• Thứ Bảy, 19 tháng 1, 2019

    TRIỀU TẦN CHUYÊN CHẾ TẬP QUYỀN
    THỰC HIỆN RỘNG RÃI CHẾ ĐỘ QUẬN HUYỆN
    (Chế độ chính trị triều Tần)
    (kì 3)

              Cơ cấu hành chính địa phương triều Tần chia ra 2 cấp là quận và huyện. Về các việc như tuyển chọn, bổ nhiệm, khảo khoá, ban tước, trật bổng ... của quan lại, triều Tần cũng có chế độ tương ứng.
              Về phương diện tuyển chọn bổ nhiệm quan lại, triều Tần theo chế độ biến pháp của Thương Ưởng 商鞅 từ trước, phế bỏ chế độ thế khanh, thế lộc, thực hiện quan liêu chế phong kiến “dĩ công thụ quan” 以功授官 (theo công trạng mà trao chức quan). Ở chế độ này, căn cứ vào quân công mà trao chức quan là con đường chủ yếu để tuyển chọn và bổ nhiệm quan lại. Một số người trong cuộc chiến tranh thống nhất có quân công, hoặc có cống hiến đặc thù, Tần Thuỷ Hoàng sẽ trao cho các chức quan khác nhau. Đối với việc tin dùng võ quan cao cấp, có người được tôn sủng gấp bội, thậm chí trở thành chức quan mấy đời nối nhau. Tướng Tần Mông Điềm 蒙恬 cùng tổ phụ, Vương Tiễn 王翦 cùng con cháu của ông ta đều là tướng lĩnh cao cấp 3 đời nối tiếp nhau. Tư Mã Thiên 司马迁xưng là “Vương thị, Mông thị công vi đa, danh thi vu hậu thế” 王氏, 蒙氏功为多, 名施于后世 (Họ Vương, họ Mông công nhiều, danh tiếng truyền hậu thế) (Sử kí – Bạch Khởi Vương Tiễn liệt truyện 史记 - 白起王翦列传). Quân công hiển hách không chỉ là bậc thang thăng tiến, mà còn là điều kiện cho con cháu nối tiếp được phong là võ quan. Nhìn từ “Mông Điềm nhân gia thế đắc vi Tần tướng” 蒙恬因家世得为秦将  (Mông Điềm nhân gia thế mà được làm tướng triều Tần) (Sử kí – Mông Điềm liệt truyện史记 - 蒙恬列传), hiện tượng võ quan triều Tần nối đời giữ chức, hiển nhiên thuộc loại được ban tặng nhờ “ân ấm” 恩荫.
              Nhưng, theo sự thống nhất của đất nước, chiến tranh giảm dần, biện pháp lấy quân công để tuyển chọn đã không thể thích ứng hoàn toàn với yêu cầu trong tình thế mới. Nhất là khi triều Tần tăng cường thực hành rộng rãi trung ương tập quyền, chính sự toàn quốc ngày càng tăng nhiều, cơ cấu các cấp của quốc gia cần các loại nhân tài, nhân đó các con đường khác để tuyển chọn quan lại cũng đồng thời được tiến hành. Như mời nhân sĩ ra giúp, hoặc từ trong đám lại viên cấp thấp mà trưng cử nhân tài, chính là một trong số những con đường đó. Loại trước như thời kì Tần Thuỷ Hoàng, Thúc Tôn Thông 叔孙通  “dĩ văn học trưng” 以文学征  (nhờ tài văn học nên được mời) (Sử kí – Lưu Kính Thúc Tôn Thông liệt truyện 史记 - 刘敬叔孙通列传), đãi chiếu trong hàng ngũ Bác sĩ; loại sau như Tiêu Hà  萧何với thân phận tốt lại của quận, khi thi được đỗ đầu, Giám ngự sử tấu lên triều đình trưng dụng Tiêu Hà. Tuyển quan mang tính chất trưng triệu này, kẻ sĩ được mời có đi hoặc không có thể tự lựa chọn, như Tiêu Hà không ứng theo lời triệu mời.
              Đối với việc tuyển chọn quan lại cấp thấp, triều Tần thực hiện biện pháp do địa phương tiến cử. Trong Sử kí – Hoài Âm Hầu liệt truyện 史记 - 淮阴侯列传 có ghi rằng: Hàn Tín 韩信 “thuỷ vi bố y thời, bần vô hạnh, bất đắc thôi trạch vi lại” 始为布衣时贫无行不得推择为吏 (lúc còn mặc áo vải, nghèo không giữ đức hạnh, không được chọn làm lại). Phương thức chọn quan này, không chỉ bị hạn chế về điều kiện tài sản, phẩm hạnh, tuổi tác ... mà còn bị người tiến cử yêu cầu kinh qua thi chức vụ, mới có thể chính thức nhậm dụng. Lưu Bang 刘邦lúc triều Tần, “cập tráng, thí vi lại” 及壮, 试为吏 (Sử kí – Cao Tổ bản kỉ 史记 - 高祖本纪), tức kinh qua thi chức vụ, sau đó được nhậm mệnh làn Đình trưởng Tứ Thuỷ 泗水.
              Ngoài ra, chế độ nhậm dụng tiến cử thịnh hành thời Tần, hoặc xưng là “bảo cử” 保举, đại khái thời kì đầu Tần thống nhất hãy còn thực hành. Đây là do quan lại tiến cử nhân tài, đồng thời đảm bảo luôn người đó, phủ quan tăng cường phương thức tuyển quan theo cách nhậm dụng. Như thời kì Tần Doanh Chính 秦嬴政, Lí Tư 李斯vào đất Tần, chính là do Lữ Bất Vi 吕不韦đứng ra bảo đảm nhậm chức Lang . Nhưng, nếu vi phạm chế độ bảo cử, hoặc không xứng đáng, thì người đứng ra bảo cử chịu trừng phạt. Ở Tần luật tạp sao – Trừ lại luật  秦律杂抄 - 除吏律trong Tần giản 秦简 tại Vân Mộng云梦 quy định, nếu bảo cử từng bị bãi chức, vĩnh viễn không được chọn dùng người làm lại, phạt 2 giáp. Trừ đệ tử luật 除弟子律 quy định, nếu bảo cử con em không xứng đáng, thì sẽ “nại vi hậu” 耐为候, tức xử “nại hình” 耐刑 cạo bỏ râu và tóc mai, phạt làm công việc quan sát tình hình quân địch.
              Triều Tần đối với việc khảo khoá quan lại địa phương, chế độ thực hành là “thướng kế” 上计chế. Tức mỗi năm vào lúc cuối năm, địa phương phái người đến kinh sư dâng kế bạ, báo cáo về tình hình cai trị của địa phương. Nội dung “thướng kế” rất rộng, như nông tang, hộ khẩu, phú thuế, tiền lương, trị an, hình ngục ... để trung ương hiểu rõ phong tục chính sự các vùng, khảo sát chính tích quan lại địa phương, đồng thời làm căn cứ để thăng chức thưởng phạt quan lại.
              Chế độ ban tước của triều Tần, nguyên vốn là chế độ ban tước của nước Tần. Sau khi thống nhất toàn quốc, cũng phát sinh một số thay đổi. Tần thực hiện rộng rãi chế độ ban tước, ý là nhằm vào việc tưởng thưởng quân công. Phàm người có được tước vị, có thể căn cứ đẳng cấp khác nhau mà hưởng thụ một số đặc quyền, như nhập sĩ làm quan, chuộc tội chuộc thân, có được đất đai nhà cửa, sai khiến thứ tử (1), phong ấp thực thuế v.v... Sau khi Doanh Chính tức vị, lấy quân công ban tước vẫn không có sự thay đổi. Như năm 238 trước công nguyên, khi Tần dẹp yên được loạn Lao Ải 嫪毐, đối với người giết địch lập công đều bái tước, hoạn quan tham chiến cũng bái tước một cấp. Nhưng sau khi toàn quốc được thống nhất, việc ban tước xuất hiện sự thay đổi rõ, tức những người tu sửa đường xá cùng những người lao dịch nơi biên giới cũng được ban cho tước.
              Quan trật của triều Tần tức đẳng cấp quan giai và bỗng lộc, thực hiện theo chế độ “trật thạch” 秩石. Đây chính là lấy số lượng của “thạch” biểu thị quan giai, dựa theo đẳng cấp quan giai khác nhau mà ban lộc. Như trước khi Tần thống nhất, do vì liên luỵ đến sự kiện của Lã Bất Vi, một số quan lại bị bị chuyển đi phòng vệ lăng, trong số đó có quan “600 thạch” “500 thạch”. Sau khi  toàn quôc thống nhất, đại khái vẫn theo chế độ này, nhưng sự sai biệt đẳng cấp quan lại, cùng với bổng lộc của quan lại có đẳng cấp khác nhau, đến nay vẫn chưa cách nào xác định rõ.
              Tóm lại, sau khi Tần thống nhất toàn quốc, đã kiến lập một chế độ chính trị hoàn chỉnh, mới mẻ, từ trung ương đến địa phương, khai sáng sự thống trị phong kiến theo chủ nghĩa chuyên chế trung ương tập quyền, đặt nền móng cho chế độ chính trị phong kiến 2000 năm của Trung Quốc.   (hết)

    Chú của người dịch
    1- Thứ tử 庶子: “thứ tử” ở đây chỉ những người không có tước vị, phục vụ cho người có tước vị, tương đương nông nô, nô bộc. Thời Chiến Quốc, nước Tần lệ thuộc vào “thứ tử”. Người có tước vị xin người không có tước vị làm “thứ tử” cho mình. Cấp đầu tiên có thể xin 1 người. Lúc không có việc quân, thứ tử mỗi tháng phục dịch cho đại phu của mình 6 ngày; khi có việc, căn cứ vào tình hình thực tế mà sai khiến thứ tử.
              (Theo http://baike.baudu.com/item...)

                                                                         Huỳnh Chương Hưng
                                                                         Quy Nhơn 19/01/2019

    Nguyên tác Trung văn
    CHUYÊN CHẾ TẬP QUYỀN, THÔI HÀNH QUẬN HUYỆN
    专制集权, 推行郡县
    Trong quyển
    TẦN HÁN SỬ THOẠI
    秦汉史话
    Tác giả: Phan Quốc Cơ 潘国基
    Bắc Kinh: Trung Quốc quốc tế quảng bá xuất bản xã, 2007

    Dịch thuật: Triều Tần chuyên chế tập quyền ... (kì 3 - hết)

    Đăng lúc  22:23  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    TRIỀU TẦN CHUYÊN CHẾ TẬP QUYỀN
    THỰC HIỆN RỘNG RÃI CHẾ ĐỘ QUẬN HUYỆN
    (Chế độ chính trị triều Tần)
    (kì 3)

              Cơ cấu hành chính địa phương triều Tần chia ra 2 cấp là quận và huyện. Về các việc như tuyển chọn, bổ nhiệm, khảo khoá, ban tước, trật bổng ... của quan lại, triều Tần cũng có chế độ tương ứng.
              Về phương diện tuyển chọn bổ nhiệm quan lại, triều Tần theo chế độ biến pháp của Thương Ưởng 商鞅 từ trước, phế bỏ chế độ thế khanh, thế lộc, thực hiện quan liêu chế phong kiến “dĩ công thụ quan” 以功授官 (theo công trạng mà trao chức quan). Ở chế độ này, căn cứ vào quân công mà trao chức quan là con đường chủ yếu để tuyển chọn và bổ nhiệm quan lại. Một số người trong cuộc chiến tranh thống nhất có quân công, hoặc có cống hiến đặc thù, Tần Thuỷ Hoàng sẽ trao cho các chức quan khác nhau. Đối với việc tin dùng võ quan cao cấp, có người được tôn sủng gấp bội, thậm chí trở thành chức quan mấy đời nối nhau. Tướng Tần Mông Điềm 蒙恬 cùng tổ phụ, Vương Tiễn 王翦 cùng con cháu của ông ta đều là tướng lĩnh cao cấp 3 đời nối tiếp nhau. Tư Mã Thiên 司马迁xưng là “Vương thị, Mông thị công vi đa, danh thi vu hậu thế” 王氏, 蒙氏功为多, 名施于后世 (Họ Vương, họ Mông công nhiều, danh tiếng truyền hậu thế) (Sử kí – Bạch Khởi Vương Tiễn liệt truyện 史记 - 白起王翦列传). Quân công hiển hách không chỉ là bậc thang thăng tiến, mà còn là điều kiện cho con cháu nối tiếp được phong là võ quan. Nhìn từ “Mông Điềm nhân gia thế đắc vi Tần tướng” 蒙恬因家世得为秦将  (Mông Điềm nhân gia thế mà được làm tướng triều Tần) (Sử kí – Mông Điềm liệt truyện史记 - 蒙恬列传), hiện tượng võ quan triều Tần nối đời giữ chức, hiển nhiên thuộc loại được ban tặng nhờ “ân ấm” 恩荫.
              Nhưng, theo sự thống nhất của đất nước, chiến tranh giảm dần, biện pháp lấy quân công để tuyển chọn đã không thể thích ứng hoàn toàn với yêu cầu trong tình thế mới. Nhất là khi triều Tần tăng cường thực hành rộng rãi trung ương tập quyền, chính sự toàn quốc ngày càng tăng nhiều, cơ cấu các cấp của quốc gia cần các loại nhân tài, nhân đó các con đường khác để tuyển chọn quan lại cũng đồng thời được tiến hành. Như mời nhân sĩ ra giúp, hoặc từ trong đám lại viên cấp thấp mà trưng cử nhân tài, chính là một trong số những con đường đó. Loại trước như thời kì Tần Thuỷ Hoàng, Thúc Tôn Thông 叔孙通  “dĩ văn học trưng” 以文学征  (nhờ tài văn học nên được mời) (Sử kí – Lưu Kính Thúc Tôn Thông liệt truyện 史记 - 刘敬叔孙通列传), đãi chiếu trong hàng ngũ Bác sĩ; loại sau như Tiêu Hà  萧何với thân phận tốt lại của quận, khi thi được đỗ đầu, Giám ngự sử tấu lên triều đình trưng dụng Tiêu Hà. Tuyển quan mang tính chất trưng triệu này, kẻ sĩ được mời có đi hoặc không có thể tự lựa chọn, như Tiêu Hà không ứng theo lời triệu mời.
              Đối với việc tuyển chọn quan lại cấp thấp, triều Tần thực hiện biện pháp do địa phương tiến cử. Trong Sử kí – Hoài Âm Hầu liệt truyện 史记 - 淮阴侯列传 có ghi rằng: Hàn Tín 韩信 “thuỷ vi bố y thời, bần vô hạnh, bất đắc thôi trạch vi lại” 始为布衣时贫无行不得推择为吏 (lúc còn mặc áo vải, nghèo không giữ đức hạnh, không được chọn làm lại). Phương thức chọn quan này, không chỉ bị hạn chế về điều kiện tài sản, phẩm hạnh, tuổi tác ... mà còn bị người tiến cử yêu cầu kinh qua thi chức vụ, mới có thể chính thức nhậm dụng. Lưu Bang 刘邦lúc triều Tần, “cập tráng, thí vi lại” 及壮, 试为吏 (Sử kí – Cao Tổ bản kỉ 史记 - 高祖本纪), tức kinh qua thi chức vụ, sau đó được nhậm mệnh làn Đình trưởng Tứ Thuỷ 泗水.
              Ngoài ra, chế độ nhậm dụng tiến cử thịnh hành thời Tần, hoặc xưng là “bảo cử” 保举, đại khái thời kì đầu Tần thống nhất hãy còn thực hành. Đây là do quan lại tiến cử nhân tài, đồng thời đảm bảo luôn người đó, phủ quan tăng cường phương thức tuyển quan theo cách nhậm dụng. Như thời kì Tần Doanh Chính 秦嬴政, Lí Tư 李斯vào đất Tần, chính là do Lữ Bất Vi 吕不韦đứng ra bảo đảm nhậm chức Lang . Nhưng, nếu vi phạm chế độ bảo cử, hoặc không xứng đáng, thì người đứng ra bảo cử chịu trừng phạt. Ở Tần luật tạp sao – Trừ lại luật  秦律杂抄 - 除吏律trong Tần giản 秦简 tại Vân Mộng云梦 quy định, nếu bảo cử từng bị bãi chức, vĩnh viễn không được chọn dùng người làm lại, phạt 2 giáp. Trừ đệ tử luật 除弟子律 quy định, nếu bảo cử con em không xứng đáng, thì sẽ “nại vi hậu” 耐为候, tức xử “nại hình” 耐刑 cạo bỏ râu và tóc mai, phạt làm công việc quan sát tình hình quân địch.
              Triều Tần đối với việc khảo khoá quan lại địa phương, chế độ thực hành là “thướng kế” 上计chế. Tức mỗi năm vào lúc cuối năm, địa phương phái người đến kinh sư dâng kế bạ, báo cáo về tình hình cai trị của địa phương. Nội dung “thướng kế” rất rộng, như nông tang, hộ khẩu, phú thuế, tiền lương, trị an, hình ngục ... để trung ương hiểu rõ phong tục chính sự các vùng, khảo sát chính tích quan lại địa phương, đồng thời làm căn cứ để thăng chức thưởng phạt quan lại.
              Chế độ ban tước của triều Tần, nguyên vốn là chế độ ban tước của nước Tần. Sau khi thống nhất toàn quốc, cũng phát sinh một số thay đổi. Tần thực hiện rộng rãi chế độ ban tước, ý là nhằm vào việc tưởng thưởng quân công. Phàm người có được tước vị, có thể căn cứ đẳng cấp khác nhau mà hưởng thụ một số đặc quyền, như nhập sĩ làm quan, chuộc tội chuộc thân, có được đất đai nhà cửa, sai khiến thứ tử (1), phong ấp thực thuế v.v... Sau khi Doanh Chính tức vị, lấy quân công ban tước vẫn không có sự thay đổi. Như năm 238 trước công nguyên, khi Tần dẹp yên được loạn Lao Ải 嫪毐, đối với người giết địch lập công đều bái tước, hoạn quan tham chiến cũng bái tước một cấp. Nhưng sau khi toàn quốc được thống nhất, việc ban tước xuất hiện sự thay đổi rõ, tức những người tu sửa đường xá cùng những người lao dịch nơi biên giới cũng được ban cho tước.
              Quan trật của triều Tần tức đẳng cấp quan giai và bỗng lộc, thực hiện theo chế độ “trật thạch” 秩石. Đây chính là lấy số lượng của “thạch” biểu thị quan giai, dựa theo đẳng cấp quan giai khác nhau mà ban lộc. Như trước khi Tần thống nhất, do vì liên luỵ đến sự kiện của Lã Bất Vi, một số quan lại bị bị chuyển đi phòng vệ lăng, trong số đó có quan “600 thạch” “500 thạch”. Sau khi  toàn quôc thống nhất, đại khái vẫn theo chế độ này, nhưng sự sai biệt đẳng cấp quan lại, cùng với bổng lộc của quan lại có đẳng cấp khác nhau, đến nay vẫn chưa cách nào xác định rõ.
              Tóm lại, sau khi Tần thống nhất toàn quốc, đã kiến lập một chế độ chính trị hoàn chỉnh, mới mẻ, từ trung ương đến địa phương, khai sáng sự thống trị phong kiến theo chủ nghĩa chuyên chế trung ương tập quyền, đặt nền móng cho chế độ chính trị phong kiến 2000 năm của Trung Quốc.   (hết)

    Chú của người dịch
    1- Thứ tử 庶子: “thứ tử” ở đây chỉ những người không có tước vị, phục vụ cho người có tước vị, tương đương nông nô, nô bộc. Thời Chiến Quốc, nước Tần lệ thuộc vào “thứ tử”. Người có tước vị xin người không có tước vị làm “thứ tử” cho mình. Cấp đầu tiên có thể xin 1 người. Lúc không có việc quân, thứ tử mỗi tháng phục dịch cho đại phu của mình 6 ngày; khi có việc, căn cứ vào tình hình thực tế mà sai khiến thứ tử.
              (Theo http://baike.baudu.com/item...)

                                                                         Huỳnh Chương Hưng
                                                                         Quy Nhơn 19/01/2019

    Nguyên tác Trung văn
    CHUYÊN CHẾ TẬP QUYỀN, THÔI HÀNH QUẬN HUYỆN
    专制集权, 推行郡县
    Trong quyển
    TẦN HÁN SỬ THOẠI
    秦汉史话
    Tác giả: Phan Quốc Cơ 潘国基
    Bắc Kinh: Trung Quốc quốc tế quảng bá xuất bản xã, 2007

    Thứ Sáu, 18 tháng 1, 2019

    DANH XƯNG “THƯƠNG NHÂN” CÓ PHẢI ĐẾN TỪ TRIỀU THƯƠNG

              Xã hội hiện đại là xã hội thương nghiệp, trên thị trường, chủ thể sản xuất đem thương phẩm ra để trao đổi. Người chuyên hoạt động thương nghiệp được gọi là “thương nhân” 商人, “thương nghiệp” 商业 cũng trở thành từ thay cho ngành nghề. Thế thì từ “thương nhân” xuất xứ từ đâu, có liên quan gì đến triều Thương không?
              Đáp án khẳng định là có. Đời Thương do bởi sự phát triển của nông nghiệp và thủ công nghiệp, sự mở rộng phân công xã hội, đã xuất hiện nhân viên chuyên lấy việc trao đổi thương nghiệp để mưu sinh, họ được gọi là “thương nhân” 商人. Câu “Thương ba dực dực, tứ phương chi cực” 商葩翼翼, 四方无极hình dung tình hình phát triển rực rỡ của thương nghiệp đương thời. Đời Thương xuất hiện nhiều thương nhân dắt xe bò và đi thuyền, buôn bán theo đường dài, đến hậu kì, nơi đô ấp xuất hiện tiểu thương chuyên theo việc giao dịch các loại, Khương Tử Nha 姜子牙từng lấy nghề mổ bò để mưu sinh, còn bán cơm tại Mạnh Tân 孟津. Kẻ thống trị đời Thương động viên khích lệ kinh thương, còn tu bổ đường xá để làm lợi cho thiên hạ trong việc lưu thông hàng hoá.
              Có thể thấy, nghề “thương nhân” xuất hiện ở hậu kì đời Thương. Sau khi Vũ Vương 武王diệt Trụ , triều Thương diệt vong, một số di dân triều Thương không có nguồn sống, bèn lấy việc kinh doanh mua bán để mưu sinh. Bộ phận những người này đi khắp hang cùng ngõ hẻm rao hàng. Người ta nghe tiếng rao của họ, biết “thương nhân” đến. Theo ghi chép, đầu thời Tây Chu, Chu Thành Vương 周成王còn nhỏ, hai người chú là Quản Thúc 管叔và Thái Thúc 蔡叔cùng với người con của Trụ Vương là Vũ Canh 武庚liên binh tạo phản. Sau khi Chu Công dẹp được loạn, đã xây Lạc Dương 洛阳thành một cứ điểm quân sự quan trọng, gọi là “Thành Chu” 成周.
    Thành Chu kí thành, thiên Ân ngoan dân.
    成周既成迁殷顽民
    (Thành Chu đã xây xong, dời ngoan dân (1) của triều Ân đến đó)
              Hoá ra những người già người trẻ, dân của triều Thương bị đưa đến Thành Chu để giám sát, những người này mất đi quyền lợi chính trị, lại không có đất đai, đành phải thông qua việc buôn bán vật phẩm để mưu sinh, đó là nguồn gốc của từ “thương nhân”.
              Từ trong mậu dịch thương nghiệp, người đời sau phát hiện ra lợi nhuận, nhiều người Chu cũng tham gia vào việc mua bán hàng hoá. Thế là, ý nghĩa của từ “Thương nhân” đã mở rộng, trở thành danh xưng chỉ một nghề, mãi cho đến ngày nay chúng ta vẫn còn dùng.

    Chú của người dịch
    1- Ngoan dân 顽民: ở đây chỉ những người trong số dân của triều Ân còn sót lại kiên quyết không phục sự thống trị của triều Chu.

                                                     Huỳnh Chương Hưng
                                                     Quy Nhơn 18/01/2019

    Nguyên tác Trung văn
    Trong quyển
    THÚ VỊ VĂN HOÁ TRI THỨC ĐẠI TOÀN
    趣味文化知识大全
    Thanh Thạch 青石 biên soạn
    Trung Quốc Hoa kiều xuất bản xã, 2013

    Dịch thuật: Danh xưng "thương nhân" có phải đến từ triều Thương

    Đăng lúc  22:09  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    DANH XƯNG “THƯƠNG NHÂN” CÓ PHẢI ĐẾN TỪ TRIỀU THƯƠNG

              Xã hội hiện đại là xã hội thương nghiệp, trên thị trường, chủ thể sản xuất đem thương phẩm ra để trao đổi. Người chuyên hoạt động thương nghiệp được gọi là “thương nhân” 商人, “thương nghiệp” 商业 cũng trở thành từ thay cho ngành nghề. Thế thì từ “thương nhân” xuất xứ từ đâu, có liên quan gì đến triều Thương không?
              Đáp án khẳng định là có. Đời Thương do bởi sự phát triển của nông nghiệp và thủ công nghiệp, sự mở rộng phân công xã hội, đã xuất hiện nhân viên chuyên lấy việc trao đổi thương nghiệp để mưu sinh, họ được gọi là “thương nhân” 商人. Câu “Thương ba dực dực, tứ phương chi cực” 商葩翼翼, 四方无极hình dung tình hình phát triển rực rỡ của thương nghiệp đương thời. Đời Thương xuất hiện nhiều thương nhân dắt xe bò và đi thuyền, buôn bán theo đường dài, đến hậu kì, nơi đô ấp xuất hiện tiểu thương chuyên theo việc giao dịch các loại, Khương Tử Nha 姜子牙từng lấy nghề mổ bò để mưu sinh, còn bán cơm tại Mạnh Tân 孟津. Kẻ thống trị đời Thương động viên khích lệ kinh thương, còn tu bổ đường xá để làm lợi cho thiên hạ trong việc lưu thông hàng hoá.
              Có thể thấy, nghề “thương nhân” xuất hiện ở hậu kì đời Thương. Sau khi Vũ Vương 武王diệt Trụ , triều Thương diệt vong, một số di dân triều Thương không có nguồn sống, bèn lấy việc kinh doanh mua bán để mưu sinh. Bộ phận những người này đi khắp hang cùng ngõ hẻm rao hàng. Người ta nghe tiếng rao của họ, biết “thương nhân” đến. Theo ghi chép, đầu thời Tây Chu, Chu Thành Vương 周成王còn nhỏ, hai người chú là Quản Thúc 管叔và Thái Thúc 蔡叔cùng với người con của Trụ Vương là Vũ Canh 武庚liên binh tạo phản. Sau khi Chu Công dẹp được loạn, đã xây Lạc Dương 洛阳thành một cứ điểm quân sự quan trọng, gọi là “Thành Chu” 成周.
    Thành Chu kí thành, thiên Ân ngoan dân.
    成周既成迁殷顽民
    (Thành Chu đã xây xong, dời ngoan dân (1) của triều Ân đến đó)
              Hoá ra những người già người trẻ, dân của triều Thương bị đưa đến Thành Chu để giám sát, những người này mất đi quyền lợi chính trị, lại không có đất đai, đành phải thông qua việc buôn bán vật phẩm để mưu sinh, đó là nguồn gốc của từ “thương nhân”.
              Từ trong mậu dịch thương nghiệp, người đời sau phát hiện ra lợi nhuận, nhiều người Chu cũng tham gia vào việc mua bán hàng hoá. Thế là, ý nghĩa của từ “Thương nhân” đã mở rộng, trở thành danh xưng chỉ một nghề, mãi cho đến ngày nay chúng ta vẫn còn dùng.

    Chú của người dịch
    1- Ngoan dân 顽民: ở đây chỉ những người trong số dân của triều Ân còn sót lại kiên quyết không phục sự thống trị của triều Chu.

                                                     Huỳnh Chương Hưng
                                                     Quy Nhơn 18/01/2019

    Nguyên tác Trung văn
    Trong quyển
    THÚ VỊ VĂN HOÁ TRI THỨC ĐẠI TOÀN
    趣味文化知识大全
    Thanh Thạch 青石 biên soạn
    Trung Quốc Hoa kiều xuất bản xã, 2013

    Thứ Năm, 17 tháng 1, 2019



    攻人之恶思其堪受
    攻人之恶, 毋太严, 要思其堪受; 教人之善, 毋过高, 当使其可从.
                                                                                (菜根谭 - 齐家育人)

    CÔNG NHÂN CHI ÁC, TƯ KÌ KHAM THỤ
              Công nhân chi ác, vô thái nghiêm, yếu tư kì kham thụ; Giáo nhân chi thiện, vô quá cao, đương sử kì khả tùng.
                                                                  (Thái căn đàm – Tề gia dục nhân)

    PHÊ BÌNH LỖI CỦA NGƯỜI,
    NÊN NGHĨ ĐẾN VIỆC HỌ CÓ THỂ TIẾP THỤ
              Khi phê bình lỗi của một người nào đó, không nên quá khắc nghiệt, cần phải nghĩ đến việc họ có thể tiếp thụ được hay không. Dạy cho một người nào đó làm điều thiện, cũng không nên yêu cầu quá cao, phải nghĩ đến việc họ có thể làm được hay không, để họ cảm thấy phù hợp với năng lực mà làm theo.

    Giải thích và phân tích
              Thời Xuân Thu, Sở Trang Vương 楚庄王đánh thắng trận trở về, mở tiệc thiết đãi quần thần. Quân thần chơi trò “sai quyền hành lệnh” 猜拳行令 (1), mời rượu cạn li, rất là náo nhiệt. Trong bữa tiệc, Sở Trang Vương cao hứng lệnh cho phi tử sủng ái nhất của mình tham gia mời rượu trong bữa tiệc.
              Đột nhiên, một trận cuồng phong thổi qua, tất cả nến trong khách sảnh đều bị thổi tắt, cả gian phòng chìm vào trong bóng tối. Lúc bấy giờ, sủng phi đang luân phiên mời rượu, bỗng từ trong bóng tối, một bàn tay kéo lấy tay áo của sủng phi. Đối với hành vi vô lễ đột ngột phát sinh này, sủng phi không dám la lớn, nhất thời thoát thân không được, trong lúc khẩn cấp, sủng phi thuận tay kéo đứt dây mũ của người nọ. Đối phương thả tay ra, sủng phi thừa cơ thoát được, liền chạy đến bên Sở Trang Vương, đồng thời lén kể hết tình hình bị người ta trêu ghẹo, còn nói với Trang Vương là dây mũ của đối phương bị kéo đứt, chỉ cần thắp nến lên, kiểm tra dây mũ thì sẽ tra ra được là người nào.
              Sở Trang Vương nghe sủng phi khóc lóc kể lể, không hề giận dữ, trầm tư một lúc rồi nhân lúc nến chưa thắp lên, trong bóng tối cất tiếng nói to:
              - Hôm nay yến tiệc, các vị bất tất phải câu nệ lễ tiết, cứ mặc sức mà vui uống. Để hết lòng cùng vui, mọi người hãy kéo đứt dây mũ của mình, dây mũ của ai không đứt thì người ấy không được uống rượu ngon!
              Quần thần nào biết dụng ý của Trang Vương, để Trang Vương vui lòng, ai nấy đều kéo đứt dây mũ của mình. Khi nên được thắp lên, mũ của những người trong bữa tiệc đều bị đứt dây, căn bản tìm không ra người mà đã trêu ghẹo sủng phi. Như vậy, cục diện gút mắc trong bữa tiệc được tháo gỡ trong vô hình, mọi người đều vui say ra về, trong đó có cả người đã trêu ghẹo sủng phi.
              Sau sự việc đó, Sở Trang Vương đã giải thích với sủng phi đang mang nỗi ấm ức trong lòng:
              - Trong bữa tiệc rượu, có thái độ thất lễ là thường tình của con người, nếu trước mặt mọi người mà truy tìm xử lí, e sẽ làm tổn thương tấm lòng của tướng sĩ, khiến họ ra về trong tâm trạng không vui.
              Chẳng bao lâu sau, Sở Trang Vương mượn cớ nước Trịnh hội minh với nước Tấn tại Yên Lăng 鄢陵, thế là mùa xuân năm sau, dốc binh sĩ trong cả nước vây đánh nước Trịnh. Chiến đấu vô cùng kịch liệt, trải qua hơn 3 tháng, phát động mấy lần xung phong. Trong trận chiến đó, có một quân quan phấn dũng tranh đầu, giao chiến với quân Trịnh giết được rất nhiều quân địch, quân Trịnh nghe được đều kinh sợ, đành phải đầu hàng. Nước Sở giành được thắng lợi, trong lúc luận công ban thưởng, mới biết vị quân quan phấn dũng giết địch đó tên là Đường Giảo 唐狡, chính là người mà đã bị sủng phi kéo đứt dây mũ trong bữa tiệc.
              Người sau khi phạm sai lầm luôn bức thiết mong được sự khoan dung của người khác cho họ cơ hội để hối lỗi sửa mình. Một khi có được sự khoan dung, họ sẽ nảy sinh tâm lí cảm ơn mong báo đáp, thông qua biểu hiện sửa sai để có được sự đồng ý chấp nhận của đối phương. Sở Trang Vương hiểu được việc khoan dung lỗi lầm của người khác, có được đạo lí nhân tâm, cho nên mới thi hành kế sách hơi hồ đồ, cuối cùng trong chiến tranh giành được thắng lợi khải hoàn.
              Mỗi cá nhân đều sẽ phạm sai lầm, nhưng đối mặt với sai lầm của mình, trên thực tế không ai bằng lòng tiếp thụ sự xoi mói phê bình chỉ trích. Nếu chúng ta ngược lại với xu thế tâm lí này, chọn lựa sự công kích phê bình sâu sắc, để được sự chỉ trích dạy bảo của người, thế thì hiệu quả mà có được chỉ có thể là con số không. Cho nên nói phê bình cũng là một môn nghệ thuật, dạy bảo là một môn học vấn. Muốn phát huy chúng một cách tinh tế sâu sắc, thu được hiệu quả thiết thực, chỉ có thể dựa theo cách nói của “Thái căn đàm” mà làm, đó là: “Công nhân chi ác, vô thái nghiêm, yếu tư kì kham thụ. Giáo nhân chi thiện, vô quá cao, đương sử kì khả tùng.”
              Phê bình cần rõ ràng chuẩn xác, nhưng phương thức có thể uyển chuyển, như vậy mới dễ cho người tiếp thụ và cũng không đến mức người phê bình phải canh cánh trong lòng. Còn dạy bảo người khác, cần phải để đối phương như được tắm gội trong gió xuân, nên ít những luận điệu trống rỗng mà nhiều những lời động viên chân thành, mới có thể được đối phương tích cực tiếp nhận, từ đó mà đạt được mục đích dạy bảo. Khi người khác phạm sai lầm, nên kềm chế nói ra những lời mặn nhạt, cạnh khoé, hãy đặt mình vào địa vị của họ mà suy nghĩ, như vậy không những tăng cường hiệu quả thiết thực trong việc phê bình dạy bảo, mà phẩm hạnh trí tuệ của mình cũng được tăng thêm.

    Chú của người dịch
    1- Sai quyền 猜拳: “sai quyền” tức trò chơi đoán số ngón tay lúc uống rượu: hai người đồng thời giơ ngón tay ra và mỗi người nói một con số, con số của ai khớp với tổng số ngón tay của hai người giơ ra thì  người ấy thắng, người thua  bị phạt uống rượu.
              (Theo “Từ điển Trung Việt” của Viện Khoa học xã hội Việt Nam, 1992)

                                                                 Huỳnh Chương Hưng
                                                                 Quy Nhơn 17/01/2019

    Nguồn
    THÁI CĂN ĐÀM
    菜根谭
    Tác giả: (Minh) Hồng Ứng Minh 洪应明
    Biên soạn: Bàng Bác 庞博
    Trung Quốc Hoa Kiều xuất bản xã, 2013

    Dịch thuật: Công nhân chi ác, tư kì kham thụ (Thái căn đàm)

    Đăng lúc  21:03  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »



    攻人之恶思其堪受
    攻人之恶, 毋太严, 要思其堪受; 教人之善, 毋过高, 当使其可从.
                                                                                (菜根谭 - 齐家育人)

    CÔNG NHÂN CHI ÁC, TƯ KÌ KHAM THỤ
              Công nhân chi ác, vô thái nghiêm, yếu tư kì kham thụ; Giáo nhân chi thiện, vô quá cao, đương sử kì khả tùng.
                                                                  (Thái căn đàm – Tề gia dục nhân)

    PHÊ BÌNH LỖI CỦA NGƯỜI,
    NÊN NGHĨ ĐẾN VIỆC HỌ CÓ THỂ TIẾP THỤ
              Khi phê bình lỗi của một người nào đó, không nên quá khắc nghiệt, cần phải nghĩ đến việc họ có thể tiếp thụ được hay không. Dạy cho một người nào đó làm điều thiện, cũng không nên yêu cầu quá cao, phải nghĩ đến việc họ có thể làm được hay không, để họ cảm thấy phù hợp với năng lực mà làm theo.

    Giải thích và phân tích
              Thời Xuân Thu, Sở Trang Vương 楚庄王đánh thắng trận trở về, mở tiệc thiết đãi quần thần. Quân thần chơi trò “sai quyền hành lệnh” 猜拳行令 (1), mời rượu cạn li, rất là náo nhiệt. Trong bữa tiệc, Sở Trang Vương cao hứng lệnh cho phi tử sủng ái nhất của mình tham gia mời rượu trong bữa tiệc.
              Đột nhiên, một trận cuồng phong thổi qua, tất cả nến trong khách sảnh đều bị thổi tắt, cả gian phòng chìm vào trong bóng tối. Lúc bấy giờ, sủng phi đang luân phiên mời rượu, bỗng từ trong bóng tối, một bàn tay kéo lấy tay áo của sủng phi. Đối với hành vi vô lễ đột ngột phát sinh này, sủng phi không dám la lớn, nhất thời thoát thân không được, trong lúc khẩn cấp, sủng phi thuận tay kéo đứt dây mũ của người nọ. Đối phương thả tay ra, sủng phi thừa cơ thoát được, liền chạy đến bên Sở Trang Vương, đồng thời lén kể hết tình hình bị người ta trêu ghẹo, còn nói với Trang Vương là dây mũ của đối phương bị kéo đứt, chỉ cần thắp nến lên, kiểm tra dây mũ thì sẽ tra ra được là người nào.
              Sở Trang Vương nghe sủng phi khóc lóc kể lể, không hề giận dữ, trầm tư một lúc rồi nhân lúc nến chưa thắp lên, trong bóng tối cất tiếng nói to:
              - Hôm nay yến tiệc, các vị bất tất phải câu nệ lễ tiết, cứ mặc sức mà vui uống. Để hết lòng cùng vui, mọi người hãy kéo đứt dây mũ của mình, dây mũ của ai không đứt thì người ấy không được uống rượu ngon!
              Quần thần nào biết dụng ý của Trang Vương, để Trang Vương vui lòng, ai nấy đều kéo đứt dây mũ của mình. Khi nên được thắp lên, mũ của những người trong bữa tiệc đều bị đứt dây, căn bản tìm không ra người mà đã trêu ghẹo sủng phi. Như vậy, cục diện gút mắc trong bữa tiệc được tháo gỡ trong vô hình, mọi người đều vui say ra về, trong đó có cả người đã trêu ghẹo sủng phi.
              Sau sự việc đó, Sở Trang Vương đã giải thích với sủng phi đang mang nỗi ấm ức trong lòng:
              - Trong bữa tiệc rượu, có thái độ thất lễ là thường tình của con người, nếu trước mặt mọi người mà truy tìm xử lí, e sẽ làm tổn thương tấm lòng của tướng sĩ, khiến họ ra về trong tâm trạng không vui.
              Chẳng bao lâu sau, Sở Trang Vương mượn cớ nước Trịnh hội minh với nước Tấn tại Yên Lăng 鄢陵, thế là mùa xuân năm sau, dốc binh sĩ trong cả nước vây đánh nước Trịnh. Chiến đấu vô cùng kịch liệt, trải qua hơn 3 tháng, phát động mấy lần xung phong. Trong trận chiến đó, có một quân quan phấn dũng tranh đầu, giao chiến với quân Trịnh giết được rất nhiều quân địch, quân Trịnh nghe được đều kinh sợ, đành phải đầu hàng. Nước Sở giành được thắng lợi, trong lúc luận công ban thưởng, mới biết vị quân quan phấn dũng giết địch đó tên là Đường Giảo 唐狡, chính là người mà đã bị sủng phi kéo đứt dây mũ trong bữa tiệc.
              Người sau khi phạm sai lầm luôn bức thiết mong được sự khoan dung của người khác cho họ cơ hội để hối lỗi sửa mình. Một khi có được sự khoan dung, họ sẽ nảy sinh tâm lí cảm ơn mong báo đáp, thông qua biểu hiện sửa sai để có được sự đồng ý chấp nhận của đối phương. Sở Trang Vương hiểu được việc khoan dung lỗi lầm của người khác, có được đạo lí nhân tâm, cho nên mới thi hành kế sách hơi hồ đồ, cuối cùng trong chiến tranh giành được thắng lợi khải hoàn.
              Mỗi cá nhân đều sẽ phạm sai lầm, nhưng đối mặt với sai lầm của mình, trên thực tế không ai bằng lòng tiếp thụ sự xoi mói phê bình chỉ trích. Nếu chúng ta ngược lại với xu thế tâm lí này, chọn lựa sự công kích phê bình sâu sắc, để được sự chỉ trích dạy bảo của người, thế thì hiệu quả mà có được chỉ có thể là con số không. Cho nên nói phê bình cũng là một môn nghệ thuật, dạy bảo là một môn học vấn. Muốn phát huy chúng một cách tinh tế sâu sắc, thu được hiệu quả thiết thực, chỉ có thể dựa theo cách nói của “Thái căn đàm” mà làm, đó là: “Công nhân chi ác, vô thái nghiêm, yếu tư kì kham thụ. Giáo nhân chi thiện, vô quá cao, đương sử kì khả tùng.”
              Phê bình cần rõ ràng chuẩn xác, nhưng phương thức có thể uyển chuyển, như vậy mới dễ cho người tiếp thụ và cũng không đến mức người phê bình phải canh cánh trong lòng. Còn dạy bảo người khác, cần phải để đối phương như được tắm gội trong gió xuân, nên ít những luận điệu trống rỗng mà nhiều những lời động viên chân thành, mới có thể được đối phương tích cực tiếp nhận, từ đó mà đạt được mục đích dạy bảo. Khi người khác phạm sai lầm, nên kềm chế nói ra những lời mặn nhạt, cạnh khoé, hãy đặt mình vào địa vị của họ mà suy nghĩ, như vậy không những tăng cường hiệu quả thiết thực trong việc phê bình dạy bảo, mà phẩm hạnh trí tuệ của mình cũng được tăng thêm.

    Chú của người dịch
    1- Sai quyền 猜拳: “sai quyền” tức trò chơi đoán số ngón tay lúc uống rượu: hai người đồng thời giơ ngón tay ra và mỗi người nói một con số, con số của ai khớp với tổng số ngón tay của hai người giơ ra thì  người ấy thắng, người thua  bị phạt uống rượu.
              (Theo “Từ điển Trung Việt” của Viện Khoa học xã hội Việt Nam, 1992)

                                                                 Huỳnh Chương Hưng
                                                                 Quy Nhơn 17/01/2019

    Nguồn
    THÁI CĂN ĐÀM
    菜根谭
    Tác giả: (Minh) Hồng Ứng Minh 洪应明
    Biên soạn: Bàng Bác 庞博
    Trung Quốc Hoa Kiều xuất bản xã, 2013

    Thứ Tư, 16 tháng 1, 2019

    CHỮ “HỘI / CỐI”
     
    Bính âm hui (thanh điệu 4)
    Bính âm kuai (thanh điệu 4)

    6 nét
    13 nét

    A- HỘI bính âm hui với thanh điệu 4
    1- Tụ hội tại một chỗ:
              Hội hợp 会合 / hội xan 会餐 / hội diễn 会演  / hội chẩn 会诊 / tụ hội 聚会.
    2- Tụ hợp:
              Hội nghị 会议 / khai hội 开会 / miếu hội 庙会 / yến hội 宴会 / đại biểu hội 代表会.
    3- Đoàn thể hoặc tổ chức nào đó:
              Hội xã 会社 / hội viên 会员 / hội san 会刊 / học hội 学会 / lí sự hội 理事会.
    4- Gặp mặt:
              Hội ngộ 会晤 / hội khách 会客 / ước hội 约会 / bái hội 拜会 / tái hội 再会.
    5- Thành thị chủ yếu:
              Tỉnh hội 省会 / đô hội 都会.
    6- Thời cơ:
              Cơ hội 机会 / thích phùng kì hội 适逢其会.
    7- Lí giải, hiểu:
              Lí hội 理会 / thể hội 体会 / ngộ hội 误会 / tâm lĩnh thần hội 心领神会.
    8- Có thể, chỉ năng lực của một phương diện nào đó.
              Hội kỉ quốc ngoại ngữ 会几国外语 / hội đàn cương cầm 会弹钢琴 / hội khai phi cơ 会开飞机.
    9- Biểu thị có khả năng thực hiện:
              Tha hội hữu biện pháp đích 他会有办法的 / bất hội bất lai 不会不来 .
    10- Giao tiền, trả tiền:
              Hội trướng 会账 / hội qua liễu 会过了.
    B- CỐI bính âm kuai với thanh điệu 4
              Tính gộp lại, tỉnh tổng cộng:
              Cối kế 会计.

    Thuyết giải
              Chữ , bộ , kết cấu trên dưới. Chữ là chữ khải hoá từ thảo thư, đem phần ở dưới chữ đổi thành. Trong Bạch bào kí 白袍记, Đông song kí 东窗记bản san khắc đời Minh, Mục Liên kí 目莲记, Kim Bình Mai 金瓶梅, Dật sự 逸事 bản san khắc đời Thanh đã thấy.
              Chữ quy về bộ .

    Phụ lục của người dịch
              Về chữ, trong Hán Việt tự điển của Thiều Chửu ghi rằng:
    Hội 1: Họp, như khai hội 開會 mở hội; hội nghị 會議họp bàn v.v... 2: Gặp, như hội minh 會盟 gặp nhau cùng thề, hội đồng 會同 cùng gặp mặt nhau để bàn bạc sự gì v.v... 3: Thời, như ki hội 機會 gặp dịp, vận hội 運會 vận hội tốt, nghĩa là sự với thời đúng hợp nhau cả, sách Hoàng cực kinh thế nói 30 năm là một đời , 12 đời là một vận, 30 vận là một hội, 12 hội là một nguyên . 4: Hiểu biết, như hội ý 會意hiểu ý, lĩnh hội 領會lĩnh lược hiểu biết được ý nghĩa gì. 5: Chỗ người ở đông đúc, như đô hội chốn đô hội.
              Một âm là Cối. 1: tính gộp, tính suốt sổ, tính sổ suốt năm gọi là cối kế niên độ 會計年度.
                    (trang 251, NXB Hồng Đức, 2015)

                                                          Huỳnh Chương Hưng
                                                          Quy Nhơn 16/01/2019

    Nguồn
    GIẢN HOÁ TỰ, PHỒN THỂ TỰ ĐỐI CHIẾU TỰ ĐIỂN
    简化字繁体字对照字典
    Chủ biên: Giang Lam Sinh 江蓝生, Lục Tôn Ngô 陆尊梧
    Thượng Hải – Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 1998

    Dịch thuật: Chữ "hội / cối" (Đối chiếu tự điển)

    Đăng lúc  21:51  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    CHỮ “HỘI / CỐI”
     
    Bính âm hui (thanh điệu 4)
    Bính âm kuai (thanh điệu 4)

    6 nét
    13 nét

    A- HỘI bính âm hui với thanh điệu 4
    1- Tụ hội tại một chỗ:
              Hội hợp 会合 / hội xan 会餐 / hội diễn 会演  / hội chẩn 会诊 / tụ hội 聚会.
    2- Tụ hợp:
              Hội nghị 会议 / khai hội 开会 / miếu hội 庙会 / yến hội 宴会 / đại biểu hội 代表会.
    3- Đoàn thể hoặc tổ chức nào đó:
              Hội xã 会社 / hội viên 会员 / hội san 会刊 / học hội 学会 / lí sự hội 理事会.
    4- Gặp mặt:
              Hội ngộ 会晤 / hội khách 会客 / ước hội 约会 / bái hội 拜会 / tái hội 再会.
    5- Thành thị chủ yếu:
              Tỉnh hội 省会 / đô hội 都会.
    6- Thời cơ:
              Cơ hội 机会 / thích phùng kì hội 适逢其会.
    7- Lí giải, hiểu:
              Lí hội 理会 / thể hội 体会 / ngộ hội 误会 / tâm lĩnh thần hội 心领神会.
    8- Có thể, chỉ năng lực của một phương diện nào đó.
              Hội kỉ quốc ngoại ngữ 会几国外语 / hội đàn cương cầm 会弹钢琴 / hội khai phi cơ 会开飞机.
    9- Biểu thị có khả năng thực hiện:
              Tha hội hữu biện pháp đích 他会有办法的 / bất hội bất lai 不会不来 .
    10- Giao tiền, trả tiền:
              Hội trướng 会账 / hội qua liễu 会过了.
    B- CỐI bính âm kuai với thanh điệu 4
              Tính gộp lại, tỉnh tổng cộng:
              Cối kế 会计.

    Thuyết giải
              Chữ , bộ , kết cấu trên dưới. Chữ là chữ khải hoá từ thảo thư, đem phần ở dưới chữ đổi thành. Trong Bạch bào kí 白袍记, Đông song kí 东窗记bản san khắc đời Minh, Mục Liên kí 目莲记, Kim Bình Mai 金瓶梅, Dật sự 逸事 bản san khắc đời Thanh đã thấy.
              Chữ quy về bộ .

    Phụ lục của người dịch
              Về chữ, trong Hán Việt tự điển của Thiều Chửu ghi rằng:
    Hội 1: Họp, như khai hội 開會 mở hội; hội nghị 會議họp bàn v.v... 2: Gặp, như hội minh 會盟 gặp nhau cùng thề, hội đồng 會同 cùng gặp mặt nhau để bàn bạc sự gì v.v... 3: Thời, như ki hội 機會 gặp dịp, vận hội 運會 vận hội tốt, nghĩa là sự với thời đúng hợp nhau cả, sách Hoàng cực kinh thế nói 30 năm là một đời , 12 đời là một vận, 30 vận là một hội, 12 hội là một nguyên . 4: Hiểu biết, như hội ý 會意hiểu ý, lĩnh hội 領會lĩnh lược hiểu biết được ý nghĩa gì. 5: Chỗ người ở đông đúc, như đô hội chốn đô hội.
              Một âm là Cối. 1: tính gộp, tính suốt sổ, tính sổ suốt năm gọi là cối kế niên độ 會計年度.
                    (trang 251, NXB Hồng Đức, 2015)

                                                          Huỳnh Chương Hưng
                                                          Quy Nhơn 16/01/2019

    Nguồn
    GIẢN HOÁ TỰ, PHỒN THỂ TỰ ĐỐI CHIẾU TỰ ĐIỂN
    简化字繁体字对照字典
    Chủ biên: Giang Lam Sinh 江蓝生, Lục Tôn Ngô 陆尊梧
    Thượng Hải – Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 1998

    Thứ Ba, 15 tháng 1, 2019

    NHẤT CHẨM HOÀNG LƯƠNG
    一枕黄粱
    HOÀNG LƯƠNG MỘT GỐI

    Giải thích: hoàng lương 黄粱: hạt kê màu vàng. Ví một giấc mộng đẹp nhưng ngắn ngủi.
    Xuất xứ: Đường . Thẩm Kí Tế 沈既济:  Chẩm trung kí 枕中记.

              Thanh niên Lư sinh 卢生lúc đi xa, giữa đường ghé lại một quán trọ ở  Hàm Đan 邯郸, đã cùng với đạo nhân Lữ Ông 吕翁 đang trọ nói chuyện với nhau. Trong lúc trò chuyện, Lư Sinh thở ngắn than dài, trách vận mệnh của mình không được tốt đẹp: cần mẫn phấn đấu đọc sách thế mà thi mãi không đậu; vất vả làm việc thế mà vẫn mãi nghèo khổ.
              Lữ Ông nghe anh ta than thở liền từ trong túi vải lấy ra một chiếc gối, trên gối có thêu 3 chữ “phúc lộc thọ”, còn thêu cả mũ ô sa, kim nguyên bảo, mĩ nữ và đồng tử. Lữ Ông nói rằng:
              - Anh chỉ cần gối lên chiếc gối này mà ngủ thì sẽ được vinh hoa phú quý.
              Lúc bấy giờ, chủ quán đang nấu một nồi kê. Thời gian rời quán ra đi hãy còn sớm, Lư Sinh bèn gối đầu lên gối, chỉ muốn nghỉ ngơi một tí, không ngờ vừa mới gối đã ngủ, lại còn mơ một giấc mơ đẹp.
              Trong giấc mơ, Lư Sinh kết hôn với một thiên kim tiểu thư của phủ họ Thôi tại Thanh Hà 清河, hai người sống một cuộc sống giàu sang. Tiếp đó, Lư Sinh thi đậu Tiến sĩ. Làm quan đến chức Tiết độ sứ, Ngự sử đại phu, và còn làm Tể tướng đến 10 năm. Về sau lại được phong tước Công. Hai vợ chồng có tổng cộng 5 người con, cả 5 người con này đều làm quan, và họ kết hôn với danh gia vọng tộc. Hai vợ chồng còn có đến 10 đứa cháu, đứa nào cũng đều thông minh lanh lợi, suốt ngày vui chơi bên cạnh, quả thực là con cháu đầy nhà, phúc lộc dồi dào, xứng tâm vừa ý và còn sống đến hơn 80 tuổi.
              Mơ đến đó, Lư Sinh cười thức tỉnh, từ giường ngồi dậy, lúc bấy giờ nồi kê của chủ quán hãy còn chưa nấu chín. Lư Sinh cảm khái muôn phần, nói rằng:
              - Không ngờ vinh hoa phú quý mấy chục năm rốt cuộc chỉ ngắn như một giấc mơ, quả thực là hoàng lương một gối.
              Lữ Ông cười nói rằng:
              - Đời người vốn là như thế. Vinh hoa phú quý chẳng qua là như một làn khói bay qua trước mắt, ngắn ngủi như một giấc mơ, hà tất phải  tính toán chi li?

                                                           Huỳnh Chương Hưng
                                                Quy Nhơn 15/01/2019

    Nguyên tác Trung văn
    NHẤT CHẨM HOÀNG LƯƠNG
    一枕黄粱
    TRUNG QUỐC THÀNH NGỮ CỐ SỰ TỔNG TẬP
    中国成语故事总集
    (tập 1)
    Chủ biên: Đường Kì 唐麒
    Trường Xuân – Thời đại văn nghệ xuất bản xã, 2004

    Dịch thuật: Nhất chẩm hoàng lương (thành ngữ)

    Đăng lúc  21:22  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    NHẤT CHẨM HOÀNG LƯƠNG
    一枕黄粱
    HOÀNG LƯƠNG MỘT GỐI

    Giải thích: hoàng lương 黄粱: hạt kê màu vàng. Ví một giấc mộng đẹp nhưng ngắn ngủi.
    Xuất xứ: Đường . Thẩm Kí Tế 沈既济:  Chẩm trung kí 枕中记.

              Thanh niên Lư sinh 卢生lúc đi xa, giữa đường ghé lại một quán trọ ở  Hàm Đan 邯郸, đã cùng với đạo nhân Lữ Ông 吕翁 đang trọ nói chuyện với nhau. Trong lúc trò chuyện, Lư Sinh thở ngắn than dài, trách vận mệnh của mình không được tốt đẹp: cần mẫn phấn đấu đọc sách thế mà thi mãi không đậu; vất vả làm việc thế mà vẫn mãi nghèo khổ.
              Lữ Ông nghe anh ta than thở liền từ trong túi vải lấy ra một chiếc gối, trên gối có thêu 3 chữ “phúc lộc thọ”, còn thêu cả mũ ô sa, kim nguyên bảo, mĩ nữ và đồng tử. Lữ Ông nói rằng:
              - Anh chỉ cần gối lên chiếc gối này mà ngủ thì sẽ được vinh hoa phú quý.
              Lúc bấy giờ, chủ quán đang nấu một nồi kê. Thời gian rời quán ra đi hãy còn sớm, Lư Sinh bèn gối đầu lên gối, chỉ muốn nghỉ ngơi một tí, không ngờ vừa mới gối đã ngủ, lại còn mơ một giấc mơ đẹp.
              Trong giấc mơ, Lư Sinh kết hôn với một thiên kim tiểu thư của phủ họ Thôi tại Thanh Hà 清河, hai người sống một cuộc sống giàu sang. Tiếp đó, Lư Sinh thi đậu Tiến sĩ. Làm quan đến chức Tiết độ sứ, Ngự sử đại phu, và còn làm Tể tướng đến 10 năm. Về sau lại được phong tước Công. Hai vợ chồng có tổng cộng 5 người con, cả 5 người con này đều làm quan, và họ kết hôn với danh gia vọng tộc. Hai vợ chồng còn có đến 10 đứa cháu, đứa nào cũng đều thông minh lanh lợi, suốt ngày vui chơi bên cạnh, quả thực là con cháu đầy nhà, phúc lộc dồi dào, xứng tâm vừa ý và còn sống đến hơn 80 tuổi.
              Mơ đến đó, Lư Sinh cười thức tỉnh, từ giường ngồi dậy, lúc bấy giờ nồi kê của chủ quán hãy còn chưa nấu chín. Lư Sinh cảm khái muôn phần, nói rằng:
              - Không ngờ vinh hoa phú quý mấy chục năm rốt cuộc chỉ ngắn như một giấc mơ, quả thực là hoàng lương một gối.
              Lữ Ông cười nói rằng:
              - Đời người vốn là như thế. Vinh hoa phú quý chẳng qua là như một làn khói bay qua trước mắt, ngắn ngủi như một giấc mơ, hà tất phải  tính toán chi li?

                                                           Huỳnh Chương Hưng
                                                Quy Nhơn 15/01/2019

    Nguyên tác Trung văn
    NHẤT CHẨM HOÀNG LƯƠNG
    一枕黄粱
    TRUNG QUỐC THÀNH NGỮ CỐ SỰ TỔNG TẬP
    中国成语故事总集
    (tập 1)
    Chủ biên: Đường Kì 唐麒
    Trường Xuân – Thời đại văn nghệ xuất bản xã, 2004

    Thứ Hai, 14 tháng 1, 2019

    ẨM THỰC
    (tiếp theo)

              Ngoài thịt khô (“bô” ) và mắm thịt (“hải” ) ra, thời thượng cổ còn ăn “canh”. Có 2 loại canh, một loại là thuần nước thịt (thuần nhục trấp 纯肉汁) không gia ngũ vị, không có rau, loại này để uống. Theo Tả truyện – Hoàn Công nhị niên 左传 - 桓公二年có ghi:
    Thái canh bất trí, tư thực bất tạc, chiêu kì kiệm dã.
    大羹不致, 粢食不凿, 昭其俭也
    (Nước thịt không thêm gia vị, gạo để ăn không giã hai lần, đó là để biểu thị sự tiết kiệm)
              Gọi là () tức là loại canh này.
              Một loại canh thịt (nhục canh 肉羹) khác, đem thịt bỏ vào nồi nấu lên, cho thêm ngũ vị đun nhừ. Gọi là ngũ vị, nghe nói là ê , hải , diêm , mai và một loại rau. Loại rau này có thể là rau quỳ , có thể là hành (thông ), cũng có thể là hẹ (cửu ). Một thuyết khác, canh thịt bò dùng rau hoắc , canh thịt dê dùng rau khổ , canh thịt heo dùng rau vi . Trong Thượng thư – Thuyết mệnh 尚书 - 说命có ghi:
    Nhược tác hoà canh, nhĩ duy diêm mai.
    若作和羹, 尔惟盐梅
    (Nếu nêm canh, thì ông dùng muối và mơ)
              Có thể thấy mặn và chua là 2 vị chủ yếu của canh. Trong Mạnh Tử 孟子có nói
    Nhất đan thực, nhất đậu canh.
    一箪食, 一豆羹
    (Một giỏ cơm, một bát canh)
    Có lẽ chính là loại canh này. Trong Tả truyện - Ẩn Công nguyên niên -  隐公元年có nói, Trịnh Trang Công 郑庄公ban thức ăn cho Dĩnh Khảo Thúc 颍考叔, Dĩnh Khảo Thúc:
         Thực xả nhục. Công vấn chi. Đối viết: ‘Tiểu nhân hữu mẫu, giai thường tiểu nhân chi thực hĩ, vị thường quân chi canh. Thỉnh dĩ di chi.’
              食舍肉. 公问之. 对曰: 小人有母, 皆尝小人之食矣, 未尝君之羹也. 请以遗之.’
              (Lúc ăn để thịt ra một bên. Trang Công hỏi nguyên do. Đáp rằng: ‘Tiểu nhân còn mẹ, trước giờ đều ăn món ăn của tiểu nhân nấu, chưa từng ăn món canh của ngài. Nên xin được để dành cho mẹ.’)
    Có lẽ cũng chính là loại canh thịt (nhục canh 肉羹) này.
              Thời thượng cổ, gia cầm có kê (gà), nga (ngỗng), áp (vịt). Nga cũng còn gọi là “nhạn” (có dã nhạn 野雁và thư nhạn 舒雁, thư nhạn chính là nga). Chữ (áp) là chữ sau này, thời Chiến Quốc gọi là “vụ” , cho nên trong Sở từ - Bốc cư 楚辞 - 卜居có nói:
    Tương dữ kê vụ tranh thực hồ?
    将与鸡鹜争食乎?
    (Tranh ăn cùng gà vịt sao?)
              “Áp” (vịt) còn gọi là “thư phù” 舒凫, phân biệt với “dã phù” 也凫 (dã áp).
              Đường mà người thời thượng cổ ăn chỉ là loại đường mạch nha, gọi là “di” . Di cho thêm bột nếp (tản) ngào thành “đường” . “Di” thì mềm, còn “đường” thì cứng. Chữ là chữ cổ của chữ , (âm đọc là  “đường”). Nhưng “đường” lúc bấy giờ không phải là loại đường cát (sa đường 沙糖) của đời sau. “Sa đường” (đường mía) không phải là vốn có của trung nguyên. Đường cát trắng (bạch sa đường 白沙糖) gọi là “thạch mật” 石蜜, cũng là loại mà nước ngoài tiến cống. Nhìn chung loại “di” hoặc “đường” mà người ta ăn là đường mạch nha. Trong bài Hàn thực 寒食 của Tống Kì 宋祁 đầu thời Tống có câu:
    Tiêu thanh xuy noãn mại đường thiên (*)
    箫声吹暖卖餳天
    (Tiếng tiêu rao bán đường thổi ấm lúc ngày xuân)
    Đường mà được bán ở đây chính là đường mạch nha.
              Người xưa đã biết ủ rượu từ rất sớm. Người Thương nổi tiếng thích rượu, những tửu khí như cô , tước phát hiện được rất nhiều, có thể nói rõ tình hình uống rượu lúc đó rất thịnh. Nhưng thời cổ gọi là rượu nhìn chung đều là dùng loại “thử” nấu chín nhừ, cho thêm men ủ thành, không phải rượu chưng cất (thiêu tửu 烧酒). Rượu chưng cất là sau này.
              Trà là một trong những đặc sản chủ yếu của Trung Quốc. Trong Nhĩ nhã – Thích mộc 尔雅 - 释木có ghi:
    Giả, khổ đồ.
    , 苦荼
    (Giá là khổ đồ)
              (trà) và (đồ) vốn là 1 chữ, nhưng thời thượng cổ không có ghi chép liên quan đến việc uống trà. Vương Bao 王褒 trong Đồng ước 僮约 có nói đến “phanh trà” 烹茶 (nấu trà), “mãi trà” 买茶 (mua trà), có thể thấy vào đời Hán tại một số khu vực, trà không chỉ là thức uống mà còn là một loại thương phẩm. Trong Tam quốc chí – Ngô chí – Vi Diệu truyện 三国志 - 吴志 - 韦曜 có nói, Tôn Hạo 孙皓 ngầm tặng Vi Diệu 韦曜 “trà suyễn” 茶荈thay cho rượu (1).
              Trong Tục bác vật chí 续博物志 có nói, người phương nam thích uống trà, đại khái phong khí uống trà là từ Giang Nam 江南 truyền ra. Thời Nam Bắc triều, phong khí uống trà dần thịnh lên. Sau thời Đường Tống, trà trở thành thức uống của văn nhân nói chung.
              Thời cổ, Hán tộc không uống và không ăn những thực phẩm làm từ sữa. Trong Sử kí – Hung Nô liệt truyện 史记  - 匈奴列传 có ghi:
              Đắc Hán thực vật giai khứ chi, dĩ thị bất như đống lạc chi tiện mĩ dã.
              得汉食物皆去之, 以示不如湩酪之便美也.
              (Có được thức ăn người Hán đều bỏ, để tỏ ý không ngon bằng sữa)
              “Đống” là sữa ngựa; “lạc” có 2 loại là khô (can ) và ướt (thấp 湿). “Can lạc” 干酪chính là sữa đặc của hiện nay; “thấp lạc” 湿酪đại khái chính là sữa chua. Theo Sử kí 史记, ăn và uống sữa không phải là tập quán của Hán tộc. Bơ (tô du 酥油) thời cổ gọi là “tô”, vốn cũng là thực phẩm của người Hồ, cho nên Đường Huyền Tông 唐玄宗 trêu An Lộc Sơn 安禄山 rằng:
    Kham tiếu Hồ nhi đản thức tô
    堪笑胡儿但识酥
    (Cười cho Hồ nhi chỉ biết có bơ)
              “Đề hồ” 醍醐 là loại sữa đặc thượng đẳng, theo Niết Bàn kinh 涅盘经, sữa bò thành “lạc” , lạc thành “sinh tô” 生酥, sinh tô thành “thục tô” 熟酥, thục tô thành “đề hồ” 醍醐, đề hồ là loại tối thượng phẩm. Từ những điều này chứng minh, tập quán ăn và uống sữa là từ dân tộc thiểu số truyền đến. Hàn Dũ 韩愈 trong bài Sơ xuân tiểu vũ 初春小雨 viết rằng:
    Thiên nhai tiểu vũ nhuận như tô
    天街小雨润如酥
    (Đường kinh thành, mưa xuân cỏ ướt, mịn như bơ)
    Có thể thấy, thời Đường người Hán đã dần quen với bơ sữa.
                                                                                   (hết)

    Chú của nguyên tác
    1- Vi Diệu韦曜 chính là Vi Chiêu 韦昭, để tránh huý của Tấn Văn Đế 晋文帝sử đã đổi.  Trong Nhĩ nhã 尔雅, họ Quách đã chú rằng:
              Kim hô tảo thái giả vi trà, vãn thủ giả vi mính, nhất danh suyễn.
              今呼早采者为茶, 晚取者为茗, 一名荈.
              (Nay gọi loại hái sớm là “trà”, loại hái muộn là mính”, một tên khác là “suyễn”.)
    Chú của người dịch
    *- Mại đường thiên 卖餳天: chỉ ngày xuân tươi đẹp.
    Vào khoảng thời gian này, những người bán đường thổi sáo bán hàng thay cho tiếng rao, cho nên có tên như thế.

                                                               Huỳnh Chương Hưng
                                                               Quy Nhơn

    Nguồn
    TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI VĂN HOÁ THƯỜNG THỨC
    中国古代文化常识
    Chủ biên: Vương Lực 王力
    Bắc Kinh: Trung Quốc Nhân dân Đại học xuất bản xã, 2012


    Dịch thuật: Ẩm thực (tiếp theo)

    Đăng lúc  22:39  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    ẨM THỰC
    (tiếp theo)

              Ngoài thịt khô (“bô” ) và mắm thịt (“hải” ) ra, thời thượng cổ còn ăn “canh”. Có 2 loại canh, một loại là thuần nước thịt (thuần nhục trấp 纯肉汁) không gia ngũ vị, không có rau, loại này để uống. Theo Tả truyện – Hoàn Công nhị niên 左传 - 桓公二年có ghi:
    Thái canh bất trí, tư thực bất tạc, chiêu kì kiệm dã.
    大羹不致, 粢食不凿, 昭其俭也
    (Nước thịt không thêm gia vị, gạo để ăn không giã hai lần, đó là để biểu thị sự tiết kiệm)
              Gọi là () tức là loại canh này.
              Một loại canh thịt (nhục canh 肉羹) khác, đem thịt bỏ vào nồi nấu lên, cho thêm ngũ vị đun nhừ. Gọi là ngũ vị, nghe nói là ê , hải , diêm , mai và một loại rau. Loại rau này có thể là rau quỳ , có thể là hành (thông ), cũng có thể là hẹ (cửu ). Một thuyết khác, canh thịt bò dùng rau hoắc , canh thịt dê dùng rau khổ , canh thịt heo dùng rau vi . Trong Thượng thư – Thuyết mệnh 尚书 - 说命có ghi:
    Nhược tác hoà canh, nhĩ duy diêm mai.
    若作和羹, 尔惟盐梅
    (Nếu nêm canh, thì ông dùng muối và mơ)
              Có thể thấy mặn và chua là 2 vị chủ yếu của canh. Trong Mạnh Tử 孟子có nói
    Nhất đan thực, nhất đậu canh.
    一箪食, 一豆羹
    (Một giỏ cơm, một bát canh)
    Có lẽ chính là loại canh này. Trong Tả truyện - Ẩn Công nguyên niên -  隐公元年có nói, Trịnh Trang Công 郑庄公ban thức ăn cho Dĩnh Khảo Thúc 颍考叔, Dĩnh Khảo Thúc:
         Thực xả nhục. Công vấn chi. Đối viết: ‘Tiểu nhân hữu mẫu, giai thường tiểu nhân chi thực hĩ, vị thường quân chi canh. Thỉnh dĩ di chi.’
              食舍肉. 公问之. 对曰: 小人有母, 皆尝小人之食矣, 未尝君之羹也. 请以遗之.’
              (Lúc ăn để thịt ra một bên. Trang Công hỏi nguyên do. Đáp rằng: ‘Tiểu nhân còn mẹ, trước giờ đều ăn món ăn của tiểu nhân nấu, chưa từng ăn món canh của ngài. Nên xin được để dành cho mẹ.’)
    Có lẽ cũng chính là loại canh thịt (nhục canh 肉羹) này.
              Thời thượng cổ, gia cầm có kê (gà), nga (ngỗng), áp (vịt). Nga cũng còn gọi là “nhạn” (có dã nhạn 野雁và thư nhạn 舒雁, thư nhạn chính là nga). Chữ (áp) là chữ sau này, thời Chiến Quốc gọi là “vụ” , cho nên trong Sở từ - Bốc cư 楚辞 - 卜居có nói:
    Tương dữ kê vụ tranh thực hồ?
    将与鸡鹜争食乎?
    (Tranh ăn cùng gà vịt sao?)
              “Áp” (vịt) còn gọi là “thư phù” 舒凫, phân biệt với “dã phù” 也凫 (dã áp).
              Đường mà người thời thượng cổ ăn chỉ là loại đường mạch nha, gọi là “di” . Di cho thêm bột nếp (tản) ngào thành “đường” . “Di” thì mềm, còn “đường” thì cứng. Chữ là chữ cổ của chữ , (âm đọc là  “đường”). Nhưng “đường” lúc bấy giờ không phải là loại đường cát (sa đường 沙糖) của đời sau. “Sa đường” (đường mía) không phải là vốn có của trung nguyên. Đường cát trắng (bạch sa đường 白沙糖) gọi là “thạch mật” 石蜜, cũng là loại mà nước ngoài tiến cống. Nhìn chung loại “di” hoặc “đường” mà người ta ăn là đường mạch nha. Trong bài Hàn thực 寒食 của Tống Kì 宋祁 đầu thời Tống có câu:
    Tiêu thanh xuy noãn mại đường thiên (*)
    箫声吹暖卖餳天
    (Tiếng tiêu rao bán đường thổi ấm lúc ngày xuân)
    Đường mà được bán ở đây chính là đường mạch nha.
              Người xưa đã biết ủ rượu từ rất sớm. Người Thương nổi tiếng thích rượu, những tửu khí như cô , tước phát hiện được rất nhiều, có thể nói rõ tình hình uống rượu lúc đó rất thịnh. Nhưng thời cổ gọi là rượu nhìn chung đều là dùng loại “thử” nấu chín nhừ, cho thêm men ủ thành, không phải rượu chưng cất (thiêu tửu 烧酒). Rượu chưng cất là sau này.
              Trà là một trong những đặc sản chủ yếu của Trung Quốc. Trong Nhĩ nhã – Thích mộc 尔雅 - 释木có ghi:
    Giả, khổ đồ.
    , 苦荼
    (Giá là khổ đồ)
              (trà) và (đồ) vốn là 1 chữ, nhưng thời thượng cổ không có ghi chép liên quan đến việc uống trà. Vương Bao 王褒 trong Đồng ước 僮约 có nói đến “phanh trà” 烹茶 (nấu trà), “mãi trà” 买茶 (mua trà), có thể thấy vào đời Hán tại một số khu vực, trà không chỉ là thức uống mà còn là một loại thương phẩm. Trong Tam quốc chí – Ngô chí – Vi Diệu truyện 三国志 - 吴志 - 韦曜 có nói, Tôn Hạo 孙皓 ngầm tặng Vi Diệu 韦曜 “trà suyễn” 茶荈thay cho rượu (1).
              Trong Tục bác vật chí 续博物志 có nói, người phương nam thích uống trà, đại khái phong khí uống trà là từ Giang Nam 江南 truyền ra. Thời Nam Bắc triều, phong khí uống trà dần thịnh lên. Sau thời Đường Tống, trà trở thành thức uống của văn nhân nói chung.
              Thời cổ, Hán tộc không uống và không ăn những thực phẩm làm từ sữa. Trong Sử kí – Hung Nô liệt truyện 史记  - 匈奴列传 có ghi:
              Đắc Hán thực vật giai khứ chi, dĩ thị bất như đống lạc chi tiện mĩ dã.
              得汉食物皆去之, 以示不如湩酪之便美也.
              (Có được thức ăn người Hán đều bỏ, để tỏ ý không ngon bằng sữa)
              “Đống” là sữa ngựa; “lạc” có 2 loại là khô (can ) và ướt (thấp 湿). “Can lạc” 干酪chính là sữa đặc của hiện nay; “thấp lạc” 湿酪đại khái chính là sữa chua. Theo Sử kí 史记, ăn và uống sữa không phải là tập quán của Hán tộc. Bơ (tô du 酥油) thời cổ gọi là “tô”, vốn cũng là thực phẩm của người Hồ, cho nên Đường Huyền Tông 唐玄宗 trêu An Lộc Sơn 安禄山 rằng:
    Kham tiếu Hồ nhi đản thức tô
    堪笑胡儿但识酥
    (Cười cho Hồ nhi chỉ biết có bơ)
              “Đề hồ” 醍醐 là loại sữa đặc thượng đẳng, theo Niết Bàn kinh 涅盘经, sữa bò thành “lạc” , lạc thành “sinh tô” 生酥, sinh tô thành “thục tô” 熟酥, thục tô thành “đề hồ” 醍醐, đề hồ là loại tối thượng phẩm. Từ những điều này chứng minh, tập quán ăn và uống sữa là từ dân tộc thiểu số truyền đến. Hàn Dũ 韩愈 trong bài Sơ xuân tiểu vũ 初春小雨 viết rằng:
    Thiên nhai tiểu vũ nhuận như tô
    天街小雨润如酥
    (Đường kinh thành, mưa xuân cỏ ướt, mịn như bơ)
    Có thể thấy, thời Đường người Hán đã dần quen với bơ sữa.
                                                                                   (hết)

    Chú của nguyên tác
    1- Vi Diệu韦曜 chính là Vi Chiêu 韦昭, để tránh huý của Tấn Văn Đế 晋文帝sử đã đổi.  Trong Nhĩ nhã 尔雅, họ Quách đã chú rằng:
              Kim hô tảo thái giả vi trà, vãn thủ giả vi mính, nhất danh suyễn.
              今呼早采者为茶, 晚取者为茗, 一名荈.
              (Nay gọi loại hái sớm là “trà”, loại hái muộn là mính”, một tên khác là “suyễn”.)
    Chú của người dịch
    *- Mại đường thiên 卖餳天: chỉ ngày xuân tươi đẹp.
    Vào khoảng thời gian này, những người bán đường thổi sáo bán hàng thay cho tiếng rao, cho nên có tên như thế.

                                                               Huỳnh Chương Hưng
                                                               Quy Nhơn

    Nguồn
    TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI VĂN HOÁ THƯỜNG THỨC
    中国古代文化常识
    Chủ biên: Vương Lực 王力
    Bắc Kinh: Trung Quốc Nhân dân Đại học xuất bản xã, 2012


    Chủ Nhật, 13 tháng 1, 2019

    ẨM THỰC

              Lương thực thời cổ có ngũ cốc, lục cốc và bách cốc. Theo cách nói thông thường, ngũ cốc là tắc , thử , mạch , thúc , ma ; lục cốc là đạo , tắc , thử , mạch , thúc , ma . Lục cốc nhiều hơn ngũ cốc một loại đó là đạo, đây rõ ràng nhân vì thuỷ đạo 水稻  (lúa nước) vốn là thực vật của phương nam, sau mới chuyển đến phương bắc (1). Còn như bách cốc, không phải là nói thời thượng cổ có nhiều phẩm chủng lương thực như vậy, mà chỉ là mang ý nghĩa nhiều cốc vật mà thôi.
              Tắc là tiểu mễ 小米, cũng còn gọi là “cốc tử” 谷子 (2). Trong một thời gian dài thời thượng cổ, tắc là lương thực quan trọng nhất. Người xưa lấy tắc đại biểu cho Cốc thần 谷神. Cốc thần và Xã thần 社神 (thổ thần 土神) hợp xưng là “xã tắc” 社稷, đồng thời lấy xã tắc đại xưng cho quốc gia. Do đó có thể thấy tính trọng yếu của tắc vào thời thượng cổ.
              Thử là là loại mà phương bắc gọi là “thử tử” 黍子, còn gọi là “hoàng mễ” 黄米. Trong Thi kinh 诗经thường thấy “thử tắc” 黍稷đi chung với nhau, có thể thấy vào thời thượng cổ, thử cũng rất quan trọng. Thời thượng cổ, thử được cho là lương thực tương đối ngon, cho nên trong Luận ngữ - Vi Tử 论语 - 微子 có nói:
    Sát kê vi thử nhi tự chi.
    杀鸡为黍而食之
    (Giết gà nấu cơm (thử) mời (Tử Lộ) ăn)
              Mạch chia làm 2 loại là đại mạch 大麦và tiểu mạch 小麦. Thời cổ, đại mạch gọi là “mâu” , còn gọi là “lai mâu” 来牟.
              Thúc chính là đậu. Thời thượng cổ chỉ gọi “thúc” , từ thời Hán về sau gọi “đậu” .
              Ma chỉ đại ma tử 大麻子, thời cổ cũng dùng làm thức ăn, đời sau còn ăn “ma chúc” 麻粥 (một loại cháo). Trong Thi kinh – Bân phong – Thất nguyệt 诗经 - 豳风 - 七月 có câu:
    Cửu nguyệt thúc thư.
    九月叔苴
    (Tháng chín thu thập hạt thúc hạt thư)
    “thư” chính là “ma tử” 麻子. Ma không phải là lương thực chủ yếu, thời cổ thường nói “ti ma” 丝麻hoặc “tang ma” 桑麻, đó là nói sợi của đại ma.

              Giờ nói đến cốc , hoà , túc , lương .
              Cốc là tổng xưng của bách cốc. Hoà vốn chuyên chỉ tắc, về sau dần biến thành thông xưng chỉ lương thực nói chung. Túc vốn là hạt khô của hoà, thử, sau cũng trở thành thông xưng chỉ lương thực. Lương là loại tốt của tắc. Người xưa thường nói chung “đạo lương” 稻粱, cho rằng hai loại cốc vật này ăn ngon; lại gọi chung “cao lương” 膏粱 hoặc “lương nhục” 粱肉, cho rằng đó là món ăn tinh mĩ.
              Lương thực sấy khô thành lương khô gọi là “khứu” , cũng gọi là “hầu lương” 糇粮. Trong Thi kinh – Đại nhã – Công Lưu 诗经 - 大雅 - 公刘có câu:
    Nãi khoả hầu lương
    迺裹糇粮
    (Bèn gói lương khô)
              Bản thân chữ cũng là chỉ lương khô, lúc hành quân hoặc đi xa mới ăn “lương”. Cho nên trong Trang Tử - Tiêu dao du 庄子 - 逍遥游có nói:
    Thích thiên lí giả, tam nguyệt tụ lương.
    适千理者, 三月聚粮
    (Lúc đi xa ngàn dặm, tích trữ lương khô cho 3 tháng)
              Người xưa lấy bò (trâu?), dê, heo làm “tam sinh” 三牲. Khi tế tự tam sinh nguyên cả con gọi là “Thái lao” 太牢; chỉ dùng dê và heo không dùng bò thì gọi là “Thiếu lao” 少牢. Bò quý nhất, chỉ có giai cấp thống trị mới ăn nổi, món thịt tương đối phổ biến là thịt dê, cho nên từ “mĩ tu” 美馐 (mĩ là mĩ vị, tu là món ăn quý và ngon) có chữ (dương), chữ (canh) có chữ (“cao” là con dê con) chữ (mĩ). Người xưa cũng ăn thịt chó, đồng thời cũng có người lấy mổ chó làm nghề, Phàn Khoái 樊哙 thời Hán “dĩ đồ cẩu vi sự” 以屠狗为事 (lấy mổ chó làm nghề). Nhan Sư Cổ 颜师古khi chú Hán thư – Phàn Khoái truyện 汉书 - 樊哙传đã viết:
              Thời nhân thực cẩu, diệc dữ dương thỉ đồng, cố Khoái chuyên đồ dĩ mại.
              时人食狗, 亦与羊豕同, 故哙专屠以卖.
              (Người lúc bấy giờ ăn thịt chó, cũng giống như ăn thịt dê thịt heo, cho nên Khoái chuyên mổ chó để bán.)
    Có thể thấy, người thời Đường đã không ăn thịt chó.
              Thời thượng cổ, thịt khô gọi là “bô” , gọi là “tu” ; mắm thịt (“nhục tương” 肉酱) gọi là “hải” . vốn đa nghĩa, ngoài “thản hải” (nhục tương肉酱) ra, còn có “ngư hải” 鱼醢, “thận hải” 蜃醢 (mắm sò) ... nhưng nhìn chung, gọi là “hải” là chỉ “nhục tương”.
              Thời thượng cổ đã có giấm, gọi là “ê” . Khi đã có giấm thì có thể chế biến thành cải chua, cải ngâm, gọi là “trư” . Dưa rau xắt nhỏ gọi là “tê” . Thịt muối, cá muối cũng gọi là “trư” , cho nên có “lộc trư” 鹿菹, “ngư trư” 鱼菹. Về ý nghĩa này, “trư” và “hải” tương cận...  
    (còn tiếp)

    Chú của nguyên tác
    1- Còn có một thuyết khác nói về ngũ cốc, như trong Mạnh Tử - Đằng Văn Công thượng 孟子 - 滕文公上có ghi:
    Thụ nghệ ngũ cốc
    树艺五谷
    (Trồng ngũ cốc)
    Triệu Kì 赵歧chú rằng:
    Ngũ cốc vi đạo, thử, tắc, mạch, thúc.
    五谷为稻, , , ,
    (Ngũ cốc là đạo, thử, tắc, mạch, thúc)
              Về lục cốc cũng có cách nói khác, ở đây không nêu ra.
    2- Có người nói tắc và thử là một loại, hạt của thử màu vàng, có tính chất dính; hạt của tắc màu trắng, không có tính chất dính.

                                                               Huỳnh Chương Hưng
                                                               Quy Nhơn 13/01/2019

    Nguồn
    TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI VĂN HOÁ THƯỜNG THỨC
    中国古代文化常识
    Chủ biên: Vương Lực 王力
    Bắc Kinh: Trung Quốc Nhân dân Đại học xuất bản xã, 2012

    Dịch thuật: Ẩm thực

    Đăng lúc  21:00  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    ẨM THỰC

              Lương thực thời cổ có ngũ cốc, lục cốc và bách cốc. Theo cách nói thông thường, ngũ cốc là tắc , thử , mạch , thúc , ma ; lục cốc là đạo , tắc , thử , mạch , thúc , ma . Lục cốc nhiều hơn ngũ cốc một loại đó là đạo, đây rõ ràng nhân vì thuỷ đạo 水稻  (lúa nước) vốn là thực vật của phương nam, sau mới chuyển đến phương bắc (1). Còn như bách cốc, không phải là nói thời thượng cổ có nhiều phẩm chủng lương thực như vậy, mà chỉ là mang ý nghĩa nhiều cốc vật mà thôi.
              Tắc là tiểu mễ 小米, cũng còn gọi là “cốc tử” 谷子 (2). Trong một thời gian dài thời thượng cổ, tắc là lương thực quan trọng nhất. Người xưa lấy tắc đại biểu cho Cốc thần 谷神. Cốc thần và Xã thần 社神 (thổ thần 土神) hợp xưng là “xã tắc” 社稷, đồng thời lấy xã tắc đại xưng cho quốc gia. Do đó có thể thấy tính trọng yếu của tắc vào thời thượng cổ.
              Thử là là loại mà phương bắc gọi là “thử tử” 黍子, còn gọi là “hoàng mễ” 黄米. Trong Thi kinh 诗经thường thấy “thử tắc” 黍稷đi chung với nhau, có thể thấy vào thời thượng cổ, thử cũng rất quan trọng. Thời thượng cổ, thử được cho là lương thực tương đối ngon, cho nên trong Luận ngữ - Vi Tử 论语 - 微子 có nói:
    Sát kê vi thử nhi tự chi.
    杀鸡为黍而食之
    (Giết gà nấu cơm (thử) mời (Tử Lộ) ăn)
              Mạch chia làm 2 loại là đại mạch 大麦và tiểu mạch 小麦. Thời cổ, đại mạch gọi là “mâu” , còn gọi là “lai mâu” 来牟.
              Thúc chính là đậu. Thời thượng cổ chỉ gọi “thúc” , từ thời Hán về sau gọi “đậu” .
              Ma chỉ đại ma tử 大麻子, thời cổ cũng dùng làm thức ăn, đời sau còn ăn “ma chúc” 麻粥 (một loại cháo). Trong Thi kinh – Bân phong – Thất nguyệt 诗经 - 豳风 - 七月 có câu:
    Cửu nguyệt thúc thư.
    九月叔苴
    (Tháng chín thu thập hạt thúc hạt thư)
    “thư” chính là “ma tử” 麻子. Ma không phải là lương thực chủ yếu, thời cổ thường nói “ti ma” 丝麻hoặc “tang ma” 桑麻, đó là nói sợi của đại ma.

              Giờ nói đến cốc , hoà , túc , lương .
              Cốc là tổng xưng của bách cốc. Hoà vốn chuyên chỉ tắc, về sau dần biến thành thông xưng chỉ lương thực nói chung. Túc vốn là hạt khô của hoà, thử, sau cũng trở thành thông xưng chỉ lương thực. Lương là loại tốt của tắc. Người xưa thường nói chung “đạo lương” 稻粱, cho rằng hai loại cốc vật này ăn ngon; lại gọi chung “cao lương” 膏粱 hoặc “lương nhục” 粱肉, cho rằng đó là món ăn tinh mĩ.
              Lương thực sấy khô thành lương khô gọi là “khứu” , cũng gọi là “hầu lương” 糇粮. Trong Thi kinh – Đại nhã – Công Lưu 诗经 - 大雅 - 公刘có câu:
    Nãi khoả hầu lương
    迺裹糇粮
    (Bèn gói lương khô)
              Bản thân chữ cũng là chỉ lương khô, lúc hành quân hoặc đi xa mới ăn “lương”. Cho nên trong Trang Tử - Tiêu dao du 庄子 - 逍遥游có nói:
    Thích thiên lí giả, tam nguyệt tụ lương.
    适千理者, 三月聚粮
    (Lúc đi xa ngàn dặm, tích trữ lương khô cho 3 tháng)
              Người xưa lấy bò (trâu?), dê, heo làm “tam sinh” 三牲. Khi tế tự tam sinh nguyên cả con gọi là “Thái lao” 太牢; chỉ dùng dê và heo không dùng bò thì gọi là “Thiếu lao” 少牢. Bò quý nhất, chỉ có giai cấp thống trị mới ăn nổi, món thịt tương đối phổ biến là thịt dê, cho nên từ “mĩ tu” 美馐 (mĩ là mĩ vị, tu là món ăn quý và ngon) có chữ (dương), chữ (canh) có chữ (“cao” là con dê con) chữ (mĩ). Người xưa cũng ăn thịt chó, đồng thời cũng có người lấy mổ chó làm nghề, Phàn Khoái 樊哙 thời Hán “dĩ đồ cẩu vi sự” 以屠狗为事 (lấy mổ chó làm nghề). Nhan Sư Cổ 颜师古khi chú Hán thư – Phàn Khoái truyện 汉书 - 樊哙传đã viết:
              Thời nhân thực cẩu, diệc dữ dương thỉ đồng, cố Khoái chuyên đồ dĩ mại.
              时人食狗, 亦与羊豕同, 故哙专屠以卖.
              (Người lúc bấy giờ ăn thịt chó, cũng giống như ăn thịt dê thịt heo, cho nên Khoái chuyên mổ chó để bán.)
    Có thể thấy, người thời Đường đã không ăn thịt chó.
              Thời thượng cổ, thịt khô gọi là “bô” , gọi là “tu” ; mắm thịt (“nhục tương” 肉酱) gọi là “hải” . vốn đa nghĩa, ngoài “thản hải” (nhục tương肉酱) ra, còn có “ngư hải” 鱼醢, “thận hải” 蜃醢 (mắm sò) ... nhưng nhìn chung, gọi là “hải” là chỉ “nhục tương”.
              Thời thượng cổ đã có giấm, gọi là “ê” . Khi đã có giấm thì có thể chế biến thành cải chua, cải ngâm, gọi là “trư” . Dưa rau xắt nhỏ gọi là “tê” . Thịt muối, cá muối cũng gọi là “trư” , cho nên có “lộc trư” 鹿菹, “ngư trư” 鱼菹. Về ý nghĩa này, “trư” và “hải” tương cận...  
    (còn tiếp)

    Chú của nguyên tác
    1- Còn có một thuyết khác nói về ngũ cốc, như trong Mạnh Tử - Đằng Văn Công thượng 孟子 - 滕文公上có ghi:
    Thụ nghệ ngũ cốc
    树艺五谷
    (Trồng ngũ cốc)
    Triệu Kì 赵歧chú rằng:
    Ngũ cốc vi đạo, thử, tắc, mạch, thúc.
    五谷为稻, , , ,
    (Ngũ cốc là đạo, thử, tắc, mạch, thúc)
              Về lục cốc cũng có cách nói khác, ở đây không nêu ra.
    2- Có người nói tắc và thử là một loại, hạt của thử màu vàng, có tính chất dính; hạt của tắc màu trắng, không có tính chất dính.

                                                               Huỳnh Chương Hưng
                                                               Quy Nhơn 13/01/2019

    Nguồn
    TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI VĂN HOÁ THƯỜNG THỨC
    中国古代文化常识
    Chủ biên: Vương Lực 王力
    Bắc Kinh: Trung Quốc Nhân dân Đại học xuất bản xã, 2012

    Mã nguồn bởi Huỳnh Chương Hưng
    Copyright © 2012 Huỳnh Chương Hưng.
    back to top