• Thứ Hai, 20 tháng 8, 2018

    TÔNG PHÁP
    (kì 3)

    THÂN THUỘC

              Đặc điểm của tông pháp Trung Quốc là:
              - Quan hệ thân thuộc nối đời rất xa.
              - Danh xưng thân thuộc chia ra rất tỉ mỉ, đặc biệt là người sinh trước sinh sau có danh xưng khác nhau, như huynh đệ tỉ muội.
              Cha của cha là tổ , thời cổ xưng là vương phụ 王父; Mẹ của cha là tổ mẫu 祖母, thời cổ xưng là vương mẫu 王母.
              Cha mẹ của tổ là tằng tổ phụ 曾祖父, tằng tổ mẫu 曾祖母.
              Cha mẹ của tằng tổ phụ là cao tổ phụ 高祖父, cao tổ mẫu 高祖母.
              Con của con là tôn , con của tôn là tằng tôn 曾孙, con của tằng tôn là huyền tôn 玄孙, con của huyền tôn là lai tôn 来孙, con của lai tôn là côn tôn  () , con của côn tôn là nhưng tôn 仍孙, con của nhưng tôn là vân tôn 云孙.
              Anh của cha là thế phụ 世父  (bá phụ 伯父), em trai của cha là thúc phụ 叔父, nói tắt là bá thúc 伯叔. Vợ của thế phụ, thúc phụ xưng là thế mẫu 世母  (bá mẫu 伯母), thúc mẫu 叔母 (sau xưng là thẩm ).
              Con của bá thúc (đường huynh đệ 堂兄弟) xưng là tụng phụ côn đệ 从父晜弟, cũng xưng là tụng huynh đệ 从兄弟, đây là anh em cùng tổ phụ (ông nội).
                Chị và em gái của cha là cô .
              Bá thúc (bác chú) của cha xưng là tụng tổ tổ phụ 从祖祖父 (bá tổ phụ 伯祖父, thúc tổ phụ 叔祖父). Vợ của họ xưng là tụng tổ tổ mẫu 从祖祖母 (bá tổ mẫu 伯祖母, thúc tổ mẫu 叔祖母). Con của họ xưng là tụng tổ phụ 从祖父, tục xưng đường bá 堂伯, đường thúc 堂叔, đây là bá thúc (bác chú) cùng tằng tổ phụ (ông cố). Vợ của đường bá, đường thúc xưng là tụng tổ mẫu 从祖母 (đường bá mẫu 堂伯母, đường thúc mẫu 堂叔母). Con của đường bá, đường thúc xưng là tụng tổ côn đệ 从祖晜弟, cũng xưng là tái tụng huynh đệ 再从兄弟 (tụng đường huynh đệ 从堂兄弟), đây là anh em cùng tằng tổ (ông cố).
              Bá thúc (bác chú) của tổ phụ (ông nội) là tộc tằng tổ phụ, xưng là tộc tằng vương phụ 族曾王父.Vợ là tộc tằng tổ mẫu, xưng là tộc tằng vương mẫu 族曾王母. Con của tộc tằng tổ phụ là tộc tổ phụ, xưng là tộc tổ vương phụ 族祖王父. Con của tộc tổ vương phụ là tộc phụ. Con của tộc phụ là tộc huynh đệ, đây là anh em cùng cao tổ (ông cao).
              Vợ của anh là tẩu , vợ của em là đệ phụ 弟妇. Con trai của anh và em trai là tụng tử 从子, xưng là điệt , con gái của anh và em là tụng nữ 从女, về sau xưng là điệt nữ 侄女.
              Con của chị và em gái là sanh , sau xưng là ngoại sanh 外甥.
              Chồng của con gái là nữ tế 女婿  hoặc tử tế 子婿 (1), sau nói tắt là tế 婿.
              Con của chị và em gái của cha xưng là trung biểu 中表 (biểu huynh 表兄, biểu đệ 表弟, biểu tỉ 表姊, biểu muội 表妹). Trung biểu là cách xưng hô từ đời Tấn trở về sau mới có.
              Cha của mẹ là ngoại tổ phụ 外祖父, thời cổ xưng là ngoại vương phụ 外王父; Mẹ của mẹ là ngoại tổ mẫu 外祖母, thời cổ xưng là ngoại vương mẫu 外王母.
              Cha mẹ của ngoại tổ phụ là ngoại tằng vương phụ 外曾王父 và ngoại tằng vương mẫu 外曾王母.
              Anh em trai của mẹ là cữu (cậu); Chị em gái của mẹ là tụng mẫu 从母.
              Anh em họ của mẹ (tụng huynh đệ) là tụng cữu 从舅.
              Con của anh chị em của mẹ là tụng mẫu huynh đệ 从母兄弟 và tụng mẫu tỉ muội 从母姊妹, về sau xưng là trung biểu 中表.
              Vợ (thê ) cũng xưng là phụ .
    Cha của vợ là ngoại cữu 外舅 (nhạc phụ 岳父); Mẹ của vợ là ngoại cô 外姑 (nhạc mẫu 岳母). Chị em gái của vợ là di .
              Chồng (phu ) xưng là tế 婿.
              Cha của chồng là cữu , cũng xưng là chương ; Mẹ của chồng là cô . Gọi chung là cữu cô 舅姑 hoặc cô chương 姑嫜.
              Em gái của chồng là tiểu cô 小姑 (cách xưng hô sau thời trung cổ).
             Em dâu của chồng là đễ phụ 娣妇; Chị dâu của chồng là tỉ phụ 姒妇, gọi chung là đễ tỉ 娣姒, cũng gọi là trục lí 妯娌.
              Cha mẹ của vợ và cha mẹ của chàng rể gọi nhau là hôn nhân 婚姻, nếu phân ra thì cha của vợ là hôn , cha của chàng rể là nhân . Hai chàng rể gọi nhau là á , đời sau tục xưng là liên khâm 连襟 (khâm huynh 襟兄, khâm đệ 襟弟).
              Trong xã hội phong kiến, xã hội tông pháp, coi trọng phụ từ 父慈, tử hiếu 子孝, huynh hữu 兄友, đệ cung 弟恭, yêu cầu phụ nữ chú ý đến phụ đạo 妇道. Trên thực tế, bản thân giai cấp thống trị không tuân thủ những đạo đức đó. Giết cha, giết anh ... trong sử có ghi chép.
              Trong xã hội tông pháp Trung Quốc, sự phân biệt đích thứ là rất nghiêm ngặt. Chính thê xưng là đích thê 嫡妻, con của đích thê là đích tử 嫡子. Con của thiếp xưng là thứ tử 庶子, đó là một loại khu biệt. Trưởng tử là đích tử, không phải trưởng tử là chúng tử 众子, đây cũng là một loại khu biệt. Đương nhiên, gọi trưởng tử là đích tử, tất phải là con của chính thê. Sự phân biệt đích thứ, quan hệ đến chế độ thừa tập. Trong Công Dương truyện - Ẩn Công nguyên niên 公羊传 - 隐公元年có ghi:
    Lập đích dĩ trưởng bất dĩ hiền, lập tử dĩ quý bất dĩ trưởng (*).
    立嫡以长不以贤, 立子以贵不以长.
              Căn cứ vào nguyên tắc này, con trưởng do chính thê sinh ra mới có tư cách thừa tập, con do người thiếp sinh ra cho dù tuổi có lớn hơn, nếu chính thê có con, thì vẫn do con chính thê thừa tập. Cách làm này, nghe nói có thể không dẫn đến tranh chấp. Nhưng do bởi tranh đoạt lợi ích, sự việc giai cấp thống trị giết đích lập thứ cũng có thấy trong sử sách.

    Chú của nguyên tác
    1- Nghĩa gốc của “tế” 婿  là “phu” (chồng), “nữ tế” 女婿 là chồng của con gái. Chữ “tử” trong  sách cổ kiêm chỉ con trai và con gái. “Tử tế” 子婿cũng là chỉ chồng của con gái.

    Chú của người dịch
    *- Thời phong kiến, vương vị, quan vị, tước vị hoặc tài sản đều chỉ định người thừa kế. Nhưng khi chỉ định người thừa kế cần phải tuân thủ nguyên tắc: “Lập đích dĩ trưởng bất dĩ hiền, lập tử dĩ quý bất dĩ trưởng”.
    - Lập đích dĩ trưởng bất dĩ hiền 立嫡以长不以贤:
              Nếu con dòng đích có mấy người, thì người nào lớn tuổi nhất người đó sẽ có quyền thừa kế tài sản của gia tộc và thế tập tước vị. Cho dù người đó có đần độn, thậm chí ngu si, chỉ cần còn sống là được hưởng quyền thừa kế.  
    - Lập tử dĩ quý bất dĩ trưởng 立子以贵不以长:
              Trong số các người con, con của chính thê gọi là “đích tử”, thân phận là cao quý, còn con của thê thiếp khác gọi là “thứ tử”, thân phận xếp sau đích tử. Chỉ có đích tử mới có tư cách thừa kế tài sản của gia tộc và thế tập tước vị. Cho dù thứ tử sinh trước đích tử cũng không có quyền thừa kế. Trừ khi đích tử chết mới đến lượt thứ tử.
              Theo https://baike.baidu.com/item...

                                                                  Huỳnh Chương Hưng
                                                                   Quy Nhơn 20/8/2018

    Nguồn
    TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI VĂN HOÁ THƯỜNG THỨC
    中国古代文化常识
    Chủ biên: Vương Lực 王力
    Bắc Kinh: Trung Quốc Nhân dân Đại học xuất bản xã, 2012

    Dịch thuật: Tông pháp (kì 3 - Thân thuộc)

    Đăng lúc  22:12  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    TÔNG PHÁP
    (kì 3)

    THÂN THUỘC

              Đặc điểm của tông pháp Trung Quốc là:
              - Quan hệ thân thuộc nối đời rất xa.
              - Danh xưng thân thuộc chia ra rất tỉ mỉ, đặc biệt là người sinh trước sinh sau có danh xưng khác nhau, như huynh đệ tỉ muội.
              Cha của cha là tổ , thời cổ xưng là vương phụ 王父; Mẹ của cha là tổ mẫu 祖母, thời cổ xưng là vương mẫu 王母.
              Cha mẹ của tổ là tằng tổ phụ 曾祖父, tằng tổ mẫu 曾祖母.
              Cha mẹ của tằng tổ phụ là cao tổ phụ 高祖父, cao tổ mẫu 高祖母.
              Con của con là tôn , con của tôn là tằng tôn 曾孙, con của tằng tôn là huyền tôn 玄孙, con của huyền tôn là lai tôn 来孙, con của lai tôn là côn tôn  () , con của côn tôn là nhưng tôn 仍孙, con của nhưng tôn là vân tôn 云孙.
              Anh của cha là thế phụ 世父  (bá phụ 伯父), em trai của cha là thúc phụ 叔父, nói tắt là bá thúc 伯叔. Vợ của thế phụ, thúc phụ xưng là thế mẫu 世母  (bá mẫu 伯母), thúc mẫu 叔母 (sau xưng là thẩm ).
              Con của bá thúc (đường huynh đệ 堂兄弟) xưng là tụng phụ côn đệ 从父晜弟, cũng xưng là tụng huynh đệ 从兄弟, đây là anh em cùng tổ phụ (ông nội).
                Chị và em gái của cha là cô .
              Bá thúc (bác chú) của cha xưng là tụng tổ tổ phụ 从祖祖父 (bá tổ phụ 伯祖父, thúc tổ phụ 叔祖父). Vợ của họ xưng là tụng tổ tổ mẫu 从祖祖母 (bá tổ mẫu 伯祖母, thúc tổ mẫu 叔祖母). Con của họ xưng là tụng tổ phụ 从祖父, tục xưng đường bá 堂伯, đường thúc 堂叔, đây là bá thúc (bác chú) cùng tằng tổ phụ (ông cố). Vợ của đường bá, đường thúc xưng là tụng tổ mẫu 从祖母 (đường bá mẫu 堂伯母, đường thúc mẫu 堂叔母). Con của đường bá, đường thúc xưng là tụng tổ côn đệ 从祖晜弟, cũng xưng là tái tụng huynh đệ 再从兄弟 (tụng đường huynh đệ 从堂兄弟), đây là anh em cùng tằng tổ (ông cố).
              Bá thúc (bác chú) của tổ phụ (ông nội) là tộc tằng tổ phụ, xưng là tộc tằng vương phụ 族曾王父.Vợ là tộc tằng tổ mẫu, xưng là tộc tằng vương mẫu 族曾王母. Con của tộc tằng tổ phụ là tộc tổ phụ, xưng là tộc tổ vương phụ 族祖王父. Con của tộc tổ vương phụ là tộc phụ. Con của tộc phụ là tộc huynh đệ, đây là anh em cùng cao tổ (ông cao).
              Vợ của anh là tẩu , vợ của em là đệ phụ 弟妇. Con trai của anh và em trai là tụng tử 从子, xưng là điệt , con gái của anh và em là tụng nữ 从女, về sau xưng là điệt nữ 侄女.
              Con của chị và em gái là sanh , sau xưng là ngoại sanh 外甥.
              Chồng của con gái là nữ tế 女婿  hoặc tử tế 子婿 (1), sau nói tắt là tế 婿.
              Con của chị và em gái của cha xưng là trung biểu 中表 (biểu huynh 表兄, biểu đệ 表弟, biểu tỉ 表姊, biểu muội 表妹). Trung biểu là cách xưng hô từ đời Tấn trở về sau mới có.
              Cha của mẹ là ngoại tổ phụ 外祖父, thời cổ xưng là ngoại vương phụ 外王父; Mẹ của mẹ là ngoại tổ mẫu 外祖母, thời cổ xưng là ngoại vương mẫu 外王母.
              Cha mẹ của ngoại tổ phụ là ngoại tằng vương phụ 外曾王父 và ngoại tằng vương mẫu 外曾王母.
              Anh em trai của mẹ là cữu (cậu); Chị em gái của mẹ là tụng mẫu 从母.
              Anh em họ của mẹ (tụng huynh đệ) là tụng cữu 从舅.
              Con của anh chị em của mẹ là tụng mẫu huynh đệ 从母兄弟 và tụng mẫu tỉ muội 从母姊妹, về sau xưng là trung biểu 中表.
              Vợ (thê ) cũng xưng là phụ .
    Cha của vợ là ngoại cữu 外舅 (nhạc phụ 岳父); Mẹ của vợ là ngoại cô 外姑 (nhạc mẫu 岳母). Chị em gái của vợ là di .
              Chồng (phu ) xưng là tế 婿.
              Cha của chồng là cữu , cũng xưng là chương ; Mẹ của chồng là cô . Gọi chung là cữu cô 舅姑 hoặc cô chương 姑嫜.
              Em gái của chồng là tiểu cô 小姑 (cách xưng hô sau thời trung cổ).
             Em dâu của chồng là đễ phụ 娣妇; Chị dâu của chồng là tỉ phụ 姒妇, gọi chung là đễ tỉ 娣姒, cũng gọi là trục lí 妯娌.
              Cha mẹ của vợ và cha mẹ của chàng rể gọi nhau là hôn nhân 婚姻, nếu phân ra thì cha của vợ là hôn , cha của chàng rể là nhân . Hai chàng rể gọi nhau là á , đời sau tục xưng là liên khâm 连襟 (khâm huynh 襟兄, khâm đệ 襟弟).
              Trong xã hội phong kiến, xã hội tông pháp, coi trọng phụ từ 父慈, tử hiếu 子孝, huynh hữu 兄友, đệ cung 弟恭, yêu cầu phụ nữ chú ý đến phụ đạo 妇道. Trên thực tế, bản thân giai cấp thống trị không tuân thủ những đạo đức đó. Giết cha, giết anh ... trong sử có ghi chép.
              Trong xã hội tông pháp Trung Quốc, sự phân biệt đích thứ là rất nghiêm ngặt. Chính thê xưng là đích thê 嫡妻, con của đích thê là đích tử 嫡子. Con của thiếp xưng là thứ tử 庶子, đó là một loại khu biệt. Trưởng tử là đích tử, không phải trưởng tử là chúng tử 众子, đây cũng là một loại khu biệt. Đương nhiên, gọi trưởng tử là đích tử, tất phải là con của chính thê. Sự phân biệt đích thứ, quan hệ đến chế độ thừa tập. Trong Công Dương truyện - Ẩn Công nguyên niên 公羊传 - 隐公元年có ghi:
    Lập đích dĩ trưởng bất dĩ hiền, lập tử dĩ quý bất dĩ trưởng (*).
    立嫡以长不以贤, 立子以贵不以长.
              Căn cứ vào nguyên tắc này, con trưởng do chính thê sinh ra mới có tư cách thừa tập, con do người thiếp sinh ra cho dù tuổi có lớn hơn, nếu chính thê có con, thì vẫn do con chính thê thừa tập. Cách làm này, nghe nói có thể không dẫn đến tranh chấp. Nhưng do bởi tranh đoạt lợi ích, sự việc giai cấp thống trị giết đích lập thứ cũng có thấy trong sử sách.

    Chú của nguyên tác
    1- Nghĩa gốc của “tế” 婿  là “phu” (chồng), “nữ tế” 女婿 là chồng của con gái. Chữ “tử” trong  sách cổ kiêm chỉ con trai và con gái. “Tử tế” 子婿cũng là chỉ chồng của con gái.

    Chú của người dịch
    *- Thời phong kiến, vương vị, quan vị, tước vị hoặc tài sản đều chỉ định người thừa kế. Nhưng khi chỉ định người thừa kế cần phải tuân thủ nguyên tắc: “Lập đích dĩ trưởng bất dĩ hiền, lập tử dĩ quý bất dĩ trưởng”.
    - Lập đích dĩ trưởng bất dĩ hiền 立嫡以长不以贤:
              Nếu con dòng đích có mấy người, thì người nào lớn tuổi nhất người đó sẽ có quyền thừa kế tài sản của gia tộc và thế tập tước vị. Cho dù người đó có đần độn, thậm chí ngu si, chỉ cần còn sống là được hưởng quyền thừa kế.  
    - Lập tử dĩ quý bất dĩ trưởng 立子以贵不以长:
              Trong số các người con, con của chính thê gọi là “đích tử”, thân phận là cao quý, còn con của thê thiếp khác gọi là “thứ tử”, thân phận xếp sau đích tử. Chỉ có đích tử mới có tư cách thừa kế tài sản của gia tộc và thế tập tước vị. Cho dù thứ tử sinh trước đích tử cũng không có quyền thừa kế. Trừ khi đích tử chết mới đến lượt thứ tử.
              Theo https://baike.baidu.com/item...

                                                                  Huỳnh Chương Hưng
                                                                   Quy Nhơn 20/8/2018

    Nguồn
    TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI VĂN HOÁ THƯỜNG THỨC
    中国古代文化常识
    Chủ biên: Vương Lực 王力
    Bắc Kinh: Trung Quốc Nhân dân Đại học xuất bản xã, 2012

    Chủ Nhật, 19 tháng 8, 2018

    CÂU CHUYỆN VỀ CHÚ THỎ CON

              Mọi người đều nói như thế này: Ngày trước đôi mắt của thỏ có màu xanh, đôi tai ngắn ngắn. Hiện nay lại không giống như thế, đôi mắt của thỏ có màu đỏ đỏ, đôi tai lại dài dài. Vì sao như vậy?  Theo truyền thuyết, có một câu chuyện như sau:
               Một buổi trưa nọ, có một chú thỏ con trắng chạy đến ruộng dưa hấu lén ăn mấy trái vừa mới lớn, nó ăn một cách ngon lành. Vừa lúc chủ ruộng dưa đến, nhìn thấy chú thỏ con đang lén ăn dưa, ông ta tức giận, liền rón rén đi đến giơ đòn gánh nhắm đến thỏ con, lấy hết sức bổ xuống, nhưng không trúng, thỏ con bỏ chạy.
              Chủ ruộng dưa lớn tiếng mắng rằng:
              - Này! Thằng ăn trộm kia, lần nay tao đánh không chết mày, lần sau sẽ bắt sống mày.
              Chủ ruộng dưa về nhà nấu một nồi xôi. Nấu xong, dùng chày giã, giã đến độ nhuyễn nát rồi nặn thành hình người, sau đó đem để vào giữa ruộng dưa.
              Rồi một hôm thỏ con lại đến. Nó tiến gần đến ruộng dưa, nhìn thấy có người đang canh giữ, liền quay đầu bỏ chạy. Chạy được mười mấy bước, nó quay đầu lại nhìn, người canh dưa đứng yên, nhìn kĩ, người canh dưa không hề động đậy. Thỏ con dạn lên một chút, cố ý đến trước mặt người canh dưa, nó vẫy vẫy tay, người canh dưa vẫn đứng yên.
              Thỏ con dạn thêm, nó cầm lấy hòn đất ném tới, người canh dưa cũng không động đậy. Lúc này thỏ con đắc ý, cho rằng người canh dưa nọ có vẻ khinh người, nó liền tiến tới chọc:
              - Này chú! Chào chú buối sáng!
              Người canh dưa không đáp lại, thỏ con lại tiến đến gần hơn, cất tiếng:
              - Này chú! Chào chú buổi sáng!
              Người canh dưa vẫn không đáp lại. Thỏ con bèn giận, nói rằng:
              - Chú không nhận ra cháu à? Thế thì cháu đánh chú.
              Thỏ con giơ tay phải đấm vào bụng người canh dưa, chỉ nghe một tiếng “bịch”.
               Thỏ con nghĩ bụng, lần này cần đánh mạnh hơn. Nhưng khi nó định rút ta về, thì tay bị dính chặt rút ra không được. Thỏ con cho rằng người canh dưa đã kẹp chặt, bèn nói:
              - Chú không thả tay cháu ra, cháu sẽ đánh chú.
              Người canh dưa không đáp lại, cũng chẳng hề cử động. Thỏ con tức giận, nó giơ tay trái nắm lại thành nắm đấm, đấm một phát, tay trái lại bị dính chặt.
              Thỏ con càng giận, lấy hết sức mắng. Người canh dưa vẫn không lên tiếng, cũng không hề giận, ngay cả cử động cũng chẳng hề cử động. Thỏ con không nhịn được, lớn tiếng nói:
              - Chú câm à? Cháu mà không đá chú thì không được.
              Nói xong, nó bèn giơ chân phải đá, lần này chân phải lại bị dính chặt. Nó giơ chân trái đá, chân trái cũng bị dính chặt.
              Thỏ con vẫn chưa phục, nó nghĩ bụng, người ngốc này không thể nói chuyện, không hề biết chuyển động, làm sao có thể đánh lại mình? Thỏ con bèn dùng toàn thân xô, nó tưởng rằng lần này có thể xô ngã người canh dưa, không ngờ, toàn thân của nó cũng bị dính chặt, không thể cựa quậy được. Thỏ con giãy giụa đến mức đôi của nó mắt rỉ máu đỏ tươi.
              Lúc bấy giờ chủ ruộng dưa đến, nhìn thấy thỏ con bị dính chặt liền cười lớn:
              - Này thằng ăn trộm! Lần này thì bị ta bắt sống rồi. Mầy còn lén ăn nữa không?
              Thỏ con lúc này mới biết người canh dưa kia là người giả, vô cùng hối hận. Nó van xin chủ ruộng dưa một cách đáng thương:
              - Chú tốt bụng kia ơi! Chú thả cháu ra đi, từ nay về sau cháu không dám lén ăn dưa nữa. ..... Được không chú, chú thả cháu ra đi.
              Chủ ruộng dưa nhìn thấy thỏ con rất đáng thương, hơn nữa nó đã biết nhận lỗi, liền bằng lòng thả nó ra. Nhưng toàn thân thỏ con bị dính chặt, tay chân cũng bị dính, chủ ruộng dưa bèn nắm lấy đôi tai của thỏ con, dùng hết sức kéo, kéo đến mức đôi tai của thỏ con dài ra.
              Theo truyền thuyết, từ đó về sau đôi tai của thỏ biến thành dài.
              Còn nữa, lúc bấy giờ sau khi đã kéo được thỏ ra, chủ ruộng dưa liền lau sạch lớp hồ dính trên người thỏ con, nhưng ông quên chưa lau vết máu đỏ nơi đôi mắt nó thì đã thả cho nó chạy, cho nên hiện nay đôi mắt của thỏ có màu đỏ đỏ.
               
                                                             Huỳnh Chương Hưng
                                                             Quy Nhơn 19/8/2018

    Nguồn
    PHI CẦM TẨU THÚ ĐÍCH NGỤ NGÔN
    飛禽走獸的寓言
    Nhóm biên soạn
    Ngọc thụ đồ thư ấn loát hữu hạn công ti xuất bản, 2000.

    Dịch thuật: Câu chuyện về chú thỏ con

    Đăng lúc  21:30  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    CÂU CHUYỆN VỀ CHÚ THỎ CON

              Mọi người đều nói như thế này: Ngày trước đôi mắt của thỏ có màu xanh, đôi tai ngắn ngắn. Hiện nay lại không giống như thế, đôi mắt của thỏ có màu đỏ đỏ, đôi tai lại dài dài. Vì sao như vậy?  Theo truyền thuyết, có một câu chuyện như sau:
               Một buổi trưa nọ, có một chú thỏ con trắng chạy đến ruộng dưa hấu lén ăn mấy trái vừa mới lớn, nó ăn một cách ngon lành. Vừa lúc chủ ruộng dưa đến, nhìn thấy chú thỏ con đang lén ăn dưa, ông ta tức giận, liền rón rén đi đến giơ đòn gánh nhắm đến thỏ con, lấy hết sức bổ xuống, nhưng không trúng, thỏ con bỏ chạy.
              Chủ ruộng dưa lớn tiếng mắng rằng:
              - Này! Thằng ăn trộm kia, lần nay tao đánh không chết mày, lần sau sẽ bắt sống mày.
              Chủ ruộng dưa về nhà nấu một nồi xôi. Nấu xong, dùng chày giã, giã đến độ nhuyễn nát rồi nặn thành hình người, sau đó đem để vào giữa ruộng dưa.
              Rồi một hôm thỏ con lại đến. Nó tiến gần đến ruộng dưa, nhìn thấy có người đang canh giữ, liền quay đầu bỏ chạy. Chạy được mười mấy bước, nó quay đầu lại nhìn, người canh dưa đứng yên, nhìn kĩ, người canh dưa không hề động đậy. Thỏ con dạn lên một chút, cố ý đến trước mặt người canh dưa, nó vẫy vẫy tay, người canh dưa vẫn đứng yên.
              Thỏ con dạn thêm, nó cầm lấy hòn đất ném tới, người canh dưa cũng không động đậy. Lúc này thỏ con đắc ý, cho rằng người canh dưa nọ có vẻ khinh người, nó liền tiến tới chọc:
              - Này chú! Chào chú buối sáng!
              Người canh dưa không đáp lại, thỏ con lại tiến đến gần hơn, cất tiếng:
              - Này chú! Chào chú buổi sáng!
              Người canh dưa vẫn không đáp lại. Thỏ con bèn giận, nói rằng:
              - Chú không nhận ra cháu à? Thế thì cháu đánh chú.
              Thỏ con giơ tay phải đấm vào bụng người canh dưa, chỉ nghe một tiếng “bịch”.
               Thỏ con nghĩ bụng, lần này cần đánh mạnh hơn. Nhưng khi nó định rút ta về, thì tay bị dính chặt rút ra không được. Thỏ con cho rằng người canh dưa đã kẹp chặt, bèn nói:
              - Chú không thả tay cháu ra, cháu sẽ đánh chú.
              Người canh dưa không đáp lại, cũng chẳng hề cử động. Thỏ con tức giận, nó giơ tay trái nắm lại thành nắm đấm, đấm một phát, tay trái lại bị dính chặt.
              Thỏ con càng giận, lấy hết sức mắng. Người canh dưa vẫn không lên tiếng, cũng không hề giận, ngay cả cử động cũng chẳng hề cử động. Thỏ con không nhịn được, lớn tiếng nói:
              - Chú câm à? Cháu mà không đá chú thì không được.
              Nói xong, nó bèn giơ chân phải đá, lần này chân phải lại bị dính chặt. Nó giơ chân trái đá, chân trái cũng bị dính chặt.
              Thỏ con vẫn chưa phục, nó nghĩ bụng, người ngốc này không thể nói chuyện, không hề biết chuyển động, làm sao có thể đánh lại mình? Thỏ con bèn dùng toàn thân xô, nó tưởng rằng lần này có thể xô ngã người canh dưa, không ngờ, toàn thân của nó cũng bị dính chặt, không thể cựa quậy được. Thỏ con giãy giụa đến mức đôi của nó mắt rỉ máu đỏ tươi.
              Lúc bấy giờ chủ ruộng dưa đến, nhìn thấy thỏ con bị dính chặt liền cười lớn:
              - Này thằng ăn trộm! Lần này thì bị ta bắt sống rồi. Mầy còn lén ăn nữa không?
              Thỏ con lúc này mới biết người canh dưa kia là người giả, vô cùng hối hận. Nó van xin chủ ruộng dưa một cách đáng thương:
              - Chú tốt bụng kia ơi! Chú thả cháu ra đi, từ nay về sau cháu không dám lén ăn dưa nữa. ..... Được không chú, chú thả cháu ra đi.
              Chủ ruộng dưa nhìn thấy thỏ con rất đáng thương, hơn nữa nó đã biết nhận lỗi, liền bằng lòng thả nó ra. Nhưng toàn thân thỏ con bị dính chặt, tay chân cũng bị dính, chủ ruộng dưa bèn nắm lấy đôi tai của thỏ con, dùng hết sức kéo, kéo đến mức đôi tai của thỏ con dài ra.
              Theo truyền thuyết, từ đó về sau đôi tai của thỏ biến thành dài.
              Còn nữa, lúc bấy giờ sau khi đã kéo được thỏ ra, chủ ruộng dưa liền lau sạch lớp hồ dính trên người thỏ con, nhưng ông quên chưa lau vết máu đỏ nơi đôi mắt nó thì đã thả cho nó chạy, cho nên hiện nay đôi mắt của thỏ có màu đỏ đỏ.
               
                                                             Huỳnh Chương Hưng
                                                             Quy Nhơn 19/8/2018

    Nguồn
    PHI CẦM TẨU THÚ ĐÍCH NGỤ NGÔN
    飛禽走獸的寓言
    Nhóm biên soạn
    Ngọc thụ đồ thư ấn loát hữu hạn công ti xuất bản, 2000.

    Thứ Bảy, 18 tháng 8, 2018

    NHẤT THÂN THỊ ĐẢM
    一身是胆
    GAN DẠ ĐẦY MÌNH

    Giải thích: hình dung lòng gan dạ cực kì.
    Xuất xứ: Tấn . Trần Thọ 陈寿: Tam quốc chí – Thục thư – Triệu Vân truyện 三国志 - 蜀书 - 赵云传.

              Triệu Vân 赵云, tự Tử Long 子龙, là viên dũng tướng nổi tiếng của Lưu Bị 刘备. Có một lần, Triệu Vân đem binh trấn giữ khu vực phụ cận Hán thuỷ 汉水, đội quân của Tào Tháo 曹操do Trương Cáp 张郃, Từ Hoảng 徐晃thống lĩnh, dũng mãnh xông đến. Triệu Vân binh ít thế yếu, xem ra khó mà kháng cự. Có tướng sĩ chủ trương nên lập tức đóng chặt cổng doanh trại tử thủ. Triệu Vân không đồng ý, ngược lại còn hạ lệnh mở toang, cuốn cờ im trống, một mình Triệu Vân cưỡi ngựa cầm thương, hiên ngang đứng ngay giữa cổng.
              Lúc bấy giờ, quân Tào trông thấy trong doanh trại của Triệu Vân im lìm, không động cũng không loạn, Triệu Vân thì đơn thương độc mã đứng giữa cổng mà không hề có chút sợ hãi. Quân Tào nghi có phục binh cố ý dẫn dụ tiến vào, thế là vội vàng rút lui. Triệu Vân phát hiện quân Tào hỗn loạn, liền hạ lệnh, trống trận đồng loạt nổi lên, tiếng vang dậy trời dậy đất, tên bắn ra như mưa hướng đến quân Tào. Quân Tào tranh nhau thoát thân, tự giẫm đạp lên nhau và rơi xuống giòng Hán thuỷ chết nhiều vô kể. Triệu Vân thừa cơ hội dẫn binh truy kích, công chiếm doanh trại quân Tào, giành được thắng lợi.
              Ngày hôm sau, Lưu Bị và Chư Cát Lượng cùng đến thị sát doanh trại Triệu Vân, nhìn thấy chiến tích hôm qua, Lưu Bị vô cùng vui mừng, nói với Chư Cát Lượng:
              Tử Long nhất thân đô thị đảm!
              子龙一身都是胆!
              (Tử Long gan dạ đầy mình!)

                                                           Huỳnh Chương Hưng
                                                 Quy Nhơn 18/8/2018

    Nguyên tác Trung văn
    NHẤT THÂN THỊ ĐẢM
    一身是胆
    TRUNG QUỐC THÀNH NGỮ CỐ SỰ TỔNG TẬP
    中国成语故事总集
    (tập 1)
    Chủ biên: Đường Kì 唐麒
    Trường Xuân – Thời đại văn nghệ xuất bản xã, 2004. 

    Dịch thuật: Nhất thân thị đảm (thành ngữ)

    Đăng lúc  21:54  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    NHẤT THÂN THỊ ĐẢM
    一身是胆
    GAN DẠ ĐẦY MÌNH

    Giải thích: hình dung lòng gan dạ cực kì.
    Xuất xứ: Tấn . Trần Thọ 陈寿: Tam quốc chí – Thục thư – Triệu Vân truyện 三国志 - 蜀书 - 赵云传.

              Triệu Vân 赵云, tự Tử Long 子龙, là viên dũng tướng nổi tiếng của Lưu Bị 刘备. Có một lần, Triệu Vân đem binh trấn giữ khu vực phụ cận Hán thuỷ 汉水, đội quân của Tào Tháo 曹操do Trương Cáp 张郃, Từ Hoảng 徐晃thống lĩnh, dũng mãnh xông đến. Triệu Vân binh ít thế yếu, xem ra khó mà kháng cự. Có tướng sĩ chủ trương nên lập tức đóng chặt cổng doanh trại tử thủ. Triệu Vân không đồng ý, ngược lại còn hạ lệnh mở toang, cuốn cờ im trống, một mình Triệu Vân cưỡi ngựa cầm thương, hiên ngang đứng ngay giữa cổng.
              Lúc bấy giờ, quân Tào trông thấy trong doanh trại của Triệu Vân im lìm, không động cũng không loạn, Triệu Vân thì đơn thương độc mã đứng giữa cổng mà không hề có chút sợ hãi. Quân Tào nghi có phục binh cố ý dẫn dụ tiến vào, thế là vội vàng rút lui. Triệu Vân phát hiện quân Tào hỗn loạn, liền hạ lệnh, trống trận đồng loạt nổi lên, tiếng vang dậy trời dậy đất, tên bắn ra như mưa hướng đến quân Tào. Quân Tào tranh nhau thoát thân, tự giẫm đạp lên nhau và rơi xuống giòng Hán thuỷ chết nhiều vô kể. Triệu Vân thừa cơ hội dẫn binh truy kích, công chiếm doanh trại quân Tào, giành được thắng lợi.
              Ngày hôm sau, Lưu Bị và Chư Cát Lượng cùng đến thị sát doanh trại Triệu Vân, nhìn thấy chiến tích hôm qua, Lưu Bị vô cùng vui mừng, nói với Chư Cát Lượng:
              Tử Long nhất thân đô thị đảm!
              子龙一身都是胆!
              (Tử Long gan dạ đầy mình!)

                                                           Huỳnh Chương Hưng
                                                 Quy Nhơn 18/8/2018

    Nguyên tác Trung văn
    NHẤT THÂN THỊ ĐẢM
    一身是胆
    TRUNG QUỐC THÀNH NGỮ CỐ SỰ TỔNG TẬP
    中国成语故事总集
    (tập 1)
    Chủ biên: Đường Kì 唐麒
    Trường Xuân – Thời đại văn nghệ xuất bản xã, 2004. 

    Thứ Sáu, 17 tháng 8, 2018

    THẨM QUÁT VỚI “MỘNG KHÊ BÚT ĐÀM”

              Thẩm Quát 沈括, người Tiền Đường 钱塘thời Bắc Tống. Từ nhỏ Thẩm Quát đã khắc khổ học tập, đọc rất nhiều sách nhưng không tin hết vào sách, mà độc lập suy nghĩ, đích thân trải nghiệm thực tế.
              Đối với khoa học, Thẩm Quát càng chuyên tâm, không tiếc hao phí thời gian tìm hiểu một vấn đề. Để quan trắc vị trí chính xác của sao Bắc cực, ông 3 tháng liền không ngủ ngon giấc, mỗi tối đều đối diện với hỗn thiên nghi 浑天仪 (máy trắc lượng, định vị thiên thể - ND) quan sát sao Bắc cực, đồng thời còn vẽ ra vị trí của sao Bắc cực lúc nửa đêm về  trước, lúc nửa đêm và nửa đêm về sau.
              Cứ như vậy, ông liên tiếp vẽ ra hơn 200 bức hoạ, cuối cùng định được vị trí sao Bắc cực hoàn toàn không phải ở phương chính bắc, khiến thiên văn học Trung Quốc đi trước một bước.
              Thẩm Quát nhận mệnh từ triều đình vẽ ra “Thủ lệnh đồ” 守令图 (cũng gọi là “Thiên hạ quận huyện đồ” 天下郡县图), trước sau mất thời gian 10 năm. Chẳng may kẻ xấu gièm pha, Thẩm Quát bị biếm truất, cái nghèo khó bức bách ông phải đến trú ở một ngôi miếu cũ, nhưng bất luận thời tiết cực rét cực nóng, ông vẫn không buông bỏ bức hoạ đồ. Về sau được đại xá, mới tiếp tục sứ mệnh.
              Tóm lại, đối với thiên văn, số học, lịch pháp, địa lí, vật lí, sinh vật, y học, sử học, văn học, âm nhạc v.v... Thẩm Quát đều thâm nhập nghiên cứu, đồng thời đem thành quả nghiên cứu tổng hợp lại viết nên một bộ trứ tác khoa học nổi tiếng là Mộng Khê bút đàm 梦溪笔谈.
              Thẩm Quát là một nhà hoạt động chính trị và là một nhà khoa học đa tài đa nghệ của Trung Quốc, thậm chí ít có trên thế giới.

    Chú của người dịch
    Thẩm Quát 沈括 (1031 – 1095): tự Tồn Trung 存中, hiệu Mộng Khê Trượng Nhân 梦溪丈人, người Tiền Đường 钱塘, Hàng Châu 杭州, Triết Giang 浙江. Thẩm Quát là chính trị gia, khoa học gia thời Bắc Tống.

                                                            Huỳnh Chương Hưng
                                                             Quy Nhơn 17/8/2018

    Nguyên tác Trung văn
     THẨM QUÁT DỮ “MỘNG KHÊ BÚT ĐÀM”
    沈括与梦溪笔谈
    Trong quyển
    BÁCH GIA TÍNH
    百家姓
    Biên soạn: Triệu Dương 赵阳
    Cát Lâm Đại học xuất bản xã, 2005  

    Dịch thuật: Thẩm Quát với "Mộng Khê bút đàm"

    Đăng lúc  22:05  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    THẨM QUÁT VỚI “MỘNG KHÊ BÚT ĐÀM”

              Thẩm Quát 沈括, người Tiền Đường 钱塘thời Bắc Tống. Từ nhỏ Thẩm Quát đã khắc khổ học tập, đọc rất nhiều sách nhưng không tin hết vào sách, mà độc lập suy nghĩ, đích thân trải nghiệm thực tế.
              Đối với khoa học, Thẩm Quát càng chuyên tâm, không tiếc hao phí thời gian tìm hiểu một vấn đề. Để quan trắc vị trí chính xác của sao Bắc cực, ông 3 tháng liền không ngủ ngon giấc, mỗi tối đều đối diện với hỗn thiên nghi 浑天仪 (máy trắc lượng, định vị thiên thể - ND) quan sát sao Bắc cực, đồng thời còn vẽ ra vị trí của sao Bắc cực lúc nửa đêm về  trước, lúc nửa đêm và nửa đêm về sau.
              Cứ như vậy, ông liên tiếp vẽ ra hơn 200 bức hoạ, cuối cùng định được vị trí sao Bắc cực hoàn toàn không phải ở phương chính bắc, khiến thiên văn học Trung Quốc đi trước một bước.
              Thẩm Quát nhận mệnh từ triều đình vẽ ra “Thủ lệnh đồ” 守令图 (cũng gọi là “Thiên hạ quận huyện đồ” 天下郡县图), trước sau mất thời gian 10 năm. Chẳng may kẻ xấu gièm pha, Thẩm Quát bị biếm truất, cái nghèo khó bức bách ông phải đến trú ở một ngôi miếu cũ, nhưng bất luận thời tiết cực rét cực nóng, ông vẫn không buông bỏ bức hoạ đồ. Về sau được đại xá, mới tiếp tục sứ mệnh.
              Tóm lại, đối với thiên văn, số học, lịch pháp, địa lí, vật lí, sinh vật, y học, sử học, văn học, âm nhạc v.v... Thẩm Quát đều thâm nhập nghiên cứu, đồng thời đem thành quả nghiên cứu tổng hợp lại viết nên một bộ trứ tác khoa học nổi tiếng là Mộng Khê bút đàm 梦溪笔谈.
              Thẩm Quát là một nhà hoạt động chính trị và là một nhà khoa học đa tài đa nghệ của Trung Quốc, thậm chí ít có trên thế giới.

    Chú của người dịch
    Thẩm Quát 沈括 (1031 – 1095): tự Tồn Trung 存中, hiệu Mộng Khê Trượng Nhân 梦溪丈人, người Tiền Đường 钱塘, Hàng Châu 杭州, Triết Giang 浙江. Thẩm Quát là chính trị gia, khoa học gia thời Bắc Tống.

                                                            Huỳnh Chương Hưng
                                                             Quy Nhơn 17/8/2018

    Nguyên tác Trung văn
     THẨM QUÁT DỮ “MỘNG KHÊ BÚT ĐÀM”
    沈括与梦溪笔谈
    Trong quyển
    BÁCH GIA TÍNH
    百家姓
    Biên soạn: Triệu Dương 赵阳
    Cát Lâm Đại học xuất bản xã, 2005  

    Thứ Năm, 16 tháng 8, 2018

    NGUỒN GỐC HỌ THẨM

              Về nguồn gốc họ Thẩm  chủ yếu có 3 thuyết:
    1- Xuất phát từ tính Cơ .
              Con thứ 10 của Chu Văn Vương 周文王 là Quý Tải 季载nhân có công dẹp loạn Vũ Canh 武庚  (con của Trụ Vương 纣王 nhà Thương), được phong ở nước Thẩm . Thời Xuân Thu, nước Thẩm bị nước Thái diệt, hậu duệ của Quý Tải chạy trốn sang nước Sở, con cháu bèn lấy nước làm thị, xưng là Thẩm thị 沈氏.
    2- Xuất phát từ tính Mị , hậu duệ của Chuyên Húc Đế 颛顼帝.
    Công tử Trinh con của Sở Trang Vương 楚庄王  (tính Mị) được phong ở Thẩm Lộc 沈鹿, đó là Thẩm thị沈氏.
    3- Xuất phát từ Kim Thiên thị 金天氏:
              Bốn nước Thẩm , Tự , Nhục , Hoàng đều là đời sau của Thai (Đài?) Đài thị 骀氏, hậu duệ của Thiếu Hạo 少昊 (Kim Thiên thị 金天氏). Nước Thẩm tại lưu vực sông Phần tỉnh Sơn Tây 山西  ngày nay, sau bị nước Tấn diệt, con cháu đời sau bèn lấy nước làm thị, xưng là Thẩm thị 沈氏.
              Họ Thẩm ước chiếm 0,50% nhân khẩu của dân tộc Hán trong cả nước, chiếm vị trí thứ 37. Họ Thẩm chủ yếu phân bố tại khu vực Giang Nam江南.

    Danh nhân các đời
              Trong lịch sử, danh nhân họ Thẩm rất nhiều. Thời Xuân Thu có Thẩm Doãn Tuất 沈尹戌  giữ chức Tả tư mã 左司马 nước Sở, cha con Thẩm Chư Lương 沈诸梁. Thời Nam triều, nước Lương có văn học gia Thẩm Ước 沈约, làm quan đến chức Thượng thư lệnh 尚书令, từng soạn bộ Tống thư 宋书. Thời Đường có Thẩm Thuyên Kì 沈佺期  nổi danh cùng Tống Tử Vấn 宋子问. Thời Bắc Tống có khoa học gia, chính trị gia Thẩm Quát 沈括, soạn bộ Mộng Khê bút đàm 梦溪笔谈. Hiện đại có nhân sĩ yêu nước Thẩm Quân Nhu 沈钧儒, tác gia Thẩm Nhạn Băng 沈雁冰, Thẩm Tùng Văn 沈从文.

                                                             Huỳnh Chương Hưng
                                                             Quy Nhơn 16/8/2018

    Nguyên tác Trung văn
     THẨM TÍNH UYÊN NGUYÊN
    沈姓渊源
    Trong quyển
    BÁCH GIA TÍNH
    百家姓
    Biên soạn: Triệu Dương 赵阳
    Cát Lâm Đại học xuất bản xã, 2005 

    Dịch thuật: Nguồn gốc họ Thẩm

    Đăng lúc  22:12  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    NGUỒN GỐC HỌ THẨM

              Về nguồn gốc họ Thẩm  chủ yếu có 3 thuyết:
    1- Xuất phát từ tính Cơ .
              Con thứ 10 của Chu Văn Vương 周文王 là Quý Tải 季载nhân có công dẹp loạn Vũ Canh 武庚  (con của Trụ Vương 纣王 nhà Thương), được phong ở nước Thẩm . Thời Xuân Thu, nước Thẩm bị nước Thái diệt, hậu duệ của Quý Tải chạy trốn sang nước Sở, con cháu bèn lấy nước làm thị, xưng là Thẩm thị 沈氏.
    2- Xuất phát từ tính Mị , hậu duệ của Chuyên Húc Đế 颛顼帝.
    Công tử Trinh con của Sở Trang Vương 楚庄王  (tính Mị) được phong ở Thẩm Lộc 沈鹿, đó là Thẩm thị沈氏.
    3- Xuất phát từ Kim Thiên thị 金天氏:
              Bốn nước Thẩm , Tự , Nhục , Hoàng đều là đời sau của Thai (Đài?) Đài thị 骀氏, hậu duệ của Thiếu Hạo 少昊 (Kim Thiên thị 金天氏). Nước Thẩm tại lưu vực sông Phần tỉnh Sơn Tây 山西  ngày nay, sau bị nước Tấn diệt, con cháu đời sau bèn lấy nước làm thị, xưng là Thẩm thị 沈氏.
              Họ Thẩm ước chiếm 0,50% nhân khẩu của dân tộc Hán trong cả nước, chiếm vị trí thứ 37. Họ Thẩm chủ yếu phân bố tại khu vực Giang Nam江南.

    Danh nhân các đời
              Trong lịch sử, danh nhân họ Thẩm rất nhiều. Thời Xuân Thu có Thẩm Doãn Tuất 沈尹戌  giữ chức Tả tư mã 左司马 nước Sở, cha con Thẩm Chư Lương 沈诸梁. Thời Nam triều, nước Lương có văn học gia Thẩm Ước 沈约, làm quan đến chức Thượng thư lệnh 尚书令, từng soạn bộ Tống thư 宋书. Thời Đường có Thẩm Thuyên Kì 沈佺期  nổi danh cùng Tống Tử Vấn 宋子问. Thời Bắc Tống có khoa học gia, chính trị gia Thẩm Quát 沈括, soạn bộ Mộng Khê bút đàm 梦溪笔谈. Hiện đại có nhân sĩ yêu nước Thẩm Quân Nhu 沈钧儒, tác gia Thẩm Nhạn Băng 沈雁冰, Thẩm Tùng Văn 沈从文.

                                                             Huỳnh Chương Hưng
                                                             Quy Nhơn 16/8/2018

    Nguyên tác Trung văn
     THẨM TÍNH UYÊN NGUYÊN
    沈姓渊源
    Trong quyển
    BÁCH GIA TÍNH
    百家姓
    Biên soạn: Triệu Dương 赵阳
    Cát Lâm Đại học xuất bản xã, 2005 

    Thứ Tư, 15 tháng 8, 2018

    TÔNG PHÁP
    (kì 2)

    ĐẠI TÔNG   TIỂU TÔNG

              Tông pháp thời cổ có sự phân biệt đại tông và tiểu tông. Con cháu dòng đích là đại tông, các con cháu khác là tiểu tông. Chu thiên tử tự xưng là “trưởng tử” 长子(con trưởng) của Thượng đế, vương vị do đích trưởng tử thế tập, đây là đại tông của thiên hạ; các người con khác phân phong làm chư hầu, đối với thiên tử mà nói, họ là tiểu tông. Quân vị của tiểu tông cũng do đích trưởng tử thế tập, là đại tông của nước đó; các người con khác phân phong làm khanh đại phu, đối với chư hầu mà nói, họ là tiểu tông. Khanh đại phu là đại tông của tộc mình; các người con khác là sĩ, đối với khanh đại phu mà nói, họ là tiểu tông. Mối quan hệ giữa sĩ và thứ nhân cũng như thế.
              Với tông pháp, đại tông tôn quý hơn tiểu tông, đích trưởng tử tôn quý hơn các người con khác. Đích trưởng tử được xem là người kế thừa thuỷ tổ, xưng là “tông tử” 宗子. Chỉ có tông tử mới có đặc quyền làm chủ việc tế tự thuỷ tổ, mới có thể thừa kế tài sản đặc biệt nhiều, được tiểu tông kính trọng. Trong Lễ kí – Đại truyện 礼记 - 大传 có ghi:
    Tôn tổ cố kính tông; kính tông, tôn tổ chi nghĩa dã.
    尊祖故敬宗; 敬宗, 尊祖之义也.
    (Tôn tổ cho nên kính tông; kính tông có nghĩa là tôn tổ)
              Như vậy, địa vị của đích trưởng tử càng đặc biệt cao quý, đối với các người con khác mà nói, trong gia tộc là anh thống lĩnh em, về chính trị là quân thống lĩnh thần, kềm chế được sự tranh chấp nội bộ của giai tầng thống trị, củng cố sự thống trị thế tập của quý tộc, cho nên giai cấp thống trị các đời đều ra sức bảo tồn chế độ tông pháp.

                                                                   Huỳnh Chương Hưng
                                                                   Quy Nhơn 15/8/2018

    Nguồn
    TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI VĂN HOÁ THƯỜNG THỨC
    中国古代文化常识
    Chủ biên: Vương Lực 王力
    Bắc Kinh: Trung Quốc Nhân dân Đại học xuất bản xã, 2012

    Dịch thuật: Tông pháp (kì 2 - Đại tông, tiểu tông)

    Đăng lúc  23:27  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    TÔNG PHÁP
    (kì 2)

    ĐẠI TÔNG   TIỂU TÔNG

              Tông pháp thời cổ có sự phân biệt đại tông và tiểu tông. Con cháu dòng đích là đại tông, các con cháu khác là tiểu tông. Chu thiên tử tự xưng là “trưởng tử” 长子(con trưởng) của Thượng đế, vương vị do đích trưởng tử thế tập, đây là đại tông của thiên hạ; các người con khác phân phong làm chư hầu, đối với thiên tử mà nói, họ là tiểu tông. Quân vị của tiểu tông cũng do đích trưởng tử thế tập, là đại tông của nước đó; các người con khác phân phong làm khanh đại phu, đối với chư hầu mà nói, họ là tiểu tông. Khanh đại phu là đại tông của tộc mình; các người con khác là sĩ, đối với khanh đại phu mà nói, họ là tiểu tông. Mối quan hệ giữa sĩ và thứ nhân cũng như thế.
              Với tông pháp, đại tông tôn quý hơn tiểu tông, đích trưởng tử tôn quý hơn các người con khác. Đích trưởng tử được xem là người kế thừa thuỷ tổ, xưng là “tông tử” 宗子. Chỉ có tông tử mới có đặc quyền làm chủ việc tế tự thuỷ tổ, mới có thể thừa kế tài sản đặc biệt nhiều, được tiểu tông kính trọng. Trong Lễ kí – Đại truyện 礼记 - 大传 có ghi:
    Tôn tổ cố kính tông; kính tông, tôn tổ chi nghĩa dã.
    尊祖故敬宗; 敬宗, 尊祖之义也.
    (Tôn tổ cho nên kính tông; kính tông có nghĩa là tôn tổ)
              Như vậy, địa vị của đích trưởng tử càng đặc biệt cao quý, đối với các người con khác mà nói, trong gia tộc là anh thống lĩnh em, về chính trị là quân thống lĩnh thần, kềm chế được sự tranh chấp nội bộ của giai tầng thống trị, củng cố sự thống trị thế tập của quý tộc, cho nên giai cấp thống trị các đời đều ra sức bảo tồn chế độ tông pháp.

                                                                   Huỳnh Chương Hưng
                                                                   Quy Nhơn 15/8/2018

    Nguồn
    TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI VĂN HOÁ THƯỜNG THỨC
    中国古代文化常识
    Chủ biên: Vương Lực 王力
    Bắc Kinh: Trung Quốc Nhân dân Đại học xuất bản xã, 2012

    Thứ Sáu, 10 tháng 8, 2018



    禁溺
        墙脚下恐人撒尿, 画一乌龟于壁上, 且批其后曰: 撒尿者即此物.一人不知那里, 仍去屙溺. 其人骂曰: 瞎了眼睛, 也不看看.撒尿者曰: 不知老爹在此.”
                                       (笑林广记)

    CẤM NIỆU
              Tường cước hạ khủng nhân tát niệu, hoạ nhất ô quy vu bích thượng, thả phê kì hậu viết: “Tát niệu giả tức thử vật.” Nhất nhân bất tri na lí, nhưng khứ a niệu. Kì nhân mạ viết: “Hạt liễu nhãn tình, dã bất khán khán.” Tát niệu giả viết: “Bất tri lão đa tại thử.”
                                                                           (Tiếu lâm quảng kí)

    CẤM ĐÁI
              Một người nọ sợ người ta đái ở chân tường nhà mình, bèn vẽ một con rùa lên đó, đồng thời viết rằng: “Người nào đái là con này.” Có một người không biết, vẫn đến đó đái. Chủ nhân mắng rằng: “Mắt mù à, không chịu nhìn gì cả.” Người nọ nói rằng: “Không biết có lão gia ở đó.”

    Chú của người dịch
    TIẾU LÂM QUẢNG KÍ笑林广记:tập truyện cười do Du hí chủ nhân 游戏主人 đời Thanh thu thập biên soạn thành. Toàn sách chia làm 12 bộ, gồm:
    - Cổ diễm bộ 古艳部        - Hủ lưu bộ 腐流部         - Thuật nghiệp bộ 术业部
    - Hình thể bộ 形体部        - Thù bẩm bộ 殊禀部      - Khuê phong bộ 闺风部
    - Thế huý bộ 世讳部        - Tăng đạo bộ 僧道部      - Tham lận bộ 贪吝部
    - Bần cũ bộ 贫窭部          - Cơ thích bộ 讥剌部       - Mậu ngộ bộ 谬误部      
              Những truyện cười trong Tiếu lâm quảng kí đa phần là của hai đời Minh Thanh, hình thức chủ yếu là những đoạn văn ngắn.
              Truyện Cấm niệu  Mậu ngộ bộ.

                                                                         Huỳnh Chương Hưng
                                                                         Quy Nhơn 10/8/2018

    TIẾU LÂM QUẢNG KÍ
    笑林广记
    (Thanh) Du Hí chủ nhân 游戏主人 biên soạn
    Tang Thánh Đồng 桑圣彤 chú dịch
    Sùng Văn thư cục, 2007

    Dịch thuật: Cấm niệu (Tiếu lâm quảng kí)

    Đăng lúc  22:18  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »



    禁溺
        墙脚下恐人撒尿, 画一乌龟于壁上, 且批其后曰: 撒尿者即此物.一人不知那里, 仍去屙溺. 其人骂曰: 瞎了眼睛, 也不看看.撒尿者曰: 不知老爹在此.”
                                       (笑林广记)

    CẤM NIỆU
              Tường cước hạ khủng nhân tát niệu, hoạ nhất ô quy vu bích thượng, thả phê kì hậu viết: “Tát niệu giả tức thử vật.” Nhất nhân bất tri na lí, nhưng khứ a niệu. Kì nhân mạ viết: “Hạt liễu nhãn tình, dã bất khán khán.” Tát niệu giả viết: “Bất tri lão đa tại thử.”
                                                                           (Tiếu lâm quảng kí)

    CẤM ĐÁI
              Một người nọ sợ người ta đái ở chân tường nhà mình, bèn vẽ một con rùa lên đó, đồng thời viết rằng: “Người nào đái là con này.” Có một người không biết, vẫn đến đó đái. Chủ nhân mắng rằng: “Mắt mù à, không chịu nhìn gì cả.” Người nọ nói rằng: “Không biết có lão gia ở đó.”

    Chú của người dịch
    TIẾU LÂM QUẢNG KÍ笑林广记:tập truyện cười do Du hí chủ nhân 游戏主人 đời Thanh thu thập biên soạn thành. Toàn sách chia làm 12 bộ, gồm:
    - Cổ diễm bộ 古艳部        - Hủ lưu bộ 腐流部         - Thuật nghiệp bộ 术业部
    - Hình thể bộ 形体部        - Thù bẩm bộ 殊禀部      - Khuê phong bộ 闺风部
    - Thế huý bộ 世讳部        - Tăng đạo bộ 僧道部      - Tham lận bộ 贪吝部
    - Bần cũ bộ 贫窭部          - Cơ thích bộ 讥剌部       - Mậu ngộ bộ 谬误部      
              Những truyện cười trong Tiếu lâm quảng kí đa phần là của hai đời Minh Thanh, hình thức chủ yếu là những đoạn văn ngắn.
              Truyện Cấm niệu  Mậu ngộ bộ.

                                                                         Huỳnh Chương Hưng
                                                                         Quy Nhơn 10/8/2018

    TIẾU LÂM QUẢNG KÍ
    笑林广记
    (Thanh) Du Hí chủ nhân 游戏主人 biên soạn
    Tang Thánh Đồng 桑圣彤 chú dịch
    Sùng Văn thư cục, 2007

    Thứ Năm, 9 tháng 8, 2018

    VỊ THỨ CỦA HẢO HÁN LƯƠNG SƠN
     TẠI SAO PHẢI XẾP ĐẾN 108 TƯỚNG

              Tiểu thuyết Thuỷ hử truyện 水浒传thuật lại câu chuyện 108 vị hảo hán tụ nghĩa Lương Sơn 梁山, thay trời hành đạo, phản kháng áp bức. Số hảo hán không nhiều không ít vừa đúng 108 vị. Vị thứ xếp theo danh phận là 36 thiên cang 天罡, 72 địa sát 地煞. Thế thì, hảo hán tại Lương Sơn có đúng là 108 vị không, hay là sự trùng hợp?
              Nghe nói, Thi Nại Am 施耐庵khi viết Thuỷ hử truyện, từng trú ngụ một thời gian dài tại La hán đường 罗汉堂chùa Vĩnh Khánh 永庆 ở Tô Châu 苏州. Trong La hán đường có 108 tượng La hán. Xếp hàng trên có 36 tượng đại La  hán, xếp ở hàng dưới có 72 tượng tiểu La hán. Nhân đó, có quan điểm cho rằng, 108 vị tướng trong Thuỷ hử truyện là từ số tượng La hán trong chùa. Về thuyết này chỉ là ức đoán, không thấy chứng cứ trong sử sách.
              Trong văn hoá truyền thống Trung Quốc, chữ số trước giờ là đối tượng sùng bái của nhiều người. Như 5, 6, 9 ... mọi người cho là số tốt (cát số 吉数). Trong học thuyết Đạo giáo, chòm Bắc đẩu có 36 thiên cang tinh 天罡星, 72 địa sát tinh 地煞星, mỗi sao đều có vị thần chủ quản. Và trong giáo nghĩa của Đạo giáo, còn có thuyết 36 phúc địa 福地, 72 động thiên 洞天. Nhân đó mà trong quan niệm truyền thống, bội số 36, 72  của số  “cửu” lớn nhất trong số dương được xem là số tốt.
              Vì thế, trong nhiều tác phẩm văn học đều có ý hoặc vô ý đem hai số này liên hệ một cách khéo léo với cuộc sống. Như 36 kế, 72 người hiền ... những ví dụ như thế này nhiều vô kể. Thuỷ hử truyện là một trong tứ đại danh tác đương nhiên cũng không thoát khỏi ảnh hưởng văn hoá truyền thống. Ngoài ra, Thi Nại Am vận dụng thủ pháp nghệ thuật này còn có một dụng ý khác. Trong Thuỷ hử truyện, các vị hảo hán đều có danh xưng theo các sao trong chòm Bắc đẩu, vị thứ sắp xếp phân ra 36 thiên cang, 72 địa sát. Khi giới thiệu các anh hùng hảo hán, trong truyện có nói: Các vị anh hùng đều là thiên thần xuống trần, đến nhân gian, chính là để hoàn thành đại nghiệp “thế thiên hành đạo”. Như vậy, trên người của các vị hảo hán đã được khoác lên chiếc áo thần tiên. Xem ra, hảo hán Lương Sơn không nhiều không ít, vừa khớp 108 tướng, là sự sắp xếp cố ý của tác giả.

                                                     Huỳnh Chương Hưng
                                                      Quy Nhơn 09/8/2018

    Nguyên tác Trung văn
    Trong quyển
    THÚ VỊ VĂN HOÁ TRI THỨC ĐẠI TOÀN
    趣味文化知识大全
    Thanh Thạch 青石 biên soạn
    Trung Quốc Hoa kiều xuất bản xã, 2013

    Dịch thuật: Vị thứ của hảo hán Lương Sơn .....

    Đăng lúc  21:59  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    VỊ THỨ CỦA HẢO HÁN LƯƠNG SƠN
     TẠI SAO PHẢI XẾP ĐẾN 108 TƯỚNG

              Tiểu thuyết Thuỷ hử truyện 水浒传thuật lại câu chuyện 108 vị hảo hán tụ nghĩa Lương Sơn 梁山, thay trời hành đạo, phản kháng áp bức. Số hảo hán không nhiều không ít vừa đúng 108 vị. Vị thứ xếp theo danh phận là 36 thiên cang 天罡, 72 địa sát 地煞. Thế thì, hảo hán tại Lương Sơn có đúng là 108 vị không, hay là sự trùng hợp?
              Nghe nói, Thi Nại Am 施耐庵khi viết Thuỷ hử truyện, từng trú ngụ một thời gian dài tại La hán đường 罗汉堂chùa Vĩnh Khánh 永庆 ở Tô Châu 苏州. Trong La hán đường có 108 tượng La hán. Xếp hàng trên có 36 tượng đại La  hán, xếp ở hàng dưới có 72 tượng tiểu La hán. Nhân đó, có quan điểm cho rằng, 108 vị tướng trong Thuỷ hử truyện là từ số tượng La hán trong chùa. Về thuyết này chỉ là ức đoán, không thấy chứng cứ trong sử sách.
              Trong văn hoá truyền thống Trung Quốc, chữ số trước giờ là đối tượng sùng bái của nhiều người. Như 5, 6, 9 ... mọi người cho là số tốt (cát số 吉数). Trong học thuyết Đạo giáo, chòm Bắc đẩu có 36 thiên cang tinh 天罡星, 72 địa sát tinh 地煞星, mỗi sao đều có vị thần chủ quản. Và trong giáo nghĩa của Đạo giáo, còn có thuyết 36 phúc địa 福地, 72 động thiên 洞天. Nhân đó mà trong quan niệm truyền thống, bội số 36, 72  của số  “cửu” lớn nhất trong số dương được xem là số tốt.
              Vì thế, trong nhiều tác phẩm văn học đều có ý hoặc vô ý đem hai số này liên hệ một cách khéo léo với cuộc sống. Như 36 kế, 72 người hiền ... những ví dụ như thế này nhiều vô kể. Thuỷ hử truyện là một trong tứ đại danh tác đương nhiên cũng không thoát khỏi ảnh hưởng văn hoá truyền thống. Ngoài ra, Thi Nại Am vận dụng thủ pháp nghệ thuật này còn có một dụng ý khác. Trong Thuỷ hử truyện, các vị hảo hán đều có danh xưng theo các sao trong chòm Bắc đẩu, vị thứ sắp xếp phân ra 36 thiên cang, 72 địa sát. Khi giới thiệu các anh hùng hảo hán, trong truyện có nói: Các vị anh hùng đều là thiên thần xuống trần, đến nhân gian, chính là để hoàn thành đại nghiệp “thế thiên hành đạo”. Như vậy, trên người của các vị hảo hán đã được khoác lên chiếc áo thần tiên. Xem ra, hảo hán Lương Sơn không nhiều không ít, vừa khớp 108 tướng, là sự sắp xếp cố ý của tác giả.

                                                     Huỳnh Chương Hưng
                                                      Quy Nhơn 09/8/2018

    Nguyên tác Trung văn
    Trong quyển
    THÚ VỊ VĂN HOÁ TRI THỨC ĐẠI TOÀN
    趣味文化知识大全
    Thanh Thạch 青石 biên soạn
    Trung Quốc Hoa kiều xuất bản xã, 2013

    Thứ Tư, 8 tháng 8, 2018


    学会感恩  一生无憾
        受人之恩, 虽深不报, 怨则浅亦报之; 闻人之恶, 虽隐不疑, 善则显亦疑之. 此刻之极, 薄之尤也, 宜切戒之.
                                                                            (菜根谭 - 立德修身)

    HỌC HỘI CẢM ÂN  NHẤT SINH VÔ HÁM
              Thụ nhân chi ân, tuy thâm bất báo, oán tắc thiển diệc báo chi; văn nhân chi ác, tuy ẩn bất nghi, thiện tắc hiển diệc nghi chi. Thử khắc chi cực, bạc chi vưu dã, nghi thiết giới chi.
                                                  (Thái căn đàm – Lập đức tu thân)

    HỌC CÁCH CÁM ƠN    CẢ ĐỜI KHÔNG ÂN HẬN
             Chịu ơn của người, tuy sâu nặng nhưng không đền đáp, còn vì một chút oán hận lại đi báo thù; nghe được chuyện xấu của người, tuy không rõ cũng không hề nghi ngờ, còn chuyện tốt của người tuy đã biết rõ lại có thái độ hoài nghi. Hành vi đó cực khắc nghiệt, cực vô tâm, nhất định phải tránh.

    Giải thích và phân tích
              Ơn nhỏ như giọt nước nhưng báo đáp nhiều như suối, đó chính là mĩ đức mà người Trung Quốc xưa nay luôn sùng thượng. Nhưng có hạng người chịu ân huệ rất lớn của người khác đã không biết đáp đền, mà còn vì một chút oán thù lại đi báo phục, hành vi vong ân đó có thể gọi là cực khắc nghiệt, cực vô tâm. Con người cần phải biết học cách cám ơn, ân huệ mà người khác giúp mình cho dù nhỏ không đáng để nói, cũng chớ có quên, lựa thời điểm thích hợp để báo đáp. Nhất là khi ta đang ở vào cảnh khốn cùng, trong bão tuyết mà người ta tặng cho than lại càng vô cùng quý giá, khi ta có năng lực, nên tận tình đền đáp lại.
              Đương nhiên, người lương thiện hoàn toàn không phải vì để có được sự báo đáp mới ra ân huệ, nhưng cuộc sống cần có trái tim biết cám ơn để sáng tạo, và trái tim biết cám ơn cần cuộc sống để dưỡng nuôi.
              Luôn có lòng biết cám ơn có thể giúp chúng ta tìm được hi vọng trong nghịch cảnh, tìm được niềm vui trong bi quan. Cám ơn là triết học xử thế, cũng là đại trí tuệ trong cuộc sống. Luôn có lòng biết cám ơn, cả đời không ân hận.
              Lỗ Tuyên Công 鲁宣公năm thứ 2 (năm 607 trước công nguyên), Tuyên Tử 宣子đi săn tại núi Thú Dương 首阳  (nay là phía đông nam huyện Vĩnh Tế 永济 tỉnh Sơn Tây 山西), trú tại Ế Tang 翳桑. Ngày nọ lúc ra đi săn, Tuyên Tử thấy một người đói ngã lăn ra đất, liền đến hỏi. Người nọ đáp rằng:
              - Đã ba ngày rồi tôi không ăn gì.
              Thế là Tuyên Tử sai người mang thức ăn đến, người nọ ăn, chừa lại một nữa. Tuyên Tử hỏi lí do, anh ta đáp rằng:
              - Tôi xa nhà đã hơn ba năm, không biết mẹ già ở nhà có còn sống không. Nay cách nhà rất gần, xin cho phép tôi để những thức ăn này lại cho mẹ tôi.
              Tuyên Tử cảm động trước tấm lòng hiếu thảo của anh ta, bèn bảo ăn hết chỗ thức ăn đó, rồi chuẩn bị một giỏ cơm thịt để anh ta mang về cho mẹ ở nhà.
              Về sau, Tấn Linh Công 晋灵公muốn giết Tuyên Tử, trong lúc nguy cấp, một người trong đám võ sĩ của Linh Công đã xông ra cản thủ hạ của Tấn Linh Công, khiến Tuyên Tử thoát được hiểm. Tuyên Tử hỏi người đó vì sao lại làm như thế, anh ta đáp rằng:
              - Tôi chính là người bị đói ở Ế Tang.
              Khi Tuyên Tử hỏi họ tên và nhà ở nơi nào, anh ta đi mất không đáp.
              Việc thiện của Tuyên Tử đã gieo được nhân lành khiến ông gặp đại nạn mà không chết, còn người kia vì báo đáp bữa ăn mà dám trái ngược quân lệnh cũng khiến người ta kính phục. Chịu ơn mong được đáp đền là việc trong tình lí, còn lấy đức báo oán thì không phải là việc ai cũng có thể làm được, nó khảo nghiệm tấm lòng và thái độ của con người. Một số người miệng thường nói: lấy đạo của người hoàn trả lại cho người. Đại ý là: anh đối đãi tôi như thế nào, tôi sẽ kính lại anh như thế đó. Cách làm này nhìn từ bề ngoài là hợp lí, nhưng suy nghĩ kĩ chúng ta sẽ phát hiện hậu quả mà nó mang lại rất nặng nề: nguyên vốn chỉ một người đau khổ, nay lại hai người đau khổ. Sai lầm mà người ta phạm phải, tại sao ta phải đáp trả lại? Biết cởi bỏ hiềm khích lúc trước, khoan dung với người, kì thực sẽ có khoảnh đất trống cho ta.
              Trước khi công tử Tiểu Bạch 小白  lên ngôi, để tránh nội loạn nước Tề đã cùng với người anh là công tử Củ   lưu vong nước ngoài. Sau khi Tề Tương Công 齐襄公  bị giết, công tử Tiểu Bạch và công tử Củ đều vội về lại nước Tề tranh đoạt quân vị. Thầy của công tử Củ là Quản Trọng 管仲đem binh chặn đường công tử Tiểu Bạch. Quản Trọng bắn tên trúng móc khuy đai áo của Tiểu Bạch. Tiểu Bạch giả vờ chết. Công tử Củ cho là Tiểu Bạch đã chết, bèn từ từ đi. Còn Tiểu Bạch ngày đêm kiêm trình về đến nước Tề trước, sau đó lên ngôi, đó là Tề Hoàn Công 齐桓公.
              Tề Hoàn Công muốn nhậm dụng thầy của mình là Bảo Thúc Nha 鲍叔牙 làm Tướng, Bảo Thúc Nha tiến cử bạn mình là Quản Trọng, đồng thời nói với Tề Hoàn Công:
              - Nếu ngài muốn trị lí nước Tề, dùng thần là đủ, nhưng nếu ngài muốn xưng bá thiên hạ, không dùng Quản Trọng thì không thể.
              Tề Hoàn Công cho Bảo Thúc Nha nói có lí, không nghĩ đến mối thù mũi tên lúc trước, nhậm dụng Quản Trọng làm Tướng. Về sau, dưới sự phò tá của Quản Trọng, Tề Hoàn Công quả nhiên đã làm cho nước Tề hùng mạnh, trở thành bá chủ thời Xuân Thu.
              Địa vị bá chủ của Tề Hoàn Công không thể tách rời sự phò tá của Quản Trọng, nhưng nếu Tề Hoàn Công lúc ban đầu cố chấp mối thù, không chịu dùng Quản Trọng, kết cục e là một cảnh tượng khác. Cho nên, ở một mức độ nào đó mà nói, chính Tề Hoàn Công đã lấy đức báo oán và đã thành tựu được nghiệp bá của mình sau này. Cá nhân trong quá trình lớn lên và thành thục, sẽ gặp được sự giúp đỡ của người khác, mà cũng sẽ bị người khác làm tổn hại ở một mức độ nào đó. Nhưng không nên mang lòng oán hận, mà phải học cách cám ơn và tha thứ. Cám ơn người mà đã giúp chúng ta trong cảnh khốn cùng, ấy là họ đã khiến chúng ta kiên định niềm tin; khoan dung người mà làm tổn hại chúng ta, ấy là họ đã khiến chúng ta hiểu được cuộc sống.

                                                                 Huỳnh Chương Hưng
                                                                 Quy Nhơn 08/8/2018

    Nguồn
    THÁI CĂN ĐÀM
    菜根谭
    Tác giả: (Minh) Hồng Ứng Minh 洪应明
    Biên soạn: Bàng Bác 庞博
    Trung Quốc Hoa Kiều xuất bản xã, 2013


    Dịch thuật: Học hội cảm ân, nhất sinh vô hám (Thái căn đàm)

    Đăng lúc  21:20  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »


    学会感恩  一生无憾
        受人之恩, 虽深不报, 怨则浅亦报之; 闻人之恶, 虽隐不疑, 善则显亦疑之. 此刻之极, 薄之尤也, 宜切戒之.
                                                                            (菜根谭 - 立德修身)

    HỌC HỘI CẢM ÂN  NHẤT SINH VÔ HÁM
              Thụ nhân chi ân, tuy thâm bất báo, oán tắc thiển diệc báo chi; văn nhân chi ác, tuy ẩn bất nghi, thiện tắc hiển diệc nghi chi. Thử khắc chi cực, bạc chi vưu dã, nghi thiết giới chi.
                                                  (Thái căn đàm – Lập đức tu thân)

    HỌC CÁCH CÁM ƠN    CẢ ĐỜI KHÔNG ÂN HẬN
             Chịu ơn của người, tuy sâu nặng nhưng không đền đáp, còn vì một chút oán hận lại đi báo thù; nghe được chuyện xấu của người, tuy không rõ cũng không hề nghi ngờ, còn chuyện tốt của người tuy đã biết rõ lại có thái độ hoài nghi. Hành vi đó cực khắc nghiệt, cực vô tâm, nhất định phải tránh.

    Giải thích và phân tích
              Ơn nhỏ như giọt nước nhưng báo đáp nhiều như suối, đó chính là mĩ đức mà người Trung Quốc xưa nay luôn sùng thượng. Nhưng có hạng người chịu ân huệ rất lớn của người khác đã không biết đáp đền, mà còn vì một chút oán thù lại đi báo phục, hành vi vong ân đó có thể gọi là cực khắc nghiệt, cực vô tâm. Con người cần phải biết học cách cám ơn, ân huệ mà người khác giúp mình cho dù nhỏ không đáng để nói, cũng chớ có quên, lựa thời điểm thích hợp để báo đáp. Nhất là khi ta đang ở vào cảnh khốn cùng, trong bão tuyết mà người ta tặng cho than lại càng vô cùng quý giá, khi ta có năng lực, nên tận tình đền đáp lại.
              Đương nhiên, người lương thiện hoàn toàn không phải vì để có được sự báo đáp mới ra ân huệ, nhưng cuộc sống cần có trái tim biết cám ơn để sáng tạo, và trái tim biết cám ơn cần cuộc sống để dưỡng nuôi.
              Luôn có lòng biết cám ơn có thể giúp chúng ta tìm được hi vọng trong nghịch cảnh, tìm được niềm vui trong bi quan. Cám ơn là triết học xử thế, cũng là đại trí tuệ trong cuộc sống. Luôn có lòng biết cám ơn, cả đời không ân hận.
              Lỗ Tuyên Công 鲁宣公năm thứ 2 (năm 607 trước công nguyên), Tuyên Tử 宣子đi săn tại núi Thú Dương 首阳  (nay là phía đông nam huyện Vĩnh Tế 永济 tỉnh Sơn Tây 山西), trú tại Ế Tang 翳桑. Ngày nọ lúc ra đi săn, Tuyên Tử thấy một người đói ngã lăn ra đất, liền đến hỏi. Người nọ đáp rằng:
              - Đã ba ngày rồi tôi không ăn gì.
              Thế là Tuyên Tử sai người mang thức ăn đến, người nọ ăn, chừa lại một nữa. Tuyên Tử hỏi lí do, anh ta đáp rằng:
              - Tôi xa nhà đã hơn ba năm, không biết mẹ già ở nhà có còn sống không. Nay cách nhà rất gần, xin cho phép tôi để những thức ăn này lại cho mẹ tôi.
              Tuyên Tử cảm động trước tấm lòng hiếu thảo của anh ta, bèn bảo ăn hết chỗ thức ăn đó, rồi chuẩn bị một giỏ cơm thịt để anh ta mang về cho mẹ ở nhà.
              Về sau, Tấn Linh Công 晋灵公muốn giết Tuyên Tử, trong lúc nguy cấp, một người trong đám võ sĩ của Linh Công đã xông ra cản thủ hạ của Tấn Linh Công, khiến Tuyên Tử thoát được hiểm. Tuyên Tử hỏi người đó vì sao lại làm như thế, anh ta đáp rằng:
              - Tôi chính là người bị đói ở Ế Tang.
              Khi Tuyên Tử hỏi họ tên và nhà ở nơi nào, anh ta đi mất không đáp.
              Việc thiện của Tuyên Tử đã gieo được nhân lành khiến ông gặp đại nạn mà không chết, còn người kia vì báo đáp bữa ăn mà dám trái ngược quân lệnh cũng khiến người ta kính phục. Chịu ơn mong được đáp đền là việc trong tình lí, còn lấy đức báo oán thì không phải là việc ai cũng có thể làm được, nó khảo nghiệm tấm lòng và thái độ của con người. Một số người miệng thường nói: lấy đạo của người hoàn trả lại cho người. Đại ý là: anh đối đãi tôi như thế nào, tôi sẽ kính lại anh như thế đó. Cách làm này nhìn từ bề ngoài là hợp lí, nhưng suy nghĩ kĩ chúng ta sẽ phát hiện hậu quả mà nó mang lại rất nặng nề: nguyên vốn chỉ một người đau khổ, nay lại hai người đau khổ. Sai lầm mà người ta phạm phải, tại sao ta phải đáp trả lại? Biết cởi bỏ hiềm khích lúc trước, khoan dung với người, kì thực sẽ có khoảnh đất trống cho ta.
              Trước khi công tử Tiểu Bạch 小白  lên ngôi, để tránh nội loạn nước Tề đã cùng với người anh là công tử Củ   lưu vong nước ngoài. Sau khi Tề Tương Công 齐襄公  bị giết, công tử Tiểu Bạch và công tử Củ đều vội về lại nước Tề tranh đoạt quân vị. Thầy của công tử Củ là Quản Trọng 管仲đem binh chặn đường công tử Tiểu Bạch. Quản Trọng bắn tên trúng móc khuy đai áo của Tiểu Bạch. Tiểu Bạch giả vờ chết. Công tử Củ cho là Tiểu Bạch đã chết, bèn từ từ đi. Còn Tiểu Bạch ngày đêm kiêm trình về đến nước Tề trước, sau đó lên ngôi, đó là Tề Hoàn Công 齐桓公.
              Tề Hoàn Công muốn nhậm dụng thầy của mình là Bảo Thúc Nha 鲍叔牙 làm Tướng, Bảo Thúc Nha tiến cử bạn mình là Quản Trọng, đồng thời nói với Tề Hoàn Công:
              - Nếu ngài muốn trị lí nước Tề, dùng thần là đủ, nhưng nếu ngài muốn xưng bá thiên hạ, không dùng Quản Trọng thì không thể.
              Tề Hoàn Công cho Bảo Thúc Nha nói có lí, không nghĩ đến mối thù mũi tên lúc trước, nhậm dụng Quản Trọng làm Tướng. Về sau, dưới sự phò tá của Quản Trọng, Tề Hoàn Công quả nhiên đã làm cho nước Tề hùng mạnh, trở thành bá chủ thời Xuân Thu.
              Địa vị bá chủ của Tề Hoàn Công không thể tách rời sự phò tá của Quản Trọng, nhưng nếu Tề Hoàn Công lúc ban đầu cố chấp mối thù, không chịu dùng Quản Trọng, kết cục e là một cảnh tượng khác. Cho nên, ở một mức độ nào đó mà nói, chính Tề Hoàn Công đã lấy đức báo oán và đã thành tựu được nghiệp bá của mình sau này. Cá nhân trong quá trình lớn lên và thành thục, sẽ gặp được sự giúp đỡ của người khác, mà cũng sẽ bị người khác làm tổn hại ở một mức độ nào đó. Nhưng không nên mang lòng oán hận, mà phải học cách cám ơn và tha thứ. Cám ơn người mà đã giúp chúng ta trong cảnh khốn cùng, ấy là họ đã khiến chúng ta kiên định niềm tin; khoan dung người mà làm tổn hại chúng ta, ấy là họ đã khiến chúng ta hiểu được cuộc sống.

                                                                 Huỳnh Chương Hưng
                                                                 Quy Nhơn 08/8/2018

    Nguồn
    THÁI CĂN ĐÀM
    菜根谭
    Tác giả: (Minh) Hồng Ứng Minh 洪应明
    Biên soạn: Bàng Bác 庞博
    Trung Quốc Hoa Kiều xuất bản xã, 2013


    Thứ Ba, 7 tháng 8, 2018

     YẾN, QUẠ VÀ HỈ THƯỚC

    Yến
              Tại thôn Liên Khê 莲溪 tỉnh Triết Giang 浙江, người dân cho rằng, chim yến làm tổ là phong thuỷ tốt, chim yến làm tổ trên rường trong nhà thì gia nghiệp hưng vượng. Hàng năm khi mùa xuân đến, nhà nhà đều mong chim yến bay về hoặc làm tổ. Yến bay về gọi là “gia yến” 家燕.
              Thôn dân Liêm Khê Tạ Địch Sùng 谢迪崇 (68 tuổi, tốt nghiệp tiểu học) nói rằng, ngạn ngữ dân gian có câu:
    Yến tử oa đảo điệu, đầu yếu lạn điệu.
    燕子窝倒掉, 头要烂掉.
    (Tổ yến rơi, đầu cũng vỡ.)
              Chủ nhà có tổ yến rất sợ chim yến làm tổ không chắc, tổ yến mà rơi thì không có lợi cho người và cho nhà, cho nên họ rất quan tâm đến điều này. Bình thường cũng không cho người nhà đụng đến tổ yến để đề phòng tổ rơi, chủ nhà thường để ý đến tình hình chim yến làm tổ, một khi cảm thấy có vấn đề, lập tức chủ động dùng thanh gỗ làm giá để nâng. Đặc biệt những năm gần đây, phòng ốc với kết cấu xi măng cốt thép, không dễ làm tổ, để đón chim yến bay đến, chủ nhà trước tiên gác mấy thanh gỗ tại vị trí làm tổ truyền thống để chim yến dễ làm. Tổ yến trong nhà không ngại nhiều, nếu chim yến không bay đến, trong lòng mới cảm thấy không yên. Để được chim yến đến, cửa nhà ngày đêm luôn rộng mở. Thông thường, khi chim yến làm tổ trong nhà, mỗi tối phải đợi toàn bộ chim yến nhà trở về mới đóng cửa. Bậc trưởng bối trong nhà luôn dặn con cháu không được đùa với chim yến, thậm chí không cho phép dùng đầu ngón tay chạm vào tổ yến. Dân trong thôn khi được hỏi, đa phần đều nói, bởi chim yến là loài chim có ích chuyên bắt sâu bọ để ăn, cho nên cần phải bảo vệ. Đồng thời dân trong thôn cũng cảm khái rằng, hiện nay thuốc trừ sâu quá nhiều nên chim yến cũng dần ít lại, chúng ăn phải những côn trùng dính thuốc trừ sâu nên cũng bị chết theo. Một số lão nông nói rằng, những năm 50 của thế kỉ 20, vào mùa xuân và mùa thu tại thôn Liên Khê, khi chim yến và chim sẻ bay đến, khắp cả bầu trời toàn là chim, hiện không còn thấy hiện tượng này nữa. Có thể thấy, môi trường sinh thái của loài chim, ngay cả thôn Liên Khê với núi non vây bọc cũng gặp phải sự phá huỷ nghiêm trọng.
              Có người khi được hỏi như Chu Quốc Vượng 朱国旺cho rằng, chim yến được mọi người tôn sùng, chủ yếu là do bởi nó đại biểu cho lòng “trung”. Ông nói thêm, con người có trung, hiếu, tiết, nghĩa thì ở loài chim cũng có trung, hiếu, tiết nghĩa, tương ứng đó là yến, quạ, nhạn, bồ câu. Chim yến làm tổ chuyên nhất (một nhà) đó là trung, quạ đáp lại ơn bú mớm đó là hiếu, nhạn sống thành đôi đó là tiết, bồ câu biết ơn báo đáp lại đó là nghĩa. Sự sùng tín đối với loài chim đã thấm vào quan niệm tư tưởng của Nho gia.

    Quạ
              Quạ là loài chim mà thôn dân vừa sợ vừa tôn kính. Tập tục tín ngưỡng của người dân Liên Khê kị tiếng kêu của quạ. Họ cho rằng, khi quạ đậu trên nóc nhà kêu lên đó là điềm không tốt. Hôm nào ra khỏi cửa mà gặp lúc quạ kêu, không nên đi để tránh điều bất lợi, nếu có làm việc gì cũng phải đổi sang ngày khác, chọn ngày hoàng đạo. Nhưng, vùng chung quanh thôn Liên Khê, tục gọi quạ là “thái bình điểu”, một cách gọi tôn kính, cát tường. Điều đó cùng với sự cấm kị điềm hung hình thành sự tương phản, tại sao như vậy?  Theo Chu Quốc Vượng, người dân trong thôn cho rằng, khi quạ kêu lên, đối với chúng ta chẳng có gì là bất tiện. Nếu định đi ra ngoài thì không đi nữa. Tuy quạ kêu đối với mọi người là không tốt, nhưng nó báo cho chúng ta biết sẽ có điều bất lợi để mọi người tránh. Tâm của nó tốt, bảo vệ chúng ta được bình an, cho nên gọi nó là “thái bình điểu”.
              Năm mà Càn Long 乾隆nam du Sơn Đông 山东, nghe tiếng quạ kêu, biết có đại nạn nên đã tránh. Hiện tại, mọi người gọi những người có lòng tốt nhưng không chú ý đến tình huống và hay phê bình lung tung, lúc họ nói năng gọi là “ô nha chuỷ” 乌鸦嘴 (mỏ quạ) chính là từ ý này mà ra.

    Hỉ thước
              Trong mắt người dân thôn Liên Khê 莲徯, chim hỉ thước là loài chim báo điềm vui. Mọi người cho rằng:
    Hỉ thước khiếu, hảo sự đáo.
    喜鹊叫, 好事到.
    (Chim hỉ thước kêu, có việc tốt đến.)
    trong thôn quy định, không được bắt chim hỉ thước.
              Trong đời sống của người dân thôn Liên Khê, hình tượng chim hỉ thước đậu trên cành, hai con chim hỉ thước liền cánh, được điêu khắc nhiều trên cửa lớn, cửa sổ, nơi bàn trang điểm, trên các đồ dùng ... là để cầu mong hỉ thước đến nhà, việc vui theo nhau đến. Nhưng, lòng tốt không nhất định có được sự báo đáp tốt đẹp, chim hỉ thước cũng gặp phải cảnh ngộ này. Tại trấn Trạch Nhã 泽雅 cùng khu vực, nơi thôn Châu Áo 周岙 có một truyền thuyết:
              Tương truyền, dưới sự khẩn cầu của Ngưu Lang và Chức Nữ, cuối cùng Vương Mẫu nương nương quy định hai người 7 ngày gặp nhau một lần, sai chim hỉ thước bắt cầu. Hỉ thước truyền sai tin, thành mỗi năm vào ngày mồng 7 tháng 7 mới gặp nhau một lần. Ngưu Lang trách hỉ thước truyền sai tin, lấy roi đánh lên đầu hỉ thước. Cho nên vào ngày mồng 7 tháng 7 đầu chim hỉ thước bị tróc lông. Mọi người thương tình Ngưu Lang Chức Nữ thường năm phải xa nhau, đau khổ biệt li sinh tử, còn chim hỉ thước vì Ngưu Lang làm việc tốt, nhưng do  nhầm mà không có được sự báo đáp tốt đẹp. Tục thuyết tình cảm phức tạp này lại để cho loài chim hỉ thước bé nhỏ gánh lấy, khiến mọi người cảm thấy thấm thía.
    Trong thực tế, vùng Liên Khê tuy thuộc vùng rừng núi, nhưng do nhiều nhân tố chim hỉ thước cũng không thấy có nhiều. Đối với việc này, những người được hỏi đều lo buồn, hi vọng môi trường sinh thái được khôi phục, có lợi cho sự sinh trưởng phồn thực của loài dã điểu. Trong khi điều tra, chúng tôi phát hiện, tục tín và cấm kị của dân gian đối với loài chim, vô hình trung là một hình thức văn hoá có tác dụng bảo vệ sự sinh tồn của loài chim. Mọi người sợ đầu bị vỡ, cho nên có tâm lí kính sợ đối với chim yến, đồng thời có ý thức chủ động bảo vệ chúng. Về một ý nghĩa nào đó, khi tín ngưỡng sùng điểu thịnh hành, cũng là lúc loài chim tương đối có nhiều, một khi hệ thống tín ngưỡng sùng điểu gặp phải sự đối xử lạnh nhạt, tư tưởng bảo hộ loài chim của khoa học lại chưa xác định thời kì, thì cũng là lúc loài chim dễ bị tổn hại nhất. Nếu một số loài chim không tồn tại, tín ngưỡng sùng điểu vốn có sẽ như thế nào? Điều này đáng để mọi người suy gẫm.

                                                                    Huỳnh Chương Hưng
                                                                    Quy Nhơn 07/8/2018

    Nguyên tác Trung văn
    Trong quyển
    TRUNG QUỐC ĐIỂU TÍN NGƯỠNG
    中国鸟信仰
    Tác giả: Trần Cần Kiến 陈勤建
    Học Uyển xuất bản xã, 2003

    Dịch thuật: Yến, quạ và hỉ thước

    Đăng lúc  22:00  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

     YẾN, QUẠ VÀ HỈ THƯỚC

    Yến
              Tại thôn Liên Khê 莲溪 tỉnh Triết Giang 浙江, người dân cho rằng, chim yến làm tổ là phong thuỷ tốt, chim yến làm tổ trên rường trong nhà thì gia nghiệp hưng vượng. Hàng năm khi mùa xuân đến, nhà nhà đều mong chim yến bay về hoặc làm tổ. Yến bay về gọi là “gia yến” 家燕.
              Thôn dân Liêm Khê Tạ Địch Sùng 谢迪崇 (68 tuổi, tốt nghiệp tiểu học) nói rằng, ngạn ngữ dân gian có câu:
    Yến tử oa đảo điệu, đầu yếu lạn điệu.
    燕子窝倒掉, 头要烂掉.
    (Tổ yến rơi, đầu cũng vỡ.)
              Chủ nhà có tổ yến rất sợ chim yến làm tổ không chắc, tổ yến mà rơi thì không có lợi cho người và cho nhà, cho nên họ rất quan tâm đến điều này. Bình thường cũng không cho người nhà đụng đến tổ yến để đề phòng tổ rơi, chủ nhà thường để ý đến tình hình chim yến làm tổ, một khi cảm thấy có vấn đề, lập tức chủ động dùng thanh gỗ làm giá để nâng. Đặc biệt những năm gần đây, phòng ốc với kết cấu xi măng cốt thép, không dễ làm tổ, để đón chim yến bay đến, chủ nhà trước tiên gác mấy thanh gỗ tại vị trí làm tổ truyền thống để chim yến dễ làm. Tổ yến trong nhà không ngại nhiều, nếu chim yến không bay đến, trong lòng mới cảm thấy không yên. Để được chim yến đến, cửa nhà ngày đêm luôn rộng mở. Thông thường, khi chim yến làm tổ trong nhà, mỗi tối phải đợi toàn bộ chim yến nhà trở về mới đóng cửa. Bậc trưởng bối trong nhà luôn dặn con cháu không được đùa với chim yến, thậm chí không cho phép dùng đầu ngón tay chạm vào tổ yến. Dân trong thôn khi được hỏi, đa phần đều nói, bởi chim yến là loài chim có ích chuyên bắt sâu bọ để ăn, cho nên cần phải bảo vệ. Đồng thời dân trong thôn cũng cảm khái rằng, hiện nay thuốc trừ sâu quá nhiều nên chim yến cũng dần ít lại, chúng ăn phải những côn trùng dính thuốc trừ sâu nên cũng bị chết theo. Một số lão nông nói rằng, những năm 50 của thế kỉ 20, vào mùa xuân và mùa thu tại thôn Liên Khê, khi chim yến và chim sẻ bay đến, khắp cả bầu trời toàn là chim, hiện không còn thấy hiện tượng này nữa. Có thể thấy, môi trường sinh thái của loài chim, ngay cả thôn Liên Khê với núi non vây bọc cũng gặp phải sự phá huỷ nghiêm trọng.
              Có người khi được hỏi như Chu Quốc Vượng 朱国旺cho rằng, chim yến được mọi người tôn sùng, chủ yếu là do bởi nó đại biểu cho lòng “trung”. Ông nói thêm, con người có trung, hiếu, tiết, nghĩa thì ở loài chim cũng có trung, hiếu, tiết nghĩa, tương ứng đó là yến, quạ, nhạn, bồ câu. Chim yến làm tổ chuyên nhất (một nhà) đó là trung, quạ đáp lại ơn bú mớm đó là hiếu, nhạn sống thành đôi đó là tiết, bồ câu biết ơn báo đáp lại đó là nghĩa. Sự sùng tín đối với loài chim đã thấm vào quan niệm tư tưởng của Nho gia.

    Quạ
              Quạ là loài chim mà thôn dân vừa sợ vừa tôn kính. Tập tục tín ngưỡng của người dân Liên Khê kị tiếng kêu của quạ. Họ cho rằng, khi quạ đậu trên nóc nhà kêu lên đó là điềm không tốt. Hôm nào ra khỏi cửa mà gặp lúc quạ kêu, không nên đi để tránh điều bất lợi, nếu có làm việc gì cũng phải đổi sang ngày khác, chọn ngày hoàng đạo. Nhưng, vùng chung quanh thôn Liên Khê, tục gọi quạ là “thái bình điểu”, một cách gọi tôn kính, cát tường. Điều đó cùng với sự cấm kị điềm hung hình thành sự tương phản, tại sao như vậy?  Theo Chu Quốc Vượng, người dân trong thôn cho rằng, khi quạ kêu lên, đối với chúng ta chẳng có gì là bất tiện. Nếu định đi ra ngoài thì không đi nữa. Tuy quạ kêu đối với mọi người là không tốt, nhưng nó báo cho chúng ta biết sẽ có điều bất lợi để mọi người tránh. Tâm của nó tốt, bảo vệ chúng ta được bình an, cho nên gọi nó là “thái bình điểu”.
              Năm mà Càn Long 乾隆nam du Sơn Đông 山东, nghe tiếng quạ kêu, biết có đại nạn nên đã tránh. Hiện tại, mọi người gọi những người có lòng tốt nhưng không chú ý đến tình huống và hay phê bình lung tung, lúc họ nói năng gọi là “ô nha chuỷ” 乌鸦嘴 (mỏ quạ) chính là từ ý này mà ra.

    Hỉ thước
              Trong mắt người dân thôn Liên Khê 莲徯, chim hỉ thước là loài chim báo điềm vui. Mọi người cho rằng:
    Hỉ thước khiếu, hảo sự đáo.
    喜鹊叫, 好事到.
    (Chim hỉ thước kêu, có việc tốt đến.)
    trong thôn quy định, không được bắt chim hỉ thước.
              Trong đời sống của người dân thôn Liên Khê, hình tượng chim hỉ thước đậu trên cành, hai con chim hỉ thước liền cánh, được điêu khắc nhiều trên cửa lớn, cửa sổ, nơi bàn trang điểm, trên các đồ dùng ... là để cầu mong hỉ thước đến nhà, việc vui theo nhau đến. Nhưng, lòng tốt không nhất định có được sự báo đáp tốt đẹp, chim hỉ thước cũng gặp phải cảnh ngộ này. Tại trấn Trạch Nhã 泽雅 cùng khu vực, nơi thôn Châu Áo 周岙 có một truyền thuyết:
              Tương truyền, dưới sự khẩn cầu của Ngưu Lang và Chức Nữ, cuối cùng Vương Mẫu nương nương quy định hai người 7 ngày gặp nhau một lần, sai chim hỉ thước bắt cầu. Hỉ thước truyền sai tin, thành mỗi năm vào ngày mồng 7 tháng 7 mới gặp nhau một lần. Ngưu Lang trách hỉ thước truyền sai tin, lấy roi đánh lên đầu hỉ thước. Cho nên vào ngày mồng 7 tháng 7 đầu chim hỉ thước bị tróc lông. Mọi người thương tình Ngưu Lang Chức Nữ thường năm phải xa nhau, đau khổ biệt li sinh tử, còn chim hỉ thước vì Ngưu Lang làm việc tốt, nhưng do  nhầm mà không có được sự báo đáp tốt đẹp. Tục thuyết tình cảm phức tạp này lại để cho loài chim hỉ thước bé nhỏ gánh lấy, khiến mọi người cảm thấy thấm thía.
    Trong thực tế, vùng Liên Khê tuy thuộc vùng rừng núi, nhưng do nhiều nhân tố chim hỉ thước cũng không thấy có nhiều. Đối với việc này, những người được hỏi đều lo buồn, hi vọng môi trường sinh thái được khôi phục, có lợi cho sự sinh trưởng phồn thực của loài dã điểu. Trong khi điều tra, chúng tôi phát hiện, tục tín và cấm kị của dân gian đối với loài chim, vô hình trung là một hình thức văn hoá có tác dụng bảo vệ sự sinh tồn của loài chim. Mọi người sợ đầu bị vỡ, cho nên có tâm lí kính sợ đối với chim yến, đồng thời có ý thức chủ động bảo vệ chúng. Về một ý nghĩa nào đó, khi tín ngưỡng sùng điểu thịnh hành, cũng là lúc loài chim tương đối có nhiều, một khi hệ thống tín ngưỡng sùng điểu gặp phải sự đối xử lạnh nhạt, tư tưởng bảo hộ loài chim của khoa học lại chưa xác định thời kì, thì cũng là lúc loài chim dễ bị tổn hại nhất. Nếu một số loài chim không tồn tại, tín ngưỡng sùng điểu vốn có sẽ như thế nào? Điều này đáng để mọi người suy gẫm.

                                                                    Huỳnh Chương Hưng
                                                                    Quy Nhơn 07/8/2018

    Nguyên tác Trung văn
    Trong quyển
    TRUNG QUỐC ĐIỂU TÍN NGƯỠNG
    中国鸟信仰
    Tác giả: Trần Cần Kiến 陈勤建
    Học Uyển xuất bản xã, 2003

    Mã nguồn bởi Huỳnh Chương Hưng
    Copyright © 2012 Huỳnh Chương Hưng.
    back to top