp, triều Tần thực hiện biện pháp do địa phương tiến cử. Trong Sử kí – Hoài Âm Hầu liệt truyện 史记 - 淮阴侯列传 có ghi rằng: Hàn Tín 韩信 “thuỷ vi bố y thời, bần vô hạnh, bất đắc thôi trạch vi lại” 始为布衣时贫无行不得推择为吏 (lúc còn mặc áo vải, nghèo không giữ đức hạnh, không được chọn làm lại). Phương thức chọn quan này, không chỉ bị hạn chế về điều kiện tài sản, phẩm hạnh, tuổi tác ... mà còn bị người tiến cử yêu cầu kinh qua thi chức vụ, mới có thể chính thức nhậm dụng. Lưu Bang 刘邦lúc triều Tần, “cập tráng, thí vi lại” 及壮, 试为吏 (Sử kí – Cao Tổ bản kỉ 史记 - 高祖本纪), tức kinh qua thi chức vụ, sau đó được nhậm mệnh làn Đình trưởng Tứ Thuỷ 泗水.
              Ngoài ra, chế độ nhậm dụng tiến cử thịnh hành thời Tần, hoặc xưng là “bảo cử” 保举, đại khái thời kì đầu Tần thống nhất hãy còn thực hành. Đây là do quan lại tiến cử nhân tài, đồng thời đảm bảo luôn người đó, phủ quan tăng cường phương thức tuyển quan theo cách nhậm dụng. Như thời kì Tần Doanh Chính 秦嬴政, Lí Tư 李斯vào đất Tần, chính là do Lữ Bất Vi 吕不韦đứng ra bảo đảm nhậm chức Lang . Nhưng, nếu vi phạm chế độ bảo cử, hoặc không xứng đáng, thì người đứng ra bảo cử chịu trừng phạt. Ở Tần luật tạp sao – Trừ lại luật  秦律杂抄 - 除吏律trong Tần giản 秦简 tại Vân Mộng云梦 quy định, nếu bảo cử từng bị bãi chức, vĩnh viễn không được chọn dùng người làm lại, phạt 2 giáp. Trừ đệ tử luật 除弟子律 quy định, nếu bảo cử con em không xứng đáng, thì sẽ “nại vi hậu” 耐为候, tức xử “nại hình” 耐刑 cạo bỏ râu và tóc mai, phạt làm công việc quan sát tình hình quân địch.
              Triều Tần đối với việc khảo khoá quan lại địa phương, chế độ thực hành là “thướng kế” 上计chế. Tức mỗi năm vào lúc cuối năm, địa phương phái người đến kinh sư dâng kế bạ, báo cáo về tình hình cai trị của địa phương. Nội dung “thướng kế” rất rộng, như nông tang, hộ khẩu, phú thuế, tiền lương, trị an, hình ngục ... để trung ương hiểu rõ phong tục chính sự các vùng, khảo sát chính tích quan lại địa phương, đồng thời làm căn cứ để thăng chức thưởng phạt quan lại.
              Chế độ ban tước của triều Tần, nguyên vốn là chế độ ban tước của nước Tần. Sau khi thống nhất toàn quốc, cũng phát sinh một số thay đổi. Tần thực hiện rộng rãi chế độ ban tước, ý là nhằm vào việc tưởng thưởng quân công. Phàm người có được tước vị, có thể căn cứ đẳng cấp khác nhau mà hưởng thụ một số đặc quyền, như nhập sĩ làm quan, chuộc tội chuộc thân, có được đất đai nhà cửa, sai khiến thứ tử (1), phong ấp thực thuế v.v... Sau khi Doanh Chính tức vị, lấy quân công ban tước vẫn không có sự thay đổi. Như năm 238 trước công nguyên, khi Tần dẹp yên được loạn Lao Ải 嫪毐, đối với người giết địch lập công đều bái tước, hoạn quan tham chiến cũng bái tước một cấp. Nhưng sau khi toàn quốc được thống nhất, việc ban tước xuất hiện sự thay đổi rõ, tức những người tu sửa đường xá cùng những người lao dịch nơi biên giới cũng được ban cho tước.
              Quan trật của triều Tần tức đẳng cấp quan giai và bỗng lộc, thực hiện theo chế độ “trật thạch” 秩石. Đây chính là lấy số lượng của “thạch” biểu thị quan giai, dựa theo đẳng cấp quan giai khác nhau mà ban lộc. Như trước khi Tần thống nhất, do vì liên luỵ đến sự kiện của Lã Bất Vi, một số quan lại bị bị chuyển đi phòng vệ lăng, trong số đó có quan “600 thạch” “500 thạch”. Sau khi  toàn quôc thống nhất, đại khái vẫn theo chế độ này, nhưng sự sai biệt đẳng cấp quan lại, cùng với bổng lộc của quan lại có đẳng cấp khác nhau, đến nay vẫn chưa cách nào xác định rõ.
              Tóm lại, sau khi Tần thống nhất toàn quốc, đã kiến lập một chế độ chính trị hoàn chỉnh, mới mẻ, từ trung ương đến địa phương, khai sáng sự thống trị phong kiến theo chủ nghĩa chuyên chế trung ương tập quyền, đặt nền móng cho chế độ chính trị phong kiến 2000 năm của Trung Quốc.   (hết)

    Chú của người dịch
    1- Thứ tử 庶子: “thứ tử” ở đây chỉ những người không có tước vị, phục vụ cho người có tước vị, tương đương nông nô, nô bộc. Thời Chiến Quốc, nước Tần lệ thuộc vào “thứ tử”. Người có tước vị xin người không có tước vị làm “thứ tử” cho mình. Cấp đầu tiên có thể xin 1 người. Lúc không có việc quân, thứ tử mỗi tháng phục dịch cho đại phu của mình 6 ngày; khi có việc, căn cứ vào tình hình thực tế mà sai khiến thứ tử.
              (Theo http://baike.baudu.com/item...)

                                                                         Huỳnh Chương Hưng
                                                                         Quy Nhơn 19/01/2019

    Nguyên tác Trung văn
    CHUYÊN CHẾ TẬP QUYỀN, THÔI HÀNH QUẬN HUYỆN
    专制集权, 推行郡县
    Trong quyển
    TẦN HÁN SỬ THOẠI
    秦汉史话
    Tác giả: Phan Quốc Cơ 潘国基
    Bắc Kinh: Trung Quốc quốc tế quảng bá xuất bản xã, 2007

    Thứ Sáu, 18 tháng 1, 2019

    DANH XƯNG “THƯƠNG NHÂN” CÓ PHẢI ĐẾN TỪ TRIỀU THƯƠNG

              Xã hội hiện đại là xã hội thương nghiệp, trên thị trường, chủ thể sản xuất đem thương phẩm ra để trao đổi. Người chuyên hoạt động thương nghiệp được gọi là “thương nhân” 商人, “thương nghiệp” 商业 cũng trở thành từ thay cho ngành nghề. Thế thì từ “thương nhân” xuất xứ từ đâu, có liên quan gì đến triều Thương không?
              Đáp án khẳng định là có. Đời Thương do bởi sự phát triển của nông nghiệp và thủ công nghiệp, sự mở rộng phân công xã hội, đã xuất hiện nhân viên chuyên lấy việc trao đổi thương nghiệp để mưu sinh, họ được gọi là “thương nhân” 商人. Câu “Thương ba dực dực, tứ phương chi cực” 商葩翼翼, 四方无极hình dung tình hình phát triển rực rỡ của thương nghiệp đương thời. Đời Thương xuất hiện nhiều thương nhân dắt xe bò và đi thuyền, buôn bán theo đường dài, đến hậu kì, nơi đô ấp xuất hiện tiểu thương chuyên theo việc giao dịch các loại, Khương Tử Nha 姜子牙từng lấy nghề mổ bò để mưu sinh, còn bán cơm tại Mạnh Tân 孟津. Kẻ thống trị đời Thương động viên khích lệ kinh thương, còn tu bổ đường xá để làm lợi cho thiên hạ trong việc lưu thông hàng hoá.
              Có thể thấy, nghề “thương nhân” xuất hiện ở hậu kì đời Thương. Sau khi Vũ Vương 武王diệt Trụ , triều Thương diệt vong, một số di dân triều Thương không có nguồn sống, bèn lấy việc kinh doanh mua bán để mưu sinh. Bộ phận những người này đi khắp hang cùng ngõ hẻm rao hàng. Người ta nghe tiếng rao của họ, biết “thương nhân” đến. Theo ghi chép, đầu thời Tây Chu, Chu Thành Vương 周成王còn nhỏ, hai người chú là Quản Thúc 管叔và Thái Thúc 蔡叔cùng với người con của Trụ Vương là Vũ Canh 武庚liên binh tạo phản. Sau khi Chu Công dẹp được loạn, đã xây Lạc Dương 洛阳thành một cứ điểm quân sự quan trọng, gọi là “Thành Chu” 成周.
    Thành Chu kí thành, thiên Ân ngoan dân.
    成周既成迁殷顽民
    (Thành Chu đã xây xong, dời ngoan dân (1) của triều Ân đến đó)
              Hoá ra những người già người trẻ, dân của triều Thương bị đưa đến Thành Chu để giám sát, những người này mất đi quyền lợi chính trị, lại không có đất đai, đành phải thông qua việc buôn bán vật phẩm để mưu sinh, đó là nguồn gốc của từ “thương nhân”.
              Từ trong mậu dịch thương nghiệp, người đời sau phát hiện ra lợi nhuận, nhiều người Chu cũng tham gia vào việc mua bán hàng hoá. Thế là, ý nghĩa của từ “Thương nhân” đã mở rộng, trở thành danh xưng chỉ một nghề, mãi cho đến ngày nay chúng ta vẫn còn dùng.

    Chú của người dịch
    1- Ngoan dân 顽民: ở đây chỉ những người trong số dân của triều Ân còn sót lại kiên quyết không phục sự thống trị của triều Chu.

                                                     Huỳnh Chương Hưng
                                                     Quy Nhơn 18/01/2019

    Nguyên tác Trung văn
    Trong quyển
    THÚ VỊ VĂN HOÁ TRI THỨC ĐẠI TOÀN
    趣味文化知识大全
    Thanh Thạch 青石 biên soạn
    Trung Quốc Hoa kiều xuất bản xã, 2013

    Dịch thuật: Danh xưng "thương nhân" có phải đến từ triều Thương

    Đăng lúc  22:09  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    DANH XƯNG “THƯƠNG NHÂN” CÓ PHẢI ĐẾN TỪ TRIỀU THƯƠNG

              Xã hội hiện đại là xã hội thương nghiệp, trên thị trường, chủ thể sản xuất đem thương phẩm ra để trao đổi. Người chuyên hoạt động thương nghiệp được gọi là “thương nhân” 商人, “thương nghiệp” 商业 cũng trở thành từ thay cho ngành nghề. Thế thì từ “thương nhân” xuất xứ từ đâu, có liên quan gì đến triều Thương không?
              Đáp án khẳng định là có. Đời Thương do bởi sự phát triển của nông nghiệp và thủ công nghiệp, sự mở rộng phân công xã hội, đã xuất hiện nhân viên chuyên lấy việc trao đổi thương nghiệp để mưu sinh, họ được gọi là “thương nhân” 商人. Câu “Thương ba dực dực, tứ phương chi cực” 商葩翼翼, 四方无极hình dung tình hình phát triển rực rỡ của thương nghiệp đương thời. Đời Thương xuất hiện nhiều thương nhân dắt xe bò và đi thuyền, buôn bán theo đường dài, đến hậu kì, nơi đô ấp xuất hiện tiểu thương chuyên theo việc giao dịch các loại, Khương Tử Nha 姜子牙từng lấy nghề mổ bò để mưu sinh, còn bán cơm tại Mạnh Tân 孟津. Kẻ thống trị đời Thương động viên khích lệ kinh thương, còn tu bổ đường xá để làm lợi cho thiên hạ trong việc lưu thông hàng hoá.
              Có thể thấy, nghề “thương nhân” xuất hiện ở hậu kì đời Thương. Sau khi Vũ Vương 武王diệt Trụ , triều Thương diệt vong, một số di dân triều Thương không có nguồn sống, bèn lấy việc kinh doanh mua bán để mưu sinh. Bộ phận những người này đi khắp hang cùng ngõ hẻm rao hàng. Người ta nghe tiếng rao của họ, biết “thương nhân” đến. Theo ghi chép, đầu thời Tây Chu, Chu Thành Vương 周成王còn nhỏ, hai người chú là Quản Thúc 管叔và Thái Thúc 蔡叔cùng với người con của Trụ Vương là Vũ Canh 武庚liên binh tạo phản. Sau khi Chu Công dẹp được loạn, đã xây Lạc Dương 洛阳thành một cứ điểm quân sự quan trọng, gọi là “Thành Chu” 成周.
    Thành Chu kí thành, thiên Ân ngoan dân.
    成周既成迁殷顽民
    (Thành Chu đã xây xong, dời ngoan dân (1) của triều Ân đến đó)
              Hoá ra những người già người trẻ, dân của triều Thương bị đưa đến Thành Chu để giám sát, những người này mất đi quyền lợi chính trị, lại không có đất đai, đành phải thông qua việc buôn bán vật phẩm để mưu sinh, đó là nguồn gốc của từ “thương nhân”.
              Từ trong mậu dịch thương nghiệp, người đời sau phát hiện ra lợi nhuận, nhiều người Chu cũng tham gia vào việc mua bán hàng hoá. Thế là, ý nghĩa của từ “Thương nhân” đã mở rộng, trở thành danh xưng chỉ một nghề, mãi cho đến ngày nay chúng ta vẫn còn dùng.

    Chú của người dịch
    1- Ngoan dân 顽民: ở đây chỉ những người trong số dân của triều Ân còn sót lại kiên quyết không phục sự thống trị của triều Chu.

                                                     Huỳnh Chương Hưng
                                                     Quy Nhơn 18/01/2019

    Nguyên tác Trung văn
    Trong quyển
    THÚ VỊ VĂN HOÁ TRI THỨC ĐẠI TOÀN
    趣味文化知识大全
    Thanh Thạch 青石 biên soạn
    Trung Quốc Hoa kiều xuất bản xã, 2013

    Thứ Năm, 17 tháng 1, 2019



    攻人之恶思其堪受
    攻人之恶, 毋太严, 要思其堪受; 教人之善, 毋过高, 当使其可从.
                                                                                (菜根谭 - 齐家育人)

    CÔNG NHÂN CHI ÁC, TƯ KÌ KHAM THỤ
              Công nhân chi ác, vô thái nghiêm, yếu tư kì kham thụ; Giáo nhân chi thiện, vô quá cao, đương sử kì khả tùng.
                                                                  (Thái căn đàm – Tề gia dục nhân)

    PHÊ BÌNH LỖI CỦA NGƯỜI,
    NÊN NGHĨ ĐẾN VIỆC HỌ CÓ THỂ TIẾP THỤ
              Khi phê bình lỗi của một người nào đó, không nên quá khắc nghiệt, cần phải nghĩ đến việc họ có thể tiếp thụ được hay không. Dạy cho một người nào đó làm điều thiện, cũng không nên yêu cầu quá cao, phải nghĩ đến việc họ có thể làm được hay không, để họ cảm thấy phù hợp với năng lực mà làm theo.

    Giải thích và phân tích
              Thời Xuân Thu, Sở Trang Vương 楚庄王đánh thắng trận trở về, mở tiệc thiết đãi quần thần. Quân thần chơi trò “sai quyền hành lệnh” 猜拳行令 (1), mời rượu cạn li, rất là náo nhiệt. Trong bữa tiệc, Sở Trang Vương cao hứng lệnh cho phi tử sủng ái nhất của mình tham gia mời rượu trong bữa tiệc.
              Đột nhiên, một trận cuồng phong thổi qua, tất cả nến trong khách sảnh đều bị thổi tắt, cả gian phòng chìm vào trong bóng tối. Lúc bấy giờ, sủng phi đang luân phiên mời rượu, bỗng từ trong bóng tối, một bàn tay kéo lấy tay áo của sủng phi. Đối với hành vi vô lễ đột ngột phát sinh này, sủng phi không dám la lớn, nhất thời thoát thân không được, trong lúc khẩn cấp, sủng phi thuận tay kéo đứt dây mũ của người nọ. Đối phương thả tay ra, sủng phi thừa cơ thoát được, liền chạy đến bên Sở Trang Vương, đồng thời lén kể hết tình hình bị người ta trêu ghẹo, còn nói với Trang Vương là dây mũ của đối phương bị kéo đứt, chỉ cần thắp nến lên, kiểm tra dây mũ thì sẽ tra ra được là người nào.
              Sở Trang Vương nghe sủng phi khóc lóc kể lể, không hề giận dữ, trầm tư một lúc rồi nhân lúc nến chưa thắp lên, trong bóng tối cất tiếng nói to:
              - Hôm nay yến tiệc, các vị bất tất phải câu nệ lễ tiết, cứ mặc sức mà vui uống. Để hết lòng cùng vui, mọi người hãy kéo đứt dây mũ của mình, dây mũ của ai không đứt thì người ấy không được uống rượu ngon!
              Quần thần nào biết dụng ý của Trang Vương, để Trang Vương vui lòng, ai nấy đều kéo đứt dây mũ của mình. Khi nên được thắp lên, mũ của những người trong bữa tiệc đều bị đứt dây, căn bản tìm không ra người mà đã trêu ghẹo sủng phi. Như vậy, cục diện gút mắc trong bữa tiệc được tháo gỡ trong vô hình, mọi người đều vui say ra về, trong đó có cả người đã trêu ghẹo sủng phi.
              Sau sự việc đó, Sở Trang Vương đã giải thích với sủng phi đang mang nỗi ấm ức trong lòng:
              - Trong bữa tiệc rượu, có thái độ thất lễ là thường tình của con người, nếu trước mặt mọi người mà truy tìm xử lí, e sẽ làm tổn thương tấm lòng của tướng sĩ, khiến họ ra về trong tâm trạng không vui.
              Chẳng bao lâu sau, Sở Trang Vương mượn cớ nước Trịnh hội minh với nước Tấn tại Yên Lăng 鄢陵, thế là mùa xuân năm sau, dốc binh sĩ trong cả nước vây đánh nước Trịnh. Chiến đấu vô cùng kịch liệt, trải qua hơn 3 tháng, phát động mấy lần xung phong. Trong trận chiến đó, có một quân quan phấn dũng tranh đầu, giao chiến với quân Trịnh giết được rất nhiều quân địch, quân Trịnh nghe được đều kinh sợ, đành phải đầu hàng. Nước Sở giành được thắng lợi, trong lúc luận công ban thưởng, mới biết vị quân quan phấn dũng giết địch đó tên là Đường Giảo 唐狡, chính là người mà đã bị sủng phi kéo đứt dây mũ trong bữa tiệc.
              Người sau khi phạm sai lầm luôn bức thiết mong được sự khoan dung của người khác cho họ cơ hội để hối lỗi sửa mình. Một khi có được sự khoan dung, họ sẽ nảy sinh tâm lí cảm ơn mong báo đáp, thông qua biểu hiện sửa sai để có được sự đồng ý chấp nhận của đối phương. Sở Trang Vương hiểu được việc khoan dung lỗi lầm của người khác, có được đạo lí nhân tâm, cho nên mới thi hành kế sách hơi hồ đồ, cuối cùng trong chiến tranh giành được thắng lợi khải hoàn.
              Mỗi cá nhân đều sẽ phạm sai lầm, nhưng đối mặt với sai lầm của mình, trên thực tế không ai bằng lòng tiếp thụ sự xoi mói phê bình chỉ trích. Nếu chúng ta ngược lại với xu thế tâm lí này, chọn lựa sự công kích phê bình sâu sắc, để được sự chỉ trích dạy bảo của người, thế thì hiệu quả mà có được chỉ có thể là con số không. Cho nên nói phê bình cũng là một môn nghệ thuật, dạy bảo là một môn học vấn. Muốn phát huy chúng một cách tinh tế sâu sắc, thu được hiệu quả thiết thực, chỉ có thể dựa theo cách nói của “Thái căn đàm” mà làm, đó là: “Công nhân chi ác, vô thái nghiêm, yếu tư kì kham thụ. Giáo nhân chi thiện, vô quá cao, đương sử kì khả tùng.”
              Phê bình cần rõ ràng chuẩn xác, nhưng phương thức có thể uyển chuyển, như vậy mới dễ cho người tiếp thụ và cũng không đến mức người phê bình phải canh cánh trong lòng. Còn dạy bảo người khác, cần phải để đối phương như được tắm gội trong gió xuân, nên ít những luận điệu trống rỗng mà nhiều những lời động viên chân thành, mới có thể được đối phương tích cực tiếp nhận, từ đó mà đạt được mục đích dạy bảo. Khi người khác phạm sai lầm, nên kềm chế nói ra những lời mặn nhạt, cạnh khoé, hãy đặt mình vào địa vị của họ mà suy nghĩ, như vậy không những tăng cường hiệu quả thiết thực trong việc phê bình dạy bảo, mà phẩm hạnh trí tuệ của mình cũng được tăng thêm.

    Chú của người dịch
    1- Sai quyền 猜拳: “sai quyền” tức trò chơi đoán số ngón tay lúc uống rượu: hai người đồng thời giơ ngón tay ra và mỗi người nói một con số, con số của ai khớp với tổng số ngón tay của hai người giơ ra thì  người ấy thắng, người thua  bị phạt uống rượu.
              (Theo “Từ điển Trung Việt” của Viện Khoa học xã hội Việt Nam, 1992)

                                                                 Huỳnh Chương Hưng
                                                                 Quy Nhơn 17/01/2019

    Nguồn
    THÁI CĂN ĐÀM
    菜根谭
    Tác giả: (Minh) Hồng Ứng Minh 洪应明
    Biên soạn: Bàng Bác 庞博
    Trung Quốc Hoa Kiều xuất bản xã, 2013

    Dịch thuật: Công nhân chi ác, tư kì kham thụ (Thái căn đàm)

    Đăng lúc  21:03  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »



    攻人之恶思其堪受
    攻人之恶, 毋太严, 要思其堪受; 教人之善, 毋过高, 当使其可从.
                                                                                (菜根谭 - 齐家育人)

    CÔNG NHÂN CHI ÁC, TƯ KÌ KHAM THỤ
              Công nhân chi ác, vô thái nghiêm, yếu tư kì kham thụ; Giáo nhân chi thiện, vô quá cao, đương sử kì khả tùng.
                                                                  (Thái căn đàm – Tề gia dục nhân)

    PHÊ BÌNH LỖI CỦA NGƯỜI,
    NÊN NGHĨ ĐẾN VIỆC HỌ CÓ THỂ TIẾP THỤ
              Khi phê bình lỗi của một người nào đó, không nên quá khắc nghiệt, cần phải nghĩ đến việc họ có thể tiếp thụ được hay không. Dạy cho một người nào đó làm điều thiện, cũng không nên yêu cầu quá cao, phải nghĩ đến việc họ có thể làm được hay không, để họ cảm thấy phù hợp với năng lực mà làm theo.

    Giải thích và phân tích
              Thời Xuân Thu, Sở Trang Vương 楚庄王đánh thắng trận trở về, mở tiệc thiết đãi quần thần. Quân thần chơi trò “sai quyền hành lệnh” 猜拳行令 (1), mời rượu cạn li, rất là náo nhiệt. Trong bữa tiệc, Sở Trang Vương cao hứng lệnh cho phi tử sủng ái nhất của mình tham gia mời rượu trong bữa tiệc.
              Đột nhiên, một trận cuồng phong thổi qua, tất cả nến trong khách sảnh đều bị thổi tắt, cả gian phòng chìm vào trong bóng tối. Lúc bấy giờ, sủng phi đang luân phiên mời rượu, bỗng từ trong bóng tối, một bàn tay kéo lấy tay áo của sủng phi. Đối với hành vi vô lễ đột ngột phát sinh này, sủng phi không dám la lớn, nhất thời thoát thân không được, trong lúc khẩn cấp, sủng phi thuận tay kéo đứt dây mũ của người nọ. Đối phương thả tay ra, sủng phi thừa cơ thoát được, liền chạy đến bên Sở Trang Vương, đồng thời lén kể hết tình hình bị người ta trêu ghẹo, còn nói với Trang Vương là dây mũ của đối phương bị kéo đứt, chỉ cần thắp nến lên, kiểm tra dây mũ thì sẽ tra ra được là người nào.
              Sở Trang Vương nghe sủng phi khóc lóc kể lể, không hề giận dữ, trầm tư một lúc rồi nhân lúc nến chưa thắp lên, trong bóng tối cất tiếng nói to:
              - Hôm nay yến tiệc, các vị bất tất phải câu nệ lễ tiết, cứ mặc sức mà vui uống. Để hết lòng cùng vui, mọi người hãy kéo đứt dây mũ của mình, dây mũ của ai không đứt thì người ấy không được uống rượu ngon!
              Quần thần nào biết dụng ý của Trang Vương, để Trang Vương vui lòng, ai nấy đều kéo đứt dây mũ của mình. Khi nên được thắp lên, mũ của những người trong bữa tiệc đều bị đứt dây, căn bản tìm không ra người mà đã trêu ghẹo sủng phi. Như vậy, cục diện gút mắc trong bữa tiệc được tháo gỡ trong vô hình, mọi người đều vui say ra về, trong đó có cả người đã trêu ghẹo sủng phi.
              Sau sự việc đó, Sở Trang Vương đã giải thích với sủng phi đang mang nỗi ấm ức trong lòng:
              - Trong bữa tiệc rượu, có thái độ thất lễ là thường tình của con người, nếu trước mặt mọi người mà truy tìm xử lí, e sẽ làm tổn thương tấm lòng của tướng sĩ, khiến họ ra về trong tâm trạng không vui.
              Chẳng bao lâu sau, Sở Trang Vương mượn cớ nước Trịnh hội minh với nước Tấn tại Yên Lăng 鄢陵, thế là mùa xuân năm sau, dốc binh sĩ trong cả nước vây đánh nước Trịnh. Chiến đấu vô cùng kịch liệt, trải qua hơn 3 tháng, phát động mấy lần xung phong. Trong trận chiến đó, có một quân quan phấn dũng tranh đầu, giao chiến với quân Trịnh giết được rất nhiều quân địch, quân Trịnh nghe được đều kinh sợ, đành phải đầu hàng. Nước Sở giành được thắng lợi, trong lúc luận công ban thưởng, mới biết vị quân quan phấn dũng giết địch đó tên là Đường Giảo 唐狡, chính là người mà đã bị sủng phi kéo đứt dây mũ trong bữa tiệc.
              Người sau khi phạm sai lầm luôn bức thiết mong được sự khoan dung của người khác cho họ cơ hội để hối lỗi sửa mình. Một khi có được sự khoan dung, họ sẽ nảy sinh tâm lí cảm ơn mong báo đáp, thông qua biểu hiện sửa sai để có được sự đồng ý chấp nhận của đối phương. Sở Trang Vương hiểu được việc khoan dung lỗi lầm của người khác, có được đạo lí nhân tâm, cho nên mới thi hành kế sách hơi hồ đồ, cuối cùng trong chiến tranh giành được thắng lợi khải hoàn.
              Mỗi cá nhân đều sẽ phạm sai lầm, nhưng đối mặt với sai lầm của mình, trên thực tế không ai bằng lòng tiếp thụ sự xoi mói phê bình chỉ trích. Nếu chúng ta ngược lại với xu thế tâm lí này, chọn lựa sự công kích phê bình sâu sắc, để được sự chỉ trích dạy bảo của người, thế thì hiệu quả mà có được chỉ có thể là con số không. Cho nên nói phê bình cũng là một môn nghệ thuật, dạy bảo là một môn học vấn. Muốn phát huy chúng một cách tinh tế sâu sắc, thu được hiệu quả thiết thực, chỉ có thể dựa theo cách nói của “Thái căn đàm” mà làm, đó là: “Công nhân chi ác, vô thái nghiêm, yếu tư kì kham thụ. Giáo nhân chi thiện, vô quá cao, đương sử kì khả tùng.”
              Phê bình cần rõ ràng chuẩn xác, nhưng phương thức có thể uyển chuyển, như vậy mới dễ cho người tiếp thụ và cũng không đến mức người phê bình phải canh cánh trong lòng. Còn dạy bảo người khác, cần phải để đối phương như được tắm gội trong gió xuân, nên ít những luận điệu trống rỗng mà nhiều những lời động viên chân thành, mới có thể được đối phương tích cực tiếp nhận, từ đó mà đạt được mục đích dạy bảo. Khi người khác phạm sai lầm, nên kềm chế nói ra những lời mặn nhạt, cạnh khoé, hãy đặt mình vào địa vị của họ mà suy nghĩ, như vậy không những tăng cường hiệu quả thiết thực trong việc phê bình dạy bảo, mà phẩm hạnh trí tuệ của mình cũng được tăng thêm.

    Chú của người dịch
    1- Sai quyền 猜拳: “sai quyền” tức trò chơi đoán số ngón tay lúc uống rượu: hai người đồng thời giơ ngón tay ra và mỗi người nói một con số, con số của ai khớp với tổng số ngón tay của hai người giơ ra thì  người ấy thắng, người thua  bị phạt uống rượu.
              (Theo “Từ điển Trung Việt” của Viện Khoa học xã hội Việt Nam, 1992)

                                                                 Huỳnh Chương Hưng
                                                                 Quy Nhơn 17/01/2019

    Nguồn
    THÁI CĂN ĐÀM
    菜根谭
    Tác giả: (Minh) Hồng Ứng Minh 洪应明
    Biên soạn: Bàng Bác 庞博
    Trung Quốc Hoa Kiều xuất bản xã, 2013

    Thứ Tư, 16 tháng 1, 2019

    CHỮ “HỘI / CỐI”
     
    Bính âm hui (thanh điệu 4)
    Bính âm kuai (thanh điệu 4)

    6 nét
    13 nét

    A- HỘI bính âm hui với thanh điệu 4
    1- Tụ hội tại một chỗ:
              Hội hợp 会合 / hội xan 会餐 / hội diễn 会演  / hội chẩn 会诊 / tụ hội 聚会.
    2- Tụ hợp:
              Hội nghị 会议 / khai hội 开会 / miếu hội 庙会 / yến hội 宴会 / đại biểu hội 代表会.
    3- Đoàn thể hoặc tổ chức nào đó:
              Hội xã 会社 / hội viên 会员 / hội san 会刊 / học hội 学会 / lí sự hội 理事会.
    4- Gặp mặt:
              Hội ngộ 会晤 / hội khách 会客 / ước hội 约会 / bái hội 拜会 / tái hội 再会.
    5- Thành thị chủ yếu:
              Tỉnh hội 省会 / đô hội 都会.
    6- Thời cơ:
              Cơ hội 机会 / thích phùng kì hội 适逢其会.
    7- Lí giải, hiểu:
              Lí hội 理会 / thể hội 体会 / ngộ hội 误会 / tâm lĩnh thần hội 心领神会.
    8- Có thể, chỉ năng lực của một phương diện nào đó.
              Hội kỉ quốc ngoại ngữ 会几国外语 / hội đàn cương cầm 会弹钢琴 / hội khai phi cơ 会开飞机.
    9- Biểu thị có khả năng thực hiện:
              Tha hội hữu biện pháp đích 他会有办法的 / bất hội bất lai 不会不来 .
    10- Giao tiền, trả tiền:
              Hội trướng 会账 / hội qua liễu 会过了.
    B- CỐI bính âm kuai với thanh điệu 4
              Tính gộp lại, tỉnh tổng cộng:
              Cối kế 会计.

    Thuyết giải
              Chữ , bộ , kết cấu trên dưới. Chữ là chữ khải hoá từ thảo thư, đem phần ở dưới chữ đổi thành. Trong Bạch bào kí 白袍记, Đông song kí 东窗记bản san khắc đời Minh, Mục Liên kí 目莲记, Kim Bình Mai 金瓶梅, Dật sự 逸事 bản san khắc đời Thanh đã thấy.
              Chữ quy về bộ .

    Phụ lục của người dịch
              Về chữ, trong Hán Việt tự điển của Thiều Chửu ghi rằng:
    Hội 1: Họp, như khai hội 開會 mở hội; hội nghị 會議họp bàn v.v... 2: Gặp, như hội minh 會盟 gặp nhau cùng thề, hội đồng 會同 cùng gặp mặt nhau để bàn bạc sự gì v.v... 3: Thời, như ki hội 機會 gặp dịp, vận hội 運會 vận hội tốt, nghĩa là sự với thời đúng hợp nhau cả, sách Hoàng cực kinh thế nói 30 năm là một đời , 12 đời là một vận, 30 vận là một hội, 12 hội là một nguyên . 4: Hiểu biết, như hội ý 會意hiểu ý, lĩnh hội 領會lĩnh lược hiểu biết được ý nghĩa gì. 5: Chỗ người ở đông đúc, như đô hội chốn đô hội.
              Một âm là Cối. 1: tính gộp, tính suốt sổ, tính sổ suốt năm gọi là cối kế niên độ 會計年度.
                    (trang 251, NXB Hồng Đức, 2015)

                                                          Huỳnh Chương Hưng
                                                          Quy Nhơn 16/01/2019

    Nguồn
    GIẢN HOÁ TỰ, PHỒN THỂ TỰ ĐỐI CHIẾU TỰ ĐIỂN
    简化字繁体字对照字典
    Chủ biên: Giang Lam Sinh 江蓝生, Lục Tôn Ngô 陆尊梧
    Thượng Hải – Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 1998

    Dịch thuật: Chữ "hội / cối" (Đối chiếu tự điển)

    Đăng lúc  21:51  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    CHỮ “HỘI / CỐI”
     
    Bính âm hui (thanh điệu 4)
    Bính âm kuai (thanh điệu 4)

    6 nét
    13 nét

    A- HỘI bính âm hui với thanh điệu 4
    1- Tụ hội tại một chỗ:
              Hội hợp 会合 / hội xan 会餐 / hội diễn 会演  / hội chẩn 会诊 / tụ hội 聚会.
    2- Tụ hợp:
              Hội nghị 会议 / khai hội 开会 / miếu hội 庙会 / yến hội 宴会 / đại biểu hội 代表会.
    3- Đoàn thể hoặc tổ chức nào đó:
              Hội xã 会社 / hội viên 会员 / hội san 会刊 / học hội 学会 / lí sự hội 理事会.
    4- Gặp mặt:
              Hội ngộ 会晤 / hội khách 会客 / ước hội 约会 / bái hội 拜会 / tái hội 再会.
    5- Thành thị chủ yếu:
              Tỉnh hội 省会 / đô hội 都会.
    6- Thời cơ:
              Cơ hội 机会 / thích phùng kì hội 适逢其会.
    7- Lí giải, hiểu:
              Lí hội 理会 / thể hội 体会 / ngộ hội 误会 / tâm lĩnh thần hội 心领神会.
    8- Có thể, chỉ năng lực của một phương diện nào đó.
              Hội kỉ quốc ngoại ngữ 会几国外语 / hội đàn cương cầm 会弹钢琴 / hội khai phi cơ 会开飞机.
    9- Biểu thị có khả năng thực hiện:
              Tha hội hữu biện pháp đích 他会有办法的 / bất hội bất lai 不会不来 .
    10- Giao tiền, trả tiền:
              Hội trướng 会账 / hội qua liễu 会过了.
    B- CỐI bính âm kuai với thanh điệu 4
              Tính gộp lại, tỉnh tổng cộng:
              Cối kế 会计.

    Thuyết giải
              Chữ , bộ , kết cấu trên dưới. Chữ là chữ khải hoá từ thảo thư, đem phần ở dưới chữ đổi thành. Trong Bạch bào kí 白袍记, Đông song kí 东窗记bản san khắc đời Minh, Mục Liên kí 目莲记, Kim Bình Mai 金瓶梅, Dật sự 逸事 bản san khắc đời Thanh đã thấy.
              Chữ quy về bộ .

    Phụ lục của người dịch
              Về chữ, trong Hán Việt tự điển của Thiều Chửu ghi rằng:
    Hội 1: Họp, như khai hội 開會 mở hội; hội nghị 會議họp bàn v.v... 2: Gặp, như hội minh 會盟 gặp nhau cùng thề, hội đồng 會同 cùng gặp mặt nhau để bàn bạc sự gì v.v... 3: Thời, như ki hội 機會 gặp dịp, vận hội 運會 vận hội tốt, nghĩa là sự với thời đúng hợp nhau cả, sách Hoàng cực kinh thế nói 30 năm là một đời , 12 đời là một vận, 30 vận là một hội, 12 hội là một nguyên . 4: Hiểu biết, như hội ý 會意hiểu ý, lĩnh hội 領會lĩnh lược hiểu biết được ý nghĩa gì. 5: Chỗ người ở đông đúc, như đô hội chốn đô hội.
              Một âm là Cối. 1: tính gộp, tính suốt sổ, tính sổ suốt năm gọi là cối kế niên độ 會計年度.
                    (trang 251, NXB Hồng Đức, 2015)

                                                          Huỳnh Chương Hưng
                                                          Quy Nhơn 16/01/2019

    Nguồn
    GIẢN HOÁ TỰ, PHỒN THỂ TỰ ĐỐI CHIẾU TỰ ĐIỂN
    简化字繁体字对照字典
    Chủ biên: Giang Lam Sinh 江蓝生, Lục Tôn Ngô 陆尊梧
    Thượng Hải – Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 1998

    Thứ Ba, 15 tháng 1, 2019

    NHẤT CHẨM HOÀNG LƯƠNG
    一枕黄粱
    HOÀNG LƯƠNG MỘT GỐI

    Giải thích: hoàng lương 黄粱: hạt kê màu vàng. Ví một giấc mộng đẹp nhưng ngắn ngủi.
    Xuất xứ: Đường . Thẩm Kí Tế 沈既济:  Chẩm trung kí 枕中记.

              Thanh niên Lư sinh 卢生lúc đi xa, giữa đường ghé lại một quán trọ ở  Hàm Đan 邯郸, đã cùng với đạo nhân Lữ Ông 吕翁 đang trọ nói chuyện với nhau. Trong lúc trò chuyện, Lư Sinh thở ngắn than dài, trách vận mệnh của mình không được tốt đẹp: cần mẫn phấn đấu đọc sách thế mà thi mãi không đậu; vất vả làm việc thế mà vẫn mãi nghèo khổ.
              Lữ Ông nghe anh ta than thở liền từ trong túi vải lấy ra một chiếc gối, trên gối có thêu 3 chữ “phúc lộc thọ”, còn thêu cả mũ ô sa, kim nguyên bảo, mĩ nữ và đồng tử. Lữ Ông nói rằng:
              - Anh chỉ cần gối lên chiếc gối này mà ngủ thì sẽ được vinh hoa phú quý.
              Lúc bấy giờ, chủ quán đang nấu một nồi kê. Thời gian rời quán ra đi hãy còn sớm, Lư Sinh bèn gối đầu lên gối, chỉ muốn nghỉ ngơi một tí, không ngờ vừa mới gối đã ngủ, lại còn mơ một giấc mơ đẹp.
              Trong giấc mơ, Lư Sinh kết hôn với một thiên kim tiểu thư của phủ họ Thôi tại Thanh Hà 清河, hai người sống một cuộc sống giàu sang. Tiếp đó, Lư Sinh thi đậu Tiến sĩ. Làm quan đến chức Tiết độ sứ, Ngự sử đại phu, và còn làm Tể tướng đến 10 năm. Về sau lại được phong tước Công. Hai vợ chồng có tổng cộng 5 người con, cả 5 người con này đều làm quan, và họ kết hôn với danh gia vọng tộc. Hai vợ chồng còn có đến 10 đứa cháu, đứa nào cũng đều thông minh lanh lợi, suốt ngày vui chơi bên cạnh, quả thực là con cháu đầy nhà, phúc lộc dồi dào, xứng tâm vừa ý và còn sống đến hơn 80 tuổi.
              Mơ đến đó, Lư Sinh cười thức tỉnh, từ giường ngồi dậy, lúc bấy giờ nồi kê của chủ quán hãy còn chưa nấu chín. Lư Sinh cảm khái muôn phần, nói rằng:
              - Không ngờ vinh hoa phú quý mấy chục năm rốt cuộc chỉ ngắn như một giấc mơ, quả thực là hoàng lương một gối.
              Lữ Ông cười nói rằng:
              - Đời người vốn là như thế. Vinh hoa phú quý chẳng qua là như một làn khói bay qua trước mắt, ngắn ngủi như một giấc mơ, hà tất phải  tính toán chi li?

                                                           Huỳnh Chương Hưng
                                                Quy Nhơn 15/01/2019

    Nguyên tác Trung văn
    NHẤT CHẨM HOÀNG LƯƠNG
    一枕黄粱
    TRUNG QUỐC THÀNH NGỮ CỐ SỰ TỔNG TẬP
    中国成语故事总集
    (tập 1)
    Chủ biên: Đường Kì 唐麒
    Trường Xuân – Thời đại văn nghệ xuất bản xã, 2004

    Dịch thuật: Nhất chẩm hoàng lương (thành ngữ)

    Đăng lúc  21:22  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    NHẤT CHẨM HOÀNG LƯƠNG
    一枕黄粱
    HOÀNG LƯƠNG MỘT GỐI

    Giải thích: hoàng lương 黄粱: hạt kê màu vàng. Ví một giấc mộng đẹp nhưng ngắn ngủi.
    Xuất xứ: Đường . Thẩm Kí Tế 沈既济:  Chẩm trung kí 枕中记.

              Thanh niên Lư sinh 卢生lúc đi xa, giữa đường ghé lại một quán trọ ở  Hàm Đan 邯郸, đã cùng với đạo nhân Lữ Ông 吕翁 đang trọ nói chuyện với nhau. Trong lúc trò chuyện, Lư Sinh thở ngắn than dài, trách vận mệnh của mình không được tốt đẹp: cần mẫn phấn đấu đọc sách thế mà thi mãi không đậu; vất vả làm việc thế mà vẫn mãi nghèo khổ.
              Lữ Ông nghe anh ta than thở liền từ trong túi vải lấy ra một chiếc gối, trên gối có thêu 3 chữ “phúc lộc thọ”, còn thêu cả mũ ô sa, kim nguyên bảo, mĩ nữ và đồng tử. Lữ Ông nói rằng:
              - Anh chỉ cần gối lên chiếc gối này mà ngủ thì sẽ được vinh hoa phú quý.
              Lúc bấy giờ, chủ quán đang nấu một nồi kê. Thời gian rời quán ra đi hãy còn sớm, Lư Sinh bèn gối đầu lên gối, chỉ muốn nghỉ ngơi một tí, không ngờ vừa mới gối đã ngủ, lại còn mơ một giấc mơ đẹp.
              Trong giấc mơ, Lư Sinh kết hôn với một thiên kim tiểu thư của phủ họ Thôi tại Thanh Hà 清河, hai người sống một cuộc sống giàu sang. Tiếp đó, Lư Sinh thi đậu Tiến sĩ. Làm quan đến chức Tiết độ sứ, Ngự sử đại phu, và còn làm Tể tướng đến 10 năm. Về sau lại được phong tước Công. Hai vợ chồng có tổng cộng 5 người con, cả 5 người con này đều làm quan, và họ kết hôn với danh gia vọng tộc. Hai vợ chồng còn có đến 10 đứa cháu, đứa nào cũng đều thông minh lanh lợi, suốt ngày vui chơi bên cạnh, quả thực là con cháu đầy nhà, phúc lộc dồi dào, xứng tâm vừa ý và còn sống đến hơn 80 tuổi.
              Mơ đến đó, Lư Sinh cười thức tỉnh, từ giường ngồi dậy, lúc bấy giờ nồi kê của chủ quán hãy còn chưa nấu chín. Lư Sinh cảm khái muôn phần, nói rằng:
              - Không ngờ vinh hoa phú quý mấy chục năm rốt cuộc chỉ ngắn như một giấc mơ, quả thực là hoàng lương một gối.
              Lữ Ông cười nói rằng:
              - Đời người vốn là như thế. Vinh hoa phú quý chẳng qua là như một làn khói bay qua trước mắt, ngắn ngủi như một giấc mơ, hà tất phải  tính toán chi li?

                                                           Huỳnh Chương Hưng
                                                Quy Nhơn 15/01/2019

    Nguyên tác Trung văn
    NHẤT CHẨM HOÀNG LƯƠNG
    一枕黄粱
    TRUNG QUỐC THÀNH NGỮ CỐ SỰ TỔNG TẬP
    中国成语故事总集
    (tập 1)
    Chủ biên: Đường Kì 唐麒
    Trường Xuân – Thời đại văn nghệ xuất bản xã, 2004

    Mã nguồn bởi Huỳnh Chương Hưng
    Copyright © 2012 Huỳnh Chương Hưng.
    back to top