• Thứ Ba, 19 tháng 2, 2019

    TẾT NGUYÊN TIÊU

              Ngày rằm tháng Giêng âm lịch hàng năm, là lúc nghinh đón tết Nguyên tiêu (Nguyên tiêu tiết 元宵节) truyền thống .
              Người xưa gọi “dạ” là “tiêu”, cho nên gọi rằm tháng Giêng là “Nguyên tiêu tiết”. Rằm tháng Giêng là đêm trăng tròn đầu tiên, cũng là “nhất nguyên” trở lại. Xuân trở về khắp nơi, mọi người nhân đó chúc mừng, đây cũng sự kéo dài mừng xuân mới. “Nguyên tiêu tiết” cũng gọi là “Thượng nguyên tiết” 上元节. Theo truyền thống dân gian Trung Quốc, đêm đó trăng sáng trên trời, mọi người thắp đèn biểu thị chúc mừng, cùng ra khỏi nhà ngắm trăng, vui chơi đố nhau, cùng ăn Nguyên tiêu (món ăn giống chè trôi nước), cả nhà đoàn tụ vui vẻ.
              Nguyên tiêu tiết cũng gọi là “đăng tiết” 灯节, phong tục nguyên tiêu thắp đèn có từ đời Hán. Đến đời Đường, hoạt động thưởng đăng 赏灯 càng thêm thịnh, trong cung, trên đường phố, khắp nơi treo đèn, lại còn làm “đăng luân” 灯轮(bánh xe đèn) “đăng lâu” 灯楼 (lầu đèn) “đăng thụ” 灯树 (cây đèn) cao lớn. Đại thi nhân Lư chiếu Lân 卢照邻 thời Đường trong Thập ngũ dạ quan đăng 十五夜观灯đã thuật lại tình huống thắp đèn lúc Nguyên tiêu:
    Tiếp Hán nghi tinh lạc
    Y lâu tự nguyệt huyền
    接汉疑星落
    依楼似月悬
    (Nhìn từ xa thấy đèn cứ ngỡ như sao từ ngân hà rơi xuống
    Cạnh lầu, đèn treo nhìn phảng phất như trăng treo giữa bầu trời)
              Đời Tống càng coi trọng tết Nguyên tiêu, hoạt động thưởng đăng càng náo nhiệt, hoạt động này tiến hành trong 5 ngày, kiểu đèn rất phong phú. Đến đời Minh kéo dài đến 10 ngày, đây là “đăng tiết” kéo dài nhất của Trung Quốc. Đời Thanh tuy hoạt động thưởng đăng chỉ có 3 ngày, nhưng quy mô rất lớn, tình cảnh thịnh hơn trước, ngoài thắp đèn ra còn đốt pháo hoa giúp vui.
              “Sai đăng mê” 猜灯谜 (đố đèn) cũng gọi là “đả đăng mê” 打灯谜là một hoạt động tăng thêm sau Nguyên tiêu, xuất hiện từ triều Tống. Thời Nam Tống tại kinh đô Lâm An 临安mỗi khi gặp tiết Nguyên tiêu, người ta làm ra những chữ dùng để đố, người đoán chữ đố rất đông. Lúc bắt đầu, kẻ hiếu sự viết chữ đố lên giấy, rồi dán trên đèn đủ màu sắc để mọi người đoán, chữ đố có thể gợi mở trí tuệ lại có hứng thú, cho nên trong quá trình lưu truyền rất được các giai tầng xã hội hoan nghinh.
              Về tập tục ăn Nguyên tiêu 元宵 nhân tết Nguyên tiêu trong dân gian. Nguyên tiêu được làm từ bột nếp, có nhân. Nhân gồm đậu sa, đường trắng, sơn tra, các loại quả. Khi ăn nấu lên hoặc chiên hoặc chưng đều được. Lúc đầu mọi người gọi món đó là “phù viên tử” 浮圆子, sau lại gọi là “thang đoàn” 汤团 hoặc “thang viên” 汤圆, những tên gọi này có âm tương cận với từ “đoàn viên” 团员, lấy ý nghĩa đoàn viên, tượng trưng cả nhà quây quần tụ tập, hoà mục hạnh phúc, mọi người cũng lấy đó để hoài niệm người thân xa cách, kí thác nguyện vọng tốt đẹp vào cuộc sống tương lai.
              Tết Nguyên tiêu ở một số địa phương còn có tập tục “tẩu bách bệnh” 走百病, cũng gọi là “khảo bách bệnh” 烤百病, “tán bách bệnh” 散百病, người tham dự đa phần là phụ nữ, họ kết bạn cùng đi men theo tường hoặc qua cầu, ra ngoại ô, mục đích là để xua đuổi bệnh, trừ tai hoạ.
              Theo sự biến thiên của thời gian, hoạt động nhân tết Nguyên tiêu ngày càng nhiều, không ít những nơi khi ăn mừng đã tăng thêm biểu diễn các hoạt động dân tục truyền thống như múa đèn, múa rồng, đi cà kheo, chèo thuyền trên cạn, hát ương ca, đánh trống thái bình. Sự truyền thừa ngày tết truyền thống có lịch sử hơn ngàn năm này không chỉ thịnh hành ở hai bờ eo biển mà hàng năm vẫn không suy tại những khu vực tụ cư của người Hoa hải ngoại.

                                                                           Huỳnh Chương Hưng
                                                                           Quy Nhơn 19/02/2019
                                                                     Tết Nguyên tiêu năm Kỉ Hợi

    Nguồn

    Dịch thuật: Tết Nguyên tiêu

    Đăng lúc  21:35  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    TẾT NGUYÊN TIÊU

              Ngày rằm tháng Giêng âm lịch hàng năm, là lúc nghinh đón tết Nguyên tiêu (Nguyên tiêu tiết 元宵节) truyền thống .
              Người xưa gọi “dạ” là “tiêu”, cho nên gọi rằm tháng Giêng là “Nguyên tiêu tiết”. Rằm tháng Giêng là đêm trăng tròn đầu tiên, cũng là “nhất nguyên” trở lại. Xuân trở về khắp nơi, mọi người nhân đó chúc mừng, đây cũng sự kéo dài mừng xuân mới. “Nguyên tiêu tiết” cũng gọi là “Thượng nguyên tiết” 上元节. Theo truyền thống dân gian Trung Quốc, đêm đó trăng sáng trên trời, mọi người thắp đèn biểu thị chúc mừng, cùng ra khỏi nhà ngắm trăng, vui chơi đố nhau, cùng ăn Nguyên tiêu (món ăn giống chè trôi nước), cả nhà đoàn tụ vui vẻ.
              Nguyên tiêu tiết cũng gọi là “đăng tiết” 灯节, phong tục nguyên tiêu thắp đèn có từ đời Hán. Đến đời Đường, hoạt động thưởng đăng 赏灯 càng thêm thịnh, trong cung, trên đường phố, khắp nơi treo đèn, lại còn làm “đăng luân” 灯轮(bánh xe đèn) “đăng lâu” 灯楼 (lầu đèn) “đăng thụ” 灯树 (cây đèn) cao lớn. Đại thi nhân Lư chiếu Lân 卢照邻 thời Đường trong Thập ngũ dạ quan đăng 十五夜观灯đã thuật lại tình huống thắp đèn lúc Nguyên tiêu:
    Tiếp Hán nghi tinh lạc
    Y lâu tự nguyệt huyền
    接汉疑星落
    依楼似月悬
    (Nhìn từ xa thấy đèn cứ ngỡ như sao từ ngân hà rơi xuống
    Cạnh lầu, đèn treo nhìn phảng phất như trăng treo giữa bầu trời)
              Đời Tống càng coi trọng tết Nguyên tiêu, hoạt động thưởng đăng càng náo nhiệt, hoạt động này tiến hành trong 5 ngày, kiểu đèn rất phong phú. Đến đời Minh kéo dài đến 10 ngày, đây là “đăng tiết” kéo dài nhất của Trung Quốc. Đời Thanh tuy hoạt động thưởng đăng chỉ có 3 ngày, nhưng quy mô rất lớn, tình cảnh thịnh hơn trước, ngoài thắp đèn ra còn đốt pháo hoa giúp vui.
              “Sai đăng mê” 猜灯谜 (đố đèn) cũng gọi là “đả đăng mê” 打灯谜là một hoạt động tăng thêm sau Nguyên tiêu, xuất hiện từ triều Tống. Thời Nam Tống tại kinh đô Lâm An 临安mỗi khi gặp tiết Nguyên tiêu, người ta làm ra những chữ dùng để đố, người đoán chữ đố rất đông. Lúc bắt đầu, kẻ hiếu sự viết chữ đố lên giấy, rồi dán trên đèn đủ màu sắc để mọi người đoán, chữ đố có thể gợi mở trí tuệ lại có hứng thú, cho nên trong quá trình lưu truyền rất được các giai tầng xã hội hoan nghinh.
              Về tập tục ăn Nguyên tiêu 元宵 nhân tết Nguyên tiêu trong dân gian. Nguyên tiêu được làm từ bột nếp, có nhân. Nhân gồm đậu sa, đường trắng, sơn tra, các loại quả. Khi ăn nấu lên hoặc chiên hoặc chưng đều được. Lúc đầu mọi người gọi món đó là “phù viên tử” 浮圆子, sau lại gọi là “thang đoàn” 汤团 hoặc “thang viên” 汤圆, những tên gọi này có âm tương cận với từ “đoàn viên” 团员, lấy ý nghĩa đoàn viên, tượng trưng cả nhà quây quần tụ tập, hoà mục hạnh phúc, mọi người cũng lấy đó để hoài niệm người thân xa cách, kí thác nguyện vọng tốt đẹp vào cuộc sống tương lai.
              Tết Nguyên tiêu ở một số địa phương còn có tập tục “tẩu bách bệnh” 走百病, cũng gọi là “khảo bách bệnh” 烤百病, “tán bách bệnh” 散百病, người tham dự đa phần là phụ nữ, họ kết bạn cùng đi men theo tường hoặc qua cầu, ra ngoại ô, mục đích là để xua đuổi bệnh, trừ tai hoạ.
              Theo sự biến thiên của thời gian, hoạt động nhân tết Nguyên tiêu ngày càng nhiều, không ít những nơi khi ăn mừng đã tăng thêm biểu diễn các hoạt động dân tục truyền thống như múa đèn, múa rồng, đi cà kheo, chèo thuyền trên cạn, hát ương ca, đánh trống thái bình. Sự truyền thừa ngày tết truyền thống có lịch sử hơn ngàn năm này không chỉ thịnh hành ở hai bờ eo biển mà hàng năm vẫn không suy tại những khu vực tụ cư của người Hoa hải ngoại.

                                                                           Huỳnh Chương Hưng
                                                                           Quy Nhơn 19/02/2019
                                                                     Tết Nguyên tiêu năm Kỉ Hợi

    Nguồn

    Thứ Hai, 18 tháng 2, 2019

    ĐIỂU TẬN CUNG TÀNG
    鸟尽弓藏
    CHIM HẾT THÌ CUNG CŨNG CẤT

    Giải thích: chim không còn thì cung tên cũng đem cất không dùng đến nữa. Ví sau khi sự tình thành công, những người có công bị bỏ rơi hoặc bị giết chết.
    Xuất xứ: Hán . Tư Mã Thiên 司马迁: Sử kí – Việt Vương Câu Tiễn thế gia 史记 - 越王勾践世家

              Năm 475 trước công nguyên, Việt Vương Câu Tiễn 越王勾践 trải qua một thời gian nằm gai nếm mật cuối cùng khôi phục lại quốc lực, cử binh phạt Ngô. Ngô Vương Phù Sai 吴王夫差 không biết làm sao, đành phái Thái tể Bá Bỉ 伯嚭 đi cầu hoà. Câu Tiễn nhớ đến sự việc lúc trước, có chút xiêu lòng, nhưng Phạm Lãi 范蠡 lại không đồng ý, khuyên Việt Vương không nên lưu hậu hoạn. Thế là Câu Tiễn cự tuyệt sự cầu hoà của Ngô Vương, tiếp tục công phạt kinh đô nước Ngô là Cô Tô 姑苏. Bá Bỉ đầu hàng trước tiên, Phù Sai bị bức, không còn con đường nào chạy bèn lấy áo che mặt rồi tự sát.
              Câu Tiễn làm Bá Vương, mở tiệc mừng công, đại thưởng công thần. Nhưng cả triều văn võ lại thiếu mất người có công lớn nhất là Phạm Lãi. Hoá ra, Phạm Lãi đã cùng Tây Thi 西施trong đêm khuya đã âm thầm ngồi trên một chiếc thuyền nhỏ rời khỏi nước Việt đi đến một nơi xa.
              Trước khi ra đi, Phạm Lãi đã để lại một bức thư cho người bạn cùng chung hoạn nạn là Văn Chủng , trong thư nói rằng:
              - Chim đã hết thì cung tên cũng đem cất (điểu tận cung tàng 鸟尽弓藏); thỏ đã không còn thì chó săn cũng bị nấu. Con người Việt Vương chỉ có thể cùng với người khác chung nhau hoạn nạn, chứ không thể chung hưởng phú quý. Ông hãy mau chạy đi.
              Văn Chủng xem xong mỉm cười, cảm thấy Phạm Lãi đa nghi.
              Nhưng chẳng bao lâu, Việt Vương nghe theo sàm ngôn, nghi ngờ Văn Chủng mưu phản, bèn phái người tặng Văn Chủng một thanh kiếm. Văn Chủng nhìn qua, hoá ra là thanh kiếm mà năm đó Phù Sai bảo Ngũ Tử Tư 伍子胥tự sát. Trong phút chốc, Văn Chủng hiểu ý của Việt Vương, cảm thán rằng:
              - Ta hối hận vị đã không nghe theo lời khuyên của Phạm Lãi.
              Thế là dùng kiếm tự sát.

                                                           Huỳnh Chương Hưng
                                                Quy Nhơn 18/02/2019

    Nguyên tác Trung văn
    ĐIỂU TẬN CUNG TÀNG
    鸟尽弓藏
    TRUNG QUỐC THÀNH NGỮ CỐ SỰ TỔNG TẬP
    中国成语故事总集
    (tập 1)
    Chủ biên: Đường Kì 唐麒
    Trường Xuân – Thời đại văn nghệ xuất bản xã, 2004

    Dịch thuật: Điểu tận cung tàng (thành ngữ)

    Đăng lúc  21:15  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    ĐIỂU TẬN CUNG TÀNG
    鸟尽弓藏
    CHIM HẾT THÌ CUNG CŨNG CẤT

    Giải thích: chim không còn thì cung tên cũng đem cất không dùng đến nữa. Ví sau khi sự tình thành công, những người có công bị bỏ rơi hoặc bị giết chết.
    Xuất xứ: Hán . Tư Mã Thiên 司马迁: Sử kí – Việt Vương Câu Tiễn thế gia 史记 - 越王勾践世家

              Năm 475 trước công nguyên, Việt Vương Câu Tiễn 越王勾践 trải qua một thời gian nằm gai nếm mật cuối cùng khôi phục lại quốc lực, cử binh phạt Ngô. Ngô Vương Phù Sai 吴王夫差 không biết làm sao, đành phái Thái tể Bá Bỉ 伯嚭 đi cầu hoà. Câu Tiễn nhớ đến sự việc lúc trước, có chút xiêu lòng, nhưng Phạm Lãi 范蠡 lại không đồng ý, khuyên Việt Vương không nên lưu hậu hoạn. Thế là Câu Tiễn cự tuyệt sự cầu hoà của Ngô Vương, tiếp tục công phạt kinh đô nước Ngô là Cô Tô 姑苏. Bá Bỉ đầu hàng trước tiên, Phù Sai bị bức, không còn con đường nào chạy bèn lấy áo che mặt rồi tự sát.
              Câu Tiễn làm Bá Vương, mở tiệc mừng công, đại thưởng công thần. Nhưng cả triều văn võ lại thiếu mất người có công lớn nhất là Phạm Lãi. Hoá ra, Phạm Lãi đã cùng Tây Thi 西施trong đêm khuya đã âm thầm ngồi trên một chiếc thuyền nhỏ rời khỏi nước Việt đi đến một nơi xa.
              Trước khi ra đi, Phạm Lãi đã để lại một bức thư cho người bạn cùng chung hoạn nạn là Văn Chủng , trong thư nói rằng:
              - Chim đã hết thì cung tên cũng đem cất (điểu tận cung tàng 鸟尽弓藏); thỏ đã không còn thì chó săn cũng bị nấu. Con người Việt Vương chỉ có thể cùng với người khác chung nhau hoạn nạn, chứ không thể chung hưởng phú quý. Ông hãy mau chạy đi.
              Văn Chủng xem xong mỉm cười, cảm thấy Phạm Lãi đa nghi.
              Nhưng chẳng bao lâu, Việt Vương nghe theo sàm ngôn, nghi ngờ Văn Chủng mưu phản, bèn phái người tặng Văn Chủng một thanh kiếm. Văn Chủng nhìn qua, hoá ra là thanh kiếm mà năm đó Phù Sai bảo Ngũ Tử Tư 伍子胥tự sát. Trong phút chốc, Văn Chủng hiểu ý của Việt Vương, cảm thán rằng:
              - Ta hối hận vị đã không nghe theo lời khuyên của Phạm Lãi.
              Thế là dùng kiếm tự sát.

                                                           Huỳnh Chương Hưng
                                                Quy Nhơn 18/02/2019

    Nguyên tác Trung văn
    ĐIỂU TẬN CUNG TÀNG
    鸟尽弓藏
    TRUNG QUỐC THÀNH NGỮ CỐ SỰ TỔNG TẬP
    中国成语故事总集
    (tập 1)
    Chủ biên: Đường Kì 唐麒
    Trường Xuân – Thời đại văn nghệ xuất bản xã, 2004

    Chủ Nhật, 17 tháng 2, 2019


    太华山 小华山
        又西六十里, 曰太华之山 (1), 削成而四方, 其高五千仞, 其广十里, 鸟兽莫居. 有蛇焉, 名曰肥 ......(*) , 六足四翼, 见则天下大旱.
        又西八十里, 曰小华之山, 其木多荆, , 其兽多 .....(**) . 其阴多磬石 (2), 其阳多 ...... (***) 琈之玉. 鸟多赤鷩, 可以御火. 其草有萆荔, 其状如乌韭, 而生于石上, 亦缘木而生, 食之已心痛.
                                 (山海经 - 西山经)

    THÁI HÓA SƠN, TIỂU HÓA SƠN
              Hựu tây lục thập lí, viết Thái Hóa chi sơn (1), tước thành nhi tứ phương, kì cao ngũ thiên nhận, kì quảng thập lí, điểu thú mạc cư. Hữu xà yên, danh viết Phì duy (*), lục túc tứ dực, hiện tắc thiên hạ đại hạn.
              Hựu tây bát thập lí, viết Tiểu Hóa chi sơn, kì mộc đa kinh, kỉ, kì thú đa tạc (**) ngưu. Kì âm đa khánh thạch (2), kì dương đa sư (***) phù chi ngọc. Điểu đa xích biết, khả dĩ ngự hoả. Kì thảo hữu tế lệ, kì trạng như ô cửu, nhi sinh vu thạch thượng, diệc duyên mộc nhi sinh, thực chi dĩ tâm thống.
                                                                            (Sơn hải kinh – Tây sơn kinh)

    THÁI HÓA SƠN, TIỂU HÓA SƠN
              Lại hướng phía tây 60 dặm, có Thái Hóa sơn, vách núi rất dốc, giống như bị dao gọt, có dạng hình vuông, núi cao 5000 nhận, rộng 10 dặm, chim và thú không thể sinh sống nơi núi này. Trong núi có loài rắn độc tên phì duy, với 6 chân 4 cánh, nó xuất hiện thì thiên hạ phát sinh đại hạn.
              Lại hướng về phía tây 80 dặm, có Tiểu Hóa sơn, núi này có nhiều cây kinh cây kỉ, thú thì có nhiều tạc ngưu. Phía bắc của núi nhiều khánh thạch, phía nam của núi nhiều ngọc sư phù. Trong núi có nhiều chim xích biết, nuôi nó bên cạnh có thể tránh được hoả tai. Trong núi còn có loại cỏ tế lệ, hình dạng của loại cỏ này giống thực vật ô cửu, sinh trưởng trên đá, cũng mọc trên cây, ăn vào có thể trị được chứng đau tim.

    Chú của nguyên tác
    1- Thái Hóa chi sơn 太华之山: tức Tây nhạc Hoá sơn 西岳华山trong địa phận tỉnh Thiểm Tây 陕西ngày nay.
    2- Khánh thạch 磬石: một loại đá núi có thể chế tác nhạc khí.

    Chú của người dịch
    *- Phì duy: chữ “duy” này gồm bộ (trùng) bên trái và chữ (di) bên phải.
              Trong Khang Hi tự điển 康熙字典chữ này thuộc bộ (trùng),bính âm wei (thanh 2), ghi rằng:
              “Đường vận” DĨ TRUY thiết. “Tập vận” DI GIAI thiết. Tịnh âm (duy). Phì duy , xà danh.
              “唐韻以追切. “集韻夷佳切. 並音惟.
              (“Đường vận” phiên thiết là DĨ TRUY. “Tập vận” phiên thiết là DI GIAI. Đều có âm là “DUY”. Phì duy là tên rắn)
    (trang 1077. Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 2003)

    **- Tạc ngưu: chữ “tạc” gồm bộ (ngưu) bên trái và chữ (sạ) bên phải.
              Trong Khang Hi tự điển 康熙字典chữ này thuộc bộ (ngưu),bính âm zuo (thanh 2), ghi rằng:
              “Quảng vận” TẠI CÁC thiết. “Tập vận” TẬT CÁC thiết. Tịnh âm (tạc). “Sơn hải kinh”: Tiếu Hoá chi sơn, kì thú đa tạc ngưu.
              “廣韻在各切. “集韻疾各切. 並音昨. 山海經”: 小华之山, 其兽多 .... .
              (“Quảng vận” phiên thiết là TẠI CÁC. “Tập vận” phiên thiết là TẬT CÁC. Đều có âm là ‘TẠC”. Trong “Sơn hải kinh” có ghi: Tiểu Hoá sơn, thú thì có nhiều tạc ngưu.)
    (trang 651. Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 2003)

    ***- Sư phù: chữ “sư” gồm bộ (ngọc) bên trái và chữ (vu) bên phải.
              Trong Khang Hi tự điển 康熙字典chữ này thuộc bộ (ngọc),bính âm shu (thanh 1), ghi rằng:
              “Tập vận” “Vận hội” “Chính vận” tịnh TRỪU CƯ thiết. Âm (sư). “Tập vận”: ngọc danh. “Sơn hải kinh”: Tiếu Hoá chi sơn, kì dương đa sư phù chi ngọc.
              “集韻” “韻會” “正韻並抽居切音攄.集韻”: 玉名. 山海經”: 小华之山, 其陽多 ..... 琈之玉
              (“Quảng vận” “Vận hội” “Chính vận” đều phiên thiết là TRỪU CƯ, âm “SƯ”. Trong “Tập vận” giải thích là tên ngọc. Trong “Sơn hải kinh” có ghi: Tiểu Hoá sơn, phía nam của núi có nhiều ngọc sư phù.)
    (trang 692. Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 2003)

                                                                           Huỳnh Chương Hưng
                                                                           Quy Nhơn 17/02/2019

    Nguyên tác
    THÁI HOÁ SƠN   TIỂU HOÁ SƠN
    太华山 小华山
    Trong quyển
    SƠN HẢI KINH
    山海经
    Tác giả: Lưu Hướng 刘向, Lưu Hâm 刘歆 (Tây Hán)
    Cáp nhĩ Tân: Bắc phương văn nghệ xuất bản xã, 2013 

    Dịch thuật: Thái Hoá sơn Tiểu Hoá sơn (Sơn hải kinh)

    Đăng lúc  20:24  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »


    太华山 小华山
        又西六十里, 曰太华之山 (1), 削成而四方, 其高五千仞, 其广十里, 鸟兽莫居. 有蛇焉, 名曰肥 ......(*) , 六足四翼, 见则天下大旱.
        又西八十里, 曰小华之山, 其木多荆, , 其兽多 .....(**) . 其阴多磬石 (2), 其阳多 ...... (***) 琈之玉. 鸟多赤鷩, 可以御火. 其草有萆荔, 其状如乌韭, 而生于石上, 亦缘木而生, 食之已心痛.
                                 (山海经 - 西山经)

    THÁI HÓA SƠN, TIỂU HÓA SƠN
              Hựu tây lục thập lí, viết Thái Hóa chi sơn (1), tước thành nhi tứ phương, kì cao ngũ thiên nhận, kì quảng thập lí, điểu thú mạc cư. Hữu xà yên, danh viết Phì duy (*), lục túc tứ dực, hiện tắc thiên hạ đại hạn.
              Hựu tây bát thập lí, viết Tiểu Hóa chi sơn, kì mộc đa kinh, kỉ, kì thú đa tạc (**) ngưu. Kì âm đa khánh thạch (2), kì dương đa sư (***) phù chi ngọc. Điểu đa xích biết, khả dĩ ngự hoả. Kì thảo hữu tế lệ, kì trạng như ô cửu, nhi sinh vu thạch thượng, diệc duyên mộc nhi sinh, thực chi dĩ tâm thống.
                                                                            (Sơn hải kinh – Tây sơn kinh)

    THÁI HÓA SƠN, TIỂU HÓA SƠN
              Lại hướng phía tây 60 dặm, có Thái Hóa sơn, vách núi rất dốc, giống như bị dao gọt, có dạng hình vuông, núi cao 5000 nhận, rộng 10 dặm, chim và thú không thể sinh sống nơi núi này. Trong núi có loài rắn độc tên phì duy, với 6 chân 4 cánh, nó xuất hiện thì thiên hạ phát sinh đại hạn.
              Lại hướng về phía tây 80 dặm, có Tiểu Hóa sơn, núi này có nhiều cây kinh cây kỉ, thú thì có nhiều tạc ngưu. Phía bắc của núi nhiều khánh thạch, phía nam của núi nhiều ngọc sư phù. Trong núi có nhiều chim xích biết, nuôi nó bên cạnh có thể tránh được hoả tai. Trong núi còn có loại cỏ tế lệ, hình dạng của loại cỏ này giống thực vật ô cửu, sinh trưởng trên đá, cũng mọc trên cây, ăn vào có thể trị được chứng đau tim.

    Chú của nguyên tác
    1- Thái Hóa chi sơn 太华之山: tức Tây nhạc Hoá sơn 西岳华山trong địa phận tỉnh Thiểm Tây 陕西ngày nay.
    2- Khánh thạch 磬石: một loại đá núi có thể chế tác nhạc khí.

    Chú của người dịch
    *- Phì duy: chữ “duy” này gồm bộ (trùng) bên trái và chữ (di) bên phải.
              Trong Khang Hi tự điển 康熙字典chữ này thuộc bộ (trùng),bính âm wei (thanh 2), ghi rằng:
              “Đường vận” DĨ TRUY thiết. “Tập vận” DI GIAI thiết. Tịnh âm (duy). Phì duy , xà danh.
              “唐韻以追切. “集韻夷佳切. 並音惟.
              (“Đường vận” phiên thiết là DĨ TRUY. “Tập vận” phiên thiết là DI GIAI. Đều có âm là “DUY”. Phì duy là tên rắn)
    (trang 1077. Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 2003)

    **- Tạc ngưu: chữ “tạc” gồm bộ (ngưu) bên trái và chữ (sạ) bên phải.
              Trong Khang Hi tự điển 康熙字典chữ này thuộc bộ (ngưu),bính âm zuo (thanh 2), ghi rằng:
              “Quảng vận” TẠI CÁC thiết. “Tập vận” TẬT CÁC thiết. Tịnh âm (tạc). “Sơn hải kinh”: Tiếu Hoá chi sơn, kì thú đa tạc ngưu.
              “廣韻在各切. “集韻疾各切. 並音昨. 山海經”: 小华之山, 其兽多 .... .
              (“Quảng vận” phiên thiết là TẠI CÁC. “Tập vận” phiên thiết là TẬT CÁC. Đều có âm là ‘TẠC”. Trong “Sơn hải kinh” có ghi: Tiểu Hoá sơn, thú thì có nhiều tạc ngưu.)
    (trang 651. Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 2003)

    ***- Sư phù: chữ “sư” gồm bộ (ngọc) bên trái và chữ (vu) bên phải.
              Trong Khang Hi tự điển 康熙字典chữ này thuộc bộ (ngọc),bính âm shu (thanh 1), ghi rằng:
              “Tập vận” “Vận hội” “Chính vận” tịnh TRỪU CƯ thiết. Âm (sư). “Tập vận”: ngọc danh. “Sơn hải kinh”: Tiếu Hoá chi sơn, kì dương đa sư phù chi ngọc.
              “集韻” “韻會” “正韻並抽居切音攄.集韻”: 玉名. 山海經”: 小华之山, 其陽多 ..... 琈之玉
              (“Quảng vận” “Vận hội” “Chính vận” đều phiên thiết là TRỪU CƯ, âm “SƯ”. Trong “Tập vận” giải thích là tên ngọc. Trong “Sơn hải kinh” có ghi: Tiểu Hoá sơn, phía nam của núi có nhiều ngọc sư phù.)
    (trang 692. Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 2003)

                                                                           Huỳnh Chương Hưng
                                                                           Quy Nhơn 17/02/2019

    Nguyên tác
    THÁI HOÁ SƠN   TIỂU HOÁ SƠN
    太华山 小华山
    Trong quyển
    SƠN HẢI KINH
    山海经
    Tác giả: Lưu Hướng 刘向, Lưu Hâm 刘歆 (Tây Hán)
    Cáp nhĩ Tân: Bắc phương văn nghệ xuất bản xã, 2013 

    Thứ Bảy, 16 tháng 2, 2019

    DA LUẬT TÔNG CHÂN

              Da Luật Tông Chân 耶律宗真 (1016 – 1055), tức Liêu Hưng Tông 辽兴宗, tự Di Bất Cận 夷不堇, tiểu tự Chỉ Cốt 只骨. Tộc Khất Đan 契丹 (1), con trưởng của Liêu Thánh Tông 辽圣宗. 16 tuổi lên ngôi, tại vị 24 năm, có nhiều cống hiến, xuất binh đánh Bắc Tống và Tây Hạ, khiến Bắc Tống tăng nạp tuế cống, Tây Hạ nghị hoà xưng phiên. Năm Trùng Hi 重熹 thứ 24 (1055) bệnh và qua đời, miếu hiệu Hưng Tông 兴宗. Hưng Tông từ nhỏ đã thông minh, lớn lên càng khôi vĩ, đại độ khoan dung. Giỏi cưỡi ngựa bắn cung, ham Nho thuật, thông âm luật, thích ngâm vịnh. Ông từng lâm hạnh đến nhà Tiêu Vô Khúc 萧无曲, em của hoàng hậu, quân thần tại Khúc thuỷ 曲水 uống rượu làm thơ; lại từng đến Nam Kinh 南京, ngự tại điện Nguyên Hoà 元和, lấy Nhật xạ tam thập lục hùng phú 日射三十六熊赋  Hạnh yến thi 幸燕诗 làm đầu đề thi Tiến sĩ. Trong Liêu sử 辽史 phần bản kỉ có chép, ông nhiều lần cùng quần thần yến ẩm làm thơ, nhiều lần ban tặng thơ cho các thần liêu, đồng thời cũng chép ông và sứ giả triều Tống cùng câu cá làm thơ. Ông không chỉ cất nhắc văn thần, mà còn xem thi nhân Tiêu Hàn Gia Nô 萧韩家奴 (2) là “thi hữu”. Nhưng hiện chỉ có 1 bài Tư không Đại sư bất khẳng phú thi, dĩ thi khiêu chi 司空大师不肯赋诗, 以诗挑之 và bài Tứ Da Luật Nhân Tiên thi 赐耶律仁先 khuyết 2 câu, lần lượt thấy ở Liêu Đông hành bộ chí 辽东行部志 Da Luật Nhân Tiên mộ chí 耶律仁先墓志.
    Tư không Đại sư sa môn Hải Sơn 海山trong Hoạ Hưng Tông thi nhị thủ 和兴宗诗二首ca ngợi ông rằng:
    Thiên tài thiên tử dĩ thiện ngâm
    天才天子已善吟
    (Vị thiên tử thiên tài giỏi ngâm vịnh)
              Toàn Liêu văn 全辽文quyển 2 đã thu thập 45 bài văn của ông. Sự tích hành trạng của ông được thấy trong Liêu sử 辽史 từ quyển 18 đến quyển 20 Hưng Tông bản kỉ 兴宗本纪, Khất Đan quốc chí 契丹国志 quyển 8 Hưng Tông hoàng đế 兴宗皇帝.
                                                                (Tra Hồng Đức 查洪德)

    Chú của người dịch
    1- Khất Đan 契丹
         - Trong Hán Việt tự điển của Thiều Chửu, chữ  có các âm độc như sau:
    “khế” “khiết” “tiết” “khất” với nghĩa khác nhau. Riêng âm “khất” ghi rằng:
              Khất Đan 契丹tên một nước nhỏ ngày xưa, thuộc tỉnh Trực Lệ bây giờ. Sau đổi là nước Liêu (trang 124).
              - Trong Khang Hi tự điển 康熙字典 trang 187 cũng các âm như trên. Riêng với âm “khất” ghi rằng:
              Tập vận 集韻phiên thiết là KHI CẬT 欺訖  (khất).
              Khất Đan, quốc hiệu. Tống vi nam triều, Khất Đan vi bắc triều, hậu cải hiệu Liêu.
    契丹, 國號. 宋為南朝, 契丹為北朝, 後改號遼
              (Khất Đan là tên nước. Tống là nam triều, Khất Đan là bắc triều, sau đổi gọi là Liêu)
              Như vậy tên tộc người, tên nước đọc là “Khất Đan”
    2- Tiêu Hàn Gia Nô 萧韩家奴: tự Quát Ninh 括寧, người Hề , tướng lĩnh nước Liêu.

                                                                            Huỳnh Chương Hưng
                                                                           Quy Nhơn 16/02/2019

    Nguồn
    TRUNG QUỐC VĂN HỌC GIA ĐẠI TỪ ĐIỂN
    LIÊU, KIM, NGUYÊN QUYỂN
    中国文学家大辞典
    , , 元卷
    Chủ biên: Đặng Thiệu Cơ 邓绍基, Dương Liêm 杨镰
    Bắc Kinh: Trung Hoa thư cục, 2006.

    Dịch thuật: Da Luật Tông Chân

    Đăng lúc  20:36  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    DA LUẬT TÔNG CHÂN

              Da Luật Tông Chân 耶律宗真 (1016 – 1055), tức Liêu Hưng Tông 辽兴宗, tự Di Bất Cận 夷不堇, tiểu tự Chỉ Cốt 只骨. Tộc Khất Đan 契丹 (1), con trưởng của Liêu Thánh Tông 辽圣宗. 16 tuổi lên ngôi, tại vị 24 năm, có nhiều cống hiến, xuất binh đánh Bắc Tống và Tây Hạ, khiến Bắc Tống tăng nạp tuế cống, Tây Hạ nghị hoà xưng phiên. Năm Trùng Hi 重熹 thứ 24 (1055) bệnh và qua đời, miếu hiệu Hưng Tông 兴宗. Hưng Tông từ nhỏ đã thông minh, lớn lên càng khôi vĩ, đại độ khoan dung. Giỏi cưỡi ngựa bắn cung, ham Nho thuật, thông âm luật, thích ngâm vịnh. Ông từng lâm hạnh đến nhà Tiêu Vô Khúc 萧无曲, em của hoàng hậu, quân thần tại Khúc thuỷ 曲水 uống rượu làm thơ; lại từng đến Nam Kinh 南京, ngự tại điện Nguyên Hoà 元和, lấy Nhật xạ tam thập lục hùng phú 日射三十六熊赋  Hạnh yến thi 幸燕诗 làm đầu đề thi Tiến sĩ. Trong Liêu sử 辽史 phần bản kỉ có chép, ông nhiều lần cùng quần thần yến ẩm làm thơ, nhiều lần ban tặng thơ cho các thần liêu, đồng thời cũng chép ông và sứ giả triều Tống cùng câu cá làm thơ. Ông không chỉ cất nhắc văn thần, mà còn xem thi nhân Tiêu Hàn Gia Nô 萧韩家奴 (2) là “thi hữu”. Nhưng hiện chỉ có 1 bài Tư không Đại sư bất khẳng phú thi, dĩ thi khiêu chi 司空大师不肯赋诗, 以诗挑之 và bài Tứ Da Luật Nhân Tiên thi 赐耶律仁先 khuyết 2 câu, lần lượt thấy ở Liêu Đông hành bộ chí 辽东行部志 Da Luật Nhân Tiên mộ chí 耶律仁先墓志.
    Tư không Đại sư sa môn Hải Sơn 海山trong Hoạ Hưng Tông thi nhị thủ 和兴宗诗二首ca ngợi ông rằng:
    Thiên tài thiên tử dĩ thiện ngâm
    天才天子已善吟
    (Vị thiên tử thiên tài giỏi ngâm vịnh)
              Toàn Liêu văn 全辽文quyển 2 đã thu thập 45 bài văn của ông. Sự tích hành trạng của ông được thấy trong Liêu sử 辽史 từ quyển 18 đến quyển 20 Hưng Tông bản kỉ 兴宗本纪, Khất Đan quốc chí 契丹国志 quyển 8 Hưng Tông hoàng đế 兴宗皇帝.
                                                                (Tra Hồng Đức 查洪德)

    Chú của người dịch
    1- Khất Đan 契丹
         - Trong Hán Việt tự điển của Thiều Chửu, chữ  có các âm độc như sau:
    “khế” “khiết” “tiết” “khất” với nghĩa khác nhau. Riêng âm “khất” ghi rằng:
              Khất Đan 契丹tên một nước nhỏ ngày xưa, thuộc tỉnh Trực Lệ bây giờ. Sau đổi là nước Liêu (trang 124).
              - Trong Khang Hi tự điển 康熙字典 trang 187 cũng các âm như trên. Riêng với âm “khất” ghi rằng:
              Tập vận 集韻phiên thiết là KHI CẬT 欺訖  (khất).
              Khất Đan, quốc hiệu. Tống vi nam triều, Khất Đan vi bắc triều, hậu cải hiệu Liêu.
    契丹, 國號. 宋為南朝, 契丹為北朝, 後改號遼
              (Khất Đan là tên nước. Tống là nam triều, Khất Đan là bắc triều, sau đổi gọi là Liêu)
              Như vậy tên tộc người, tên nước đọc là “Khất Đan”
    2- Tiêu Hàn Gia Nô 萧韩家奴: tự Quát Ninh 括寧, người Hề , tướng lĩnh nước Liêu.

                                                                            Huỳnh Chương Hưng
                                                                           Quy Nhơn 16/02/2019

    Nguồn
    TRUNG QUỐC VĂN HỌC GIA ĐẠI TỪ ĐIỂN
    LIÊU, KIM, NGUYÊN QUYỂN
    中国文学家大辞典
    , , 元卷
    Chủ biên: Đặng Thiệu Cơ 邓绍基, Dương Liêm 杨镰
    Bắc Kinh: Trung Hoa thư cục, 2006.

    Thứ Sáu, 15 tháng 2, 2019



    THUỴ VÀ HIỆU
    (tiếp theo)

              Niên hiệu 年号, là danh hiệu ghi năm của hoàng đế phong kiến. Niên hiệu bắt đầu có từ thời Hán Vũ Đế 汉武帝, năm Hán Vũ Đế lên ngôi (năm 140 trước công nguyên) xưng là “Kiến Nguyên nguyên niên” 建元元年, năm sau xưng là “Kiến Nguyên nhị niên” 建元二年 v.v... Tân quân lên ngôi tất phải thay đổi niên hiệu, xưng là “cải nguyên” 改元. Cùng một hoàng đế, trong thời gian trị vì cũng có thể cải nguyên, ví dụ Hán Vũ Đế từng cải nguyên là Nguyên Quang 元光, Nguyên Sóc 元朔, Nguyên Thú 元狩, Nguyên Đỉnh 元鼎, Nguyên Phong 元封, Thái Sơ 太初, Thiên Hán 天汉, Thái Thuỷ 太始, Chinh Hoà 征和 (1) v.v... Hoàng đế hai đời Minh Thanh về cơ bản không cải nguyên, nhân đó có thể lấy niên hiệu làm xưng vị hoàng đế, ví dụ Minh Thế Tông 明世宗 được xưng là Gia Tĩnh hoàng đế 嘉竫皇帝, Thanh Cao Tông 清高宗được xưng là Càn Long hoàng đế 乾隆皇帝.v.v...
              Cuối cùng trình bày đơn giản về vấn đề tị huý.
              Gọi là tị huý chính là không gọi thẳng tên của vị quân chủ hoặc của bậc tôn trưởng, phàm gặp phải những chữ tương đồng với tên của vị quân chủ hoặc  tôn trưởng, thì phải dùng các biện pháp như đổi chữ khác, viết khuyết bút để tị huý, kết quả là gây ra một số hỗn loạn về ngữ văn. Ví dụ như:
              Hán Cao Tổ tên (Bang), (bang) đổi thành (quốc). Trong Luận ngữ - Vi Tử 论语 - 微子 có câu:
    Hà tất khứ phụ mẫu chi bang.
    何必去父母之邦
    Trên Thạch kinh tàn bi 石经残碑 đời Hán khắc rằng:
    Hà tất khứ phụ mẫu chi quốc.
    何必去父母之国
              Hán Văn Đế tên (Hằng), (hằng) đổi thành (thường). 恒山 (Hằng sơn) đổi thành常山 (Thường sơn).
              Đường Thái Tông tên 世民 (Thế Dân), (thế) đổi thành (đại) hoặc đổi thành (hệ), (dân) đổi thành (nhân). 三世 (tam thế) xưng là 三代 (tam đại), 世本 (thế bản) đổi thành 系本 (hệ bản), đem 民风 (dân phong) trong Bộ xà giả thuyết 捕蛇者说 của Liễu Tông Nguyên 柳宗元 viết thành 人风 (nhân phong).
              Đường Cao Tông tên (Trị), (trị) đổi thành (lí), hoặc đổi thành  (trì), đổi thành (hoá). Đem câu 治乱不知 (trị loạn bất tri) trong Tống Lí Nguyện quy Bàn Cốc tự 送李愿归盘谷序 của Hàn Dũ 韩愈 viết thành 理乱不知 (lí loạn bất tri); Lí Hiền 李贤 đem câu 治庆氏礼 (trị Khánh thị lễ) trong Hậu Hán thư – Tào Bao truyện 后汉书 - 曹褒传 viết thành 持庆氏礼 (trì Khánh thị lễ), đem câu 治国之日舒以长 (trị quốc chi nhật thư dĩ trường) trong Hậu Hán thư – Vương Phù truyện后汉书 - 王符传 đổi thành化国之日舒以长 (hoá quốc chi nhật thư dĩ trường).
              Thanh Thánh Tổ (Khang Hi) tên 玄烨 (Huyền Diệp), (huyền) đổi thành (nguyên), (diệp) đổi thành (dục). Chúng ta đọc những trứ tác của người Thanh hoặc cổ thư khắc vào đời Thanh cần phải chú ý, nhiều chỗ vốn là chữ (huyền), như 玄鸟 (huyền điểu), 玄武 (huyền vũ), 玄黄 (huyền hoàng) v.v... đều được viết thành (nguyên).
              Trên đây là những ví dụ tị “quân huý” 君讳. Ngoài ra văn nhân còn tị “gia huý” 家讳. Ví dụ:
              Phụ thân của Hoài Nam Vương An tên (Trường), (trường) đổi thành (tu). Câu 长短相形 (trường đoản tương hình) ở Lão Tử 老子, trong Hoài Nam Tử - Tề tục huấn 淮南子 - 齐俗训 đổi viết thành 短修相形 (đoản tu tương hình).
              Tổ phụ của Tô Thức tên (Tự), trong văn chương của Tô Tuân 苏洵 đổi (tự) viết thành (dẫn), Tô Thức 苏轼  viết tự cho người khác lại đổi dùng chữ (tự).
              Thời thượng cổ không huý “hiềm danh” 嫌名. Gọi “hiềm danh” là chỉ những chữ có âm đọc giống hoặc gần giống với tên của vị quân chủ hoặc bậc tôn trưởng. Ví dụ Hán Hoà Đế tên (Triệu),  chữ đồng âm, do không huý hiềm danh cho nên từ 京兆 (kinh triệu) không thay đổi chữ. Sau thời Tam Quốc dần dần tị hiềm danh, phụ thân của Tuỳ Văn Đế tên (Trung), nhân vì với đồng âm, cho nên liên đới tị chữ , (trung) đổi viết thành (nội), tên chức quan 中书 (Trung thư) đổi thành 内史 (Nội sử), đó là những ví dụ về huý hiềm danh.
              Do bởi tị huý, thậm chí cải biến cả tên hoặc họ của người khác. Hán Văn Đế tên (Hằng), 田恒 (Điền Hằng) thời Xuân Thu được đổi thành 田常 (Điền Thường); Hán Cảnh Đế tên (Khải), 微子启 (Vi Tử Khải) được đổi thành微子开 (Vi Tử Khai); Hán Vũ Đế tên (Triệt), 蒯彻 (Khoái Triệt) được đổi thành  蒯通 (Khoái Thông); Hán Minh Đế tên (Trang), 庄助 (Trang Trợ) được đổi thành 严助 (Nghiêm Trợ). Lưu Tri Cơ 刘知几 viết Thông sử 通史, người đời sau tị huý Đường Huyền Tông Lí Long Cơ 李隆基 ( với đồng âm), đổi刘知几著 (Lưu Tri Cơ trứ) thành 刘子玄著 (Lưu Tử Huyền  trứ), (Tử Huyền 子玄 là tên tự của Lưu Tri Cơ刘知几). Đến đời Thanh, để tị huý Thanh Thánh Tổ, lại khôi phục là 刘知几著 (Lưu Tri Cơ trứ), nhưng khi nhắc tới 刘子玄 (Lưu Tử Huyền) thì lại đổi gọi là 刘子元 (Lưu Tử Nguyên). Địa danh, quan danh cùng không ít trường hợp do bởi tị huý mà thay đổi, ở đây không trình bày.
              Những điều trình bày ở trên là tị huý đổi chữ. Còn như tị huý khuyết bút (tức viết bới nét) thì đến đời Đường mới có. Ví dụ tị huý Đường Thái Tông Lí Thế Dân, chữ  (thế) viết thành ; tị huý Tông Chân Tông Triệu Hằng 赵恒, chữ viết bớt nét ngang cuối bên phải; tị huý Thánh Thế Tông, chữ (dận) viết bớt nét phẩy móc bên phải; tị huý Thanh Tuyên Tông, chữ (ninh) viết bớt chữ  (đinh)  ở dưới; tị huý Khổng Tử, chữ (khâu) viết bớt nét sổ ngắn bên phải v.v... (hết)

    Chú của nguyên tác
    1- Có người cho rằng 征和 (chinh hoà) phải viết là 延和 (diên hoà), do hình dạng gần giống nhau nên nhầm.

                                                               Huỳnh Chương Hưng
                                                               Quy Nhơn 15/02/2019

    Nguồn
    TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI VĂN HOÁ THƯỜNG THỨC
    中国古代文化常识
    Chủ biên: Vương Lực 王力
    Bắc Kinh: Trung Quốc Nhân dân Đại học xuất bản xã, 2012

    Dịch thuật: Thuỵ và hiệu (tiếp theo)

    Đăng lúc  20:30  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »



    THUỴ VÀ HIỆU
    (tiếp theo)

              Niên hiệu 年号, là danh hiệu ghi năm của hoàng đế phong kiến. Niên hiệu bắt đầu có từ thời Hán Vũ Đế 汉武帝, năm Hán Vũ Đế lên ngôi (năm 140 trước công nguyên) xưng là “Kiến Nguyên nguyên niên” 建元元年, năm sau xưng là “Kiến Nguyên nhị niên” 建元二年 v.v... Tân quân lên ngôi tất phải thay đổi niên hiệu, xưng là “cải nguyên” 改元. Cùng một hoàng đế, trong thời gian trị vì cũng có thể cải nguyên, ví dụ Hán Vũ Đế từng cải nguyên là Nguyên Quang 元光, Nguyên Sóc 元朔, Nguyên Thú 元狩, Nguyên Đỉnh 元鼎, Nguyên Phong 元封, Thái Sơ 太初, Thiên Hán 天汉, Thái Thuỷ 太始, Chinh Hoà 征和 (1) v.v... Hoàng đế hai đời Minh Thanh về cơ bản không cải nguyên, nhân đó có thể lấy niên hiệu làm xưng vị hoàng đế, ví dụ Minh Thế Tông 明世宗 được xưng là Gia Tĩnh hoàng đế 嘉竫皇帝, Thanh Cao Tông 清高宗được xưng là Càn Long hoàng đế 乾隆皇帝.v.v...
              Cuối cùng trình bày đơn giản về vấn đề tị huý.
              Gọi là tị huý chính là không gọi thẳng tên của vị quân chủ hoặc của bậc tôn trưởng, phàm gặp phải những chữ tương đồng với tên của vị quân chủ hoặc  tôn trưởng, thì phải dùng các biện pháp như đổi chữ khác, viết khuyết bút để tị huý, kết quả là gây ra một số hỗn loạn về ngữ văn. Ví dụ như:
              Hán Cao Tổ tên (Bang), (bang) đổi thành (quốc). Trong Luận ngữ - Vi Tử 论语 - 微子 có câu:
    Hà tất khứ phụ mẫu chi bang.
    何必去父母之邦
    Trên Thạch kinh tàn bi 石经残碑 đời Hán khắc rằng:
    Hà tất khứ phụ mẫu chi quốc.
    何必去父母之国
              Hán Văn Đế tên (Hằng), (hằng) đổi thành (thường). 恒山 (Hằng sơn) đổi thành常山 (Thường sơn).
              Đường Thái Tông tên 世民 (Thế Dân), (thế) đổi thành (đại) hoặc đổi thành (hệ), (dân) đổi thành (nhân). 三世 (tam thế) xưng là 三代 (tam đại), 世本 (thế bản) đổi thành 系本 (hệ bản), đem 民风 (dân phong) trong Bộ xà giả thuyết 捕蛇者说 của Liễu Tông Nguyên 柳宗元 viết thành 人风 (nhân phong).
              Đường Cao Tông tên (Trị), (trị) đổi thành (lí), hoặc đổi thành  (trì), đổi thành (hoá). Đem câu 治乱不知 (trị loạn bất tri) trong Tống Lí Nguyện quy Bàn Cốc tự 送李愿归盘谷序 của Hàn Dũ 韩愈 viết thành 理乱不知 (lí loạn bất tri); Lí Hiền 李贤 đem câu 治庆氏礼 (trị Khánh thị lễ) trong Hậu Hán thư – Tào Bao truyện 后汉书 - 曹褒传 viết thành 持庆氏礼 (trì Khánh thị lễ), đem câu 治国之日舒以长 (trị quốc chi nhật thư dĩ trường) trong Hậu Hán thư – Vương Phù truyện后汉书 - 王符传 đổi thành化国之日舒以长 (hoá quốc chi nhật thư dĩ trường).
              Thanh Thánh Tổ (Khang Hi) tên 玄烨 (Huyền Diệp), (huyền) đổi thành (nguyên), (diệp) đổi thành (dục). Chúng ta đọc những trứ tác của người Thanh hoặc cổ thư khắc vào đời Thanh cần phải chú ý, nhiều chỗ vốn là chữ (huyền), như 玄鸟 (huyền điểu), 玄武 (huyền vũ), 玄黄 (huyền hoàng) v.v... đều được viết thành (nguyên).
              Trên đây là những ví dụ tị “quân huý” 君讳. Ngoài ra văn nhân còn tị “gia huý” 家讳. Ví dụ:
              Phụ thân của Hoài Nam Vương An tên (Trường), (trường) đổi thành (tu). Câu 长短相形 (trường đoản tương hình) ở Lão Tử 老子, trong Hoài Nam Tử - Tề tục huấn 淮南子 - 齐俗训 đổi viết thành 短修相形 (đoản tu tương hình).
              Tổ phụ của Tô Thức tên (Tự), trong văn chương của Tô Tuân 苏洵 đổi (tự) viết thành (dẫn), Tô Thức 苏轼  viết tự cho người khác lại đổi dùng chữ (tự).
              Thời thượng cổ không huý “hiềm danh” 嫌名. Gọi “hiềm danh” là chỉ những chữ có âm đọc giống hoặc gần giống với tên của vị quân chủ hoặc bậc tôn trưởng. Ví dụ Hán Hoà Đế tên (Triệu),  chữ đồng âm, do không huý hiềm danh cho nên từ 京兆 (kinh triệu) không thay đổi chữ. Sau thời Tam Quốc dần dần tị hiềm danh, phụ thân của Tuỳ Văn Đế tên (Trung), nhân vì với đồng âm, cho nên liên đới tị chữ , (trung) đổi viết thành (nội), tên chức quan 中书 (Trung thư) đổi thành 内史 (Nội sử), đó là những ví dụ về huý hiềm danh.
              Do bởi tị huý, thậm chí cải biến cả tên hoặc họ của người khác. Hán Văn Đế tên (Hằng), 田恒 (Điền Hằng) thời Xuân Thu được đổi thành 田常 (Điền Thường); Hán Cảnh Đế tên (Khải), 微子启 (Vi Tử Khải) được đổi thành微子开 (Vi Tử Khai); Hán Vũ Đế tên (Triệt), 蒯彻 (Khoái Triệt) được đổi thành  蒯通 (Khoái Thông); Hán Minh Đế tên (Trang), 庄助 (Trang Trợ) được đổi thành 严助 (Nghiêm Trợ). Lưu Tri Cơ 刘知几 viết Thông sử 通史, người đời sau tị huý Đường Huyền Tông Lí Long Cơ 李隆基 ( với đồng âm), đổi刘知几著 (Lưu Tri Cơ trứ) thành 刘子玄著 (Lưu Tử Huyền  trứ), (Tử Huyền 子玄 là tên tự của Lưu Tri Cơ刘知几). Đến đời Thanh, để tị huý Thanh Thánh Tổ, lại khôi phục là 刘知几著 (Lưu Tri Cơ trứ), nhưng khi nhắc tới 刘子玄 (Lưu Tử Huyền) thì lại đổi gọi là 刘子元 (Lưu Tử Nguyên). Địa danh, quan danh cùng không ít trường hợp do bởi tị huý mà thay đổi, ở đây không trình bày.
              Những điều trình bày ở trên là tị huý đổi chữ. Còn như tị huý khuyết bút (tức viết bới nét) thì đến đời Đường mới có. Ví dụ tị huý Đường Thái Tông Lí Thế Dân, chữ  (thế) viết thành ; tị huý Tông Chân Tông Triệu Hằng 赵恒, chữ viết bớt nét ngang cuối bên phải; tị huý Thánh Thế Tông, chữ (dận) viết bớt nét phẩy móc bên phải; tị huý Thanh Tuyên Tông, chữ (ninh) viết bớt chữ  (đinh)  ở dưới; tị huý Khổng Tử, chữ (khâu) viết bớt nét sổ ngắn bên phải v.v... (hết)

    Chú của nguyên tác
    1- Có người cho rằng 征和 (chinh hoà) phải viết là 延和 (diên hoà), do hình dạng gần giống nhau nên nhầm.

                                                               Huỳnh Chương Hưng
                                                               Quy Nhơn 15/02/2019

    Nguồn
    TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI VĂN HOÁ THƯỜNG THỨC
    中国古代文化常识
    Chủ biên: Vương Lực 王力
    Bắc Kinh: Trung Quốc Nhân dân Đại học xuất bản xã, 2012

    Thứ Năm, 14 tháng 2, 2019



    THUỴ VÀ HIỆU

              Thuỵ pháp 谥法 là tiêu chuẩn đặt cho thuỵ hiệu 谥号. Thuỵ hiệu là một số chữ cố định, những chữ này được phú cho một hàm nghĩa đặc định, dùng để chỉ mĩ đức, ác đức của người mất. Đại để có thể phân thuỵ hiệu ra làm 3 loại:
    1- Biểu dương, ví dụ:
              Kinh vĩ thiên địa viết Văn                 经纬天地曰文
              Uy cường duệ đức viết Vũ                威强睿德曰武
              Thánh văn chu đạt viết Chiêu            圣闻周达曰昭
              Hành nghĩa duyệt dân viết Nguyên   行义悦民曰元
              Bố cương trị kỉ viết Bình                  布纲治纪曰平
              Tịch thổ phục viễn viết Hoàn            辟土服远曰桓
              Ôn nhu hiếu nhạc viết Khang            温柔好乐曰康
              Bố nghĩa hành cương viết Cảnh        布义行刚曰景
              Nhu chất từ dân viết Huệ                   柔质慈民曰惠
              Thánh thiện văn chu viết Tuyên        圣善闻周曰宣
              An dân lập chính viết Thành              安民立政曰成
              Chiếu lâm tứ phương viết Minh         照临四方曰明
              Thánh minh duệ trí viết Hiến             圣明睿知曰献
              Bố đức chấp nghĩa viết Mục              布德执义曰穆
    2- Phê bình, ví dụ:
              Loạn nhi bất tổn viết Linh (1)              乱而不损曰灵
              Sát lục vô cô viết Lệ                           杀戮无辜曰厉
              Hiếu nội viễn lễ viết Dạng                  好内远礼曰炀
    3- Đồng tình, ví dụ:
              Cung nhân đoản chiết viết Ai             恭仁短折曰哀
              Từ nhân đoản chiết viết Hoài             慈仁短折曰怀
              Tại quốc tao ưu viết Mẫn                   在国遭忧曰愍   

    Thuỵ hiệu thời thượng cổ đa phần dùng 1 chữ, nhưng cũng có 2 hoặc 3 chữ, ví dụ:
              Chu Bình Vương                  Tần Mục Công  
    Trịnh Công             Tề Hoàn Công  
         Nguỵ An Li Vương  安釐       Triệu Hiếu Thành Vương 孝成
         Trinh Huệ Văn Tử    贞惠文
    Thuỵ hiệu đời sau trừ hoàng đế ra, đại đa số dùng 2 chữ, ví dụ:
              Tuyên Thành Hầu (Hoắc Quang)    宣成(霍光)
              Trung Vũ Hầu (Chư Cát Lượng)     忠武(诸葛亮)
              Văn Trung Công (Âu Dương Tu)    文忠(欧阳修)
              Vũ Mục Vương (Nhạc Phi)              武穆    (岳飞)
              Ngoài ra còn có tư thuỵ, đây là thuỵ hiệu của học giả có danh vọng sau khi mất được thân hữu đặt cho, ví dụ Trần Thật 陈寔thời Đông Hán sau khi mất, bà con bạn bè đến viếng có hơn 3 vạn người, đặt cho thuỵ là Văn Phạm Tiên Sinh 文范先生. Đào Uyên Minh 陶渊明 thời Tấn sau khi mất, Nhan Diên Niên 颜延年đã viết bài luỵ (*), đặt cho thuỵ là Tĩnh Tiết Trưng Sĩ 靖节征士. Trương Tái 张载thời Tống sau khi mất, môn nhân đặt cho thuỵ là Minh Thành Phu Tử 明诚夫子.  
              Hoàng đế phong kiến trước thuỵ hiệu còn có miếu hiệu 庙号. Từ đời Hán trở đi, vị hoàng đế đầu tiên của mỗi triều đại nhìn chung xưng là Thái Tổ 太祖, Cao Tổ 高祖hoặc Thế Tổ 世祖, các vị tự quân nối sau xưng là Thái Tông 太宗, Thế Tông 世宗... (2). Đơn cử như: toàn hiệu của Hán Cao Tổ 汉高祖là Thái Tổ Cao Hoàng Đế 太祖高皇帝. Toàn hiệu của Hán Văn Đế 汉文帝là Thái Tông Hiếu Văn Hoàng Đế 太宗孝文皇帝 (3). Toàn hiệu của Hán Vũ Đế 汉武帝là Thế Tông Hiếu Vũ Hoàng Đế 世宗孝武皇帝. Toàn hiệu của Nguỵ Văn Đế 魏文帝là Thế Tổ Văn Hoàng Đế 世祖文皇帝. Toàn hiệu của Tuỳ Văn Đế 隋文帝là Cao Tổ Văn Hoàng Đế 高祖文皇帝 v.v...
              Từ thời Đường trở đi, hoàng đế còn có tôn hiệu, đây là hiệu được phụng dâng lúc còn sống (4). Ví dụ năm Khai Nguyên 开元 thứ 27 (năm 739), Đường Huyền Tông 唐玄宗nhận tôn hiệu là Khai Nguyên Thánh Văn Thần Vũ Hoàng Đế 开元圣文神武皇帝; năm Càn Đức 乾德 nguyên niên (năm 963), Tống Thái Tổ 宋太祖 nhận tôn hiệu là Ứng Thiên Quảng Vận Nhân Thánh Văn Vũ Chí Đức Hoàng Đế 应天广运仁圣文武至德皇帝. Tôn hiệu có thể được dâng mấy lần, đều là những từ tôn sùng ca ngợi, trên thực tế là a dua tâng bốc (5). Cũng có hoàng đế sau khi mất được dâng tôn hiệu, ví dụ Đường Cao Tông 唐高宗sau khi mất, đến năm Thiên Bảo 天宝 thứ 13 (năm 754) được dâng tôn hiệu là Thần Nghiêu Đại Thánh Đại Quang Hiếu Hoàng Đế 神尧大圣大光孝皇帝. Tôn hiệu mà sau khi mất dâng lên cũng có thể gọi là thuỵ hiệu, như vậy, số chữ của thuỵ hiệu tăng nhiều. Từ thời Đường trở về trước, đối với vị hoàng đế đã mất giản xưng thuỵ hiệu (như Hán Vũ Đế 汉武帝, Tuỳ Dạng Đế 隋炀帝), không xưng miếu hiệu; từ thời Đường trở về sau do bởi thuỵ hiệu dài, không tiện xưng hô, cho nên đổi xưng miếu hiệu (như Đường Huyền Tông 唐玄宗, Tống Thái Tổ 宋太祖) ...    (còn tiếp)

    Chú của nguyên tác
    1- “Linh” là thuỵ hiệu của hôn quân vô đạo, gọi là “loạn nhi bất tổn” 乱而不损 chỉ là cách nói mang tính ẩn huý. Tấn Linh Công bất quân 晋灵公不君, cho nên thuỵ là Linh Công 灵公.
    2- Tự quân cũng có vị được xưng Thế Tổ, Thái Tổ, ở đây có nguyên nhân khác nên không trình bày.
              Còn thời Hán không phải mỗi vị hoàng đế đều có miếu hiệu, phải “có công” “có đức” mới được xưng là “Tổ” “Tông”. Thời Nam Bắc Triều lạm xưng “Tông”, đến thời Đường không có vị hoàng đế nào mà không là “Tông”.
    3- Từ Hán Huệ Đế 汉惠帝trở đi, nhất luật gia thêm chữ “Hiếu” , coi như là
    một bộ phận của thuỵ hiệu.
    4- Tôn hiệu khởi nguồn từ đời Đường Võ Hậu Trung Tông .武后中宗 Xem Tư Mã Quang 司马光 “Tư Mã Văn Chính tập” 司马文正集 26, “Thỉnh bất thụ tôn hiệu tráp tử” 请不受尊号劄子.
    5- Đế hậu cũng có tôn hiệu, sau xưng là huy hiệu徽号. Ví dụ đời Thanh, Đồng Trị 同治tôn mẹ đẻ của mình Na Lạp Thị 那拉氏 là Thánh Mẫu Hoàng Thái Hậu 圣母皇太后, dâng huy hiệu là Từ Hi 慈禧. Mỗi khi gặp khánh điển, huy hiệu có thể gia thêm, cho nên huy hiệu của Na Lạp Thị kéo dài đến 16 chữ.

    Chú của người dịch
    *- Luỵ : cũng gọi là “luỵ từ” 诔辞 “luỵ văn” 诔文, tức bài văn thuật lại sự tích  hành trạng lúc sinh tiền của người mất, biểu thị sự đau buồn thương xót.

                                                               Huỳnh Chương Hưng
                                                               Quy Nhơn 14/02/2019

    Nguồn
    TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI VĂN HOÁ THƯỜNG THỨC
    中国古代文化常识
    Chủ biên: Vương Lực 王力
    Bắc Kinh: Trung Quốc Nhân dân Đại học xuất bản xã, 2012

    Dịch thuật: Thuỵ và hiệu

    Đăng lúc  21:37  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »



    THUỴ VÀ HIỆU

              Thuỵ pháp 谥法 là tiêu chuẩn đặt cho thuỵ hiệu 谥号. Thuỵ hiệu là một số chữ cố định, những chữ này được phú cho một hàm nghĩa đặc định, dùng để chỉ mĩ đức, ác đức của người mất. Đại để có thể phân thuỵ hiệu ra làm 3 loại:
    1- Biểu dương, ví dụ:
              Kinh vĩ thiên địa viết Văn                 经纬天地曰文
              Uy cường duệ đức viết Vũ                威强睿德曰武
              Thánh văn chu đạt viết Chiêu            圣闻周达曰昭
              Hành nghĩa duyệt dân viết Nguyên   行义悦民曰元
              Bố cương trị kỉ viết Bình                  布纲治纪曰平
              Tịch thổ phục viễn viết Hoàn            辟土服远曰桓
              Ôn nhu hiếu nhạc viết Khang            温柔好乐曰康
              Bố nghĩa hành cương viết Cảnh        布义行刚曰景
              Nhu chất từ dân viết Huệ                   柔质慈民曰惠
              Thánh thiện văn chu viết Tuyên        圣善闻周曰宣
              An dân lập chính viết Thành              安民立政曰成
              Chiếu lâm tứ phương viết Minh         照临四方曰明
              Thánh minh duệ trí viết Hiến             圣明睿知曰献
              Bố đức chấp nghĩa viết Mục              布德执义曰穆
    2- Phê bình, ví dụ:
              Loạn nhi bất tổn viết Linh (1)              乱而不损曰灵
              Sát lục vô cô viết Lệ                           杀戮无辜曰厉
              Hiếu nội viễn lễ viết Dạng                  好内远礼曰炀
    3- Đồng tình, ví dụ:
              Cung nhân đoản chiết viết Ai             恭仁短折曰哀
              Từ nhân đoản chiết viết Hoài             慈仁短折曰怀
              Tại quốc tao ưu viết Mẫn                   在国遭忧曰愍   

    Thuỵ hiệu thời thượng cổ đa phần dùng 1 chữ, nhưng cũng có 2 hoặc 3 chữ, ví dụ:
              Chu Bình Vương                  Tần Mục Công  
    Trịnh Công             Tề Hoàn Công  
         Nguỵ An Li Vương  安釐       Triệu Hiếu Thành Vương 孝成
         Trinh Huệ Văn Tử    贞惠文
    Thuỵ hiệu đời sau trừ hoàng đế ra, đại đa số dùng 2 chữ, ví dụ:
              Tuyên Thành Hầu (Hoắc Quang)    宣成(霍光)
              Trung Vũ Hầu (Chư Cát Lượng)     忠武(诸葛亮)
              Văn Trung Công (Âu Dương Tu)    文忠(欧阳修)
              Vũ Mục Vương (Nhạc Phi)              武穆    (岳飞)
              Ngoài ra còn có tư thuỵ, đây là thuỵ hiệu của học giả có danh vọng sau khi mất được thân hữu đặt cho, ví dụ Trần Thật 陈寔thời Đông Hán sau khi mất, bà con bạn bè đến viếng có hơn 3 vạn người, đặt cho thuỵ là Văn Phạm Tiên Sinh 文范先生. Đào Uyên Minh 陶渊明 thời Tấn sau khi mất, Nhan Diên Niên 颜延年đã viết bài luỵ (*), đặt cho thuỵ là Tĩnh Tiết Trưng Sĩ 靖节征士. Trương Tái 张载thời Tống sau khi mất, môn nhân đặt cho thuỵ là Minh Thành Phu Tử 明诚夫子.  
              Hoàng đế phong kiến trước thuỵ hiệu còn có miếu hiệu 庙号. Từ đời Hán trở đi, vị hoàng đế đầu tiên của mỗi triều đại nhìn chung xưng là Thái Tổ 太祖, Cao Tổ 高祖hoặc Thế Tổ 世祖, các vị tự quân nối sau xưng là Thái Tông 太宗, Thế Tông 世宗... (2). Đơn cử như: toàn hiệu của Hán Cao Tổ 汉高祖là Thái Tổ Cao Hoàng Đế 太祖高皇帝. Toàn hiệu của Hán Văn Đế 汉文帝là Thái Tông Hiếu Văn Hoàng Đế 太宗孝文皇帝 (3). Toàn hiệu của Hán Vũ Đế 汉武帝là Thế Tông Hiếu Vũ Hoàng Đế 世宗孝武皇帝. Toàn hiệu của Nguỵ Văn Đế 魏文帝là Thế Tổ Văn Hoàng Đế 世祖文皇帝. Toàn hiệu của Tuỳ Văn Đế 隋文帝là Cao Tổ Văn Hoàng Đế 高祖文皇帝 v.v...
              Từ thời Đường trở đi, hoàng đế còn có tôn hiệu, đây là hiệu được phụng dâng lúc còn sống (4). Ví dụ năm Khai Nguyên 开元 thứ 27 (năm 739), Đường Huyền Tông 唐玄宗nhận tôn hiệu là Khai Nguyên Thánh Văn Thần Vũ Hoàng Đế 开元圣文神武皇帝; năm Càn Đức 乾德 nguyên niên (năm 963), Tống Thái Tổ 宋太祖 nhận tôn hiệu là Ứng Thiên Quảng Vận Nhân Thánh Văn Vũ Chí Đức Hoàng Đế 应天广运仁圣文武至德皇帝. Tôn hiệu có thể được dâng mấy lần, đều là những từ tôn sùng ca ngợi, trên thực tế là a dua tâng bốc (5). Cũng có hoàng đế sau khi mất được dâng tôn hiệu, ví dụ Đường Cao Tông 唐高宗sau khi mất, đến năm Thiên Bảo 天宝 thứ 13 (năm 754) được dâng tôn hiệu là Thần Nghiêu Đại Thánh Đại Quang Hiếu Hoàng Đế 神尧大圣大光孝皇帝. Tôn hiệu mà sau khi mất dâng lên cũng có thể gọi là thuỵ hiệu, như vậy, số chữ của thuỵ hiệu tăng nhiều. Từ thời Đường trở về trước, đối với vị hoàng đế đã mất giản xưng thuỵ hiệu (như Hán Vũ Đế 汉武帝, Tuỳ Dạng Đế 隋炀帝), không xưng miếu hiệu; từ thời Đường trở về sau do bởi thuỵ hiệu dài, không tiện xưng hô, cho nên đổi xưng miếu hiệu (như Đường Huyền Tông 唐玄宗, Tống Thái Tổ 宋太祖) ...    (còn tiếp)

    Chú của nguyên tác
    1- “Linh” là thuỵ hiệu của hôn quân vô đạo, gọi là “loạn nhi bất tổn” 乱而不损 chỉ là cách nói mang tính ẩn huý. Tấn Linh Công bất quân 晋灵公不君, cho nên thuỵ là Linh Công 灵公.
    2- Tự quân cũng có vị được xưng Thế Tổ, Thái Tổ, ở đây có nguyên nhân khác nên không trình bày.
              Còn thời Hán không phải mỗi vị hoàng đế đều có miếu hiệu, phải “có công” “có đức” mới được xưng là “Tổ” “Tông”. Thời Nam Bắc Triều lạm xưng “Tông”, đến thời Đường không có vị hoàng đế nào mà không là “Tông”.
    3- Từ Hán Huệ Đế 汉惠帝trở đi, nhất luật gia thêm chữ “Hiếu” , coi như là
    một bộ phận của thuỵ hiệu.
    4- Tôn hiệu khởi nguồn từ đời Đường Võ Hậu Trung Tông .武后中宗 Xem Tư Mã Quang 司马光 “Tư Mã Văn Chính tập” 司马文正集 26, “Thỉnh bất thụ tôn hiệu tráp tử” 请不受尊号劄子.
    5- Đế hậu cũng có tôn hiệu, sau xưng là huy hiệu徽号. Ví dụ đời Thanh, Đồng Trị 同治tôn mẹ đẻ của mình Na Lạp Thị 那拉氏 là Thánh Mẫu Hoàng Thái Hậu 圣母皇太后, dâng huy hiệu là Từ Hi 慈禧. Mỗi khi gặp khánh điển, huy hiệu có thể gia thêm, cho nên huy hiệu của Na Lạp Thị kéo dài đến 16 chữ.

    Chú của người dịch
    *- Luỵ : cũng gọi là “luỵ từ” 诔辞 “luỵ văn” 诔文, tức bài văn thuật lại sự tích  hành trạng lúc sinh tiền của người mất, biểu thị sự đau buồn thương xót.

                                                               Huỳnh Chương Hưng
                                                               Quy Nhơn 14/02/2019

    Nguồn
    TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI VĂN HOÁ THƯỜNG THỨC
    中国古代文化常识
    Chủ biên: Vương Lực 王力
    Bắc Kinh: Trung Quốc Nhân dân Đại học xuất bản xã, 2012

    Thứ Tư, 13 tháng 2, 2019

    BÍ ẨN VỀ TUNG TÍCH HOÀNG HẬU Ý AN

              Hoàng hậu của Minh Hi Tông Chu Do Hiệu 明熹宗朱由校họ Trương tên Yên , tự Tổ Nga 祖娥, người Tường Phù 祥符 (nay là Khai Phong 开封Nam 河南). Phụ thân là Trương Quốc Kỉ 张国纪, nhân vì con gái ở ngôi vị tôn quý, nên được phong là “Thái Khang Bá” 太康伯. Tháng 4 năm Thiên Khải 天启 nguyên niên (1621), Trương thị được sách lập làm hoàng hậu. Hi Tông ở ngôi 7 năm, hôn dung vô năng, triều chính bị hoạn quan Nguỵ Trung Hiền 魏忠贤 và nhũ mẫu họ Khách lũng đoạn. Nhân đó, giới sử học gọi thời kì 7 năm (1621 – 1627) niên hiệu Thiên Khải 天启là thời kì đen tối nhất của triều Minh. Con người Trương hoàng hậu chính trực, thường nhiều lần trước mặt Hi Tông chỉ ra hành vi bất pháp của Nguỵ Trung Hiền và Khách thị, nhưng trước sau Hi Tông chưa cảnh giác. Mãi đến lúc bệnh nặng, Hi Tông mới theo những lời khuyên của Trương hoàng hậu, thấy rõ dã tâm soán quyền của Nguỵ Trung Hiền cùng bè đảng của y, đồng ý truyền đế vị cho Tín Vương Chu Do Kiểm 信王朱由检.
              Sau khi Tư Tông 思宗kế vị (tức hoàng đế Sùng Trinh 崇祯), để củng cố chính quyền, dưới sự giúp đỡ của Trương hoàng hậu, không phụ lòng trông ngóng của quần thần, Tư Tông dứt khoát thanh trừ Yêm đảng Nguỵ Trung Hiền cùng bè đảng. Cảm kích tấm lòng của Trương hoàng hậu, Tư Tông ban cho hoàng tẩu tôn hiệu “Ý An Hoàng Hậu” 懿安皇后, hưởng sự đãi ngộ theo cấp bậc hoàng thái hậu.
              Ngày 18 tháng 3 năm Sùng Trinh thứ 17 (1644). Lí Tự Thành 李自成dẫn quân nông dân Đại Thuận 大顺công hãm Bắc Kinh, hoàng đế Sùng Trinh không còn đường chạy, sáng sớm ngày 19 thắt cổ tự tận tại Vạn Thọ sơn 万寿山 (Môi sơn 煤山). Hoàng hậu Chu thị 周氏cũng tự sát thân vong trong cung, duy chỉ hoàng hậu Ý An không rõ tung tích. Từ đó dẫn đến nhiều lời đồn đoán, trở thành nghi án lịch sử khoảng thời Minh Thanh.
              Theo sử liệu ghi chép, về tung tích của hoàng hậu Ý An đại để có 4 thuyết:
    1- Hoàng hậu Ý An tự ải thân vong.
    Theo Lí Trị Đình 李治亭chủ biên bộ Minh đại hoàng đế bí sử 明代皇帝秘史: Hoàng đế Sùng Trinh sau khi mệnh cho hoàng hậu Chu thị tự ải, đích thân Sùng Trinh đến cung Khôn Ninh 坤宁nghiệm thi. Đồng thời ban dãi lụa trắng cho Viên quý phi 袁贵妃 cùng các phi tần ở Tây cung, lệnh cho họ “cẩn thủ trinh tiết, bảo toàn tổ chế” 谨守贞节, 保全祖制. Các phi tần trừ những người tự tận, những người đào thoát đều bị bắt lại, Sùng Trinh đế đích thân rút kiếm giết từng người. Lát sau tìm hỏi tung tích hoàng hậu Ý An, đồng thời sai thái giám đem lụa để hoàng hậu tự tận, thái giám nói tận mắt thấy “Trương hoàng hậu tự tận liễu” 张皇后自尽了 (Trương hoàng hậu đã tự tận rồi). Hạ Túc 贺宿 trong Ý An sự lược 懿安事略 cũng chép rằng:
              Sùng Trinh Giáp Thân, tặc nhập kinh sư, cung trung đỉnh phí, hậu văn biến tự ải.
              崇祯甲申, 贼入京师, 宫中鼎沸, 后闻变自缢 .
              (Năm Giáp Thân niên hiệu Sùng Trinh, giặc tiến vào kinh sư, tình hình trong cung nóng bỏng như nước sôi, hoàng hậu nghe có biến đã tự ải.)
              Chúng tôi cho rằng thuyết này đáng tin.
    2- Hoàng hậu Ý An được tướng lĩnh của quân khởi nghĩa nông dân là Lí Nham李岩 cứu.
              Theo Bành Tôn Di 彭孙贻trong Bình khấu chí 平寇志: Nguỵ tướng quân Lí Nham vào phủ của Thành Quốc Công 成国公, hoàng hậu Ý An trong phủ, nghe đế và hậu đều băng bèn định tự ải. Nham sau khi hỏi ra biết được liền gọi bọn khiêng kiệu lệnh cho lão cung nhân đưa về nhà cha mẹ.
              Còn có nhiều tư liệu chép về thuyết này, cũng có thể tin.
    3- Hoàng hậu Ý An cải trang trốn đi.
              Kế Lục Kì 计六奇 trong Minh quý bắc lược 明季北略 có chép: Hoàng thượng ra khỏi Nam cung, sai người đến chỗ hoàng hậu Ý An, khuyên hoàng hậu tự tử, trong lúc vội vàng cấp bách không đạt được. Lưỡng cung đã tự tận, cung nhân gào khóc chạy ra ngoài, trong cung đại loạn. Hoàng hậu Ý An lấy áo xanh trùm đầu, đi bộ đến nhà Chu Thuần Thần 朱纯臣 (Thành Quốc Công 成国公).
              Thuyết này tựa hồ không đáng tin, theo khảo biện những sử liệu có liên quan, người lấy áo xanh trùm đầu không phải là hoàng hậu Ý An mà là một cung nhân.
    4- Hoàng hậu Ý An ra đón nghĩa quân.
              Theo Triệu Sĩ Cẩm 赵士锦 trong Giáp Thân kỉ sự 甲申纪事: Tương truyền hoàng hậu Ý An ra nghinh đón nghĩa quân đồng thời dâng vàng bạc, sau không rõ tung tích thế nào.
              Chúng tôi cho rằng, thuyết này không phù hợp với tính cách của hoàng hậu Ý An, hoàng thành nguy cấp đến nơi, hoàng hậu không thể không nghĩ tới giang sơn Đại Minh, bỏ Sùng Trinh đế mà đầu hàng.
              Về nơi táng hoàng hậu Ý An, trong Trung Quốc hoàng hậu toàn truyện 中国皇后全传 do Xa Cát Tâm 车吉心 chủ biên, (Chu Hưng 周兴) chép rằng : Sau khi hoàng hậu Ý An tự ải thân vong, “năm Thuận Trị 顺治 nguyên niên (1644) Thanh Thế Tổ Phúc Lâm 清世祖福临 mệnh đem di thể Trương hoàng hậu hợp táng tại lăng Hi Tông”. 

                                                                            Huỳnh Chương Hưng
                                                                            Quy Nhơn 13/02/2019

    Nguyên tác Trung văn
    Ý AN HOÀNG HẬU HẠ LẠC CHI MÊ
     懿安皇后下落之谜
    Tác giả: Lưu Kiến Bình 刘建平, Lí Quảng Sinh 李广生
    Trong quyển
    TRUNG QUỐC LỊCH SỬ CHI MÊ
    中国历史之谜
    Chủ biên: Lí Quảng Sinh 李广生
    Thiên Tân: Bách hoa văn nghệ xuất bản xã, 2001

    Dịch thuật: Bí ẩn về tung tích hoàng hậu Ý An

    Đăng lúc  20:46  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    BÍ ẨN VỀ TUNG TÍCH HOÀNG HẬU Ý AN

              Hoàng hậu của Minh Hi Tông Chu Do Hiệu 明熹宗朱由校họ Trương tên Yên , tự Tổ Nga 祖娥, người Tường Phù 祥符 (nay là Khai Phong 开封Nam 河南). Phụ thân là Trương Quốc Kỉ 张国纪, nhân vì con gái ở ngôi vị tôn quý, nên được phong là “Thái Khang Bá” 太康伯. Tháng 4 năm Thiên Khải 天启 nguyên niên (1621), Trương thị được sách lập làm hoàng hậu. Hi Tông ở ngôi 7 năm, hôn dung vô năng, triều chính bị hoạn quan Nguỵ Trung Hiền 魏忠贤 và nhũ mẫu họ Khách lũng đoạn. Nhân đó, giới sử học gọi thời kì 7 năm (1621 – 1627) niên hiệu Thiên Khải 天启là thời kì đen tối nhất của triều Minh. Con người Trương hoàng hậu chính trực, thường nhiều lần trước mặt Hi Tông chỉ ra hành vi bất pháp của Nguỵ Trung Hiền và Khách thị, nhưng trước sau Hi Tông chưa cảnh giác. Mãi đến lúc bệnh nặng, Hi Tông mới theo những lời khuyên của Trương hoàng hậu, thấy rõ dã tâm soán quyền của Nguỵ Trung Hiền cùng bè đảng của y, đồng ý truyền đế vị cho Tín Vương Chu Do Kiểm 信王朱由检.
              Sau khi Tư Tông 思宗kế vị (tức hoàng đế Sùng Trinh 崇祯), để củng cố chính quyền, dưới sự giúp đỡ của Trương hoàng hậu, không phụ lòng trông ngóng của quần thần, Tư Tông dứt khoát thanh trừ Yêm đảng Nguỵ Trung Hiền cùng bè đảng. Cảm kích tấm lòng của Trương hoàng hậu, Tư Tông ban cho hoàng tẩu tôn hiệu “Ý An Hoàng Hậu” 懿安皇后, hưởng sự đãi ngộ theo cấp bậc hoàng thái hậu.
              Ngày 18 tháng 3 năm Sùng Trinh thứ 17 (1644). Lí Tự Thành 李自成dẫn quân nông dân Đại Thuận 大顺công hãm Bắc Kinh, hoàng đế Sùng Trinh không còn đường chạy, sáng sớm ngày 19 thắt cổ tự tận tại Vạn Thọ sơn 万寿山 (Môi sơn 煤山). Hoàng hậu Chu thị 周氏cũng tự sát thân vong trong cung, duy chỉ hoàng hậu Ý An không rõ tung tích. Từ đó dẫn đến nhiều lời đồn đoán, trở thành nghi án lịch sử khoảng thời Minh Thanh.
              Theo sử liệu ghi chép, về tung tích của hoàng hậu Ý An đại để có 4 thuyết:
    1- Hoàng hậu Ý An tự ải thân vong.
    Theo Lí Trị Đình 李治亭chủ biên bộ Minh đại hoàng đế bí sử 明代皇帝秘史: Hoàng đế Sùng Trinh sau khi mệnh cho hoàng hậu Chu thị tự ải, đích thân Sùng Trinh đến cung Khôn Ninh 坤宁nghiệm thi. Đồng thời ban dãi lụa trắng cho Viên quý phi 袁贵妃 cùng các phi tần ở Tây cung, lệnh cho họ “cẩn thủ trinh tiết, bảo toàn tổ chế” 谨守贞节, 保全祖制. Các phi tần trừ những người tự tận, những người đào thoát đều bị bắt lại, Sùng Trinh đế đích thân rút kiếm giết từng người. Lát sau tìm hỏi tung tích hoàng hậu Ý An, đồng thời sai thái giám đem lụa để hoàng hậu tự tận, thái giám nói tận mắt thấy “Trương hoàng hậu tự tận liễu” 张皇后自尽了 (Trương hoàng hậu đã tự tận rồi). Hạ Túc 贺宿 trong Ý An sự lược 懿安事略 cũng chép rằng:
              Sùng Trinh Giáp Thân, tặc nhập kinh sư, cung trung đỉnh phí, hậu văn biến tự ải.
              崇祯甲申, 贼入京师, 宫中鼎沸, 后闻变自缢 .
              (Năm Giáp Thân niên hiệu Sùng Trinh, giặc tiến vào kinh sư, tình hình trong cung nóng bỏng như nước sôi, hoàng hậu nghe có biến đã tự ải.)
              Chúng tôi cho rằng thuyết này đáng tin.
    2- Hoàng hậu Ý An được tướng lĩnh của quân khởi nghĩa nông dân là Lí Nham李岩 cứu.
              Theo Bành Tôn Di 彭孙贻trong Bình khấu chí 平寇志: Nguỵ tướng quân Lí Nham vào phủ của Thành Quốc Công 成国公, hoàng hậu Ý An trong phủ, nghe đế và hậu đều băng bèn định tự ải. Nham sau khi hỏi ra biết được liền gọi bọn khiêng kiệu lệnh cho lão cung nhân đưa về nhà cha mẹ.
              Còn có nhiều tư liệu chép về thuyết này, cũng có thể tin.
    3- Hoàng hậu Ý An cải trang trốn đi.
              Kế Lục Kì 计六奇 trong Minh quý bắc lược 明季北略 có chép: Hoàng thượng ra khỏi Nam cung, sai người đến chỗ hoàng hậu Ý An, khuyên hoàng hậu tự tử, trong lúc vội vàng cấp bách không đạt được. Lưỡng cung đã tự tận, cung nhân gào khóc chạy ra ngoài, trong cung đại loạn. Hoàng hậu Ý An lấy áo xanh trùm đầu, đi bộ đến nhà Chu Thuần Thần 朱纯臣 (Thành Quốc Công 成国公).
              Thuyết này tựa hồ không đáng tin, theo khảo biện những sử liệu có liên quan, người lấy áo xanh trùm đầu không phải là hoàng hậu Ý An mà là một cung nhân.
    4- Hoàng hậu Ý An ra đón nghĩa quân.
              Theo Triệu Sĩ Cẩm 赵士锦 trong Giáp Thân kỉ sự 甲申纪事: Tương truyền hoàng hậu Ý An ra nghinh đón nghĩa quân đồng thời dâng vàng bạc, sau không rõ tung tích thế nào.
              Chúng tôi cho rằng, thuyết này không phù hợp với tính cách của hoàng hậu Ý An, hoàng thành nguy cấp đến nơi, hoàng hậu không thể không nghĩ tới giang sơn Đại Minh, bỏ Sùng Trinh đế mà đầu hàng.
              Về nơi táng hoàng hậu Ý An, trong Trung Quốc hoàng hậu toàn truyện 中国皇后全传 do Xa Cát Tâm 车吉心 chủ biên, (Chu Hưng 周兴) chép rằng : Sau khi hoàng hậu Ý An tự ải thân vong, “năm Thuận Trị 顺治 nguyên niên (1644) Thanh Thế Tổ Phúc Lâm 清世祖福临 mệnh đem di thể Trương hoàng hậu hợp táng tại lăng Hi Tông”. 

                                                                            Huỳnh Chương Hưng
                                                                            Quy Nhơn 13/02/2019

    Nguyên tác Trung văn
    Ý AN HOÀNG HẬU HẠ LẠC CHI MÊ
     懿安皇后下落之谜
    Tác giả: Lưu Kiến Bình 刘建平, Lí Quảng Sinh 李广生
    Trong quyển
    TRUNG QUỐC LỊCH SỬ CHI MÊ
    中国历史之谜
    Chủ biên: Lí Quảng Sinh 李广生
    Thiên Tân: Bách hoa văn nghệ xuất bản xã, 2001

    Mã nguồn bởi Huỳnh Chương Hưng
    Copyright © 2012 Huỳnh Chương Hưng.
    back to top