• Thứ Hai, 17 tháng 6, 2019



    BÍM TÓC CŨNG LIÊN QUAN ĐẾN CHÍNH TRỊ
    (kì 2)

              Đất nước mở cửa, ngày càng đông người nước ngoài đến Trung Quốc, đối với kiểu tóc ở đây họ nhìn với một nhãn quang khác lạ. Tuy nói lúc đó người Trung Quốc tự cho bím tóc của mình đã thô đến mức gọi là “ngưu vĩ” (đuôi trâu), nhưng người nước ngoài vẫn gọi là “pigtail” (trư vĩ ba 猪尾巴 – đuôi heo), điều đó nói rõ có hàm chứa sự chê cười và khinh miệt.
              Người Trung Quốc ra nước ngoài càng khó thừa nhận áp lực tinh thần này, rất nhiều người đem bím tóc vấn lên đầu lấy mũ đội lên thật chặt, chỉ sợ người khác trông thấy, người bạo gan hơn lén cắt phăng bím tóc. Nhóm “giả dương quỷ tử” 假洋鬼子 cắt bỏ bím tóc sớm nhất xuất hiện trong đám lưu học sinh với học bổng của nhà nước được tuyển chọn sang Mĩ.
              Nhằm bồi dưỡng nhân tài kiểu mới, triều đình từ năm Đồng Trị 同治 thứ 11 (năm 1872) bắt đầu tuyển chọn trẻ em khoảng 10 tuổi đến Mĩ lưu học. Những em này bắt đầu từ tiểu học học Anh ngữ trước, biết rõ văn hoá ngoại quốc, sau đó học chuyên khoa hoặc bổn khoa, nắm vững tri thức chuyên môn và kĩ năng, cuối cùng học xong về lại xây dựng triều Đại Thanh. Nhóm trẻ em đầu tiên mặc trường bào mã quái, với bím tóc đen bóng bước lên bờ đại dương bên kia, lập tức đã khiến cho đám người Mĩ vây lại xem: Ồ! Rất nhiều “Chinese girl” đến kìa, Nhiệt liệt chào đón! Lúc này chúng tôi mới rõ , bím tóc lớn đã khiến người ta xem chúng tôi lả con gái. Điều đó khiến cho đám thuần một sắc đàn ông sao chịu được. Một khi đi cảm thấy ấm ức, về sau với một thời gian dài ở Mĩ, dần dần tiếp thụ phương thức sinh hoạt và quan niệm tư tưởng phương tây, tứ thư ngũ kinh không đọc nữa, trường bào mã quái cũng đổi sang trang phục phương tây hoặc quần áo jean, có người dứt khoát cắt bỏ bím tóc, và tự do yêu đương với các cô gái nơi đó.
              Triều đình trông thấy, cho là đại nghịch bất đạo, hoàn toàn mất đi khí độ và sự kiêu hãnh vốn có của triều Đại Thanh. Thế là liền triệu hồi toàn bộ lưu học sinh đã phái đi. Đại bộ phận chưa hoàn thành việc học. Những người này sau khi về nước đành phải làm bím tóc giả để đối phó, khi khấu đầu hành lễ quan lão gia phải vô cùng cẩn thận để tránh dùng quá sức bím tóc giả sẽ rơi ra, truy cứu có thể đại hoạ tới bên “đầu”.
              Đến năm Quang Tự 光绪 thứ 24 (năm 1898), lãnh tụ Mậu Tuất biến pháp  là Khang Hữu Vi 康有为 nhìn hình thế quốc tế, cho rằng trên người mặc phục trang kì dị sẽ dẫn đến các nước bè bạn xem mình như dị loại, không có lợi cho việc bang giao và đề cao địa vị quốc tế của Đại Thanh, thế là để cao độ hướng đến cuộc sống hiện đại và phục sức tiếp cận với quỹ đạo quốc tế, ông đã đề nghị cắt bỏ bím tóc, đổi cách phục sức. Quang Tự đế vui vẻ tiếp thụ, định ban đạo thánh chỉ cho chấp hành trong phạm vi cả nước. Nhưng hoàng thượng quên mất, hai đường lối gốc mà Từ Hi thái hậu 慈禧太后lên tiếng  - chỉ cần quốc hiệu Đại Thanh không thay đổi, bím tóc không cắt bỏ, những điều khác hoàng thường muốn thay đổi như thế nào thì tuỳ ý. Xem ra lão thái hậu vẫn hết mực đem bím tóc đặt vào chiến lược thống trị tượng trưng. Đã cho cải cách của hoàng thượng chẳng ra làm sao, bà đành phải từ hậu đài bước ra chủ trì đại cục. Cho nên chẳng đợi hoàng đế hạ lệnh cắt bỏ bím tóc, ông đã bị giam nơi Doanh Đài 瀛台, giống như một tù phạm cao cấp nhất của Đại Thanh.
              Mãi cho đến sau khi Trung Hoa Dân Quốc thành lập, Tôn Trung Sơn 孙中山 lấy thân phận lâm thời đại tổng thống ban bố văn cáo cắt bỏ bím tóc, yêu cầu quốc dân nội trong 20 ngày cắt sạch bím tóc, nếu không sẽ bị luận xử là vi pháp. Từ đó, người trong nước cuối cùng đã đem bím tóc sau gáy hơn 200 năm cắt bỏ, nghinh đón thời đại mới của Dân Quốc.  (hết)

                                                                 Huỳnh Chương Hưng
                                                                  Quy Nhơn 17/6/2019

    Nguồn
    HOẠT TẠI ĐẠI THANH
    活在大清
    Tác giả: Mao Soái 毛帅
    Thành Đô: Tứ Xuyên nhân dân xuất bản xã, 2018

    Dịch thuật: Bím tóc cũng liên quan đến chính trị (kì 2)

    Đăng lúc  19:09  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »



    BÍM TÓC CŨNG LIÊN QUAN ĐẾN CHÍNH TRỊ
    (kì 2)

              Đất nước mở cửa, ngày càng đông người nước ngoài đến Trung Quốc, đối với kiểu tóc ở đây họ nhìn với một nhãn quang khác lạ. Tuy nói lúc đó người Trung Quốc tự cho bím tóc của mình đã thô đến mức gọi là “ngưu vĩ” (đuôi trâu), nhưng người nước ngoài vẫn gọi là “pigtail” (trư vĩ ba 猪尾巴 – đuôi heo), điều đó nói rõ có hàm chứa sự chê cười và khinh miệt.
              Người Trung Quốc ra nước ngoài càng khó thừa nhận áp lực tinh thần này, rất nhiều người đem bím tóc vấn lên đầu lấy mũ đội lên thật chặt, chỉ sợ người khác trông thấy, người bạo gan hơn lén cắt phăng bím tóc. Nhóm “giả dương quỷ tử” 假洋鬼子 cắt bỏ bím tóc sớm nhất xuất hiện trong đám lưu học sinh với học bổng của nhà nước được tuyển chọn sang Mĩ.
              Nhằm bồi dưỡng nhân tài kiểu mới, triều đình từ năm Đồng Trị 同治 thứ 11 (năm 1872) bắt đầu tuyển chọn trẻ em khoảng 10 tuổi đến Mĩ lưu học. Những em này bắt đầu từ tiểu học học Anh ngữ trước, biết rõ văn hoá ngoại quốc, sau đó học chuyên khoa hoặc bổn khoa, nắm vững tri thức chuyên môn và kĩ năng, cuối cùng học xong về lại xây dựng triều Đại Thanh. Nhóm trẻ em đầu tiên mặc trường bào mã quái, với bím tóc đen bóng bước lên bờ đại dương bên kia, lập tức đã khiến cho đám người Mĩ vây lại xem: Ồ! Rất nhiều “Chinese girl” đến kìa, Nhiệt liệt chào đón! Lúc này chúng tôi mới rõ , bím tóc lớn đã khiến người ta xem chúng tôi lả con gái. Điều đó khiến cho đám thuần một sắc đàn ông sao chịu được. Một khi đi cảm thấy ấm ức, về sau với một thời gian dài ở Mĩ, dần dần tiếp thụ phương thức sinh hoạt và quan niệm tư tưởng phương tây, tứ thư ngũ kinh không đọc nữa, trường bào mã quái cũng đổi sang trang phục phương tây hoặc quần áo jean, có người dứt khoát cắt bỏ bím tóc, và tự do yêu đương với các cô gái nơi đó.
              Triều đình trông thấy, cho là đại nghịch bất đạo, hoàn toàn mất đi khí độ và sự kiêu hãnh vốn có của triều Đại Thanh. Thế là liền triệu hồi toàn bộ lưu học sinh đã phái đi. Đại bộ phận chưa hoàn thành việc học. Những người này sau khi về nước đành phải làm bím tóc giả để đối phó, khi khấu đầu hành lễ quan lão gia phải vô cùng cẩn thận để tránh dùng quá sức bím tóc giả sẽ rơi ra, truy cứu có thể đại hoạ tới bên “đầu”.
              Đến năm Quang Tự 光绪 thứ 24 (năm 1898), lãnh tụ Mậu Tuất biến pháp  là Khang Hữu Vi 康有为 nhìn hình thế quốc tế, cho rằng trên người mặc phục trang kì dị sẽ dẫn đến các nước bè bạn xem mình như dị loại, không có lợi cho việc bang giao và đề cao địa vị quốc tế của Đại Thanh, thế là để cao độ hướng đến cuộc sống hiện đại và phục sức tiếp cận với quỹ đạo quốc tế, ông đã đề nghị cắt bỏ bím tóc, đổi cách phục sức. Quang Tự đế vui vẻ tiếp thụ, định ban đạo thánh chỉ cho chấp hành trong phạm vi cả nước. Nhưng hoàng thượng quên mất, hai đường lối gốc mà Từ Hi thái hậu 慈禧太后lên tiếng  - chỉ cần quốc hiệu Đại Thanh không thay đổi, bím tóc không cắt bỏ, những điều khác hoàng thường muốn thay đổi như thế nào thì tuỳ ý. Xem ra lão thái hậu vẫn hết mực đem bím tóc đặt vào chiến lược thống trị tượng trưng. Đã cho cải cách của hoàng thượng chẳng ra làm sao, bà đành phải từ hậu đài bước ra chủ trì đại cục. Cho nên chẳng đợi hoàng đế hạ lệnh cắt bỏ bím tóc, ông đã bị giam nơi Doanh Đài 瀛台, giống như một tù phạm cao cấp nhất của Đại Thanh.
              Mãi cho đến sau khi Trung Hoa Dân Quốc thành lập, Tôn Trung Sơn 孙中山 lấy thân phận lâm thời đại tổng thống ban bố văn cáo cắt bỏ bím tóc, yêu cầu quốc dân nội trong 20 ngày cắt sạch bím tóc, nếu không sẽ bị luận xử là vi pháp. Từ đó, người trong nước cuối cùng đã đem bím tóc sau gáy hơn 200 năm cắt bỏ, nghinh đón thời đại mới của Dân Quốc.  (hết)

                                                                 Huỳnh Chương Hưng
                                                                  Quy Nhơn 17/6/2019

    Nguồn
    HOẠT TẠI ĐẠI THANH
    活在大清
    Tác giả: Mao Soái 毛帅
    Thành Đô: Tứ Xuyên nhân dân xuất bản xã, 2018

    Chủ Nhật, 16 tháng 6, 2019



    BÍM TÓC CŨNG LIÊN QUAN ĐẾN CHÍNH TRỊ
    (kì 1)

              Trong Hiếu kinh 孝经 tuyên dương quan niệm:
    Thân thể phát phu, thụ chi phụ mẫu, bất cảm huỷ thương.
    身体发肤, 受之父母, 不敢毁伤
    (Thân thể tóc da đều nhận từ cha mẹ, không dám làm tổn hại)
    Ý nghĩa bề mặt là nói thân thể của mình do cha mẹ ban cho, phải biết yêu quý đừng làm tổn hại. Nhưng hàm nghĩa sâu xa là khuyên răn mọi người nên an phận thủ thường, không được làm xằng làm bậy, để tránh phải cái khổ về da thịt, tránh cái hoạ ngục tù, nếu không sẽ không thể tận hiếu bên cạnh cha mẹ. Về sau mọi người đều nghe theo lời giáo huấn đó, bảo vệ kĩ lưỡng cẩn thận đầu tóc của mình. Khi thành niên, đem tóc búi lên đỉnh đầu, sau đó đội lên chiếc mũ cao cao, hình thành truyền thống lâu dài nuôi dưỡng tóc, nhân đó con trai Hán tộc thời phong kiến đều có tóc dài đến eo. Thời Tam Quốc, Tào Tháo 曹操 từng nhân vì con chiến mã bị kinh sợ đi nhầm vào ruộng của người dân làm huỷ hoại mùa màng, để biểu thị sự nghiêm minh của quân kỉ, Tào Tháo đã cắt một nhúm tóc thay cho chém đầu, có thể thấy đầu tóc trong mắt mọi người cũng ngang bằng với tính mệnh thân thể.

    Tiêu chuẩn nghiêm ngặt nhất trong lịch sử: để đầu không để tóc
              Từ Đảng Hạng 党项, Khất Đan 契丹 đến Mông Cổ 蒙古, dân tộc du mục phương bắc có một tập tục, cạo phần lớn đầu tóc, chỉ để lại một phần hoặc thả ra hoặc thắt bím lại. Người Đảng Hạng năm đó tin Phật giáo, con trai trong cả nước dứt khoát phải cạo tóc, thế là Tây Hạ 西夏 có biệt xưng là “tăng quốc” 僧国. Về sau triều Kim ở phương bắc cũng từng ra sức thực hiện rộng rãi kiểu tóc của dân tộc mình, nhiều người Hán nhân vì không chịu cạo tóc mà trực tiếp thoát li quốc tịch, đầu bôn đến triều Tống ở phía nam. Để hoà hoãn nguy cơ chính trị do việc cạo tóc gây ra, triều Kim đã không cưỡng chế chấp hành.
              Mặc dù đã có một số tiền lệ, nhưng quảng đại quần chúng Hán tộc trên cơ sở quan niệm văn hoá truyền thống và nhãn quan thẩm mĩ của bản thân, khó mà tiếp thụ kiểu tóc mà quân Thanh cưỡng chế thực hiện: đem tóc bốn phía trên đỉnh đầu cạo sạch toàn bộ, chỉ chừa lại phía sau gáy một nhúm nhỏ khoảng bằng đồng tiền, thắt thành bím tóc vừa nhỏ vừa dài. Bím tóc này có thể xuyên qua lỗ vuông của đồng tiền mới được xem là hợp cách, nhìn giống như đuôi chuột, kiểu tóc đó bị người Hán gọi là “kim tiền thử vĩ thức” 金钱鼠尾式 (kiểu đồng tiền đuôi chuột). Để hợp với kiểu tóc đó, râu của người tộc Mãn cũng chỉ lưu lại hai bên mép mười mấy sợi.
              Cạo đầu thắt bím so với để tóc dài búi lên càng đơn giản tiện lợi, lúc gội đầu cũng có thể tiết kiệm nước, nhưng để lúc nào cũng giữ được đầu láng bóng, cứ khoảng mỗi 10 ngày lại cạo một lần. Thời gian và công sức dành cho khoản cạo đầu cũng không phải là ít. Bím tóc sau gáy cũng mang lại nhiều bất tiện trong cuộc sống.
              Năm Thuận Trị 顺治thứ 2 (năm 1645), “thế phát lệnh” 剃发令 (lệnh cạo tóc) chính thức được ban bố, yêu cầu bắt đầu từ ngày ra thông báo, nội trong 10 ngày tất phải hoàn thành đổi mới kiểu tóc, người nào kiên trì không chịu cạo hoặc sau khi cạo mà vẫn không phù hợp quy cách “kim tiền thử vĩ”, toàn bộ bị xem là loạn thần tặc tử không chịu phục tùng sự thống trị của triều Thanh sẽ bị xử tử, tuyệt không nương tay. Thế là trong việc chấp pháp có khẩu hiệu đơn giản nhưng thô bạo: “lưu đầu bất lưu phát, lưu phát bất lưu đầu” 留头不留发, 留发不留头 (để đầu thì không để tóc, để tóc thì không để đầu).
              Tự nhiên nhi nhiên, lệnh cạo tóc đã gây ra một cuộc biến động trên dưới trong cả nước, một số lượng lớn di dân đời Minh kiên quyết không chấp hành. Thậm chí đương thời ngay cả cháu đời thứ 62 của Khổng Tử là Khổng Văn Tiêu 孔闻謤cũng muốn tranh thủ bảo lưu tập tục truyền thống của Hán tộc, thế là dâng thư lên Nhiếp chính vương Đa Nhĩ Cổn 多尔衮, nói rằng:
              Hoàng thượng trước giờ tôn trọng Khổng Tử, nay lại ra lệnh thay đổi chế độ y quan mà thánh hiền tạo ra đã kéo dài mấy ngàn năm nay, e là người thiên hạ nhân đó mà không nhìn nhận tấm lòng của ngài đối với Khổng Tử.
              Ông ta đem ra “kim tự chiêu bài” Khổng Tử mà đi đến đâu thuận lợi đến đó, cho rằng có thể chống lại, không ngờ va phải đinh thép, Đa Nhĩ Cổn mượn danh nghĩa Thuận Trị đáp lại rằng:
              Ý trẫm đã quyết, chính sách cạo tóc không thể thay đổi được. Nễ mặt Khổng Tử, miễn cho ngươi tội chết, nhưng chính như Khổng Tử nói: “đạo bất đồng bất tương vi mưu” 道不同不相为谋 (không cùng đường đi thì không không cùng nhau mưu tính), triều đình không cần ngươi ra sức, hãy về nhà mà nghỉ ngơi).
              Chẳng bao lâu , Khổng Văn Tiêu tại quê nhà vì uất ức mà chết.  
              Thái độ của hoàng đế đối với con cháu của Khổng Tử còn khách khí như thế, đối với bình dân là “vi giả sát vô xá” 违者杀不赦 (người vi phạm giết không tha). Năm Thuận Trị thứ 4 (năm 1647), Hứa Thự quan 浒墅关 (1) có một người đàn ông tên Đinh Tuyền 丁泉, tóc chỉ cạo rất ít, không cần dùng đồng tiền thể thử cũng đã thấy không phù hợp với tiêu chuẩn “kim tiền thử vĩ”. Khi ra khỏi nhà bị nhân viên đi tuần của phủ quan phát hiện, lập tức cho là có quan hệ đến vấn đề chính trị trọng đại bèn báo lên trung ương, thỉnh thị biện pháp xử trí. Hoàng đế đích thân phê rằng: tựu địa xử quyết! ngay cả gia trưởng, hàng xóm của Đinh Tuyền gần ngàn người tuy chưa kịp thời phát hiện và báo lên cũng bị liên luỵ, quan huyện địa phương do vì giám quản không tới nơi tới chốn bị truy cứu tội “thất sát” 失察 (không giám sát). Có thể thấy việc chấp hành lệnh cạo tóc này là vô cùng nghiêm ngặt.
              Từ khi quân Thanh vào trung nguyên đến năm Gia Khánh thứ 5 (năm 1800), thời gian trước sau 160 năm, “thử vĩ” (đuôi chuột) 鼠尾của đàn ông bảo trì trong một đồng tiền. Đến khi Gia Khánh bắt đầu lên ngôi, chính sách xuất hiện sự nới lỏng một chút, diện tích cạo trên đầu từ từ thu nhỏ lại, bím tóc ngày càng dài và thô. Đến cuối đời Thanh, chỉ cần cạo khoảng 1 thốn, tóc vượt quá 2/3 đều được bảo lưu, phân thành 3 nhánh tết lại thành 1 bím thả sau gáy, tục xưng kiểu “âm dương đầu - bán biều” 阴阳头 - 半瓢. Để tăng thêm khí thế uy vũ hùng tráng, bím tóc tiến một bước đổi gọi là “ngưu vĩ” (đuôi trâu). ... 
                                                                                            (còn tiếp)

    Chú của người dịch
    1- Hứa Thự quan 浒墅关: ở đông bắc sườn phía nam núi Nam Dương 南阳, phía tây bắc thành Tô Châu 苏州, cách trung tâm cổ thành Tô Châu 12km về phía đông nam.
    Tương truyền hoàng đế Càn Long 乾隆 khi xuống Giang Nam 江南, đã nhầm chữ (hử) đọc thành chữ (hứa), cho nên đến nay vẫn gọi là “Hứa Thự quan”. (Thuyết này tại địa phương lưu truyền rất rộng).
    Chữ (hử) bính âm là , chữ (hứa) bính âm là . Cũng theo tài liệu trên, 3 chữ 浒墅关 có bính âm là [xǔ shù guān] nên tôi phiên là “Hứa Thự quan).

                                                                  Huỳnh Chương Hưng
                                                                  Quy Nhơn 16/6/2019

    Nguồn
    HOẠT TẠI ĐẠI THANH
    活在大清
    Tác giả: Mao Soái 毛帅
    Thành Đô: Tứ Xuyên nhân dân xuất bản xã, 2018

    Dịch thuật: Bím tóc cũng liên quan đến chính trị (kì 1)

    Đăng lúc  21:45  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »



    BÍM TÓC CŨNG LIÊN QUAN ĐẾN CHÍNH TRỊ
    (kì 1)

              Trong Hiếu kinh 孝经 tuyên dương quan niệm:
    Thân thể phát phu, thụ chi phụ mẫu, bất cảm huỷ thương.
    身体发肤, 受之父母, 不敢毁伤
    (Thân thể tóc da đều nhận từ cha mẹ, không dám làm tổn hại)
    Ý nghĩa bề mặt là nói thân thể của mình do cha mẹ ban cho, phải biết yêu quý đừng làm tổn hại. Nhưng hàm nghĩa sâu xa là khuyên răn mọi người nên an phận thủ thường, không được làm xằng làm bậy, để tránh phải cái khổ về da thịt, tránh cái hoạ ngục tù, nếu không sẽ không thể tận hiếu bên cạnh cha mẹ. Về sau mọi người đều nghe theo lời giáo huấn đó, bảo vệ kĩ lưỡng cẩn thận đầu tóc của mình. Khi thành niên, đem tóc búi lên đỉnh đầu, sau đó đội lên chiếc mũ cao cao, hình thành truyền thống lâu dài nuôi dưỡng tóc, nhân đó con trai Hán tộc thời phong kiến đều có tóc dài đến eo. Thời Tam Quốc, Tào Tháo 曹操 từng nhân vì con chiến mã bị kinh sợ đi nhầm vào ruộng của người dân làm huỷ hoại mùa màng, để biểu thị sự nghiêm minh của quân kỉ, Tào Tháo đã cắt một nhúm tóc thay cho chém đầu, có thể thấy đầu tóc trong mắt mọi người cũng ngang bằng với tính mệnh thân thể.

    Tiêu chuẩn nghiêm ngặt nhất trong lịch sử: để đầu không để tóc
              Từ Đảng Hạng 党项, Khất Đan 契丹 đến Mông Cổ 蒙古, dân tộc du mục phương bắc có một tập tục, cạo phần lớn đầu tóc, chỉ để lại một phần hoặc thả ra hoặc thắt bím lại. Người Đảng Hạng năm đó tin Phật giáo, con trai trong cả nước dứt khoát phải cạo tóc, thế là Tây Hạ 西夏 có biệt xưng là “tăng quốc” 僧国. Về sau triều Kim ở phương bắc cũng từng ra sức thực hiện rộng rãi kiểu tóc của dân tộc mình, nhiều người Hán nhân vì không chịu cạo tóc mà trực tiếp thoát li quốc tịch, đầu bôn đến triều Tống ở phía nam. Để hoà hoãn nguy cơ chính trị do việc cạo tóc gây ra, triều Kim đã không cưỡng chế chấp hành.
              Mặc dù đã có một số tiền lệ, nhưng quảng đại quần chúng Hán tộc trên cơ sở quan niệm văn hoá truyền thống và nhãn quan thẩm mĩ của bản thân, khó mà tiếp thụ kiểu tóc mà quân Thanh cưỡng chế thực hiện: đem tóc bốn phía trên đỉnh đầu cạo sạch toàn bộ, chỉ chừa lại phía sau gáy một nhúm nhỏ khoảng bằng đồng tiền, thắt thành bím tóc vừa nhỏ vừa dài. Bím tóc này có thể xuyên qua lỗ vuông của đồng tiền mới được xem là hợp cách, nhìn giống như đuôi chuột, kiểu tóc đó bị người Hán gọi là “kim tiền thử vĩ thức” 金钱鼠尾式 (kiểu đồng tiền đuôi chuột). Để hợp với kiểu tóc đó, râu của người tộc Mãn cũng chỉ lưu lại hai bên mép mười mấy sợi.
              Cạo đầu thắt bím so với để tóc dài búi lên càng đơn giản tiện lợi, lúc gội đầu cũng có thể tiết kiệm nước, nhưng để lúc nào cũng giữ được đầu láng bóng, cứ khoảng mỗi 10 ngày lại cạo một lần. Thời gian và công sức dành cho khoản cạo đầu cũng không phải là ít. Bím tóc sau gáy cũng mang lại nhiều bất tiện trong cuộc sống.
              Năm Thuận Trị 顺治thứ 2 (năm 1645), “thế phát lệnh” 剃发令 (lệnh cạo tóc) chính thức được ban bố, yêu cầu bắt đầu từ ngày ra thông báo, nội trong 10 ngày tất phải hoàn thành đổi mới kiểu tóc, người nào kiên trì không chịu cạo hoặc sau khi cạo mà vẫn không phù hợp quy cách “kim tiền thử vĩ”, toàn bộ bị xem là loạn thần tặc tử không chịu phục tùng sự thống trị của triều Thanh sẽ bị xử tử, tuyệt không nương tay. Thế là trong việc chấp pháp có khẩu hiệu đơn giản nhưng thô bạo: “lưu đầu bất lưu phát, lưu phát bất lưu đầu” 留头不留发, 留发不留头 (để đầu thì không để tóc, để tóc thì không để đầu).
              Tự nhiên nhi nhiên, lệnh cạo tóc đã gây ra một cuộc biến động trên dưới trong cả nước, một số lượng lớn di dân đời Minh kiên quyết không chấp hành. Thậm chí đương thời ngay cả cháu đời thứ 62 của Khổng Tử là Khổng Văn Tiêu 孔闻謤cũng muốn tranh thủ bảo lưu tập tục truyền thống của Hán tộc, thế là dâng thư lên Nhiếp chính vương Đa Nhĩ Cổn 多尔衮, nói rằng:
              Hoàng thượng trước giờ tôn trọng Khổng Tử, nay lại ra lệnh thay đổi chế độ y quan mà thánh hiền tạo ra đã kéo dài mấy ngàn năm nay, e là người thiên hạ nhân đó mà không nhìn nhận tấm lòng của ngài đối với Khổng Tử.
              Ông ta đem ra “kim tự chiêu bài” Khổng Tử mà đi đến đâu thuận lợi đến đó, cho rằng có thể chống lại, không ngờ va phải đinh thép, Đa Nhĩ Cổn mượn danh nghĩa Thuận Trị đáp lại rằng:
              Ý trẫm đã quyết, chính sách cạo tóc không thể thay đổi được. Nễ mặt Khổng Tử, miễn cho ngươi tội chết, nhưng chính như Khổng Tử nói: “đạo bất đồng bất tương vi mưu” 道不同不相为谋 (không cùng đường đi thì không không cùng nhau mưu tính), triều đình không cần ngươi ra sức, hãy về nhà mà nghỉ ngơi).
              Chẳng bao lâu , Khổng Văn Tiêu tại quê nhà vì uất ức mà chết.  
              Thái độ của hoàng đế đối với con cháu của Khổng Tử còn khách khí như thế, đối với bình dân là “vi giả sát vô xá” 违者杀不赦 (người vi phạm giết không tha). Năm Thuận Trị thứ 4 (năm 1647), Hứa Thự quan 浒墅关 (1) có một người đàn ông tên Đinh Tuyền 丁泉, tóc chỉ cạo rất ít, không cần dùng đồng tiền thể thử cũng đã thấy không phù hợp với tiêu chuẩn “kim tiền thử vĩ”. Khi ra khỏi nhà bị nhân viên đi tuần của phủ quan phát hiện, lập tức cho là có quan hệ đến vấn đề chính trị trọng đại bèn báo lên trung ương, thỉnh thị biện pháp xử trí. Hoàng đế đích thân phê rằng: tựu địa xử quyết! ngay cả gia trưởng, hàng xóm của Đinh Tuyền gần ngàn người tuy chưa kịp thời phát hiện và báo lên cũng bị liên luỵ, quan huyện địa phương do vì giám quản không tới nơi tới chốn bị truy cứu tội “thất sát” 失察 (không giám sát). Có thể thấy việc chấp hành lệnh cạo tóc này là vô cùng nghiêm ngặt.
              Từ khi quân Thanh vào trung nguyên đến năm Gia Khánh thứ 5 (năm 1800), thời gian trước sau 160 năm, “thử vĩ” (đuôi chuột) 鼠尾của đàn ông bảo trì trong một đồng tiền. Đến khi Gia Khánh bắt đầu lên ngôi, chính sách xuất hiện sự nới lỏng một chút, diện tích cạo trên đầu từ từ thu nhỏ lại, bím tóc ngày càng dài và thô. Đến cuối đời Thanh, chỉ cần cạo khoảng 1 thốn, tóc vượt quá 2/3 đều được bảo lưu, phân thành 3 nhánh tết lại thành 1 bím thả sau gáy, tục xưng kiểu “âm dương đầu - bán biều” 阴阳头 - 半瓢. Để tăng thêm khí thế uy vũ hùng tráng, bím tóc tiến một bước đổi gọi là “ngưu vĩ” (đuôi trâu). ... 
                                                                                            (còn tiếp)

    Chú của người dịch
    1- Hứa Thự quan 浒墅关: ở đông bắc sườn phía nam núi Nam Dương 南阳, phía tây bắc thành Tô Châu 苏州, cách trung tâm cổ thành Tô Châu 12km về phía đông nam.
    Tương truyền hoàng đế Càn Long 乾隆 khi xuống Giang Nam 江南, đã nhầm chữ (hử) đọc thành chữ (hứa), cho nên đến nay vẫn gọi là “Hứa Thự quan”. (Thuyết này tại địa phương lưu truyền rất rộng).
    Chữ (hử) bính âm là , chữ (hứa) bính âm là . Cũng theo tài liệu trên, 3 chữ 浒墅关 có bính âm là [xǔ shù guān] nên tôi phiên là “Hứa Thự quan).

                                                                  Huỳnh Chương Hưng
                                                                  Quy Nhơn 16/6/2019

    Nguồn
    HOẠT TẠI ĐẠI THANH
    活在大清
    Tác giả: Mao Soái 毛帅
    Thành Đô: Tứ Xuyên nhân dân xuất bản xã, 2018

    Thứ Bảy, 15 tháng 6, 2019



    享福与救祸
        天欲祸人(1), 必先以微福骄之(2), 要看他会受(3); 天欲福人(4), 必先以微祸儆之(5), 要看他会救.
                                      (小窗幽记)

    HƯỞNG PHÚC DỮ CỨU HOẠ
              Thiên dục hoạ nhân (1), tất tiên dĩ vi phúc kiêu chi (2), yếu khán tha hội thụ (3); Thiên dục phúc nhân (4), tất tiên dĩ vi hoạ cảnh chi (5), yếu khán tha hội cứu.
                                                                             (Tiểu song u kí)

    Chú thích
    1- Hoạ nhân 祸人: giáng hoạ cho người.
    2- Kiêu chi 骄之: khiến cho người kiêu ngạo.
    3- Thụ : tiêu thụ, tiếp nhận.
    4- Phúc nhân 福人: ban phúc cho người.
    5- Cảnh chi 儆之: khiến cho người cảnh giới.
              Cảnh thông với , cảnh giới.

    Dịch nghĩa
    HƯỞNG PHÚC VÀ CỨU HOẠ
              Trời muốn giáng hoạ cho một người nào đó, trước tiên thường ban cho họ một ít phúc, khiến họ khởi tâm kiêu mạn, mục đích là để xem thử họ tiêu thụ cái phúc đó như thế nào; Trời muốn ban phúc cho một người nào đó, trước tiên thường giáng cho họ một ít hoạ, khiến họ có lòng cảnh giới, mục đích là để xem thử họ có thể biết tự cứu tai hoạ đó không.

    Phân tích và thưởng thức
              Trung Quốc cổ đại từ rất sớm đã có quan điểm biện chứng pháp, như Lão Tử 老子có nói:
    Hoạ hề phúc sở ỷ, phúc hề hoạ sở phục.
    祸兮福所倚, 福兮祸所伏
    (Hoạ là chỗ dựa của phúc, phúc là chỗ nấp của hoạ)
              Hoạ phúc tương sinh, cả hai tương phản tương thành. Nếu một người có được một chút phúc phận mà đâm ra kiêu mạn, kiêu mạn đó chính là cái gốc của hoạ, khiến họ rốt cuộc không chỉ không thể hưởng phúc mà ngược lại có thể gặp phải hoạ hoạn. Nếu một người gặp phải chút hoạ mà biết cảnh giới, cho dù ngày sau hoạ tới, cũng có thể dựa vào đó mà tự cứu lấy mình, cuối cùng có được phúc phận. Nhân đó, mọi người cần phải biết rằng, có được phúc không được kiêu mạn, gặp phải hoạ chớ nên khổ sở, như vậy mới là hiểu được sâu sắc cái đạo hoạ phúc, chân chính có được hạnh phúc trong cuộc sống. Được phúc hay gặp hoạ, đó là ý trời, ý trời trước giờ rất cao khó mà hỏi tới. Chỉ cần chúng ta giữ cái tâm bình thường, cười một cách thanh thản tự nhiên đối với cuộc sống, chính là đã có được khí định thần nhàn, an độ bình sinh.

    Chú của người dịch
    Tiểu song u kí 小窗幽记 là tác phẩm ghi lại những cách ngôn tu thân xử thế do Trần Kế Nho 陈继儒biên soạn, thể hiện thái độ nhân sinh tích cực của nho gia về việc tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Tác phẩm này xưa nay được xem là giai tác về việc tu dưỡng bản thân.
              Toàn sách được chia làm 12 quyển:
         quyển 1: tập tỉnh 集醒     quyển 2: tập tình 集情     quyển 3: tập tiễu 集峭
         quyển 4: tập linh 集灵     quyển 5: tập tố 集素        quyển 6: tập cảnh 集景
         quyển 7: tập vận 集韵     quyển 8: tập kì 集奇        quyển 9: tập ỷ 集绮
         quyển 10: tập hào 集豪   quyển 11: tập pháp 集法  quyển 12: tập thiến 集倩
              Theo http://www.360doc.com/content
                       http://baike.baidu.com/view/147434.htm
              Tiểu song u kí được dùng ở đây do Lôi Phương 雷芳 chú dịch, Sùng Văn thư cục xuất bản năm 2007, sách này  không chia thành 12 quyển như ở trên.

    Trần Kế Nho 陈继儒 (1558 – 1639): văn học gia, thư hoạ gia đời Minh, tự Trọng Thuần 仲醇, hiệu Mi Công 眉公, người Hoa Đình 华亭 Tùng Giang 松江 (nay là Tùng Giang Thượng Hải).
    Trần Kế Nho lúc nhỏ đã thông minh, ông học rộng biết nhiều, giỏi cả thơ lẫn văn, về thư pháp theo Tô Thức 苏轼, Mễ Phế 米芾 nổi tiếng một thời. Khoảng những năm hai mươi mấy tuổi, ông tuyệt ý với khoa cử, ẩn cư tại Tiểu Côn sơn 小昆山, sau cất nhà tại Đông Xà 东佘 suốt ngày đóng cửa viết sách. Triều đình nhiều lần cho mời nhưng ông đều lấy cớ bệnh tật từ chối.
    Trần Kế Nho cả một đời đọc rất nhiều, trứ thuật cũng đồ sộ phong phú. Tác phẩm của ông có Trần Mi Công toàn tập 陈眉公全集  truyền đời.

                                                                           Huỳnh Chương Hưng
                                                                           Quy Nhơn 15/6/2019

    Nguyên tác
    HƯỞNG PHÚC DỮ CỨU HOẠ
     享福与救祸
    Trong quyển
    TIỂU SONG U KÍ
    小窗幽记
    Tác giả: Trần Kế Nho 陈继儒
    Chú dịch: Lôi Phương 雷芳
    Sùng Văn thư cục, 2007.

    Dịch thuật: Hưởng phúc dữ cứu hoạ (Tiểu song u kí)

    Đăng lúc  18:45  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »



    享福与救祸
        天欲祸人(1), 必先以微福骄之(2), 要看他会受(3); 天欲福人(4), 必先以微祸儆之(5), 要看他会救.
                                      (小窗幽记)

    HƯỞNG PHÚC DỮ CỨU HOẠ
              Thiên dục hoạ nhân (1), tất tiên dĩ vi phúc kiêu chi (2), yếu khán tha hội thụ (3); Thiên dục phúc nhân (4), tất tiên dĩ vi hoạ cảnh chi (5), yếu khán tha hội cứu.
                                                                             (Tiểu song u kí)

    Chú thích
    1- Hoạ nhân 祸人: giáng hoạ cho người.
    2- Kiêu chi 骄之: khiến cho người kiêu ngạo.
    3- Thụ : tiêu thụ, tiếp nhận.
    4- Phúc nhân 福人: ban phúc cho người.
    5- Cảnh chi 儆之: khiến cho người cảnh giới.
              Cảnh thông với , cảnh giới.

    Dịch nghĩa
    HƯỞNG PHÚC VÀ CỨU HOẠ
              Trời muốn giáng hoạ cho một người nào đó, trước tiên thường ban cho họ một ít phúc, khiến họ khởi tâm kiêu mạn, mục đích là để xem thử họ tiêu thụ cái phúc đó như thế nào; Trời muốn ban phúc cho một người nào đó, trước tiên thường giáng cho họ một ít hoạ, khiến họ có lòng cảnh giới, mục đích là để xem thử họ có thể biết tự cứu tai hoạ đó không.

    Phân tích và thưởng thức
              Trung Quốc cổ đại từ rất sớm đã có quan điểm biện chứng pháp, như Lão Tử 老子có nói:
    Hoạ hề phúc sở ỷ, phúc hề hoạ sở phục.
    祸兮福所倚, 福兮祸所伏
    (Hoạ là chỗ dựa của phúc, phúc là chỗ nấp của hoạ)
              Hoạ phúc tương sinh, cả hai tương phản tương thành. Nếu một người có được một chút phúc phận mà đâm ra kiêu mạn, kiêu mạn đó chính là cái gốc của hoạ, khiến họ rốt cuộc không chỉ không thể hưởng phúc mà ngược lại có thể gặp phải hoạ hoạn. Nếu một người gặp phải chút hoạ mà biết cảnh giới, cho dù ngày sau hoạ tới, cũng có thể dựa vào đó mà tự cứu lấy mình, cuối cùng có được phúc phận. Nhân đó, mọi người cần phải biết rằng, có được phúc không được kiêu mạn, gặp phải hoạ chớ nên khổ sở, như vậy mới là hiểu được sâu sắc cái đạo hoạ phúc, chân chính có được hạnh phúc trong cuộc sống. Được phúc hay gặp hoạ, đó là ý trời, ý trời trước giờ rất cao khó mà hỏi tới. Chỉ cần chúng ta giữ cái tâm bình thường, cười một cách thanh thản tự nhiên đối với cuộc sống, chính là đã có được khí định thần nhàn, an độ bình sinh.

    Chú của người dịch
    Tiểu song u kí 小窗幽记 là tác phẩm ghi lại những cách ngôn tu thân xử thế do Trần Kế Nho 陈继儒biên soạn, thể hiện thái độ nhân sinh tích cực của nho gia về việc tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Tác phẩm này xưa nay được xem là giai tác về việc tu dưỡng bản thân.
              Toàn sách được chia làm 12 quyển:
         quyển 1: tập tỉnh 集醒     quyển 2: tập tình 集情     quyển 3: tập tiễu 集峭
         quyển 4: tập linh 集灵     quyển 5: tập tố 集素        quyển 6: tập cảnh 集景
         quyển 7: tập vận 集韵     quyển 8: tập kì 集奇        quyển 9: tập ỷ 集绮
         quyển 10: tập hào 集豪   quyển 11: tập pháp 集法  quyển 12: tập thiến 集倩
              Theo http://www.360doc.com/content
                       http://baike.baidu.com/view/147434.htm
              Tiểu song u kí được dùng ở đây do Lôi Phương 雷芳 chú dịch, Sùng Văn thư cục xuất bản năm 2007, sách này  không chia thành 12 quyển như ở trên.

    Trần Kế Nho 陈继儒 (1558 – 1639): văn học gia, thư hoạ gia đời Minh, tự Trọng Thuần 仲醇, hiệu Mi Công 眉公, người Hoa Đình 华亭 Tùng Giang 松江 (nay là Tùng Giang Thượng Hải).
    Trần Kế Nho lúc nhỏ đã thông minh, ông học rộng biết nhiều, giỏi cả thơ lẫn văn, về thư pháp theo Tô Thức 苏轼, Mễ Phế 米芾 nổi tiếng một thời. Khoảng những năm hai mươi mấy tuổi, ông tuyệt ý với khoa cử, ẩn cư tại Tiểu Côn sơn 小昆山, sau cất nhà tại Đông Xà 东佘 suốt ngày đóng cửa viết sách. Triều đình nhiều lần cho mời nhưng ông đều lấy cớ bệnh tật từ chối.
    Trần Kế Nho cả một đời đọc rất nhiều, trứ thuật cũng đồ sộ phong phú. Tác phẩm của ông có Trần Mi Công toàn tập 陈眉公全集  truyền đời.

                                                                           Huỳnh Chương Hưng
                                                                           Quy Nhơn 15/6/2019

    Nguyên tác
    HƯỞNG PHÚC DỮ CỨU HOẠ
     享福与救祸
    Trong quyển
    TIỂU SONG U KÍ
    小窗幽记
    Tác giả: Trần Kế Nho 陈继儒
    Chú dịch: Lôi Phương 雷芳
    Sùng Văn thư cục, 2007.

    Thứ Sáu, 14 tháng 6, 2019

    “THÁI SƠN” VÌ SAO TRỞ THÀNH TỪ CHỈ NHẠC PHỤ

              Dân gian thường gọi phụ thân của vợ là “nhạc phụ” 岳父, “lão trượng nhân” 老丈人, nhưng trong một số tác phẩm văn học, chàng rể những thư hương môn đệ thường gọi nhạc phụ là “Thái sơn” 泰山, đó là cách xưng hô đặc thù của những người có học chăng? “Thái sơn” sao lại trở thành đại danh từ chỉ nhạc phụ?
              Đem “Thái sơn” làm đại danh từ chỉ “nhạc phụ”, xuất phát từ Dậu dương tạp trở 酉阳杂俎 của Đoàn Thành Thức 段成式 đời Đường:
              Đường Minh Hoàng Lí Long Cơ 唐明皇李隆基 phong thiện Thái sơn, mệnh cho Tể tướng Trương Duyệt 张说 (1) làm “phong thiện sứ” 封禅使. Trương Duyệt thừa cơ làm bậy, đem con rể của mình là Trịnh Dật 郑镒 – một viên quan cửu phẩm thấp bé đưa vào đám quan viên tuỳ hành Đường Minh Hoàng. Theo lệ cổ, triều thần tuỳ hành phong thiện đều có thể thăng một cấp. Nhưng sau khi kết thúc lễ phong thiện, Trương Duyệt đã thăng liền 4 cấp cho con rể của mình là Trịnh Dật lên đến ngũ phẩm. Ngày nọ lúc đãi yến triều thần, Đường Minh Hoàng trông thấy Trịnh Dật mặc triều phục của quan viên ngũ phẩm. Đường Minh Hoàng lấy làm lạ, vốn là viên tiểu quan cửu phẩm sao lại mặc quan phục ngũ phẩm? Thế là cho gọi Trịnh Dật đến trước mặt hỏi lí do. Trịnh Dật đương nhiên trong bụng biết cấp ngũ phẩm này đến như thế nào, nhưng không biết phải hồi báo hoàng thượng như thế nào. Lúc bấy giờ, một tên hát của cung đình là Hoàng Phan Xước 黄幡绰 nói khéo rằng: “Đó là sức mạnh của Thái sơn”.
              Từ “Thái sơn” mà Hoàng Phan Xước nói ra đã nói rõ nguồn gốc của viên quan ngũ phẩm. Nhân đó, người đời sau bèn đem Trương Duyệt, người đã dựa vào việc phong thiện Thái sơn ban ơn đến con rể gọi là “Thái sơn”. ‘Thái sơn” dần mang ý nghĩa chỉ phụ thân của vợ.

    Chú của người dịch
    1- Trương Duyệt 张说 (667 – 730): tự Đạo Tế 道济, một tự khác là Duyệt Chi 说之, Tể tướng thời Đường Duệ Tông 唐睿宗, Đường Huyền Tông 唐玄宗.
              Về chữ có 3 âm đọc:
              - Thuyết, bính âm là shuo (thanh 1)
              - Thuế, bính âm là shui (thanh 4)
              - Duyệt, bính âm là yue (thanh 4)
    Theo https://wapbaike.baidu.com/item/%E5%BC%A0%E8%AF%B4/66379, tên nhân vật ở đây bính âm là yue (thanh 4), nên tôi phiên là “duyệt”. 张说Trương Duyệt.

                                                                  Huỳnh Chương Hưng
                                                                   Quy Nhơn 14/6/2019

    Nguyên tác Trung văn
    Trong quyển
    THÚ VỊ VĂN HOÁ TRI THỨC ĐẠI TOÀN
    趣味文化知识大全
    Thanh Thạch 青石 biên soạn
    Trung Quốc Hoa kiều xuất bản xã, 2013

    Dịch thuật: "Thái sơn" vì sao trở thành từ chỉ nhạc phụ

    Đăng lúc  18:11  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    “THÁI SƠN” VÌ SAO TRỞ THÀNH TỪ CHỈ NHẠC PHỤ

              Dân gian thường gọi phụ thân của vợ là “nhạc phụ” 岳父, “lão trượng nhân” 老丈人, nhưng trong một số tác phẩm văn học, chàng rể những thư hương môn đệ thường gọi nhạc phụ là “Thái sơn” 泰山, đó là cách xưng hô đặc thù của những người có học chăng? “Thái sơn” sao lại trở thành đại danh từ chỉ nhạc phụ?
              Đem “Thái sơn” làm đại danh từ chỉ “nhạc phụ”, xuất phát từ Dậu dương tạp trở 酉阳杂俎 của Đoàn Thành Thức 段成式 đời Đường:
              Đường Minh Hoàng Lí Long Cơ 唐明皇李隆基 phong thiện Thái sơn, mệnh cho Tể tướng Trương Duyệt 张说 (1) làm “phong thiện sứ” 封禅使. Trương Duyệt thừa cơ làm bậy, đem con rể của mình là Trịnh Dật 郑镒 – một viên quan cửu phẩm thấp bé đưa vào đám quan viên tuỳ hành Đường Minh Hoàng. Theo lệ cổ, triều thần tuỳ hành phong thiện đều có thể thăng một cấp. Nhưng sau khi kết thúc lễ phong thiện, Trương Duyệt đã thăng liền 4 cấp cho con rể của mình là Trịnh Dật lên đến ngũ phẩm. Ngày nọ lúc đãi yến triều thần, Đường Minh Hoàng trông thấy Trịnh Dật mặc triều phục của quan viên ngũ phẩm. Đường Minh Hoàng lấy làm lạ, vốn là viên tiểu quan cửu phẩm sao lại mặc quan phục ngũ phẩm? Thế là cho gọi Trịnh Dật đến trước mặt hỏi lí do. Trịnh Dật đương nhiên trong bụng biết cấp ngũ phẩm này đến như thế nào, nhưng không biết phải hồi báo hoàng thượng như thế nào. Lúc bấy giờ, một tên hát của cung đình là Hoàng Phan Xước 黄幡绰 nói khéo rằng: “Đó là sức mạnh của Thái sơn”.
              Từ “Thái sơn” mà Hoàng Phan Xước nói ra đã nói rõ nguồn gốc của viên quan ngũ phẩm. Nhân đó, người đời sau bèn đem Trương Duyệt, người đã dựa vào việc phong thiện Thái sơn ban ơn đến con rể gọi là “Thái sơn”. ‘Thái sơn” dần mang ý nghĩa chỉ phụ thân của vợ.

    Chú của người dịch
    1- Trương Duyệt 张说 (667 – 730): tự Đạo Tế 道济, một tự khác là Duyệt Chi 说之, Tể tướng thời Đường Duệ Tông 唐睿宗, Đường Huyền Tông 唐玄宗.
              Về chữ có 3 âm đọc:
              - Thuyết, bính âm là shuo (thanh 1)
              - Thuế, bính âm là shui (thanh 4)
              - Duyệt, bính âm là yue (thanh 4)
    Theo https://wapbaike.baidu.com/item/%E5%BC%A0%E8%AF%B4/66379, tên nhân vật ở đây bính âm là yue (thanh 4), nên tôi phiên là “duyệt”. 张说Trương Duyệt.

                                                                  Huỳnh Chương Hưng
                                                                   Quy Nhơn 14/6/2019

    Nguyên tác Trung văn
    Trong quyển
    THÚ VỊ VĂN HOÁ TRI THỨC ĐẠI TOÀN
    趣味文化知识大全
    Thanh Thạch 青石 biên soạn
    Trung Quốc Hoa kiều xuất bản xã, 2013

    Thứ Năm, 13 tháng 6, 2019

    CUNG A BÀNG VÌ SAO LẤY TÊN LÀ “A BÀNG”

              Tần Thuỷ Hoàng 秦始皇  sau khi diệt 6 nước hoàn thành đại nghiệp thống nhất, tự cho mình công đức hơn cả Tam Hoàng Ngũ Đế 三皇五帝, thế là tại đô thành Hàm Dương 咸阳 cho khởi công xây dựng cung điện để bản thân hưởng dụng. Trong những cung điện được xây dựng, quy mô to lớn nhất đó là cung A Bàng 阿房 (1). Theo Sử kí – Tần Thuỷ Hoàng bản kỉ 史记 - 秦始皇本纪, điện này:     
    Đông tây ngũ bách trượng, nam bắc ngũ thập trượng, thượng khả dĩ toạ vạn nhân, hạ khả dĩ kiến ngũ trượng kì.
              东西五百丈, 南北五十丈, 上可以坐万人, 下可以建五丈旗.
    (Đông tây 500 trượng, nam bắc 50 trượng, trên có thể chứa vạn người, dưới có thể dựng cột cờ cao 5 trượng.)
              Cung A Bàng hội tụ những ưu điểm của các kiến trúc cung điện các nơi trong cả nước, quy mô lớn chưa từng có, khí thế hoành tráng. “Li cung biệt quán của nó khắp núi khắp non, đường cho xe chạy nối thông nhau, cảnh quan tươi đẹp. Theo Hán thư – Giả Sơn truyện 汉书 - 贾山传:
              Khởi Hàm Dương nhi tây chí Ung, li cung tam bách, chung cổ duy trướng, bất di nhi cụ. Hựu vi A Bàng chi điện, điện cao sổ thập nhận, đông tây ngũ lí, nam bắc thiên bộ, tụng xa la kị, tứ mã vụ trì, tinh kì bất nạo, vi cung thất chi lệ kì vu thử.
              起咸阳而西至雍, 离宫三百, 钟鼓帷帐, 不移而具. 又为阿房之殿, 殿高数十仞, 东西五里, 南北千步, 从车罗骑, 四马骛驰, 旌旗不挠, 为宫室之丽至于此.
    (Khởi đầu từ Hàm Dương đến Ung thành phía tây, xây dựng cung điện hơn 300 toà, trống chuông màn trướng bố trí bên trong, không cần di dời mà chỗ nào cũng có. Lại xây cung A Bàng, điện cao mấy chục nhận, đông tây 5 dặm, nam bắc nghìn bộ, bốn ngựa có thể chạy mà không hề bị trở ngại, ngay cả cờ  xí trên các xe cũng không va chạm nhau, là cung thất cực huy hoàng tráng lệ.)
              Thế thì, toà cung điện này vì sao lấy tên là “阿房” (A Bàng)? Ghi chép của các đời không nhất trí. Tra khảo phát hiện, chủ yếu có 3 quan điểm:
    - Quan điểm thứ 1: cho rằng có tên gọi “A Bàng” là do cung chỉ tựa vào Hàm Dương mà ra. Trong Sử kí – Tần Thuỷ Hoàng bản kỉ chính nghĩa 史记 - 秦始皇本纪正义 dẫn lời trong Quát địa chí 括地志:
              Tần A Bàng cung diệc viết A Thành, tại Ung Châu Trường An huyện tây bắc nhất thập tứ lí. Án cung tại Thượng Lâm uyển trung, Ung Châu Quách thành tây nam diện, tức A Bàng thành đông nam diện dã.
              秦阿房宫亦曰阿城, 在雍州长安县西北一十四里. 按宫在上林苑中, 雍州郭城西南面, 即阿房城东南面也.
              (Cung A Bàng nhà Tần cũng gọi là A Thành, tại phía tây bắc cách huyện Trường An ở Ung Châu 14 dặm. Xét cung ở trong Thượng Lâm uyển, phía tây nam Quách thành của Ung Châu, tức mặt đông nam thành A Bàng.)
              Cho nên Nhan Sư Cổ 颜师古 nói rằng:
              A, cận dã, dĩ kì khứ Hàm Dương cận, thả hiệu A Bàng.
              , 近也, 以其去咸阳近, 且号阿房.
              (A có nghĩa là gần, vì cách Hàm Dương gần nên lấy hiệu là A Bàng)
    - Quan điểm thứ 2: phân tích từ phong cách kiến trúc của cung A Bàng, cho rằng, tên gọi  阿房 (A Bàng) là căn cứ vào hình trạng “tứ a bàng quảng” 四阿房广 mà đặt tên. “” (a) ý cổ có nghĩa là “chỗ cong”, “chỗ cong của sân”. Trong A Bàng cung phú 阿房宫赋 của Đỗ Mục 杜牧 nói cung này:
              Ngũ bộ nhất lâu, thập bộ nhất các, lang yêu mạn hồi, thiềm nha cao trác.
              五步一楼, 十步一阁, 廊腰缦回, 檐牙高啄.
              (Năm bộ một lầu, mười bộ một gác, hành lang uốn cong uyển chuyển, mái hiên cong nhọn vươn cao như mỏ chim)
              Đó là thể hiện đặc điểm “a” của cung A Bàng. Cho nên trong Sử kí – Tần Thuỷ Hoàng bản kỉ sách dẫn 史记 - 秦始皇本纪 索引giải thích tên cung này, nói rằng:
              Thử tùng kì hình mệnh danh, ngôn kì cung tứ a bàng quảng dã.
              此从其形命名, 言其宫四阿房广.
              (Đây là theo hình dạng của nó mà đặt tên, nói cung này bốn phía cung điện cong vươn cao, phòng ốc to lớn)
              - Quan điểm thứ 3: cho rằng tên gọi “阿房” (A Bàng) là do cung điện xây dựng trên gò lớn mà đặt tên. Quan điểm này xuất phát từ Hán thư – Giả Sơn truyện 汉书 - 贾山传, trong truyện có chú thích rằng:
              A giả, đại lăng dã, thủ danh A Bàng, kì ngôn thị cao nhược vu a thượng vi bàng.
              阿者, 大陵也, 取名阿房, 其言是高若于阿上为房.
              (A là gò lớn, lấy tên A Bàng, ý nói phòng lớn xây dựng trên gò lớn)
              Ý nói cung A Bàng nhân vì được xây dựng trên gò lớn nên có tên như thế. Khai quật khảo cổ có sức chứng minh quan điểm này. Di chỉ cung A Bàng xưa tại thôn A Bàng 阿房cách ngoại ô thành phố Tây An 西安 khoảng 15000m. Di chỉ phát quật cho thấy, cung A Bàng năm đó toạ lạc trên gò có địa thế cao, đến nay hãy còn nền móng cao lớn của toà cung điện ở đó. Ngoài ra, gần phía nam thôn A Bàng còn lưu lại nền đài bằng đất nện của cung điện, chu vi dài 31m, cao khoảng 20m, theo khảo chứng ở phía tây nam của thôn cũng còn có một nền đài bằng đất nện cao lớn của di chỉ tiền điện của cung A Bàng, chiều đông tây ước khoảng 1200m, chiều nam bắc khoảng từ 500m đến 600m, chỗ cao nhất khoảng 8m. Cung A Bàng chính là được xây dựng trên một số nền đất cao lớn này.
              Ba quan điểm trên đều xác thực chắc chắn, rất khó để phán đoán quan điểm nào đúng quan điểm nào sai. Cho nên, bí ẩn về tên gọi của cung điện nổi tiếng từ ngàn xưa này chỉ có thể đợi sự phát hiện thêm của người sau. 

    Chú của người dịch
    1- Về chữ trong tên cung 阿房:
              Trong Hán Việt tự điển của Thiều Chửu có 2 âm “phòng” và “bàng”. Với âm “bàng” ghi rằng:
    A bàng 阿房 tên cung điện của nhà Tần.
                                  (trang 223, nxb tp/ Hồ Chí Minh, năm 1993)

              Trong Khang Hi tự điển 康熙字典:
              - bính âm fáng.
     Đường vận 唐韻, Tập vận 集韻, Vận hội 韻會, Chính vận 正韻 đều phiên thiết là PHÙ PHƯƠNG 符方, âm (phòng).
              - bính âm páng.
    Quảng vận 廣韻 phiên thiết là BỘ QUANG 步光
              Tập vận 集韻, Vận hội 韻會, Chính vận 正韻 phiên thiết là BỒ QUANG  蒲光, đều âm (bàng). Trong Quảng vận 廣韻 ghi rằng:
    A Bàng, Tần cung danh
    阿房, 秦宮名
    (A Bàng là tên một cung nhà Tần)
              (trang 362, Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, năm 2002)

              Nãi doanh tác triều cung Vị nam Thượng Lâm uyển trung. Tiên tác tiền điện 阿房. “Chính nghĩa” , bạch lang phản.
              乃营作朝宫渭南上林苑中. 先作前殿阿房. 正义房, 白郎反.
              (Bèn xây dựng triều cung trong Thượng Lâm uyển phía nam sông Vị. Trước tiên xây tiền điện阿房. Trong “Chính nghĩa” chữ có phiên thiết là “bạch lang”)

    阿房宫  có bính âm là  [ē páng gōng]  
              Tổng hợp từ những tư liệu trên, tên cung điện này tôi đọc là “A Bàng”.
    Trong Cổ văn (tập 2) của dịch giả Hoàng Khôi, trong Đại cương Văn học sử Trung Quốc của Nguyễn Hiến Lê và trong Hán văn của Trần Trọng San ở bài "阿房宮賦" của Đỗ Mục 杜牧 đều phiên âm là “A Phòng cung phú”.

                                                          Huỳnh Chương Hưng
                                                           Quy Nhơn 13/6/2019

    Nguyên tác Trung văn
    A BÀNG CUNG VỊ HÀ THỦ DANH “A BÀNG”
    阿房宫为何取名阿房
    Trong quyển
    TRUNG QUỐC VỊ GIẢI CHI MÊ
    中国未解之谜
    Tác giả: Hải Tử 海子
    Trung Quốc Hoa Kiều xuất bản xã, 2013 

    Dịch thuật: Cung A Bàng vì sao lấy tên là "A Bàng"

    Đăng lúc  18:41  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    CUNG A BÀNG VÌ SAO LẤY TÊN LÀ “A BÀNG”

              Tần Thuỷ Hoàng 秦始皇  sau khi diệt 6 nước hoàn thành đại nghiệp thống nhất, tự cho mình công đức hơn cả Tam Hoàng Ngũ Đế 三皇五帝, thế là tại đô thành Hàm Dương 咸阳 cho khởi công xây dựng cung điện để bản thân hưởng dụng. Trong những cung điện được xây dựng, quy mô to lớn nhất đó là cung A Bàng 阿房 (1). Theo Sử kí – Tần Thuỷ Hoàng bản kỉ 史记 - 秦始皇本纪, điện này:     
    Đông tây ngũ bách trượng, nam bắc ngũ thập trượng, thượng khả dĩ toạ vạn nhân, hạ khả dĩ kiến ngũ trượng kì.
              东西五百丈, 南北五十丈, 上可以坐万人, 下可以建五丈旗.
    (Đông tây 500 trượng, nam bắc 50 trượng, trên có thể chứa vạn người, dưới có thể dựng cột cờ cao 5 trượng.)
              Cung A Bàng hội tụ những ưu điểm của các kiến trúc cung điện các nơi trong cả nước, quy mô lớn chưa từng có, khí thế hoành tráng. “Li cung biệt quán của nó khắp núi khắp non, đường cho xe chạy nối thông nhau, cảnh quan tươi đẹp. Theo Hán thư – Giả Sơn truyện 汉书 - 贾山传:
              Khởi Hàm Dương nhi tây chí Ung, li cung tam bách, chung cổ duy trướng, bất di nhi cụ. Hựu vi A Bàng chi điện, điện cao sổ thập nhận, đông tây ngũ lí, nam bắc thiên bộ, tụng xa la kị, tứ mã vụ trì, tinh kì bất nạo, vi cung thất chi lệ kì vu thử.
              起咸阳而西至雍, 离宫三百, 钟鼓帷帐, 不移而具. 又为阿房之殿, 殿高数十仞, 东西五里, 南北千步, 从车罗骑, 四马骛驰, 旌旗不挠, 为宫室之丽至于此.
    (Khởi đầu từ Hàm Dương đến Ung thành phía tây, xây dựng cung điện hơn 300 toà, trống chuông màn trướng bố trí bên trong, không cần di dời mà chỗ nào cũng có. Lại xây cung A Bàng, điện cao mấy chục nhận, đông tây 5 dặm, nam bắc nghìn bộ, bốn ngựa có thể chạy mà không hề bị trở ngại, ngay cả cờ  xí trên các xe cũng không va chạm nhau, là cung thất cực huy hoàng tráng lệ.)
              Thế thì, toà cung điện này vì sao lấy tên là “阿房” (A Bàng)? Ghi chép của các đời không nhất trí. Tra khảo phát hiện, chủ yếu có 3 quan điểm:
    - Quan điểm thứ 1: cho rằng có tên gọi “A Bàng” là do cung chỉ tựa vào Hàm Dương mà ra. Trong Sử kí – Tần Thuỷ Hoàng bản kỉ chính nghĩa 史记 - 秦始皇本纪正义 dẫn lời trong Quát địa chí 括地志:
              Tần A Bàng cung diệc viết A Thành, tại Ung Châu Trường An huyện tây bắc nhất thập tứ lí. Án cung tại Thượng Lâm uyển trung, Ung Châu Quách thành tây nam diện, tức A Bàng thành đông nam diện dã.
              秦阿房宫亦曰阿城, 在雍州长安县西北一十四里. 按宫在上林苑中, 雍州郭城西南面, 即阿房城东南面也.
              (Cung A Bàng nhà Tần cũng gọi là A Thành, tại phía tây bắc cách huyện Trường An ở Ung Châu 14 dặm. Xét cung ở trong Thượng Lâm uyển, phía tây nam Quách thành của Ung Châu, tức mặt đông nam thành A Bàng.)
              Cho nên Nhan Sư Cổ 颜师古 nói rằng:
              A, cận dã, dĩ kì khứ Hàm Dương cận, thả hiệu A Bàng.
              , 近也, 以其去咸阳近, 且号阿房.
              (A có nghĩa là gần, vì cách Hàm Dương gần nên lấy hiệu là A Bàng)
    - Quan điểm thứ 2: phân tích từ phong cách kiến trúc của cung A Bàng, cho rằng, tên gọi  阿房 (A Bàng) là căn cứ vào hình trạng “tứ a bàng quảng” 四阿房广 mà đặt tên. “” (a) ý cổ có nghĩa là “chỗ cong”, “chỗ cong của sân”. Trong A Bàng cung phú 阿房宫赋 của Đỗ Mục 杜牧 nói cung này:
              Ngũ bộ nhất lâu, thập bộ nhất các, lang yêu mạn hồi, thiềm nha cao trác.
              五步一楼, 十步一阁, 廊腰缦回, 檐牙高啄.
              (Năm bộ một lầu, mười bộ một gác, hành lang uốn cong uyển chuyển, mái hiên cong nhọn vươn cao như mỏ chim)
              Đó là thể hiện đặc điểm “a” của cung A Bàng. Cho nên trong Sử kí – Tần Thuỷ Hoàng bản kỉ sách dẫn 史记 - 秦始皇本纪 索引giải thích tên cung này, nói rằng:
              Thử tùng kì hình mệnh danh, ngôn kì cung tứ a bàng quảng dã.
              此从其形命名, 言其宫四阿房广.
              (Đây là theo hình dạng của nó mà đặt tên, nói cung này bốn phía cung điện cong vươn cao, phòng ốc to lớn)
              - Quan điểm thứ 3: cho rằng tên gọi “阿房” (A Bàng) là do cung điện xây dựng trên gò lớn mà đặt tên. Quan điểm này xuất phát từ Hán thư – Giả Sơn truyện 汉书 - 贾山传, trong truyện có chú thích rằng:
              A giả, đại lăng dã, thủ danh A Bàng, kì ngôn thị cao nhược vu a thượng vi bàng.
              阿者, 大陵也, 取名阿房, 其言是高若于阿上为房.
              (A là gò lớn, lấy tên A Bàng, ý nói phòng lớn xây dựng trên gò lớn)
              Ý nói cung A Bàng nhân vì được xây dựng trên gò lớn nên có tên như thế. Khai quật khảo cổ có sức chứng minh quan điểm này. Di chỉ cung A Bàng xưa tại thôn A Bàng 阿房cách ngoại ô thành phố Tây An 西安 khoảng 15000m. Di chỉ phát quật cho thấy, cung A Bàng năm đó toạ lạc trên gò có địa thế cao, đến nay hãy còn nền móng cao lớn của toà cung điện ở đó. Ngoài ra, gần phía nam thôn A Bàng còn lưu lại nền đài bằng đất nện của cung điện, chu vi dài 31m, cao khoảng 20m, theo khảo chứng ở phía tây nam của thôn cũng còn có một nền đài bằng đất nện cao lớn của di chỉ tiền điện của cung A Bàng, chiều đông tây ước khoảng 1200m, chiều nam bắc khoảng từ 500m đến 600m, chỗ cao nhất khoảng 8m. Cung A Bàng chính là được xây dựng trên một số nền đất cao lớn này.
              Ba quan điểm trên đều xác thực chắc chắn, rất khó để phán đoán quan điểm nào đúng quan điểm nào sai. Cho nên, bí ẩn về tên gọi của cung điện nổi tiếng từ ngàn xưa này chỉ có thể đợi sự phát hiện thêm của người sau. 

    Chú của người dịch
    1- Về chữ trong tên cung 阿房:
              Trong Hán Việt tự điển của Thiều Chửu có 2 âm “phòng” và “bàng”. Với âm “bàng” ghi rằng:
    A bàng 阿房 tên cung điện của nhà Tần.
                                  (trang 223, nxb tp/ Hồ Chí Minh, năm 1993)

              Trong Khang Hi tự điển 康熙字典:
              - bính âm fáng.
     Đường vận 唐韻, Tập vận 集韻, Vận hội 韻會, Chính vận 正韻 đều phiên thiết là PHÙ PHƯƠNG 符方, âm (phòng).
              - bính âm páng.
    Quảng vận 廣韻 phiên thiết là BỘ QUANG 步光
              Tập vận 集韻, Vận hội 韻會, Chính vận 正韻 phiên thiết là BỒ QUANG  蒲光, đều âm (bàng). Trong Quảng vận 廣韻 ghi rằng:
    A Bàng, Tần cung danh
    阿房, 秦宮名
    (A Bàng là tên một cung nhà Tần)
              (trang 362, Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, năm 2002)

              Nãi doanh tác triều cung Vị nam Thượng Lâm uyển trung. Tiên tác tiền điện 阿房. “Chính nghĩa” , bạch lang phản.
              乃营作朝宫渭南上林苑中. 先作前殿阿房. 正义房, 白郎反.
              (Bèn xây dựng triều cung trong Thượng Lâm uyển phía nam sông Vị. Trước tiên xây tiền điện阿房. Trong “Chính nghĩa” chữ có phiên thiết là “bạch lang”)

    阿房宫  có bính âm là  [ē páng gōng]  
              Tổng hợp từ những tư liệu trên, tên cung điện này tôi đọc là “A Bàng”.
    Trong Cổ văn (tập 2) của dịch giả Hoàng Khôi, trong Đại cương Văn học sử Trung Quốc của Nguyễn Hiến Lê và trong Hán văn của Trần Trọng San ở bài "阿房宮賦" của Đỗ Mục 杜牧 đều phiên âm là “A Phòng cung phú”.

                                                          Huỳnh Chương Hưng
                                                           Quy Nhơn 13/6/2019

    Nguyên tác Trung văn
    A BÀNG CUNG VỊ HÀ THỦ DANH “A BÀNG”
    阿房宫为何取名阿房
    Trong quyển
    TRUNG QUỐC VỊ GIẢI CHI MÊ
    中国未解之谜
    Tác giả: Hải Tử 海子
    Trung Quốc Hoa Kiều xuất bản xã, 2013 

    Thứ Tư, 12 tháng 6, 2019

    ĐÔNG SƠN TÁI KHỞI
    东山再起

    Giải thích: khôi phục lại lực lượng sau khi thất bại. Cũng ví ra làm quan trở lại sau khi ẩn cư.
    Xuất xứ: Đường . Phòng Huyền Linh 房玄龄 đẳng: Tấn thư – Tạ An truyện 晋书 - 谢安传.

              Văn nhân trứ danh Tạ An 谢安 thời Đông Tấn ẩn cư ở Đông sơn 东山tại Cối Kê 会稽 Chiết Giang 浙江, thường cùng với Vương Hi Chi 王羲之du sơn ngoạn thuỷ, viết văn làm thơ. Triều đình biết ông có tài, triệu ông làm Lại bộ lang 吏部郎, nhưng ông từ chối.
              Về sau, Chinh tây đại tướng quân của triều đình, con rể của Minh Đế Tư Mã Thiệu 明帝司马绍 là Hoàn Ôn 桓温 , mời Tạ An giữ chức Tư Mã 司马. Tạ An bất đắc dĩ mới nhận lời. Lúc bầy giờ ông đã hơn 40 tuổi.
              Hôm Tạ An xuất nhậm, các quan viên trong triều đều đến chúc mừng. Lúc ấy có một viên quan tên Cao Tùng 高菘 nói đùa với Tạ An rằng:
              - Trước đây ông cao ngoạ ở Đông Sơn, nhiều lần trái ý chỉ triều đình, không chịu ra làm quan. Không ngờ đến hôm nay lại xuất hiện (Đông sơn tái khởi 东山再起)
              Về sau Tạ An làm đến Tể tướng, trong trận chiến Phì thuỷ 淝水 nổi tiếng giữa Đông Tấn và Tiền Tần, Tạ An phái em và cháu làm đại tướng, lãnh binh nghinh chiến, đánh bại trăm vạn đại quân của Phù Kiên 苻坚
                                                           Huỳnh Chương Hưng
                                                 Quy Nhơn 12/6/2019

    Nguyên tác Trung văn
    ĐÔNG SƠN TÁI KHỞI
    东山再起
    TRUNG QUỐC THÀNH NGỮ CỐ SỰ TỔNG TẬP
    中国成语故事总集
    (tập 1)
    Chủ biên: Đường Kì 唐麒
    Trường Xuân – Thời đại văn nghệ xuất bản xã, 2004


    Dịch thuật: Đông Sơn tái khởi (thành ngữ)

    Đăng lúc  21:16  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    ĐÔNG SƠN TÁI KHỞI
    东山再起

    Giải thích: khôi phục lại lực lượng sau khi thất bại. Cũng ví ra làm quan trở lại sau khi ẩn cư.
    Xuất xứ: Đường . Phòng Huyền Linh 房玄龄 đẳng: Tấn thư – Tạ An truyện 晋书 - 谢安传.

              Văn nhân trứ danh Tạ An 谢安 thời Đông Tấn ẩn cư ở Đông sơn 东山tại Cối Kê 会稽 Chiết Giang 浙江, thường cùng với Vương Hi Chi 王羲之du sơn ngoạn thuỷ, viết văn làm thơ. Triều đình biết ông có tài, triệu ông làm Lại bộ lang 吏部郎, nhưng ông từ chối.
              Về sau, Chinh tây đại tướng quân của triều đình, con rể của Minh Đế Tư Mã Thiệu 明帝司马绍 là Hoàn Ôn 桓温 , mời Tạ An giữ chức Tư Mã 司马. Tạ An bất đắc dĩ mới nhận lời. Lúc bầy giờ ông đã hơn 40 tuổi.
              Hôm Tạ An xuất nhậm, các quan viên trong triều đều đến chúc mừng. Lúc ấy có một viên quan tên Cao Tùng 高菘 nói đùa với Tạ An rằng:
              - Trước đây ông cao ngoạ ở Đông Sơn, nhiều lần trái ý chỉ triều đình, không chịu ra làm quan. Không ngờ đến hôm nay lại xuất hiện (Đông sơn tái khởi 东山再起)
              Về sau Tạ An làm đến Tể tướng, trong trận chiến Phì thuỷ 淝水 nổi tiếng giữa Đông Tấn và Tiền Tần, Tạ An phái em và cháu làm đại tướng, lãnh binh nghinh chiến, đánh bại trăm vạn đại quân của Phù Kiên 苻坚
                                                           Huỳnh Chương Hưng
                                                 Quy Nhơn 12/6/2019

    Nguyên tác Trung văn
    ĐÔNG SƠN TÁI KHỞI
    东山再起
    TRUNG QUỐC THÀNH NGỮ CỐ SỰ TỔNG TẬP
    中国成语故事总集
    (tập 1)
    Chủ biên: Đường Kì 唐麒
    Trường Xuân – Thời đại văn nghệ xuất bản xã, 2004


    Thứ Ba, 11 tháng 6, 2019

    TỔ CHỨC CỦA ĐẾ QUỐC PHONG KIẾN ĐỜI CHU

              “Phong kiến đế quốc” 封建帝国 mà do Vũ Vương 武王 khai sáng, Chu Công 周公đặt nền móng, duy trì khoảng 700 năm (từ đầu thế kỉ thứ 11 đến cuối thế kỉ thứ 5 trước công nguyên). Đương nhiên trong khoảng thời gian này, hoàn toàn không phải không có sự biến thiên xã hội, mà tình hình các địa vực  cũng không nhất trí. Sự biến dị về 2 phương diện tung và hoành, tuy hiện khả năng hiểu biết rất ít, nhưng dưới đây cũng trình bày những vấn đề có liên quan. Thời kì này là thời kì đầu tiên có thể khảo chứng của xã hội sử Trung Quốc. Tổ chức xã hội đời Chu có thể nói là cơ sở của xã hội sử Trung Quốc. Từ đế quốc phong kiến tản mạn này đến đế quốc quận huyện thống nhất của đời Hán trở đi, từ sự phân chia giai cấp, xã hội cố định đặc quyền này đến xã hội tương đối bình đẳng về mặt chính trị và pháp luật từ đời Hán về sau, lịch trình cả thời gian này là một trong những vấn đề trung tâm của xã hội sử Trung Quốc.
              Từ “phong kiến” mà ở trên nói đến thường bị lạm dụng. Nói một cách nghiêm túc, yếu tố của xã hội phong kiến là:
              Về thuộc hạ của một vương thất có mấy cấp phong quân 封君 dạng hình bảo tháp; mỗi một phong quân tuy xưng thần đối với thượng cấp, nhưng sự thực là kẻ thống trị thế tập một khu vực kiêm địa chủ; trong xã hội này, phàm kẻ thống trị đều là địa chủ, phàm địa chủ đều là kẻ thống trị, đồng thời thuộc hạ của kẻ thống trị các cấp hết thảy là nông nô tức “điền khách” 佃客, họ không thể có tư hữu hoặc chuyển bán ruộng đất canh tác. Theo giới thuyết này, không nghi ngờ gì, xã hội đời Chu là xã hội phong kiến, và trong lịch sử Trung Quốc chỉ có xã hội đời Chu có thể nói là xã hội của phong kiến. Về danh nghĩa, cả đế quốc này là “vương thổ” 王土, người trong đế quốc này đều là “vương thần” 王臣, nhưng sự thực Chu Vương trực tiếp thống thuộc chỉ là vùng đất “vương kì” 王畿. Vương kì lấy Hạo Kinh 镐京và Lạc Ấp 洛邑làm hai tiêu điểm, phạm vi của nó hiện chưa thể khảo chứng, nhưng có thể biết phía bắc không quá Hoàng hà 黄河, phía nam không đến lưu vực Hán thuỷ 汉水, phía đông không đến lưu vực Hoài thuỷ 淮水, phía tây là biên thuỳ mà Hạo Kinh tiếp cận. Vùng đất vương kì trong dự tính của người Chu là khoảng 1000 dặm vuông vức. Phía ngoài vương kì, Chu thất trước sau chí thiểu là cũng đã phong lập 130 chư hầu quốc trở lên (xác số không thể tra khảo). Nghĩa vụ của chư hầu đối với vương thất chẳng qua là nạp cống theo kì và triều kiến, xuất binh giúp vương chính phạt, cùng cứu tế tai hoạn trong vương kì mà thôi. Nội chính của chư hầu quốc dường như hoàn toàn tự chủ, sau khi vũ uy thời đầu Chu thất khai quốc qua đi, nghĩa vụ của chư hầu đối với vương thất cũng thành những quy định không thực tế, hết thảy dựa vào sự hoan hỉ của chư hầu thôi. Mặt khác, Chu Vương trong vương kì của mình, chư hầu trong nước của mình, ai nấy đều nắm một lượng lớn đất đai, phân cho nhiều “tiểu phong quân” 小封君. Mỗi một tiểu phong quân là chủ nhân thế tập về chính trị và kinh tế trong khu vực được phong của mình, nhân dân nộp tô thuế cho ông ta, phục vụ lực dịch và binh dịch. Tiểu phong quân chẳng qua có nghĩa vụ hàng năm nộp cống cho chư hầu hoặc cho vương thất.
              Chư hầu quốc của triều Chu, khởi nguyên có thể phân làm 4 loại:
    1- Đầu thời khai quốc, vương thất đem đất đai mới chinh phục hoặc lấy được phân cho thân thích tông thất hoặc công thần.
    2- Sau thời khai quốc rất lâu, vương thất phân chia đất đai trong kì cho con em hoặc công thần, ví dụ như Trịnh , Tần . Thuỷ tổ của Trịnh là Thiếu tử Hữu của Chu Lệ Vương 周厉王, được phong thời Tuyên Vương 宣王, nay tại huyện Hoa Thiểm Tây 陕西. Sau loạn U Vương 幽王, Trịnh Hữu 郑友gởi gia đình ở Cối cùng Đông Quắc 东虢, nhân đó chiếm đoạt lấy đất, lập nước mới (nay tại vùng Tân Trịnh 新郑phía nam Hoàng hà trung bộ Hà Nam).
    3- Lấy đất đai nguyên của triều Thương phong cho hậu duệ của triều Thương, thuộc lại này chỉ có Tống .
    4- Chư hầu quốc hoặc độc lập quốc nguyên có ở đời Thương quy phụ vào triều Chu, như Trần , Kỉ .
              Thuyết cũ cho rằng chư hầu triều Chu, tước phân làm 5 cấp, tức Công , Hầu , Bá , Tử , Nam . Thuyết này từng có người hoài nghi. Nhưng trong sử kí nước Lỗ hiện tồn quả thực có 5 tước này. Trong đó, chư hầu tước Công chỉ có Tống, tước Nam chỉ có Hứa (nay là Hứa Xương 许昌Hà Nam 河南); thuộc loại thứ 1 đa phần là tước Hầu, cũng có tước Bá; Tần, Trịnh thuộc loại thứ 2 là tước Bá, thuộc loại thứ 4 đa phần là tước Tử.
              Tiểu phong quân trong vương kì toàn là vương tộc. Tiểu phong quân của liệt quốc nguyên sơ cũng toàn là “công tộc” 公族 (đồng tộc của quốc quân); nhưng chậm là đến đầu thế kỉ thứ 7 trước công nguyên, cục diện tình hình này bị phá vỡ. Hiền thần Quản Trọng 管仲 nổi tiếng của Tề Hoàn Công 齐桓公 (từ năm 651 đến năm 643 trước công nguyên) và hiền thần Án Anh 晏婴 nổi tiếng của Cảnh Công 景公 (từ năm 547 đến năm 490 trước công nguyên) đều có phong địa, nhưng không phải là công tộc, theo truyền thuyết, Án Anh là người thuộc Đông Di 东夷. Nước Tấn từ Tấn Hiến Công 晋献公 (năm 676 đến năm 651 trước công nguyên) dường như giết hết công tộc trở đi, quý tộc sau này đa phần dị tính (khác họ), hoặc đến từ nước khác. Nước Tần từ thể chế chính trị của nó mà tra khảo, từ thời đại của Mục Công 穆公 (năm 659 đến năm 621 trước công nguyên), đã dùng nhiều “khách khanh” 客卿, công tộc trước sau tại nước Tần không thể ngóc đầu lên nổi. Nhưng Lỗ, Trịnh và Tống, dường như đến cuối thời Xuân Thu chưa từng có qua (chí thiểu là có rất ít) tiểu phong quân không phải là công tộc. Sự khác biệt này là bối cảnh khác nhau giữa tiến thủ và bảo thủ, cũng là bối cảnh khác nhau giữa mạnh và yếu. Tình hình của tiểu phong quân trong vương kì, chúng ta biết rất ít, tạm không nói đến. Tiểu phong quân của liệt quốc thống xưng là “đại phu”. Đại phu của liệt quốc đa số nhậm chức tại triều đình của quốc quân, giúp quốc quân nắm giữ quốc chính nói chung, gọi là “khanh”. Khanh có sự phân biệt thượng và hạ hoặc chính và phó. Khanh của nước lớn nhiều nhất không quá 6 người. Đại phu cũng có đẳng cấp thượng và hạ, nhưng số lượng không hạn chế. Địa vị của đại phu là thế tập, địa vị của khanh thì chiếu theo lệ không phải là thế tập, tuy nhiên cũng có những cự thất nhiều đời giữ chức khanh. Mỗi gia tộc của đại phu đều có thị (họ) đặc thù. Có gia tộc lấy chức quan của vị đại phu khai tông làm thị; có gia tộc lấy ấp đầu tiên của phong địa làm thị; nếu vị đại phu khai tông là con của quốc quân, thì từ đời thứ 3 trở đi sẽ lấy biệt tự của đại phu khai tông làm thị. Để thuận lợi trong việc trình bày, các bài sau sẽ gọi gia nghiệp thế tập của đại phu là “thị thất” 氏室, phân biệt với “công thất” 公室 của chư hầu và “vương thất” 王室 của Chu Vương. (chú: theo chế độ nhà Chu, khanh của liệt quốc, có khi có một hai vị do vương triều nhậm mệnh, nhưng chế độ này thời gian và phạm vi không gian thực hiện không rõ).
              Chu Vương và các phong quân lớn nhỏ (bao gồm chư hầu) cấu thành tầng cao nhất của xã hội phong kiến này, tầng kế đến là quan lại và võ sĩ được họ cấp dưỡng bổng lộc, tầng kế đến nữa là thứ nhân lấy nông dân làm chủ thể. Tầng thấp nhất là nô lệ mà quý tộc nuôi dưỡng.

                                                              Huỳnh Chương Hưng
                                                              Quy Nhơn 11/6/2019

    Nguyên tác
    PHONG KIẾN ĐẾ QUỐC ĐÍCH TỔ CHỨC
    封建帝国的组织
    Trong quyển
     TRUNG QUỐC SỬ CƯƠNG
    中国史纲
    Tác giả: Trương Ấm Lân 张荫麟
    Bắc Kinh: Hoá học công nghiệp xuất bản xã, 2017

    Dịch thuật: Tổ chức của đế quốc phong kiến đời Chu

    Đăng lúc  21:31  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    TỔ CHỨC CỦA ĐẾ QUỐC PHONG KIẾN ĐỜI CHU

              “Phong kiến đế quốc” 封建帝国 mà do Vũ Vương 武王 khai sáng, Chu Công 周公đặt nền móng, duy trì khoảng 700 năm (từ đầu thế kỉ thứ 11 đến cuối thế kỉ thứ 5 trước công nguyên). Đương nhiên trong khoảng thời gian này, hoàn toàn không phải không có sự biến thiên xã hội, mà tình hình các địa vực  cũng không nhất trí. Sự biến dị về 2 phương diện tung và hoành, tuy hiện khả năng hiểu biết rất ít, nhưng dưới đây cũng trình bày những vấn đề có liên quan. Thời kì này là thời kì đầu tiên có thể khảo chứng của xã hội sử Trung Quốc. Tổ chức xã hội đời Chu có thể nói là cơ sở của xã hội sử Trung Quốc. Từ đế quốc phong kiến tản mạn này đến đế quốc quận huyện thống nhất của đời Hán trở đi, từ sự phân chia giai cấp, xã hội cố định đặc quyền này đến xã hội tương đối bình đẳng về mặt chính trị và pháp luật từ đời Hán về sau, lịch trình cả thời gian này là một trong những vấn đề trung tâm của xã hội sử Trung Quốc.
              Từ “phong kiến” mà ở trên nói đến thường bị lạm dụng. Nói một cách nghiêm túc, yếu tố của xã hội phong kiến là:
              Về thuộc hạ của một vương thất có mấy cấp phong quân 封君 dạng hình bảo tháp; mỗi một phong quân tuy xưng thần đối với thượng cấp, nhưng sự thực là kẻ thống trị thế tập một khu vực kiêm địa chủ; trong xã hội này, phàm kẻ thống trị đều là địa chủ, phàm địa chủ đều là kẻ thống trị, đồng thời thuộc hạ của kẻ thống trị các cấp hết thảy là nông nô tức “điền khách” 佃客, họ không thể có tư hữu hoặc chuyển bán ruộng đất canh tác. Theo giới thuyết này, không nghi ngờ gì, xã hội đời Chu là xã hội phong kiến, và trong lịch sử Trung Quốc chỉ có xã hội đời Chu có thể nói là xã hội của phong kiến. Về danh nghĩa, cả đế quốc này là “vương thổ” 王土, người trong đế quốc này đều là “vương thần” 王臣, nhưng sự thực Chu Vương trực tiếp thống thuộc chỉ là vùng đất “vương kì” 王畿. Vương kì lấy Hạo Kinh 镐京và Lạc Ấp 洛邑làm hai tiêu điểm, phạm vi của nó hiện chưa thể khảo chứng, nhưng có thể biết phía bắc không quá Hoàng hà 黄河, phía nam không đến lưu vực Hán thuỷ 汉水, phía đông không đến lưu vực Hoài thuỷ 淮水, phía tây là biên thuỳ mà Hạo Kinh tiếp cận. Vùng đất vương kì trong dự tính của người Chu là khoảng 1000 dặm vuông vức. Phía ngoài vương kì, Chu thất trước sau chí thiểu là cũng đã phong lập 130 chư hầu quốc trở lên (xác số không thể tra khảo). Nghĩa vụ của chư hầu đối với vương thất chẳng qua là nạp cống theo kì và triều kiến, xuất binh giúp vương chính phạt, cùng cứu tế tai hoạn trong vương kì mà thôi. Nội chính của chư hầu quốc dường như hoàn toàn tự chủ, sau khi vũ uy thời đầu Chu thất khai quốc qua đi, nghĩa vụ của chư hầu đối với vương thất cũng thành những quy định không thực tế, hết thảy dựa vào sự hoan hỉ của chư hầu thôi. Mặt khác, Chu Vương trong vương kì của mình, chư hầu trong nước của mình, ai nấy đều nắm một lượng lớn đất đai, phân cho nhiều “tiểu phong quân” 小封君. Mỗi một tiểu phong quân là chủ nhân thế tập về chính trị và kinh tế trong khu vực được phong của mình, nhân dân nộp tô thuế cho ông ta, phục vụ lực dịch và binh dịch. Tiểu phong quân chẳng qua có nghĩa vụ hàng năm nộp cống cho chư hầu hoặc cho vương thất.
              Chư hầu quốc của triều Chu, khởi nguyên có thể phân làm 4 loại:
    1- Đầu thời khai quốc, vương thất đem đất đai mới chinh phục hoặc lấy được phân cho thân thích tông thất hoặc công thần.
    2- Sau thời khai quốc rất lâu, vương thất phân chia đất đai trong kì cho con em hoặc công thần, ví dụ như Trịnh , Tần . Thuỷ tổ của Trịnh là Thiếu tử Hữu của Chu Lệ Vương 周厉王, được phong thời Tuyên Vương 宣王, nay tại huyện Hoa Thiểm Tây 陕西. Sau loạn U Vương 幽王, Trịnh Hữu 郑友gởi gia đình ở Cối cùng Đông Quắc 东虢, nhân đó chiếm đoạt lấy đất, lập nước mới (nay tại vùng Tân Trịnh 新郑phía nam Hoàng hà trung bộ Hà Nam).
    3- Lấy đất đai nguyên của triều Thương phong cho hậu duệ của triều Thương, thuộc lại này chỉ có Tống .
    4- Chư hầu quốc hoặc độc lập quốc nguyên có ở đời Thương quy phụ vào triều Chu, như Trần , Kỉ .
              Thuyết cũ cho rằng chư hầu triều Chu, tước phân làm 5 cấp, tức Công , Hầu , Bá , Tử , Nam . Thuyết này từng có người hoài nghi. Nhưng trong sử kí nước Lỗ hiện tồn quả thực có 5 tước này. Trong đó, chư hầu tước Công chỉ có Tống, tước Nam chỉ có Hứa (nay là Hứa Xương 许昌Hà Nam 河南); thuộc loại thứ 1 đa phần là tước Hầu, cũng có tước Bá; Tần, Trịnh thuộc loại thứ 2 là tước Bá, thuộc loại thứ 4 đa phần là tước Tử.
              Tiểu phong quân trong vương kì toàn là vương tộc. Tiểu phong quân của liệt quốc nguyên sơ cũng toàn là “công tộc” 公族 (đồng tộc của quốc quân); nhưng chậm là đến đầu thế kỉ thứ 7 trước công nguyên, cục diện tình hình này bị phá vỡ. Hiền thần Quản Trọng 管仲 nổi tiếng của Tề Hoàn Công 齐桓公 (từ năm 651 đến năm 643 trước công nguyên) và hiền thần Án Anh 晏婴 nổi tiếng của Cảnh Công 景公 (từ năm 547 đến năm 490 trước công nguyên) đều có phong địa, nhưng không phải là công tộc, theo truyền thuyết, Án Anh là người thuộc Đông Di 东夷. Nước Tấn từ Tấn Hiến Công 晋献公 (năm 676 đến năm 651 trước công nguyên) dường như giết hết công tộc trở đi, quý tộc sau này đa phần dị tính (khác họ), hoặc đến từ nước khác. Nước Tần từ thể chế chính trị của nó mà tra khảo, từ thời đại của Mục Công 穆公 (năm 659 đến năm 621 trước công nguyên), đã dùng nhiều “khách khanh” 客卿, công tộc trước sau tại nước Tần không thể ngóc đầu lên nổi. Nhưng Lỗ, Trịnh và Tống, dường như đến cuối thời Xuân Thu chưa từng có qua (chí thiểu là có rất ít) tiểu phong quân không phải là công tộc. Sự khác biệt này là bối cảnh khác nhau giữa tiến thủ và bảo thủ, cũng là bối cảnh khác nhau giữa mạnh và yếu. Tình hình của tiểu phong quân trong vương kì, chúng ta biết rất ít, tạm không nói đến. Tiểu phong quân của liệt quốc thống xưng là “đại phu”. Đại phu của liệt quốc đa số nhậm chức tại triều đình của quốc quân, giúp quốc quân nắm giữ quốc chính nói chung, gọi là “khanh”. Khanh có sự phân biệt thượng và hạ hoặc chính và phó. Khanh của nước lớn nhiều nhất không quá 6 người. Đại phu cũng có đẳng cấp thượng và hạ, nhưng số lượng không hạn chế. Địa vị của đại phu là thế tập, địa vị của khanh thì chiếu theo lệ không phải là thế tập, tuy nhiên cũng có những cự thất nhiều đời giữ chức khanh. Mỗi gia tộc của đại phu đều có thị (họ) đặc thù. Có gia tộc lấy chức quan của vị đại phu khai tông làm thị; có gia tộc lấy ấp đầu tiên của phong địa làm thị; nếu vị đại phu khai tông là con của quốc quân, thì từ đời thứ 3 trở đi sẽ lấy biệt tự của đại phu khai tông làm thị. Để thuận lợi trong việc trình bày, các bài sau sẽ gọi gia nghiệp thế tập của đại phu là “thị thất” 氏室, phân biệt với “công thất” 公室 của chư hầu và “vương thất” 王室 của Chu Vương. (chú: theo chế độ nhà Chu, khanh của liệt quốc, có khi có một hai vị do vương triều nhậm mệnh, nhưng chế độ này thời gian và phạm vi không gian thực hiện không rõ).
              Chu Vương và các phong quân lớn nhỏ (bao gồm chư hầu) cấu thành tầng cao nhất của xã hội phong kiến này, tầng kế đến là quan lại và võ sĩ được họ cấp dưỡng bổng lộc, tầng kế đến nữa là thứ nhân lấy nông dân làm chủ thể. Tầng thấp nhất là nô lệ mà quý tộc nuôi dưỡng.

                                                              Huỳnh Chương Hưng
                                                              Quy Nhơn 11/6/2019

    Nguyên tác
    PHONG KIẾN ĐẾ QUỐC ĐÍCH TỔ CHỨC
    封建帝国的组织
    Trong quyển
     TRUNG QUỐC SỬ CƯƠNG
    中国史纲
    Tác giả: Trương Ấm Lân 张荫麟
    Bắc Kinh: Hoá học công nghiệp xuất bản xã, 2017

    Thứ Hai, 10 tháng 6, 2019

    CÔ CON DÂU THÔNG MINH

              Trên đời hết thảy sự việc đều không tuyệt đối. Có lúc một sự việc nếu nhìn theo giác độ khác sẽ khiến cuộc sống càng thêm vui thú. Dưới đây sẽ kể cho mọi người nghe câu chuyện về cô con dâu thông minh. Từ giác độ khác nhau mà suy nghĩ, không chỉ hoá giải được nhiều vấn đề, mà còn được nhiều người khen tặng.
              Có một người cha chồng tên A Cửu 阿九, tính tình rất là cổ quái. Ông có bốn người con trai, trong đó ba người đã có vợ. Nhưng ba cô dâu đều chậm chạp đần độn, khiến ông luôn không hài lòng.
             Ngày nọ, cả ba cô đều muốn về nhà mẹ mình, đương gặp lúc cuối tháng,  trước lúc lên đường, người cha chồng dặn dò mỗi cô con dâu một việc.
              Ông nói với cô con dâu lớn:
              - Trăng khuyết ra đi, trăng tròn trở về, lúc về mang theo tết Đoan Dương, và dùng giấy thổi ra gió.
              Ông nói với cô con dâu thứ hai:
              - Trăng khuyết ra đi, trăng tròn trở về, lúc về mang theo tết Trung Thu, và và dùng giấy che mưa.
              Ông nói với cô con dâu thứ ba:
              - Trăng khuyết ra đi, trăng tròn trở về, lúc về mang theo tết cuối năm, và dùng giấy bao lửa lại.
              Rốt cuộc người cha chồng bảo mấy cô con dâu mang theo thứ gì trở về cả ba cô đều đau cả đầu. Ba cô vừa đi vừa khóc, cuối cùng ngồi bên cửa một nhà nông dân, cả ba ôm nhau khóc. Lúc bấy giờ, tiếng khóc làm cô gái trong nhà hiếu kì, thế là cô ta mở cửa bước ra hỏi nguyên do:
              - Xin hỏi các chị vì sao mà khóc đau thương như thế?
             Ba cô liền đem lời cha chồng dặn dò nói lại. Nói xong chỉ thấy cô gái nhẹ nhàng cười nói rằng:
              - Các chị chớ có lo lắng. Chẳng qua cha chồng các chị thử xem các chị có thông minh hay không.
              - Nói tuy không sai, nhưng chúng tôi làm sao làm đây?
              Ba cô dâu lại nghẹn ngào nức nở.
              - Đừng khóc, các chị nghe tôi nói đây. Gọi là trăng khuyết ra đi, trăng tròn trở về, đó chẳng phải là bảo các chị mồng một về nhà mẹ mình, ngày rằm thì trở về nhà mẹ chồng sao?
              - Ồ! Đúng rồi!
              Ba cô con dâu ngừng khóc, im lặng lắng nghe cô gái nói.
              - Chị đầu tiên, cha chồng bảo chị “lúc về mang theo tết Đoan Dương, dùng giấy thổi ra gió”, đó là bảo chị mang theo về một ít bánh tro và quạt giấy.
              - Hoá ra là như thế.
              - Chị thứ hai, cha chồng bảo chị “lúc về mang theo tết Trung Thu, dùng giấy che mưa”, đó là bảo chị mang theo về bánh Trung Thu và dù giấy.
              - Thật thế à? Thế thì dễ quá.
              Cô con dâu thứ ba nôn nóng hỏi:
              - Cô gái, còn tôi thì sao?
              - Chị đừng vội. Cha chồng bảo chị “lúc về mang theo tết cuối năm, dùng giấy bao lửa lại”, đó là bảo chị mang theo về bánh tổ, còn có lồng đèn làm bằng giấy nữa.
              Ba cô gái lau nước mắt, sau khi cảm tạ cô gái đã vui vẻ lên đường về nhà mẹ. Thời gian sau, ba cô gái hân hoan mang theo về nhà mẹ chồng những thứ mà cha chồng đã dặn.
              - Đúng rồi, mấy con làm rất tốt.
              Người cha chồng lấy làm lạ, ba cô con dâu này vốn đều rất ngốc, sao lại đột nhiên thông minh thế?
              - Có thể nói cho cha biết, là ai đã chỉ các con làm như thế?
              Ba cô đem tình hình gặp được cô gái, kể rõ ràng cho cha chồng nghe. Cô gái giỏi như thế ai mà không yêu thích chứ? Thế là người cha chồng A Cửu lập tức nhờ người làm mai, cưới cô gái đó về làm cô con dâu thứ tư.
             
                                                             Huỳnh Chương Hưng
                                                             Quy Nhơn 10/6/2019

    Nguồn
    TRUNG QUỐC ĐỒNG THOẠI ĐÍCH XỬ THẾ TRÍ TUỆ
    中國童話的處世智慧
    Tác giả: Lâm Huệ Văn 林惠文
    Đài Bắc huyện Trung Hoà thị: Hoa văn cương
    Năm 2002 (Dân Quốc năm thứ 91)


    Dịch thuật: Cô con dâu thông minh

    Đăng lúc  21:20  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    CÔ CON DÂU THÔNG MINH

              Trên đời hết thảy sự việc đều không tuyệt đối. Có lúc một sự việc nếu nhìn theo giác độ khác sẽ khiến cuộc sống càng thêm vui thú. Dưới đây sẽ kể cho mọi người nghe câu chuyện về cô con dâu thông minh. Từ giác độ khác nhau mà suy nghĩ, không chỉ hoá giải được nhiều vấn đề, mà còn được nhiều người khen tặng.
              Có một người cha chồng tên A Cửu 阿九, tính tình rất là cổ quái. Ông có bốn người con trai, trong đó ba người đã có vợ. Nhưng ba cô dâu đều chậm chạp đần độn, khiến ông luôn không hài lòng.
             Ngày nọ, cả ba cô đều muốn về nhà mẹ mình, đương gặp lúc cuối tháng,  trước lúc lên đường, người cha chồng dặn dò mỗi cô con dâu một việc.
              Ông nói với cô con dâu lớn:
              - Trăng khuyết ra đi, trăng tròn trở về, lúc về mang theo tết Đoan Dương, và dùng giấy thổi ra gió.
              Ông nói với cô con dâu thứ hai:
              - Trăng khuyết ra đi, trăng tròn trở về, lúc về mang theo tết Trung Thu, và và dùng giấy che mưa.
              Ông nói với cô con dâu thứ ba:
              - Trăng khuyết ra đi, trăng tròn trở về, lúc về mang theo tết cuối năm, và dùng giấy bao lửa lại.
              Rốt cuộc người cha chồng bảo mấy cô con dâu mang theo thứ gì trở về cả ba cô đều đau cả đầu. Ba cô vừa đi vừa khóc, cuối cùng ngồi bên cửa một nhà nông dân, cả ba ôm nhau khóc. Lúc bấy giờ, tiếng khóc làm cô gái trong nhà hiếu kì, thế là cô ta mở cửa bước ra hỏi nguyên do:
              - Xin hỏi các chị vì sao mà khóc đau thương như thế?
             Ba cô liền đem lời cha chồng dặn dò nói lại. Nói xong chỉ thấy cô gái nhẹ nhàng cười nói rằng:
              - Các chị chớ có lo lắng. Chẳng qua cha chồng các chị thử xem các chị có thông minh hay không.
              - Nói tuy không sai, nhưng chúng tôi làm sao làm đây?
              Ba cô dâu lại nghẹn ngào nức nở.
              - Đừng khóc, các chị nghe tôi nói đây. Gọi là trăng khuyết ra đi, trăng tròn trở về, đó chẳng phải là bảo các chị mồng một về nhà mẹ mình, ngày rằm thì trở về nhà mẹ chồng sao?
              - Ồ! Đúng rồi!
              Ba cô con dâu ngừng khóc, im lặng lắng nghe cô gái nói.
              - Chị đầu tiên, cha chồng bảo chị “lúc về mang theo tết Đoan Dương, dùng giấy thổi ra gió”, đó là bảo chị mang theo về một ít bánh tro và quạt giấy.
              - Hoá ra là như thế.
              - Chị thứ hai, cha chồng bảo chị “lúc về mang theo tết Trung Thu, dùng giấy che mưa”, đó là bảo chị mang theo về bánh Trung Thu và dù giấy.
              - Thật thế à? Thế thì dễ quá.
              Cô con dâu thứ ba nôn nóng hỏi:
              - Cô gái, còn tôi thì sao?
              - Chị đừng vội. Cha chồng bảo chị “lúc về mang theo tết cuối năm, dùng giấy bao lửa lại”, đó là bảo chị mang theo về bánh tổ, còn có lồng đèn làm bằng giấy nữa.
              Ba cô gái lau nước mắt, sau khi cảm tạ cô gái đã vui vẻ lên đường về nhà mẹ. Thời gian sau, ba cô gái hân hoan mang theo về nhà mẹ chồng những thứ mà cha chồng đã dặn.
              - Đúng rồi, mấy con làm rất tốt.
              Người cha chồng lấy làm lạ, ba cô con dâu này vốn đều rất ngốc, sao lại đột nhiên thông minh thế?
              - Có thể nói cho cha biết, là ai đã chỉ các con làm như thế?
              Ba cô đem tình hình gặp được cô gái, kể rõ ràng cho cha chồng nghe. Cô gái giỏi như thế ai mà không yêu thích chứ? Thế là người cha chồng A Cửu lập tức nhờ người làm mai, cưới cô gái đó về làm cô con dâu thứ tư.
             
                                                             Huỳnh Chương Hưng
                                                             Quy Nhơn 10/6/2019

    Nguồn
    TRUNG QUỐC ĐỒNG THOẠI ĐÍCH XỬ THẾ TRÍ TUỆ
    中國童話的處世智慧
    Tác giả: Lâm Huệ Văn 林惠文
    Đài Bắc huyện Trung Hoà thị: Hoa văn cương
    Năm 2002 (Dân Quốc năm thứ 91)


    Mã nguồn bởi Huỳnh Chương Hưng
    Copyright © 2012 Huỳnh Chương Hưng.
    back to top