• Thứ Hai, 21 tháng 10, 2019

    “ĐAM LẠC CHI TÙNG” VÀ “TỦU TRÌ NHỤC LÂM” ĐỜI THƯƠNG

              Thương triều 商朝 hậu kì, cuộc sống của giai cấp địa chủ vô cùng xa xỉ hủ hoá, không chỉ ngày càng tăng sự bóc lột nghiêm trọng đối với quảng đại nô lệ và bình dân, mà về đối ngoại còn phát động chiến tranh liên miên. Đặc biệt là đến giai đoạn cuối của vương triều Thương, mâu thuẫn giai cấp và mâu thuẫn dân tộc vô cùng gay gắt, khắp nơi là cảnh tượng:
    Tiểu dân phương hưng, tương vi địch cừu.
    小民方兴, 相为敌仇
    (Tiểu dân nhất tề nổi dậy, kết thành cừu địch với ta)
                                                                    (Thượng thư – Vi Tử 尚书 - 微子)
    Như điều như đường
    Như phí như canh
    如蜩如螗
    如沸如羹
    (Bách tính kêu than như ve kêu
    Như rơi vào nước sôi canh nóng)
                                                     (Thi kinh – Đại nhã – Đãng 诗经 - 大雅 - )
              Sau khi Bàn Canh 盘庚 dời đô, trải qua Tiểu Tân 小辛, Tiểu Ất 小乙, Vũ Đinh 武丁 kế thừa vương vị. Do bởi Thương vương Vũ Đinh “tu chính hành đức”修政行德, khiến vương triều Thương đã có sự phát triển rất lớn. Vũ Đinh sở dĩ làm được như thế, là bởi vì trước khi lên ngôi, ông đã từng:
    Cựu lao vu ngoại, ái kí tiểu nhân
    旧劳于外, 爱暨小人
    (Nhiều năm sống cuộc sống lao khổ bên ngoài, nên có dịp tiếp xúc với cuộc sống của “tiểu dân”)
                                                                   (Thượng thư – Vô dật 尚书 - 无逸)
    Theo truyền thuyết,khi Vũ Đinh còn là thái tử, từng sống chốn dân gian, có nỗi cực khổ ngoài vương cung, đồng thời tiếp xúc với “tiểu dân” – tức tầng lớp nô lệ và bình dân. Do bởi Vũ Đinh biết tương đối nhiều về “giá sắc chi gian nan” 稼穑之艰难 (cấy cày gian khổ)  (Thượng thư – Vô dật 尚书 - 无逸) so với các Thương vương khác, cho nên sau khi lên ngôi, để làm dịu đi mẫu thuẫn giai cấp, củng cố sự thống trị của giai cấp chủ nô lệ, ông “bất cảm hoang ninh” 不敢荒宁 (không dám lười nhác chính sự, ham thích an nhàn), nhờ đó khiến “Ân đạo phục hưng” 殷道复兴.
              Sau khi Vũ Đinh qua đời, con là Tổ Canh 祖庚 kế thường vương vị. Tổ Canh qua đời, căn cứ theo nguyên tắc “huynh chung đệ cập” 兄终弟及  (anh mất  em sẽ kế vị) trong chế độ kế thừa, em trai là Tổ Giáp 祖甲 kế vị. Theo truyền thuyết, Tổ Giáp cũng từng ở dân gian, “cựu vi tiểu nhân” 旧为小人, cùng sống chung với nô lệ và bình dân, cho nên ông cũng tương đổi hiểu “tiểu nhân chi y” 小人之依 (nỗi thống khổ trong lòng nô lệ và bình dân) (Thượng thư – Vô dật 尚书  - 无逸). Chính nhân vì ông hiểu được đạo mưu sinh của “tiểu nhân”, cho nên sau khi lên làm quốc vương, mới có thể thu nạp những biện pháp tương đối sáng suốt.
              Nhưng trong xã hội nô lệ, những quốc vương có những việc làm giống như Vũ Đinh, Tổ Giáp rất là ít. Các quốc vương sau họ, “Sinh tắc dật. Sinh tắc dật. Bất tri giá sắc chi gian nan, bất văn tiểu nhân chi lao, duy đam lạc chi tùng” 生则逸. 生则逸. 不知稼穑之艰难,不闻小人之劳, 惟耽乐之从 (Kế vị là ham thích an nhàn. Kế vị là ham thích an nhàn. Không biết đến nỗi cực nhọc của việc cấy cày, không nghe được sự lao khổ của nô lệ và bình dân, chỉ biết đắm chìm hưởng lạc) (Thượng thư – Vô dật 尚书  - 无逸). Mấy vị Thương vương từ nhỏ đã quen được nuông chìu này, căn bản không biết đến nỗi vất vả của việc cấy cày và nỗi gian khổ của “tiểu nhân”, một khi đã bước lên được vương vị, liền mặc sức tiêu xài phung phí trên xương máu của dân, sống một cuộc sống “đăng hồng tửu lục, tuý sinh mộng tử” 灯红酒绿, 醉生梦死. Do bởi dâm dật quá độ khiến họ tại vị “hoặc thập niên, hoặc thất bát niên, hoặc ngũ lục niên, hoặc tứ tam niên” 或十年, 或七八年, 或五六年, 或四三年 (có người 10 năm; có người 7, 8 năm; có người 5, 6 năm; có người 3, 4 năm) (Thượng thư – Vô dật 尚书  - 无逸) đã “ô hô” trở thành quỷ đoản mệnh.
              Thương Trụ Vương Đế Tân 商纣王帝辛là vị vương cuối cùng của đời Thương. Theo sách xưa ghi chép, Thương Trụ Vương rất thông minh năng cán, không chỉ có kiến thức rộng mà khẩu tài cũng rất lanh lợi, hơn nữa lại có sức mạnh hơn người, có thể tay không đánh với mãnh thú. Truyền thuyết kể rằng, để thể hiện sức mạnh của mình, có một lần Trụ Vương nắm đuôi trâu kéo lại, kéo 9 con trâu lùi lại phía sau; lại có một lần dùng tay nâng cây rường lớn của cung điện để người khác thay cây trụ ở dưới rường một cách thong thả mà mặt không hề biến sắc. v.v... Thương Trụ Vương dựa vào thiên tư thông minh nhanh nhẹn của mình, coi thường đại thần dưới tay mình, che đậy lỗi lầm, tự làm theo ý riêng, cự tuyệt không ít những lời can gián trung trực có lợi cho việc trị quốc an dân của các đại thần đề xuất.
              Sự bóc lột quảng đại nô lệ và bình dân của Thương Trụ Vương so với các Thương Vương đời trước càng lợi hại hơn. Trụ Vương cho xây Lộc đài 鹿台 chu vi 3 dặm cao hơn ngàn xích, “lấy nặng phú thuế để có tiền xây Lộc đài”, thông qua biện pháp tăng thuế, thu gom tiền của, cung cấp đầy đủ cho Lộc đài. Lại cho xây một cái kho tên “Cự Kiều” 钜桥, chứa đầy lương thực thu gom từ các nơi về. Trụ Vương còn cho chuyển về đô thành các loại chó ngựa kì lạ trong thiên hạ, nuôi đầy trong cung thất. Đồng thời, Trụ Vương đặc biệt sủng ái phi tử tên Đát Kỉ 妲己, mọi việc luôn ngheo theo Đát Kỉ. Đối với cung điện hùng vĩ tráng lệ của Thương đô, Trụ Vương cảm thấy còn quê mùa, nên đã cho xây nhiều li cung biệt quán rộng lớn trong phạm vi phía nam đến Triều Ca 朝歌, phía bắc đến Sa Khâu 沙丘, Hàm Đan 邯郸, trong ngự uyển nuôi rất nhiều trân cầm dị thú, đồng thời trong li cung biệt quán ở Sa Khâu cho lập “tửu trì nhục lâm” 酒池肉林 (ao rượu rừng thịt).
              Để thoả mãn dục vọng không bao giờ dừng của Thương Trụ Vương,vương triều Thương tiến thêm một bước tăng cường áp bức nhân dân lao động. Giai cấp chủ nô cùng quảng đại nô lệ và bình dân ở vào thế đối lập gay gắt.

                                                             Huỳnh Chương Hưng
                                                             Quy Nhơn 21/10/2019

    Nguồn
    TÂY CHU SỬ THOẠI
    西周史话
    Tác giả: Vương Vũ Tín 王宇信
    Trung Quốc quốc tế quảng bá xuất bản xã, 2007

    Dịch thuật: "Đam lạc chi tùng" và "tửu trì nhục lâm" đời Thương

    Đăng lúc  18:00  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    “ĐAM LẠC CHI TÙNG” VÀ “TỦU TRÌ NHỤC LÂM” ĐỜI THƯƠNG

              Thương triều 商朝 hậu kì, cuộc sống của giai cấp địa chủ vô cùng xa xỉ hủ hoá, không chỉ ngày càng tăng sự bóc lột nghiêm trọng đối với quảng đại nô lệ và bình dân, mà về đối ngoại còn phát động chiến tranh liên miên. Đặc biệt là đến giai đoạn cuối của vương triều Thương, mâu thuẫn giai cấp và mâu thuẫn dân tộc vô cùng gay gắt, khắp nơi là cảnh tượng:
    Tiểu dân phương hưng, tương vi địch cừu.
    小民方兴, 相为敌仇
    (Tiểu dân nhất tề nổi dậy, kết thành cừu địch với ta)
                                                                    (Thượng thư – Vi Tử 尚书 - 微子)
    Như điều như đường
    Như phí như canh
    如蜩如螗
    如沸如羹
    (Bách tính kêu than như ve kêu
    Như rơi vào nước sôi canh nóng)
                                                     (Thi kinh – Đại nhã – Đãng 诗经 - 大雅 - )
              Sau khi Bàn Canh 盘庚 dời đô, trải qua Tiểu Tân 小辛, Tiểu Ất 小乙, Vũ Đinh 武丁 kế thừa vương vị. Do bởi Thương vương Vũ Đinh “tu chính hành đức”修政行德, khiến vương triều Thương đã có sự phát triển rất lớn. Vũ Đinh sở dĩ làm được như thế, là bởi vì trước khi lên ngôi, ông đã từng:
    Cựu lao vu ngoại, ái kí tiểu nhân
    旧劳于外, 爱暨小人
    (Nhiều năm sống cuộc sống lao khổ bên ngoài, nên có dịp tiếp xúc với cuộc sống của “tiểu dân”)
                                                                   (Thượng thư – Vô dật 尚书 - 无逸)
    Theo truyền thuyết,khi Vũ Đinh còn là thái tử, từng sống chốn dân gian, có nỗi cực khổ ngoài vương cung, đồng thời tiếp xúc với “tiểu dân” – tức tầng lớp nô lệ và bình dân. Do bởi Vũ Đinh biết tương đối nhiều về “giá sắc chi gian nan” 稼穑之艰难 (cấy cày gian khổ)  (Thượng thư – Vô dật 尚书 - 无逸) so với các Thương vương khác, cho nên sau khi lên ngôi, để làm dịu đi mẫu thuẫn giai cấp, củng cố sự thống trị của giai cấp chủ nô lệ, ông “bất cảm hoang ninh” 不敢荒宁 (không dám lười nhác chính sự, ham thích an nhàn), nhờ đó khiến “Ân đạo phục hưng” 殷道复兴.
              Sau khi Vũ Đinh qua đời, con là Tổ Canh 祖庚 kế thường vương vị. Tổ Canh qua đời, căn cứ theo nguyên tắc “huynh chung đệ cập” 兄终弟及  (anh mất  em sẽ kế vị) trong chế độ kế thừa, em trai là Tổ Giáp 祖甲 kế vị. Theo truyền thuyết, Tổ Giáp cũng từng ở dân gian, “cựu vi tiểu nhân” 旧为小人, cùng sống chung với nô lệ và bình dân, cho nên ông cũng tương đổi hiểu “tiểu nhân chi y” 小人之依 (nỗi thống khổ trong lòng nô lệ và bình dân) (Thượng thư – Vô dật 尚书  - 无逸). Chính nhân vì ông hiểu được đạo mưu sinh của “tiểu nhân”, cho nên sau khi lên làm quốc vương, mới có thể thu nạp những biện pháp tương đối sáng suốt.
              Nhưng trong xã hội nô lệ, những quốc vương có những việc làm giống như Vũ Đinh, Tổ Giáp rất là ít. Các quốc vương sau họ, “Sinh tắc dật. Sinh tắc dật. Bất tri giá sắc chi gian nan, bất văn tiểu nhân chi lao, duy đam lạc chi tùng” 生则逸. 生则逸. 不知稼穑之艰难,不闻小人之劳, 惟耽乐之从 (Kế vị là ham thích an nhàn. Kế vị là ham thích an nhàn. Không biết đến nỗi cực nhọc của việc cấy cày, không nghe được sự lao khổ của nô lệ và bình dân, chỉ biết đắm chìm hưởng lạc) (Thượng thư – Vô dật 尚书  - 无逸). Mấy vị Thương vương từ nhỏ đã quen được nuông chìu này, căn bản không biết đến nỗi vất vả của việc cấy cày và nỗi gian khổ của “tiểu nhân”, một khi đã bước lên được vương vị, liền mặc sức tiêu xài phung phí trên xương máu của dân, sống một cuộc sống “đăng hồng tửu lục, tuý sinh mộng tử” 灯红酒绿, 醉生梦死. Do bởi dâm dật quá độ khiến họ tại vị “hoặc thập niên, hoặc thất bát niên, hoặc ngũ lục niên, hoặc tứ tam niên” 或十年, 或七八年, 或五六年, 或四三年 (có người 10 năm; có người 7, 8 năm; có người 5, 6 năm; có người 3, 4 năm) (Thượng thư – Vô dật 尚书  - 无逸) đã “ô hô” trở thành quỷ đoản mệnh.
              Thương Trụ Vương Đế Tân 商纣王帝辛là vị vương cuối cùng của đời Thương. Theo sách xưa ghi chép, Thương Trụ Vương rất thông minh năng cán, không chỉ có kiến thức rộng mà khẩu tài cũng rất lanh lợi, hơn nữa lại có sức mạnh hơn người, có thể tay không đánh với mãnh thú. Truyền thuyết kể rằng, để thể hiện sức mạnh của mình, có một lần Trụ Vương nắm đuôi trâu kéo lại, kéo 9 con trâu lùi lại phía sau; lại có một lần dùng tay nâng cây rường lớn của cung điện để người khác thay cây trụ ở dưới rường một cách thong thả mà mặt không hề biến sắc. v.v... Thương Trụ Vương dựa vào thiên tư thông minh nhanh nhẹn của mình, coi thường đại thần dưới tay mình, che đậy lỗi lầm, tự làm theo ý riêng, cự tuyệt không ít những lời can gián trung trực có lợi cho việc trị quốc an dân của các đại thần đề xuất.
              Sự bóc lột quảng đại nô lệ và bình dân của Thương Trụ Vương so với các Thương Vương đời trước càng lợi hại hơn. Trụ Vương cho xây Lộc đài 鹿台 chu vi 3 dặm cao hơn ngàn xích, “lấy nặng phú thuế để có tiền xây Lộc đài”, thông qua biện pháp tăng thuế, thu gom tiền của, cung cấp đầy đủ cho Lộc đài. Lại cho xây một cái kho tên “Cự Kiều” 钜桥, chứa đầy lương thực thu gom từ các nơi về. Trụ Vương còn cho chuyển về đô thành các loại chó ngựa kì lạ trong thiên hạ, nuôi đầy trong cung thất. Đồng thời, Trụ Vương đặc biệt sủng ái phi tử tên Đát Kỉ 妲己, mọi việc luôn ngheo theo Đát Kỉ. Đối với cung điện hùng vĩ tráng lệ của Thương đô, Trụ Vương cảm thấy còn quê mùa, nên đã cho xây nhiều li cung biệt quán rộng lớn trong phạm vi phía nam đến Triều Ca 朝歌, phía bắc đến Sa Khâu 沙丘, Hàm Đan 邯郸, trong ngự uyển nuôi rất nhiều trân cầm dị thú, đồng thời trong li cung biệt quán ở Sa Khâu cho lập “tửu trì nhục lâm” 酒池肉林 (ao rượu rừng thịt).
              Để thoả mãn dục vọng không bao giờ dừng của Thương Trụ Vương,vương triều Thương tiến thêm một bước tăng cường áp bức nhân dân lao động. Giai cấp chủ nô cùng quảng đại nô lệ và bình dân ở vào thế đối lập gay gắt.

                                                             Huỳnh Chương Hưng
                                                             Quy Nhơn 21/10/2019

    Nguồn
    TÂY CHU SỬ THOẠI
    西周史话
    Tác giả: Vương Vũ Tín 王宇信
    Trung Quốc quốc tế quảng bá xuất bản xã, 2007

    Chủ Nhật, 20 tháng 10, 2019

    TÌ BÀ BIỆT BÃO

              “Tì bà biệt bão” 琵琶 mới nhìn qua dường như ví phụ nữ cải giá hoặc tái hôn. Không ít từ điển quy nguồn gốc cụm này là từ bài Tì bà hành 琵琶行 của Bạch Cư Dị 白居易:
    Thiên hô vạn hoán thuỷ xuất lai
    Do bão tì bà bán già diện
    千呼万唤始出来
    犹抱琵琶半遮面
     (Mời gọi mãi mới bắt đầu xuất hiện
    Tay hãy còn ôm đàn tì bà che khuất nửa mặt)

    Môn tiền lãnh lạc xa mã hi
    Lão đại giá tác thương nhân phụ
    门前冷落车马稀
    老大嫁作商人妇
    (Trước cửa đìu hiu ngựa xe dần ít đi
    Tuổi xuân đã qua nên phải gả làm vợ cho một thương nhân)
              Nhưng Bạch Cư Dị không hề cho thấy việc tì bà nữ cải giá, và câu “Do bão tì bà bán già diện” cũng không có nội hàm “biệt bão” 别抱 (ôm đàn sang thuyền khác) trong đó. Thế thì, nguồn gốc của cụm “tì bà biệt bão” rốt cuộc là từ đâu?
              Hoá ra, ví phụ nữ cải giá hoặc tái hôn không hề là nguyên ý của của cụm “tì bà biệt bão”. Nguyên ý của cụm “tì bà biệt bão” vô cùng khắc bạc, là lời mỉa mai căm giận hạng người thay đổi khí tiết.
              Trong Ẩn cư thông nghị 隐居通议 của Lưu Huân 刘埙 có thu thập một bài thơ của Long Nhân Phu 龙仁夫. Long Nhân Phu hiệu là Lân Châu 麟洲, một danh nho giai đoạn lúc nhà Tống chuyển sang nhà Nguyên. Đề mục của bài thơ là “Đề Tì Bà đình” 题琵琶亭:
    Lão đại nga mi phụ sở thiên
    Thượng lưu dư vận nhập ai huyền
    Giang tâm chính hảo khan minh nguyệt
    Khước bão tì bà quá biệt thuyền
    老大蛾眉负所天
    尚留余韵入哀弦
    江心正好看明月
    却抱琵琶过别船
    (Nàng “nga mi” mất đi người chồng mà mình nương tựa
    Dư âm ai oán còn lưu lại đã nhập vào dây đàn
    Dòng sông đương lúc trăng rọi sáng
    Nàng “nga mi” lại ôm đàn bước sang thuyền khác tiếp tục đàn)
              “Sở thiên” 所天 là người mà mình nương tựa, ở đây chỉ người chồng, ý của bài thơ rất rõ, nói nàng “nga mi” đánh đàn tì bà đã mất đi người chồng, tiếng đàn tì bà dư âm ai oán, Trên dòng sông trăng đang sáng, nàng “nga mi” lại ôm đàn bước sang thuyền khác tiếp tục đàn.
              Bài thơ này, bề ngoài là châm biếm tì bà nữ trong phút chốc đã quên đi người chồng, nhưng kì thực là từ một câu chuyện gốc. Trong Ẩn cư thông nghị có thuật:
              Chư Lữ gia vu Giang Châu, sĩ Tống luỹ triều, cùng phú cực quý. Cập bắc binh chí, tự Văn Hoán nhi hạ, tương suất nạp khoản, vô nhất nhân kháng tiết báo quốc.
              诸吕家于江州, 士宋累朝, 穷富极贵. 及北兵至, 自文焕而下, 相率纳款, 无一人抗节报国.
         (Gia tộc họ Lữ ở Giang Châu, làm quan trải mấy triều nhà Tống, cực kì phú quý. Khi binh phương bắc đến, từ Văn Hoán trở xuống dẫn nhau đến quy thuận hàng phục, không có người nào kiên thủ tiết tháo báo quốc)
              “Chư Lữ” 诸吕 chỉ gia tộc của Đại tướng Nam Tống Lữ Văn Hoán. Tống Nguyên giao chiến, Lữ văn Hoán trấn thủ Tương Dương 襄阳, cầm cự được 5 năm thì binh tận lương tuyệt. Lữ Văn Hoán hàng nhà Nguyên, nhậm chức quan cao của triều Nguyên. Sau khi nhà Tống mất, có một lần Long Nhân Phu theo người khác yết kiến Lữ Văn Hoán, trong lúc ngà say, mệnh cho làm thơ, Long Nhân Phu cảm khái gia tộc họ Lữ “vô nhất nhân kháng tiết báo quốc” (không có người nào kiên thủ tiết tháo báo quốc), nhân đó mới làm bài thơ này. Lữ Văn Hoán “nạp hối thỉnh cải phú, kí nhi hiếu sự giả lưu truyền” 纳贿请改赋,   而好事者流传 (hối lộ xin sửa bài thơ, bài thơ đã bị kẻ hiếu sự lưu truyền). Còn có một thuyết khác, có người đem bài thơ của Long Nhân Phu viết lên Tì Bà đình, Lữ Văn Hoán “kiến chi huy lệ” 见之挥泪 (nhìn thấy mà gạt nước mắt), lòng cũng xúc động hổ thẹn.
              Trong sách cổ, chúng ta thường thấy từ “tái tiếu” 再醮 hình dung phụ nữ cải giá. “Tiếu” có chữ bên cạnh, thế thì nhất định có liên quan tới rượu. Nguyên do là, “tiếu” là một nghi thức trong quán lễ 冠礼, hôn lễ 婚礼cổ đại. Bậc tôn quý rót rượu cho người nhỏ hơn, sau khi uống cạn, không cần phải rót kính lại. Trịnh Huyền 郑玄 giải thích rằng:
    Chước nhi vô thù tạc viết tiếu
    酌而无酬酢曰醮
    (Rót rượu mà không phải thù tạc gọi là tiếu)
              Chủ nhân rót rượu mời khách gọi là “thù” , khách rót mời lại gọi là “tạc” . “Chước nhi vô thù tạc” 酌而无酬酢, đương nhiên là khách tiếp nhận rượu sau đó không cần  rót mời lại. Cụ thể trong hôn lễ, như trong Lễ nghi – Hôn nghi 礼仪 - 婚仪có chép:
    Phụ thân tiếu tử, nhi mệnh chi nghinh
    父亲醮子, 而命之迎
    Tức phụ thân rót rượu cho con, người con uống cạn sau đó sẽ đến nhà gái nghinh thân.
              Lúc ban đầu, nam tử thú thê và phụ nữ xuất giá đều có thể xưng là “tiếu” , thế thì nam tử tái thú và nữ tử tái giá cũng đều có thể gọi là “tái tiếu” 再醮. Trong Khổng Tử gia ngữ - Bản mệnh giải 孔子家语 - 本命解, khi Khổng Tử luận về “tam tùng” của nữ nói rằng:
              Ấu tùng phụ huynh, kí giá tùng phu, phu tử tùng tử, ngôn vô tái tiếu chi đoan.
              幼从父兄, 既嫁从夫, 夫死从子, 言无再醮之端
              (Lúc nhỏ theo cha anh, khi đã lấy chồng thì theo chồng, chồng mất thì theo con, câu đó chính là lí do mà họ không tái giá).
              Nho gia học giả Vương Túc 王肃 nước Nguỵ thời Tam Quốc khi chú đã giải thích rằng:
    Thuỷ giá ngôn tiếu lễ, vô tái tiếu chi đoan, thống ngôn bất cải sự nhân dã.
    始嫁言醮礼, 无再醮之端, 统言不改事人也
    (Lúc ban đầu cưới chồng gọi là “tiếu lễ”, không có lí do “tái tiếu”, nói chung chỉ người không thay đổi sự việc)
              Đó là ghi chép sớm nhất dùng “tái tiếu” để hình dung phụ nữ cải giá. Sau thời Nguyên, Minh, “tái tiếu” không còn kiêm chỉ nam nữ nữa mà chỉ chuyên chỉ cho phụ nữ cải giá.

    Phụ lục của người dịch
    Tì bà biệt bão: Vị phụ nhân tái tiếu dã. Dư Hoài thi:
    Hưu bão tì bà quá biệt thuyền
    Án: Bạch Cư Dị Tì bà hành hữu:
    Môn tiền linh lạc xa mã hi
    Lão đại giá tác thương nhân phụ
    Cập:
    Thiên hô vạn hoán thuỷ xuất lai
    Do bão tì bà bán già diện
    chi cú. Ngữ nghĩa cái bản thử.
    琵琶別抱: 謂婦人再醮也. 余懷詩:
    休抱琵琶過別船
    : 白居易琵琶行
    門前冷落車馬稀
    老大嫁作商人婦
    千呼萬唤始出来
    猶抱琵琶半遮面
    之句. 語義蓋本此

    (Tì bà biệt bão: ý nói phụ nữ tái giá. Dư Hoài có thơ rằng:
    Chớ ôm đàn tì bà bước sang thuyền khác
    Xét: Trong bài Tì bà hành của Bạch Cư Dị có câu:
     Trước cửa đìu hiu ngựa xe dần ít đi
    Tuổi xuân đã qua nên phải gả làm vợ cho một thương nhân
    Và:
    Mời gọi mãi mới bắt đầu xuất hiện
    Tay hãy còn ôm đàn tì bà che khuất nửa mặt
    Ngữ nghĩa gốc ở bài thơ này.
    ( “Từ hải”. Trung Hoa thư cục, tái bản tháng 10, năm Trung Hoa Dân Quốc thứ 37, trang 897)
                                                                         Huỳnh Chương Hưng
                                                                         Quy Nhơn 20/10/2019

    Nguồn

    Dịch thuật: Tì bà biệt bão

    Đăng lúc  18:32  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    TÌ BÀ BIỆT BÃO

              “Tì bà biệt bão” 琵琶 mới nhìn qua dường như ví phụ nữ cải giá hoặc tái hôn. Không ít từ điển quy nguồn gốc cụm này là từ bài Tì bà hành 琵琶行 của Bạch Cư Dị 白居易:
    Thiên hô vạn hoán thuỷ xuất lai
    Do bão tì bà bán già diện
    千呼万唤始出来
    犹抱琵琶半遮面
     (Mời gọi mãi mới bắt đầu xuất hiện
    Tay hãy còn ôm đàn tì bà che khuất nửa mặt)

    Môn tiền lãnh lạc xa mã hi
    Lão đại giá tác thương nhân phụ
    门前冷落车马稀
    老大嫁作商人妇
    (Trước cửa đìu hiu ngựa xe dần ít đi
    Tuổi xuân đã qua nên phải gả làm vợ cho một thương nhân)
              Nhưng Bạch Cư Dị không hề cho thấy việc tì bà nữ cải giá, và câu “Do bão tì bà bán già diện” cũng không có nội hàm “biệt bão” 别抱 (ôm đàn sang thuyền khác) trong đó. Thế thì, nguồn gốc của cụm “tì bà biệt bão” rốt cuộc là từ đâu?
              Hoá ra, ví phụ nữ cải giá hoặc tái hôn không hề là nguyên ý của của cụm “tì bà biệt bão”. Nguyên ý của cụm “tì bà biệt bão” vô cùng khắc bạc, là lời mỉa mai căm giận hạng người thay đổi khí tiết.
              Trong Ẩn cư thông nghị 隐居通议 của Lưu Huân 刘埙 có thu thập một bài thơ của Long Nhân Phu 龙仁夫. Long Nhân Phu hiệu là Lân Châu 麟洲, một danh nho giai đoạn lúc nhà Tống chuyển sang nhà Nguyên. Đề mục của bài thơ là “Đề Tì Bà đình” 题琵琶亭:
    Lão đại nga mi phụ sở thiên
    Thượng lưu dư vận nhập ai huyền
    Giang tâm chính hảo khan minh nguyệt
    Khước bão tì bà quá biệt thuyền
    老大蛾眉负所天
    尚留余韵入哀弦
    江心正好看明月
    却抱琵琶过别船
    (Nàng “nga mi” mất đi người chồng mà mình nương tựa
    Dư âm ai oán còn lưu lại đã nhập vào dây đàn
    Dòng sông đương lúc trăng rọi sáng
    Nàng “nga mi” lại ôm đàn bước sang thuyền khác tiếp tục đàn)
              “Sở thiên” 所天 là người mà mình nương tựa, ở đây chỉ người chồng, ý của bài thơ rất rõ, nói nàng “nga mi” đánh đàn tì bà đã mất đi người chồng, tiếng đàn tì bà dư âm ai oán, Trên dòng sông trăng đang sáng, nàng “nga mi” lại ôm đàn bước sang thuyền khác tiếp tục đàn.
              Bài thơ này, bề ngoài là châm biếm tì bà nữ trong phút chốc đã quên đi người chồng, nhưng kì thực là từ một câu chuyện gốc. Trong Ẩn cư thông nghị có thuật:
              Chư Lữ gia vu Giang Châu, sĩ Tống luỹ triều, cùng phú cực quý. Cập bắc binh chí, tự Văn Hoán nhi hạ, tương suất nạp khoản, vô nhất nhân kháng tiết báo quốc.
              诸吕家于江州, 士宋累朝, 穷富极贵. 及北兵至, 自文焕而下, 相率纳款, 无一人抗节报国.
         (Gia tộc họ Lữ ở Giang Châu, làm quan trải mấy triều nhà Tống, cực kì phú quý. Khi binh phương bắc đến, từ Văn Hoán trở xuống dẫn nhau đến quy thuận hàng phục, không có người nào kiên thủ tiết tháo báo quốc)
              “Chư Lữ” 诸吕 chỉ gia tộc của Đại tướng Nam Tống Lữ Văn Hoán. Tống Nguyên giao chiến, Lữ văn Hoán trấn thủ Tương Dương 襄阳, cầm cự được 5 năm thì binh tận lương tuyệt. Lữ Văn Hoán hàng nhà Nguyên, nhậm chức quan cao của triều Nguyên. Sau khi nhà Tống mất, có một lần Long Nhân Phu theo người khác yết kiến Lữ Văn Hoán, trong lúc ngà say, mệnh cho làm thơ, Long Nhân Phu cảm khái gia tộc họ Lữ “vô nhất nhân kháng tiết báo quốc” (không có người nào kiên thủ tiết tháo báo quốc), nhân đó mới làm bài thơ này. Lữ Văn Hoán “nạp hối thỉnh cải phú, kí nhi hiếu sự giả lưu truyền” 纳贿请改赋,   而好事者流传 (hối lộ xin sửa bài thơ, bài thơ đã bị kẻ hiếu sự lưu truyền). Còn có một thuyết khác, có người đem bài thơ của Long Nhân Phu viết lên Tì Bà đình, Lữ Văn Hoán “kiến chi huy lệ” 见之挥泪 (nhìn thấy mà gạt nước mắt), lòng cũng xúc động hổ thẹn.
              Trong sách cổ, chúng ta thường thấy từ “tái tiếu” 再醮 hình dung phụ nữ cải giá. “Tiếu” có chữ bên cạnh, thế thì nhất định có liên quan tới rượu. Nguyên do là, “tiếu” là một nghi thức trong quán lễ 冠礼, hôn lễ 婚礼cổ đại. Bậc tôn quý rót rượu cho người nhỏ hơn, sau khi uống cạn, không cần phải rót kính lại. Trịnh Huyền 郑玄 giải thích rằng:
    Chước nhi vô thù tạc viết tiếu
    酌而无酬酢曰醮
    (Rót rượu mà không phải thù tạc gọi là tiếu)
              Chủ nhân rót rượu mời khách gọi là “thù” , khách rót mời lại gọi là “tạc” . “Chước nhi vô thù tạc” 酌而无酬酢, đương nhiên là khách tiếp nhận rượu sau đó không cần  rót mời lại. Cụ thể trong hôn lễ, như trong Lễ nghi – Hôn nghi 礼仪 - 婚仪có chép:
    Phụ thân tiếu tử, nhi mệnh chi nghinh
    父亲醮子, 而命之迎
    Tức phụ thân rót rượu cho con, người con uống cạn sau đó sẽ đến nhà gái nghinh thân.
              Lúc ban đầu, nam tử thú thê và phụ nữ xuất giá đều có thể xưng là “tiếu” , thế thì nam tử tái thú và nữ tử tái giá cũng đều có thể gọi là “tái tiếu” 再醮. Trong Khổng Tử gia ngữ - Bản mệnh giải 孔子家语 - 本命解, khi Khổng Tử luận về “tam tùng” của nữ nói rằng:
              Ấu tùng phụ huynh, kí giá tùng phu, phu tử tùng tử, ngôn vô tái tiếu chi đoan.
              幼从父兄, 既嫁从夫, 夫死从子, 言无再醮之端
              (Lúc nhỏ theo cha anh, khi đã lấy chồng thì theo chồng, chồng mất thì theo con, câu đó chính là lí do mà họ không tái giá).
              Nho gia học giả Vương Túc 王肃 nước Nguỵ thời Tam Quốc khi chú đã giải thích rằng:
    Thuỷ giá ngôn tiếu lễ, vô tái tiếu chi đoan, thống ngôn bất cải sự nhân dã.
    始嫁言醮礼, 无再醮之端, 统言不改事人也
    (Lúc ban đầu cưới chồng gọi là “tiếu lễ”, không có lí do “tái tiếu”, nói chung chỉ người không thay đổi sự việc)
              Đó là ghi chép sớm nhất dùng “tái tiếu” để hình dung phụ nữ cải giá. Sau thời Nguyên, Minh, “tái tiếu” không còn kiêm chỉ nam nữ nữa mà chỉ chuyên chỉ cho phụ nữ cải giá.

    Phụ lục của người dịch
    Tì bà biệt bão: Vị phụ nhân tái tiếu dã. Dư Hoài thi:
    Hưu bão tì bà quá biệt thuyền
    Án: Bạch Cư Dị Tì bà hành hữu:
    Môn tiền linh lạc xa mã hi
    Lão đại giá tác thương nhân phụ
    Cập:
    Thiên hô vạn hoán thuỷ xuất lai
    Do bão tì bà bán già diện
    chi cú. Ngữ nghĩa cái bản thử.
    琵琶別抱: 謂婦人再醮也. 余懷詩:
    休抱琵琶過別船
    : 白居易琵琶行
    門前冷落車馬稀
    老大嫁作商人婦
    千呼萬唤始出来
    猶抱琵琶半遮面
    之句. 語義蓋本此

    (Tì bà biệt bão: ý nói phụ nữ tái giá. Dư Hoài có thơ rằng:
    Chớ ôm đàn tì bà bước sang thuyền khác
    Xét: Trong bài Tì bà hành của Bạch Cư Dị có câu:
     Trước cửa đìu hiu ngựa xe dần ít đi
    Tuổi xuân đã qua nên phải gả làm vợ cho một thương nhân
    Và:
    Mời gọi mãi mới bắt đầu xuất hiện
    Tay hãy còn ôm đàn tì bà che khuất nửa mặt
    Ngữ nghĩa gốc ở bài thơ này.
    ( “Từ hải”. Trung Hoa thư cục, tái bản tháng 10, năm Trung Hoa Dân Quốc thứ 37, trang 897)
                                                                         Huỳnh Chương Hưng
                                                                         Quy Nhơn 20/10/2019

    Nguồn

    Thứ Bảy, 19 tháng 10, 2019

    CÂU “ẨN CUNG ĐỒ HÌNH GIẢ THÂT THẬP DƯ VẠN NHÂN”
     GIẢI THÍCH CÓ SỰ SAI LẦM
    (tiếp theo)

              Thời Tần Hán, bất luận là “hoạn nhân” 宦人 “hoạn tịch” 宦籍 hay “hoạn quan” 宦官 đều không có nghĩa là thái giám. Chúng ta thường nói một người nào đó sinh ra trong một gia đình quan hoạn, không phải là nói người đó sinh ra trong một gia đình thái giám làm quan, mà là sinh ra trong một gia đình làm quan. Cho nên, từ “hoạn” bất luận là vào thời Tiên Tần hay hiện đại đều không có nghĩa là thái giám, không phải là đại danh từ chỉ việc bị thiến. Đương thời, người bị cung hình gọi là 奄人 (yêm nhân) hoặc 阉人 (yêm nhân), yêm nhân nhậm chức trong cung được gọi là 宦奄 (hoạn yêm) hoặc 宦阉 (hoạn yêm), định nghĩa vô cùng rõ ràng. Cho nên, “vi hoạn giả” của Từ Quảng không phải là thái giám. Còn từ “ẩn cung” là chỉ nơi quan viên nhậm chức trong cung cư trú, do bởi ở vào chỗ tương đối xa vương cung, cho nên gọi là “ẩn cung”. Dùng nó để chỉ thay, là chỉ quan viên nhậm chức trong cung.
              Tiếp theo chúng ta xem xét từ “đồ hình” 徒刑. “Hình đồ” và “đồ hình” 徒刑 không thể lẫn lộn được. Chỉ tù phạm hoặc người bị tội phải là chữ “hình” trước chữ “đồ” sau, gọi là “hình đồ” . Như trong Tần Thuỷ Hoàng bản kỉ 秦始皇本纪  có câu “sử hình đồ tam thiên nhân giai phạt Tương Sơn thụ” 使刑徒三千皆伐湘山树(sai 3000 tội nhân đi chặt cây ở Tương sơn).
              “Đồ” thời Tiên Tần có nghĩa là bộ binh, sĩ binh. Trong Thi kinh 诗经 có câu:
    Công đồ tam vạn
    公徒三万
    (Lỗ Hi Công thống lĩnh 3 vạn bộ binh)
    ở đây chỉ quân đội 3 vạn người. Trong Tả truyện 左传 cũng có câu:
    Suất đồ dĩ vãng
    率徒以往
    (Dẫn quân đội tiến lên)
    Và trong Lễ kí 礼记:
    Ngũ thập bất vi tuần đồ
    五十不为旬徒
    (50 tuổi trở lên không phục vụ binh dịch)
    “Đồ” ở đây đều có nghĩa là quân đội, sĩ binh.
              Nếu đã lí giải chữ “đồ” như vậy, thì ý nghĩa rất rõ ràng. Có thể ngắt câu là:
    Ẩn cung, đồ, hình giả thất thập dư vạn nhân
    隐宫, , 刑者七十余万人
    Ý nghĩa là:
        Quan viên trong cung, quân đội và tù phạm hơn 70 vạn người (1)
    Cũng có thể ngắt câu là:
    Ẩn cung, đồ hình giả thất thập dư vạn nhân
    隐宫, 徒刑者七十余万人
    “đồ hình giả” 徒刑者3 chữ hợp lại giải thích là “sĩ binh bị tội”, chính là sĩ binh của 6 nước chiến bại bị bắt.
              Cho dù là 2 chữ “đồ hình” 徒刑 ngắt ra hoặc hợp lại để lí giải, 2 chữ đó đều không thể giải thích thích một cách đơn giản là tội phạm hình sự. các thiên chương khác trong Sử kí cũng có thể chứng minh cho điểm này. Ví dụ:
             1- Trong Sử kí nhiều lần gọi 70 vạn người đi xây lăng ở Li sơn và xây cung A Bàng là “đồ” , mà không phải là “hình” . Trong Tần Thuỷ Hoàng bản kỉ, Thiếu phủ Chương Hàm 章邯 đề nghị với Tần Nhị Thế:
    Li sơn đồ đa, thỉnh xá chi, thụ binh dĩ kích chi.
    骊山徒多请赦之授兵以击之
    (Người lao dịch ở Li sơn đông, xin tha họ, trao cho họ binh khí để đánh giặc)
    Trong Trần Thiệp thế gia 陈涉世家:
              Tần lệnh Thiếu phủ Chương Hàm miễn Li sơn đồ, nhân nô sản tử sinh, tất phát dĩ kích Sở đại quân, tận bại chi.
              秦令少府章邯免骊山徒, 人奴产子生, 悉发以击楚大军, 尽败之
              (Tần lệnh cho Thiếu phủ Chương Hàm xá miễn cho người lao dịch ở Li sơn cùng con cái của gia nô sinh ra,  điều toàn bộ đi đánh đại quân nước Sở, quân Sở bị đánh bại)
              2- Sau khi Trần Thiệp 陈涉, Ngô Quảng 吴广 khởi sự, Thiếu phủ Chương Hàm 章邯 dẫn một số “đồ” đi đối kháng lại với quân đội Trần thiệp, những “đồ” này được điều động, họ thiện chiến đánh giỏi, không chỉ nhanh chóng đánh bại mấy chục vạn quân của Trần Thiệp, Ngô Quảng, mà còn đánh bại đội quân do con của danh tướng Hạng Yên 项燕 nước Sở là Hạng Lương 项梁 thống lĩnh, giết chết Hạng Lương. Có thể thấy những “đồ” này có tố chất quân sự rất tốt, không hoàn toàn là tội phạm hình sự bình thường.
              Bất luận như thế nào đi nữa, đem câu “ẩn cung đồ hình giả thất thập dư vạn nhân, phân tác A Bàng cung hoặc tác Li sơn” giải thích một cách khiên cưỡng là chỉ mấy năm mà đã cung hình mấy vạn nam nhân, phán xử tổng cộng 70 vạn tội phạm, để có được kết luận là bạo chính, đó là kết luận sai lầm, cũng là kết luận mà không chịu trách nhiệm. (hết)

    Chú của người dịch
    1- Về câu:
    Ẩn cung đồ hình giả thất thập dư vạn nhân
    隐宫 刑者七十余万人
    Có 2 tư liệu dịch như sau:
    - Hơn bảy mươi vạn người chịu tội đồ và tội thiến ở ẩn cung
    (Bản dịch của Trần Quang Đức, nxb Văn học, 2017, trang 154)
              - Những người bị tội thiến ở Ẩn cung hơn 70 vạn người.
              (Bản dịch của Phan Ngọc, nxb Văn hoá thông tin, 2003, trang 46)

                                                                    Huỳnh Chương Hưng
                                                                    Quy Nhơn 19/10/2019

    Nguồn


    Dịch thuật: Câu "Ẩn cung đồ hình giả thất thập dư vạn nhân" giải thích có sự sai lầm (tiếp theo)

    Đăng lúc  18:09  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    CÂU “ẨN CUNG ĐỒ HÌNH GIẢ THÂT THẬP DƯ VẠN NHÂN”
     GIẢI THÍCH CÓ SỰ SAI LẦM
    (tiếp theo)

              Thời Tần Hán, bất luận là “hoạn nhân” 宦人 “hoạn tịch” 宦籍 hay “hoạn quan” 宦官 đều không có nghĩa là thái giám. Chúng ta thường nói một người nào đó sinh ra trong một gia đình quan hoạn, không phải là nói người đó sinh ra trong một gia đình thái giám làm quan, mà là sinh ra trong một gia đình làm quan. Cho nên, từ “hoạn” bất luận là vào thời Tiên Tần hay hiện đại đều không có nghĩa là thái giám, không phải là đại danh từ chỉ việc bị thiến. Đương thời, người bị cung hình gọi là 奄人 (yêm nhân) hoặc 阉人 (yêm nhân), yêm nhân nhậm chức trong cung được gọi là 宦奄 (hoạn yêm) hoặc 宦阉 (hoạn yêm), định nghĩa vô cùng rõ ràng. Cho nên, “vi hoạn giả” của Từ Quảng không phải là thái giám. Còn từ “ẩn cung” là chỉ nơi quan viên nhậm chức trong cung cư trú, do bởi ở vào chỗ tương đối xa vương cung, cho nên gọi là “ẩn cung”. Dùng nó để chỉ thay, là chỉ quan viên nhậm chức trong cung.
              Tiếp theo chúng ta xem xét từ “đồ hình” 徒刑. “Hình đồ” và “đồ hình” 徒刑 không thể lẫn lộn được. Chỉ tù phạm hoặc người bị tội phải là chữ “hình” trước chữ “đồ” sau, gọi là “hình đồ” . Như trong Tần Thuỷ Hoàng bản kỉ 秦始皇本纪  có câu “sử hình đồ tam thiên nhân giai phạt Tương Sơn thụ” 使刑徒三千皆伐湘山树(sai 3000 tội nhân đi chặt cây ở Tương sơn).
              “Đồ” thời Tiên Tần có nghĩa là bộ binh, sĩ binh. Trong Thi kinh 诗经 có câu:
    Công đồ tam vạn
    公徒三万
    (Lỗ Hi Công thống lĩnh 3 vạn bộ binh)
    ở đây chỉ quân đội 3 vạn người. Trong Tả truyện 左传 cũng có câu:
    Suất đồ dĩ vãng
    率徒以往
    (Dẫn quân đội tiến lên)
    Và trong Lễ kí 礼记:
    Ngũ thập bất vi tuần đồ
    五十不为旬徒
    (50 tuổi trở lên không phục vụ binh dịch)
    “Đồ” ở đây đều có nghĩa là quân đội, sĩ binh.
              Nếu đã lí giải chữ “đồ” như vậy, thì ý nghĩa rất rõ ràng. Có thể ngắt câu là:
    Ẩn cung, đồ, hình giả thất thập dư vạn nhân
    隐宫, , 刑者七十余万人
    Ý nghĩa là:
        Quan viên trong cung, quân đội và tù phạm hơn 70 vạn người (1)
    Cũng có thể ngắt câu là:
    Ẩn cung, đồ hình giả thất thập dư vạn nhân
    隐宫, 徒刑者七十余万人
    “đồ hình giả” 徒刑者3 chữ hợp lại giải thích là “sĩ binh bị tội”, chính là sĩ binh của 6 nước chiến bại bị bắt.
              Cho dù là 2 chữ “đồ hình” 徒刑 ngắt ra hoặc hợp lại để lí giải, 2 chữ đó đều không thể giải thích thích một cách đơn giản là tội phạm hình sự. các thiên chương khác trong Sử kí cũng có thể chứng minh cho điểm này. Ví dụ:
             1- Trong Sử kí nhiều lần gọi 70 vạn người đi xây lăng ở Li sơn và xây cung A Bàng là “đồ” , mà không phải là “hình” . Trong Tần Thuỷ Hoàng bản kỉ, Thiếu phủ Chương Hàm 章邯 đề nghị với Tần Nhị Thế:
    Li sơn đồ đa, thỉnh xá chi, thụ binh dĩ kích chi.
    骊山徒多请赦之授兵以击之
    (Người lao dịch ở Li sơn đông, xin tha họ, trao cho họ binh khí để đánh giặc)
    Trong Trần Thiệp thế gia 陈涉世家:
              Tần lệnh Thiếu phủ Chương Hàm miễn Li sơn đồ, nhân nô sản tử sinh, tất phát dĩ kích Sở đại quân, tận bại chi.
              秦令少府章邯免骊山徒, 人奴产子生, 悉发以击楚大军, 尽败之
              (Tần lệnh cho Thiếu phủ Chương Hàm xá miễn cho người lao dịch ở Li sơn cùng con cái của gia nô sinh ra,  điều toàn bộ đi đánh đại quân nước Sở, quân Sở bị đánh bại)
              2- Sau khi Trần Thiệp 陈涉, Ngô Quảng 吴广 khởi sự, Thiếu phủ Chương Hàm 章邯 dẫn một số “đồ” đi đối kháng lại với quân đội Trần thiệp, những “đồ” này được điều động, họ thiện chiến đánh giỏi, không chỉ nhanh chóng đánh bại mấy chục vạn quân của Trần Thiệp, Ngô Quảng, mà còn đánh bại đội quân do con của danh tướng Hạng Yên 项燕 nước Sở là Hạng Lương 项梁 thống lĩnh, giết chết Hạng Lương. Có thể thấy những “đồ” này có tố chất quân sự rất tốt, không hoàn toàn là tội phạm hình sự bình thường.
              Bất luận như thế nào đi nữa, đem câu “ẩn cung đồ hình giả thất thập dư vạn nhân, phân tác A Bàng cung hoặc tác Li sơn” giải thích một cách khiên cưỡng là chỉ mấy năm mà đã cung hình mấy vạn nam nhân, phán xử tổng cộng 70 vạn tội phạm, để có được kết luận là bạo chính, đó là kết luận sai lầm, cũng là kết luận mà không chịu trách nhiệm. (hết)

    Chú của người dịch
    1- Về câu:
    Ẩn cung đồ hình giả thất thập dư vạn nhân
    隐宫 刑者七十余万人
    Có 2 tư liệu dịch như sau:
    - Hơn bảy mươi vạn người chịu tội đồ và tội thiến ở ẩn cung
    (Bản dịch của Trần Quang Đức, nxb Văn học, 2017, trang 154)
              - Những người bị tội thiến ở Ẩn cung hơn 70 vạn người.
              (Bản dịch của Phan Ngọc, nxb Văn hoá thông tin, 2003, trang 46)

                                                                    Huỳnh Chương Hưng
                                                                    Quy Nhơn 19/10/2019

    Nguồn


    Thứ Sáu, 18 tháng 10, 2019

    CÂU “ẨN CUNG ĐỒ HÌNH GIẢ THÂT THẬP DƯ VẠN NHÂN”
     GIẢI THÍCH CÓ SỰ SAI LẦM

             Khi phê bình Tần là bạo chính, nhiều người đều dẫn dụng câu trong Tần Thuỷ Hoàng bản kỉ 秦始皇本纪: “Ẩn cung đồ hình giả thất thập dư vạn nhân, nãi phân tác A Bàng cung hoặc tác Li sơn” 隐宫徒刑者七十余万人, 乃分作阿房宫或作骊山. Các chuyên gia nói rằng:
              Bạn thấy đó, xây dựng cung A Bàng và lăng ở Li sơn, dùng 70 vạn người bị cung hình và những tội phạm khác, đó chẳng phải là bạo chính nghiêm hình tuấn pháp sao?
              Có người còn làm như là có thật việc đó mà suy đoán rằng, người bị cung hình chiếm một nửa, có đến 35 vạn người, mà một phần mười cũng đạt đến 7 vạn người, quả là tàn khốc cực độ.
              Nhưng, cách giải thích ấy là sai lầm, vấn đề ở 2 từ “ẩn cung” 隐宫 và “đồ hình” 徒刑.
              Đầu tiên chúng ta xem xét từ “ẩn cung” 隐宫. Đem “ẩn cung” giải thích người bị qua cung hình là bắt đầu từ Sử kí chính nghĩa 史记正义 của Trương Thủ Tiết 张守节 đời Đường:
              Người bị cung hình xong, phải dưỡng 100 ngày ở một căn phòng tối, căn phòng đó gọi là ẩn cung, cũng gọi là “tàm thất” 蚕室, bởi căn phòng nuôi tằm phải tối và thông gió. Cho nên, ẩn cung là chỉ người bị qua cung hình.
              Nhưng cách giải thích này đối với những bài văn khác lại là cách giải thích không thông. Trong Mông Điềm liệt truyện 蒙恬列传 có ghi:
              Triệu Cao 赵高 là thân thuộc ở chi xa trong vương tộc nước Triệu. Triệu Cao có mấy anh em, đều sinh ra ở ẩn cung.
              Nếu nói “ẩn cung” là người bị qua cung hình thì làm sao sinh ra Triệu Cao, hơn nữa không chỉ sinh một người?
              Sai lầm này của Trương Thủ Tiết không hoàn toàn là trách nhiệm của ông ta, đầu mối có thể truy ngược lên Sử kí tập giải 史记集解 của Từ Quảng 徐广 đời Hán, về sau còn có người họ Lưu  từ sai lầm của Sử kí tập giải mà giải thích. Từ Quảng trong Sử kí tập giải giải thích từ “ẩn cung” rằng: “vi hoạn giả” 为宦者. “Vi hoạn giả” có nghĩa là gì? Từ Quảng không giải thích. “Hoạn giả” 宦者 người đời sau lí giải là thái giám. Thái giám thì làm sao có thể sinh ra mấy anh em Triệu Cao? Thế là đời sau đã có người họ Lưu, ra sức giải thông việc thái giám sinh con. Ông ta giải thích rằng:
              Phụ thân của Triệu Cao phạm tội bị cung hình, vợ của ông bị làm quan nô, người này không biết bổn phận của mình đã cùng với người đàn ông khác dã hợp sinh ra Triệu Cao, lại còn sinh ra mấy anh em Triệu Cao, sau khi sinh xong lại đem mấy người con đó cung hình, đó chính là sinh ra ở ẩn cung. Ẩn cung có nghĩa là hoạn quan, hoạn quan chính là người bị thiến, cho nên ẩn cung chính là chỉ người bị qua cung hình.
              Họ Lưu không để lại tên, cũng không rõ năm sinh, dù sao cũng là người sau Từ Quảng đời Hán, trước Trương Thủ Tiết đời Đường, có thể suy đoán là người cuối thời Đông Hán đến thời Đường. Nhưng cho dù như thế nào, người họ Lưu này luôn cho “mấy anh em của Triệu Cao đều sinh ra ở ẩn cung”, câu này đã làm rối quá khứ. Người đời sau cũng không suy xét mà cứ nói theo, dù sao cách giải thích đó có thể mắng Tần Thuỷ Hoàng, có thể chứng minh đế quốc Tần là bạo chính, như thế là đủ rồi.
              Nhưng nếu chúng ta xem xét kĩ, cách giải thích của họ Lưu có vấn đề rất lớn. Tác dụng của cung hình, lúc đầu là để trừng phạt đôi nam nữ có quan hệ tính giao bất chính, về sau phạm vi ứng dụng dần mở rộng, mục đích của nó, một là để anh ta không thể làm loạn quan hệ nam nữ, hai là để anh ta tuyệt hậu. Đối với phụ thân của Triệu Cao, cả hai mục đích đều không đạt được. Mẫu thân của Triệu Cao làm nô ở một nhà quyền quý mà lại không ngừng dã hợp với người khác, sinh ra người con này, rồi lại sinh tiếp người con khác, nhà quan gia nọ có văn minh tiến bộ cũng không thể chấp nhận một nô lệ như thế. Một mục đích khác là tuyệt hậu. Phụ thân của Triệu Cao không chỉ không tuyệt hậu, mà còn sinh ra nhiều người con, lại còn mang họ Triệu, há chẳng phạm thượng sao? Anh muốn khiêu khích hoàng đế à? Khiến anh tuyệt hậu, anh lại để cho hoàng đế thấy rằng “ông tuyệt không nỗi tôi đâu”.
              Đáng buồn cười hơn, đó là theo cách giải thích của họ Lưu, sau khi Triệu Cao bị cung hình, Triệu Cao không bị tuyệt hậu mà còn sinh con cái, một người con gái của Triệu Cao lại được gả cho Hàm Dương lệnh Diêm Lạc 阎乐, tương đương với thị trưởng thủ đô hoặc vệ thú khu tư lệnh. Hàm Dương lệnh Diêm Lạc này, dù không kĩ lưỡng cũng không thể cưới con gái do thái giám mấy đời, quấy loạn mấy đời sinh ra....
              Cách giải thích hoang đường như thế, căn nguyên xuất phát từ sự hiểu lầm 3 chữ “vi hoạn giả” 为宦者 trong Sử kí tập giải của Từ Quảng.
              Căn cứ vào ghi chép trên “Trương Gia Sơn Hán mộ trúc giản” 张家山汉墓竹简 phát hiện được, vào thời Hán “hoạn” chỉ chức vụ nội đình trong cung, “hoạn nhân” 宦人chính là người nhậm chức trong cung, như thị vệ thân cận quân vương. “Hoạn tịch” 宦籍 chính là sổ đăng kí dùng để ghi chép người ra vào cung môn..... (còn tiếp)

                                                                    Huỳnh Chương Hưng
                                                                    Quy Nhơn 18/10/2019

    Nguồn

    Dịch thuật: Câu "Ẩn cung đồ hình giả thất thập dư vạn nhân" giải thích có sự sai lầm

    Đăng lúc  17:23  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    CÂU “ẨN CUNG ĐỒ HÌNH GIẢ THÂT THẬP DƯ VẠN NHÂN”
     GIẢI THÍCH CÓ SỰ SAI LẦM

             Khi phê bình Tần là bạo chính, nhiều người đều dẫn dụng câu trong Tần Thuỷ Hoàng bản kỉ 秦始皇本纪: “Ẩn cung đồ hình giả thất thập dư vạn nhân, nãi phân tác A Bàng cung hoặc tác Li sơn” 隐宫徒刑者七十余万人, 乃分作阿房宫或作骊山. Các chuyên gia nói rằng:
              Bạn thấy đó, xây dựng cung A Bàng và lăng ở Li sơn, dùng 70 vạn người bị cung hình và những tội phạm khác, đó chẳng phải là bạo chính nghiêm hình tuấn pháp sao?
              Có người còn làm như là có thật việc đó mà suy đoán rằng, người bị cung hình chiếm một nửa, có đến 35 vạn người, mà một phần mười cũng đạt đến 7 vạn người, quả là tàn khốc cực độ.
              Nhưng, cách giải thích ấy là sai lầm, vấn đề ở 2 từ “ẩn cung” 隐宫 và “đồ hình” 徒刑.
              Đầu tiên chúng ta xem xét từ “ẩn cung” 隐宫. Đem “ẩn cung” giải thích người bị qua cung hình là bắt đầu từ Sử kí chính nghĩa 史记正义 của Trương Thủ Tiết 张守节 đời Đường:
              Người bị cung hình xong, phải dưỡng 100 ngày ở một căn phòng tối, căn phòng đó gọi là ẩn cung, cũng gọi là “tàm thất” 蚕室, bởi căn phòng nuôi tằm phải tối và thông gió. Cho nên, ẩn cung là chỉ người bị qua cung hình.
              Nhưng cách giải thích này đối với những bài văn khác lại là cách giải thích không thông. Trong Mông Điềm liệt truyện 蒙恬列传 có ghi:
              Triệu Cao 赵高 là thân thuộc ở chi xa trong vương tộc nước Triệu. Triệu Cao có mấy anh em, đều sinh ra ở ẩn cung.
              Nếu nói “ẩn cung” là người bị qua cung hình thì làm sao sinh ra Triệu Cao, hơn nữa không chỉ sinh một người?
              Sai lầm này của Trương Thủ Tiết không hoàn toàn là trách nhiệm của ông ta, đầu mối có thể truy ngược lên Sử kí tập giải 史记集解 của Từ Quảng 徐广 đời Hán, về sau còn có người họ Lưu  từ sai lầm của Sử kí tập giải mà giải thích. Từ Quảng trong Sử kí tập giải giải thích từ “ẩn cung” rằng: “vi hoạn giả” 为宦者. “Vi hoạn giả” có nghĩa là gì? Từ Quảng không giải thích. “Hoạn giả” 宦者 người đời sau lí giải là thái giám. Thái giám thì làm sao có thể sinh ra mấy anh em Triệu Cao? Thế là đời sau đã có người họ Lưu, ra sức giải thông việc thái giám sinh con. Ông ta giải thích rằng:
              Phụ thân của Triệu Cao phạm tội bị cung hình, vợ của ông bị làm quan nô, người này không biết bổn phận của mình đã cùng với người đàn ông khác dã hợp sinh ra Triệu Cao, lại còn sinh ra mấy anh em Triệu Cao, sau khi sinh xong lại đem mấy người con đó cung hình, đó chính là sinh ra ở ẩn cung. Ẩn cung có nghĩa là hoạn quan, hoạn quan chính là người bị thiến, cho nên ẩn cung chính là chỉ người bị qua cung hình.
              Họ Lưu không để lại tên, cũng không rõ năm sinh, dù sao cũng là người sau Từ Quảng đời Hán, trước Trương Thủ Tiết đời Đường, có thể suy đoán là người cuối thời Đông Hán đến thời Đường. Nhưng cho dù như thế nào, người họ Lưu này luôn cho “mấy anh em của Triệu Cao đều sinh ra ở ẩn cung”, câu này đã làm rối quá khứ. Người đời sau cũng không suy xét mà cứ nói theo, dù sao cách giải thích đó có thể mắng Tần Thuỷ Hoàng, có thể chứng minh đế quốc Tần là bạo chính, như thế là đủ rồi.
              Nhưng nếu chúng ta xem xét kĩ, cách giải thích của họ Lưu có vấn đề rất lớn. Tác dụng của cung hình, lúc đầu là để trừng phạt đôi nam nữ có quan hệ tính giao bất chính, về sau phạm vi ứng dụng dần mở rộng, mục đích của nó, một là để anh ta không thể làm loạn quan hệ nam nữ, hai là để anh ta tuyệt hậu. Đối với phụ thân của Triệu Cao, cả hai mục đích đều không đạt được. Mẫu thân của Triệu Cao làm nô ở một nhà quyền quý mà lại không ngừng dã hợp với người khác, sinh ra người con này, rồi lại sinh tiếp người con khác, nhà quan gia nọ có văn minh tiến bộ cũng không thể chấp nhận một nô lệ như thế. Một mục đích khác là tuyệt hậu. Phụ thân của Triệu Cao không chỉ không tuyệt hậu, mà còn sinh ra nhiều người con, lại còn mang họ Triệu, há chẳng phạm thượng sao? Anh muốn khiêu khích hoàng đế à? Khiến anh tuyệt hậu, anh lại để cho hoàng đế thấy rằng “ông tuyệt không nỗi tôi đâu”.
              Đáng buồn cười hơn, đó là theo cách giải thích của họ Lưu, sau khi Triệu Cao bị cung hình, Triệu Cao không bị tuyệt hậu mà còn sinh con cái, một người con gái của Triệu Cao lại được gả cho Hàm Dương lệnh Diêm Lạc 阎乐, tương đương với thị trưởng thủ đô hoặc vệ thú khu tư lệnh. Hàm Dương lệnh Diêm Lạc này, dù không kĩ lưỡng cũng không thể cưới con gái do thái giám mấy đời, quấy loạn mấy đời sinh ra....
              Cách giải thích hoang đường như thế, căn nguyên xuất phát từ sự hiểu lầm 3 chữ “vi hoạn giả” 为宦者 trong Sử kí tập giải của Từ Quảng.
              Căn cứ vào ghi chép trên “Trương Gia Sơn Hán mộ trúc giản” 张家山汉墓竹简 phát hiện được, vào thời Hán “hoạn” chỉ chức vụ nội đình trong cung, “hoạn nhân” 宦人chính là người nhậm chức trong cung, như thị vệ thân cận quân vương. “Hoạn tịch” 宦籍 chính là sổ đăng kí dùng để ghi chép người ra vào cung môn..... (còn tiếp)

                                                                    Huỳnh Chương Hưng
                                                                    Quy Nhơn 18/10/2019

    Nguồn

    Thứ Năm, 17 tháng 10, 2019

    TRONG GIỎ CỦA NGƯ LAM QUÁN ÂM ĐỰNG HUYỀN CƠ GÌ

              Câu chuyện Quán Âm Bồ Tát hoá thân mĩ nữ làm vợ Mã Lang nhân vì tính truyền kì nồng đậm, đã được các văn nhân nhã sĩ dùng làm đề tài sáng tạo, vật đựng trong giỏ chẳng phải là từ bi và trí tuệ tặng cho chúng sinh sao?
    Nguyên mẫu câu chuyện – Toả Cốt Bồ Tát Mã Lang Phụ
              Truyền thuyết kể rằng, khoảng đầu thế kỉ thứ 9, thời Đường Hiến Tông 唐献宗 tại vị, vùng đông bộ Thiểm Tây 陕西 mọi người sinh sống bằng nghề săn bắn, đồng thời cũng chưa tin theo Phật giáo.Có một cô gái trẻ dung mạo xinh đẹp đến nơi này, rao lời rằng:
              - Ta đã đến tuổi để kết hôn, ai có thể trong một đêm thuộc “Phổ môn phẩm” 普门品, ta sẽ bằng lòng lấy người đó.
              Sáng sơm hôm sau, có 22 người được thông qua khảo thí, cô gái không thể nào cùng một lúc lấy nhiều người như thế, bèn nói rằng:
              - Ai trong một ngày mà thuộc “Kim cang kinh” 金刚经, ta sẽ lấy người đó.
              Sang ngày thứ 3, có 13 người được thông qua, cô gái lại yêu cầu họ trong 3 ngày thuộc cả bộ “Pháp hoa kinh” 法华经. Lần này chỉ có Mã Lang 马郎 được thông qua. Thế là Mã Lang đón cô gái về nhà vui mừng chuẩn bị hôn lễ. Nào ngờ trước lúc hoàn thành hôn lễ, cô gái đột nhiên qua đời, thi thể nhanh chóng bốc mùi, Mã Lang vội đem mai táng.
              Mấy ngày sau, có một vị hoà thượng mặc áo bào màu tía đến nơi này, đòi Mã Lang dẫn đi xem phần mộ cô gái. Lúc hoà thượng khai quật mộ, phát hiện huyết nhục của thi thể đã rửa nát hoàn toàn, chỉ còn lại xương do một sợi dây bằng vàng xâu lại. Lão hoà thượng nói với mọi người chung quanh rằng:
    - Cô gái này là thánh nhân thị hiện, mục đích đến nơi này là để giải thoát mọi người thoát li khỏi luân hồi ác nghiệp.
              Nói xong, hoà thượng dùng nước rửa sạch thi thể, buộc vào gậy rồi bay lên không trung đi mất. Từ đó, nhiều cư dân đã tin theo Phật giáo. Còn xương mà do sợi dây bằng vàng xâu lại chính là dấu hiệu của thánh nhân, nhân đó mọi người xưng là “Toả Cốt Bồ Tát” 锁骨菩萨.
             Nguyên mẫu trong câu chuyện, chỉ có chỉ có Mã Lang Phụ 马郎妇, chưa xuất hiện Quán Âm, cũng chưa nói đến giỏ cá, ngay cả địa điểm minh xác của câu chuyện cũng không nói rõ, nhưng thường được mọi người truyền tụng, như thi nhân nổi tiếng Hoàng Đình Kiên 黄庭坚đời Tống có câu:
    Toả cốt Kim Sa than.
    锁骨金沙滩
              Đến Ngư lam bảo quyển 鱼篮宝卷, Ngư Lam Quán Âm 鱼篮观音mới có hình tượng rõ ràng.
    Ngư lam bảo quyển – Cô gái bán cá trên Kim Sa Than
              Bối cảnh của câu chuyện đến từ khu vực duyên hải Giang Tô 江苏đời Tống, thôn Kim Sa Than 金沙滩 sinh sống bằng nghề săn bắn, đánh cá, giết mổ gia súc. Người dân ở đây vô cùng hung ác, cường đạo, giết người, trộm cắp, mọi việc xấu đều làm đã kích nộ Ngọc Hoàng Đại Đế. Ngọc Hoàng Đại Đế đã lệnh cho Đông hải long vương nhấn chìm cả thôn trang, muốn thôn dân xuống thuỷ ngục, vĩnh viễn không được siêu sinh.
              Đương thời Quán Âm là giáo chủ Nam Hải, sau khi biết tin đã khởi lòng thương xót, thỉnh cầu Ngọc Hoàng Đại Đế để sau mấy tháng nữa rồi hãy trừng phạt họ, đồng thời tự nguyện xuống trần đến Kim Sa Than độ hoá. Quán Âm biến thành một cô gái xinh đẹp tay xách giỏ cá đến Kim Sa Than bán cá. Sự việc đó chấn động cả thôn, trong đó một ác bá họ Mã , người này vô cùng giàu có, cảm thấy bị quyến rũ bởi cô gái bán cá, nên quyết định muốn tìm cách cưới cô gái đó.
              Mã Lang 马郎 tìm cách tiếp xúc cô gái, hỏi thăm thân thế. Cô gái nói nguyên nhân đến nay cô vẫn chưa lập gia định là, phát nguyện sẽ lấy một người có thể đọc thuộc Pháp Hoa Kinh 法华经, đồng thời  ăn chay làm việc thiện. Nghe cô gái nói rõ, Mã Lang rất vui mừng, hỏi rằng:
              - Làm gì có thể tìm được bộ kinh đó. Kinh đó sao mà quan trọng vậy?
              Cô gái đáp rằng:
              - Bộ kinh này là báu vật vô giá, có được kinh, nhân thiên đều hoan hỉ, rời xa nỗi khổ địa ngục.
              Còn như làm sao có thể tìm được bộ kinh? Cô gái chỉ vào trong giỏ cá. Hoá ra cô gái đem “Pháp Hoa kinh” cất trong giỏ cá.
              Đàn ông con trai trong thôn biết chuyện, cũng quyết định như Mã Lang, ra sức đọc thuộc kinh điển, học tập Phật pháp, để tranh thủ kết hôn cùng cô gái xinh đẹp. Qua một tháng sau, người trong vẫn đang học thuộc kinh Phật, nhưng kế hoạch cứu độ Kim Sa Than tất phải nhanh tiến hành, nhân đó, cô gái quyết định chọn Mã Lang là người tính tình xấu nhất để thực hiện lời hứa. Cô gái thổi một làn hơi đến Mã Lang, Mã Lang trong phút chốc thần khí trong sáng, không chút do dự đọc thuộc toàn bộ “Pháp Hoa kinh”. Mã Lang được chọn, vô cùng vui mừng chuẩn bị hôn lễ. Không ngờ ngày thành hôn cô gái đột nhiên sinh bệnh. Lúc này, cô gái mới thổ lộ thân phận chân thực của mình là Quán Âm với Mã Lang:
              - Ta đã làm trái ý chỉ của Ngọc Hoàng Đại Đế là muốn nhấn chìm Kim Sa Than, cho nên phải đợi tại phàm trần 3 năm.
              Trước khi mất, cô gái khuyên người trong thôn nên tiếp tục trì tụng bộ kinh này, đồng thời tiếp tục ăn chay, làm việc thiện. Sau đó cô gái qua đời.
              Mã Lang mất cô gái, cực kì đau thương, sau khi an táng cô gái xong, Mã Lang tìm một hoạ sĩ vẽ bức tranh cô gái bán cá, để phụng thờ trong nhà, từ đó, sửa chữa lỗi lầm của mình. Ba năm qua đi, do bởi Mã Lang nhiệt thành truyền bá Phật pháp, cả thôn biến thành một nơi lương thiện. Ngày nọ, Mã Lang nhớ đến cô gái bán cá, nghĩ rằng: Kì hạn 3 năm sắp đến rồi, nàng ấy có thăng thiên không? Ý nghĩ của anh ta làm kinh động đến Quán Âm, giục Quán Âm một lần nữa xuống trần.
              Lần này Quán Âm hoá thành một tăng nhân đến Kim Sa Than tìm cô em họ đã nhiều năm lưu lạc, dung mạo cô em họ đó nghe kể qua rất giống cô gái bán cá. Mã Lang sau khi nghe tin, lại một lần nữa vô cùng đau thương, nói với tăng nhân là cô ấy đã mất. Tăng nhân muốn đi xem thi thể, để xác nhận có phải là cô em họ không. Lại nói, nếu đúng là Quán Âm, thì thân thể kim sắc không hư hại. Ngay lập tức đến phần mộ khai quật mộ để xem, quả thực thân thể cô gái kim sắc, càng không thể tưởng tượng được đó là cô gái bán cá đó đột nhiên sống lại, tay cầm giỏ cá thăng thiên. Mọi người vô cùng kinh ngạc, vị tăng nhân cũng từ từ bay lên không, đứng bên cạnh cô gái và nắm lấy tay cô gái, sau đó cả hai dung hợp làm một thành Quán Âm ngồi ngay ngắn trên mây khai thị mọi người. Quán Âm nói với mọi người sở dĩ hai lần xuống trần là để cứu độ cư dân Kim Sa Than. Nghe qua mấy lời đó, mọi người trong lòng hối hận, đồng thời phát nguyện tuân theo lời dạy của Quán Âm.
              Trong số báu vật truyền gia của Mã Lang, có một khúc gỗ đàn hương. Mã Lang mời người đến căn cứ theo bức hoạ trước đó mà tạc thành tượng, đồng thời khắc thêm giỏ cá, đó chính là nguồn gốc Ngư Lam Quán Âm.
              Câu chuyện Ngư Lam Quán Âm đã khiến bao đời người Trung Quốc cảm động. Nghe qua câu chuyện, chúng ta biết được trong giỏ đó bán thứ gì? Đó là Quán Âm vận dụng mọi phương tiện thiện xảo để giúp mọi người hướng thiện.

                                                                   Huỳnh Chương Hưng
                                                                   Quy Nhơn 17/10/2019
                                        Ngày 19 tháng 9 Kỉ Niệm Quán Âm Bồ Tát xuất gia

    Nguyên tác Trung văn trong
    QUAN ÂM TIỂU BÁCH KHOA
    观音小百科
    Tác giả: Nhan Tố Tuệ 颜素慧
    Trường Sa – Nhạc Lộc thư xã, 2002

    Dịch thuật: Trong giỏ của Ngư Lam Quán Âm đựng huyền cơ gì

    Đăng lúc  17:04  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    TRONG GIỎ CỦA NGƯ LAM QUÁN ÂM ĐỰNG HUYỀN CƠ GÌ

              Câu chuyện Quán Âm Bồ Tát hoá thân mĩ nữ làm vợ Mã Lang nhân vì tính truyền kì nồng đậm, đã được các văn nhân nhã sĩ dùng làm đề tài sáng tạo, vật đựng trong giỏ chẳng phải là từ bi và trí tuệ tặng cho chúng sinh sao?
    Nguyên mẫu câu chuyện – Toả Cốt Bồ Tát Mã Lang Phụ
              Truyền thuyết kể rằng, khoảng đầu thế kỉ thứ 9, thời Đường Hiến Tông 唐献宗 tại vị, vùng đông bộ Thiểm Tây 陕西 mọi người sinh sống bằng nghề săn bắn, đồng thời cũng chưa tin theo Phật giáo.Có một cô gái trẻ dung mạo xinh đẹp đến nơi này, rao lời rằng:
              - Ta đã đến tuổi để kết hôn, ai có thể trong một đêm thuộc “Phổ môn phẩm” 普门品, ta sẽ bằng lòng lấy người đó.
              Sáng sơm hôm sau, có 22 người được thông qua khảo thí, cô gái không thể nào cùng một lúc lấy nhiều người như thế, bèn nói rằng:
              - Ai trong một ngày mà thuộc “Kim cang kinh” 金刚经, ta sẽ lấy người đó.
              Sang ngày thứ 3, có 13 người được thông qua, cô gái lại yêu cầu họ trong 3 ngày thuộc cả bộ “Pháp hoa kinh” 法华经. Lần này chỉ có Mã Lang 马郎 được thông qua. Thế là Mã Lang đón cô gái về nhà vui mừng chuẩn bị hôn lễ. Nào ngờ trước lúc hoàn thành hôn lễ, cô gái đột nhiên qua đời, thi thể nhanh chóng bốc mùi, Mã Lang vội đem mai táng.
              Mấy ngày sau, có một vị hoà thượng mặc áo bào màu tía đến nơi này, đòi Mã Lang dẫn đi xem phần mộ cô gái. Lúc hoà thượng khai quật mộ, phát hiện huyết nhục của thi thể đã rửa nát hoàn toàn, chỉ còn lại xương do một sợi dây bằng vàng xâu lại. Lão hoà thượng nói với mọi người chung quanh rằng:
    - Cô gái này là thánh nhân thị hiện, mục đích đến nơi này là để giải thoát mọi người thoát li khỏi luân hồi ác nghiệp.
              Nói xong, hoà thượng dùng nước rửa sạch thi thể, buộc vào gậy rồi bay lên không trung đi mất. Từ đó, nhiều cư dân đã tin theo Phật giáo. Còn xương mà do sợi dây bằng vàng xâu lại chính là dấu hiệu của thánh nhân, nhân đó mọi người xưng là “Toả Cốt Bồ Tát” 锁骨菩萨.
             Nguyên mẫu trong câu chuyện, chỉ có chỉ có Mã Lang Phụ 马郎妇, chưa xuất hiện Quán Âm, cũng chưa nói đến giỏ cá, ngay cả địa điểm minh xác của câu chuyện cũng không nói rõ, nhưng thường được mọi người truyền tụng, như thi nhân nổi tiếng Hoàng Đình Kiên 黄庭坚đời Tống có câu:
    Toả cốt Kim Sa than.
    锁骨金沙滩
              Đến Ngư lam bảo quyển 鱼篮宝卷, Ngư Lam Quán Âm 鱼篮观音mới có hình tượng rõ ràng.
    Ngư lam bảo quyển – Cô gái bán cá trên Kim Sa Than
              Bối cảnh của câu chuyện đến từ khu vực duyên hải Giang Tô 江苏đời Tống, thôn Kim Sa Than 金沙滩 sinh sống bằng nghề săn bắn, đánh cá, giết mổ gia súc. Người dân ở đây vô cùng hung ác, cường đạo, giết người, trộm cắp, mọi việc xấu đều làm đã kích nộ Ngọc Hoàng Đại Đế. Ngọc Hoàng Đại Đế đã lệnh cho Đông hải long vương nhấn chìm cả thôn trang, muốn thôn dân xuống thuỷ ngục, vĩnh viễn không được siêu sinh.
              Đương thời Quán Âm là giáo chủ Nam Hải, sau khi biết tin đã khởi lòng thương xót, thỉnh cầu Ngọc Hoàng Đại Đế để sau mấy tháng nữa rồi hãy trừng phạt họ, đồng thời tự nguyện xuống trần đến Kim Sa Than độ hoá. Quán Âm biến thành một cô gái xinh đẹp tay xách giỏ cá đến Kim Sa Than bán cá. Sự việc đó chấn động cả thôn, trong đó một ác bá họ Mã , người này vô cùng giàu có, cảm thấy bị quyến rũ bởi cô gái bán cá, nên quyết định muốn tìm cách cưới cô gái đó.
              Mã Lang 马郎 tìm cách tiếp xúc cô gái, hỏi thăm thân thế. Cô gái nói nguyên nhân đến nay cô vẫn chưa lập gia định là, phát nguyện sẽ lấy một người có thể đọc thuộc Pháp Hoa Kinh 法华经, đồng thời  ăn chay làm việc thiện. Nghe cô gái nói rõ, Mã Lang rất vui mừng, hỏi rằng:
              - Làm gì có thể tìm được bộ kinh đó. Kinh đó sao mà quan trọng vậy?
              Cô gái đáp rằng:
              - Bộ kinh này là báu vật vô giá, có được kinh, nhân thiên đều hoan hỉ, rời xa nỗi khổ địa ngục.
              Còn như làm sao có thể tìm được bộ kinh? Cô gái chỉ vào trong giỏ cá. Hoá ra cô gái đem “Pháp Hoa kinh” cất trong giỏ cá.
              Đàn ông con trai trong thôn biết chuyện, cũng quyết định như Mã Lang, ra sức đọc thuộc kinh điển, học tập Phật pháp, để tranh thủ kết hôn cùng cô gái xinh đẹp. Qua một tháng sau, người trong vẫn đang học thuộc kinh Phật, nhưng kế hoạch cứu độ Kim Sa Than tất phải nhanh tiến hành, nhân đó, cô gái quyết định chọn Mã Lang là người tính tình xấu nhất để thực hiện lời hứa. Cô gái thổi một làn hơi đến Mã Lang, Mã Lang trong phút chốc thần khí trong sáng, không chút do dự đọc thuộc toàn bộ “Pháp Hoa kinh”. Mã Lang được chọn, vô cùng vui mừng chuẩn bị hôn lễ. Không ngờ ngày thành hôn cô gái đột nhiên sinh bệnh. Lúc này, cô gái mới thổ lộ thân phận chân thực của mình là Quán Âm với Mã Lang:
              - Ta đã làm trái ý chỉ của Ngọc Hoàng Đại Đế là muốn nhấn chìm Kim Sa Than, cho nên phải đợi tại phàm trần 3 năm.
              Trước khi mất, cô gái khuyên người trong thôn nên tiếp tục trì tụng bộ kinh này, đồng thời tiếp tục ăn chay, làm việc thiện. Sau đó cô gái qua đời.
              Mã Lang mất cô gái, cực kì đau thương, sau khi an táng cô gái xong, Mã Lang tìm một hoạ sĩ vẽ bức tranh cô gái bán cá, để phụng thờ trong nhà, từ đó, sửa chữa lỗi lầm của mình. Ba năm qua đi, do bởi Mã Lang nhiệt thành truyền bá Phật pháp, cả thôn biến thành một nơi lương thiện. Ngày nọ, Mã Lang nhớ đến cô gái bán cá, nghĩ rằng: Kì hạn 3 năm sắp đến rồi, nàng ấy có thăng thiên không? Ý nghĩ của anh ta làm kinh động đến Quán Âm, giục Quán Âm một lần nữa xuống trần.
              Lần này Quán Âm hoá thành một tăng nhân đến Kim Sa Than tìm cô em họ đã nhiều năm lưu lạc, dung mạo cô em họ đó nghe kể qua rất giống cô gái bán cá. Mã Lang sau khi nghe tin, lại một lần nữa vô cùng đau thương, nói với tăng nhân là cô ấy đã mất. Tăng nhân muốn đi xem thi thể, để xác nhận có phải là cô em họ không. Lại nói, nếu đúng là Quán Âm, thì thân thể kim sắc không hư hại. Ngay lập tức đến phần mộ khai quật mộ để xem, quả thực thân thể cô gái kim sắc, càng không thể tưởng tượng được đó là cô gái bán cá đó đột nhiên sống lại, tay cầm giỏ cá thăng thiên. Mọi người vô cùng kinh ngạc, vị tăng nhân cũng từ từ bay lên không, đứng bên cạnh cô gái và nắm lấy tay cô gái, sau đó cả hai dung hợp làm một thành Quán Âm ngồi ngay ngắn trên mây khai thị mọi người. Quán Âm nói với mọi người sở dĩ hai lần xuống trần là để cứu độ cư dân Kim Sa Than. Nghe qua mấy lời đó, mọi người trong lòng hối hận, đồng thời phát nguyện tuân theo lời dạy của Quán Âm.
              Trong số báu vật truyền gia của Mã Lang, có một khúc gỗ đàn hương. Mã Lang mời người đến căn cứ theo bức hoạ trước đó mà tạc thành tượng, đồng thời khắc thêm giỏ cá, đó chính là nguồn gốc Ngư Lam Quán Âm.
              Câu chuyện Ngư Lam Quán Âm đã khiến bao đời người Trung Quốc cảm động. Nghe qua câu chuyện, chúng ta biết được trong giỏ đó bán thứ gì? Đó là Quán Âm vận dụng mọi phương tiện thiện xảo để giúp mọi người hướng thiện.

                                                                   Huỳnh Chương Hưng
                                                                   Quy Nhơn 17/10/2019
                                        Ngày 19 tháng 9 Kỉ Niệm Quán Âm Bồ Tát xuất gia

    Nguyên tác Trung văn trong
    QUAN ÂM TIỂU BÁCH KHOA
    观音小百科
    Tác giả: Nhan Tố Tuệ 颜素慧
    Trường Sa – Nhạc Lộc thư xã, 2002

    CHỮ “QUÁ / QUA”
    过  過
    Bính âm guo (thanh điệu 4)

    6 nét
    11 nét

    1- Từ một địa điểm hoặc thời gian di chuyển đến một địa điểm khắc hoặc thời gian khác; kinh qua một không gian hoặc thời gian nào đó.
              Quá lai 过来 / quá khứ 过去 / quá kiều 过桥 / quá niên 过年.
    2- Từ chỗ A chuyển đến chỗ B
              Quá hộ 过户 / quá trướng 过账.
    3- Làm cho kinh qua (một cách xử lí nào đó)
              Quá lự 过滤 / quá bàng 过磅.
    4- Vượt qua (phạm vi hoặc trình độ nào đó)
              Quá lượng 过量 / quá độ 过度 / quá phận 过分 / việt quá 越过 / khóa quá 跨过 / phi quá 飞过.
    5- Nhân vì sơ suất mà phạm sai lầm
              Quá thác 过错 / công quá 功过 / kí quá 记过 / cải quá 改过 / bế môn tư quá 闭门思过.
    6- Dùng sau động từ thêm chữ , biểu thị hơn hoặc thông qua
              Đả đắc quá tha 打得过他 / tin đắc quá tha 信得过他.
    7- Dùng sau động từ, biểu thị hoàn tất, kết quả
              Ngật quá phạn tái khứ 吃过饭再去 / đào hoa dĩ kinh khai quá liễu 桃花已经开过了.
    8- Dùng sau động từ, biểu thị từng phát sinh
              Đáo quá Hương Cảng 到过香港 / đắc quá phế kết hạch 得过肺结核.

    Thuyết giải
              Chữ bộ , kết cấu nửa dưới bên trái bao vây. Chữ là chữ khải hoá từ thảo thư, dùng chữ thay cho chữ . Trong Tạp kịch 杂剧, Thái Bình nhạc phủ 太平乐府 bản san khắc đời Nguyên và bản san khắc đời Minh Thanh thường thấy.
              Chữ có thể dùng làm thiên bàng giản hoá, như / (qua).
    Với nét nghĩa ở hai mục 7 và 8, thì chữ đọc thanh nhẹ (âm Hán Việt: "qua").

                                                          Huỳnh Chương Hưng
                                                          Quy Nhơn 16/10/2019

    Nguồn
    GIẢN HOÁ TỰ, PHỒN THỂ TỰ ĐỐI CHIẾU TỰ ĐIỂN
    简化字繁体字对照字典
    Chủ biên: Giang Lam Sinh 江蓝生, Lục Tôn Ngô 陆尊梧
    Thượng Hải – Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 1998

    Dịch thuật: Chữ "Quá / Qua" (Đối chiếu tự điển)

    Đăng lúc  09:39  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    CHỮ “QUÁ / QUA”
    过  過
    Bính âm guo (thanh điệu 4)

    6 nét
    11 nét

    1- Từ một địa điểm hoặc thời gian di chuyển đến một địa điểm khắc hoặc thời gian khác; kinh qua một không gian hoặc thời gian nào đó.
              Quá lai 过来 / quá khứ 过去 / quá kiều 过桥 / quá niên 过年.
    2- Từ chỗ A chuyển đến chỗ B
              Quá hộ 过户 / quá trướng 过账.
    3- Làm cho kinh qua (một cách xử lí nào đó)
              Quá lự 过滤 / quá bàng 过磅.
    4- Vượt qua (phạm vi hoặc trình độ nào đó)
              Quá lượng 过量 / quá độ 过度 / quá phận 过分 / việt quá 越过 / khóa quá 跨过 / phi quá 飞过.
    5- Nhân vì sơ suất mà phạm sai lầm
              Quá thác 过错 / công quá 功过 / kí quá 记过 / cải quá 改过 / bế môn tư quá 闭门思过.
    6- Dùng sau động từ thêm chữ , biểu thị hơn hoặc thông qua
              Đả đắc quá tha 打得过他 / tin đắc quá tha 信得过他.
    7- Dùng sau động từ, biểu thị hoàn tất, kết quả
              Ngật quá phạn tái khứ 吃过饭再去 / đào hoa dĩ kinh khai quá liễu 桃花已经开过了.
    8- Dùng sau động từ, biểu thị từng phát sinh
              Đáo quá Hương Cảng 到过香港 / đắc quá phế kết hạch 得过肺结核.

    Thuyết giải
              Chữ bộ , kết cấu nửa dưới bên trái bao vây. Chữ là chữ khải hoá từ thảo thư, dùng chữ thay cho chữ . Trong Tạp kịch 杂剧, Thái Bình nhạc phủ 太平乐府 bản san khắc đời Nguyên và bản san khắc đời Minh Thanh thường thấy.
              Chữ có thể dùng làm thiên bàng giản hoá, như / (qua).
    Với nét nghĩa ở hai mục 7 và 8, thì chữ đọc thanh nhẹ (âm Hán Việt: "qua").

                                                          Huỳnh Chương Hưng
                                                          Quy Nhơn 16/10/2019

    Nguồn
    GIẢN HOÁ TỰ, PHỒN THỂ TỰ ĐỐI CHIẾU TỰ ĐIỂN
    简化字繁体字对照字典
    Chủ biên: Giang Lam Sinh 江蓝生, Lục Tôn Ngô 陆尊梧
    Thượng Hải – Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 1998

    Thứ Ba, 15 tháng 10, 2019

    THIÊN LA ĐỊA VÕNG
    天罗地网
    LƯỚI TRỜI LƯỚI ĐẤT

    Giải thích: lưới giăng la liệt trên trời dưới đất. Ví trên dưới trái phải đều bao vây nghiêm mật, khiến cho người bị bao vây không thể nào thoát được.
    Xuất xứ: Nguyên . Quan Hán Khanh 关汉卿: Đơn đao hội 单刀会.

              Năm 210, Lưu Bị 刘备 đến Kinh Khẩu 京口, hướng đến Tôn Quyền 孙权 mượn Kinh Châu 荆州 làm nơi đứng chân lâm thời. Chu Du 周瑜 ra sức chủ trương bắt giữ cả nhóm Lưu Bị. Lỗ Túc 鲁肃 lại chủ trương đem Kinh Châu cho Lưu Bị mượn, để Tào Tháo 曹操có thêm một kẻ địch. Tôn Quyền tiếp nhận kiến nghị của Lỗ Túc.
              Tôn Quyền cho Lưu Bị mượn Kinh Châu, là kết quả hai bên hỗ tương lợi dụng trước mặt kẻ địch chung lớn mạnh là Tào Tháo, Tôn Quyền không nghĩ đến việc “mượn” trường kì, Lưu Bị cũng không muốn dễ dàng trả lại. Sau trận chiến Xích Bích 赤壁, thế lực của Tào Tháo tạm thời lui về phương bắc, Kinh Châu trong tay Lưu Bị, bắc tiến đến Hà Nam 河南, có thể truy kích Tào Tháo; thuận dòng xuống phía đông thì có thể trực tiếp chống lại Đông Ngô, đó là điều mà Tôn Quyền không muốn.
              Năm 215, Tôn Quyền phái sứ giả đi gặp Lưu Bị, yêu cầu trả lại Kinh Châu. Lưu Bị lấy lí do sau khi đoạt lấy Lương Châu 凉州 mới trả nên đã cự tuyệt. Lúc bấy giờ, Lưu Bị muốn chiếm cứ Ích Châu 益州, bèn để Quan Vũ 关羽 đem binh trấn giữ Kinh Châu. Tôn Quyền bái Lỗ Túc làm Phấn vũ hiệu uý 奋武校尉, đem binh đồn trú Lục Khẩu 陆口, sau đó dời binh đến Ích Dương 益阳, cách sông ở thế giằng co với Quan Vũ đang trấn thủ Kinh Châu, hai bên đều như hổ nhìn chằm chằm. Lỗ Túc phái người qua sông đưa thư cho Quan Vũ, mời Quan Vũ đến dinh trung dự yến, dự tính trong buổi tiệc sẽ yêu cầu Quan Vũ trả Kinh Châu. Nếu mềm mỏng không có hiệu quả thì sẽ cứng rắn.
              Quan Vũ biết rõ kế đó, nhưng để cho Lỗ Túc không nắm được cán, Quan Vũ không quan tâm đến sự phản đối của chúng tướng, dẫn vệ binh, đơn đao phó hội.
              Trong vở kịch, Quan Hán Khanh miêu tả cảnh yến hội là:
              Lỗ Túc “sắp đặt việc bắt phụng bắt rồng, chuẩn bị thiên la địa võng, nói là yến tiệc đãi khách, nhưng thực chất là chiến trường sát nhân.”
              Quan Vũ cuối cùng đã thoát thân được an toàn.

                                                             Huỳnh Chương Hưng
                                                 Quy Nhơn 15/10/2019

    Nguyên tác Trung văn
    THIÊN LA ĐỊA VÕNG
    天罗地网
    TRUNG QUỐC THÀNH NGỮ CỐ SỰ TỔNG TẬP
    中国成语故事总集
    (tập 1)
    Chủ biên: Đường Kì 唐麒
    Trường Xuân – Thời đại văn nghệ xuất bản xã, 2004

    Dịch thuật: Thiên la địa võng (thành ngữ)

    Đăng lúc  18:15  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    THIÊN LA ĐỊA VÕNG
    天罗地网
    LƯỚI TRỜI LƯỚI ĐẤT

    Giải thích: lưới giăng la liệt trên trời dưới đất. Ví trên dưới trái phải đều bao vây nghiêm mật, khiến cho người bị bao vây không thể nào thoát được.
    Xuất xứ: Nguyên . Quan Hán Khanh 关汉卿: Đơn đao hội 单刀会.

              Năm 210, Lưu Bị 刘备 đến Kinh Khẩu 京口, hướng đến Tôn Quyền 孙权 mượn Kinh Châu 荆州 làm nơi đứng chân lâm thời. Chu Du 周瑜 ra sức chủ trương bắt giữ cả nhóm Lưu Bị. Lỗ Túc 鲁肃 lại chủ trương đem Kinh Châu cho Lưu Bị mượn, để Tào Tháo 曹操có thêm một kẻ địch. Tôn Quyền tiếp nhận kiến nghị của Lỗ Túc.
              Tôn Quyền cho Lưu Bị mượn Kinh Châu, là kết quả hai bên hỗ tương lợi dụng trước mặt kẻ địch chung lớn mạnh là Tào Tháo, Tôn Quyền không nghĩ đến việc “mượn” trường kì, Lưu Bị cũng không muốn dễ dàng trả lại. Sau trận chiến Xích Bích 赤壁, thế lực của Tào Tháo tạm thời lui về phương bắc, Kinh Châu trong tay Lưu Bị, bắc tiến đến Hà Nam 河南, có thể truy kích Tào Tháo; thuận dòng xuống phía đông thì có thể trực tiếp chống lại Đông Ngô, đó là điều mà Tôn Quyền không muốn.
              Năm 215, Tôn Quyền phái sứ giả đi gặp Lưu Bị, yêu cầu trả lại Kinh Châu. Lưu Bị lấy lí do sau khi đoạt lấy Lương Châu 凉州 mới trả nên đã cự tuyệt. Lúc bấy giờ, Lưu Bị muốn chiếm cứ Ích Châu 益州, bèn để Quan Vũ 关羽 đem binh trấn giữ Kinh Châu. Tôn Quyền bái Lỗ Túc làm Phấn vũ hiệu uý 奋武校尉, đem binh đồn trú Lục Khẩu 陆口, sau đó dời binh đến Ích Dương 益阳, cách sông ở thế giằng co với Quan Vũ đang trấn thủ Kinh Châu, hai bên đều như hổ nhìn chằm chằm. Lỗ Túc phái người qua sông đưa thư cho Quan Vũ, mời Quan Vũ đến dinh trung dự yến, dự tính trong buổi tiệc sẽ yêu cầu Quan Vũ trả Kinh Châu. Nếu mềm mỏng không có hiệu quả thì sẽ cứng rắn.
              Quan Vũ biết rõ kế đó, nhưng để cho Lỗ Túc không nắm được cán, Quan Vũ không quan tâm đến sự phản đối của chúng tướng, dẫn vệ binh, đơn đao phó hội.
              Trong vở kịch, Quan Hán Khanh miêu tả cảnh yến hội là:
              Lỗ Túc “sắp đặt việc bắt phụng bắt rồng, chuẩn bị thiên la địa võng, nói là yến tiệc đãi khách, nhưng thực chất là chiến trường sát nhân.”
              Quan Vũ cuối cùng đã thoát thân được an toàn.

                                                             Huỳnh Chương Hưng
                                                 Quy Nhơn 15/10/2019

    Nguyên tác Trung văn
    THIÊN LA ĐỊA VÕNG
    天罗地网
    TRUNG QUỐC THÀNH NGỮ CỐ SỰ TỔNG TẬP
    中国成语故事总集
    (tập 1)
    Chủ biên: Đường Kì 唐麒
    Trường Xuân – Thời đại văn nghệ xuất bản xã, 2004

    Thứ Hai, 14 tháng 10, 2019

    “KHANH NHO” LÀ TRẬN BÃO DẸP TRỪ HỦ BẠI
    TRỪNG TRỊ THAM Ô

              Tham ô nhận hối lộ thì từ xưa đã có. Quan lại nước Triệu nhận hối lộ của Lã Bất Vi 吕不韦 với số lượng lớn, mới đem Tần công tử là Dị Nhân 异人 đưa đến Hàm Đan 邯郸. Ra tay trừng trị tham hô hủ bại, sử ghi chép rõ người đầu tiên là Tần Thuỷ Hoàng 秦始皇. Đó chính là sự kiện chôn sống bọn thuật sĩ vào năm Tần Thuỷ Hoàng thứ 35, người đời sau gọi là “khanh nho” 坑儒.
              Nói đến “khanh nho” mọi người đều liên tưởng đến việc huỷ diệt văn hoá, giết hại người có học. Kì thực đó là một sai lầm to lớn ngang bằng trời. Khanh nho không phải nhân vì có người viết thư mắng Tần Thuỷ Hoàng, cũng không phải nhân vì người có học phát biểu ý kiến bất đồng mà gây ra. “Khanh nho” là bởi vì một nhóm thuật sĩ tham ô kinh phí nghiên cứu khoa học của triều đình, là xử phạt bọn phạm tội tham ô, là Tần Thuỷ Hoàng theo pháp luật dấy lên một trận bão dẹp trừ hủ bại. Điều đáng ghét là, văn nhân từ sau đời Hán muốn tranh thủ tự do ngôn luận mà không dám bèn “di hoa tiếp mộc” 移花接木 (1), “chỉ tang mạ hoè” 指桑骂槐 (2). Văn nhân, chuyên gia đời sau cũng không động não chỉ lấy ngoa truyền ngoa, việc không đúng sự thực biến thành chân lí, quả thực đáng buồn đáng than.
              Kì thực, chỉ cần đọc kĩ Sử kí 史记, không khó để chúng ta đưa ra kết luận:
    Thứ 1: Phát sinh sự kiện “khanh nho”, không phải bởi vì người có học đề xuất ý kiến khác với Tần Thuỷ Hoàng hoặc người có học truyền bá học thuyết của mình, mà bởi vì thuật sĩ Hầu Sinh 侯生, Lư Sinh 卢生 mượn danh nghĩa nghiên cứu thuốc trường sinh bất lão mà biển thủ một số lượng lớn tiền của quốc gia, sau đó dùng số tiền ấy để kiếm lời, tiêu xài phung phí, cuối cùng ôm số tiền đó bỏ trốn (Kim văn Hàn chúng khứ bất báo, Từ Thị đẳng phí dĩ cự vạn kế, chung bất đắc dược, đồ gian lợi tương cáo nhật văn 今闻韩众去不报, 徐市等费以巨万计, 终不得药, 徒姦利相告日闻 Nay nghe Hàn Chúng bỏ đi không báo, bọn Từ Thị lãng phí số tiền lớn hàng vạn mà cuối cùng không có được thuốc, hàng ngày chỉ nghe thấy bọn chúng tố nhau mưu cầu tư lợi.). Chú ý 2 chữ “gian lợi” trong đó, đó chính là mưu lợi một cách phi pháp.
    Thứ 2: Người mà Tần Thuỷ Hoàng tức giận xử trí là những môn khách theo Hầu Sinh, Lư Sinh và người tham gia vào việc biển thủ tiền, là những kẻ mưu lợi phi pháp, mà không phải là nho sinh, người đi học thông thường (phương sĩ dục luyện dĩ cầu kì dược – 方士欲练以求奇药 - bọn phương sĩ mưu đồ luyện đan để cầu tiên dược)
    Thứ 3: Tần Thuỷ Hoàng là người dựa theo pháp luật mà làm việc, ông đem những án kiện giao cho quan lại có liên quan thẩm tra xử lí, chứ không phải một mình độc đoán (ư thị sử Ngự sử tất án vấn chư sinh於是使御史悉案问诸生thế là sai Ngự sử thẩm vấn toàn bộ nho sinh).
    Thứ 4: Quan viên theo pháp luật điều tra bọn Lư Sinh. Bọn người này, có kẻ biển thủ kinh phí nghiên cứu, mưu lợi phi pháp chứng cứ đã rõ ràng. Và để lập công đới tội, những kẻ chưa tham gia phạm tội mong được thanh bạch, bèn tố cáo lẫn nhau. Thế là triều đình theo pháp luật bắt hơn 460 người vi phạm, Tần Thuỷ Hoàng phê chuẩn xử tử, đem chôn sống ở Hàm Dương, kẻ vô tội không truy cứu (chư sinh truyền tương cáo dẫn, nãi tự trừ phạm cấm giả tứ bách lục thập dư nhân giai khanh chi Hàm Dương - 诸生传相告引, 乃自除犯禁者百六十余人, 皆坑之咸阳).
    Thứ 5: Người mà Tần Thuỷ Hoàng giết không phải là người có học, mà là thuật sĩ biển thủ tiền của của quốc gia, tham ô kinh phí với số lượng lớn, cho dù nho sinh có học, hoặc vương tử trong số đó phạm pháp cũng đồng tội như thứ dân, nho sinh có học cũng không ngoại lệ.
    Thứ 6: Bọn thuật sĩ tham ô kinh phí nghiên cứu của nhà nước có đáng giết không? Đáng giết. Bất luận là triều đại nào cũng đều giết, cho dù là ngày nay hiện đại văn minh. Một số quốc gia phương tây phế bỏ tử hình, nhưng đối với loại tội phạm này, có lẽ cũng phải xử phạt hình phạt cao nhất, giam chung thân, thì Tần Thuỷ Hoàng diệt trừ hủ bại có tội gì?
    Thứ 7: Tần Thuỷ Hoàng cũng chưa trảm tận sát tuyệt đối với bọn thuật sĩ, mà là khu biệt ra để đối xử. Đối với những thuật sĩ không phạm tội, cho phép họ tiếp tục theo hoạt động nghiên cứu, chưa cấm chỉ toàn bộ. Như Từ Thị là người bị Tần Thuỷ Hoàng trách mắng, nhưng Tần Thuỷ Hoàng lại không hạ lệnh xử phạt Từ Thị. Năm thứ 37, khi Tần Thuỷ Hoàng đi tuần về phía đông, lại triệu kiến Từ Thị, đồng thời không gia thêm xử phạt đối với việc Từ Thị hao phí tiền của với một số lượng lớn trong việc ra biển tìm tiên dược mà không có một chút kết quả nào. Từ đó có thể thấy, hành động “khanh thuật sĩ” của Tần Thuỷ Hoàng không phải là nhất loạt hồ đồ đơn giản mà luận được. Nào là phạm tội, nào là nghiên cứu không hiệu quả, phân biệt một cách rõ ràng, vị hoàng đế như thế xưa nay ít có.
    Thứ 8: Tần Thuỷ Hoàng có cần phải vận dụng kinh phí quốc gia để tìm thuốc trường sinh? Cần. Hi vọng sống thọ trăm tuổi là thường tình của con người. Cho dù là hiện nay, vừa nghe nói đến thuốc nào có thể kéo dài tuổi thọ là đại quan bách tính không phải chạy theo như vịt sao? Nếu không có những tìm tòi không mệt mỏi của các đời, thì chúng ta ngày nay làm sao có được một nền Trung y Trung dược bác đại tinh thông?
              Có một điểm cần phải đặc biệt nói rõ: “thuật sĩ” trong con mắt người hiện nay, tựa hồ như là từ đồng nghĩa với việc giả thần náo quỷ, lường gạt mọi người. Nhân đó, người tin và chấp nhận thuật sĩ liền bị cho là ngu muội vô tri. Kì thực không phải như thế. Việc nghiên cứu khoa học ở thời kì đầu của nhân loại, dường như đều bắt nguồn từ một nhóm người đại loại như thuật sĩ. Thiên văn học, y học, sinh vật học, dã kim, hoá học v.v... khởi đầu có thể là giả thần náo quỷ, nhưng dần dần sản sinh ra khoa học. Thuật luyện kim và thuật luyện đan sản sinh vào lúc luyện kim và hoá học ở vào giai đoạn tảo kì; vu sư chiêm bốc đối với sự sùng bái thượng thiên đã sản sinh ra thiên văn học; hi vọng trường sinh bất lão đã sản sinh ra y học và sinh vật học.
              Có thể hay không thể chấp nhận thứ mà bản thân mình không hiểu, có thể hay không thể trong cơn thịnh nộ mà đầu óc vẫn tỉnh táo dựa theo pháp luật để hành sự, đã thể hiện lòng dạ và khí độ của một quân vương. Năm Tần Thuỷ Hoàng thứ 35 dẹp trừ hủ bại khanh sát tham ô phạm tội, hoàn toàn không diễn biến thành cuộc thủ tiêu và đồ sát đối với cả giai tầng thuật sĩ, đó chính là một việc làm khá giỏi. 

    Chú của người dịch
    1- Di hoa tiếp mộc 移花接木: Đem cành cây có hoa ghép vào một cây khác, ví với việc ngầm thay đổi người hoặc vật.
    2- Chỉ tang mạ hoè 指桑骂槐: chỉ cây dâu mắng cây hoè, chỉ gà mắng chó.

                                                                            Huỳnh Chương Hưng
                                                                            Quy Nhơn 14/10/2019

    Nguồn

    Dịch thuật: "Khanh nho" là trận bão dẹp trừ hủ bại, trừng trị tham ô

    Đăng lúc  17:58  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    “KHANH NHO” LÀ TRẬN BÃO DẸP TRỪ HỦ BẠI
    TRỪNG TRỊ THAM Ô

              Tham ô nhận hối lộ thì từ xưa đã có. Quan lại nước Triệu nhận hối lộ của Lã Bất Vi 吕不韦 với số lượng lớn, mới đem Tần công tử là Dị Nhân 异人 đưa đến Hàm Đan 邯郸. Ra tay trừng trị tham hô hủ bại, sử ghi chép rõ người đầu tiên là Tần Thuỷ Hoàng 秦始皇. Đó chính là sự kiện chôn sống bọn thuật sĩ vào năm Tần Thuỷ Hoàng thứ 35, người đời sau gọi là “khanh nho” 坑儒.
              Nói đến “khanh nho” mọi người đều liên tưởng đến việc huỷ diệt văn hoá, giết hại người có học. Kì thực đó là một sai lầm to lớn ngang bằng trời. Khanh nho không phải nhân vì có người viết thư mắng Tần Thuỷ Hoàng, cũng không phải nhân vì người có học phát biểu ý kiến bất đồng mà gây ra. “Khanh nho” là bởi vì một nhóm thuật sĩ tham ô kinh phí nghiên cứu khoa học của triều đình, là xử phạt bọn phạm tội tham ô, là Tần Thuỷ Hoàng theo pháp luật dấy lên một trận bão dẹp trừ hủ bại. Điều đáng ghét là, văn nhân từ sau đời Hán muốn tranh thủ tự do ngôn luận mà không dám bèn “di hoa tiếp mộc” 移花接木 (1), “chỉ tang mạ hoè” 指桑骂槐 (2). Văn nhân, chuyên gia đời sau cũng không động não chỉ lấy ngoa truyền ngoa, việc không đúng sự thực biến thành chân lí, quả thực đáng buồn đáng than.
              Kì thực, chỉ cần đọc kĩ Sử kí 史记, không khó để chúng ta đưa ra kết luận:
    Thứ 1: Phát sinh sự kiện “khanh nho”, không phải bởi vì người có học đề xuất ý kiến khác với Tần Thuỷ Hoàng hoặc người có học truyền bá học thuyết của mình, mà bởi vì thuật sĩ Hầu Sinh 侯生, Lư Sinh 卢生 mượn danh nghĩa nghiên cứu thuốc trường sinh bất lão mà biển thủ một số lượng lớn tiền của quốc gia, sau đó dùng số tiền ấy để kiếm lời, tiêu xài phung phí, cuối cùng ôm số tiền đó bỏ trốn (Kim văn Hàn chúng khứ bất báo, Từ Thị đẳng phí dĩ cự vạn kế, chung bất đắc dược, đồ gian lợi tương cáo nhật văn 今闻韩众去不报, 徐市等费以巨万计, 终不得药, 徒姦利相告日闻 Nay nghe Hàn Chúng bỏ đi không báo, bọn Từ Thị lãng phí số tiền lớn hàng vạn mà cuối cùng không có được thuốc, hàng ngày chỉ nghe thấy bọn chúng tố nhau mưu cầu tư lợi.). Chú ý 2 chữ “gian lợi” trong đó, đó chính là mưu lợi một cách phi pháp.
    Thứ 2: Người mà Tần Thuỷ Hoàng tức giận xử trí là những môn khách theo Hầu Sinh, Lư Sinh và người tham gia vào việc biển thủ tiền, là những kẻ mưu lợi phi pháp, mà không phải là nho sinh, người đi học thông thường (phương sĩ dục luyện dĩ cầu kì dược – 方士欲练以求奇药 - bọn phương sĩ mưu đồ luyện đan để cầu tiên dược)
    Thứ 3: Tần Thuỷ Hoàng là người dựa theo pháp luật mà làm việc, ông đem những án kiện giao cho quan lại có liên quan thẩm tra xử lí, chứ không phải một mình độc đoán (ư thị sử Ngự sử tất án vấn chư sinh於是使御史悉案问诸生thế là sai Ngự sử thẩm vấn toàn bộ nho sinh).
    Thứ 4: Quan viên theo pháp luật điều tra bọn Lư Sinh. Bọn người này, có kẻ biển thủ kinh phí nghiên cứu, mưu lợi phi pháp chứng cứ đã rõ ràng. Và để lập công đới tội, những kẻ chưa tham gia phạm tội mong được thanh bạch, bèn tố cáo lẫn nhau. Thế là triều đình theo pháp luật bắt hơn 460 người vi phạm, Tần Thuỷ Hoàng phê chuẩn xử tử, đem chôn sống ở Hàm Dương, kẻ vô tội không truy cứu (chư sinh truyền tương cáo dẫn, nãi tự trừ phạm cấm giả tứ bách lục thập dư nhân giai khanh chi Hàm Dương - 诸生传相告引, 乃自除犯禁者百六十余人, 皆坑之咸阳).
    Thứ 5: Người mà Tần Thuỷ Hoàng giết không phải là người có học, mà là thuật sĩ biển thủ tiền của của quốc gia, tham ô kinh phí với số lượng lớn, cho dù nho sinh có học, hoặc vương tử trong số đó phạm pháp cũng đồng tội như thứ dân, nho sinh có học cũng không ngoại lệ.
    Thứ 6: Bọn thuật sĩ tham ô kinh phí nghiên cứu của nhà nước có đáng giết không? Đáng giết. Bất luận là triều đại nào cũng đều giết, cho dù là ngày nay hiện đại văn minh. Một số quốc gia phương tây phế bỏ tử hình, nhưng đối với loại tội phạm này, có lẽ cũng phải xử phạt hình phạt cao nhất, giam chung thân, thì Tần Thuỷ Hoàng diệt trừ hủ bại có tội gì?
    Thứ 7: Tần Thuỷ Hoàng cũng chưa trảm tận sát tuyệt đối với bọn thuật sĩ, mà là khu biệt ra để đối xử. Đối với những thuật sĩ không phạm tội, cho phép họ tiếp tục theo hoạt động nghiên cứu, chưa cấm chỉ toàn bộ. Như Từ Thị là người bị Tần Thuỷ Hoàng trách mắng, nhưng Tần Thuỷ Hoàng lại không hạ lệnh xử phạt Từ Thị. Năm thứ 37, khi Tần Thuỷ Hoàng đi tuần về phía đông, lại triệu kiến Từ Thị, đồng thời không gia thêm xử phạt đối với việc Từ Thị hao phí tiền của với một số lượng lớn trong việc ra biển tìm tiên dược mà không có một chút kết quả nào. Từ đó có thể thấy, hành động “khanh thuật sĩ” của Tần Thuỷ Hoàng không phải là nhất loạt hồ đồ đơn giản mà luận được. Nào là phạm tội, nào là nghiên cứu không hiệu quả, phân biệt một cách rõ ràng, vị hoàng đế như thế xưa nay ít có.
    Thứ 8: Tần Thuỷ Hoàng có cần phải vận dụng kinh phí quốc gia để tìm thuốc trường sinh? Cần. Hi vọng sống thọ trăm tuổi là thường tình của con người. Cho dù là hiện nay, vừa nghe nói đến thuốc nào có thể kéo dài tuổi thọ là đại quan bách tính không phải chạy theo như vịt sao? Nếu không có những tìm tòi không mệt mỏi của các đời, thì chúng ta ngày nay làm sao có được một nền Trung y Trung dược bác đại tinh thông?
              Có một điểm cần phải đặc biệt nói rõ: “thuật sĩ” trong con mắt người hiện nay, tựa hồ như là từ đồng nghĩa với việc giả thần náo quỷ, lường gạt mọi người. Nhân đó, người tin và chấp nhận thuật sĩ liền bị cho là ngu muội vô tri. Kì thực không phải như thế. Việc nghiên cứu khoa học ở thời kì đầu của nhân loại, dường như đều bắt nguồn từ một nhóm người đại loại như thuật sĩ. Thiên văn học, y học, sinh vật học, dã kim, hoá học v.v... khởi đầu có thể là giả thần náo quỷ, nhưng dần dần sản sinh ra khoa học. Thuật luyện kim và thuật luyện đan sản sinh vào lúc luyện kim và hoá học ở vào giai đoạn tảo kì; vu sư chiêm bốc đối với sự sùng bái thượng thiên đã sản sinh ra thiên văn học; hi vọng trường sinh bất lão đã sản sinh ra y học và sinh vật học.
              Có thể hay không thể chấp nhận thứ mà bản thân mình không hiểu, có thể hay không thể trong cơn thịnh nộ mà đầu óc vẫn tỉnh táo dựa theo pháp luật để hành sự, đã thể hiện lòng dạ và khí độ của một quân vương. Năm Tần Thuỷ Hoàng thứ 35 dẹp trừ hủ bại khanh sát tham ô phạm tội, hoàn toàn không diễn biến thành cuộc thủ tiêu và đồ sát đối với cả giai tầng thuật sĩ, đó chính là một việc làm khá giỏi. 

    Chú của người dịch
    1- Di hoa tiếp mộc 移花接木: Đem cành cây có hoa ghép vào một cây khác, ví với việc ngầm thay đổi người hoặc vật.
    2- Chỉ tang mạ hoè 指桑骂槐: chỉ cây dâu mắng cây hoè, chỉ gà mắng chó.

                                                                            Huỳnh Chương Hưng
                                                                            Quy Nhơn 14/10/2019

    Nguồn

    Mã nguồn bởi Huỳnh Chương Hưng
    Copyright © 2012 Huỳnh Chương Hưng.
    back to top