• Thứ Tư, 18 tháng 9, 2019



    VÌ SAO HOÀNG ĐẾ CÁC ĐỜI
     TÔN KHỔNG TỬ LÀ “VẠN THẾ SƯ BIỂU”

              Thời Xuân Thu, vương quyền của vương triều Chu suy yếu, một số quan viên cảm thấy thiên hạ sắp động loạn, bèn lũ lượt rời bỏ triều đình, có người đến nước chư hầu phục vụ cho chư hầu đó, có người đến với dân gian. Đồng thời, dưới cục diện chư hầu phân tranh, một số quan viên của các nước chư hầu  nhân vì sự suy yếu của nước mình, cũng lần lượt đến với dân gian. Thế là văn hoá xuất hiện sự dời chuyển, văn hóa dân gian hưng khởi.
             Vốn trước thời Xuân Thu, giáo dục bị quan viên lũng đoạn, trong dân gian không có giáo dục. Một số quan viên văn hoá sau khi đến với dân gian, bắt đầu truyền thụ văn hoá và lễ nghi, thế là tư học dân gian hưng khởi. Liễu Hạ Huệ 柳下惠 nước Lỗ, Đặng Tích 邓析 nước Trịnh đều từng thiết lập tư học, truyền thụ tri thức văn hoá. Những người này hoặc sớm hơn Khổng Tử 孔子, hoặc cùng thời với Khổng Tử. Cho nên, Khổng Tử không phải là người lập tư học sớm nhất.
              Khổng Tư khi còn trẻ đã để chí vào giáo dục, thu nhận học trò dạy học. Ông đích thân san định chỉnh lí 6 bộ sách:  Thi kinh 诗经, Thượng thư 尚书, Dịch kinh 易经, Lễ nghi 礼仪, Xuân thu 春秋, Nhạc kinh 乐经, dùng 6 bộ sách này làm giáo trình cho mình, đề xuất quan niệm giáo dục “hữu giáo vô loại” và phương pháp học tập “tri hành hợp nhất”, đồng thời đề xuất nội dung giáo dục “nhân” , “nghĩa” , “lễ” , “trí” , “tín” và mục tiêu bồi dưỡng “quân tử” 君子. Trong lịch sử Trung Quốc lần đầu tiên thiết lập tư học có quy mô và tương đối hệ thống, sử chép về Khổng Tử:
    Đệ tử tam thiên, thân thông lục nghệ giả thất thập nhị nhân.
    弟子三千, 身通六艺者七十二人
    (Học trò của ông có đến 3000 người, riêng tinh thông lục nghệ là 72 người)
              Giáo dục tư học của Khổng Tử bất luận tại đương thời hay tại hậu thế đều phát sinh ảnh hưởng sâu rộng, nhân đó, từ một ý nghĩa nào đó mà nói, Khổng Tử có thể xem là người đầu tiên mở tư học ở Trung Quốc.
              Là một vị giáo dục gia vĩ đại, Khổng Tử nhân vì sự nghiệp giáo dục và tinh thần giáo dục mà ông được hậu thế kính ngưỡng. Niên hiệu Hoàng Sơ 黄初năm thứ 2 nhà Nguỵ, khi Nguỵ Văn Đế 魏文帝 phát chiếu sách phong hậu duệ Khổng Tử, xưng Khổng tử là “Nghi Tái Chi Sư Biểu” 仪载之师表. Niên hiệu Chí Đại 至大nguyên niên triều Nguyên, Vũ Tông 武宗trong chiếu thư khi gia phong Khổng Tử là “Đại Thành Chí Thánh Văn Tuyên Vương” 大成至圣文宣王 đã xưng Khổng Tử là “Sư Biểu Vạn Thế” 师表万世. Đến đời Thanh vào năm Khang Hi 康熙 thứ 52, hoàng đế Khang Hi tại điện Đại Thành 大成ở Khổng miếu đã tự tay đề tấm biển “Vạn Thế Sư Biểu” 万世师表.
              Các đế vương hậu thế sở dĩ nhiều lần truy phong Khổng Tử, tôn là “Vạn Thế Sư Biểu”, chủ yếu là nhân vì học thuyết Nho gia trước giờ luôn tôn sùng vương đạo, học thuyết luân lí của Khổng Tử cùng sự đề xướng tư tưởng trung hiếu cũng có lợi cho kẻ thống trị trong việc bảo vệ sự thống trị  cùng sự ổn định xã hội, cho nên đế vương các đời đều có ý thức tôn phụng Khổng Tử. Nhất là hoàng đế của 2 triều Nguyên và Thanh, bởi vì là dân tộc thiểu số thống trị Hán tộc, đặc biệt về phương diện tinh thần cần có được sự nhận đồng của người Hán, nên càng nhiệt tâm thông qua việc tôn phụng Khổng Tử để có được tâm lí nhận đồng của Hán tộc.

                                                                  Huỳnh Chương Hưng
                                                                  Quy Nhơn 18/9/2019

    Nguyên tác Trung văn
    Trong quyển
    THÚ VỊ VĂN HOÁ TRI THỨC ĐẠI TOÀN
    趣味文化知识大全
    Thanh Thạch 青石 biên soạn
    Trung Quốc Hoa kiều xuất bản xã, 2013

    Dịch thuật: Vì sao hoàng đế các đời tôn Khổng Tử là "Vạn Thế Sư Biểu"

    Đăng lúc  17:32  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »



    VÌ SAO HOÀNG ĐẾ CÁC ĐỜI
     TÔN KHỔNG TỬ LÀ “VẠN THẾ SƯ BIỂU”

              Thời Xuân Thu, vương quyền của vương triều Chu suy yếu, một số quan viên cảm thấy thiên hạ sắp động loạn, bèn lũ lượt rời bỏ triều đình, có người đến nước chư hầu phục vụ cho chư hầu đó, có người đến với dân gian. Đồng thời, dưới cục diện chư hầu phân tranh, một số quan viên của các nước chư hầu  nhân vì sự suy yếu của nước mình, cũng lần lượt đến với dân gian. Thế là văn hoá xuất hiện sự dời chuyển, văn hóa dân gian hưng khởi.
             Vốn trước thời Xuân Thu, giáo dục bị quan viên lũng đoạn, trong dân gian không có giáo dục. Một số quan viên văn hoá sau khi đến với dân gian, bắt đầu truyền thụ văn hoá và lễ nghi, thế là tư học dân gian hưng khởi. Liễu Hạ Huệ 柳下惠 nước Lỗ, Đặng Tích 邓析 nước Trịnh đều từng thiết lập tư học, truyền thụ tri thức văn hoá. Những người này hoặc sớm hơn Khổng Tử 孔子, hoặc cùng thời với Khổng Tử. Cho nên, Khổng Tử không phải là người lập tư học sớm nhất.
              Khổng Tư khi còn trẻ đã để chí vào giáo dục, thu nhận học trò dạy học. Ông đích thân san định chỉnh lí 6 bộ sách:  Thi kinh 诗经, Thượng thư 尚书, Dịch kinh 易经, Lễ nghi 礼仪, Xuân thu 春秋, Nhạc kinh 乐经, dùng 6 bộ sách này làm giáo trình cho mình, đề xuất quan niệm giáo dục “hữu giáo vô loại” và phương pháp học tập “tri hành hợp nhất”, đồng thời đề xuất nội dung giáo dục “nhân” , “nghĩa” , “lễ” , “trí” , “tín” và mục tiêu bồi dưỡng “quân tử” 君子. Trong lịch sử Trung Quốc lần đầu tiên thiết lập tư học có quy mô và tương đối hệ thống, sử chép về Khổng Tử:
    Đệ tử tam thiên, thân thông lục nghệ giả thất thập nhị nhân.
    弟子三千, 身通六艺者七十二人
    (Học trò của ông có đến 3000 người, riêng tinh thông lục nghệ là 72 người)
              Giáo dục tư học của Khổng Tử bất luận tại đương thời hay tại hậu thế đều phát sinh ảnh hưởng sâu rộng, nhân đó, từ một ý nghĩa nào đó mà nói, Khổng Tử có thể xem là người đầu tiên mở tư học ở Trung Quốc.
              Là một vị giáo dục gia vĩ đại, Khổng Tử nhân vì sự nghiệp giáo dục và tinh thần giáo dục mà ông được hậu thế kính ngưỡng. Niên hiệu Hoàng Sơ 黄初năm thứ 2 nhà Nguỵ, khi Nguỵ Văn Đế 魏文帝 phát chiếu sách phong hậu duệ Khổng Tử, xưng Khổng tử là “Nghi Tái Chi Sư Biểu” 仪载之师表. Niên hiệu Chí Đại 至大nguyên niên triều Nguyên, Vũ Tông 武宗trong chiếu thư khi gia phong Khổng Tử là “Đại Thành Chí Thánh Văn Tuyên Vương” 大成至圣文宣王 đã xưng Khổng Tử là “Sư Biểu Vạn Thế” 师表万世. Đến đời Thanh vào năm Khang Hi 康熙 thứ 52, hoàng đế Khang Hi tại điện Đại Thành 大成ở Khổng miếu đã tự tay đề tấm biển “Vạn Thế Sư Biểu” 万世师表.
              Các đế vương hậu thế sở dĩ nhiều lần truy phong Khổng Tử, tôn là “Vạn Thế Sư Biểu”, chủ yếu là nhân vì học thuyết Nho gia trước giờ luôn tôn sùng vương đạo, học thuyết luân lí của Khổng Tử cùng sự đề xướng tư tưởng trung hiếu cũng có lợi cho kẻ thống trị trong việc bảo vệ sự thống trị  cùng sự ổn định xã hội, cho nên đế vương các đời đều có ý thức tôn phụng Khổng Tử. Nhất là hoàng đế của 2 triều Nguyên và Thanh, bởi vì là dân tộc thiểu số thống trị Hán tộc, đặc biệt về phương diện tinh thần cần có được sự nhận đồng của người Hán, nên càng nhiệt tâm thông qua việc tôn phụng Khổng Tử để có được tâm lí nhận đồng của Hán tộc.

                                                                  Huỳnh Chương Hưng
                                                                  Quy Nhơn 18/9/2019

    Nguyên tác Trung văn
    Trong quyển
    THÚ VỊ VĂN HOÁ TRI THỨC ĐẠI TOÀN
    趣味文化知识大全
    Thanh Thạch 青石 biên soạn
    Trung Quốc Hoa kiều xuất bản xã, 2013

    Thứ Ba, 17 tháng 9, 2019

    CHỮ “TẬP”
    习  習
    Bính âm xi (thanh điệu 2)

    3 nét
    11 nét

    1- Học đi học lại, luyện tập
              Tập tự 习字 / tập tác 习作 / phục tập 复习 / diễn tập 演习.
    2- Nhân vì thường tiếp xúc mà thành thạo, quen thuộc
              Tập kiến 习见 / tập dụng 习用 / tập dĩ vi thường 习以为常.
    3- Tập quán
              Tập tục 习俗 / ác tập 恶习 / tích tập 积习 / trần quy lậu tập 陈规陋习.

    Thuyết giải
              Chữ , bộ , kết cấu độc thể.
              Chữ bỏ chữ ở dưới và một chữ ở trên thành chữ . Dùng chữ làm chữ giản hoá cho chữ , bảo lưu được bộ phận đặc trưng nhất của chữ gốc.
              Chữ ngày trước quy về bộ (vũ).

                                                          Huỳnh Chương Hưng
                                                          Quy Nhơn 17/9/2019

    Nguồn
    GIẢN HOÁ TỰ, PHỒN THỂ TỰ ĐỐI CHIẾU TỰ ĐIỂN
    简化字繁体字对照字典
    Chủ biên: Giang Lam Sinh 江蓝生, Lục Tôn Ngô 陆尊梧
    Thượng Hải – Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 1998

    Phụ lục
    Chữ
    1- Học đi học lại, như giảng tập 講習, học tập 學習.
    2- Quen, thạo, như tập kiến 習見thấy quen; tập văn  習聞 nghe quen.
    3- Tập quen, phàm cái gì vì tập quen không đổi đi được đều gọi là tập, như tập nhiễm 習染.
    4- Chi bay vi vụt
    5- Chồng, hai lần.

    (Thiều Chửu: Hán Việt tự điển, nxb Hồng Đức, 2015, trang 454)

    Dịch thuật: Chữ "tập" (Đối chiếu tự điển)

    Đăng lúc  18:06  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    CHỮ “TẬP”
    习  習
    Bính âm xi (thanh điệu 2)

    3 nét
    11 nét

    1- Học đi học lại, luyện tập
              Tập tự 习字 / tập tác 习作 / phục tập 复习 / diễn tập 演习.
    2- Nhân vì thường tiếp xúc mà thành thạo, quen thuộc
              Tập kiến 习见 / tập dụng 习用 / tập dĩ vi thường 习以为常.
    3- Tập quán
              Tập tục 习俗 / ác tập 恶习 / tích tập 积习 / trần quy lậu tập 陈规陋习.

    Thuyết giải
              Chữ , bộ , kết cấu độc thể.
              Chữ bỏ chữ ở dưới và một chữ ở trên thành chữ . Dùng chữ làm chữ giản hoá cho chữ , bảo lưu được bộ phận đặc trưng nhất của chữ gốc.
              Chữ ngày trước quy về bộ (vũ).

                                                          Huỳnh Chương Hưng
                                                          Quy Nhơn 17/9/2019

    Nguồn
    GIẢN HOÁ TỰ, PHỒN THỂ TỰ ĐỐI CHIẾU TỰ ĐIỂN
    简化字繁体字对照字典
    Chủ biên: Giang Lam Sinh 江蓝生, Lục Tôn Ngô 陆尊梧
    Thượng Hải – Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 1998

    Phụ lục
    Chữ
    1- Học đi học lại, như giảng tập 講習, học tập 學習.
    2- Quen, thạo, như tập kiến 習見thấy quen; tập văn  習聞 nghe quen.
    3- Tập quen, phàm cái gì vì tập quen không đổi đi được đều gọi là tập, như tập nhiễm 習染.
    4- Chi bay vi vụt
    5- Chồng, hai lần.

    (Thiều Chửu: Hán Việt tự điển, nxb Hồng Đức, 2015, trang 454)

    Thứ Hai, 16 tháng 9, 2019

    NGŨ KINH, THẬP TAM KINH, TỨ THƯ

              Người triều Hán tôn trọng trứ tác cổ điển của Nho gia gọi là “kinh thư” 经书, ý nghĩa của chữ “kinh” là đạo thường, dùng cho đến hiện nay. Kì thực, nguyên ý của “kinh” là sợi chỉ, gọi là “kinh thư” chính là sách đóng theo kiểu buộc chỉ. Thời cổ ghi chép sự việc trên thẻ giản (trúc giản 竹简), nhiều việc chỉ một thẻ giản ghi không hết, nên đã viết lên nhiều thẻ giản, sợi chỉ để nối những thẻ giản đó lại với nhau chính là “kinh”. Có thể thấy, “kinh” chẳng qua là sách mà đương thời số trang tương đối nhiều lại thường lật qua lại để đọc, hoàn toàn không có ý nghĩa sâu xa nào khác.
              Danh xưng “Lục kinh”, đầu tiên phát hiện trong Trang Tử 庄子. Trang Tử庄子Lễ Kí – Kinh giải thiên礼记 - 经解篇 đều lấy Thi , Thư , Lễ , Nhạc , Xuân Thu 春秋, Dịch làm “Lục kinh”. Ban Cố 班固 trong Hán thư – Nghệ văn chí 汉书 - 艺文志 xưng là “Lục nghệ”. Nhưng do bởi Nhạc kinh 乐经 thất tán, chỉ tồn thiên Nhạc kí 乐记, cho nhập vào Lễ kinh 礼经, thế là có danh mục “Ngũ kinh”. Đến thời Đường, bộ Xuân Thu 春秋 dựa theo Tả truyện 左传, Công Dương truyện 公羊传, Cốc Lương truyện 穀梁传 phân thành 3 loại, Lễ kinh 礼经 cũng phân ra Chu lễ 周礼, Nghi lễ 仪礼, Đới lễ 戴礼 (Lễ kí 礼记) 3 loại, lập “tam truyện”, hiệu xưng của “tam lễ”, phối hợp với Dịch , Thư , Thi xưng là “Cửu kinh”. Đến thời Tống, cộng thêm 4 loại là Nhĩ nhã 尔雅, Hiếu kinh 孝经, Luận ngữ 论语, Mạnh Tử 孟子 , gọi là “Thập tam kinh”. Tống Nho Chu Hi 朱熹 lấy ra 2 thiên Đại học 大学 Trung dung 中庸 trong Lễ kí 礼记  in thành bản độc lập, hợp cùng Luận ngữ 论语 Mạnh Tử 孟子 xưng là “Tứ thư”, đồng thời chú giải kĩ lưỡng, trở thành bộ phận tối tinh mĩ cổ điển của Nho gia, thế là khoa cử khảo thí, tất phải căn cứ vào “Tứ thư” mà ra đề, và Luận , Mạnh , Học , Dung là sách cần phải đọc của học sinh tiểu học.
              Ban Cố 班固trong Nghệ văn chí 艺文志 đem Nho gia liệt vào chư tử, xem lục kinh là lục nghệ, liệt vào trước chư tử, dụng ý cho rằng “Lục kinh” là quan thư cổ đại, không phải là trứ tác riêng của Nho gia, hơn nữa Lục kinh là nguồn gốc học thuật sâu xa của bách gia chư tử, thiên Nghệ văn chí 艺文志 của Ban Cố nói rất rõ ràng. Chẳng qua Ban Cố đem Luận ngữ 论语, Hiếu kinh 孝经, đưa vào cuối Lục nghệ, tức biểu thị có sự tôn trọng đặc biệt đối với trứ tác của bản thân Khổng môn.  Tóm lại, Dịch , Thi , Thư , Xuân Thu 春秋, Lễ kí 礼记, nếu nói theo Kinh học gia phái cổ văn, thì không phải là trứ tác riêng của Khổng thị, quan điểm này nhìn chung được các học giả có kiến thức thừa nhận.
              Chương Học Thành 章学诚 (tự Thực Trai 实斋) đời Thanh trong Văn sử thông nghĩa 文史通义 đã chỉ rõ “Lục kinh giai sử dã” 六经皆史也 (Lục kinh đều là sử cả). Người xưa đã nói Thượng thư 尚书 là sử kí ngôn, Xuân Thu 春秋 là sử kỉ sự, còn như “Tam lễ” ghi chép về quan chế lễ nghi thời cổ, thì rõ ràng là thuộc sử chế độ; Quốc phong 国风 trong Thi kinh 诗经 là sử phong tục; Nhã , Tụng thì bao hàm nhiều truyền thuyết cố sự về sự biến đổi xã hội, Dịch kinh 易经 là sách về bốc phệ, có thể xem là tài liệu về sử tôn giáo, sử tư  tưởng, trong đó văn tự loại như ở quẻ xăm cũng bao hàm cố sự truyền thuyết, cho nên toàn bộ đều là sử liệu.
              Hiện nay kinh thư bản thông hành hoàn bị nhất là Thập tam kinh chú sớ 十三经注疏 do Nguyễn Nguyên 阮元 triều Thanh khắc, số quyển rất nhiều. Trừ chính văn có chuyên in chú sớ, còn có Thập tam kinh bạch văn 十三经白文 của Thương vụ quán, rất tiện cho việc đọc.
             
                                                                     Huỳnh Chương Hưng
                                                                     Quy Nhơn 16/9/2019

    Nguyên tác
    NGŨ KINH, THẬP TAM KINH, TỨ THƯ
    五经, 十三经, 四书
    Trong quyển
    QUỐC HỌC THƯỜNG THỨC
    国学常识
    Tác giả: Tào Bá Hàn 曹伯韩
    Bắc Kinh: Hoá học công nghiệp xuất bản xã, 2017

    Dịch thuật: Ngũ kinh, Thập tam kinh, Tứ thư

    Đăng lúc  17:46  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    NGŨ KINH, THẬP TAM KINH, TỨ THƯ

              Người triều Hán tôn trọng trứ tác cổ điển của Nho gia gọi là “kinh thư” 经书, ý nghĩa của chữ “kinh” là đạo thường, dùng cho đến hiện nay. Kì thực, nguyên ý của “kinh” là sợi chỉ, gọi là “kinh thư” chính là sách đóng theo kiểu buộc chỉ. Thời cổ ghi chép sự việc trên thẻ giản (trúc giản 竹简), nhiều việc chỉ một thẻ giản ghi không hết, nên đã viết lên nhiều thẻ giản, sợi chỉ để nối những thẻ giản đó lại với nhau chính là “kinh”. Có thể thấy, “kinh” chẳng qua là sách mà đương thời số trang tương đối nhiều lại thường lật qua lại để đọc, hoàn toàn không có ý nghĩa sâu xa nào khác.
              Danh xưng “Lục kinh”, đầu tiên phát hiện trong Trang Tử 庄子. Trang Tử庄子Lễ Kí – Kinh giải thiên礼记 - 经解篇 đều lấy Thi , Thư , Lễ , Nhạc , Xuân Thu 春秋, Dịch làm “Lục kinh”. Ban Cố 班固 trong Hán thư – Nghệ văn chí 汉书 - 艺文志 xưng là “Lục nghệ”. Nhưng do bởi Nhạc kinh 乐经 thất tán, chỉ tồn thiên Nhạc kí 乐记, cho nhập vào Lễ kinh 礼经, thế là có danh mục “Ngũ kinh”. Đến thời Đường, bộ Xuân Thu 春秋 dựa theo Tả truyện 左传, Công Dương truyện 公羊传, Cốc Lương truyện 穀梁传 phân thành 3 loại, Lễ kinh 礼经 cũng phân ra Chu lễ 周礼, Nghi lễ 仪礼, Đới lễ 戴礼 (Lễ kí 礼记) 3 loại, lập “tam truyện”, hiệu xưng của “tam lễ”, phối hợp với Dịch , Thư , Thi xưng là “Cửu kinh”. Đến thời Tống, cộng thêm 4 loại là Nhĩ nhã 尔雅, Hiếu kinh 孝经, Luận ngữ 论语, Mạnh Tử 孟子 , gọi là “Thập tam kinh”. Tống Nho Chu Hi 朱熹 lấy ra 2 thiên Đại học 大学 Trung dung 中庸 trong Lễ kí 礼记  in thành bản độc lập, hợp cùng Luận ngữ 论语 Mạnh Tử 孟子 xưng là “Tứ thư”, đồng thời chú giải kĩ lưỡng, trở thành bộ phận tối tinh mĩ cổ điển của Nho gia, thế là khoa cử khảo thí, tất phải căn cứ vào “Tứ thư” mà ra đề, và Luận , Mạnh , Học , Dung là sách cần phải đọc của học sinh tiểu học.
              Ban Cố 班固trong Nghệ văn chí 艺文志 đem Nho gia liệt vào chư tử, xem lục kinh là lục nghệ, liệt vào trước chư tử, dụng ý cho rằng “Lục kinh” là quan thư cổ đại, không phải là trứ tác riêng của Nho gia, hơn nữa Lục kinh là nguồn gốc học thuật sâu xa của bách gia chư tử, thiên Nghệ văn chí 艺文志 của Ban Cố nói rất rõ ràng. Chẳng qua Ban Cố đem Luận ngữ 论语, Hiếu kinh 孝经, đưa vào cuối Lục nghệ, tức biểu thị có sự tôn trọng đặc biệt đối với trứ tác của bản thân Khổng môn.  Tóm lại, Dịch , Thi , Thư , Xuân Thu 春秋, Lễ kí 礼记, nếu nói theo Kinh học gia phái cổ văn, thì không phải là trứ tác riêng của Khổng thị, quan điểm này nhìn chung được các học giả có kiến thức thừa nhận.
              Chương Học Thành 章学诚 (tự Thực Trai 实斋) đời Thanh trong Văn sử thông nghĩa 文史通义 đã chỉ rõ “Lục kinh giai sử dã” 六经皆史也 (Lục kinh đều là sử cả). Người xưa đã nói Thượng thư 尚书 là sử kí ngôn, Xuân Thu 春秋 là sử kỉ sự, còn như “Tam lễ” ghi chép về quan chế lễ nghi thời cổ, thì rõ ràng là thuộc sử chế độ; Quốc phong 国风 trong Thi kinh 诗经 là sử phong tục; Nhã , Tụng thì bao hàm nhiều truyền thuyết cố sự về sự biến đổi xã hội, Dịch kinh 易经 là sách về bốc phệ, có thể xem là tài liệu về sử tôn giáo, sử tư  tưởng, trong đó văn tự loại như ở quẻ xăm cũng bao hàm cố sự truyền thuyết, cho nên toàn bộ đều là sử liệu.
              Hiện nay kinh thư bản thông hành hoàn bị nhất là Thập tam kinh chú sớ 十三经注疏 do Nguyễn Nguyên 阮元 triều Thanh khắc, số quyển rất nhiều. Trừ chính văn có chuyên in chú sớ, còn có Thập tam kinh bạch văn 十三经白文 của Thương vụ quán, rất tiện cho việc đọc.
             
                                                                     Huỳnh Chương Hưng
                                                                     Quy Nhơn 16/9/2019

    Nguyên tác
    NGŨ KINH, THẬP TAM KINH, TỨ THƯ
    五经, 十三经, 四书
    Trong quyển
    QUỐC HỌC THƯỜNG THỨC
    国学常识
    Tác giả: Tào Bá Hàn 曹伯韩
    Bắc Kinh: Hoá học công nghiệp xuất bản xã, 2017

    Chủ Nhật, 15 tháng 9, 2019

    CHIÊU QUÂN XUẤT TÁI

              Hán Tuyên Đế 汉宣帝 nguyên danh là Lưu Bệnh Dĩ 刘病已, sau khi lên ngôi đổi tên là Lưu Tuân 刘询. Ông là vị hoàng đế thứ 10 của triều Hán, cũng là tằng tôn của Hán Vũ Đế 汉武帝. Tổ phụ của Lưu Tuân là Lệ thái tử Lưu Cứ 戾太子刘据. Ông sinh ra lúc Lệ thái tử gặp phải hoạ hại, may mà có sự bảo hộ của Đình  uý giám Bính Cát 廷尉监邴吉  (1) nên ông mới bảo toàn được tính mệnh.

              Từ năm 73 đến năm 49 trước công nguyên, Hán Tuyên Đế tại vị. Hán Tuyên Đế tiếp tục chính sách ổn định đời sống nhân dân, phát triển sản xuất, khiến quốc lực ngày càng khôi phục cường thịnh. Lúc bấy giờ nội bộ Hung Nô tranh quyền đoạt lợi, chia ra làm mấy bộ, trong đó một nhánh dưới sự lãnh đạo của Hô Hàn Da Thiền vu 呼韩邪单于 (2), đã quy phụ triều Hán vào năm 53 trước công nguyên.
              Sau khi Hán Tuyên Đế qua đời, Hán Nguyên Đế 汉元帝 tức vị. Hô Hàn Da Thiền vu vào năm 33 trước công nguyên lại đến Trường An 长安, bái kiến Hán Nguyên Đế, đồng thời xin được hoà thân cùng triều Hán.
              Hán Nguyên Đế đãi theo khách lễ, đáp ứng hoà thân, truyền lời vào hậu cung rằng: người nào muốn viễn giá Hung Nô, sẽ đãi theo nghi thức công chúa.
              Đại bộ phận cung nữ tuy không muốn cuộc sống tịch mịch trong cung, nhưng cũng không muốn chịu khổ nơi biên tái. Lúc bấy giờ có một cung nữ tên Vương Tường 王嫱nghe được tin, tự nguyện đến Hung Nô hoà thân. Hán Nguyên Đế bèn hứa gã Vương Tường cho Hô Hàn Da Thiền vu.
              Vương Tường tự Chiêu Quân 昭君, người Tỉ Quy 秭归 Hồ Bắc 湖北, có thiên tư quốc sắc. Lúc nàng ban đầu nhập cung, Hán Nguyên Đế dựa vào hình vẽ cung nữ mà triệu hạnh, người nào được ân sủng sẽ phong làm phi tần. Các cung nữ lũ lượt lối lộ hoạ sư Mao Diên Thọ 毛延寿, thỉnh cầu ông ta vẽ bản thân mình đẹp một chút. Riêng Chiêu Quân con người  chính trực, không muốn hối lộ cho kẻ tiểu nhân tham lợi này, một xu cũng không đưa. Mao Diên Thọ vô cùng căm giận, bèn vẽ Chiêu Quân rất xấu, cho nên Chiêu Quân mấy năm không gặp được Hán Nguyên Đế.
              Đợi đến lúc Chiêu Quân xuất giá, Nguyên Đế triệu kiến Chiêu Quân mới phát hiện nàng vốn rất đẹp. Nguyên Đế muốn giữ nàng lại, nhưng đã lỡ hứa, cuối cùng đành phải để Chiêu Quân ra ngoài biên tái.
              Sau khi Chiêu Quân ra đi, Hán Nguyên Đế càng nghĩ càng giận, thế là sai người đem tranh vẽ Chiêu Quân đến xem. Nguyên Đế phát hiện tranh vẽ với con người Chiêu Quân có chút giống, nhưng hoàn toàn không vẽ được nét khả ái của nàng. Hán Nguyên Đế được biết thủ đoạn của Mao Diên Thọ, bèn Đem Mao Diên Thọ ra giết. Để kỉ niệm Hán Hung hoà thân, Hán Nguyên Đế đổi niên hiệu là “Cánh Ninh” 竟宁.
              Hô Hàn Da Thiền vu đưa Chiêu Quân về tái bắc, phong làm “Ninh Hồ Yên Chi” 宁胡阏氏 (3). Chiêu Quân dần thích ứng với cuộc sống nơi tái ngoại, đối xử với người Hung Nô rất tốt, người Hung Nô cũng rất thích nàng, tôn kính nàng. Chiêu Quân khuyên Hô Hàn Da Thiền vu không nên phát động chiến tranh, nàng lại còn đem văn hoá trung nguyên truyền vào Hung Nô. Từ đó, hai tộc Hán Hung đối xử hoà mục hơn 60 năm, dọc theo Trường Thành ngựa trâu đầy đồng. Chiêu Quân xuất tái đã có cống hiến đối với sự phát triển và củng cố mối quan hệ đoàn kết hữu hảo giữa hai tộc Hán và Hung Nô, trở thành một giai thoại trong lịch sử quan hệ các dân tộc Trung Quốc.

    Phụ lục
              Năm 92 trước công nguyên, triều Hán rất phát triển vu thuật, trong cung các nữ vu 女巫 qua lại nhiều, điều đó khiến Hán Vũ Đế Lưu Triệt 刘彻đại nộ, giết chết mấy trăm cung nữ và đại thần hành nghề vu thuật, phong khí vu thuật trở lại bình lặng. Nhưng đại thần Vương Sung 王充 kết oán với Lệ thái tử Lưu Cứ 戾太子刘据 nói rằng trong cung hãy còn khí trùng độc. Hán Vũ Đế sai người vào cung tra xét, phát hiện trong cung thái tử một số lượng lớn tượng người gỗ. Thái tử trong lòng rất lo sợ. Thiếu phó bên cạnh thái tử là Thạch Đức 石德 sai người truy sát Vương Sung. Hán Vũ Đế phái binh đối kháng thái tử, thái tử không thể không phản lại, cuối cùng thái tử binh bại tự sát.

    Chú của người dịch
    1- Bính Cát 邴吉 (? – năm 55 trước công nguyên): cũng được viết là 丙吉 tự Thiếu Khanh 少卿, người nước Lỗ (nay thuộc Sơn Đông 山东), danh thần thời Tây Hán. Bính Cát lúc trẻ nghiên cứu luật lệnh, ban đầu giữ chức Ngục sử 狱史 nước Lỗ, sau giữ chức Đình uý giám 廷尉监
    Trong nguyên tác in nhầm là “Kiến uý giám” 建尉监.

    2- Hô Hàn Da Thiền vu呼韩邪单于:
    Về chữ :
              Trong Khang Hi tự điển 康熙字典, chữ có mấy bính âm sau: xié, yé, yú, yá, shé, zuǒ.
              Với bính âm hoặc
              Đường vận 唐韵 phiên thiết là DĨ GIÀ 以遮.
              Tập vận 集韵, Vận hội 韵會, Chính vận 正韻  phiên thiết là DƯ GIÀ 余遮
    Đều có âm là (da).
    Trong Thuyết văn 說文 có Lang Da 琅邪, tên quận. Có Mạc Da 莫邪, tên kiếm, do Đại phu Mạc Da莫邪 nước Ngô tạo ra nên có tên như thế.
              Có Hô Hàn Da 呼韓邪, tên của Hung Nô vương. Nhược Da 若邪 tên sông. Tư Da 胥邪 tên cây.
    (Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 2002, trang 1255)
    3- Ninh Hồ Yên Chi 宁胡阏氏:
              Hai chữ 阏氏 đọc là 焉支 (yên chi), ý nghĩa là vương hậu.

                                                            Huỳnh Chương Hưng
                                                            Quy Nhơn 15/9/2019

    Nguyên tác Trung văn
    CHIÊU QUÂN XUẤT TÁI
    昭君出塞
    Trong quyển
    TRUNG QUỐC LỊCH SỬ CỐ SỰ (tập 2)
    中国历史故事
    Biên soạn: Sơ Dương Tả Tả 初阳姐姐
    Trường Xuân: Cát Lâm văn sử xuất bản xã, 2015

    Dịch thuật: Chiêu Quân xuất tái

    Đăng lúc  18:46  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    CHIÊU QUÂN XUẤT TÁI

              Hán Tuyên Đế 汉宣帝 nguyên danh là Lưu Bệnh Dĩ 刘病已, sau khi lên ngôi đổi tên là Lưu Tuân 刘询. Ông là vị hoàng đế thứ 10 của triều Hán, cũng là tằng tôn của Hán Vũ Đế 汉武帝. Tổ phụ của Lưu Tuân là Lệ thái tử Lưu Cứ 戾太子刘据. Ông sinh ra lúc Lệ thái tử gặp phải hoạ hại, may mà có sự bảo hộ của Đình  uý giám Bính Cát 廷尉监邴吉  (1) nên ông mới bảo toàn được tính mệnh.

              Từ năm 73 đến năm 49 trước công nguyên, Hán Tuyên Đế tại vị. Hán Tuyên Đế tiếp tục chính sách ổn định đời sống nhân dân, phát triển sản xuất, khiến quốc lực ngày càng khôi phục cường thịnh. Lúc bấy giờ nội bộ Hung Nô tranh quyền đoạt lợi, chia ra làm mấy bộ, trong đó một nhánh dưới sự lãnh đạo của Hô Hàn Da Thiền vu 呼韩邪单于 (2), đã quy phụ triều Hán vào năm 53 trước công nguyên.
              Sau khi Hán Tuyên Đế qua đời, Hán Nguyên Đế 汉元帝 tức vị. Hô Hàn Da Thiền vu vào năm 33 trước công nguyên lại đến Trường An 长安, bái kiến Hán Nguyên Đế, đồng thời xin được hoà thân cùng triều Hán.
              Hán Nguyên Đế đãi theo khách lễ, đáp ứng hoà thân, truyền lời vào hậu cung rằng: người nào muốn viễn giá Hung Nô, sẽ đãi theo nghi thức công chúa.
              Đại bộ phận cung nữ tuy không muốn cuộc sống tịch mịch trong cung, nhưng cũng không muốn chịu khổ nơi biên tái. Lúc bấy giờ có một cung nữ tên Vương Tường 王嫱nghe được tin, tự nguyện đến Hung Nô hoà thân. Hán Nguyên Đế bèn hứa gã Vương Tường cho Hô Hàn Da Thiền vu.
              Vương Tường tự Chiêu Quân 昭君, người Tỉ Quy 秭归 Hồ Bắc 湖北, có thiên tư quốc sắc. Lúc nàng ban đầu nhập cung, Hán Nguyên Đế dựa vào hình vẽ cung nữ mà triệu hạnh, người nào được ân sủng sẽ phong làm phi tần. Các cung nữ lũ lượt lối lộ hoạ sư Mao Diên Thọ 毛延寿, thỉnh cầu ông ta vẽ bản thân mình đẹp một chút. Riêng Chiêu Quân con người  chính trực, không muốn hối lộ cho kẻ tiểu nhân tham lợi này, một xu cũng không đưa. Mao Diên Thọ vô cùng căm giận, bèn vẽ Chiêu Quân rất xấu, cho nên Chiêu Quân mấy năm không gặp được Hán Nguyên Đế.
              Đợi đến lúc Chiêu Quân xuất giá, Nguyên Đế triệu kiến Chiêu Quân mới phát hiện nàng vốn rất đẹp. Nguyên Đế muốn giữ nàng lại, nhưng đã lỡ hứa, cuối cùng đành phải để Chiêu Quân ra ngoài biên tái.
              Sau khi Chiêu Quân ra đi, Hán Nguyên Đế càng nghĩ càng giận, thế là sai người đem tranh vẽ Chiêu Quân đến xem. Nguyên Đế phát hiện tranh vẽ với con người Chiêu Quân có chút giống, nhưng hoàn toàn không vẽ được nét khả ái của nàng. Hán Nguyên Đế được biết thủ đoạn của Mao Diên Thọ, bèn Đem Mao Diên Thọ ra giết. Để kỉ niệm Hán Hung hoà thân, Hán Nguyên Đế đổi niên hiệu là “Cánh Ninh” 竟宁.
              Hô Hàn Da Thiền vu đưa Chiêu Quân về tái bắc, phong làm “Ninh Hồ Yên Chi” 宁胡阏氏 (3). Chiêu Quân dần thích ứng với cuộc sống nơi tái ngoại, đối xử với người Hung Nô rất tốt, người Hung Nô cũng rất thích nàng, tôn kính nàng. Chiêu Quân khuyên Hô Hàn Da Thiền vu không nên phát động chiến tranh, nàng lại còn đem văn hoá trung nguyên truyền vào Hung Nô. Từ đó, hai tộc Hán Hung đối xử hoà mục hơn 60 năm, dọc theo Trường Thành ngựa trâu đầy đồng. Chiêu Quân xuất tái đã có cống hiến đối với sự phát triển và củng cố mối quan hệ đoàn kết hữu hảo giữa hai tộc Hán và Hung Nô, trở thành một giai thoại trong lịch sử quan hệ các dân tộc Trung Quốc.

    Phụ lục
              Năm 92 trước công nguyên, triều Hán rất phát triển vu thuật, trong cung các nữ vu 女巫 qua lại nhiều, điều đó khiến Hán Vũ Đế Lưu Triệt 刘彻đại nộ, giết chết mấy trăm cung nữ và đại thần hành nghề vu thuật, phong khí vu thuật trở lại bình lặng. Nhưng đại thần Vương Sung 王充 kết oán với Lệ thái tử Lưu Cứ 戾太子刘据 nói rằng trong cung hãy còn khí trùng độc. Hán Vũ Đế sai người vào cung tra xét, phát hiện trong cung thái tử một số lượng lớn tượng người gỗ. Thái tử trong lòng rất lo sợ. Thiếu phó bên cạnh thái tử là Thạch Đức 石德 sai người truy sát Vương Sung. Hán Vũ Đế phái binh đối kháng thái tử, thái tử không thể không phản lại, cuối cùng thái tử binh bại tự sát.

    Chú của người dịch
    1- Bính Cát 邴吉 (? – năm 55 trước công nguyên): cũng được viết là 丙吉 tự Thiếu Khanh 少卿, người nước Lỗ (nay thuộc Sơn Đông 山东), danh thần thời Tây Hán. Bính Cát lúc trẻ nghiên cứu luật lệnh, ban đầu giữ chức Ngục sử 狱史 nước Lỗ, sau giữ chức Đình uý giám 廷尉监
    Trong nguyên tác in nhầm là “Kiến uý giám” 建尉监.

    2- Hô Hàn Da Thiền vu呼韩邪单于:
    Về chữ :
              Trong Khang Hi tự điển 康熙字典, chữ có mấy bính âm sau: xié, yé, yú, yá, shé, zuǒ.
              Với bính âm hoặc
              Đường vận 唐韵 phiên thiết là DĨ GIÀ 以遮.
              Tập vận 集韵, Vận hội 韵會, Chính vận 正韻  phiên thiết là DƯ GIÀ 余遮
    Đều có âm là (da).
    Trong Thuyết văn 說文 có Lang Da 琅邪, tên quận. Có Mạc Da 莫邪, tên kiếm, do Đại phu Mạc Da莫邪 nước Ngô tạo ra nên có tên như thế.
              Có Hô Hàn Da 呼韓邪, tên của Hung Nô vương. Nhược Da 若邪 tên sông. Tư Da 胥邪 tên cây.
    (Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 2002, trang 1255)
    3- Ninh Hồ Yên Chi 宁胡阏氏:
              Hai chữ 阏氏 đọc là 焉支 (yên chi), ý nghĩa là vương hậu.

                                                            Huỳnh Chương Hưng
                                                            Quy Nhơn 15/9/2019

    Nguyên tác Trung văn
    CHIÊU QUÂN XUẤT TÁI
    昭君出塞
    Trong quyển
    TRUNG QUỐC LỊCH SỬ CỐ SỰ (tập 2)
    中国历史故事
    Biên soạn: Sơ Dương Tả Tả 初阳姐姐
    Trường Xuân: Cát Lâm văn sử xuất bản xã, 2015

    Thứ Bảy, 14 tháng 9, 2019

    TRUNG THU TIẾT
    (kì 4)

    Ngô Cương chặt quế.
              Tương truyền trên cung trăng có Ngô Cương吴刚, người thời Tây Hán, từng theo tiên nhân tu đạo, đến thiên giới, nhưng anh ta phạm phải một sai lầm, tiên nhân biếm anh ta đến mặt trăng, chịu sự trừng phạt là hàng ngày phải chặt cây quế trên cung trăng. Cây quế này rất tươi tốt, cao hơn 500 trượng, mỗi khi chặt, nơi bị chặt lập tức liền lại. Lí Bạch 李白 trong bài Tặng Thôi Tư Hộ Văn Côn Quý 赠崔司户文公昆季viết rằng:
    Dục khảm nguyệt trung quế
    Trì vi hàn giả tân
    欲砍月中桂
    持为寒者薪
    (Muốn chặt cây quế trên cung trăng
    Làm củi tặng cho những người bị lạnh sưởi ấm)

    Thỏ ngọc giã thuốc
              Bên cạnh Thường Nga có con thỏ ngọc. Truyền thuyết kể rằng, khi thân thể Thường Nga trở nên nhẹ và bay lên trời, trong lúc lo sợ đã ôm lấy thỏ ngọc. Thỏ ngọc bèn theo Thường Nga ở lại cung trăng. Trên cung trăng, thỏ ngọc có một cây chày, ngày đêm nó giã thuốc chế ra linh dược trường sinh bất lão. Thần thoại này sau khi truyền đến Nhật Bản, biến thành thỏ ngọc giã bánh.

    Câu chuyện về Huyền Tông
              Tương truyền, Đường Huyền Tông 唐玄宗 cùng Thân Thiên Sư 申天师và đạo sĩ ngắm trăng Trung thu, đột nhiên Huyền Tông nảy ra ý định dạo chơi cung trăng, thế là Thiên Sư làm phép, ba người cùng bước lên mây, dạo chơi đến cung trăng. Nhưng trước cung bảo vệ nghiêm ngặt, không cách nào vào được, đành ở bên ngoài cúi xuống nhìn hoàng thành Trường An 长安. Đương lúc đó, bỗng nhiên nghe từng đợt từng đợt âm thanh truyền đến. Đường Huyền Tông vốn rành âm luật, thế là ghi nhớ trong lòng, đó chính là:
    Thử khúc chỉ ưng thiên thượng hữu
    Nhân gian năng đắc kỉ hồi văn
    此曲只应天上有
    人间能得几回闻
    Khúc nhạc này chỉ có ở trên trời
    Chốn nhân gian có thể nghe được mấy lần?
              Về sau Huyền Tông nhớ lại khúc nhạc tiên nga trên cung trăng, tự phổ thành khúc nhạc, sáng tác ra điệu múa “Nghê thường vũ y khúc” 霓裳羽衣曲nổi tiếng trong lịch sử.

    Nguyệt bính khởi nghĩa
              Trung thu tiết ăn “nguyệt bính” 月饼 (bánh Trung thu) tương truyền bắt đầu từ đời Nguyên. Đương thời, quảng đại nhân dân trung nguyên không kham nỗi sự thống trị tàn khốc của giai cấp thống trị triều Nguyên, lũ lượt khởi nghĩa phản kháng. Chu Nguyên Chương 朱元璋 liên hợp lực lượng phản kháng chuẩn bị khởi nghĩa. Nhưng quan binh triều đình tra xét vô cùng gắt gao, nên tin tức truyền đi vô cùng khó khăn. Quân sư Lưu Bá Ôn 刘伯温 bèn nghĩ ra một kế, lệnh cho thuộc hạ đem tờ giấy có ghi “bát nguyệt thập ngũ dạ khởi nghĩa” giấu trong bánh, rồi sai người chia ra đưa đến trong quân khởi nghĩa ở các nơi, thông báo mọi người đêm 15 tháng 8 hưởng ứng khởi nghĩa. Đến ngày đó, nghĩa quân các lộ nhất tề hưởng ứng.
              Rất nhanh chóng, Từ Đạt 徐达công hạ đại đô triều Nguyên, khởi nghĩa thành công. Tin tức truyền đi, Chu Nguyên Chương vui mừng đến mức truyền khẩu dụ là vào Trung thu tiết năm tới, cho toàn thể chiến sĩ chung vui cùng dân chúng, đồng thời đem “nguyệt bính” mà khi khởi binh đã bí mật truyền đạt tin tức làm loại bánh thưởng cho quần thần. Từ đó, “nguyệt bính” chế tác ngày càng tinh xảo, phẩm chủng cũng càng nhiều . Về sau, tập tục Trung thu tiết ăn “nguyệt bính” lưu truyền đến dân gian.  (hết)

    Phụ lục của người dịch
    1- Ngô Cương chặt quế
    Ngô Cương 吴刚 còn gọi là Ngô Quyền 吴权, người Hà Tây 河西. Nhân lúc Ngô Cương 3 năm rời nhà đi học đạo, cháu của Viêm Đế 炎帝 là Bá Lăng 伯陵 tư thông với vợ Ngô Cương sinh được 3 người con. Khi trở về biết được, Ngô Cương giận dữ giết chết Bá Lăng, việc đó khiến thần mặt trời Viêm Đế tức giận, đày Ngô Cương lên mặt trăng, sai chặt một cây bất tử, đó là cây nguyệt quế 月桂. Nguyệt Quế cao đến hơn 500 trượng, khi chặt hễ rút dao ra thì chỗ chặt liền lại như cũ. Viêm Đế đã dùng hình thức vĩnh viễn lao động để trừng phạt Ngô Cương.
              Vợ Ngô Cương cảm thấy áy náy xấu hổ với chồng nên đã sai 3 đứa con lên mặt trăng làm bạn với Ngô Cương. Một đứa biến thành “con cóc”, một đứa biến thành “con thỏ”, còn đứa thứ 3 thì không rõ.
    Theo http://baike.baidu.com/view/50750htm , đứa thứ 3 biến thành con rắn.
    (Theo Ngô Cảnh Minh吴景明: Thanh thiếu niên tối hỉ hoan đích thần thoại cố sự青少年最喜欢的神话故事, Diên Biên nhân dân xuất bản xã, 2002)

                                                              Huỳnh Chương Hưng
                                                              Quy Nhơn 14/9/2019

    Nguồn


    Dịch thuật: Trung thu tiết (kì 4 - hết)

    Đăng lúc  17:32  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    TRUNG THU TIẾT
    (kì 4)

    Ngô Cương chặt quế.
              Tương truyền trên cung trăng có Ngô Cương吴刚, người thời Tây Hán, từng theo tiên nhân tu đạo, đến thiên giới, nhưng anh ta phạm phải một sai lầm, tiên nhân biếm anh ta đến mặt trăng, chịu sự trừng phạt là hàng ngày phải chặt cây quế trên cung trăng. Cây quế này rất tươi tốt, cao hơn 500 trượng, mỗi khi chặt, nơi bị chặt lập tức liền lại. Lí Bạch 李白 trong bài Tặng Thôi Tư Hộ Văn Côn Quý 赠崔司户文公昆季viết rằng:
    Dục khảm nguyệt trung quế
    Trì vi hàn giả tân
    欲砍月中桂
    持为寒者薪
    (Muốn chặt cây quế trên cung trăng
    Làm củi tặng cho những người bị lạnh sưởi ấm)

    Thỏ ngọc giã thuốc
              Bên cạnh Thường Nga có con thỏ ngọc. Truyền thuyết kể rằng, khi thân thể Thường Nga trở nên nhẹ và bay lên trời, trong lúc lo sợ đã ôm lấy thỏ ngọc. Thỏ ngọc bèn theo Thường Nga ở lại cung trăng. Trên cung trăng, thỏ ngọc có một cây chày, ngày đêm nó giã thuốc chế ra linh dược trường sinh bất lão. Thần thoại này sau khi truyền đến Nhật Bản, biến thành thỏ ngọc giã bánh.

    Câu chuyện về Huyền Tông
              Tương truyền, Đường Huyền Tông 唐玄宗 cùng Thân Thiên Sư 申天师và đạo sĩ ngắm trăng Trung thu, đột nhiên Huyền Tông nảy ra ý định dạo chơi cung trăng, thế là Thiên Sư làm phép, ba người cùng bước lên mây, dạo chơi đến cung trăng. Nhưng trước cung bảo vệ nghiêm ngặt, không cách nào vào được, đành ở bên ngoài cúi xuống nhìn hoàng thành Trường An 长安. Đương lúc đó, bỗng nhiên nghe từng đợt từng đợt âm thanh truyền đến. Đường Huyền Tông vốn rành âm luật, thế là ghi nhớ trong lòng, đó chính là:
    Thử khúc chỉ ưng thiên thượng hữu
    Nhân gian năng đắc kỉ hồi văn
    此曲只应天上有
    人间能得几回闻
    Khúc nhạc này chỉ có ở trên trời
    Chốn nhân gian có thể nghe được mấy lần?
              Về sau Huyền Tông nhớ lại khúc nhạc tiên nga trên cung trăng, tự phổ thành khúc nhạc, sáng tác ra điệu múa “Nghê thường vũ y khúc” 霓裳羽衣曲nổi tiếng trong lịch sử.

    Nguyệt bính khởi nghĩa
              Trung thu tiết ăn “nguyệt bính” 月饼 (bánh Trung thu) tương truyền bắt đầu từ đời Nguyên. Đương thời, quảng đại nhân dân trung nguyên không kham nỗi sự thống trị tàn khốc của giai cấp thống trị triều Nguyên, lũ lượt khởi nghĩa phản kháng. Chu Nguyên Chương 朱元璋 liên hợp lực lượng phản kháng chuẩn bị khởi nghĩa. Nhưng quan binh triều đình tra xét vô cùng gắt gao, nên tin tức truyền đi vô cùng khó khăn. Quân sư Lưu Bá Ôn 刘伯温 bèn nghĩ ra một kế, lệnh cho thuộc hạ đem tờ giấy có ghi “bát nguyệt thập ngũ dạ khởi nghĩa” giấu trong bánh, rồi sai người chia ra đưa đến trong quân khởi nghĩa ở các nơi, thông báo mọi người đêm 15 tháng 8 hưởng ứng khởi nghĩa. Đến ngày đó, nghĩa quân các lộ nhất tề hưởng ứng.
              Rất nhanh chóng, Từ Đạt 徐达công hạ đại đô triều Nguyên, khởi nghĩa thành công. Tin tức truyền đi, Chu Nguyên Chương vui mừng đến mức truyền khẩu dụ là vào Trung thu tiết năm tới, cho toàn thể chiến sĩ chung vui cùng dân chúng, đồng thời đem “nguyệt bính” mà khi khởi binh đã bí mật truyền đạt tin tức làm loại bánh thưởng cho quần thần. Từ đó, “nguyệt bính” chế tác ngày càng tinh xảo, phẩm chủng cũng càng nhiều . Về sau, tập tục Trung thu tiết ăn “nguyệt bính” lưu truyền đến dân gian.  (hết)

    Phụ lục của người dịch
    1- Ngô Cương chặt quế
    Ngô Cương 吴刚 còn gọi là Ngô Quyền 吴权, người Hà Tây 河西. Nhân lúc Ngô Cương 3 năm rời nhà đi học đạo, cháu của Viêm Đế 炎帝 là Bá Lăng 伯陵 tư thông với vợ Ngô Cương sinh được 3 người con. Khi trở về biết được, Ngô Cương giận dữ giết chết Bá Lăng, việc đó khiến thần mặt trời Viêm Đế tức giận, đày Ngô Cương lên mặt trăng, sai chặt một cây bất tử, đó là cây nguyệt quế 月桂. Nguyệt Quế cao đến hơn 500 trượng, khi chặt hễ rút dao ra thì chỗ chặt liền lại như cũ. Viêm Đế đã dùng hình thức vĩnh viễn lao động để trừng phạt Ngô Cương.
              Vợ Ngô Cương cảm thấy áy náy xấu hổ với chồng nên đã sai 3 đứa con lên mặt trăng làm bạn với Ngô Cương. Một đứa biến thành “con cóc”, một đứa biến thành “con thỏ”, còn đứa thứ 3 thì không rõ.
    Theo http://baike.baidu.com/view/50750htm , đứa thứ 3 biến thành con rắn.
    (Theo Ngô Cảnh Minh吴景明: Thanh thiếu niên tối hỉ hoan đích thần thoại cố sự青少年最喜欢的神话故事, Diên Biên nhân dân xuất bản xã, 2002)

                                                              Huỳnh Chương Hưng
                                                              Quy Nhơn 14/9/2019

    Nguồn


    Thứ Sáu, 13 tháng 9, 2019

    TRUNG THU TIẾT
    (kì 3)

    Những biệt xưng của Trung thu tiết
              Căn cứ theo lịch pháp Trung Quốc, tháng 8 âm lịch là giữa mùa thu, là tháng thứ 2 của mùa thu, gọi là “Trọng thu” 仲秋, còn ngày 15 tháng 8 lại là giữa “Trọng thu”, cho nên gọi là “Trung thu” 中秋.
              Trung thu tiết có nhiều biệt xưng:
              - Nhân vì thời kì của tiết là tại 15 tháng 8, cho nên gọi là “Bát nguyệt tiết” 八月节, “Bát nguyệt bán” 八月半.
              - Nhân vì hoạt động chủ yếu trong Trung thu tiết đều vây quay mặt trăng mà tiến hành, cho nên lại tục gọi là “Nguyệt tiết” 月节, “Nguyệt tịch”月夕.
              - Trung thu tiết trăng tròn đầy tượng trưng cho đoàn viên, nhân đó mà gọi là “Đoàn viên tiết” 团圆节.
              - Tại triều Đường, Trung thu tiết còn được gọi là “Đoan chính nguyệt” 端正月.
              Những ghi chép về Đoàn viên tiết thấy sớm nhất vào đời Minh. Trong Tây hồ du lãm chí dư西湖游览志余 có nói:
             Bát nguyệt thập ngũ vị Trung thu, dân gian dĩ nguyệt bính tương tống, thủ đoàn viên chi ý.
              八月十五谓中秋, 民间以月饼相送, 取团圆之意
              (Ngày 15 tháng 8 gọi là Trung thu, trong dân gian dùng bánh có dạng hình tròn như mặt trăng tặng cho nhau, lấy ý nghĩa là đoàn viên. Trong Đế kinh cảnh vật lược 帝京景物略 cũng có nói:
              Bát nguyệt thập ngũ tế nguyệt, kì bính tất viên, phân qua tất nha thác, biện khắc như liên hoa. ..... Kì hữu phụ quy ninh giả, thị nhật tất phản phu gia, viết Đoàn viên tiết dã.
              八月十五祭月, 其饼必圆, 分瓜必牙错, 瓣刻如莲花. ..... 其有妇归宁者, 是日必返夫家, 曰团圆节也.
              (Ngày 15 tháng 5 cúng trăng, bánh phải có dạng hình tròn, bổ dưa phải so le có hình cánh sen. ..... Nếu phụ nữ đã xuất giá thì về lại nhà mẹ đẻ để thăm, nhưng nội ngày đó phải trở lại nhà chồng, gọi Đoàn viên tiết)

    Truyền thuyết thần thoại Trung thu tiết
    Thường Nga bôn nguyệt
              Thời viễn cổ, trên trời xuất hiện 10 mặt trời, nóng đến nỗi mùa màng cây cỏ chết khô, dân không tài nào sống được. Một vị anh hùng tên Hậu Nghệ 后羿, có sức mạnh vô cùng, vì thương cảm bách tính nên kéo cung bắn rơi 9 mặt trời, đồng thời nghiêm lệnh cho một mặt trời cuối cùng phải đúng giờ mà mọc lặn, tạo phúc cho dân. Vợ của Hậu Nghệ tên Thường Nga 嫦娥, Hậu Nghệ ngoài việc truyền dạy nghề săn bắn ra, suốt ngày ở bên cạnh vợ. Không ít chí sĩ mộ danh tiếng đến xin học nghề. Bàng Mông 蓬蒙 (1) tâm thuật bất chính cũng trộn lẫn vào trong số đó.
              Ngày nọ, Hậu Nghệ đến Côn Luân 昆仑 thăm bạn cầu đạo, xin được một gói thuốc bất tử của Vương Mẫu 王母. Theo truyền thuyết, người nào uống thuốc này vào thì có thể ngay lập tức bay lên trời thành tiên. Nhưng Hậu Nghệ không nở bỏ vợ, tạm thời đem thuốc bất tử giao cho vợ cất giữ. Thường Nga giấu gói thuốc  trong hộp bách bảo để nơi bàn trang điểm. Ba ngày sau, Hậu Nghệ dẫn đồ đệ ra ngoài đi săn, Bàng Mông quỷ quyệt giả vờ bệnh không đi, Chẳng bao lâu sau, khi đợi Hậu Nghệ dẫn đồ đệ đi, Bàng Mông cầm kiếm xông vào hậu viện, uy hiếp Thường Nga giao thuốc bất tử. Thường Nga biết mình không phải là đối thủ của Bàng Mông, trong lúc nguy cấp, Thường Nga xoay người mở hộp bách bảo, lấy gói thuốc bất tử nuốt đi. Sau khi nuốt, thân thể Thường Nga liền rời khỏi mặt đất, bay hướng về cửa sổ rồi bay thẳng lên trời. Do bởi Thường Nga nhớ chồng nên đã đáp xuống mặt trăng cách nhân gian gần nhất hoá thành tiên.
              Chiều tối, Hậu Nghệ về lại nhà, các thị nữ khóc lóc kể lại sự tình phát sinh lúc ban ngày, Hậu Nghệ vừa kinh sợ vừa giận, cầm kiếm đi giết chết tên ác đồ. Bàng Mông sớm đã chạy thoát, Hậu Nghệ giận đến mức vò đầu giậm chân, đau khổ vô cùng, ngẩng nhìn lên trời đêm gọi Thường Nga. Lúc bấy giờ Hậu Nghệ phát hiện, trăng đêm nay vô cùng sáng, có một chiếc bóng cực giống Thường Nga đang lay động. Hậu Nghệ nhớ đến vợ, bèn sai người đến hậu hoa viên nơi mà Thường Nga rất thích, bày hương án, đặt những hoa quả bánh mứt mà thường ngày Thường Nga thích ăn, vọng tế Thường Nga nơi cung trăng. Bách tính sau khi biết tin Thường Nga bay lên mặt trăng hoá thành tiên, cũng tấp nập  bày hương án dưới trăng, hướng đến Thường Nga cầu xin bình an cát tường. từ đó, phong tục bái nguyệt vào Trung thu tiết lan truyền trong dân gian. 
                                                                                                    (còn tiếp)

    Chú của người dịch
    1- Bàng Mông蓬蒙:
              蓬蒙 (bính âm là páng méng) cũng được viết là 逢门, 蠭门, người giỏi bắn tên đời Hạ.
              Chúng ta tra tự điển đều dùng theo “Hán ngữ” hiện đại, nhưng nếu tra theo từ điển Hán ngữ cổ sẽ phát hiện chữ ngoài bính âm féng (âm Hán Việt là “phùng” - ND) ra, còn có mục:
              páng: tính. Cổ hữu 逢蒙. (là một họ. Thời cổ có Bàng Mông.)
     Xem Mạnh Tử - Li Lâu hạ 孟子 - 离娄下.
    Có thể thấy, 逢蒙 là chính xác, nhưng tính và tính cùng một gốc, thực tế cũng là cùng một tính, có lúc dùng thông nhau. Thậm chí trong các sách cổ tồn tại đồng thời hai cách viết, nên không thể cho là viết sai.
              Trong Mạnh Tử - Li Lâu hạ 孟子 - 离娄下  ghi rằng:
              Bàng Mông học xạ vu Nghệ, tận Nghệ chi đạo, tư thiên hạ duy Nghệ dũ kĩ, ư thị sát Nghệ.
              逢蒙學射於羿, 盡羿之道, 思天下唯有羿愈己, 於是殺羿
              (Bàng Mông học bắn tên ở Nghệ, học hết kĩ thuật bắn của Nghệ, nghĩ rằng trong thiên hạ chỉ có Nghệ là hơn mình, thế là giết Nghệ.)

                                                               Huỳnh Chương Hưng
                                                              Quy Nhơn 13/9/2019
                                                           Tết Trung thu năm Kỉ Hợi

    Nguồn

    Dịch thuật: Trung thu tiết (kì 3)

    Đăng lúc  21:16  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    TRUNG THU TIẾT
    (kì 3)

    Những biệt xưng của Trung thu tiết
              Căn cứ theo lịch pháp Trung Quốc, tháng 8 âm lịch là giữa mùa thu, là tháng thứ 2 của mùa thu, gọi là “Trọng thu” 仲秋, còn ngày 15 tháng 8 lại là giữa “Trọng thu”, cho nên gọi là “Trung thu” 中秋.
              Trung thu tiết có nhiều biệt xưng:
              - Nhân vì thời kì của tiết là tại 15 tháng 8, cho nên gọi là “Bát nguyệt tiết” 八月节, “Bát nguyệt bán” 八月半.
              - Nhân vì hoạt động chủ yếu trong Trung thu tiết đều vây quay mặt trăng mà tiến hành, cho nên lại tục gọi là “Nguyệt tiết” 月节, “Nguyệt tịch”月夕.
              - Trung thu tiết trăng tròn đầy tượng trưng cho đoàn viên, nhân đó mà gọi là “Đoàn viên tiết” 团圆节.
              - Tại triều Đường, Trung thu tiết còn được gọi là “Đoan chính nguyệt” 端正月.
              Những ghi chép về Đoàn viên tiết thấy sớm nhất vào đời Minh. Trong Tây hồ du lãm chí dư西湖游览志余 có nói:
             Bát nguyệt thập ngũ vị Trung thu, dân gian dĩ nguyệt bính tương tống, thủ đoàn viên chi ý.
              八月十五谓中秋, 民间以月饼相送, 取团圆之意
              (Ngày 15 tháng 8 gọi là Trung thu, trong dân gian dùng bánh có dạng hình tròn như mặt trăng tặng cho nhau, lấy ý nghĩa là đoàn viên. Trong Đế kinh cảnh vật lược 帝京景物略 cũng có nói:
              Bát nguyệt thập ngũ tế nguyệt, kì bính tất viên, phân qua tất nha thác, biện khắc như liên hoa. ..... Kì hữu phụ quy ninh giả, thị nhật tất phản phu gia, viết Đoàn viên tiết dã.
              八月十五祭月, 其饼必圆, 分瓜必牙错, 瓣刻如莲花. ..... 其有妇归宁者, 是日必返夫家, 曰团圆节也.
              (Ngày 15 tháng 5 cúng trăng, bánh phải có dạng hình tròn, bổ dưa phải so le có hình cánh sen. ..... Nếu phụ nữ đã xuất giá thì về lại nhà mẹ đẻ để thăm, nhưng nội ngày đó phải trở lại nhà chồng, gọi Đoàn viên tiết)

    Truyền thuyết thần thoại Trung thu tiết
    Thường Nga bôn nguyệt
              Thời viễn cổ, trên trời xuất hiện 10 mặt trời, nóng đến nỗi mùa màng cây cỏ chết khô, dân không tài nào sống được. Một vị anh hùng tên Hậu Nghệ 后羿, có sức mạnh vô cùng, vì thương cảm bách tính nên kéo cung bắn rơi 9 mặt trời, đồng thời nghiêm lệnh cho một mặt trời cuối cùng phải đúng giờ mà mọc lặn, tạo phúc cho dân. Vợ của Hậu Nghệ tên Thường Nga 嫦娥, Hậu Nghệ ngoài việc truyền dạy nghề săn bắn ra, suốt ngày ở bên cạnh vợ. Không ít chí sĩ mộ danh tiếng đến xin học nghề. Bàng Mông 蓬蒙 (1) tâm thuật bất chính cũng trộn lẫn vào trong số đó.
              Ngày nọ, Hậu Nghệ đến Côn Luân 昆仑 thăm bạn cầu đạo, xin được một gói thuốc bất tử của Vương Mẫu 王母. Theo truyền thuyết, người nào uống thuốc này vào thì có thể ngay lập tức bay lên trời thành tiên. Nhưng Hậu Nghệ không nở bỏ vợ, tạm thời đem thuốc bất tử giao cho vợ cất giữ. Thường Nga giấu gói thuốc  trong hộp bách bảo để nơi bàn trang điểm. Ba ngày sau, Hậu Nghệ dẫn đồ đệ ra ngoài đi săn, Bàng Mông quỷ quyệt giả vờ bệnh không đi, Chẳng bao lâu sau, khi đợi Hậu Nghệ dẫn đồ đệ đi, Bàng Mông cầm kiếm xông vào hậu viện, uy hiếp Thường Nga giao thuốc bất tử. Thường Nga biết mình không phải là đối thủ của Bàng Mông, trong lúc nguy cấp, Thường Nga xoay người mở hộp bách bảo, lấy gói thuốc bất tử nuốt đi. Sau khi nuốt, thân thể Thường Nga liền rời khỏi mặt đất, bay hướng về cửa sổ rồi bay thẳng lên trời. Do bởi Thường Nga nhớ chồng nên đã đáp xuống mặt trăng cách nhân gian gần nhất hoá thành tiên.
              Chiều tối, Hậu Nghệ về lại nhà, các thị nữ khóc lóc kể lại sự tình phát sinh lúc ban ngày, Hậu Nghệ vừa kinh sợ vừa giận, cầm kiếm đi giết chết tên ác đồ. Bàng Mông sớm đã chạy thoát, Hậu Nghệ giận đến mức vò đầu giậm chân, đau khổ vô cùng, ngẩng nhìn lên trời đêm gọi Thường Nga. Lúc bấy giờ Hậu Nghệ phát hiện, trăng đêm nay vô cùng sáng, có một chiếc bóng cực giống Thường Nga đang lay động. Hậu Nghệ nhớ đến vợ, bèn sai người đến hậu hoa viên nơi mà Thường Nga rất thích, bày hương án, đặt những hoa quả bánh mứt mà thường ngày Thường Nga thích ăn, vọng tế Thường Nga nơi cung trăng. Bách tính sau khi biết tin Thường Nga bay lên mặt trăng hoá thành tiên, cũng tấp nập  bày hương án dưới trăng, hướng đến Thường Nga cầu xin bình an cát tường. từ đó, phong tục bái nguyệt vào Trung thu tiết lan truyền trong dân gian. 
                                                                                                    (còn tiếp)

    Chú của người dịch
    1- Bàng Mông蓬蒙:
              蓬蒙 (bính âm là páng méng) cũng được viết là 逢门, 蠭门, người giỏi bắn tên đời Hạ.
              Chúng ta tra tự điển đều dùng theo “Hán ngữ” hiện đại, nhưng nếu tra theo từ điển Hán ngữ cổ sẽ phát hiện chữ ngoài bính âm féng (âm Hán Việt là “phùng” - ND) ra, còn có mục:
              páng: tính. Cổ hữu 逢蒙. (là một họ. Thời cổ có Bàng Mông.)
     Xem Mạnh Tử - Li Lâu hạ 孟子 - 离娄下.
    Có thể thấy, 逢蒙 là chính xác, nhưng tính và tính cùng một gốc, thực tế cũng là cùng một tính, có lúc dùng thông nhau. Thậm chí trong các sách cổ tồn tại đồng thời hai cách viết, nên không thể cho là viết sai.
              Trong Mạnh Tử - Li Lâu hạ 孟子 - 离娄下  ghi rằng:
              Bàng Mông học xạ vu Nghệ, tận Nghệ chi đạo, tư thiên hạ duy Nghệ dũ kĩ, ư thị sát Nghệ.
              逢蒙學射於羿, 盡羿之道, 思天下唯有羿愈己, 於是殺羿
              (Bàng Mông học bắn tên ở Nghệ, học hết kĩ thuật bắn của Nghệ, nghĩ rằng trong thiên hạ chỉ có Nghệ là hơn mình, thế là giết Nghệ.)

                                                               Huỳnh Chương Hưng
                                                              Quy Nhơn 13/9/2019
                                                           Tết Trung thu năm Kỉ Hợi

    Nguồn

    Thứ Năm, 12 tháng 9, 2019

    TRUNG THU TIẾT
    (kì 2)

              Càng thú vị hơn trong Tân biên tuý ông đàm lục 新编醉翁谈录 có thuật lại tập tục bái nguyệt:
              Khuynh thành nhân gia tử nữ bất dĩ bần phú năng tự hành chí thập nhị tam, giai dĩ thành nhân chi nhãn nhãn sức chi, đăng lâu hoặc trung đình bái nguyệt, các hữu sở triều: nam tắc hữu tảo bộ thiềm cung, cao phan tiên quế ..... nữ tắc nguyện mạo tự Thường Nga, viên như hạo nguyệt.
              倾城人家子女不以贫富自能行至十二三, 皆以成人之眼眼饰之, 登楼或中庭拜月, 各有所朝: 男则有早步蟾宫, 高攀仙桂 ..... 女则愿貌似嫦娥, 圆如皓月.
              (Con trai con gái các nhà khắp cả thành không phân biệt giàu nghèo, 12, 13 tuổi có thể tự đi, đều giống như đã trưởng thành, lên lầu hoặc giữa sân bái nguyệt, ai nấy đều có nguyện vọng: con trai thì mong ước sớm bước lên cung thiềm vin cao cành tiên quế ..... con gái thì mong ước dung mạo tựa Thường Nga, mặt tròn như trăng sáng).
              Hoạt động thưởng nguyệt hai triều Minh Thanh thịnh hành không suy, “kì tế quả bính tất viên” 其祭果饼必圆 (quả bánh dùng để tế phải tròn). Các nhà đều lập “Nguyệt quang vị” 月光位 (bài vị mặt trăng), hướng về phương mặt trăng mọc “hướng nguyệt cung nhi bái” 向月供而拜 (hướng đến mặt trăng mà cúng bái). Lục Khải Hoằng 陆启泓 trong Bắc Kinh mộng hoa kí 北京梦华记 có nói:
              Trung thu dạ, nhân gia các trí nguyệt cung phù tượng, phù thượng thố như nhân lập, trần qua quả vu đình, bính diện hội nguyệt cung thiềm thố, nam nữ túc bái thiêu hương, đán nhi phần chi.
              中秋夜, 人家各置月宫符象, 符上兔如人立, 陈瓜果于庭, 饼面绘月宫蟾兔, 男女肃拜烧香, 旦而焚之.
             (Đêm Trung thu, các nhà lập bài vị mặt trăng, bên trên có hình con thỏ đứng giống như người, bày hoa quả giữa sân, trên mặt bánh vẽ hình mặt trăng và con thỏ, nam nữ thắp hương cúng bái nghiêm trang, đến sáng thì thiêu đi.)
              Điền Nhữ Thành 田汝成 trong Tây hồ du lãm chí dư 西湖游览志余 nói rằng:
              Thị tịch, nhân gia hữu thưởng nguyệt chi yến, hoặc huề bách hồ thuyền, diên du triệt hiểu. Tô đê chi thượng, liên mệ đạp ca, vô dị bạch nhật.
              是夕, 人家有赏月之宴, 或携柏湖船, 沿游彻晓. 苏堤之上, 联袂踏歌, 无异白日.
              (Đêm đó, các nhà đều bày tiệc thưởng nguyệt, có người ngồi thuyền bách hồ, dạo chơi tới sáng. Trên Tô đê, mọi người cùng nhau hát “đạp ca”,  cảnh tượng chẳng khác gì ban ngày)
              Dân gian dĩ nguyệt bính tương yêu, thủ đoàn viên chi nghĩa.
              民间以月饼相邀, 取团圆之义
              (Dân gian mời nhau bánh có dạng hình tròn như mặt trăng, lấy ý là đoàn viên)
              Phú Sát Đôn Sùng 富察敦崇 trong Yên Kinh tuế thời kí 燕京岁时记 nói rằng:
              Trung thu nguyệt bính, dĩ Tiền Môn Trí Mĩ Trai giả, vi kinh đô đệ nhất, tha xứ bất túc thực dã. Trình cung nguyệt nguyệt bính đáo xứ giai hữu. Đại giả xích dư, thượng hội nguyệt cung lạp thố chi hình.
              中秋月饼, 以前门致美斋者, 为京都第一, 他处不足食也. 呈供月月饼到处皆有, 大者尺余, 上绘月宫蜡兔之形.
              (Với bánh Trung thu thì bánh của tiệm Trí Mĩ Trai ở Tiền Môn là đứng đầu ở kinh đô, những nơi khác không ngon. Bánh để cúng trăng thì nơi nào cũng có. Loại lớn thì lớn cả xích, bên trên có vẽ hình mặt trăng và thỏ.)
              Mỗi giới Trung thu, phủ đệ chu môn giai dĩ nguyệt bính quả phẩm quỹ tặng. Chí thập ngũ nguyệt viên thời, trần qua quả vu đình dĩ cung nguyệt, tịnh tự dĩ mao đậu, kê quan hoa. Thị thời dã, hạo phách đương không, thái vân sơ tán, truyền bôi tẩy trản, nhi nữ huyên hoa, chân sở vị giai tiết dã. Duy cung nguyệt thời nam nhân đa bất khấu bái.
              每届中秋, 府第朱门皆以月饼果品馈赠. 至十五月圆时, 陈瓜果于庭以供月, 并祀以毛豆, 鸡冠花. 是时也, 皓魄当空, 彩云初散, 传杯洗盏, 儿女喧哗, 真所谓佳节也. 唯供月时男子多不叩拜.
              (Mỗi khi đến Trung thu tiết, các phủ đệ chu môn đều dùng bánh trái tặng nhau. Đến ngày 15 trăng tròn, bày dưa quả ra sân để cúng trăng, đồng thời dùng đậu tương non, hoa mồng gà để cúng. Lúc bầy giờ, trăng sáng trên không, mây cũng vừa tan, chuyền li mời rượu, nam nữ nói chuyện râm ran, thật đúng là giai tiết.  Duy chỉ lúc cúng trăng, đa số nam nhân không khấu bái.)
              Đồng thời trong hơn 500 năm còn có những hoạt động vui mừng như “thiêu đẩu hương” 烧斗香, “tẩu nguyệt lượng” 走月亮, “phóng thiên đăng” 放天灯, “điểm tháp đăng” 点塔灯, “vũ hoả long” 舞火龙, “duệ thạch” 曳石 v.v... trong đó tập tục thưởng nguyệt và ăn bánh Trung thu, ăn cơm đoàn viên là mãi lưu truyền đến ngày nay.
              Trung thu tiết là giai tiết truyền thống của Trung Quốc. căn cứ vào những ghi chép trong sử sách, từ “Trung thu” xuất hiện sớm nhất trong Chu lễ, đến thời Nguỵ Tấn, có chép:
              Dụ Thượng thư trấn Ngưu Hào, Trung thu tịch dữ tả hữu vi phục phiếm giang.
              谕尚书镇牛淆, 中秋夕与左右微服泛江
              (Dụ cho Thượng thư trấn lúc trấn thủ Ngưu Hào, vào đêm Trung thu cùng tả hữu vi phục thả thuyền trên sông.)
              Mãi đến đầu đời Đường, Trung thu tiết mới thành tiết nhật cố định. Trong Đường thư – Thái Tông kí 唐书 - 太宗记 có ghi:
              Bát nguyệt thập ngũ Trung thu tiết
              八月十五中秋节
              (Ngày 15 tháng 8 là Trung thu tiết)
              Trung thu tiết thịnh hành là bắt đầu từ thời Tống, đến thời Minh Thanh, nó đã nổi tiếng ngang với Nguyên đán, trở thành một trong những tiết nhật chủ yếu của Trung Quốc. Trung thu tiết cũng là tiết nhật truyền thống đứng thứ 2 chỉ sau Xuân tiết.
                                                                               (còn tiếp)

                                                              Huỳnh Chương Hưng
                                                              Quy Nhơn 12/9/2019

    Nguồn

    Dịch thuật: Trung thu tiết (kì 2)

    Đăng lúc  18:01  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    TRUNG THU TIẾT
    (kì 2)

              Càng thú vị hơn trong Tân biên tuý ông đàm lục 新编醉翁谈录 có thuật lại tập tục bái nguyệt:
              Khuynh thành nhân gia tử nữ bất dĩ bần phú năng tự hành chí thập nhị tam, giai dĩ thành nhân chi nhãn nhãn sức chi, đăng lâu hoặc trung đình bái nguyệt, các hữu sở triều: nam tắc hữu tảo bộ thiềm cung, cao phan tiên quế ..... nữ tắc nguyện mạo tự Thường Nga, viên như hạo nguyệt.
              倾城人家子女不以贫富自能行至十二三, 皆以成人之眼眼饰之, 登楼或中庭拜月, 各有所朝: 男则有早步蟾宫, 高攀仙桂 ..... 女则愿貌似嫦娥, 圆如皓月.
              (Con trai con gái các nhà khắp cả thành không phân biệt giàu nghèo, 12, 13 tuổi có thể tự đi, đều giống như đã trưởng thành, lên lầu hoặc giữa sân bái nguyệt, ai nấy đều có nguyện vọng: con trai thì mong ước sớm bước lên cung thiềm vin cao cành tiên quế ..... con gái thì mong ước dung mạo tựa Thường Nga, mặt tròn như trăng sáng).
              Hoạt động thưởng nguyệt hai triều Minh Thanh thịnh hành không suy, “kì tế quả bính tất viên” 其祭果饼必圆 (quả bánh dùng để tế phải tròn). Các nhà đều lập “Nguyệt quang vị” 月光位 (bài vị mặt trăng), hướng về phương mặt trăng mọc “hướng nguyệt cung nhi bái” 向月供而拜 (hướng đến mặt trăng mà cúng bái). Lục Khải Hoằng 陆启泓 trong Bắc Kinh mộng hoa kí 北京梦华记 có nói:
              Trung thu dạ, nhân gia các trí nguyệt cung phù tượng, phù thượng thố như nhân lập, trần qua quả vu đình, bính diện hội nguyệt cung thiềm thố, nam nữ túc bái thiêu hương, đán nhi phần chi.
              中秋夜, 人家各置月宫符象, 符上兔如人立, 陈瓜果于庭, 饼面绘月宫蟾兔, 男女肃拜烧香, 旦而焚之.
             (Đêm Trung thu, các nhà lập bài vị mặt trăng, bên trên có hình con thỏ đứng giống như người, bày hoa quả giữa sân, trên mặt bánh vẽ hình mặt trăng và con thỏ, nam nữ thắp hương cúng bái nghiêm trang, đến sáng thì thiêu đi.)
              Điền Nhữ Thành 田汝成 trong Tây hồ du lãm chí dư 西湖游览志余 nói rằng:
              Thị tịch, nhân gia hữu thưởng nguyệt chi yến, hoặc huề bách hồ thuyền, diên du triệt hiểu. Tô đê chi thượng, liên mệ đạp ca, vô dị bạch nhật.
              是夕, 人家有赏月之宴, 或携柏湖船, 沿游彻晓. 苏堤之上, 联袂踏歌, 无异白日.
              (Đêm đó, các nhà đều bày tiệc thưởng nguyệt, có người ngồi thuyền bách hồ, dạo chơi tới sáng. Trên Tô đê, mọi người cùng nhau hát “đạp ca”,  cảnh tượng chẳng khác gì ban ngày)
              Dân gian dĩ nguyệt bính tương yêu, thủ đoàn viên chi nghĩa.
              民间以月饼相邀, 取团圆之义
              (Dân gian mời nhau bánh có dạng hình tròn như mặt trăng, lấy ý là đoàn viên)
              Phú Sát Đôn Sùng 富察敦崇 trong Yên Kinh tuế thời kí 燕京岁时记 nói rằng:
              Trung thu nguyệt bính, dĩ Tiền Môn Trí Mĩ Trai giả, vi kinh đô đệ nhất, tha xứ bất túc thực dã. Trình cung nguyệt nguyệt bính đáo xứ giai hữu. Đại giả xích dư, thượng hội nguyệt cung lạp thố chi hình.
              中秋月饼, 以前门致美斋者, 为京都第一, 他处不足食也. 呈供月月饼到处皆有, 大者尺余, 上绘月宫蜡兔之形.
              (Với bánh Trung thu thì bánh của tiệm Trí Mĩ Trai ở Tiền Môn là đứng đầu ở kinh đô, những nơi khác không ngon. Bánh để cúng trăng thì nơi nào cũng có. Loại lớn thì lớn cả xích, bên trên có vẽ hình mặt trăng và thỏ.)
              Mỗi giới Trung thu, phủ đệ chu môn giai dĩ nguyệt bính quả phẩm quỹ tặng. Chí thập ngũ nguyệt viên thời, trần qua quả vu đình dĩ cung nguyệt, tịnh tự dĩ mao đậu, kê quan hoa. Thị thời dã, hạo phách đương không, thái vân sơ tán, truyền bôi tẩy trản, nhi nữ huyên hoa, chân sở vị giai tiết dã. Duy cung nguyệt thời nam nhân đa bất khấu bái.
              每届中秋, 府第朱门皆以月饼果品馈赠. 至十五月圆时, 陈瓜果于庭以供月, 并祀以毛豆, 鸡冠花. 是时也, 皓魄当空, 彩云初散, 传杯洗盏, 儿女喧哗, 真所谓佳节也. 唯供月时男子多不叩拜.
              (Mỗi khi đến Trung thu tiết, các phủ đệ chu môn đều dùng bánh trái tặng nhau. Đến ngày 15 trăng tròn, bày dưa quả ra sân để cúng trăng, đồng thời dùng đậu tương non, hoa mồng gà để cúng. Lúc bầy giờ, trăng sáng trên không, mây cũng vừa tan, chuyền li mời rượu, nam nữ nói chuyện râm ran, thật đúng là giai tiết.  Duy chỉ lúc cúng trăng, đa số nam nhân không khấu bái.)
              Đồng thời trong hơn 500 năm còn có những hoạt động vui mừng như “thiêu đẩu hương” 烧斗香, “tẩu nguyệt lượng” 走月亮, “phóng thiên đăng” 放天灯, “điểm tháp đăng” 点塔灯, “vũ hoả long” 舞火龙, “duệ thạch” 曳石 v.v... trong đó tập tục thưởng nguyệt và ăn bánh Trung thu, ăn cơm đoàn viên là mãi lưu truyền đến ngày nay.
              Trung thu tiết là giai tiết truyền thống của Trung Quốc. căn cứ vào những ghi chép trong sử sách, từ “Trung thu” xuất hiện sớm nhất trong Chu lễ, đến thời Nguỵ Tấn, có chép:
              Dụ Thượng thư trấn Ngưu Hào, Trung thu tịch dữ tả hữu vi phục phiếm giang.
              谕尚书镇牛淆, 中秋夕与左右微服泛江
              (Dụ cho Thượng thư trấn lúc trấn thủ Ngưu Hào, vào đêm Trung thu cùng tả hữu vi phục thả thuyền trên sông.)
              Mãi đến đầu đời Đường, Trung thu tiết mới thành tiết nhật cố định. Trong Đường thư – Thái Tông kí 唐书 - 太宗记 có ghi:
              Bát nguyệt thập ngũ Trung thu tiết
              八月十五中秋节
              (Ngày 15 tháng 8 là Trung thu tiết)
              Trung thu tiết thịnh hành là bắt đầu từ thời Tống, đến thời Minh Thanh, nó đã nổi tiếng ngang với Nguyên đán, trở thành một trong những tiết nhật chủ yếu của Trung Quốc. Trung thu tiết cũng là tiết nhật truyền thống đứng thứ 2 chỉ sau Xuân tiết.
                                                                               (còn tiếp)

                                                              Huỳnh Chương Hưng
                                                              Quy Nhơn 12/9/2019

    Nguồn

    Thứ Tư, 11 tháng 9, 2019

    TRUNG THU TIẾT
    (kì 1)

              Trung thu tiết còn gọi là Nguyệt tịch 月夕, Trọng thu tiết 仲秋节, Bát nguyệt tiết 八月节, Truy nguyệt tiết 追月节, Ngoạn nguyệt tiết 玩月节, Bái nguyệt tiết 拜月节, Nữ nhi tiết 女儿节 hoặc Đoàn viên tiết 团圆节là tiết nhật văn hoá truyền thống lưu hành ở các dân tộc tại Trung Quốc cùng các nước trong vòng văn hoá Hán tự, thời gian vào ngày rằm tháng 8; nhân vào lúc giữa 3 tháng mùa thu, cho nên có tên gọi như thế, cũng có một số nơi đem Trung thu tiết định vào ngày 16 tháng 8.
              Trung thu tiết bắt đầu vào đầu thời Đường, thịnh hành vào thời Tống, đến thời Minh Thanh đã trở thành một trong những lễ tiết truyền thống của Trung Quốc nổi tiếng ngang với Xuân tiết.
              Từ thời cổ, Trung thu tiết đã có tập tục tế nguyệt, bái nguyệt, ăn nguyệt bính, thưởng thức hoa quế, uống rượu hoa quế, lưu truyền đến nay. Trung thu hình dung trăng tròn kêu gọi người đoàn viên, gởi gắm lòng nhớ quê hương, cầu mong được mùa, hạnh phúc, trở thành một di sản văn hoá trân quý đa sắc màu. Trung thu tiết 中秋节 cùng Đoan Ngọ tiết 端午节, Xuân tiết 春节, Thanh minh tiết 清明节 hợp xưng là “Trung Quốc tứ đại truyền thống tiết nhật” 中国四大传统节日.
    Khởi nguyên của Trung thu tiết
              Về vấn đề khởi nguyên của Trung thu tiết, có nhiều cách nói. Từ “Trung thu” thấy sớm nhất ở Chu lễ 周礼, trong Lễ kí – Nguyệt lệnh 礼记 - 月令 có ghi:
    Trọng thu chi nguyệt dưỡng suy lão, hành mi chúc ẩm thực.
    仲秋之月养衰老, 行糜粥饮食
              (Tháng Trọng thu nuôi dưỡng những người suy yếu già cả, phân phát cơm cháo đồ ăn thức uống)
              Có thuyết cho Trung thu tiết khởi nguyên từ hoạt động tế tự của đế vương thời cổ. Trong Lễ kí 礼记 có nói:
    Thiên tử xuân triều nhật, thu tịch nguyệt
    天子春朝日, 秋夕月
    (Thiên tử mùa xuân tế nhật, mùa thu tế nguyệt)
              “Tịch nguyệt” chính là tế bái mặt trăng, cho thấy sớm vào thời Xuân Thu, đế vương đã bắt đầu tế nguyệt, bái nguyệt. Về sau quan lại quý tộc cùng văn nhân học sĩ nối nhau bắt chước, dần truyền đến dân gian.
              Có thuyết cho khởi nguyên của Trung thu tiết có liên quan đến sản xuất nông nghiệp. Mùa thu là mùa thu hoạch. Chữ (thu) giải thích là: “mùa màng đã chín gọi là thu”. Trung thu tháng 8, nông phẩm và các loại quả đều chín, để mừng được mùa, biểu đạt lòng vui mừng, nông dân đã lấy ngày “trung thu” làm tiết nhật. “Trung thu” chính là ý nghĩa giữa mùa thu, tháng 8 âm lịch là tháng giữa mùa thu, ngày 15 lại là ngày ở giữa tháng này, cho nên Trung thu tiết có khả năng là tập tục “Thu báo” 秋报 của người xưa truyền lại.
              Cũng có nhà nghiên cứu sử học chỉ ra rằng, khởi nguyên của Trung thu là Đường quân 唐军 (quân Đường) cuối đời Tuỳ vào ngày 15 tháng 8 năm Đại Nghiệp 大业 thứ 13, Đường quân Bùi Tịch 裴寂 đã lấy ý từ trăng tròn, phát minh thành công bánh Trung thu, đồng thời phân phát rộng rãi trong quân làm quân lương, giải quyết thành công vấn đề quân lương phát sinh khi thu hút được một số lượng lớn nghĩa quân phản Tuỳ.
    Sự phát triển của Trung thu tiết
              Về phong tục Trung thu tiết thưởng nguyệt, theo sự suy đoán của các Sử học gia, lúc ban đầu hưng khởi từ văn nhân cung đình, sau đó truyền đến dân gian. Ở Tí dạ tứ thời ca 子夜四时歌 trong nhạc phủ thời Nguỵ Tấn đã có bài Thu hữu nguyệt 秋有月, miêu tả:
    Ngưỡng đầu vọng minh nguyệt
    Kí tình thiên lí quang
    仰头望明月
    寄情千里光
    (Ngẩng đầu nhìn trăng sáng
    Gởi tình vào ánh trăng lan xa ngàn dặm)
              Thời Đường, Trung thu thưởng nguyệt, ngoạn nguyệt rất thịnh hành, trong  thơ của nhiều thi nhân có những câu thơ vịnh nguyệt, Trung thu tiết bắt đầu trở thành tiết nhật cố định. Trong Đường thư – Thái Tông kí 唐书 - 太宗记 đã có câu:
    Bát nguyệt thập ngũ Trung thu tiết
    八月十五中秋节
    (Ngày 15 tháng 8 là Trung thu tiết)
              Truyền thuyết kể rằng, Đường Huyền Tông 唐玄宗nằm mơ thấy mình lên chơi cung trăng, có được “Nghê thường vũ y khúc” 霓裳羽衣曲, dân gian mới bắt đầu thịnh hành tập tục đón Trung thu tiết.
              Thời Bắc Tống, chính thức định ngày 15 tháng 8 làm Trung thu tiết, đồng thời xuất hiện các thực phẩm theo tiết, loại nhỏ thì có “tước nguyệt” 嚼月 loại vừa thì có “tô” và “di” . Mạnh Nguyên Lão 孟元老 trong Đông Kinh mộng hoa lục 东经梦华录 nói rằng:
              Trung thu dạ, quý giá kết sức đài tạ, dân gian tranh chiếm tửu lâu ngoạn  nguyệt.
              中秋夜, 贵家结饰台榭, 民间争占酒楼玩月
              (Đêm Trung thu, nhà quý tộc dựng rạp kết đèn, dân gian thì tranh nhau chiếm chỗ ở tửu lâu để thưởng trăng)
              Và còn:
              Huyền trùng đỉnh phí, cận nội duyên cư dân, thâm dạ phùng văn sinh vu chi thanh, uyển như vân ngoại. Gian lí nhi đồng, liên tiêu hôn hí, dạ thị biền điền, chí vu thông hiểu.
              弦重鼎沸, 近内延居民, 深夜逢闻笙竽之声, 宛如云外. 间里儿童, 连宵婚戏, 夜市骈阗, 至于通晓.
              (Tiếng đàn dồn dập huyên náo, như mời cư dân gần thành nội, đêm khuya nghe tiếng sênh tiếng sáo, hệt như ở cảnh tiên. Bọn trẻ suốt đêm chơi trò kết hôn, chợ đêm tụ tập luôn tới sáng)
              Ngô Tự Mục 吴自牧 trong Mộng lương lục 梦梁录cũng nói:
              Kim phong tiến sảng, ngọc lộ sinh lương, đan quế hương phiêu, ngân thiềm quang mãn. Vương tôn công tử, phú gia cự thất, mạc bất đăng nguy lâu, lâm hiên ngoạn nguyệt, hoặc khai quảng tạ, đại diên la liệt, cầm sắt khanh thương, chước tửu cao ca, dĩ bốc cánh tịch chi hoan. Chí như phu tịch chi gia, diệc đăng tiểu tiểu nguyệt đài, an bài gia yến, đoàn vi tử nữ, dĩ thù giai tiết. Tuy lậu hạng bần lũ chi nhân, giải y thị tửu, miễn cưỡng hoan nghinh, bất khẳng hư độ. Thử dạ thiên nhai mại mãi, trực chí ngũ cổ, ngoạn nguyệt du nhân, bà bà vu thị, chí thiêu bất tuyệt.
             金风荐爽, 玉露生凉, 丹桂香飘, 银蟾光满. 王孙公子, 富家巨室, 莫不登危楼, 临轩玩月, 或开广榭, 玳筵罗列, 琴瑟铿锵, 酌酒高歌, 以卜竟夕之欢. 至如铺席之家, 亦登小小月台, 安排家宴, 团围子女, 以酬佳节. 虽陋巷贫窭之人, 解衣市酒, 勉强欢迎, 不肯虚度. 此夜天街卖买, 直至五鼓, 玩月游人, 婆婆于市, 至烧不绝.
              (Gió thu đưa khí trong, sương ngọc phả hơi mát, hương quế toả mùi thơm, ánh trăng bạc tràn đầy. Vương tôn công tử, phú gia cự thất, không nhà nào là không lên lầu cao, ra hiên thưởng trăng, hoặc mở rộng đài tạ, chiếu đồi mồi trải khắp, tiếng đàn cầm đàn sắt ngân vang, rót rượu cất tiếng ca, để vui suốt đêm. Còn như những nhà buôn bán, cũng lên đài nhỏ, bày ra gia yến, con cái quây quần, đón mừng giai tiết. Những người nghèo khổ nơi hẻm nhỏ, đem áo đi cầm lấy tiền mua rượu, cũng cố gắng đón mừng, không chịu để tết qua đi mà không có gì. Đêm đó nơi phố chợ, mua bán đến lúc trống canh năm, người đi chơi ngắm trăng, lượn vòng nơi chợ, náo nhiệt không dứt)..... (còn tiếp)

                                                              Huỳnh Chương Hưng
                                                              Quy Nhơn 11/9/2019

    Nguồn

    Dịch thuật: Trung thu tiết (kì 1)

    Đăng lúc  21:36  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    TRUNG THU TIẾT
    (kì 1)

              Trung thu tiết còn gọi là Nguyệt tịch 月夕, Trọng thu tiết 仲秋节, Bát nguyệt tiết 八月节, Truy nguyệt tiết 追月节, Ngoạn nguyệt tiết 玩月节, Bái nguyệt tiết 拜月节, Nữ nhi tiết 女儿节 hoặc Đoàn viên tiết 团圆节là tiết nhật văn hoá truyền thống lưu hành ở các dân tộc tại Trung Quốc cùng các nước trong vòng văn hoá Hán tự, thời gian vào ngày rằm tháng 8; nhân vào lúc giữa 3 tháng mùa thu, cho nên có tên gọi như thế, cũng có một số nơi đem Trung thu tiết định vào ngày 16 tháng 8.
              Trung thu tiết bắt đầu vào đầu thời Đường, thịnh hành vào thời Tống, đến thời Minh Thanh đã trở thành một trong những lễ tiết truyền thống của Trung Quốc nổi tiếng ngang với Xuân tiết.
              Từ thời cổ, Trung thu tiết đã có tập tục tế nguyệt, bái nguyệt, ăn nguyệt bính, thưởng thức hoa quế, uống rượu hoa quế, lưu truyền đến nay. Trung thu hình dung trăng tròn kêu gọi người đoàn viên, gởi gắm lòng nhớ quê hương, cầu mong được mùa, hạnh phúc, trở thành một di sản văn hoá trân quý đa sắc màu. Trung thu tiết 中秋节 cùng Đoan Ngọ tiết 端午节, Xuân tiết 春节, Thanh minh tiết 清明节 hợp xưng là “Trung Quốc tứ đại truyền thống tiết nhật” 中国四大传统节日.
    Khởi nguyên của Trung thu tiết
              Về vấn đề khởi nguyên của Trung thu tiết, có nhiều cách nói. Từ “Trung thu” thấy sớm nhất ở Chu lễ 周礼, trong Lễ kí – Nguyệt lệnh 礼记 - 月令 có ghi:
    Trọng thu chi nguyệt dưỡng suy lão, hành mi chúc ẩm thực.
    仲秋之月养衰老, 行糜粥饮食
              (Tháng Trọng thu nuôi dưỡng những người suy yếu già cả, phân phát cơm cháo đồ ăn thức uống)
              Có thuyết cho Trung thu tiết khởi nguyên từ hoạt động tế tự của đế vương thời cổ. Trong Lễ kí 礼记 có nói:
    Thiên tử xuân triều nhật, thu tịch nguyệt
    天子春朝日, 秋夕月
    (Thiên tử mùa xuân tế nhật, mùa thu tế nguyệt)
              “Tịch nguyệt” chính là tế bái mặt trăng, cho thấy sớm vào thời Xuân Thu, đế vương đã bắt đầu tế nguyệt, bái nguyệt. Về sau quan lại quý tộc cùng văn nhân học sĩ nối nhau bắt chước, dần truyền đến dân gian.
              Có thuyết cho khởi nguyên của Trung thu tiết có liên quan đến sản xuất nông nghiệp. Mùa thu là mùa thu hoạch. Chữ (thu) giải thích là: “mùa màng đã chín gọi là thu”. Trung thu tháng 8, nông phẩm và các loại quả đều chín, để mừng được mùa, biểu đạt lòng vui mừng, nông dân đã lấy ngày “trung thu” làm tiết nhật. “Trung thu” chính là ý nghĩa giữa mùa thu, tháng 8 âm lịch là tháng giữa mùa thu, ngày 15 lại là ngày ở giữa tháng này, cho nên Trung thu tiết có khả năng là tập tục “Thu báo” 秋报 của người xưa truyền lại.
              Cũng có nhà nghiên cứu sử học chỉ ra rằng, khởi nguyên của Trung thu là Đường quân 唐军 (quân Đường) cuối đời Tuỳ vào ngày 15 tháng 8 năm Đại Nghiệp 大业 thứ 13, Đường quân Bùi Tịch 裴寂 đã lấy ý từ trăng tròn, phát minh thành công bánh Trung thu, đồng thời phân phát rộng rãi trong quân làm quân lương, giải quyết thành công vấn đề quân lương phát sinh khi thu hút được một số lượng lớn nghĩa quân phản Tuỳ.
    Sự phát triển của Trung thu tiết
              Về phong tục Trung thu tiết thưởng nguyệt, theo sự suy đoán của các Sử học gia, lúc ban đầu hưng khởi từ văn nhân cung đình, sau đó truyền đến dân gian. Ở Tí dạ tứ thời ca 子夜四时歌 trong nhạc phủ thời Nguỵ Tấn đã có bài Thu hữu nguyệt 秋有月, miêu tả:
    Ngưỡng đầu vọng minh nguyệt
    Kí tình thiên lí quang
    仰头望明月
    寄情千里光
    (Ngẩng đầu nhìn trăng sáng
    Gởi tình vào ánh trăng lan xa ngàn dặm)
              Thời Đường, Trung thu thưởng nguyệt, ngoạn nguyệt rất thịnh hành, trong  thơ của nhiều thi nhân có những câu thơ vịnh nguyệt, Trung thu tiết bắt đầu trở thành tiết nhật cố định. Trong Đường thư – Thái Tông kí 唐书 - 太宗记 đã có câu:
    Bát nguyệt thập ngũ Trung thu tiết
    八月十五中秋节
    (Ngày 15 tháng 8 là Trung thu tiết)
              Truyền thuyết kể rằng, Đường Huyền Tông 唐玄宗nằm mơ thấy mình lên chơi cung trăng, có được “Nghê thường vũ y khúc” 霓裳羽衣曲, dân gian mới bắt đầu thịnh hành tập tục đón Trung thu tiết.
              Thời Bắc Tống, chính thức định ngày 15 tháng 8 làm Trung thu tiết, đồng thời xuất hiện các thực phẩm theo tiết, loại nhỏ thì có “tước nguyệt” 嚼月 loại vừa thì có “tô” và “di” . Mạnh Nguyên Lão 孟元老 trong Đông Kinh mộng hoa lục 东经梦华录 nói rằng:
              Trung thu dạ, quý giá kết sức đài tạ, dân gian tranh chiếm tửu lâu ngoạn  nguyệt.
              中秋夜, 贵家结饰台榭, 民间争占酒楼玩月
              (Đêm Trung thu, nhà quý tộc dựng rạp kết đèn, dân gian thì tranh nhau chiếm chỗ ở tửu lâu để thưởng trăng)
              Và còn:
              Huyền trùng đỉnh phí, cận nội duyên cư dân, thâm dạ phùng văn sinh vu chi thanh, uyển như vân ngoại. Gian lí nhi đồng, liên tiêu hôn hí, dạ thị biền điền, chí vu thông hiểu.
              弦重鼎沸, 近内延居民, 深夜逢闻笙竽之声, 宛如云外. 间里儿童, 连宵婚戏, 夜市骈阗, 至于通晓.
              (Tiếng đàn dồn dập huyên náo, như mời cư dân gần thành nội, đêm khuya nghe tiếng sênh tiếng sáo, hệt như ở cảnh tiên. Bọn trẻ suốt đêm chơi trò kết hôn, chợ đêm tụ tập luôn tới sáng)
              Ngô Tự Mục 吴自牧 trong Mộng lương lục 梦梁录cũng nói:
              Kim phong tiến sảng, ngọc lộ sinh lương, đan quế hương phiêu, ngân thiềm quang mãn. Vương tôn công tử, phú gia cự thất, mạc bất đăng nguy lâu, lâm hiên ngoạn nguyệt, hoặc khai quảng tạ, đại diên la liệt, cầm sắt khanh thương, chước tửu cao ca, dĩ bốc cánh tịch chi hoan. Chí như phu tịch chi gia, diệc đăng tiểu tiểu nguyệt đài, an bài gia yến, đoàn vi tử nữ, dĩ thù giai tiết. Tuy lậu hạng bần lũ chi nhân, giải y thị tửu, miễn cưỡng hoan nghinh, bất khẳng hư độ. Thử dạ thiên nhai mại mãi, trực chí ngũ cổ, ngoạn nguyệt du nhân, bà bà vu thị, chí thiêu bất tuyệt.
             金风荐爽, 玉露生凉, 丹桂香飘, 银蟾光满. 王孙公子, 富家巨室, 莫不登危楼, 临轩玩月, 或开广榭, 玳筵罗列, 琴瑟铿锵, 酌酒高歌, 以卜竟夕之欢. 至如铺席之家, 亦登小小月台, 安排家宴, 团围子女, 以酬佳节. 虽陋巷贫窭之人, 解衣市酒, 勉强欢迎, 不肯虚度. 此夜天街卖买, 直至五鼓, 玩月游人, 婆婆于市, 至烧不绝.
              (Gió thu đưa khí trong, sương ngọc phả hơi mát, hương quế toả mùi thơm, ánh trăng bạc tràn đầy. Vương tôn công tử, phú gia cự thất, không nhà nào là không lên lầu cao, ra hiên thưởng trăng, hoặc mở rộng đài tạ, chiếu đồi mồi trải khắp, tiếng đàn cầm đàn sắt ngân vang, rót rượu cất tiếng ca, để vui suốt đêm. Còn như những nhà buôn bán, cũng lên đài nhỏ, bày ra gia yến, con cái quây quần, đón mừng giai tiết. Những người nghèo khổ nơi hẻm nhỏ, đem áo đi cầm lấy tiền mua rượu, cũng cố gắng đón mừng, không chịu để tết qua đi mà không có gì. Đêm đó nơi phố chợ, mua bán đến lúc trống canh năm, người đi chơi ngắm trăng, lượn vòng nơi chợ, náo nhiệt không dứt)..... (còn tiếp)

                                                              Huỳnh Chương Hưng
                                                              Quy Nhơn 11/9/2019

    Nguồn

    Mã nguồn bởi Huỳnh Chương Hưng
    Copyright © 2012 Huỳnh Chương Hưng.
    back to top