• Thứ Năm, 20 tháng 2, 2020

    ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐẠO GIÁO ĐỜI ĐƯỜNG

              Đạo giáo đời Đường từ chỗ có được sự sùng kính của hoàng đế các đời, đã luôn ở vào giai đoạn hưng thịnh. Nhưng chỉ có phái Mao Sơn 茅山 nổi tiếng trên đời, những phái đạo khác như Nam, Bắc Thiên Sư Đạo , 北天师道thì im bặt tăm hơi. Bắt đầu từ Vương Viễn Tri 王远知, Phan Sư Chính 潘师正 đến Tư Mã Thừa Trinh 司马承祯, Ngô Quân 吴筠, Lí Hàm Quang 李含光, Từ Linh Phủ 徐灵府, Lưu Nguyên Tĩnh 刘元靖 ... nhân tài phái Mao Sơn xuất hiện hàng loạt, được sự đãi ngộ theo lễ của các đế vương đời Đường. Người ẩn cư thì trứ thư lập thuyết, người ra làm quan thì được bái quan phong tước, hoằng đạo xiển giáo, cơ hồ như trở thành nhân vật chính trên vũ đài Đạo giáo đời Đường.
              Thứ đến, triết học Đạo giáo đời Đường đã hấp thu huyền học Nguỵ Tấn và tư tưởng Phật giáo, tiến một bước đề cao tính tư biện của lí luận Đạo giáo, càng coi trọng sự tu trì đối với nội tâm. Như lí luận “trùng huyền chi đạo” 重玄之道 của Thành Huyền Anh 成玄英, Lí Vinh 李荣; “chủ tĩnh khứ dục” 主静去欲 của Tư Mã Thừa Trinh司马承祯; “thủ tĩnh khứ táo” 守静去躁của Ngô Quân吴筠; “thường đạo khả đạo” 常道可道của Vương Huyền Lãm 王玄览 đều thể hiện khuynh hướng này. 
              Tiếp đến nữa, thuật ngoại đan đời Đường thịnh hành, theo ghi chép trong sử thư, các hoàng đế do bởi uống kim đan mà trúng độc có 6 vị, đại thần thì nhiều vô kể. Nhân đó thuật ngoại đan cũng dần dẫn đến sự hoài nghi của mọi người, về sau, một số đạo sĩ chuyển sang cường điệu nội luyện, lấy thân thể làm lò, dùng tinh khí thần làm thuốc, luyện thành đan trong thân thể, để cầu trường sinh thành tiên. Trong bối cảnh đó, một số trứ thuật nghiên cứu nội đan lặng lẽ xuất hiện. Như “Hoàng đình nội cảnh ngũ tạng lục phủ đồ” 黄庭内景五脏六腑图 của Hồ Âm 胡愔, “Thái Thượng cửu yếu tâm ấn diệu kinh” 太上九要心印妙经 của Trương Quả Lão 张果老, “Phục khí tinh nghĩa luận” 服气精义论 của Tư Mã Thừa Trinh 司马承祯 ...
              Cuối cùng, điển phạm về giới luật pháp quy của Đạo giáo càng hoàn bị. Đạo sĩ Trương Vạn Phúc 张万福 của Thái Thanh quán 太清观 thời Huyền Tông 玄宗 có các sách  Tam Động chúng giới văn 三洞众诫文 2 quyển, Tiếu Tam Động chân văn ngũ pháp chính nhất minh uy lục lập thành nghi 醮三洞真文五法正一明威箓立成仪 1 quyển, Truyền thụ Tam Động kinh pháp giới lược thuyết 传授三洞经戒法略说 2 quyển, đã chỉnh lí hệ thống đối với điển phạm về giới luật pháp quy của Đạo giáo đời Đường. Đỗ Quang Đình 杜光庭 cuối thời Đường Ngũ Đại có Đạo môn khoa phạm đại toàn tập 道门科范大全集  gồm 87 quyển, đã giám định và tổng kết những nghi phạm đạo trường như: chúc phúc diên thọ, cầu tránh tai ương, cầu nắng, cầu mưa, tiêu tai, giải ách, cầu siêu, tế độ, khiến giới luật pháp quy của Đạo giáo càng thêm hoàn thiện.

                                                                     Huỳnh Chương Hưng
                                                                     Quy Nhơn 20/02/2020

    Nguồn 
    ĐẠO GIÁO THƯỜNG THỨC ĐÁP VẤN
    道教常识答问
    Tác giả: Khanh Hi Thái 卿希泰
                       Vương Chí Trung 王志忠
                       Đường Đại Triều 唐大潮
    Giang Tô cổ tịch xuất bản xã, 1996

    Dịch thuật: Đặc điểm của Đạo giáo đời Đường

    Đăng lúc  17:47  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐẠO GIÁO ĐỜI ĐƯỜNG

              Đạo giáo đời Đường từ chỗ có được sự sùng kính của hoàng đế các đời, đã luôn ở vào giai đoạn hưng thịnh. Nhưng chỉ có phái Mao Sơn 茅山 nổi tiếng trên đời, những phái đạo khác như Nam, Bắc Thiên Sư Đạo , 北天师道thì im bặt tăm hơi. Bắt đầu từ Vương Viễn Tri 王远知, Phan Sư Chính 潘师正 đến Tư Mã Thừa Trinh 司马承祯, Ngô Quân 吴筠, Lí Hàm Quang 李含光, Từ Linh Phủ 徐灵府, Lưu Nguyên Tĩnh 刘元靖 ... nhân tài phái Mao Sơn xuất hiện hàng loạt, được sự đãi ngộ theo lễ của các đế vương đời Đường. Người ẩn cư thì trứ thư lập thuyết, người ra làm quan thì được bái quan phong tước, hoằng đạo xiển giáo, cơ hồ như trở thành nhân vật chính trên vũ đài Đạo giáo đời Đường.
              Thứ đến, triết học Đạo giáo đời Đường đã hấp thu huyền học Nguỵ Tấn và tư tưởng Phật giáo, tiến một bước đề cao tính tư biện của lí luận Đạo giáo, càng coi trọng sự tu trì đối với nội tâm. Như lí luận “trùng huyền chi đạo” 重玄之道 của Thành Huyền Anh 成玄英, Lí Vinh 李荣; “chủ tĩnh khứ dục” 主静去欲 của Tư Mã Thừa Trinh司马承祯; “thủ tĩnh khứ táo” 守静去躁của Ngô Quân吴筠; “thường đạo khả đạo” 常道可道của Vương Huyền Lãm 王玄览 đều thể hiện khuynh hướng này. 
              Tiếp đến nữa, thuật ngoại đan đời Đường thịnh hành, theo ghi chép trong sử thư, các hoàng đế do bởi uống kim đan mà trúng độc có 6 vị, đại thần thì nhiều vô kể. Nhân đó thuật ngoại đan cũng dần dẫn đến sự hoài nghi của mọi người, về sau, một số đạo sĩ chuyển sang cường điệu nội luyện, lấy thân thể làm lò, dùng tinh khí thần làm thuốc, luyện thành đan trong thân thể, để cầu trường sinh thành tiên. Trong bối cảnh đó, một số trứ thuật nghiên cứu nội đan lặng lẽ xuất hiện. Như “Hoàng đình nội cảnh ngũ tạng lục phủ đồ” 黄庭内景五脏六腑图 của Hồ Âm 胡愔, “Thái Thượng cửu yếu tâm ấn diệu kinh” 太上九要心印妙经 của Trương Quả Lão 张果老, “Phục khí tinh nghĩa luận” 服气精义论 của Tư Mã Thừa Trinh 司马承祯 ...
              Cuối cùng, điển phạm về giới luật pháp quy của Đạo giáo càng hoàn bị. Đạo sĩ Trương Vạn Phúc 张万福 của Thái Thanh quán 太清观 thời Huyền Tông 玄宗 có các sách  Tam Động chúng giới văn 三洞众诫文 2 quyển, Tiếu Tam Động chân văn ngũ pháp chính nhất minh uy lục lập thành nghi 醮三洞真文五法正一明威箓立成仪 1 quyển, Truyền thụ Tam Động kinh pháp giới lược thuyết 传授三洞经戒法略说 2 quyển, đã chỉnh lí hệ thống đối với điển phạm về giới luật pháp quy của Đạo giáo đời Đường. Đỗ Quang Đình 杜光庭 cuối thời Đường Ngũ Đại có Đạo môn khoa phạm đại toàn tập 道门科范大全集  gồm 87 quyển, đã giám định và tổng kết những nghi phạm đạo trường như: chúc phúc diên thọ, cầu tránh tai ương, cầu nắng, cầu mưa, tiêu tai, giải ách, cầu siêu, tế độ, khiến giới luật pháp quy của Đạo giáo càng thêm hoàn thiện.

                                                                     Huỳnh Chương Hưng
                                                                     Quy Nhơn 20/02/2020

    Nguồn 
    ĐẠO GIÁO THƯỜNG THỨC ĐÁP VẤN
    道教常识答问
    Tác giả: Khanh Hi Thái 卿希泰
                       Vương Chí Trung 王志忠
                       Đường Đại Triều 唐大潮
    Giang Tô cổ tịch xuất bản xã, 1996


    VÍ CHĂNG DUYÊN NỢ BA SINH (257)
              Ba sinh: tức “tam sinh” ba kiếp, theo thuyết luân hồi là kiếp trước, kiếp này và kiếp sau. Duyên nợ ba sinh tức có duyên nợ với nhau từ kiếp trước.
              Chùa Huệ Lâm 惠林ở kinh sư Lạc Dương 洛陽, xưa là phủ đệ của Quang lộc khanh Lí Đăng 李登. Khi An Lộc Sơn 安祿山vây hãm Đông đô, Lí Đăng cố thủ mà chết. Con là Lí Nguyên 李源, lúc nhỏ giao du với con nhà giàu có, ca hát tiêu xài nổi tiếng lúc bấy giờ. Khi phụ thân mất, Lí Nguyên đau buồn phát phẫn, thề không làm quan, không lấy vợ, không ăn mặn, hiến gia sản xây chùa Huệ Lâm và ở trú ở đó hơn 50 năm.
              Trụ trì chùa là thiền sư Viên Trạch 圓澤, giỏi kinh doanh lại thông âm hiểu âm nhạc, kết giao với Lí Nguyên rất thân thiết, thường bàn chuyện cả ngày, nhưng không ai biết là chuyện gì.        
     Ngày nọ hai người bàn cùng nhau đến núi Nga Mi 峨嵋, Lí Nguyên muốn đi đường thuỷ từ Hồ Bắc 湖北 theo sông mà lên, còn thiền sư lại đề xuất đi đường bộ, từ Tà Cốc 斜谷 Trường An 長安 mà vào sông. Lí Nguyên không đồng ý, thiền sư đành theo ý kiến của Lí Nguyên, và cảm thán rằng:
    - Vận mệnh của một người quả thực không thể do bản thân tự quyết.
    Cuối cùng theo ý kiến của Lí Nguyên, cả hai ngồi thuyền đi theo đường thuỷ, thuyền đến Nam Phố 南浦, cập vào bên sông, thấy một phụ nữ mặc váy hoa, đội vò lấy nước bên sông. Thiền sư Viên Trạch nhìn thấy liền rơi nước mắt, nói với Lí Nguyên rằng:
              - Tôi không muốn đi đường thuỷ là sợ gặp người phụ nữ này.
              Lí Nguyên thất kinh hỏi nguyên nhân, thiền sư đáp rằng:
    - Người phụ nữ đó họ Vương, số mệnh đã định tôi làm con của bà, nhân vì tôi không chịu đến cho nên bà ta mang thai đã 3 năm mà chưa sinh. Nay đã gặp, không thể nào tránh được, xin ông dùng phù chú giúp tôi nhanh đầu sinh, Ba ngày sau lúc tắm cho bé, mong ông đến, tôi sẽ lấy nụ cười để chứng minh. 13 năm sau, vào đêm Trung thu tháng 8, ông đến bên ngoài chùa Thiên Trúc 天竺 ở Hàng Châu 杭州, tôi nhất định sẽ gặp ông.         
              Lí Nguyên đau buồn hối hận, tắm rửa thay quần áo cho thiền sư. Đến chiều tối, thiền sư Viên Trạch mất, người phụ nữ đó cũng đã sinh. Ba ngày sau Lí Nguyên đi gặp đứa bé, đứa bé nhìn thấy liền cười. Lí Nguyên liền nói cho Vương thị biết mọi việc, Vương gia xuất tiền, táng thiền sư dưới chân núi. Lí Nguyên không còn tâm trí nào mà di du sơn nữa, bèn trở về chùa Huệ Lâm 惠林. Đồ đệ trong chùa cho biết là thiền sư Viên Trạch đã viết di thư từ sớm.
              13 năm sau, Lí Nguyên từ Lạc Dương 洛阳đến chùa Thiên Trúc ở Tây hồ Hàng Châu, theo lời hẹn đi gặp thiền sư Viên Trạch. Khi đến bên ngoài chùa bỗng nhiên nghe tiếng hát của mục đồng gõ sừng trâu từ bờ sông Cát Hồng 葛洪truyền lại:
    Tam sinh thạch thượng cựu tinh hồn
    Thưởng nguyệt ngâm phong mạc yếu luân
    Tàm quý tình nhân viễn tương phỏng
    Thử thân tuy dị tính trường tồn
    三生石上舊精魂
    賞月吟風莫要論
    慚愧情人遠相訪
    此身雖異性長存
    (Ta là linh hồn của người xưa đã qua ba đời
    Chuyện cũ thưởng nguyệt ngâm phong qua rồi chớ có bàn đến nữa
    Hổ thẹn để cho bạn phải từ xa đến thăm
    Thân thể của ta tuy khác nhưng tâm tính vẫn trường tồn)
    Lí Nguyên nghe qua biết là người cũ, liền hỏi:
    - Trạch công, ông có khoẻ không?
    Mục đồng đáp rằng:
    - Lí công quả là người giữ chữ tín. Đáng tiếc tục duyên của tôi chưa hết, không thể gần. Chúng ta cố gắng tu hành không trễ nãi, tương lai sẽ có ngày gặp lại.
              Lại hát rằng:
    Thân tiền thân hậu sự mang mang
    Dục thoại nhân duyên khủng đoạn trường
    Ngô Việt sơn xuyên tầm dĩ biến
    Khước hồi yên trạo thướng Cù Đường
    身前身後事茫茫
    欲話因緣恐斷腸
    吳越山川尋已遍
    卻回煙棹上瞿塘
    (Sự việc của thân trước thân sau rất mênh mang
    Muốn nói ra nhân duyên nhưng sợ lại đau lòng
    Núi sông Ngô Việt ta đã đi khắp
    Giờ quay đầu thuyền lại đi đến Cù Đường)
              Mục đồng liền quay đầu đi, từ đó không biết đi đến nơi đâu.
    Ba năm sau nữa, đại thần Lí Đức Dụ 李德裕khải tấu hoàng thượng, tiến cử Lí Nguyên là trung thần, lại rất hiếu thuận, xin ban cho chức quan. Thế là hoàng đế phong Lí Nguyên làm Gián nghị đại phu 諫議大夫. Nhưng lúc này Lí Nguyên sớm đã triệt ngộ, nhìn thấy rõ sự tình thế gian nên không chịu đến nhậm chức. Về sau Lí Nguyên mất tại chùa, hưởng thọ 80 tuổi.

    Ví chăng duyên nợ ba sinh
    Làm chi đem thói khuynh thành trêu ngươi
    (“Truyện Kiều” 257 – 258)
    Mừng thầm chốn ấy chữ bài
    Ba sinh âu hẳn duyên trời chi đây
    (“Truyện Kiều” 281 – 282)
    Nhớ lời nguyện ước ba sinh
    Xa xôi, ai có thấu tình chăng ai
    (“Truyện Kiều” 1259 – 1260)
    Dạy rằng: “Hương lửa ba sinh
    Dây loan xin nối cầm lành cho ai”
    (“Truyện Kiều” 2581 – 2582)
    Ba sinh đã phỉ mười nguyền
    Duyên đôi lứa cũng là duyên bạn bầy
    (“Truyện Kiều” 3225 – 3226)
    Ba sinh: Dịch chữ Tam sinh của đạo Phật chỉ ba kiếp sống trong quá khứ, hiện tại và tương lai. Td. Duyên nợ ba sinh.
    (Đào Duy Anh: “Từ điển Truyện Kiều”, nxb Khoa học xã hội, Hà Nội – 1989)
    Trong “Kim Vân Kiều” (Đoạn trường tân thanh) do Bùi Khánh Diễn chú thích, ghi rằng:
              Cổ thi: Tam sinh thạch thượng cựu tinh hồn.
              古詩: 三生石上舊精魂
              (Thơ Cổ: Tam sinh là cái hồn cũ ở trên hòn đá. Tam sinh thạch ở trong động Kiền khôn (Là chỗ Nguyệt lão giữ sổ giá thú ở dưới nhân gian)
    (Sài Gòn: nxb Sống Mới, 1960) 

    Xét: Câu 1260 trong bản “Kim Vân Kiều” của Bùi Khánh Diễn và trong “Tư liệu Truyện Kiều  - Bản Duy Minh Thị 1872” do GS Nguyễn Tài Cẩn phiên Nôm, và cả trong “Từ điển Truyện Kiều” bản in năm 2000 thì câu 1260 này là:
    Xa xôi ai có BIẾT tình chăng ai?

                                                                          Huỳnh Chương Hưng
                                                                          Quy Nhơn 20/02/2020

    Dịch thuật: Ví chăng duyên nợ ba sinh (257) ("Truyện Kiều")

    Đăng lúc  10:06  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »


    VÍ CHĂNG DUYÊN NỢ BA SINH (257)
              Ba sinh: tức “tam sinh” ba kiếp, theo thuyết luân hồi là kiếp trước, kiếp này và kiếp sau. Duyên nợ ba sinh tức có duyên nợ với nhau từ kiếp trước.
              Chùa Huệ Lâm 惠林ở kinh sư Lạc Dương 洛陽, xưa là phủ đệ của Quang lộc khanh Lí Đăng 李登. Khi An Lộc Sơn 安祿山vây hãm Đông đô, Lí Đăng cố thủ mà chết. Con là Lí Nguyên 李源, lúc nhỏ giao du với con nhà giàu có, ca hát tiêu xài nổi tiếng lúc bấy giờ. Khi phụ thân mất, Lí Nguyên đau buồn phát phẫn, thề không làm quan, không lấy vợ, không ăn mặn, hiến gia sản xây chùa Huệ Lâm và ở trú ở đó hơn 50 năm.
              Trụ trì chùa là thiền sư Viên Trạch 圓澤, giỏi kinh doanh lại thông âm hiểu âm nhạc, kết giao với Lí Nguyên rất thân thiết, thường bàn chuyện cả ngày, nhưng không ai biết là chuyện gì.        
     Ngày nọ hai người bàn cùng nhau đến núi Nga Mi 峨嵋, Lí Nguyên muốn đi đường thuỷ từ Hồ Bắc 湖北 theo sông mà lên, còn thiền sư lại đề xuất đi đường bộ, từ Tà Cốc 斜谷 Trường An 長安 mà vào sông. Lí Nguyên không đồng ý, thiền sư đành theo ý kiến của Lí Nguyên, và cảm thán rằng:
    - Vận mệnh của một người quả thực không thể do bản thân tự quyết.
    Cuối cùng theo ý kiến của Lí Nguyên, cả hai ngồi thuyền đi theo đường thuỷ, thuyền đến Nam Phố 南浦, cập vào bên sông, thấy một phụ nữ mặc váy hoa, đội vò lấy nước bên sông. Thiền sư Viên Trạch nhìn thấy liền rơi nước mắt, nói với Lí Nguyên rằng:
              - Tôi không muốn đi đường thuỷ là sợ gặp người phụ nữ này.
              Lí Nguyên thất kinh hỏi nguyên nhân, thiền sư đáp rằng:
    - Người phụ nữ đó họ Vương, số mệnh đã định tôi làm con của bà, nhân vì tôi không chịu đến cho nên bà ta mang thai đã 3 năm mà chưa sinh. Nay đã gặp, không thể nào tránh được, xin ông dùng phù chú giúp tôi nhanh đầu sinh, Ba ngày sau lúc tắm cho bé, mong ông đến, tôi sẽ lấy nụ cười để chứng minh. 13 năm sau, vào đêm Trung thu tháng 8, ông đến bên ngoài chùa Thiên Trúc 天竺 ở Hàng Châu 杭州, tôi nhất định sẽ gặp ông.         
              Lí Nguyên đau buồn hối hận, tắm rửa thay quần áo cho thiền sư. Đến chiều tối, thiền sư Viên Trạch mất, người phụ nữ đó cũng đã sinh. Ba ngày sau Lí Nguyên đi gặp đứa bé, đứa bé nhìn thấy liền cười. Lí Nguyên liền nói cho Vương thị biết mọi việc, Vương gia xuất tiền, táng thiền sư dưới chân núi. Lí Nguyên không còn tâm trí nào mà di du sơn nữa, bèn trở về chùa Huệ Lâm 惠林. Đồ đệ trong chùa cho biết là thiền sư Viên Trạch đã viết di thư từ sớm.
              13 năm sau, Lí Nguyên từ Lạc Dương 洛阳đến chùa Thiên Trúc ở Tây hồ Hàng Châu, theo lời hẹn đi gặp thiền sư Viên Trạch. Khi đến bên ngoài chùa bỗng nhiên nghe tiếng hát của mục đồng gõ sừng trâu từ bờ sông Cát Hồng 葛洪truyền lại:
    Tam sinh thạch thượng cựu tinh hồn
    Thưởng nguyệt ngâm phong mạc yếu luân
    Tàm quý tình nhân viễn tương phỏng
    Thử thân tuy dị tính trường tồn
    三生石上舊精魂
    賞月吟風莫要論
    慚愧情人遠相訪
    此身雖異性長存
    (Ta là linh hồn của người xưa đã qua ba đời
    Chuyện cũ thưởng nguyệt ngâm phong qua rồi chớ có bàn đến nữa
    Hổ thẹn để cho bạn phải từ xa đến thăm
    Thân thể của ta tuy khác nhưng tâm tính vẫn trường tồn)
    Lí Nguyên nghe qua biết là người cũ, liền hỏi:
    - Trạch công, ông có khoẻ không?
    Mục đồng đáp rằng:
    - Lí công quả là người giữ chữ tín. Đáng tiếc tục duyên của tôi chưa hết, không thể gần. Chúng ta cố gắng tu hành không trễ nãi, tương lai sẽ có ngày gặp lại.
              Lại hát rằng:
    Thân tiền thân hậu sự mang mang
    Dục thoại nhân duyên khủng đoạn trường
    Ngô Việt sơn xuyên tầm dĩ biến
    Khước hồi yên trạo thướng Cù Đường
    身前身後事茫茫
    欲話因緣恐斷腸
    吳越山川尋已遍
    卻回煙棹上瞿塘
    (Sự việc của thân trước thân sau rất mênh mang
    Muốn nói ra nhân duyên nhưng sợ lại đau lòng
    Núi sông Ngô Việt ta đã đi khắp
    Giờ quay đầu thuyền lại đi đến Cù Đường)
              Mục đồng liền quay đầu đi, từ đó không biết đi đến nơi đâu.
    Ba năm sau nữa, đại thần Lí Đức Dụ 李德裕khải tấu hoàng thượng, tiến cử Lí Nguyên là trung thần, lại rất hiếu thuận, xin ban cho chức quan. Thế là hoàng đế phong Lí Nguyên làm Gián nghị đại phu 諫議大夫. Nhưng lúc này Lí Nguyên sớm đã triệt ngộ, nhìn thấy rõ sự tình thế gian nên không chịu đến nhậm chức. Về sau Lí Nguyên mất tại chùa, hưởng thọ 80 tuổi.

    Ví chăng duyên nợ ba sinh
    Làm chi đem thói khuynh thành trêu ngươi
    (“Truyện Kiều” 257 – 258)
    Mừng thầm chốn ấy chữ bài
    Ba sinh âu hẳn duyên trời chi đây
    (“Truyện Kiều” 281 – 282)
    Nhớ lời nguyện ước ba sinh
    Xa xôi, ai có thấu tình chăng ai
    (“Truyện Kiều” 1259 – 1260)
    Dạy rằng: “Hương lửa ba sinh
    Dây loan xin nối cầm lành cho ai”
    (“Truyện Kiều” 2581 – 2582)
    Ba sinh đã phỉ mười nguyền
    Duyên đôi lứa cũng là duyên bạn bầy
    (“Truyện Kiều” 3225 – 3226)
    Ba sinh: Dịch chữ Tam sinh của đạo Phật chỉ ba kiếp sống trong quá khứ, hiện tại và tương lai. Td. Duyên nợ ba sinh.
    (Đào Duy Anh: “Từ điển Truyện Kiều”, nxb Khoa học xã hội, Hà Nội – 1989)
    Trong “Kim Vân Kiều” (Đoạn trường tân thanh) do Bùi Khánh Diễn chú thích, ghi rằng:
              Cổ thi: Tam sinh thạch thượng cựu tinh hồn.
              古詩: 三生石上舊精魂
              (Thơ Cổ: Tam sinh là cái hồn cũ ở trên hòn đá. Tam sinh thạch ở trong động Kiền khôn (Là chỗ Nguyệt lão giữ sổ giá thú ở dưới nhân gian)
    (Sài Gòn: nxb Sống Mới, 1960) 

    Xét: Câu 1260 trong bản “Kim Vân Kiều” của Bùi Khánh Diễn và trong “Tư liệu Truyện Kiều  - Bản Duy Minh Thị 1872” do GS Nguyễn Tài Cẩn phiên Nôm, và cả trong “Từ điển Truyện Kiều” bản in năm 2000 thì câu 1260 này là:
    Xa xôi ai có BIẾT tình chăng ai?

                                                                          Huỳnh Chương Hưng
                                                                          Quy Nhơn 20/02/2020

    Thứ Tư, 19 tháng 2, 2020

    “HUNG NÔ VỊ DIỆT, HÀ DĨ GIA VI” CÂU NÀY AI NÓI

              Hung Nô vị diệt, hà dĩ gia vi 匈奴未灭, 何以家为 (Hung Nô chưa diệt thì nhà để làm gì?) là câu nói nổi tiếng của quân sự gia trứ danh Hoắc Khứ Bệnh 霍去病. Theo truyền thuyết, có một lần Hoắc Khứ Bệnh thắng trận trở về, Hán Vũ Đế 汉武帝đích thân nghinh tiếp đồng thời muốn xây cho Hoắc Khứ Bệnh phòng ốc tinh mĩ, Hoắc Khứ Bệnh nói rằng:
              - Hung Nô chưa triệt để tiêu diệt thì cần nhà để làm gì?
    Câu đó đã biểu đạt trong lòng ông chỉ có tình cảm cao thượng về đất nước. Thế thì chiến công của Hoắc Khứ Bệnh trong lịch sử như thế nào?
              Hoắc Khứ Bệnh là cháu gọi Vệ Thanh 卫青 bằng cậu, ham thích cưỡi ngựa bắn cung, giỏi chạy đường dài. Con người Hoắc Khứ Bệnh trầm mặc ít nói, nhưng rất có khí phách, dám làm dám chịu. Năm 18 tuổi, Hoắc Khứ Bệnh tòng quân, đích thân dẫn một tiểu đội tập kích đại bản doanh Hung Nô, giết chết tổ phụ của Thiền vu Hung Nô, bắt tướng quốc và thúc phụ của Thiền vu, được phong là “Quán Quân Hầu” 冠军侯 (“Quán Quân” 冠军 là đứng đầu, thời cổ thường đem xưng hiệu này phong cho tướng lĩnh có chiến công hiển hách nhất). Hoắc Khứ Bệnh công không trận nào là không thắng, chiến không trận nào là không thắng. Năm 121 trước công nguyên, Hoắc Khứ Bệnh trẻ tuổi làm Nguyên soái, dẫn quân xuất chinh Hung Nô. Bôn tập trong sa mạc mênh mông ngàn dặm. quét sạch cường địch. Về sau, Hoắc Khứ Bệnh với một ít quân lại thâm nhập tại núi Kì Liên 祁连 giết hơn 3 vạn quân địch, Hung Nô không thể không rút lui về mạc bắc. Triều Hán thu phục bình nguyên Hà Tây 河西. Hung Nô từng dũng mãnh không ai bằng than rằng:
    Vong ngã Kì Liên sơn, sử ngã lục súc bất phiền tức
    Thất ngã Yên Chi sơn, sử ngã phụ nữ vô nhan sắc
    亡我祁连山使我六畜不蕃息
    失我焉支山使我妇女无颜色
    (Mất đi núi Kì Liên, khiến lục súc của ta không thể sinh sôi
    Mất đi núi Yên Chi, khiến cho các cô gái của ta không còn nhan sắc)
              Năm 119 trước công nguyên, triều Hán quyết chiến với Hung Nô, Hoắc Khứ Bệnh thống lĩnh đại quân vượt đại mạc, truy kích quân Hung Nô hơn 2000 dặm, đến dưới núi Lang Cư Tư 狼居胥, đồng thời cử hành nghi thức tế Thiên to lớn, lập bia kỉ niệm. Trong một bài từ của Tân Khí Tật 辛弃疾 có câu:
    Nguyên Gia thảo thảo, phong Lang Cư Tư, doanh đắc thương hoàng bắc cố (1).
    元嘉草草, 封狼居胥, 赢得仓皇北顾
              (Nguyên Gia khinh suất, muốn như Hoắc Khứ Bệnh phong Lang Cư Tư, nhưng bị tổn thất nặng nề)
    Lời từ miêu thuật lại sự tích Hoắc Khứ Bệnh oai dũng đến núi Lang Cư Tư. Sau trận chiến đó, Hung Nô chia làm 2 chi nam và bắc, không còn đủ năng lực để tiến hành tấn công triều Hán đại quy mô, biên cảnh phương bắc mấy chục năm không phát sinh chiến tranh.
              Hoắc Khứ Bệnh kích phá Hung Nô, không chỉ dẹp trừ được sự uy hiếp biên cảnh phương bắc, mà còn mở rộng cương vực của triều Hán.

    Chú của người dịch
    1- Nguyên Gia thảo thảo 元嘉草草: Nguyên Gia 元嘉 là niên hiệu của Lưu Nghĩa Long 刘义隆 con của Lưu Dụ 刘裕 triều Tống thời Nam Triều. Lưu Nghĩa Long ham lập công lớn, vội vã bắc phạt. Bắc Nguỵ chủ là Thác Bạt Đạo 拓拔焘nhân cơ hội đó, dùng tập đoàn kị binh tiến xuống phía nam. Lưu Nghĩa Long vì khinh suất nên bị tổn thất nặng nề.
    Phong Lang Cư Tư 封狼居胥: năm 119 trước công nguyên (niên hiệu Nguyên Thú 元狩 thứ 4 đời Hán Vũ Đế 汉武帝) Hoắc Khứ Bệnh viễn chinh Hung Nô, giết hơn 7 vạn quân địch, phong núi Lang Cư Tư rồi quay về.
              “Phong Lang Cư Tư” nguyên chỉ việc Hoắc Khứ Bệnh lên núi Lang Cư Tư đắp đàn tế trời để cáo thành công, sau dùng để chỉ việc kiến lập võ công hiển hách. Về sau “phong Lang Cư Tư” trở thành một trong những vinh dự tối cao của võ tướng dân tộc Hoa Hạ.

                                                                  Huỳnh Chương Hưng
                                                                  Quy Nhơn 19/02/2020

    Nguyên tác Trung văn
    Trong quyển
    THÚ VỊ VĂN HOÁ TRI THỨC ĐẠI TOÀN
    趣味文化知识大全
    Thanh Thạch 青石 biên soạn

    Trung Quốc Hoa kiều xuất bản xã, 2013

    Dịch thuật: "Hung Nô vị diệt, hà dĩ gia vi" câu này ai nói

    Đăng lúc  18:55  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    “HUNG NÔ VỊ DIỆT, HÀ DĨ GIA VI” CÂU NÀY AI NÓI

              Hung Nô vị diệt, hà dĩ gia vi 匈奴未灭, 何以家为 (Hung Nô chưa diệt thì nhà để làm gì?) là câu nói nổi tiếng của quân sự gia trứ danh Hoắc Khứ Bệnh 霍去病. Theo truyền thuyết, có một lần Hoắc Khứ Bệnh thắng trận trở về, Hán Vũ Đế 汉武帝đích thân nghinh tiếp đồng thời muốn xây cho Hoắc Khứ Bệnh phòng ốc tinh mĩ, Hoắc Khứ Bệnh nói rằng:
              - Hung Nô chưa triệt để tiêu diệt thì cần nhà để làm gì?
    Câu đó đã biểu đạt trong lòng ông chỉ có tình cảm cao thượng về đất nước. Thế thì chiến công của Hoắc Khứ Bệnh trong lịch sử như thế nào?
              Hoắc Khứ Bệnh là cháu gọi Vệ Thanh 卫青 bằng cậu, ham thích cưỡi ngựa bắn cung, giỏi chạy đường dài. Con người Hoắc Khứ Bệnh trầm mặc ít nói, nhưng rất có khí phách, dám làm dám chịu. Năm 18 tuổi, Hoắc Khứ Bệnh tòng quân, đích thân dẫn một tiểu đội tập kích đại bản doanh Hung Nô, giết chết tổ phụ của Thiền vu Hung Nô, bắt tướng quốc và thúc phụ của Thiền vu, được phong là “Quán Quân Hầu” 冠军侯 (“Quán Quân” 冠军 là đứng đầu, thời cổ thường đem xưng hiệu này phong cho tướng lĩnh có chiến công hiển hách nhất). Hoắc Khứ Bệnh công không trận nào là không thắng, chiến không trận nào là không thắng. Năm 121 trước công nguyên, Hoắc Khứ Bệnh trẻ tuổi làm Nguyên soái, dẫn quân xuất chinh Hung Nô. Bôn tập trong sa mạc mênh mông ngàn dặm. quét sạch cường địch. Về sau, Hoắc Khứ Bệnh với một ít quân lại thâm nhập tại núi Kì Liên 祁连 giết hơn 3 vạn quân địch, Hung Nô không thể không rút lui về mạc bắc. Triều Hán thu phục bình nguyên Hà Tây 河西. Hung Nô từng dũng mãnh không ai bằng than rằng:
    Vong ngã Kì Liên sơn, sử ngã lục súc bất phiền tức
    Thất ngã Yên Chi sơn, sử ngã phụ nữ vô nhan sắc
    亡我祁连山使我六畜不蕃息
    失我焉支山使我妇女无颜色
    (Mất đi núi Kì Liên, khiến lục súc của ta không thể sinh sôi
    Mất đi núi Yên Chi, khiến cho các cô gái của ta không còn nhan sắc)
              Năm 119 trước công nguyên, triều Hán quyết chiến với Hung Nô, Hoắc Khứ Bệnh thống lĩnh đại quân vượt đại mạc, truy kích quân Hung Nô hơn 2000 dặm, đến dưới núi Lang Cư Tư 狼居胥, đồng thời cử hành nghi thức tế Thiên to lớn, lập bia kỉ niệm. Trong một bài từ của Tân Khí Tật 辛弃疾 có câu:
    Nguyên Gia thảo thảo, phong Lang Cư Tư, doanh đắc thương hoàng bắc cố (1).
    元嘉草草, 封狼居胥, 赢得仓皇北顾
              (Nguyên Gia khinh suất, muốn như Hoắc Khứ Bệnh phong Lang Cư Tư, nhưng bị tổn thất nặng nề)
    Lời từ miêu thuật lại sự tích Hoắc Khứ Bệnh oai dũng đến núi Lang Cư Tư. Sau trận chiến đó, Hung Nô chia làm 2 chi nam và bắc, không còn đủ năng lực để tiến hành tấn công triều Hán đại quy mô, biên cảnh phương bắc mấy chục năm không phát sinh chiến tranh.
              Hoắc Khứ Bệnh kích phá Hung Nô, không chỉ dẹp trừ được sự uy hiếp biên cảnh phương bắc, mà còn mở rộng cương vực của triều Hán.

    Chú của người dịch
    1- Nguyên Gia thảo thảo 元嘉草草: Nguyên Gia 元嘉 là niên hiệu của Lưu Nghĩa Long 刘义隆 con của Lưu Dụ 刘裕 triều Tống thời Nam Triều. Lưu Nghĩa Long ham lập công lớn, vội vã bắc phạt. Bắc Nguỵ chủ là Thác Bạt Đạo 拓拔焘nhân cơ hội đó, dùng tập đoàn kị binh tiến xuống phía nam. Lưu Nghĩa Long vì khinh suất nên bị tổn thất nặng nề.
    Phong Lang Cư Tư 封狼居胥: năm 119 trước công nguyên (niên hiệu Nguyên Thú 元狩 thứ 4 đời Hán Vũ Đế 汉武帝) Hoắc Khứ Bệnh viễn chinh Hung Nô, giết hơn 7 vạn quân địch, phong núi Lang Cư Tư rồi quay về.
              “Phong Lang Cư Tư” nguyên chỉ việc Hoắc Khứ Bệnh lên núi Lang Cư Tư đắp đàn tế trời để cáo thành công, sau dùng để chỉ việc kiến lập võ công hiển hách. Về sau “phong Lang Cư Tư” trở thành một trong những vinh dự tối cao của võ tướng dân tộc Hoa Hạ.

                                                                  Huỳnh Chương Hưng
                                                                  Quy Nhơn 19/02/2020

    Nguyên tác Trung văn
    Trong quyển
    THÚ VỊ VĂN HOÁ TRI THỨC ĐẠI TOÀN
    趣味文化知识大全
    Thanh Thạch 青石 biên soạn

    Trung Quốc Hoa kiều xuất bản xã, 2013


    MÂY TẦN KHOÁ KÍN SONG THE (249)
              Theo “Thành ngữ . Điển tích . Danh nhân Từ điển” của Trịnh Vân Thanh, mục “Mây Tần” ghi rằng:
              Dịch chữ “Tần vân”. Trong sách “Tình sử” có câu “Tần vân, Triệu võ” để chỉ chỗ mát mẻ yên lặng, nhưng cũng khó ra vào. Nghĩa bóng, nơi kín cổng cao tường, nơi đàn bà con gái ở. Trong Tấn thư cũng có câu: “Tần yên như mỹ
    nhân”, nghĩa là, Mây Tần như người con gái đẹp. Trong Kiều có câu:
    Mây Tần khoá kín song thư
    Bụi hồng dứt nẻo đi về chiêm bao.
                                                            (Nhà xuất bản Văn học, 2008), trang 589)

    Mây Tần khoá kín song the
    Bụi hồng liệu nẻo đi về chiêm bao
    (“Truyện Kiều” 249 – 250)
    Mây Tần: Bản BKD chú rằng, có câu: “Tần vân như mỹ nhân” nghĩa là “Mây Tần như cô gái đẹp”, vì vậy, mây Tần còn có nghĩa là con gái đẹp.
    (Đào Duy Anh: “Từ điển Truyện Kiều”, nxb Khoa học xã hội, Hà Nội – 1989)
    Trong “Kim Vân Kiều” (Đoạn trường tân thanh) do Bùi Khánh Diễn chú thích, ghi rằng:
              Tấn thư: Tần vân như mỹ nhân.
              晉書: 秦雲如美人
              (Sách Tấn: mây Tần như con gái đẹp)
    (Sài Gòn: nxb Sống Mới, 1960) 

    Xét: Theo ý riêng, “mây Tần” ở đây nếu hiểu theo câu “Tần vân, Triệu võ” trong “Tình sử” ở “Thành ngữ . Điển tích . Danh nhân Từ điển” của Trịnh Vân Thanh, “chỉ chỗ mát mẻ yên lặng, nhưng cũng khó ra vào. Nghĩa bóng, nơi kín cổng cao tường, nơi đàn bà con gái ở”, như vậy phù hợp với cả đoạn., vì hai câu này ở đoạn nói về Kim Trọng đang tưởng nhớ đến Thuý Kiều. Có điều, từ điển không nói xuất xứ và nội dung “Tần vân, Triệu võ” để có ý nghĩa như thế.
              “Mây Tần” ở câu 249 khác với “mây Tần” ở câu 2236 với ý nghĩa là nhớ nhà.
    Hồn quê theo ngọn mây Tần xa xa (2236)

                                                                     Huỳnh Chương Hưng
                                                                     Quy Nhơn 19/02/2020

    Dịch thuật: Mây Tần khoá kín song the (249) ("Truyện Kiều")

    Đăng lúc  10:08  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »


    MÂY TẦN KHOÁ KÍN SONG THE (249)
              Theo “Thành ngữ . Điển tích . Danh nhân Từ điển” của Trịnh Vân Thanh, mục “Mây Tần” ghi rằng:
              Dịch chữ “Tần vân”. Trong sách “Tình sử” có câu “Tần vân, Triệu võ” để chỉ chỗ mát mẻ yên lặng, nhưng cũng khó ra vào. Nghĩa bóng, nơi kín cổng cao tường, nơi đàn bà con gái ở. Trong Tấn thư cũng có câu: “Tần yên như mỹ
    nhân”, nghĩa là, Mây Tần như người con gái đẹp. Trong Kiều có câu:
    Mây Tần khoá kín song thư
    Bụi hồng dứt nẻo đi về chiêm bao.
                                                            (Nhà xuất bản Văn học, 2008), trang 589)

    Mây Tần khoá kín song the
    Bụi hồng liệu nẻo đi về chiêm bao
    (“Truyện Kiều” 249 – 250)
    Mây Tần: Bản BKD chú rằng, có câu: “Tần vân như mỹ nhân” nghĩa là “Mây Tần như cô gái đẹp”, vì vậy, mây Tần còn có nghĩa là con gái đẹp.
    (Đào Duy Anh: “Từ điển Truyện Kiều”, nxb Khoa học xã hội, Hà Nội – 1989)
    Trong “Kim Vân Kiều” (Đoạn trường tân thanh) do Bùi Khánh Diễn chú thích, ghi rằng:
              Tấn thư: Tần vân như mỹ nhân.
              晉書: 秦雲如美人
              (Sách Tấn: mây Tần như con gái đẹp)
    (Sài Gòn: nxb Sống Mới, 1960) 

    Xét: Theo ý riêng, “mây Tần” ở đây nếu hiểu theo câu “Tần vân, Triệu võ” trong “Tình sử” ở “Thành ngữ . Điển tích . Danh nhân Từ điển” của Trịnh Vân Thanh, “chỉ chỗ mát mẻ yên lặng, nhưng cũng khó ra vào. Nghĩa bóng, nơi kín cổng cao tường, nơi đàn bà con gái ở”, như vậy phù hợp với cả đoạn., vì hai câu này ở đoạn nói về Kim Trọng đang tưởng nhớ đến Thuý Kiều. Có điều, từ điển không nói xuất xứ và nội dung “Tần vân, Triệu võ” để có ý nghĩa như thế.
              “Mây Tần” ở câu 249 khác với “mây Tần” ở câu 2236 với ý nghĩa là nhớ nhà.
    Hồn quê theo ngọn mây Tần xa xa (2236)

                                                                     Huỳnh Chương Hưng
                                                                     Quy Nhơn 19/02/2020

    Thứ Ba, 18 tháng 2, 2020

    LỮ BỐ
    (tiếp theo kì 2)

              Ngày hôm sau, nghị bàn xong chính sự, Vương Doãn thấy một mình Đổng Trác ở lại, bèn tiến lên bái thỉnh, nói rằng:
              - Trong phủ của hạ quan có rượu ngon, lại có mấy ca kĩ, mời Thái sư đến hàn xá, không biết Thái sư có hân hạnh nhận lời cho?
              Đổng Trác thấy Vương Doãn chủ động nịnh mình, cười nói rằng:
              - Tư đồ đại nhân mời, há dám không tuân! Ngày mai nhất định sẽ đến tôn phủ.
              Vương Doãn sau khi hai ba lần bái tạ, liền về nhà chuẩn bị.
              Sáng hôm sau, Đổng Trác đến dự yến, Vương Doãn thân mặc triều phục, nghinh đón nơi cửa. Đổng Trác được trăm tên vệ sĩ bảo vệ tiến vào sảnh đường. Vương Doãn sắp đặt tiệc ở hai chái hai bên cho vệ sĩ, khoản đãi thịnh tình, rước Đổng Trác tiến vào hậu đường mở tiệc. Vương Doãn dâng rượu, ca tụng thịnh đức của Thái sư mà Chu Công cũng chưa theo kịp, khen Đổng Trác đến mức Đổng Trác trong lòng như nở hoa. Vương Doãn nói rằng, mình ban đêm quan sát  thiên tượng, biết khí số của nhà Hán đã tận, khuyên Đổng Trác xưng đế. Đổng Trác cười bảo rằng:
              - Người biết ta là Tư đồ đại nhân đây! Sau khi việc thành, đại nhân đáng ở vị trí nguyên huân.
              Vương Doãn vội bái tạ.
              Một lát sau, Vương Doãn sai người buông rèm xuống, thắp đuốc lên, sai Điêu Thiền ra dâng điệu múa.
              Điêu Thiền eo thon, tay áo rộng, nhẹ nhàng múa giống như tiên nữ xuống phàm, khiến Đổng Trác nhìn vỗ án khen hay.
              Đổng Trác gọi Điêu Thiền đến trước mặt, hỏi rằng:
              - Cô gái này là người nào?
              Vương Doãn đáp:
              - Đó là ca nữ trong phủ.
              Đổng Trác lại hỏi:
              - Đã là ca nữ, có thể hát một bài chăng?
              Điêu Thiền mấp máy môi đào, theo khúc nhạc mà hát, hát khúc “Dương xuân Bạch tuyết”, khiến Đổng Trác như mất hồn. Đổng Trác hỏi Điêu Thiền:
              - Mĩ nhân tuổi được bao nhiêu?
              Điêu Thiền đáp:
              - Dạ 17.
              Đổng Trác khen rằng:
              - Tư đồ đại nhân có người đẹp như thế này, quả là không uổng cuộc đời.
              Vương Doãn nói rằng:
              - Thần già rồi, muốn đem ca nữ đó dâng tặng Thái sư, không biết ý Thái sư như thế nào?
              Đổng Trác nói:
              - Tư đồ hậu ý, ngày sau sẽ báo đáp.
              Xế chiều, Vương Doãn đích thân tiễn Điêu Thiền đến phủ Đổng Trác. Trên đường về, Lữ Bố tay cầm thiên phương hoạ kích, đầu lắc lư, cưỡi ngựa mà đi. Vương Doãn tiến lên hành lễ, Lữ Bố níu tay áo Vương Doãn, hét rằng:
              - Lão thất phu, ông hôm trước hứa gả con gái cho ta, nay lại tặng cho Thái sư, như vậy là có ý gì?
              Vương Doãn đáp rằng:
              - Chỗ này không phải là nơi để nói chuyện, xin đến hàn xá lão phu.
              Hai người về đến phủ, Vương Doãn nói rằng:
              - Tướng quân hiểu lầm rồi. Hôm qua Thái sư nói đến nhà lão phu làm khách, lão phu chuẩn bị yến để hầu. Không ngờ, hôm nay sau khi Đổng Thái sư đến hàn xá, nói rằng, nghe nói lão phu có một cô con gái tên Điêu Thiền, hứa gả cho Lữ Bố con ta làm vợ, có chuyện đó không? Lão phu nói rằng có chuyện đó. Đổng Thái sư muốn nhìn tận mắt, lão phu bèn gọi Điêu Thiền ra. Thái sư bảo rằng, trước tiên để Điêu Thiền vào phủ, sẽ chọn ngày tốt để thành hôn cùng Lữ Bố con ta. Hậu ý của Thái sư, lão phu há dám chối từ?
              Lữ Bố vội cúi đầu tạ tội, nói rằng:
              - Lữ Bố lỗ mãng, đắc tội với nhạc phụ đại nhân, mong thứ tội.
              Vương Doãn bảo rằng:
              - Nhà lão phu hãy con hộp trang sức trên đầu, đến lúc đó sẽ đưa cho tướng quân.
              Lữ Bố cả mừng, trở về lo việc làm chú rể.
              Trưa hôm sau, Lữ Bố đến phủ Đổng Trác. Lữ Bố nghe người hầu nói rằng, Thái sư hôm qua được một người đẹp, hiện giờ vẫn chưa dậy.
              Lữ Bố sợ người đẹp là Điêu Thiền, đến phía sau tẩm thất của Đổng Trác. Điêu Thiền đang ngồi bên cửa sổ chải tóc, nhìn thấy trong ao nước bên ngoài cửa sổ phản chiếu bóng người cao lớn. Điêu Thiền nhíu mày lấy khăn lau nước mắt. Lữ Bố nhìn rất lâu, nhưng nhìn không rõ.
              Sau khi Đổng Trác thức dậy, Lữ Bố vào tẩm thất nhìn qua, đúng là Điêu Thiền, lập tức mất hồn mất vía. Đổng Trác nhìn thấy, trong lòng sinh nghi, nói rằng:
              - Lữ Bố, ta mấy ngày nay không được khoẻ, cần phải ở nhà nghỉ ngơi vài hôm, không cần con phải đến đây.
              Lữ Bố sau khi về lại nhà, vội tìm cớ mấy lần đến tướng phủ, nhưng đều không thể tiến vào hậu đường, nhìn không thấy Điêu Thiền....   (còn tiếp)

                                                                     Huỳnh Chương Hưng
                                                                     Quy Nhơn 18/02/2020

    Nguyên tác
    LỮ BỐ
    吕布
    Trong quyển
    HỔ CHI UY
    虎之威
    Tác giả: Hàn Tố Văn 韩素文
    Bắc Kinh: Trung Quốc Trường An xuất bản xã, 2006.

    Dịch thuật: Lữ Bố (tiếp theo kì 2)

    Đăng lúc  18:22  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    LỮ BỐ
    (tiếp theo kì 2)

              Ngày hôm sau, nghị bàn xong chính sự, Vương Doãn thấy một mình Đổng Trác ở lại, bèn tiến lên bái thỉnh, nói rằng:
              - Trong phủ của hạ quan có rượu ngon, lại có mấy ca kĩ, mời Thái sư đến hàn xá, không biết Thái sư có hân hạnh nhận lời cho?
              Đổng Trác thấy Vương Doãn chủ động nịnh mình, cười nói rằng:
              - Tư đồ đại nhân mời, há dám không tuân! Ngày mai nhất định sẽ đến tôn phủ.
              Vương Doãn sau khi hai ba lần bái tạ, liền về nhà chuẩn bị.
              Sáng hôm sau, Đổng Trác đến dự yến, Vương Doãn thân mặc triều phục, nghinh đón nơi cửa. Đổng Trác được trăm tên vệ sĩ bảo vệ tiến vào sảnh đường. Vương Doãn sắp đặt tiệc ở hai chái hai bên cho vệ sĩ, khoản đãi thịnh tình, rước Đổng Trác tiến vào hậu đường mở tiệc. Vương Doãn dâng rượu, ca tụng thịnh đức của Thái sư mà Chu Công cũng chưa theo kịp, khen Đổng Trác đến mức Đổng Trác trong lòng như nở hoa. Vương Doãn nói rằng, mình ban đêm quan sát  thiên tượng, biết khí số của nhà Hán đã tận, khuyên Đổng Trác xưng đế. Đổng Trác cười bảo rằng:
              - Người biết ta là Tư đồ đại nhân đây! Sau khi việc thành, đại nhân đáng ở vị trí nguyên huân.
              Vương Doãn vội bái tạ.
              Một lát sau, Vương Doãn sai người buông rèm xuống, thắp đuốc lên, sai Điêu Thiền ra dâng điệu múa.
              Điêu Thiền eo thon, tay áo rộng, nhẹ nhàng múa giống như tiên nữ xuống phàm, khiến Đổng Trác nhìn vỗ án khen hay.
              Đổng Trác gọi Điêu Thiền đến trước mặt, hỏi rằng:
              - Cô gái này là người nào?
              Vương Doãn đáp:
              - Đó là ca nữ trong phủ.
              Đổng Trác lại hỏi:
              - Đã là ca nữ, có thể hát một bài chăng?
              Điêu Thiền mấp máy môi đào, theo khúc nhạc mà hát, hát khúc “Dương xuân Bạch tuyết”, khiến Đổng Trác như mất hồn. Đổng Trác hỏi Điêu Thiền:
              - Mĩ nhân tuổi được bao nhiêu?
              Điêu Thiền đáp:
              - Dạ 17.
              Đổng Trác khen rằng:
              - Tư đồ đại nhân có người đẹp như thế này, quả là không uổng cuộc đời.
              Vương Doãn nói rằng:
              - Thần già rồi, muốn đem ca nữ đó dâng tặng Thái sư, không biết ý Thái sư như thế nào?
              Đổng Trác nói:
              - Tư đồ hậu ý, ngày sau sẽ báo đáp.
              Xế chiều, Vương Doãn đích thân tiễn Điêu Thiền đến phủ Đổng Trác. Trên đường về, Lữ Bố tay cầm thiên phương hoạ kích, đầu lắc lư, cưỡi ngựa mà đi. Vương Doãn tiến lên hành lễ, Lữ Bố níu tay áo Vương Doãn, hét rằng:
              - Lão thất phu, ông hôm trước hứa gả con gái cho ta, nay lại tặng cho Thái sư, như vậy là có ý gì?
              Vương Doãn đáp rằng:
              - Chỗ này không phải là nơi để nói chuyện, xin đến hàn xá lão phu.
              Hai người về đến phủ, Vương Doãn nói rằng:
              - Tướng quân hiểu lầm rồi. Hôm qua Thái sư nói đến nhà lão phu làm khách, lão phu chuẩn bị yến để hầu. Không ngờ, hôm nay sau khi Đổng Thái sư đến hàn xá, nói rằng, nghe nói lão phu có một cô con gái tên Điêu Thiền, hứa gả cho Lữ Bố con ta làm vợ, có chuyện đó không? Lão phu nói rằng có chuyện đó. Đổng Thái sư muốn nhìn tận mắt, lão phu bèn gọi Điêu Thiền ra. Thái sư bảo rằng, trước tiên để Điêu Thiền vào phủ, sẽ chọn ngày tốt để thành hôn cùng Lữ Bố con ta. Hậu ý của Thái sư, lão phu há dám chối từ?
              Lữ Bố vội cúi đầu tạ tội, nói rằng:
              - Lữ Bố lỗ mãng, đắc tội với nhạc phụ đại nhân, mong thứ tội.
              Vương Doãn bảo rằng:
              - Nhà lão phu hãy con hộp trang sức trên đầu, đến lúc đó sẽ đưa cho tướng quân.
              Lữ Bố cả mừng, trở về lo việc làm chú rể.
              Trưa hôm sau, Lữ Bố đến phủ Đổng Trác. Lữ Bố nghe người hầu nói rằng, Thái sư hôm qua được một người đẹp, hiện giờ vẫn chưa dậy.
              Lữ Bố sợ người đẹp là Điêu Thiền, đến phía sau tẩm thất của Đổng Trác. Điêu Thiền đang ngồi bên cửa sổ chải tóc, nhìn thấy trong ao nước bên ngoài cửa sổ phản chiếu bóng người cao lớn. Điêu Thiền nhíu mày lấy khăn lau nước mắt. Lữ Bố nhìn rất lâu, nhưng nhìn không rõ.
              Sau khi Đổng Trác thức dậy, Lữ Bố vào tẩm thất nhìn qua, đúng là Điêu Thiền, lập tức mất hồn mất vía. Đổng Trác nhìn thấy, trong lòng sinh nghi, nói rằng:
              - Lữ Bố, ta mấy ngày nay không được khoẻ, cần phải ở nhà nghỉ ngơi vài hôm, không cần con phải đến đây.
              Lữ Bố sau khi về lại nhà, vội tìm cớ mấy lần đến tướng phủ, nhưng đều không thể tiến vào hậu đường, nhìn không thấy Điêu Thiền....   (còn tiếp)

                                                                     Huỳnh Chương Hưng
                                                                     Quy Nhơn 18/02/2020

    Nguyên tác
    LỮ BỐ
    吕布
    Trong quyển
    HỔ CHI UY
    虎之威
    Tác giả: Hàn Tố Văn 韩素文
    Bắc Kinh: Trung Quốc Trường An xuất bản xã, 2006.

    Thứ Hai, 17 tháng 2, 2020

    NHẤT KHIẾU BẤT THÔNG
    一窍不通
    MỘT KHIẾU CŨNG KHÔNG THÔNG

    Giải thích: “khiếu” là cái lỗ. Nghĩa gốc chỉ một lỗ cũng không thông. Ví việc gì cũng không hiểu, nhìn chung dùng để phúng thích người ngu xuẩn, hồ đồ.
    Xuất xứ: Chiến Quốc . Lã Bất Vi 吕不韦: Lã Thị Xuân Thu – Quá lí 吕氏春秋 - 过理.

              Trụ Vương 纣王của triều Thương hôn dung bạo ngược, rất sủng ái phi tử Đát Kỉ 妲己. Cả ngày từ sáng đến tối chỉ biết uống rượu vui đùa với Đát Kỉ mà không quan tâm đến triều chính, cũng chẳng ngó ngàng đến nỗi thống khổ của bách tính, đồng thời, Trụ Vương lại nghe theo lời của Đát Kỉ, sát hại không ít trung thần, và bách tính vô tội.
              Thúc phụ của Trụ Vương là Tỉ Can 比干 nhìn thấy Trụ Vương hôn dung vô đạo như thế, nhiều lần dâng lời can gián, khuyên Trụ Vương cải tà quy chính làm một quân vương có đạo đức, làm những việc có ích cho đất nước và bách tính.
              Để hưởng lạc và được sủng ái, Đát Kỉ căm ghét Tỉ Can đã xen vào việc của mình, bèn nói với Trụ Vương:
              - Nếu Tỉ Can quả thực là một trung thần, sao ngài không bảo ông ta tự mổ bụng mình, lấy tim gan dâng lên cho ngài?
              Quả nhiên Trụ Vương lệnh cho Tỉ Can mổ bụng mà chết.
              Việc làm của Đát Kỉ đương nhiên là không hề có chút đạo đức nào. Về sau, Khổng Tử 孔子từng bình luận qua chuyện đó, nói rằng:
              - Kì khiếu thông, tắc Tỉ Can bất tử hĩ. (1)
              其窍通, 则比干不死矣
              (Tâm khiếu của Trụ Vương mà thông thì Tỉ Can đã không bị chết)
              Người đời sau đem câu nói của Khổng Tử dẫn thành thành ngữ “nhất khiếu bất thông” 一窍不通.

    Chú của người dịch
    1- Trong Lã Thị Xuân Thu – Quá lí吕氏春秋 - 过理  viết rằng:
              Sát Tỉ Can nhi thị kì tâm, bất thích dã. Khổng Tử văn chi viết: “Kì khiếu thông, tắc Tỉ Can bất tử hĩ”.
              杀比干而视其心, 不适也. 孔子闻之曰: 其窍通, 则比干不死矣”.
              (Giết Tỉ Can mà xem tim ông ta, đó là không hợp với lễ nghĩa. Khổng Tử nghe được chuyện đó, nói rằng: “Nếu như tâm khiếu của Trụ Vương mà thông thì Tỉ Can đã không bị chết”)
              Cao Dụ 高诱 chú rằng:
              Trụ tính bất nhân, tâm bất thông, an vu vi ác, sát Tỉ Can, cố Khổng Tử ngôn kì nhất khiếu thông tắc Tỉ Can bất kiến sát dã.
              纣性不仁, 心不通, 安于为恶, 杀比干. 故孔子言其一窍通则比干不见杀也.
              (Trụ Vương tính bất nhân, tâm không thông đạt, yên tâm làm điều ác, giết Tỉ Can, cho nên Khổng Tử mới nói, tâm của Trụ Vương mà thông đạt thì Tỉ Can đã không bị chết).

                                                             Huỳnh Chương Hưng
                                                   Quy Nhơn 17/02/2020

    Nguyên tác Trung văn
    NHẤT KHIẾU BẤT THÔNG
    一窍不通
    TRUNG QUỐC THÀNH NGỮ CỐ SỰ TỔNG TẬP
    中国成语故事总集
    (tập 1)
    Chủ biên: Đường Kì 唐麒
    Trường Xuân – Thời đại văn nghệ xuất bản xã, 2004

    Dịch thuật: Nhất khiếu bất thông (thành ngữ)

    Đăng lúc  18:36  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    NHẤT KHIẾU BẤT THÔNG
    一窍不通
    MỘT KHIẾU CŨNG KHÔNG THÔNG

    Giải thích: “khiếu” là cái lỗ. Nghĩa gốc chỉ một lỗ cũng không thông. Ví việc gì cũng không hiểu, nhìn chung dùng để phúng thích người ngu xuẩn, hồ đồ.
    Xuất xứ: Chiến Quốc . Lã Bất Vi 吕不韦: Lã Thị Xuân Thu – Quá lí 吕氏春秋 - 过理.

              Trụ Vương 纣王của triều Thương hôn dung bạo ngược, rất sủng ái phi tử Đát Kỉ 妲己. Cả ngày từ sáng đến tối chỉ biết uống rượu vui đùa với Đát Kỉ mà không quan tâm đến triều chính, cũng chẳng ngó ngàng đến nỗi thống khổ của bách tính, đồng thời, Trụ Vương lại nghe theo lời của Đát Kỉ, sát hại không ít trung thần, và bách tính vô tội.
              Thúc phụ của Trụ Vương là Tỉ Can 比干 nhìn thấy Trụ Vương hôn dung vô đạo như thế, nhiều lần dâng lời can gián, khuyên Trụ Vương cải tà quy chính làm một quân vương có đạo đức, làm những việc có ích cho đất nước và bách tính.
              Để hưởng lạc và được sủng ái, Đát Kỉ căm ghét Tỉ Can đã xen vào việc của mình, bèn nói với Trụ Vương:
              - Nếu Tỉ Can quả thực là một trung thần, sao ngài không bảo ông ta tự mổ bụng mình, lấy tim gan dâng lên cho ngài?
              Quả nhiên Trụ Vương lệnh cho Tỉ Can mổ bụng mà chết.
              Việc làm của Đát Kỉ đương nhiên là không hề có chút đạo đức nào. Về sau, Khổng Tử 孔子từng bình luận qua chuyện đó, nói rằng:
              - Kì khiếu thông, tắc Tỉ Can bất tử hĩ. (1)
              其窍通, 则比干不死矣
              (Tâm khiếu của Trụ Vương mà thông thì Tỉ Can đã không bị chết)
              Người đời sau đem câu nói của Khổng Tử dẫn thành thành ngữ “nhất khiếu bất thông” 一窍不通.

    Chú của người dịch
    1- Trong Lã Thị Xuân Thu – Quá lí吕氏春秋 - 过理  viết rằng:
              Sát Tỉ Can nhi thị kì tâm, bất thích dã. Khổng Tử văn chi viết: “Kì khiếu thông, tắc Tỉ Can bất tử hĩ”.
              杀比干而视其心, 不适也. 孔子闻之曰: 其窍通, 则比干不死矣”.
              (Giết Tỉ Can mà xem tim ông ta, đó là không hợp với lễ nghĩa. Khổng Tử nghe được chuyện đó, nói rằng: “Nếu như tâm khiếu của Trụ Vương mà thông thì Tỉ Can đã không bị chết”)
              Cao Dụ 高诱 chú rằng:
              Trụ tính bất nhân, tâm bất thông, an vu vi ác, sát Tỉ Can, cố Khổng Tử ngôn kì nhất khiếu thông tắc Tỉ Can bất kiến sát dã.
              纣性不仁, 心不通, 安于为恶, 杀比干. 故孔子言其一窍通则比干不见杀也.
              (Trụ Vương tính bất nhân, tâm không thông đạt, yên tâm làm điều ác, giết Tỉ Can, cho nên Khổng Tử mới nói, tâm của Trụ Vương mà thông đạt thì Tỉ Can đã không bị chết).

                                                             Huỳnh Chương Hưng
                                                   Quy Nhơn 17/02/2020

    Nguyên tác Trung văn
    NHẤT KHIẾU BẤT THÔNG
    一窍不通
    TRUNG QUỐC THÀNH NGỮ CỐ SỰ TỔNG TẬP
    中国成语故事总集
    (tập 1)
    Chủ biên: Đường Kì 唐麒
    Trường Xuân – Thời đại văn nghệ xuất bản xã, 2004


    BA THU DỌN LẠI MỘT NGÀY DÀI GHÊ (248)
                “Ba thu” xuất xứ từ bài Thái cát 采葛Vương phong 王風 trong Kinh Thi.
              Bài Thái cát có 3 chương, mỗi chương 3 câu:
    Bỉ thái cát hề
    Nhất nhật bất kiến
    Như tam nguyệt hề.

    Bỉ thái tiêu hề
    Nhất nhật bất kiến
    Như tam thu hề

    Bỉ thái ngải hề
    Nhất nhật bất kiến
    Như tam tuế hề

    彼采葛兮
    一日不見
    如三月兮

    彼采蕭兮
    一日不見
    如三秋兮

    彼采艾兮
    一日不見
    如三歲兮

    Người đi hái dây sắn dây kia
    Một ngày mà không gặp
    Thì dài như ba tháng

    Người đi hái cỏ tiêu kia
    Một ngày mà không gặp
    Thì dài như chín tháng

    Người đi hái cỏ ngải kia
    Một ngày mà không gặp
    Thì dài như ba năm

    Sầu đong càng lắc càng đầy
    Ba thu dọn lại một ngày dài ghê
    (“Truyện Kiều” 247 – 248)
    Ba thu: Dịch thoát câu thơ trong Kinh Thi “Nhất nhật bất kiến, như tam thu hề” là “Một ngày không thấy nhau, dài như ba mùa thu”, đây chỉ ba năm.
    (Đào Duy Anh: “Từ điển Truyện Kiều”, nxb Khoa học xã hội, Hà Nội – 1989)
    Trong “Kim Vân Kiều” (Đoạn trường tân thanh) do Bùi Khánh Diễn chú thích, ghi rằng:
              Quốc phong: Nhất nhật bất kiến như tam thu hề.
              國風: 一日不見如三秋兮
              (Thơ Quốc phong: một ngày chẳng thấy xem bằng ba thu)
    (Sài Gòn: nxb Sống Mới, 1960) 

    Xét: Với “tam nguyệt” (3 tháng) “tam thu” (3 thu) “tam tuế” (3 năm) thì “tam nguyệt” và “tam tuế” cụ thể, chỉ có “tam thu” là trừu tượng.
    Khổng Dĩnh Đạt 孔颖达chú rằng:
    Niên hữu tứ thời, thời giai tam nguyệt, tam thu vị cửu nguyệt dã.
    年有四时, 时有三月, 三秋谓九月也
    (Một năm có 4 mùa, mỗi mùa có 3 tháng, tam thu là nói 9 tháng)
              Nhìn từ toàn bài có thể thấy, khái niệm thời gian tăng dần từ 3 tháng đến 3 mùa tức 9 tháng rồi đến 3 năm là hợp lí hơn.
     Theo “Tư liệu Truyện Kiều  - Bản Duy Minh Thị 1872” do GS Nguyễn Tài Cẩn phiên Nôm, thì câu 247 và 248 này là:
    Sầu đong càng KHẮC  càng đầy
    Ba thu GIỌN lại một ngày dài ghê
                                                                                     (Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2002)

                                                                          Huỳnh Chương Hưng
                                                                          Quy Nhơn 17/02/2020


    Dịch thuật: Ba thu dọn lại một ngày dài ghê (248) ("Truyện Kiều")

    Đăng lúc  10:05  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »


    BA THU DỌN LẠI MỘT NGÀY DÀI GHÊ (248)
                “Ba thu” xuất xứ từ bài Thái cát 采葛Vương phong 王風 trong Kinh Thi.
              Bài Thái cát có 3 chương, mỗi chương 3 câu:
    Bỉ thái cát hề
    Nhất nhật bất kiến
    Như tam nguyệt hề.

    Bỉ thái tiêu hề
    Nhất nhật bất kiến
    Như tam thu hề

    Bỉ thái ngải hề
    Nhất nhật bất kiến
    Như tam tuế hề

    彼采葛兮
    一日不見
    如三月兮

    彼采蕭兮
    一日不見
    如三秋兮

    彼采艾兮
    一日不見
    如三歲兮

    Người đi hái dây sắn dây kia
    Một ngày mà không gặp
    Thì dài như ba tháng

    Người đi hái cỏ tiêu kia
    Một ngày mà không gặp
    Thì dài như chín tháng

    Người đi hái cỏ ngải kia
    Một ngày mà không gặp
    Thì dài như ba năm

    Sầu đong càng lắc càng đầy
    Ba thu dọn lại một ngày dài ghê
    (“Truyện Kiều” 247 – 248)
    Ba thu: Dịch thoát câu thơ trong Kinh Thi “Nhất nhật bất kiến, như tam thu hề” là “Một ngày không thấy nhau, dài như ba mùa thu”, đây chỉ ba năm.
    (Đào Duy Anh: “Từ điển Truyện Kiều”, nxb Khoa học xã hội, Hà Nội – 1989)
    Trong “Kim Vân Kiều” (Đoạn trường tân thanh) do Bùi Khánh Diễn chú thích, ghi rằng:
              Quốc phong: Nhất nhật bất kiến như tam thu hề.
              國風: 一日不見如三秋兮
              (Thơ Quốc phong: một ngày chẳng thấy xem bằng ba thu)
    (Sài Gòn: nxb Sống Mới, 1960) 

    Xét: Với “tam nguyệt” (3 tháng) “tam thu” (3 thu) “tam tuế” (3 năm) thì “tam nguyệt” và “tam tuế” cụ thể, chỉ có “tam thu” là trừu tượng.
    Khổng Dĩnh Đạt 孔颖达chú rằng:
    Niên hữu tứ thời, thời giai tam nguyệt, tam thu vị cửu nguyệt dã.
    年有四时, 时有三月, 三秋谓九月也
    (Một năm có 4 mùa, mỗi mùa có 3 tháng, tam thu là nói 9 tháng)
              Nhìn từ toàn bài có thể thấy, khái niệm thời gian tăng dần từ 3 tháng đến 3 mùa tức 9 tháng rồi đến 3 năm là hợp lí hơn.
     Theo “Tư liệu Truyện Kiều  - Bản Duy Minh Thị 1872” do GS Nguyễn Tài Cẩn phiên Nôm, thì câu 247 và 248 này là:
    Sầu đong càng KHẮC  càng đầy
    Ba thu GIỌN lại một ngày dài ghê
                                                                                     (Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2002)

                                                                          Huỳnh Chương Hưng
                                                                          Quy Nhơn 17/02/2020


    Chủ Nhật, 16 tháng 2, 2020

    TƯ MÃ QUANG VỚI “TƯ TRỊ THÔNG GIÁM”
    (tiếp theo)

              Tư Mã Quang lần đầu tiên sáng lập biên niên thể thông sử Tư trị thông giám 司治通鉴 . “Biên niên thể” 编年体 là một hình thức thể tài theo thứ tự ngày tháng năm mà thuật lại sự việc. Các bộ sử thư nổi tiếng áp dụng thể tài này biên soạn, có Xuân Thu 春秋, Tả truyện 左传, Hán kỉ 汉纪, Hậu Hán kỉ 后汉纪 đều là sử đồng đại. Tư Mã Quang là người đầu tiên viết thông sử theo thể biên niên. Tư Mã Quang coi trọng lịch sử Trung Quốc từ sau khi vương triều Tần kiến lập, thu nạp 16 đời, biên soạn bộ thông sử biên niên to lớn. Toàn sách bắt đầu từ năm 403 trước công nguyên đến năm Hiển Đức 显德 thứ 6 (năm 959) đời Thế Tông 世宗 nhà Hậu Chu. Tư Mã Quang vận dụng sáng tạo, trong biên độ thời gian 1362 năm, đối với sự hưng suy trị loạn của các đời và sự mừng lo vui buồn của bách tính bình dân đã triển khai tổng kết toàn diện. Trong sách vừa miêu tả điển hình Hán Đường trị thế, lại trình bày rõ nét thời Chiến Quốc, Ngũ đại loạn thế, mà độ dài của loạn thế luôn vượt qua bút mực trị thế, tình huống mạt thế của vương triều một họ so với cảnh tượng thịnh thế miêu tả càng tường tận hơn; đối với kẻ thồng trị, vừa chép các vị đế vương gọi là “nhân , minh , vũ” , Tể tướng chính trị thanh minh và đại thần dám can gián, xiển thuật những lời hay việc tốt về chính trị chăm dân của họ, lại chép cả hành vi bạo ngược của  bạo quân hôn chúa, gian tặc nịnh thần và tham quan ô lại, vạch trần các tội ác và việc làm xấu xa của họ. Cho dù hoàng đế kiệt xuất như Đường Thái Tông, cũng chỉ ra những khiếm khuyết của ông ta. Thông giám không né tránh mâu thuẫn gay gắt giữa dân với quan, ghi chép tường tận nguyên nhân nông dân khởi nghĩa của các đời, kinh qua hoạt động trấn áp của kẻ thống trị. Dưới ngòi bút của Tư Mã Quang, nguyên nhân Vương Tiên Chi 王仙芝 nổi dậy ở Trường Viên 长垣, Hoàng Sào 黄巢 tụ tập chúng nhân ở Tào Châu 曹州 là:
              Tự Ý Tông dĩ lai, xa xỉ nhật thậm, dụng binh bất tức, phú liễm dũ cấp. Quan Đông liên niên thuỷ hạn, châu huyện bất dĩ thực văn, thượng hạ tương mông, bách tính lưu biễu, vô sở khống tố, tương tụ vi đạo, sở tại phong khởi.
              自懿宗以来, 奢侈日甚, 用兵不息, 赋敛愈急. 关东连年水旱, 州县不以实闻, 上下相蒙, 百姓流殍, 无所控诉, 相聚为盗, 所在蜂起.
              (Từ Ý Tông trở đi, việc xa xỉ ngày càng nhiều, dùng binh không nghỉ, thuế thu càng ngặt. Vùng Quan Đông nhiều năm thuỷ tai hạn tai mà châu huyện nghe không cho là thực, trên dưới dối nhau, bách tính tha hương chết đói, không biết tố cáo nơi đâu, nên tụ họp với nhau làm trộm cướp, nổi lên như bầy ong nơi đó)
    nên khởi nghĩa đã phát triển, mà:
    Sổ nguyệt chi gian, chúng chí sổ vạn
    数月之间, 众至数万
    (Chỉ trong mấy tháng mà số người đông đến cả mấy vạn)
              Hướng mà khí thế quân khởi nghĩa nhắm tới đã khiến văn võ vương triều Đường chỉ nghe hơi gió mà đã khiếp đảm, đại quân phiệt Cao Biền 高骈 nắm giữ trọng binh cũng không dám kháng cự; nghĩa quân chiếm lĩnh Lạc Dương 洛阳, quân kỉ đạt đến trình độ nghiêm minh “lư lí yến nhiên” 闾里宴然 (thôn xóm yên vui), hãm Đồng Quan 潼关, đóng quân ở Trường An 长安, thể hiện tình hình:
    Giáp kị như lưu, tri trọng tắc đồ, thiên lí lạc dịch bất tuyệt.
    甲骑如流, 辎重塞途, 千里络绎不绝
              (Quân giáp kị đông như nước chảy, khí giới lương thảo nhiều đến nỗi tắc cả đường, đại quân nối nhau qua lại ngàn dặm liên miên không dứt)
              Còn dân chúng thì:
    Giáp đạo tụ quan
    夹道聚观
    (Tụ tập hai bên đường xem)
              Tất cả những sự kiện đó đều kí thuật một cách chân thực, toàn diện và sinh động, hoàn bị hơn hẳn hai bộ chính sử là TânCựu Đường thư, cho thấy một cách khách quan quy luật xã hội quan bức thì dân phản.
              Để hoàn thành việc biên soạn Thông giám, Tư Mã Quang lần đầu tiên sáng tạo ra một loạt phương pháp khoa học hoá.
    Bước đầu tiên: định ra đề cương, bao gồm 2 hạng mục công tác là sự mục tiêu biểu và tư liệu phụ chú. Đề cương yêu cầu thời gian minh xác, phải chuẩn bị cụ thể.
    Bước thứ 2: biên sửa thành trường biên, tức viết ra bản thảo. Lúc viết bản thảo, phải dựa theo thứ tự của đề cương, đem những tư liệu của cùng một sự mục kiểm tra, hỗ tương tham chiếu so sánh, chọn những tư liệu tốt, tu chính văn từ, dùng đại tự viết vào chính văn, gặp những chỗ ghi chép mơ hồ thì dùng tiểu tự phụ chú phía dưới chính văn, đồng thời nói rõ lí do chọn và bỏ. Trường biên yêu cầu “ninh thất vu phồn, vô thất vu lược” 宁失于繁, 毋失于略 (thà văn chương có thể thua ở chỗ viết quá rườm rà phức tạp chứ không thể bại ở chỗ viết quá đơn giản sơ lược).
    Bước thứ 3: san cải bản thảo. Bao gồm quyền hành chọn hay bỏ nội dung, tái thẩm tra sử liệu, gia công nhuận sắc văn tự.
              Nhiệm vụ hai bước đầu tiên do 3 trợ thủ lần lượt theo sở trường của mình và theo sự phân công mà dần hoàn thành. Bước cuối cùng do một mình Tư Mã Quang hoàn thành. Cả 3 bước làm nên một vòng tròn gắn bó chặt chẽ. Thông giám là một kinh nghiệm quý báu được lưu lại trong việc biên soạn biên niên sử.
              Ngoài ra, Tư Mã Quang còn tiến một bước hoàn thiện phương pháp tự sự và phương pháp bình luận của biên niên thể sử thư. Đối với một số sự kiện trọng đại thì ghi chép liên tục từ đầu đến cuối, rất tường tận, hình thành chương tiết tương đối độc lập. Đối với lịch sử của một thời kì nào đó thì tập trung kí thuật  một hai sự kiện lớn, có khi kiêm cả ghi lại những việc khác khiến chủ thứ phân minh, nổi bật trung tâm. Tự sự trường thiên thường dùng “truy tự pháp” 追叙法, trước tiên thuật lai lịch, thứ đến là bản sự; hoặc dùng “bổ tự pháp” 补叙法, nói rõ hậu quả. Sự việc cùng loại thì cho lời tự, cách vận dụng rộng rãi một số phương pháp tự sự này, đã mở rộng phạm vi kí sự biên niên sử, cũng bổ sung những chỗ thiếu sót vốn có của thể biên niên. Trong phần tự sự có thêm bình luận. Phần bình luận hoặc dùng cụm “thần Quang viết” 臣光曰 bày tỏ ý kiến của riêng bản thân, hoặc mượn lời bình của người khác, kết hợp bình luận trực tiếp và bình luận gián tiếp.
              Tư Mã Quang đọc rất nhiều các loại sử liệu, chắt lọc thành văn bút ưu mĩ lưu loát, tinh luyện xảo diệu, khiến tuyệt nhiên không có ai “ninh tập bản thư, đãi khuy tân lục” 宁习本书, 怠窥新录 (thà quen bản gốc, nhác xem ghi chép mới), đối với việc miêu thuật chiến tranh lại càng vô cùng hấp dẫn.
              Việc biên soạn Thông giám của Tư Mã Quang đã có ảnh hưởng rất sâu rộng. Về sau, phong khí bổ sung cho trước, nối tiếp theo sau đại thịnh, hình thành hàng loạt. Sử thư kí sự theo thể bản mạt, văn thư theo thể cương mục cải biên Thông giám mà thành đã hình thành phong khí thịnh đạt tươi mới, như mặt trời giữa ban trưa; những trước tác chú thích, bổ đính, bình luận Thông giám nối gót nhau mà trổi dậy, tự thành một hệ thống, do đó hình thành nên “Thông giám học” 通鉴学. Đại sư lí học Chu Hi 朱熹, đại gia tư tưởng Vương Phu chi 王夫之, cũng tự giác gia nhập đội ngũ “Thông giám học”. (hết)

                                                              Huỳnh Chương Hưng
                                                              Quy Nhơn 16/02/2020

    TRUNG HOA THƯỢNG HẠ NGŨ THIÊN NIÊN
    中华上下五千年
    Chủ biên: Lí Tinh 李晶
    Nam Kinh đại học xuất bản xã, 2007

    Dịch thuật: Tư Mã Quang với "Tư trị thông giám" (tiếp theo)

    Đăng lúc  19:27  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    TƯ MÃ QUANG VỚI “TƯ TRỊ THÔNG GIÁM”
    (tiếp theo)

              Tư Mã Quang lần đầu tiên sáng lập biên niên thể thông sử Tư trị thông giám 司治通鉴 . “Biên niên thể” 编年体 là một hình thức thể tài theo thứ tự ngày tháng năm mà thuật lại sự việc. Các bộ sử thư nổi tiếng áp dụng thể tài này biên soạn, có Xuân Thu 春秋, Tả truyện 左传, Hán kỉ 汉纪, Hậu Hán kỉ 后汉纪 đều là sử đồng đại. Tư Mã Quang là người đầu tiên viết thông sử theo thể biên niên. Tư Mã Quang coi trọng lịch sử Trung Quốc từ sau khi vương triều Tần kiến lập, thu nạp 16 đời, biên soạn bộ thông sử biên niên to lớn. Toàn sách bắt đầu từ năm 403 trước công nguyên đến năm Hiển Đức 显德 thứ 6 (năm 959) đời Thế Tông 世宗 nhà Hậu Chu. Tư Mã Quang vận dụng sáng tạo, trong biên độ thời gian 1362 năm, đối với sự hưng suy trị loạn của các đời và sự mừng lo vui buồn của bách tính bình dân đã triển khai tổng kết toàn diện. Trong sách vừa miêu tả điển hình Hán Đường trị thế, lại trình bày rõ nét thời Chiến Quốc, Ngũ đại loạn thế, mà độ dài của loạn thế luôn vượt qua bút mực trị thế, tình huống mạt thế của vương triều một họ so với cảnh tượng thịnh thế miêu tả càng tường tận hơn; đối với kẻ thồng trị, vừa chép các vị đế vương gọi là “nhân , minh , vũ” , Tể tướng chính trị thanh minh và đại thần dám can gián, xiển thuật những lời hay việc tốt về chính trị chăm dân của họ, lại chép cả hành vi bạo ngược của  bạo quân hôn chúa, gian tặc nịnh thần và tham quan ô lại, vạch trần các tội ác và việc làm xấu xa của họ. Cho dù hoàng đế kiệt xuất như Đường Thái Tông, cũng chỉ ra những khiếm khuyết của ông ta. Thông giám không né tránh mâu thuẫn gay gắt giữa dân với quan, ghi chép tường tận nguyên nhân nông dân khởi nghĩa của các đời, kinh qua hoạt động trấn áp của kẻ thống trị. Dưới ngòi bút của Tư Mã Quang, nguyên nhân Vương Tiên Chi 王仙芝 nổi dậy ở Trường Viên 长垣, Hoàng Sào 黄巢 tụ tập chúng nhân ở Tào Châu 曹州 là:
              Tự Ý Tông dĩ lai, xa xỉ nhật thậm, dụng binh bất tức, phú liễm dũ cấp. Quan Đông liên niên thuỷ hạn, châu huyện bất dĩ thực văn, thượng hạ tương mông, bách tính lưu biễu, vô sở khống tố, tương tụ vi đạo, sở tại phong khởi.
              自懿宗以来, 奢侈日甚, 用兵不息, 赋敛愈急. 关东连年水旱, 州县不以实闻, 上下相蒙, 百姓流殍, 无所控诉, 相聚为盗, 所在蜂起.
              (Từ Ý Tông trở đi, việc xa xỉ ngày càng nhiều, dùng binh không nghỉ, thuế thu càng ngặt. Vùng Quan Đông nhiều năm thuỷ tai hạn tai mà châu huyện nghe không cho là thực, trên dưới dối nhau, bách tính tha hương chết đói, không biết tố cáo nơi đâu, nên tụ họp với nhau làm trộm cướp, nổi lên như bầy ong nơi đó)
    nên khởi nghĩa đã phát triển, mà:
    Sổ nguyệt chi gian, chúng chí sổ vạn
    数月之间, 众至数万
    (Chỉ trong mấy tháng mà số người đông đến cả mấy vạn)
              Hướng mà khí thế quân khởi nghĩa nhắm tới đã khiến văn võ vương triều Đường chỉ nghe hơi gió mà đã khiếp đảm, đại quân phiệt Cao Biền 高骈 nắm giữ trọng binh cũng không dám kháng cự; nghĩa quân chiếm lĩnh Lạc Dương 洛阳, quân kỉ đạt đến trình độ nghiêm minh “lư lí yến nhiên” 闾里宴然 (thôn xóm yên vui), hãm Đồng Quan 潼关, đóng quân ở Trường An 长安, thể hiện tình hình:
    Giáp kị như lưu, tri trọng tắc đồ, thiên lí lạc dịch bất tuyệt.
    甲骑如流, 辎重塞途, 千里络绎不绝
              (Quân giáp kị đông như nước chảy, khí giới lương thảo nhiều đến nỗi tắc cả đường, đại quân nối nhau qua lại ngàn dặm liên miên không dứt)
              Còn dân chúng thì:
    Giáp đạo tụ quan
    夹道聚观
    (Tụ tập hai bên đường xem)
              Tất cả những sự kiện đó đều kí thuật một cách chân thực, toàn diện và sinh động, hoàn bị hơn hẳn hai bộ chính sử là TânCựu Đường thư, cho thấy một cách khách quan quy luật xã hội quan bức thì dân phản.
              Để hoàn thành việc biên soạn Thông giám, Tư Mã Quang lần đầu tiên sáng tạo ra một loạt phương pháp khoa học hoá.
    Bước đầu tiên: định ra đề cương, bao gồm 2 hạng mục công tác là sự mục tiêu biểu và tư liệu phụ chú. Đề cương yêu cầu thời gian minh xác, phải chuẩn bị cụ thể.
    Bước thứ 2: biên sửa thành trường biên, tức viết ra bản thảo. Lúc viết bản thảo, phải dựa theo thứ tự của đề cương, đem những tư liệu của cùng một sự mục kiểm tra, hỗ tương tham chiếu so sánh, chọn những tư liệu tốt, tu chính văn từ, dùng đại tự viết vào chính văn, gặp những chỗ ghi chép mơ hồ thì dùng tiểu tự phụ chú phía dưới chính văn, đồng thời nói rõ lí do chọn và bỏ. Trường biên yêu cầu “ninh thất vu phồn, vô thất vu lược” 宁失于繁, 毋失于略 (thà văn chương có thể thua ở chỗ viết quá rườm rà phức tạp chứ không thể bại ở chỗ viết quá đơn giản sơ lược).
    Bước thứ 3: san cải bản thảo. Bao gồm quyền hành chọn hay bỏ nội dung, tái thẩm tra sử liệu, gia công nhuận sắc văn tự.
              Nhiệm vụ hai bước đầu tiên do 3 trợ thủ lần lượt theo sở trường của mình và theo sự phân công mà dần hoàn thành. Bước cuối cùng do một mình Tư Mã Quang hoàn thành. Cả 3 bước làm nên một vòng tròn gắn bó chặt chẽ. Thông giám là một kinh nghiệm quý báu được lưu lại trong việc biên soạn biên niên sử.
              Ngoài ra, Tư Mã Quang còn tiến một bước hoàn thiện phương pháp tự sự và phương pháp bình luận của biên niên thể sử thư. Đối với một số sự kiện trọng đại thì ghi chép liên tục từ đầu đến cuối, rất tường tận, hình thành chương tiết tương đối độc lập. Đối với lịch sử của một thời kì nào đó thì tập trung kí thuật  một hai sự kiện lớn, có khi kiêm cả ghi lại những việc khác khiến chủ thứ phân minh, nổi bật trung tâm. Tự sự trường thiên thường dùng “truy tự pháp” 追叙法, trước tiên thuật lai lịch, thứ đến là bản sự; hoặc dùng “bổ tự pháp” 补叙法, nói rõ hậu quả. Sự việc cùng loại thì cho lời tự, cách vận dụng rộng rãi một số phương pháp tự sự này, đã mở rộng phạm vi kí sự biên niên sử, cũng bổ sung những chỗ thiếu sót vốn có của thể biên niên. Trong phần tự sự có thêm bình luận. Phần bình luận hoặc dùng cụm “thần Quang viết” 臣光曰 bày tỏ ý kiến của riêng bản thân, hoặc mượn lời bình của người khác, kết hợp bình luận trực tiếp và bình luận gián tiếp.
              Tư Mã Quang đọc rất nhiều các loại sử liệu, chắt lọc thành văn bút ưu mĩ lưu loát, tinh luyện xảo diệu, khiến tuyệt nhiên không có ai “ninh tập bản thư, đãi khuy tân lục” 宁习本书, 怠窥新录 (thà quen bản gốc, nhác xem ghi chép mới), đối với việc miêu thuật chiến tranh lại càng vô cùng hấp dẫn.
              Việc biên soạn Thông giám của Tư Mã Quang đã có ảnh hưởng rất sâu rộng. Về sau, phong khí bổ sung cho trước, nối tiếp theo sau đại thịnh, hình thành hàng loạt. Sử thư kí sự theo thể bản mạt, văn thư theo thể cương mục cải biên Thông giám mà thành đã hình thành phong khí thịnh đạt tươi mới, như mặt trời giữa ban trưa; những trước tác chú thích, bổ đính, bình luận Thông giám nối gót nhau mà trổi dậy, tự thành một hệ thống, do đó hình thành nên “Thông giám học” 通鉴学. Đại sư lí học Chu Hi 朱熹, đại gia tư tưởng Vương Phu chi 王夫之, cũng tự giác gia nhập đội ngũ “Thông giám học”. (hết)

                                                              Huỳnh Chương Hưng
                                                              Quy Nhơn 16/02/2020

    TRUNG HOA THƯỢNG HẠ NGŨ THIÊN NIÊN
    中华上下五千年
    Chủ biên: Lí Tinh 李晶
    Nam Kinh đại học xuất bản xã, 2007

    Mã nguồn bởi Huỳnh Chương Hưng
    Copyright © 2012 Huỳnh Chương Hưng.
    back to top