• Thứ Sáu, 10 tháng 8, 2018



    禁溺
        墙脚下恐人撒尿, 画一乌龟于壁上, 且批其后曰: 撒尿者即此物.一人不知那里, 仍去屙溺. 其人骂曰: 瞎了眼睛, 也不看看.撒尿者曰: 不知老爹在此.”
                                       (笑林广记)

    CẤM NIỆU
              Tường cước hạ khủng nhân tát niệu, hoạ nhất ô quy vu bích thượng, thả phê kì hậu viết: “Tát niệu giả tức thử vật.” Nhất nhân bất tri na lí, nhưng khứ a niệu. Kì nhân mạ viết: “Hạt liễu nhãn tình, dã bất khán khán.” Tát niệu giả viết: “Bất tri lão đa tại thử.”
                                                                           (Tiếu lâm quảng kí)

    CẤM ĐÁI
              Một người nọ sợ người ta đái ở chân tường nhà mình, bèn vẽ một con rùa lên đó, đồng thời viết rằng: “Người nào đái là con này.” Có một người không biết, vẫn đến đó đái. Chủ nhân mắng rằng: “Mắt mù à, không chịu nhìn gì cả.” Người nọ nói rằng: “Không biết có lão gia ở đó.”

    Chú của người dịch
    TIẾU LÂM QUẢNG KÍ笑林广记:tập truyện cười do Du hí chủ nhân 游戏主人 đời Thanh thu thập biên soạn thành. Toàn sách chia làm 12 bộ, gồm:
    - Cổ diễm bộ 古艳部        - Hủ lưu bộ 腐流部         - Thuật nghiệp bộ 术业部
    - Hình thể bộ 形体部        - Thù bẩm bộ 殊禀部      - Khuê phong bộ 闺风部
    - Thế huý bộ 世讳部        - Tăng đạo bộ 僧道部      - Tham lận bộ 贪吝部
    - Bần cũ bộ 贫窭部          - Cơ thích bộ 讥剌部       - Mậu ngộ bộ 谬误部      
              Những truyện cười trong Tiếu lâm quảng kí đa phần là của hai đời Minh Thanh, hình thức chủ yếu là những đoạn văn ngắn.
              Truyện Cấm niệu  Mậu ngộ bộ.

                                                                         Huỳnh Chương Hưng
                                                                         Quy Nhơn 10/8/2018

    TIẾU LÂM QUẢNG KÍ
    笑林广记
    (Thanh) Du Hí chủ nhân 游戏主人 biên soạn
    Tang Thánh Đồng 桑圣彤 chú dịch
    Sùng Văn thư cục, 2007

    Dịch thuật: Cấm niệu (Tiếu lâm quảng kí)

    Đăng lúc  22:18  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »



    禁溺
        墙脚下恐人撒尿, 画一乌龟于壁上, 且批其后曰: 撒尿者即此物.一人不知那里, 仍去屙溺. 其人骂曰: 瞎了眼睛, 也不看看.撒尿者曰: 不知老爹在此.”
                                       (笑林广记)

    CẤM NIỆU
              Tường cước hạ khủng nhân tát niệu, hoạ nhất ô quy vu bích thượng, thả phê kì hậu viết: “Tát niệu giả tức thử vật.” Nhất nhân bất tri na lí, nhưng khứ a niệu. Kì nhân mạ viết: “Hạt liễu nhãn tình, dã bất khán khán.” Tát niệu giả viết: “Bất tri lão đa tại thử.”
                                                                           (Tiếu lâm quảng kí)

    CẤM ĐÁI
              Một người nọ sợ người ta đái ở chân tường nhà mình, bèn vẽ một con rùa lên đó, đồng thời viết rằng: “Người nào đái là con này.” Có một người không biết, vẫn đến đó đái. Chủ nhân mắng rằng: “Mắt mù à, không chịu nhìn gì cả.” Người nọ nói rằng: “Không biết có lão gia ở đó.”

    Chú của người dịch
    TIẾU LÂM QUẢNG KÍ笑林广记:tập truyện cười do Du hí chủ nhân 游戏主人 đời Thanh thu thập biên soạn thành. Toàn sách chia làm 12 bộ, gồm:
    - Cổ diễm bộ 古艳部        - Hủ lưu bộ 腐流部         - Thuật nghiệp bộ 术业部
    - Hình thể bộ 形体部        - Thù bẩm bộ 殊禀部      - Khuê phong bộ 闺风部
    - Thế huý bộ 世讳部        - Tăng đạo bộ 僧道部      - Tham lận bộ 贪吝部
    - Bần cũ bộ 贫窭部          - Cơ thích bộ 讥剌部       - Mậu ngộ bộ 谬误部      
              Những truyện cười trong Tiếu lâm quảng kí đa phần là của hai đời Minh Thanh, hình thức chủ yếu là những đoạn văn ngắn.
              Truyện Cấm niệu  Mậu ngộ bộ.

                                                                         Huỳnh Chương Hưng
                                                                         Quy Nhơn 10/8/2018

    TIẾU LÂM QUẢNG KÍ
    笑林广记
    (Thanh) Du Hí chủ nhân 游戏主人 biên soạn
    Tang Thánh Đồng 桑圣彤 chú dịch
    Sùng Văn thư cục, 2007

    Thứ Năm, 9 tháng 8, 2018

    VỊ THỨ CỦA HẢO HÁN LƯƠNG SƠN
     TẠI SAO PHẢI XẾP ĐẾN 108 TƯỚNG

              Tiểu thuyết Thuỷ hử truyện 水浒传thuật lại câu chuyện 108 vị hảo hán tụ nghĩa Lương Sơn 梁山, thay trời hành đạo, phản kháng áp bức. Số hảo hán không nhiều không ít vừa đúng 108 vị. Vị thứ xếp theo danh phận là 36 thiên cang 天罡, 72 địa sát 地煞. Thế thì, hảo hán tại Lương Sơn có đúng là 108 vị không, hay là sự trùng hợp?
              Nghe nói, Thi Nại Am 施耐庵khi viết Thuỷ hử truyện, từng trú ngụ một thời gian dài tại La hán đường 罗汉堂chùa Vĩnh Khánh 永庆 ở Tô Châu 苏州. Trong La hán đường có 108 tượng La hán. Xếp hàng trên có 36 tượng đại La  hán, xếp ở hàng dưới có 72 tượng tiểu La hán. Nhân đó, có quan điểm cho rằng, 108 vị tướng trong Thuỷ hử truyện là từ số tượng La hán trong chùa. Về thuyết này chỉ là ức đoán, không thấy chứng cứ trong sử sách.
              Trong văn hoá truyền thống Trung Quốc, chữ số trước giờ là đối tượng sùng bái của nhiều người. Như 5, 6, 9 ... mọi người cho là số tốt (cát số 吉数). Trong học thuyết Đạo giáo, chòm Bắc đẩu có 36 thiên cang tinh 天罡星, 72 địa sát tinh 地煞星, mỗi sao đều có vị thần chủ quản. Và trong giáo nghĩa của Đạo giáo, còn có thuyết 36 phúc địa 福地, 72 động thiên 洞天. Nhân đó mà trong quan niệm truyền thống, bội số 36, 72  của số  “cửu” lớn nhất trong số dương được xem là số tốt.
              Vì thế, trong nhiều tác phẩm văn học đều có ý hoặc vô ý đem hai số này liên hệ một cách khéo léo với cuộc sống. Như 36 kế, 72 người hiền ... những ví dụ như thế này nhiều vô kể. Thuỷ hử truyện là một trong tứ đại danh tác đương nhiên cũng không thoát khỏi ảnh hưởng văn hoá truyền thống. Ngoài ra, Thi Nại Am vận dụng thủ pháp nghệ thuật này còn có một dụng ý khác. Trong Thuỷ hử truyện, các vị hảo hán đều có danh xưng theo các sao trong chòm Bắc đẩu, vị thứ sắp xếp phân ra 36 thiên cang, 72 địa sát. Khi giới thiệu các anh hùng hảo hán, trong truyện có nói: Các vị anh hùng đều là thiên thần xuống trần, đến nhân gian, chính là để hoàn thành đại nghiệp “thế thiên hành đạo”. Như vậy, trên người của các vị hảo hán đã được khoác lên chiếc áo thần tiên. Xem ra, hảo hán Lương Sơn không nhiều không ít, vừa khớp 108 tướng, là sự sắp xếp cố ý của tác giả.

                                                     Huỳnh Chương Hưng
                                                      Quy Nhơn 09/8/2018

    Nguyên tác Trung văn
    Trong quyển
    THÚ VỊ VĂN HOÁ TRI THỨC ĐẠI TOÀN
    趣味文化知识大全
    Thanh Thạch 青石 biên soạn
    Trung Quốc Hoa kiều xuất bản xã, 2013

    Dịch thuật: Vị thứ của hảo hán Lương Sơn .....

    Đăng lúc  21:59  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    VỊ THỨ CỦA HẢO HÁN LƯƠNG SƠN
     TẠI SAO PHẢI XẾP ĐẾN 108 TƯỚNG

              Tiểu thuyết Thuỷ hử truyện 水浒传thuật lại câu chuyện 108 vị hảo hán tụ nghĩa Lương Sơn 梁山, thay trời hành đạo, phản kháng áp bức. Số hảo hán không nhiều không ít vừa đúng 108 vị. Vị thứ xếp theo danh phận là 36 thiên cang 天罡, 72 địa sát 地煞. Thế thì, hảo hán tại Lương Sơn có đúng là 108 vị không, hay là sự trùng hợp?
              Nghe nói, Thi Nại Am 施耐庵khi viết Thuỷ hử truyện, từng trú ngụ một thời gian dài tại La hán đường 罗汉堂chùa Vĩnh Khánh 永庆 ở Tô Châu 苏州. Trong La hán đường có 108 tượng La hán. Xếp hàng trên có 36 tượng đại La  hán, xếp ở hàng dưới có 72 tượng tiểu La hán. Nhân đó, có quan điểm cho rằng, 108 vị tướng trong Thuỷ hử truyện là từ số tượng La hán trong chùa. Về thuyết này chỉ là ức đoán, không thấy chứng cứ trong sử sách.
              Trong văn hoá truyền thống Trung Quốc, chữ số trước giờ là đối tượng sùng bái của nhiều người. Như 5, 6, 9 ... mọi người cho là số tốt (cát số 吉数). Trong học thuyết Đạo giáo, chòm Bắc đẩu có 36 thiên cang tinh 天罡星, 72 địa sát tinh 地煞星, mỗi sao đều có vị thần chủ quản. Và trong giáo nghĩa của Đạo giáo, còn có thuyết 36 phúc địa 福地, 72 động thiên 洞天. Nhân đó mà trong quan niệm truyền thống, bội số 36, 72  của số  “cửu” lớn nhất trong số dương được xem là số tốt.
              Vì thế, trong nhiều tác phẩm văn học đều có ý hoặc vô ý đem hai số này liên hệ một cách khéo léo với cuộc sống. Như 36 kế, 72 người hiền ... những ví dụ như thế này nhiều vô kể. Thuỷ hử truyện là một trong tứ đại danh tác đương nhiên cũng không thoát khỏi ảnh hưởng văn hoá truyền thống. Ngoài ra, Thi Nại Am vận dụng thủ pháp nghệ thuật này còn có một dụng ý khác. Trong Thuỷ hử truyện, các vị hảo hán đều có danh xưng theo các sao trong chòm Bắc đẩu, vị thứ sắp xếp phân ra 36 thiên cang, 72 địa sát. Khi giới thiệu các anh hùng hảo hán, trong truyện có nói: Các vị anh hùng đều là thiên thần xuống trần, đến nhân gian, chính là để hoàn thành đại nghiệp “thế thiên hành đạo”. Như vậy, trên người của các vị hảo hán đã được khoác lên chiếc áo thần tiên. Xem ra, hảo hán Lương Sơn không nhiều không ít, vừa khớp 108 tướng, là sự sắp xếp cố ý của tác giả.

                                                     Huỳnh Chương Hưng
                                                      Quy Nhơn 09/8/2018

    Nguyên tác Trung văn
    Trong quyển
    THÚ VỊ VĂN HOÁ TRI THỨC ĐẠI TOÀN
    趣味文化知识大全
    Thanh Thạch 青石 biên soạn
    Trung Quốc Hoa kiều xuất bản xã, 2013

    Thứ Tư, 8 tháng 8, 2018


    学会感恩  一生无憾
        受人之恩, 虽深不报, 怨则浅亦报之; 闻人之恶, 虽隐不疑, 善则显亦疑之. 此刻之极, 薄之尤也, 宜切戒之.
                                                                            (菜根谭 - 立德修身)

    HỌC HỘI CẢM ÂN  NHẤT SINH VÔ HÁM
              Thụ nhân chi ân, tuy thâm bất báo, oán tắc thiển diệc báo chi; văn nhân chi ác, tuy ẩn bất nghi, thiện tắc hiển diệc nghi chi. Thử khắc chi cực, bạc chi vưu dã, nghi thiết giới chi.
                                                  (Thái căn đàm – Lập đức tu thân)

    HỌC CÁCH CÁM ƠN    CẢ ĐỜI KHÔNG ÂN HẬN
             Chịu ơn của người, tuy sâu nặng nhưng không đền đáp, còn vì một chút oán hận lại đi báo thù; nghe được chuyện xấu của người, tuy không rõ cũng không hề nghi ngờ, còn chuyện tốt của người tuy đã biết rõ lại có thái độ hoài nghi. Hành vi đó cực khắc nghiệt, cực vô tâm, nhất định phải tránh.

    Giải thích và phân tích
              Ơn nhỏ như giọt nước nhưng báo đáp nhiều như suối, đó chính là mĩ đức mà người Trung Quốc xưa nay luôn sùng thượng. Nhưng có hạng người chịu ân huệ rất lớn của người khác đã không biết đáp đền, mà còn vì một chút oán thù lại đi báo phục, hành vi vong ân đó có thể gọi là cực khắc nghiệt, cực vô tâm. Con người cần phải biết học cách cám ơn, ân huệ mà người khác giúp mình cho dù nhỏ không đáng để nói, cũng chớ có quên, lựa thời điểm thích hợp để báo đáp. Nhất là khi ta đang ở vào cảnh khốn cùng, trong bão tuyết mà người ta tặng cho than lại càng vô cùng quý giá, khi ta có năng lực, nên tận tình đền đáp lại.
              Đương nhiên, người lương thiện hoàn toàn không phải vì để có được sự báo đáp mới ra ân huệ, nhưng cuộc sống cần có trái tim biết cám ơn để sáng tạo, và trái tim biết cám ơn cần cuộc sống để dưỡng nuôi.
              Luôn có lòng biết cám ơn có thể giúp chúng ta tìm được hi vọng trong nghịch cảnh, tìm được niềm vui trong bi quan. Cám ơn là triết học xử thế, cũng là đại trí tuệ trong cuộc sống. Luôn có lòng biết cám ơn, cả đời không ân hận.
              Lỗ Tuyên Công 鲁宣公năm thứ 2 (năm 607 trước công nguyên), Tuyên Tử 宣子đi săn tại núi Thú Dương 首阳  (nay là phía đông nam huyện Vĩnh Tế 永济 tỉnh Sơn Tây 山西), trú tại Ế Tang 翳桑. Ngày nọ lúc ra đi săn, Tuyên Tử thấy một người đói ngã lăn ra đất, liền đến hỏi. Người nọ đáp rằng:
              - Đã ba ngày rồi tôi không ăn gì.
              Thế là Tuyên Tử sai người mang thức ăn đến, người nọ ăn, chừa lại một nữa. Tuyên Tử hỏi lí do, anh ta đáp rằng:
              - Tôi xa nhà đã hơn ba năm, không biết mẹ già ở nhà có còn sống không. Nay cách nhà rất gần, xin cho phép tôi để những thức ăn này lại cho mẹ tôi.
              Tuyên Tử cảm động trước tấm lòng hiếu thảo của anh ta, bèn bảo ăn hết chỗ thức ăn đó, rồi chuẩn bị một giỏ cơm thịt để anh ta mang về cho mẹ ở nhà.
              Về sau, Tấn Linh Công 晋灵公muốn giết Tuyên Tử, trong lúc nguy cấp, một người trong đám võ sĩ của Linh Công đã xông ra cản thủ hạ của Tấn Linh Công, khiến Tuyên Tử thoát được hiểm. Tuyên Tử hỏi người đó vì sao lại làm như thế, anh ta đáp rằng:
              - Tôi chính là người bị đói ở Ế Tang.
              Khi Tuyên Tử hỏi họ tên và nhà ở nơi nào, anh ta đi mất không đáp.
              Việc thiện của Tuyên Tử đã gieo được nhân lành khiến ông gặp đại nạn mà không chết, còn người kia vì báo đáp bữa ăn mà dám trái ngược quân lệnh cũng khiến người ta kính phục. Chịu ơn mong được đáp đền là việc trong tình lí, còn lấy đức báo oán thì không phải là việc ai cũng có thể làm được, nó khảo nghiệm tấm lòng và thái độ của con người. Một số người miệng thường nói: lấy đạo của người hoàn trả lại cho người. Đại ý là: anh đối đãi tôi như thế nào, tôi sẽ kính lại anh như thế đó. Cách làm này nhìn từ bề ngoài là hợp lí, nhưng suy nghĩ kĩ chúng ta sẽ phát hiện hậu quả mà nó mang lại rất nặng nề: nguyên vốn chỉ một người đau khổ, nay lại hai người đau khổ. Sai lầm mà người ta phạm phải, tại sao ta phải đáp trả lại? Biết cởi bỏ hiềm khích lúc trước, khoan dung với người, kì thực sẽ có khoảnh đất trống cho ta.
              Trước khi công tử Tiểu Bạch 小白  lên ngôi, để tránh nội loạn nước Tề đã cùng với người anh là công tử Củ   lưu vong nước ngoài. Sau khi Tề Tương Công 齐襄公  bị giết, công tử Tiểu Bạch và công tử Củ đều vội về lại nước Tề tranh đoạt quân vị. Thầy của công tử Củ là Quản Trọng 管仲đem binh chặn đường công tử Tiểu Bạch. Quản Trọng bắn tên trúng móc khuy đai áo của Tiểu Bạch. Tiểu Bạch giả vờ chết. Công tử Củ cho là Tiểu Bạch đã chết, bèn từ từ đi. Còn Tiểu Bạch ngày đêm kiêm trình về đến nước Tề trước, sau đó lên ngôi, đó là Tề Hoàn Công 齐桓公.
              Tề Hoàn Công muốn nhậm dụng thầy của mình là Bảo Thúc Nha 鲍叔牙 làm Tướng, Bảo Thúc Nha tiến cử bạn mình là Quản Trọng, đồng thời nói với Tề Hoàn Công:
              - Nếu ngài muốn trị lí nước Tề, dùng thần là đủ, nhưng nếu ngài muốn xưng bá thiên hạ, không dùng Quản Trọng thì không thể.
              Tề Hoàn Công cho Bảo Thúc Nha nói có lí, không nghĩ đến mối thù mũi tên lúc trước, nhậm dụng Quản Trọng làm Tướng. Về sau, dưới sự phò tá của Quản Trọng, Tề Hoàn Công quả nhiên đã làm cho nước Tề hùng mạnh, trở thành bá chủ thời Xuân Thu.
              Địa vị bá chủ của Tề Hoàn Công không thể tách rời sự phò tá của Quản Trọng, nhưng nếu Tề Hoàn Công lúc ban đầu cố chấp mối thù, không chịu dùng Quản Trọng, kết cục e là một cảnh tượng khác. Cho nên, ở một mức độ nào đó mà nói, chính Tề Hoàn Công đã lấy đức báo oán và đã thành tựu được nghiệp bá của mình sau này. Cá nhân trong quá trình lớn lên và thành thục, sẽ gặp được sự giúp đỡ của người khác, mà cũng sẽ bị người khác làm tổn hại ở một mức độ nào đó. Nhưng không nên mang lòng oán hận, mà phải học cách cám ơn và tha thứ. Cám ơn người mà đã giúp chúng ta trong cảnh khốn cùng, ấy là họ đã khiến chúng ta kiên định niềm tin; khoan dung người mà làm tổn hại chúng ta, ấy là họ đã khiến chúng ta hiểu được cuộc sống.

                                                                 Huỳnh Chương Hưng
                                                                 Quy Nhơn 08/8/2018

    Nguồn
    THÁI CĂN ĐÀM
    菜根谭
    Tác giả: (Minh) Hồng Ứng Minh 洪应明
    Biên soạn: Bàng Bác 庞博
    Trung Quốc Hoa Kiều xuất bản xã, 2013


    Dịch thuật: Học hội cảm ân, nhất sinh vô hám (Thái căn đàm)

    Đăng lúc  21:20  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »


    学会感恩  一生无憾
        受人之恩, 虽深不报, 怨则浅亦报之; 闻人之恶, 虽隐不疑, 善则显亦疑之. 此刻之极, 薄之尤也, 宜切戒之.
                                                                            (菜根谭 - 立德修身)

    HỌC HỘI CẢM ÂN  NHẤT SINH VÔ HÁM
              Thụ nhân chi ân, tuy thâm bất báo, oán tắc thiển diệc báo chi; văn nhân chi ác, tuy ẩn bất nghi, thiện tắc hiển diệc nghi chi. Thử khắc chi cực, bạc chi vưu dã, nghi thiết giới chi.
                                                  (Thái căn đàm – Lập đức tu thân)

    HỌC CÁCH CÁM ƠN    CẢ ĐỜI KHÔNG ÂN HẬN
             Chịu ơn của người, tuy sâu nặng nhưng không đền đáp, còn vì một chút oán hận lại đi báo thù; nghe được chuyện xấu của người, tuy không rõ cũng không hề nghi ngờ, còn chuyện tốt của người tuy đã biết rõ lại có thái độ hoài nghi. Hành vi đó cực khắc nghiệt, cực vô tâm, nhất định phải tránh.

    Giải thích và phân tích
              Ơn nhỏ như giọt nước nhưng báo đáp nhiều như suối, đó chính là mĩ đức mà người Trung Quốc xưa nay luôn sùng thượng. Nhưng có hạng người chịu ân huệ rất lớn của người khác đã không biết đáp đền, mà còn vì một chút oán thù lại đi báo phục, hành vi vong ân đó có thể gọi là cực khắc nghiệt, cực vô tâm. Con người cần phải biết học cách cám ơn, ân huệ mà người khác giúp mình cho dù nhỏ không đáng để nói, cũng chớ có quên, lựa thời điểm thích hợp để báo đáp. Nhất là khi ta đang ở vào cảnh khốn cùng, trong bão tuyết mà người ta tặng cho than lại càng vô cùng quý giá, khi ta có năng lực, nên tận tình đền đáp lại.
              Đương nhiên, người lương thiện hoàn toàn không phải vì để có được sự báo đáp mới ra ân huệ, nhưng cuộc sống cần có trái tim biết cám ơn để sáng tạo, và trái tim biết cám ơn cần cuộc sống để dưỡng nuôi.
              Luôn có lòng biết cám ơn có thể giúp chúng ta tìm được hi vọng trong nghịch cảnh, tìm được niềm vui trong bi quan. Cám ơn là triết học xử thế, cũng là đại trí tuệ trong cuộc sống. Luôn có lòng biết cám ơn, cả đời không ân hận.
              Lỗ Tuyên Công 鲁宣公năm thứ 2 (năm 607 trước công nguyên), Tuyên Tử 宣子đi săn tại núi Thú Dương 首阳  (nay là phía đông nam huyện Vĩnh Tế 永济 tỉnh Sơn Tây 山西), trú tại Ế Tang 翳桑. Ngày nọ lúc ra đi săn, Tuyên Tử thấy một người đói ngã lăn ra đất, liền đến hỏi. Người nọ đáp rằng:
              - Đã ba ngày rồi tôi không ăn gì.
              Thế là Tuyên Tử sai người mang thức ăn đến, người nọ ăn, chừa lại một nữa. Tuyên Tử hỏi lí do, anh ta đáp rằng:
              - Tôi xa nhà đã hơn ba năm, không biết mẹ già ở nhà có còn sống không. Nay cách nhà rất gần, xin cho phép tôi để những thức ăn này lại cho mẹ tôi.
              Tuyên Tử cảm động trước tấm lòng hiếu thảo của anh ta, bèn bảo ăn hết chỗ thức ăn đó, rồi chuẩn bị một giỏ cơm thịt để anh ta mang về cho mẹ ở nhà.
              Về sau, Tấn Linh Công 晋灵公muốn giết Tuyên Tử, trong lúc nguy cấp, một người trong đám võ sĩ của Linh Công đã xông ra cản thủ hạ của Tấn Linh Công, khiến Tuyên Tử thoát được hiểm. Tuyên Tử hỏi người đó vì sao lại làm như thế, anh ta đáp rằng:
              - Tôi chính là người bị đói ở Ế Tang.
              Khi Tuyên Tử hỏi họ tên và nhà ở nơi nào, anh ta đi mất không đáp.
              Việc thiện của Tuyên Tử đã gieo được nhân lành khiến ông gặp đại nạn mà không chết, còn người kia vì báo đáp bữa ăn mà dám trái ngược quân lệnh cũng khiến người ta kính phục. Chịu ơn mong được đáp đền là việc trong tình lí, còn lấy đức báo oán thì không phải là việc ai cũng có thể làm được, nó khảo nghiệm tấm lòng và thái độ của con người. Một số người miệng thường nói: lấy đạo của người hoàn trả lại cho người. Đại ý là: anh đối đãi tôi như thế nào, tôi sẽ kính lại anh như thế đó. Cách làm này nhìn từ bề ngoài là hợp lí, nhưng suy nghĩ kĩ chúng ta sẽ phát hiện hậu quả mà nó mang lại rất nặng nề: nguyên vốn chỉ một người đau khổ, nay lại hai người đau khổ. Sai lầm mà người ta phạm phải, tại sao ta phải đáp trả lại? Biết cởi bỏ hiềm khích lúc trước, khoan dung với người, kì thực sẽ có khoảnh đất trống cho ta.
              Trước khi công tử Tiểu Bạch 小白  lên ngôi, để tránh nội loạn nước Tề đã cùng với người anh là công tử Củ   lưu vong nước ngoài. Sau khi Tề Tương Công 齐襄公  bị giết, công tử Tiểu Bạch và công tử Củ đều vội về lại nước Tề tranh đoạt quân vị. Thầy của công tử Củ là Quản Trọng 管仲đem binh chặn đường công tử Tiểu Bạch. Quản Trọng bắn tên trúng móc khuy đai áo của Tiểu Bạch. Tiểu Bạch giả vờ chết. Công tử Củ cho là Tiểu Bạch đã chết, bèn từ từ đi. Còn Tiểu Bạch ngày đêm kiêm trình về đến nước Tề trước, sau đó lên ngôi, đó là Tề Hoàn Công 齐桓公.
              Tề Hoàn Công muốn nhậm dụng thầy của mình là Bảo Thúc Nha 鲍叔牙 làm Tướng, Bảo Thúc Nha tiến cử bạn mình là Quản Trọng, đồng thời nói với Tề Hoàn Công:
              - Nếu ngài muốn trị lí nước Tề, dùng thần là đủ, nhưng nếu ngài muốn xưng bá thiên hạ, không dùng Quản Trọng thì không thể.
              Tề Hoàn Công cho Bảo Thúc Nha nói có lí, không nghĩ đến mối thù mũi tên lúc trước, nhậm dụng Quản Trọng làm Tướng. Về sau, dưới sự phò tá của Quản Trọng, Tề Hoàn Công quả nhiên đã làm cho nước Tề hùng mạnh, trở thành bá chủ thời Xuân Thu.
              Địa vị bá chủ của Tề Hoàn Công không thể tách rời sự phò tá của Quản Trọng, nhưng nếu Tề Hoàn Công lúc ban đầu cố chấp mối thù, không chịu dùng Quản Trọng, kết cục e là một cảnh tượng khác. Cho nên, ở một mức độ nào đó mà nói, chính Tề Hoàn Công đã lấy đức báo oán và đã thành tựu được nghiệp bá của mình sau này. Cá nhân trong quá trình lớn lên và thành thục, sẽ gặp được sự giúp đỡ của người khác, mà cũng sẽ bị người khác làm tổn hại ở một mức độ nào đó. Nhưng không nên mang lòng oán hận, mà phải học cách cám ơn và tha thứ. Cám ơn người mà đã giúp chúng ta trong cảnh khốn cùng, ấy là họ đã khiến chúng ta kiên định niềm tin; khoan dung người mà làm tổn hại chúng ta, ấy là họ đã khiến chúng ta hiểu được cuộc sống.

                                                                 Huỳnh Chương Hưng
                                                                 Quy Nhơn 08/8/2018

    Nguồn
    THÁI CĂN ĐÀM
    菜根谭
    Tác giả: (Minh) Hồng Ứng Minh 洪应明
    Biên soạn: Bàng Bác 庞博
    Trung Quốc Hoa Kiều xuất bản xã, 2013


    Thứ Ba, 7 tháng 8, 2018

     YẾN, QUẠ VÀ HỈ THƯỚC

    Yến
              Tại thôn Liên Khê 莲溪 tỉnh Triết Giang 浙江, người dân cho rằng, chim yến làm tổ là phong thuỷ tốt, chim yến làm tổ trên rường trong nhà thì gia nghiệp hưng vượng. Hàng năm khi mùa xuân đến, nhà nhà đều mong chim yến bay về hoặc làm tổ. Yến bay về gọi là “gia yến” 家燕.
              Thôn dân Liêm Khê Tạ Địch Sùng 谢迪崇 (68 tuổi, tốt nghiệp tiểu học) nói rằng, ngạn ngữ dân gian có câu:
    Yến tử oa đảo điệu, đầu yếu lạn điệu.
    燕子窝倒掉, 头要烂掉.
    (Tổ yến rơi, đầu cũng vỡ.)
              Chủ nhà có tổ yến rất sợ chim yến làm tổ không chắc, tổ yến mà rơi thì không có lợi cho người và cho nhà, cho nên họ rất quan tâm đến điều này. Bình thường cũng không cho người nhà đụng đến tổ yến để đề phòng tổ rơi, chủ nhà thường để ý đến tình hình chim yến làm tổ, một khi cảm thấy có vấn đề, lập tức chủ động dùng thanh gỗ làm giá để nâng. Đặc biệt những năm gần đây, phòng ốc với kết cấu xi măng cốt thép, không dễ làm tổ, để đón chim yến bay đến, chủ nhà trước tiên gác mấy thanh gỗ tại vị trí làm tổ truyền thống để chim yến dễ làm. Tổ yến trong nhà không ngại nhiều, nếu chim yến không bay đến, trong lòng mới cảm thấy không yên. Để được chim yến đến, cửa nhà ngày đêm luôn rộng mở. Thông thường, khi chim yến làm tổ trong nhà, mỗi tối phải đợi toàn bộ chim yến nhà trở về mới đóng cửa. Bậc trưởng bối trong nhà luôn dặn con cháu không được đùa với chim yến, thậm chí không cho phép dùng đầu ngón tay chạm vào tổ yến. Dân trong thôn khi được hỏi, đa phần đều nói, bởi chim yến là loài chim có ích chuyên bắt sâu bọ để ăn, cho nên cần phải bảo vệ. Đồng thời dân trong thôn cũng cảm khái rằng, hiện nay thuốc trừ sâu quá nhiều nên chim yến cũng dần ít lại, chúng ăn phải những côn trùng dính thuốc trừ sâu nên cũng bị chết theo. Một số lão nông nói rằng, những năm 50 của thế kỉ 20, vào mùa xuân và mùa thu tại thôn Liên Khê, khi chim yến và chim sẻ bay đến, khắp cả bầu trời toàn là chim, hiện không còn thấy hiện tượng này nữa. Có thể thấy, môi trường sinh thái của loài chim, ngay cả thôn Liên Khê với núi non vây bọc cũng gặp phải sự phá huỷ nghiêm trọng.
              Có người khi được hỏi như Chu Quốc Vượng 朱国旺cho rằng, chim yến được mọi người tôn sùng, chủ yếu là do bởi nó đại biểu cho lòng “trung”. Ông nói thêm, con người có trung, hiếu, tiết, nghĩa thì ở loài chim cũng có trung, hiếu, tiết nghĩa, tương ứng đó là yến, quạ, nhạn, bồ câu. Chim yến làm tổ chuyên nhất (một nhà) đó là trung, quạ đáp lại ơn bú mớm đó là hiếu, nhạn sống thành đôi đó là tiết, bồ câu biết ơn báo đáp lại đó là nghĩa. Sự sùng tín đối với loài chim đã thấm vào quan niệm tư tưởng của Nho gia.

    Quạ
              Quạ là loài chim mà thôn dân vừa sợ vừa tôn kính. Tập tục tín ngưỡng của người dân Liên Khê kị tiếng kêu của quạ. Họ cho rằng, khi quạ đậu trên nóc nhà kêu lên đó là điềm không tốt. Hôm nào ra khỏi cửa mà gặp lúc quạ kêu, không nên đi để tránh điều bất lợi, nếu có làm việc gì cũng phải đổi sang ngày khác, chọn ngày hoàng đạo. Nhưng, vùng chung quanh thôn Liên Khê, tục gọi quạ là “thái bình điểu”, một cách gọi tôn kính, cát tường. Điều đó cùng với sự cấm kị điềm hung hình thành sự tương phản, tại sao như vậy?  Theo Chu Quốc Vượng, người dân trong thôn cho rằng, khi quạ kêu lên, đối với chúng ta chẳng có gì là bất tiện. Nếu định đi ra ngoài thì không đi nữa. Tuy quạ kêu đối với mọi người là không tốt, nhưng nó báo cho chúng ta biết sẽ có điều bất lợi để mọi người tránh. Tâm của nó tốt, bảo vệ chúng ta được bình an, cho nên gọi nó là “thái bình điểu”.
              Năm mà Càn Long 乾隆nam du Sơn Đông 山东, nghe tiếng quạ kêu, biết có đại nạn nên đã tránh. Hiện tại, mọi người gọi những người có lòng tốt nhưng không chú ý đến tình huống và hay phê bình lung tung, lúc họ nói năng gọi là “ô nha chuỷ” 乌鸦嘴 (mỏ quạ) chính là từ ý này mà ra.

    Hỉ thước
              Trong mắt người dân thôn Liên Khê 莲徯, chim hỉ thước là loài chim báo điềm vui. Mọi người cho rằng:
    Hỉ thước khiếu, hảo sự đáo.
    喜鹊叫, 好事到.
    (Chim hỉ thước kêu, có việc tốt đến.)
    trong thôn quy định, không được bắt chim hỉ thước.
              Trong đời sống của người dân thôn Liên Khê, hình tượng chim hỉ thước đậu trên cành, hai con chim hỉ thước liền cánh, được điêu khắc nhiều trên cửa lớn, cửa sổ, nơi bàn trang điểm, trên các đồ dùng ... là để cầu mong hỉ thước đến nhà, việc vui theo nhau đến. Nhưng, lòng tốt không nhất định có được sự báo đáp tốt đẹp, chim hỉ thước cũng gặp phải cảnh ngộ này. Tại trấn Trạch Nhã 泽雅 cùng khu vực, nơi thôn Châu Áo 周岙 có một truyền thuyết:
              Tương truyền, dưới sự khẩn cầu của Ngưu Lang và Chức Nữ, cuối cùng Vương Mẫu nương nương quy định hai người 7 ngày gặp nhau một lần, sai chim hỉ thước bắt cầu. Hỉ thước truyền sai tin, thành mỗi năm vào ngày mồng 7 tháng 7 mới gặp nhau một lần. Ngưu Lang trách hỉ thước truyền sai tin, lấy roi đánh lên đầu hỉ thước. Cho nên vào ngày mồng 7 tháng 7 đầu chim hỉ thước bị tróc lông. Mọi người thương tình Ngưu Lang Chức Nữ thường năm phải xa nhau, đau khổ biệt li sinh tử, còn chim hỉ thước vì Ngưu Lang làm việc tốt, nhưng do  nhầm mà không có được sự báo đáp tốt đẹp. Tục thuyết tình cảm phức tạp này lại để cho loài chim hỉ thước bé nhỏ gánh lấy, khiến mọi người cảm thấy thấm thía.
    Trong thực tế, vùng Liên Khê tuy thuộc vùng rừng núi, nhưng do nhiều nhân tố chim hỉ thước cũng không thấy có nhiều. Đối với việc này, những người được hỏi đều lo buồn, hi vọng môi trường sinh thái được khôi phục, có lợi cho sự sinh trưởng phồn thực của loài dã điểu. Trong khi điều tra, chúng tôi phát hiện, tục tín và cấm kị của dân gian đối với loài chim, vô hình trung là một hình thức văn hoá có tác dụng bảo vệ sự sinh tồn của loài chim. Mọi người sợ đầu bị vỡ, cho nên có tâm lí kính sợ đối với chim yến, đồng thời có ý thức chủ động bảo vệ chúng. Về một ý nghĩa nào đó, khi tín ngưỡng sùng điểu thịnh hành, cũng là lúc loài chim tương đối có nhiều, một khi hệ thống tín ngưỡng sùng điểu gặp phải sự đối xử lạnh nhạt, tư tưởng bảo hộ loài chim của khoa học lại chưa xác định thời kì, thì cũng là lúc loài chim dễ bị tổn hại nhất. Nếu một số loài chim không tồn tại, tín ngưỡng sùng điểu vốn có sẽ như thế nào? Điều này đáng để mọi người suy gẫm.

                                                                    Huỳnh Chương Hưng
                                                                    Quy Nhơn 07/8/2018

    Nguyên tác Trung văn
    Trong quyển
    TRUNG QUỐC ĐIỂU TÍN NGƯỠNG
    中国鸟信仰
    Tác giả: Trần Cần Kiến 陈勤建
    Học Uyển xuất bản xã, 2003

    Dịch thuật: Yến, quạ và hỉ thước

    Đăng lúc  22:00  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

     YẾN, QUẠ VÀ HỈ THƯỚC

    Yến
              Tại thôn Liên Khê 莲溪 tỉnh Triết Giang 浙江, người dân cho rằng, chim yến làm tổ là phong thuỷ tốt, chim yến làm tổ trên rường trong nhà thì gia nghiệp hưng vượng. Hàng năm khi mùa xuân đến, nhà nhà đều mong chim yến bay về hoặc làm tổ. Yến bay về gọi là “gia yến” 家燕.
              Thôn dân Liêm Khê Tạ Địch Sùng 谢迪崇 (68 tuổi, tốt nghiệp tiểu học) nói rằng, ngạn ngữ dân gian có câu:
    Yến tử oa đảo điệu, đầu yếu lạn điệu.
    燕子窝倒掉, 头要烂掉.
    (Tổ yến rơi, đầu cũng vỡ.)
              Chủ nhà có tổ yến rất sợ chim yến làm tổ không chắc, tổ yến mà rơi thì không có lợi cho người và cho nhà, cho nên họ rất quan tâm đến điều này. Bình thường cũng không cho người nhà đụng đến tổ yến để đề phòng tổ rơi, chủ nhà thường để ý đến tình hình chim yến làm tổ, một khi cảm thấy có vấn đề, lập tức chủ động dùng thanh gỗ làm giá để nâng. Đặc biệt những năm gần đây, phòng ốc với kết cấu xi măng cốt thép, không dễ làm tổ, để đón chim yến bay đến, chủ nhà trước tiên gác mấy thanh gỗ tại vị trí làm tổ truyền thống để chim yến dễ làm. Tổ yến trong nhà không ngại nhiều, nếu chim yến không bay đến, trong lòng mới cảm thấy không yên. Để được chim yến đến, cửa nhà ngày đêm luôn rộng mở. Thông thường, khi chim yến làm tổ trong nhà, mỗi tối phải đợi toàn bộ chim yến nhà trở về mới đóng cửa. Bậc trưởng bối trong nhà luôn dặn con cháu không được đùa với chim yến, thậm chí không cho phép dùng đầu ngón tay chạm vào tổ yến. Dân trong thôn khi được hỏi, đa phần đều nói, bởi chim yến là loài chim có ích chuyên bắt sâu bọ để ăn, cho nên cần phải bảo vệ. Đồng thời dân trong thôn cũng cảm khái rằng, hiện nay thuốc trừ sâu quá nhiều nên chim yến cũng dần ít lại, chúng ăn phải những côn trùng dính thuốc trừ sâu nên cũng bị chết theo. Một số lão nông nói rằng, những năm 50 của thế kỉ 20, vào mùa xuân và mùa thu tại thôn Liên Khê, khi chim yến và chim sẻ bay đến, khắp cả bầu trời toàn là chim, hiện không còn thấy hiện tượng này nữa. Có thể thấy, môi trường sinh thái của loài chim, ngay cả thôn Liên Khê với núi non vây bọc cũng gặp phải sự phá huỷ nghiêm trọng.
              Có người khi được hỏi như Chu Quốc Vượng 朱国旺cho rằng, chim yến được mọi người tôn sùng, chủ yếu là do bởi nó đại biểu cho lòng “trung”. Ông nói thêm, con người có trung, hiếu, tiết, nghĩa thì ở loài chim cũng có trung, hiếu, tiết nghĩa, tương ứng đó là yến, quạ, nhạn, bồ câu. Chim yến làm tổ chuyên nhất (một nhà) đó là trung, quạ đáp lại ơn bú mớm đó là hiếu, nhạn sống thành đôi đó là tiết, bồ câu biết ơn báo đáp lại đó là nghĩa. Sự sùng tín đối với loài chim đã thấm vào quan niệm tư tưởng của Nho gia.

    Quạ
              Quạ là loài chim mà thôn dân vừa sợ vừa tôn kính. Tập tục tín ngưỡng của người dân Liên Khê kị tiếng kêu của quạ. Họ cho rằng, khi quạ đậu trên nóc nhà kêu lên đó là điềm không tốt. Hôm nào ra khỏi cửa mà gặp lúc quạ kêu, không nên đi để tránh điều bất lợi, nếu có làm việc gì cũng phải đổi sang ngày khác, chọn ngày hoàng đạo. Nhưng, vùng chung quanh thôn Liên Khê, tục gọi quạ là “thái bình điểu”, một cách gọi tôn kính, cát tường. Điều đó cùng với sự cấm kị điềm hung hình thành sự tương phản, tại sao như vậy?  Theo Chu Quốc Vượng, người dân trong thôn cho rằng, khi quạ kêu lên, đối với chúng ta chẳng có gì là bất tiện. Nếu định đi ra ngoài thì không đi nữa. Tuy quạ kêu đối với mọi người là không tốt, nhưng nó báo cho chúng ta biết sẽ có điều bất lợi để mọi người tránh. Tâm của nó tốt, bảo vệ chúng ta được bình an, cho nên gọi nó là “thái bình điểu”.
              Năm mà Càn Long 乾隆nam du Sơn Đông 山东, nghe tiếng quạ kêu, biết có đại nạn nên đã tránh. Hiện tại, mọi người gọi những người có lòng tốt nhưng không chú ý đến tình huống và hay phê bình lung tung, lúc họ nói năng gọi là “ô nha chuỷ” 乌鸦嘴 (mỏ quạ) chính là từ ý này mà ra.

    Hỉ thước
              Trong mắt người dân thôn Liên Khê 莲徯, chim hỉ thước là loài chim báo điềm vui. Mọi người cho rằng:
    Hỉ thước khiếu, hảo sự đáo.
    喜鹊叫, 好事到.
    (Chim hỉ thước kêu, có việc tốt đến.)
    trong thôn quy định, không được bắt chim hỉ thước.
              Trong đời sống của người dân thôn Liên Khê, hình tượng chim hỉ thước đậu trên cành, hai con chim hỉ thước liền cánh, được điêu khắc nhiều trên cửa lớn, cửa sổ, nơi bàn trang điểm, trên các đồ dùng ... là để cầu mong hỉ thước đến nhà, việc vui theo nhau đến. Nhưng, lòng tốt không nhất định có được sự báo đáp tốt đẹp, chim hỉ thước cũng gặp phải cảnh ngộ này. Tại trấn Trạch Nhã 泽雅 cùng khu vực, nơi thôn Châu Áo 周岙 có một truyền thuyết:
              Tương truyền, dưới sự khẩn cầu của Ngưu Lang và Chức Nữ, cuối cùng Vương Mẫu nương nương quy định hai người 7 ngày gặp nhau một lần, sai chim hỉ thước bắt cầu. Hỉ thước truyền sai tin, thành mỗi năm vào ngày mồng 7 tháng 7 mới gặp nhau một lần. Ngưu Lang trách hỉ thước truyền sai tin, lấy roi đánh lên đầu hỉ thước. Cho nên vào ngày mồng 7 tháng 7 đầu chim hỉ thước bị tróc lông. Mọi người thương tình Ngưu Lang Chức Nữ thường năm phải xa nhau, đau khổ biệt li sinh tử, còn chim hỉ thước vì Ngưu Lang làm việc tốt, nhưng do  nhầm mà không có được sự báo đáp tốt đẹp. Tục thuyết tình cảm phức tạp này lại để cho loài chim hỉ thước bé nhỏ gánh lấy, khiến mọi người cảm thấy thấm thía.
    Trong thực tế, vùng Liên Khê tuy thuộc vùng rừng núi, nhưng do nhiều nhân tố chim hỉ thước cũng không thấy có nhiều. Đối với việc này, những người được hỏi đều lo buồn, hi vọng môi trường sinh thái được khôi phục, có lợi cho sự sinh trưởng phồn thực của loài dã điểu. Trong khi điều tra, chúng tôi phát hiện, tục tín và cấm kị của dân gian đối với loài chim, vô hình trung là một hình thức văn hoá có tác dụng bảo vệ sự sinh tồn của loài chim. Mọi người sợ đầu bị vỡ, cho nên có tâm lí kính sợ đối với chim yến, đồng thời có ý thức chủ động bảo vệ chúng. Về một ý nghĩa nào đó, khi tín ngưỡng sùng điểu thịnh hành, cũng là lúc loài chim tương đối có nhiều, một khi hệ thống tín ngưỡng sùng điểu gặp phải sự đối xử lạnh nhạt, tư tưởng bảo hộ loài chim của khoa học lại chưa xác định thời kì, thì cũng là lúc loài chim dễ bị tổn hại nhất. Nếu một số loài chim không tồn tại, tín ngưỡng sùng điểu vốn có sẽ như thế nào? Điều này đáng để mọi người suy gẫm.

                                                                    Huỳnh Chương Hưng
                                                                    Quy Nhơn 07/8/2018

    Nguyên tác Trung văn
    Trong quyển
    TRUNG QUỐC ĐIỂU TÍN NGƯỠNG
    中国鸟信仰
    Tác giả: Trần Cần Kiến 陈勤建
    Học Uyển xuất bản xã, 2003

    Thứ Hai, 6 tháng 8, 2018



    DANH TÍNH 60 VỊ THÁI TUẾ TINH QUÂN

    1- Giáp Tí thái tuế Kim Biện Đại tướng quân     Hải trung kim
              甲子太岁金辨大将军 海中金 
    2- Ất Sửu thái tuế Trần Tài Đại tướng quân     Hải trung kim
              乙丑太岁陈材大将军 海中金 
    3- Bính Dần thái tuế Cảnh Chương Đại tướng quân    Lô trung hoả
              丙寅太岁耿章大将军 炉中火 
    4- Đinh Mão thái tuế Thẩm Hưng Đại tướng quân     Lô trung kim
              丁卯太岁沈兴大将军 炉中火 
    5- Mậu Thìn thái tuế Triệu Đạt Đại tướng quân      Đại lâm mộc
              戊辰太岁赵达大将军 大林木 
    6- Kỉ Tị thái tuế Quách Lạn Đại tướng quân     Đại lâm mộc
              已巳太岁郭灿大将军 大林木 
    7- Canh Ngọ thái tuế Vương Tế Đại tướng quân     Lộ bàng thổ
              庚午太岁王济大将军 路旁土 
    8- Tân Mùi thái tuế Lí Tố Đại tướng quân      Lộ bàng thổ
              辛未太岁李素大将军 路旁土 
    9- Nhâm Thân thái tuế Lưu Vượng Đại tướng quân     Kiếm phong kim
              壬申太岁刘旺大将军 剑峰金 
    10- Quý Dậu thái tuế Khang Chí Đại tướng quân     Kiếm phong kim
              癸酉太岁康志大将军 剑峰金 
    11- Giáp Tuất thái tuế Thi Quảng Đại tướng quân     Sơn đầu hoả
              甲戌太岁施广大将军 山头火 
    12- Ất Hợi thái tuế Nhâm Bảo Đại tướng quân      Sơn đầu hoả
              乙亥太岁任保大将军 山头火 
    13- Bính Tí thái tuế Quách Gia Đại tướng quân      Giản hạ thuỷ
              丙子太岁郭嘉大将军 涧下水 
    14- Đinh Sửu thái tuế Uông Văn Đại tướng quân      Giản hạ thuỷ
              丁丑太岁汪文大将军 涧下水 
    15- Mậu Dần thái tuế Lỗ Tiên Đại tướng quân      Thành tường thổ
              戊寅太岁鲁先大将军 城墙土 
    16- Kỉ Mão thái tuế Long Trọng Đại tướng quân      Thành tường thổ
              已卯太岁龙仲大将军 城墙土 
    17- Canh Thìn thái tuế Đổng Đức Đại tướng quân     Bạch lạp kim
              庚辰太岁董德大将军 白蜡金 
    18- Tân Tị thái tuế Trịnh Đãn Đại tướng quân      Bạch lạp kim
              辛巳太岁郑但大将军 白蜡金 
    19- Nhâm Ngọ thái tuế Lục Minh Đại tướng quân     Dương liễu mộc
              壬午太岁陆明大将军 杨柳木 
    20- Quý Mùi thái tuế Nguỵ Nhân Đại tướng quân      Dương liễu mộc
              癸未太岁魏仁大将军 杨柳木 
    21- Giáp Thân thái tuế Phương Chương Đại tướng quân     Tuyền trung thuỷ
              甲申太岁方章大将军 泉中水 
    22- Ất Dậu thái tuế Tưởng Sùng Đại tướng quân     Tuyền trung thuỷ
              乙酉太岁蒋崇大将军 泉中水 
    23- Bính Tuất thái tuế Bạch Mẫn Đại tướng quân     Ốc thượng thổ
              丙戌太岁白敏大将军 屋上土 
    24- Đinh Hợi thái tuế Phong Tế Đại tướng quân     Ốc thượng thổ
              丁亥太岁封济大将军 屋上土 
    25- Mậu Tí thái tuế Trâu Đang Đại tướng quân     Tích lịch hoả
              戊子太岁邹铛大将军 霹雳火 
    26- Kỉ Sửu thái tuế Phó Hựu Đại tướng quân      Tích lịch hoả
              已丑太岁傅佑大将军 霹雳火 
    27- Canh Dần thái tuế Ổ Hoàn Đại tướng quân     Tùng bá mộc
              庚寅太岁邬桓大将军 松柏木 
    28- Tân Mão thái tuế Phạm Ninh Đại tướng quân     Tùng bá mộc
              辛卯太岁范宁大将军 松柏木 
    29- Nhâm Thìn thái tuế Bành Thái Đại tướng quân      Trường lưu thuỷ
              壬辰太岁彭泰大将军 长流水 
    30- Quý Tị thái tuế Từ Đan Đại tướng quân      Trường lưu thuỷ
              癸巳太岁徐单大将军 长流水 
    31- Giáp Ngọ thái tuế Chương Từ Đại tướng quân      Sa trung kim
              甲午太岁章词大将军 沙中金 
    32- Ất Mùi thái tuế Dương Tiên Đại tướng quân      Sa trung kim
              乙未太岁杨仙大将军 沙中金 
    33- Bính Thân thái tuế Quản Trọng Đại tướng quân     Sơn hạ hoả
              丙申太岁管仲大将军 山下火 
    34- Đinh Dậu thái tuế Đường Tra Đại tướng quân     Sơn hạ hoả
              丁酉太岁唐查大将军 山下火 
    35- Mậu Tuất thái tuế Khương Vũ Đại tướng quân     Bình địa mộc
              戊戌太岁姜武大将军 平地木 
    36- Kỉ Hợi thái tuế Tạ thái Đại tướng quân      Bình địa mộc
              已亥太岁谢太大将军 平地木 
    37- Canh Tí thái tuế Lư Bí Đại tướng quân     Bích thượng thổ
              庚子太岁卢秘大将军 壁上土 
    38- Tân Sửu thái tuế Dương Tín Đại tướng quân     Bích thượng thổ
              辛丑太岁杨信大将军 壁上土 
    39- Nhâm Dần thái tuế Hạ Ngạc Đại tướng quân      Kim bạc kim
              壬寅太岁贺谔大将军 金箔金 
    40- Quý Mão thái tuế Bì Thời Đại tướng quân     Kim bạc kim
              癸卯太岁皮时大将军 金箔金 
    41- Giáp Thìn thái tuế Lí Thành Đại tướng quân     Phật đăng hoả
              甲辰太岁李诚大将军 佛灯火 
    42- Ất Tị thái tuế Ngô Toại Đại tướng quân     Phật đăng hoả
              乙巳太岁吴遂大将军 佛灯火 
    43- Bính Ngọ thái tuế Văn Triết Đại tướng quân     Thiên hà thuỷ
              丙午太岁文哲大将军 天河水 
    44- Đinh Mùi thái tuế Mâu Bính Đại tướng quân     Thiên hà thuỷ
              丁未太岁缪丙大将军 天河水 
    45- Mậu Thân thái tuế Từ Hạo Đại tướng quân     Đại dịch thổ
              戊申太岁徐浩大将军 大驿土 
    46- Kỉ Dậu thái tuế Trình Bảo Đại tướng quân     Đại dịch thổ
              已酉太岁程宝大将军 大驿土 
    47- Canh Tuất thái tuế Nhi Bí Đại tướng quân     Thoa xuyến kim
              庚戌太岁儿秘大将军 钗钏金 
    48- Tân Hợi thái tuế Diệp Kiên Đại tướng quân      Thoa xuyến kim
              辛亥太岁叶坚大将军 钗钏金 
    49- Nhâm Tí thái tuế Khâu Đức Đại tướng quân     Tang tùng mộc
              壬子太岁丘德大将军 桑松木 
    50- Quý Sửu thái tuế Chu Đắc Đại tướng quân     Tang tùng mộc
              癸丑太岁朱得大将军 桑松木 
    51- Giáp Dần thái tuế Trương Triều Đại tướng quân     Đại khê thuỷ
              甲寅太岁张朝大将军 大溪水 
    52- Ất Mão thái tuế Vạn Thanh Đại tướng quân      Đại khê thuỷ
              乙卯太岁万清大将军 大溪水 
    53- Bính Thìn thái tuế Tân Á Đại tướng quân     Sa trung kim
              丙辰太岁辛亚大将军 沙中土 
    54- Đinh Tị thái tuế Dương Ngạn Đại tướng quân     Sa trung kim
              丁巳太岁杨彦大将军 沙中土 
    55- Mậu Ngọ thái tuế Lê Khanh Đại tướng quân     Thiên thượng hoả
              戊午太岁黎卿大将军 天上火 
    56- Kỉ Mùi thái tuế Phó Thưởng Đại tướng quân     Thiên thượng hoả
              已未太岁傅赏大将军 天上火 
    57- Canh Thân thái tuế Mao Tử Đại tướng quân      Thạch lựu mộc
              庚申太岁毛梓大将军 石榴木 
    58- Tân Dậu thái tuế Thạch Chính Đại tướng quân     Thạch lựu mộc
              辛酉太岁石政大将军 石榴木 
    59- Nhâm Tuất thái tuế Hồng Sung Đại tướng quân      Đại hải thuỷ
              壬戌太岁洪充大将军 大海水 
    60- Quý Hợi thái tuế Ngu Trình Đại tướng quân      Đại hải thuỷ
              癸亥太岁虞程大将军 大海水 
                                                                       Huỳnh Chương Hưng
                                                                       Quy Nhơn 06/8/2018

    Nguồn
    LỤC THẬP VỊ THÁI TUẾ TINH QUÂN TÍNH DANH
    六十位太岁星君姓名

    Dịch thuật: Danh tính 60 vị thái tuế tinh quân

    Đăng lúc  22:11  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »



    DANH TÍNH 60 VỊ THÁI TUẾ TINH QUÂN

    1- Giáp Tí thái tuế Kim Biện Đại tướng quân     Hải trung kim
              甲子太岁金辨大将军 海中金 
    2- Ất Sửu thái tuế Trần Tài Đại tướng quân     Hải trung kim
              乙丑太岁陈材大将军 海中金 
    3- Bính Dần thái tuế Cảnh Chương Đại tướng quân    Lô trung hoả
              丙寅太岁耿章大将军 炉中火 
    4- Đinh Mão thái tuế Thẩm Hưng Đại tướng quân     Lô trung kim
              丁卯太岁沈兴大将军 炉中火 
    5- Mậu Thìn thái tuế Triệu Đạt Đại tướng quân      Đại lâm mộc
              戊辰太岁赵达大将军 大林木 
    6- Kỉ Tị thái tuế Quách Lạn Đại tướng quân     Đại lâm mộc
              已巳太岁郭灿大将军 大林木 
    7- Canh Ngọ thái tuế Vương Tế Đại tướng quân     Lộ bàng thổ
              庚午太岁王济大将军 路旁土 
    8- Tân Mùi thái tuế Lí Tố Đại tướng quân      Lộ bàng thổ
              辛未太岁李素大将军 路旁土 
    9- Nhâm Thân thái tuế Lưu Vượng Đại tướng quân     Kiếm phong kim
              壬申太岁刘旺大将军 剑峰金 
    10- Quý Dậu thái tuế Khang Chí Đại tướng quân     Kiếm phong kim
              癸酉太岁康志大将军 剑峰金 
    11- Giáp Tuất thái tuế Thi Quảng Đại tướng quân     Sơn đầu hoả
              甲戌太岁施广大将军 山头火 
    12- Ất Hợi thái tuế Nhâm Bảo Đại tướng quân      Sơn đầu hoả
              乙亥太岁任保大将军 山头火 
    13- Bính Tí thái tuế Quách Gia Đại tướng quân      Giản hạ thuỷ
              丙子太岁郭嘉大将军 涧下水 
    14- Đinh Sửu thái tuế Uông Văn Đại tướng quân      Giản hạ thuỷ
              丁丑太岁汪文大将军 涧下水 
    15- Mậu Dần thái tuế Lỗ Tiên Đại tướng quân      Thành tường thổ
              戊寅太岁鲁先大将军 城墙土 
    16- Kỉ Mão thái tuế Long Trọng Đại tướng quân      Thành tường thổ
              已卯太岁龙仲大将军 城墙土 
    17- Canh Thìn thái tuế Đổng Đức Đại tướng quân     Bạch lạp kim
              庚辰太岁董德大将军 白蜡金 
    18- Tân Tị thái tuế Trịnh Đãn Đại tướng quân      Bạch lạp kim
              辛巳太岁郑但大将军 白蜡金 
    19- Nhâm Ngọ thái tuế Lục Minh Đại tướng quân     Dương liễu mộc
              壬午太岁陆明大将军 杨柳木 
    20- Quý Mùi thái tuế Nguỵ Nhân Đại tướng quân      Dương liễu mộc
              癸未太岁魏仁大将军 杨柳木 
    21- Giáp Thân thái tuế Phương Chương Đại tướng quân     Tuyền trung thuỷ
              甲申太岁方章大将军 泉中水 
    22- Ất Dậu thái tuế Tưởng Sùng Đại tướng quân     Tuyền trung thuỷ
              乙酉太岁蒋崇大将军 泉中水 
    23- Bính Tuất thái tuế Bạch Mẫn Đại tướng quân     Ốc thượng thổ
              丙戌太岁白敏大将军 屋上土 
    24- Đinh Hợi thái tuế Phong Tế Đại tướng quân     Ốc thượng thổ
              丁亥太岁封济大将军 屋上土 
    25- Mậu Tí thái tuế Trâu Đang Đại tướng quân     Tích lịch hoả
              戊子太岁邹铛大将军 霹雳火 
    26- Kỉ Sửu thái tuế Phó Hựu Đại tướng quân      Tích lịch hoả
              已丑太岁傅佑大将军 霹雳火 
    27- Canh Dần thái tuế Ổ Hoàn Đại tướng quân     Tùng bá mộc
              庚寅太岁邬桓大将军 松柏木 
    28- Tân Mão thái tuế Phạm Ninh Đại tướng quân     Tùng bá mộc
              辛卯太岁范宁大将军 松柏木 
    29- Nhâm Thìn thái tuế Bành Thái Đại tướng quân      Trường lưu thuỷ
              壬辰太岁彭泰大将军 长流水 
    30- Quý Tị thái tuế Từ Đan Đại tướng quân      Trường lưu thuỷ
              癸巳太岁徐单大将军 长流水 
    31- Giáp Ngọ thái tuế Chương Từ Đại tướng quân      Sa trung kim
              甲午太岁章词大将军 沙中金 
    32- Ất Mùi thái tuế Dương Tiên Đại tướng quân      Sa trung kim
              乙未太岁杨仙大将军 沙中金 
    33- Bính Thân thái tuế Quản Trọng Đại tướng quân     Sơn hạ hoả
              丙申太岁管仲大将军 山下火 
    34- Đinh Dậu thái tuế Đường Tra Đại tướng quân     Sơn hạ hoả
              丁酉太岁唐查大将军 山下火 
    35- Mậu Tuất thái tuế Khương Vũ Đại tướng quân     Bình địa mộc
              戊戌太岁姜武大将军 平地木 
    36- Kỉ Hợi thái tuế Tạ thái Đại tướng quân      Bình địa mộc
              已亥太岁谢太大将军 平地木 
    37- Canh Tí thái tuế Lư Bí Đại tướng quân     Bích thượng thổ
              庚子太岁卢秘大将军 壁上土 
    38- Tân Sửu thái tuế Dương Tín Đại tướng quân     Bích thượng thổ
              辛丑太岁杨信大将军 壁上土 
    39- Nhâm Dần thái tuế Hạ Ngạc Đại tướng quân      Kim bạc kim
              壬寅太岁贺谔大将军 金箔金 
    40- Quý Mão thái tuế Bì Thời Đại tướng quân     Kim bạc kim
              癸卯太岁皮时大将军 金箔金 
    41- Giáp Thìn thái tuế Lí Thành Đại tướng quân     Phật đăng hoả
              甲辰太岁李诚大将军 佛灯火 
    42- Ất Tị thái tuế Ngô Toại Đại tướng quân     Phật đăng hoả
              乙巳太岁吴遂大将军 佛灯火 
    43- Bính Ngọ thái tuế Văn Triết Đại tướng quân     Thiên hà thuỷ
              丙午太岁文哲大将军 天河水 
    44- Đinh Mùi thái tuế Mâu Bính Đại tướng quân     Thiên hà thuỷ
              丁未太岁缪丙大将军 天河水 
    45- Mậu Thân thái tuế Từ Hạo Đại tướng quân     Đại dịch thổ
              戊申太岁徐浩大将军 大驿土 
    46- Kỉ Dậu thái tuế Trình Bảo Đại tướng quân     Đại dịch thổ
              已酉太岁程宝大将军 大驿土 
    47- Canh Tuất thái tuế Nhi Bí Đại tướng quân     Thoa xuyến kim
              庚戌太岁儿秘大将军 钗钏金 
    48- Tân Hợi thái tuế Diệp Kiên Đại tướng quân      Thoa xuyến kim
              辛亥太岁叶坚大将军 钗钏金 
    49- Nhâm Tí thái tuế Khâu Đức Đại tướng quân     Tang tùng mộc
              壬子太岁丘德大将军 桑松木 
    50- Quý Sửu thái tuế Chu Đắc Đại tướng quân     Tang tùng mộc
              癸丑太岁朱得大将军 桑松木 
    51- Giáp Dần thái tuế Trương Triều Đại tướng quân     Đại khê thuỷ
              甲寅太岁张朝大将军 大溪水 
    52- Ất Mão thái tuế Vạn Thanh Đại tướng quân      Đại khê thuỷ
              乙卯太岁万清大将军 大溪水 
    53- Bính Thìn thái tuế Tân Á Đại tướng quân     Sa trung kim
              丙辰太岁辛亚大将军 沙中土 
    54- Đinh Tị thái tuế Dương Ngạn Đại tướng quân     Sa trung kim
              丁巳太岁杨彦大将军 沙中土 
    55- Mậu Ngọ thái tuế Lê Khanh Đại tướng quân     Thiên thượng hoả
              戊午太岁黎卿大将军 天上火 
    56- Kỉ Mùi thái tuế Phó Thưởng Đại tướng quân     Thiên thượng hoả
              已未太岁傅赏大将军 天上火 
    57- Canh Thân thái tuế Mao Tử Đại tướng quân      Thạch lựu mộc
              庚申太岁毛梓大将军 石榴木 
    58- Tân Dậu thái tuế Thạch Chính Đại tướng quân     Thạch lựu mộc
              辛酉太岁石政大将军 石榴木 
    59- Nhâm Tuất thái tuế Hồng Sung Đại tướng quân      Đại hải thuỷ
              壬戌太岁洪充大将军 大海水 
    60- Quý Hợi thái tuế Ngu Trình Đại tướng quân      Đại hải thuỷ
              癸亥太岁虞程大将军 大海水 
                                                                       Huỳnh Chương Hưng
                                                                       Quy Nhơn 06/8/2018

    Nguồn
    LỤC THẬP VỊ THÁI TUẾ TINH QUÂN TÍNH DANH
    六十位太岁星君姓名

    Chủ Nhật, 5 tháng 8, 2018

    THÁI TUẾ VÀ TỨ TRỰC CÔNG TÀO

              Thái tuế 太岁 vào thời cổ vốn là một hung thần. Có người cho rằng thái tuế là Tuế tinh 岁星  (tức Mộc tinh 木星), Tuế tinh xuất hiện thì thiên hạ có đại tai. Cũng có người cho rằng thái tuế là vị thần chủ về nóng lạnh của bốn mùa, hoặc thần của thập nhị thời thần. Đạo giáo xem thái tuế là vị thần trực năm, theo thứ tự 60 giáp tí, tổng cộng có 60 vị, thay nhau trực năm, 60 năm một lần. Thái tuế hoặc văn hoặc võ, đều gọi là Đại tướng quân 大将军, mỗi vị có danh tánh riêng, như Giáp Tí thái tuế là Kim Biện Đại tướng quân 金辨大将军, Ất Sửu thái tuế là Trần Tài Đại tướng quân 陈材大将军.
              Công tào 功曹vốn là tên gọi một chức quan nhỏ dưới Quận thú 郡守 vào đời Hán. Đạo giáo xem công tào là quan lại cấp dưới trong phủ tiên, lần lượt trực tháng, trực ngày, trực giờ, phàm nhân gian dâng biểu chương lên thiên đình,  sau khi đốt sẽ đều do công tào theo cấp mà dâng lên, cho nên quan phẩm công tào tuy nhỏ, nhưng quan hệ trọng đại.
              Thái tuế cũng là một loại công tào. Đạo giáo hợp xưng 4 tiểu thần trực năm, trực tháng, trực ngày, trực giờ là “Tứ trực công tào” 四值功曹.

                                                                    Huỳnh Chương Hưng
                                                                     Quy Nhơn 05/8/2018

    Nguồn 
    ĐẠO GIÁO THƯỜNG THỨC ĐÁP VẤN
    道教常识答问
    Tác giả: Khanh Hi Thái 卿希泰
                       Vương Chí Trung 王志忠
                       Đường Đại Triều 唐大潮
    Giang Tô cổ tịch xuất bản xã, 1996

    Dịch thuật: Thái tuế và Tứ trực công tào

    Đăng lúc  22:58  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    THÁI TUẾ VÀ TỨ TRỰC CÔNG TÀO

              Thái tuế 太岁 vào thời cổ vốn là một hung thần. Có người cho rằng thái tuế là Tuế tinh 岁星  (tức Mộc tinh 木星), Tuế tinh xuất hiện thì thiên hạ có đại tai. Cũng có người cho rằng thái tuế là vị thần chủ về nóng lạnh của bốn mùa, hoặc thần của thập nhị thời thần. Đạo giáo xem thái tuế là vị thần trực năm, theo thứ tự 60 giáp tí, tổng cộng có 60 vị, thay nhau trực năm, 60 năm một lần. Thái tuế hoặc văn hoặc võ, đều gọi là Đại tướng quân 大将军, mỗi vị có danh tánh riêng, như Giáp Tí thái tuế là Kim Biện Đại tướng quân 金辨大将军, Ất Sửu thái tuế là Trần Tài Đại tướng quân 陈材大将军.
              Công tào 功曹vốn là tên gọi một chức quan nhỏ dưới Quận thú 郡守 vào đời Hán. Đạo giáo xem công tào là quan lại cấp dưới trong phủ tiên, lần lượt trực tháng, trực ngày, trực giờ, phàm nhân gian dâng biểu chương lên thiên đình,  sau khi đốt sẽ đều do công tào theo cấp mà dâng lên, cho nên quan phẩm công tào tuy nhỏ, nhưng quan hệ trọng đại.
              Thái tuế cũng là một loại công tào. Đạo giáo hợp xưng 4 tiểu thần trực năm, trực tháng, trực ngày, trực giờ là “Tứ trực công tào” 四值功曹.

                                                                    Huỳnh Chương Hưng
                                                                     Quy Nhơn 05/8/2018

    Nguồn 
    ĐẠO GIÁO THƯỜNG THỨC ĐÁP VẤN
    道教常识答问
    Tác giả: Khanh Hi Thái 卿希泰
                       Vương Chí Trung 王志忠
                       Đường Đại Triều 唐大潮
    Giang Tô cổ tịch xuất bản xã, 1996

    Thứ Bảy, 4 tháng 8, 2018

    HOÀNG ĐẾ PHONG THIỆN THÁI SƠN ĐẦU TIÊN LÀ AI

              Phong thiện (1) Thái sơn 泰山được các triều đại trong lịch sử Trung Quốc ấn định là đại điển quốc gia, nó là một hoạt động chính trị cực kì long trọng của đế vương phong kiến. Hơn nữa, phong thiện Thái sơn cũng làm tiêu chí cho sự ổn định của chính quyền, sự hưng suy của đất nước. Thế thì, phong thiện Thái sơn bắt đầu từ lúc nào? Vấn đề này có mấy thuyết trong lịch sử:
             - Thuyết thứ 1 cho rằng, phong thiện Thái sơn bắt đầu từ trước thời đại Vô Hoài Thị 无怀氏 (2) rất lâu.
              Trong Thượng thư tự sớ 尚书序疏 có nói, người phong thiện Thái sơn thời cổ có đến hơn vạn người. Trọng Ni 仲尼  sau khi xem qua không thể biết hết, chỉ biết có 12 nhà.
              Từ đó chúng ta có thể thấy, thời cổ đế vương phong thiện bắt đầu từ niên đại trước thời Vô Hoài Thị rất lâu. Một số tù trưởng bộ lạc khi lên Thái sơn tế tự đều “khắc thạch kỉ hiệu” 刻石纪号  (khắc đá ghi dấu). Đến thời Quản Trọng 管仲, Khổng Tử 孔子, đã có rất nhiều rồi, không cách nào biết hết được.
              - Thuyết thứ 2 cho rằng, bắt đầu từ Hoàng Đế. Trong Hàn Phi Tử - Thập quá thiên 韩非子 - 十过篇  có chép:
    Hoàng Đế đại hợp quỷ thần vu Thái sơn chi thượng.
    黄帝大合鬼神于泰山之上
    (Hoàng Đế tập hợp quỷ thần trên Thái sơn)
              Quỷ thần mà Hàn Phi chép ở đây, thực tế là các tù trưởng của các bộ lạc lúc đó. Thời Hoàng Đế thiên hạ thái bình, trong số các đế vương xưa nay, chỉ có Hoàng Đế khi lên Thái sơn phong thiện tế tự thì quỷ thần sông núi là có nhiều nhất.
              - Thuyết thứ 3 cho rằng, bắt đầu từ Đế Thuấn. Ở Thuấn điển 舜典 trong Thượng thư 尚书 - bộ sử thư tập hợp công văn cổ xưa nhất của Trung Quốc có chép:
    Tuế nhị nguyệt, đông tuần thú, chí vu Đại tông (3), sài, vọng trật vu sơn xuyên.
    岁二月, 东巡守, 至于岱宗 (3), , 望秩于山川.
    (Tháng 2, Đế Thuấn đi tuần thú phương đông, đến Đại Tông cử hành lễ tế Sài (4), đối với những núi sông khác, theo thứ tự tôn ti cũng cử hành lễ tế.)
              Trong Lễ kí – Vương chế 礼记 - 王制  cũng có ghi chép tương tự. Tuy Tư Mã Thiên 司马迁 dẫn chứng lời của Quản Trọng 管仲 nói với Tề Hoàn Công 齐桓公 về việc Vô Hoài Thị phong thiện Thái sơn, Sử kí 史记 quả có ghi chép về hoạt động phong thiện của các đế vương cổ đại, nhưng lại bắt đầu từ Đế Thuấn.
              - Thuyết thứ 4 cho rằng, bắt đầu từ Tần, Hán. Đối với cách nói truyền thống các đế vương từ xưa đều có phong thiện, Vương Thông 王通 đời Tuỳ đã nêu ra chất nghi. Ông nói rõ rằng:
    Phong thiện phi cổ chế, thực tùng Tần Thuỷ Hoàng, Hán Vũ Đế khai thuỷ.
    封禅非古制, 实从秦始皇, 汉武帝开始.
    (Phong thiện không phải là chế độ thời cổ, mà thực ra bắt đầu từ Tần thuỷ Hoàng, Hán Vũ Đế.)
              Đối với cách nói của Vương Thông, Mã Đoan Lâm 马端临  đời Thanh đã tán thành. Mã Vương Lâm chỉ ra rằng, cách nói từ Vô Hoài thị đến Tam đại phong thiện:
              “Vốn xuất phát từ cách nói của hủ Nho nước Tề nước Lỗ, trong “Thi”, “Thư” không có ghi chép, đó không phải là sự thực.”
              Còn Tần Thuỷ Hoàng, Hán Vũ Đế lên Thái sơn phong thiện, trong Sử kí 史记, Hán thư 汉书 đều có ghi chép tỉ mỉ. Không chỉ trong Tần Thuỷ Hoàng bản kỉ, Hán Vũ Đế bản kỉ có chép, mà trong Phong thiện thư 封禅书, Giao tự chí 郊祀志 cũng đều có chép, nên đó là điều xác tín không thể nghi ngờ.

    Chú của người dịch
    1- Phong thiện 封禅: phong là “tế Thiên”, thiện là “tế Địa”, chỉ đại điển tế Thiên tế Địa của các đế vương cổ đại Trung Quốc lúc thái bình thịnh thế hoặc lúc trời giáng điềm cát tường.
              Người xưa cho rằng, trong số các núi thì Thái sơn là cao nhất, là “thiên hạ đệ nhất sơn”, do đó đế vương chốn nhân gian phải đến Thái sơn để tế Thiên đế, mới xem như là đã nhận mệnh từ trời. Trên Thái sơn đắp đàn tế Thiên gọi là “phong” , dưới Thái sơn đắp đàn tế Địa gọi là “thiện” . Đây là đại điển tối cao của đế vương cổ đại.
    2- Vô Hoài Thị 无怀氏: vị đế vương thời thượng cổ trong truyền thuyết của Trung Quốc. Trong Quản Tử - Phong thiện 管子 - 封禅có ghi:
    Tích Vô Hoài Thị phong Thái sơn.
    昔无怀氏封泰山
              Doãn Tri Chương 尹知章chú rằng:
    (Vô Hoài Thị) cổ chi vương giả, tại Phục Hi tiền.
    (无怀氏) 古之王者在伏羲前
    ( (Vô Hoài Thị) đế vương thời cổ, trước Phục Hi)
    3- Đại tông 岱宗: tức Thái sơn, được xem là “ngũ nhạc chi thủ” 五岳之首(đứng đầu trong ngũ nhạc). Thái sơn tại huyện Thái An 泰安tỉnh Sơn Đông 山东, còn được gọi là Đại sơn 岱山, Đại nhạc 岱岳, Đông nhạc 东岳, Thái nhạc 泰岳.
    4- Tế Sài: một lễ tế thời cổ, đốt củi để tế Thiên.

                                                           Huỳnh Chương Hưng
                                                            Quy Nhơn 04/8/2018

    Nguyên tác Trung văn
    THUỲ THỊ ĐỆ NHẤT CÁ THÁI SƠN PHONG THIỆN ĐÍCH ĐẾ VƯƠNG
     谁是第一个泰山封禅的帝王
    Trong quyển
    TRUNG QUỐC VỊ GIẢI CHI MÊ
    中国未解之谜
    Tác giả: Hải Tử 海子
    Trung Quốc Hoa Kiều xuất bản xã, 2013 

    Dịch thuật: Hoàng đế phong thiện Thái sơn đầu tiên là ai

    Đăng lúc  22:23  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    HOÀNG ĐẾ PHONG THIỆN THÁI SƠN ĐẦU TIÊN LÀ AI

              Phong thiện (1) Thái sơn 泰山được các triều đại trong lịch sử Trung Quốc ấn định là đại điển quốc gia, nó là một hoạt động chính trị cực kì long trọng của đế vương phong kiến. Hơn nữa, phong thiện Thái sơn cũng làm tiêu chí cho sự ổn định của chính quyền, sự hưng suy của đất nước. Thế thì, phong thiện Thái sơn bắt đầu từ lúc nào? Vấn đề này có mấy thuyết trong lịch sử:
             - Thuyết thứ 1 cho rằng, phong thiện Thái sơn bắt đầu từ trước thời đại Vô Hoài Thị 无怀氏 (2) rất lâu.
              Trong Thượng thư tự sớ 尚书序疏 có nói, người phong thiện Thái sơn thời cổ có đến hơn vạn người. Trọng Ni 仲尼  sau khi xem qua không thể biết hết, chỉ biết có 12 nhà.
              Từ đó chúng ta có thể thấy, thời cổ đế vương phong thiện bắt đầu từ niên đại trước thời Vô Hoài Thị rất lâu. Một số tù trưởng bộ lạc khi lên Thái sơn tế tự đều “khắc thạch kỉ hiệu” 刻石纪号  (khắc đá ghi dấu). Đến thời Quản Trọng 管仲, Khổng Tử 孔子, đã có rất nhiều rồi, không cách nào biết hết được.
              - Thuyết thứ 2 cho rằng, bắt đầu từ Hoàng Đế. Trong Hàn Phi Tử - Thập quá thiên 韩非子 - 十过篇  có chép:
    Hoàng Đế đại hợp quỷ thần vu Thái sơn chi thượng.
    黄帝大合鬼神于泰山之上
    (Hoàng Đế tập hợp quỷ thần trên Thái sơn)
              Quỷ thần mà Hàn Phi chép ở đây, thực tế là các tù trưởng của các bộ lạc lúc đó. Thời Hoàng Đế thiên hạ thái bình, trong số các đế vương xưa nay, chỉ có Hoàng Đế khi lên Thái sơn phong thiện tế tự thì quỷ thần sông núi là có nhiều nhất.
              - Thuyết thứ 3 cho rằng, bắt đầu từ Đế Thuấn. Ở Thuấn điển 舜典 trong Thượng thư 尚书 - bộ sử thư tập hợp công văn cổ xưa nhất của Trung Quốc có chép:
    Tuế nhị nguyệt, đông tuần thú, chí vu Đại tông (3), sài, vọng trật vu sơn xuyên.
    岁二月, 东巡守, 至于岱宗 (3), , 望秩于山川.
    (Tháng 2, Đế Thuấn đi tuần thú phương đông, đến Đại Tông cử hành lễ tế Sài (4), đối với những núi sông khác, theo thứ tự tôn ti cũng cử hành lễ tế.)
              Trong Lễ kí – Vương chế 礼记 - 王制  cũng có ghi chép tương tự. Tuy Tư Mã Thiên 司马迁 dẫn chứng lời của Quản Trọng 管仲 nói với Tề Hoàn Công 齐桓公 về việc Vô Hoài Thị phong thiện Thái sơn, Sử kí 史记 quả có ghi chép về hoạt động phong thiện của các đế vương cổ đại, nhưng lại bắt đầu từ Đế Thuấn.
              - Thuyết thứ 4 cho rằng, bắt đầu từ Tần, Hán. Đối với cách nói truyền thống các đế vương từ xưa đều có phong thiện, Vương Thông 王通 đời Tuỳ đã nêu ra chất nghi. Ông nói rõ rằng:
    Phong thiện phi cổ chế, thực tùng Tần Thuỷ Hoàng, Hán Vũ Đế khai thuỷ.
    封禅非古制, 实从秦始皇, 汉武帝开始.
    (Phong thiện không phải là chế độ thời cổ, mà thực ra bắt đầu từ Tần thuỷ Hoàng, Hán Vũ Đế.)
              Đối với cách nói của Vương Thông, Mã Đoan Lâm 马端临  đời Thanh đã tán thành. Mã Vương Lâm chỉ ra rằng, cách nói từ Vô Hoài thị đến Tam đại phong thiện:
              “Vốn xuất phát từ cách nói của hủ Nho nước Tề nước Lỗ, trong “Thi”, “Thư” không có ghi chép, đó không phải là sự thực.”
              Còn Tần Thuỷ Hoàng, Hán Vũ Đế lên Thái sơn phong thiện, trong Sử kí 史记, Hán thư 汉书 đều có ghi chép tỉ mỉ. Không chỉ trong Tần Thuỷ Hoàng bản kỉ, Hán Vũ Đế bản kỉ có chép, mà trong Phong thiện thư 封禅书, Giao tự chí 郊祀志 cũng đều có chép, nên đó là điều xác tín không thể nghi ngờ.

    Chú của người dịch
    1- Phong thiện 封禅: phong là “tế Thiên”, thiện là “tế Địa”, chỉ đại điển tế Thiên tế Địa của các đế vương cổ đại Trung Quốc lúc thái bình thịnh thế hoặc lúc trời giáng điềm cát tường.
              Người xưa cho rằng, trong số các núi thì Thái sơn là cao nhất, là “thiên hạ đệ nhất sơn”, do đó đế vương chốn nhân gian phải đến Thái sơn để tế Thiên đế, mới xem như là đã nhận mệnh từ trời. Trên Thái sơn đắp đàn tế Thiên gọi là “phong” , dưới Thái sơn đắp đàn tế Địa gọi là “thiện” . Đây là đại điển tối cao của đế vương cổ đại.
    2- Vô Hoài Thị 无怀氏: vị đế vương thời thượng cổ trong truyền thuyết của Trung Quốc. Trong Quản Tử - Phong thiện 管子 - 封禅có ghi:
    Tích Vô Hoài Thị phong Thái sơn.
    昔无怀氏封泰山
              Doãn Tri Chương 尹知章chú rằng:
    (Vô Hoài Thị) cổ chi vương giả, tại Phục Hi tiền.
    (无怀氏) 古之王者在伏羲前
    ( (Vô Hoài Thị) đế vương thời cổ, trước Phục Hi)
    3- Đại tông 岱宗: tức Thái sơn, được xem là “ngũ nhạc chi thủ” 五岳之首(đứng đầu trong ngũ nhạc). Thái sơn tại huyện Thái An 泰安tỉnh Sơn Đông 山东, còn được gọi là Đại sơn 岱山, Đại nhạc 岱岳, Đông nhạc 东岳, Thái nhạc 泰岳.
    4- Tế Sài: một lễ tế thời cổ, đốt củi để tế Thiên.

                                                           Huỳnh Chương Hưng
                                                            Quy Nhơn 04/8/2018

    Nguyên tác Trung văn
    THUỲ THỊ ĐỆ NHẤT CÁ THÁI SƠN PHONG THIỆN ĐÍCH ĐẾ VƯƠNG
     谁是第一个泰山封禅的帝王
    Trong quyển
    TRUNG QUỐC VỊ GIẢI CHI MÊ
    中国未解之谜
    Tác giả: Hải Tử 海子
    Trung Quốc Hoa Kiều xuất bản xã, 2013 

    Thứ Sáu, 3 tháng 8, 2018

    SỬU NỮU LÀM NƯƠNG NƯƠNG

              Ngày xưa, gia đình kia nuôi đến 7 người con, nhà rất nghèo, thường cơm không đủ bữa. Vào một năm đại hạn, hơn cả trăm ngày mà không có lấy một giọt mưa, nhà nọ càng thêm thê thảm, đến bữa phải ăn vỏ cây. Về sau ngay cả vỏ cây cũng không có mà ăn. Quả thực không còn biết cách nào, họ nghĩ bụng hay là đem đứa con gái nhỏ nhất bỏ bên đường, nếu may ra gặp được người tốt đem về nuôi, nói không chừng nó còn có đường sống.
              Một viên ngoại tốt bụng ở nơi khác đi ngang qua nhìn thấy đứa bé liền nhặt về nuôi. Đứa bé gầy ốm chỉ còn da bọc xương, lại còn ghẻ chốc đầy đầu, ai thấy cũng sợ. Nhưng viên ngoại không chê vẫn nuôi và đặt cho nó một cái tên, gọi là “Sửu Nữu” 丑妞.
              Sửu Nữu tại nhà viên ngoại lớn lên, dần mập ra, ghẻ chốc trên đầu cũng không còn. Sửu Nữu rất hiền lành và chăm chỉ, hàng ngày thả bầy cừu lên núi chăn. Bầy cừu rất nghe lời Sửu Nữu, lúc rảnh, Sửu Nữu chải lông cho chúng, từng con cừu mập tròn, lông trên mình bóng mượt.
              Ngày nọ, hoàng thượng vào núi săn bắn, nhìn thấy bầy cừu khoẻ đẹp, lại nhìn thấy Sửu Nữu. Hoàng thượng càng nhìn càng thích, cho là trời sinh cô gái đó có phúc tướng, liền bảo viên ngoại dâng Sửu Nữu cho hoàng thượng.
              Từ đó, Sửu Nữu ngày càng xinh đẹp, thêm thông minh lanh lợi, mái tóc dài đen mượt. Ngày kia, Sửu Nữu lấy nước cho hoàng thượng rửa mặt, lúc hoàng thượng rửa mặt, Sửu Nữu đứng một bên. Hoàng thượng phát hiện trong chậu nước có phụng hoàng đang cử động, quay đầu lại nhìn thì ra là Sửu Nữu. Hoàng thượng vui mừng trong lòng. Tối đến, khi Sửu Nữu rửa chân cho hoàng thái hậu, phát hiện lòng bàn chân của thái hậu có một nốt ruồi đen, Sửu Nữu bèn cười lên. Thái hậu hỏi rằng:
              - Thế con cười cái gì?
              Sửu Nữu đáp rằng:
              - Hồi bẩm thái hậu, nô tì cũng có một nốt ruồi đen giống như của thái hậu, cho nên cười.
              Thái hậu nhìn qua, quả thật nốt ruồi đó cũng giống như nốt ruồi của mình, nghĩ rằng: mình có nốt ruồi này mà làm thái hậu, con a đầu này tương lai cũng có thể làm được. Thái hậu bèn bàn với hoàng thượng, hoàng thượng vốn đã có chủ ý đó từ lâu, liền vui mừng đáp ứng.

                                                            Huỳnh Chương Hưng
                                                            Quy Nhơn 03/8/2018



    Dịch thuật: Sửu Nữu làm nương nương

    Đăng lúc  21:36  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    SỬU NỮU LÀM NƯƠNG NƯƠNG

              Ngày xưa, gia đình kia nuôi đến 7 người con, nhà rất nghèo, thường cơm không đủ bữa. Vào một năm đại hạn, hơn cả trăm ngày mà không có lấy một giọt mưa, nhà nọ càng thêm thê thảm, đến bữa phải ăn vỏ cây. Về sau ngay cả vỏ cây cũng không có mà ăn. Quả thực không còn biết cách nào, họ nghĩ bụng hay là đem đứa con gái nhỏ nhất bỏ bên đường, nếu may ra gặp được người tốt đem về nuôi, nói không chừng nó còn có đường sống.
              Một viên ngoại tốt bụng ở nơi khác đi ngang qua nhìn thấy đứa bé liền nhặt về nuôi. Đứa bé gầy ốm chỉ còn da bọc xương, lại còn ghẻ chốc đầy đầu, ai thấy cũng sợ. Nhưng viên ngoại không chê vẫn nuôi và đặt cho nó một cái tên, gọi là “Sửu Nữu” 丑妞.
              Sửu Nữu tại nhà viên ngoại lớn lên, dần mập ra, ghẻ chốc trên đầu cũng không còn. Sửu Nữu rất hiền lành và chăm chỉ, hàng ngày thả bầy cừu lên núi chăn. Bầy cừu rất nghe lời Sửu Nữu, lúc rảnh, Sửu Nữu chải lông cho chúng, từng con cừu mập tròn, lông trên mình bóng mượt.
              Ngày nọ, hoàng thượng vào núi săn bắn, nhìn thấy bầy cừu khoẻ đẹp, lại nhìn thấy Sửu Nữu. Hoàng thượng càng nhìn càng thích, cho là trời sinh cô gái đó có phúc tướng, liền bảo viên ngoại dâng Sửu Nữu cho hoàng thượng.
              Từ đó, Sửu Nữu ngày càng xinh đẹp, thêm thông minh lanh lợi, mái tóc dài đen mượt. Ngày kia, Sửu Nữu lấy nước cho hoàng thượng rửa mặt, lúc hoàng thượng rửa mặt, Sửu Nữu đứng một bên. Hoàng thượng phát hiện trong chậu nước có phụng hoàng đang cử động, quay đầu lại nhìn thì ra là Sửu Nữu. Hoàng thượng vui mừng trong lòng. Tối đến, khi Sửu Nữu rửa chân cho hoàng thái hậu, phát hiện lòng bàn chân của thái hậu có một nốt ruồi đen, Sửu Nữu bèn cười lên. Thái hậu hỏi rằng:
              - Thế con cười cái gì?
              Sửu Nữu đáp rằng:
              - Hồi bẩm thái hậu, nô tì cũng có một nốt ruồi đen giống như của thái hậu, cho nên cười.
              Thái hậu nhìn qua, quả thật nốt ruồi đó cũng giống như nốt ruồi của mình, nghĩ rằng: mình có nốt ruồi này mà làm thái hậu, con a đầu này tương lai cũng có thể làm được. Thái hậu bèn bàn với hoàng thượng, hoàng thượng vốn đã có chủ ý đó từ lâu, liền vui mừng đáp ứng.

                                                            Huỳnh Chương Hưng
                                                            Quy Nhơn 03/8/2018



    Thứ Năm, 2 tháng 8, 2018



     讥时
    铺眉苫眼 (1) 早三公,
    裸袖揎拳 (2) 享万钟.
    胡言乱语成时用,
    大刚来 (3) 都是哄 (4).
    说英雄谁是英雄?
    五眼鸡 (5) 岐山 (6) 鸣凤.
    两头蛇 (7) 南阳卧龙  (8),
    三脚猫 (9) 渭水飞熊 (10).
                                       (张鸣善)

    KI THỜI
    Phô mi thiêm nhãn (1) tảo tam công,
    Loả tụ tuyên quyền (2) hưởng vạn chung.
    Hồ ngôn loạn ngữ thành thời dụng,
    Đại cương lai (3) đô thị hồng (4).
    Thuyết anh hùng thuỳ thị anh hùng?
    Ngũ nhãn kê (5) Kì Sơn (6) minh phụng.
    Lưỡng đầu xà (7) Nam Dương ngoạ long (8),
    Tam cước miêu (9) Vị thuỷ phi hùng (10).
                                                                          (Trương Minh Thiện)

    Chú thích
    1- Phô mi thiêm nhãn铺眉苫眼: ở đây có nghĩa là làm ra vẻ.
              Tam công 三公: Đại tư mã 大司马, Đại tư đồ 大司徒, Đại tư không 大司空, phiếm chỉ quan cao.
    2- Loả tụ tuyên quyền裸袖揎拳: xắn tay áo để lộ cánh tay, chỉ kẻ giỏi gây sự.
              Vạn chung 万钟: bổng lộc nhiều.
    3- Đại cương lai大刚来: nói chung, nói tóm lại.
    4- Hồng: càn quấy, dối trá.
    5- Ngũ nhãn kê五眼鸡: gà trống háo đấu.
    6- Kì Sơn岐山: huyện Kì Sơn岐山tỉnh Thiểm Tây 陕西 ngày nay.
              Minh phụng鸣凤: phụng hoàng.
    7- Lưỡng đầu xà两头蛇: rắn độc.
    8- Nam Dương ngoạ long南阳卧龙: tức Chư Cát Lượng 诸葛亮, ở đây phiếm chỉ nhân tài kiệt xuất.
    9- Tam cước miêu三脚猫: chỉ hạng người không có bản lĩnh tài năng.
    10- Vị thuỷ phi hùng渭水飞熊: tức Thái Công Lữ Thượng 太公吕尚 đời Chu, ở đây chỉ vị quan đức cao vọng trọng.

    CHÊ THỜI CUỘC
    Những kẻ làm ra vẻ lại sớm được lên chức cao,
    Những phường hung ác, xắn tay áo lại hưởng bổng lộc vạn chung.
    Những tên ăn nói bậy bạ dối đời lại được thông suốt trong xã hội,
    Tóm lại tất cả đều là càn bậy dối trá.
    Luận bàn anh hùng thì ai là anh hùng?
    Loại gà trống năm mắt háo đấu lại thành phụng hoàng ở Kì Sơn.
    Loại rắn hai đầu lại thành rồng nằm ở Nam Dương,
    Loại mèo ba chân cũng được tôn là gấu bay nơi sông Vị.

    Chú của người dịch:
    Trương Minh Thiện 张鸣善: không rõ năm sinh năm mất, tên Trạch , hiệu Ngoan Lão Tử 顽老子, nguyên quán Bình Dương 平阳 (nay thuộc Sơn Tây 山西), nhà tại Hồ Nam 湖南, lưu ngụ Dương Châu 扬州. Ông là tác gia tán khúc đời Nguyên.
              Ngũ nhãn kê (gà 5 mắt), lưỡng đầu xà (rắn 2 đầu), tam cước miêu (mèo 3 chân) là những quái vật không có trong thực tế, ở đây ví với bọn quan cao vô tài vô đức, gian hiểm ác độc.

                                                                   Huỳnh Chương Hưng
                                                                   Quy Nhơn 02/8/2018



    Dịch thuật: Ki thời (Trương Minh Thiện)

    Đăng lúc  21:11  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »



     讥时
    铺眉苫眼 (1) 早三公,
    裸袖揎拳 (2) 享万钟.
    胡言乱语成时用,
    大刚来 (3) 都是哄 (4).
    说英雄谁是英雄?
    五眼鸡 (5) 岐山 (6) 鸣凤.
    两头蛇 (7) 南阳卧龙  (8),
    三脚猫 (9) 渭水飞熊 (10).
                                       (张鸣善)

    KI THỜI
    Phô mi thiêm nhãn (1) tảo tam công,
    Loả tụ tuyên quyền (2) hưởng vạn chung.
    Hồ ngôn loạn ngữ thành thời dụng,
    Đại cương lai (3) đô thị hồng (4).
    Thuyết anh hùng thuỳ thị anh hùng?
    Ngũ nhãn kê (5) Kì Sơn (6) minh phụng.
    Lưỡng đầu xà (7) Nam Dương ngoạ long (8),
    Tam cước miêu (9) Vị thuỷ phi hùng (10).
                                                                          (Trương Minh Thiện)

    Chú thích
    1- Phô mi thiêm nhãn铺眉苫眼: ở đây có nghĩa là làm ra vẻ.
              Tam công 三公: Đại tư mã 大司马, Đại tư đồ 大司徒, Đại tư không 大司空, phiếm chỉ quan cao.
    2- Loả tụ tuyên quyền裸袖揎拳: xắn tay áo để lộ cánh tay, chỉ kẻ giỏi gây sự.
              Vạn chung 万钟: bổng lộc nhiều.
    3- Đại cương lai大刚来: nói chung, nói tóm lại.
    4- Hồng: càn quấy, dối trá.
    5- Ngũ nhãn kê五眼鸡: gà trống háo đấu.
    6- Kì Sơn岐山: huyện Kì Sơn岐山tỉnh Thiểm Tây 陕西 ngày nay.
              Minh phụng鸣凤: phụng hoàng.
    7- Lưỡng đầu xà两头蛇: rắn độc.
    8- Nam Dương ngoạ long南阳卧龙: tức Chư Cát Lượng 诸葛亮, ở đây phiếm chỉ nhân tài kiệt xuất.
    9- Tam cước miêu三脚猫: chỉ hạng người không có bản lĩnh tài năng.
    10- Vị thuỷ phi hùng渭水飞熊: tức Thái Công Lữ Thượng 太公吕尚 đời Chu, ở đây chỉ vị quan đức cao vọng trọng.

    CHÊ THỜI CUỘC
    Những kẻ làm ra vẻ lại sớm được lên chức cao,
    Những phường hung ác, xắn tay áo lại hưởng bổng lộc vạn chung.
    Những tên ăn nói bậy bạ dối đời lại được thông suốt trong xã hội,
    Tóm lại tất cả đều là càn bậy dối trá.
    Luận bàn anh hùng thì ai là anh hùng?
    Loại gà trống năm mắt háo đấu lại thành phụng hoàng ở Kì Sơn.
    Loại rắn hai đầu lại thành rồng nằm ở Nam Dương,
    Loại mèo ba chân cũng được tôn là gấu bay nơi sông Vị.

    Chú của người dịch:
    Trương Minh Thiện 张鸣善: không rõ năm sinh năm mất, tên Trạch , hiệu Ngoan Lão Tử 顽老子, nguyên quán Bình Dương 平阳 (nay thuộc Sơn Tây 山西), nhà tại Hồ Nam 湖南, lưu ngụ Dương Châu 扬州. Ông là tác gia tán khúc đời Nguyên.
              Ngũ nhãn kê (gà 5 mắt), lưỡng đầu xà (rắn 2 đầu), tam cước miêu (mèo 3 chân) là những quái vật không có trong thực tế, ở đây ví với bọn quan cao vô tài vô đức, gian hiểm ác độc.

                                                                   Huỳnh Chương Hưng
                                                                   Quy Nhơn 02/8/2018



    Mã nguồn bởi Huỳnh Chương Hưng
    Copyright © 2012 Huỳnh Chương Hưng.
    back to top