• Thứ Tư, 17 tháng 7, 2019

    NGUỴ BÁ DƯƠNG GIẢ CHẾT THỬ ĐỆ TỬ

              Theo Lịch thế chân tiên thể đạo thông giám历世真仙体道通鉴:
              Nguỵ Bá Dương 魏伯阳 là nhà luyện đan nổi tiếng thời Đông Hán, ông xuất thân từ danh gia vọng tộc, nhưng đối với việc làm quan không cảm thấy hứng thú, mà chỉ thích dưỡng tính tu đạo, một đời chuyên luyện đan thuật và nghiên cứu đạo pháp. Nguỵ Bá Dương đem tư tưởng Dịch học của Chu Dịch 周易 và Hoàng Lão mà từ đời Hán trở đi chủ trương dưỡng sinh cùng với phương pháp luyện đan của thần tiên gia kết hợp lại, sáng lập ra học thuyết đan đạo đặc biệt của mình, đồng thời viết Chu Dịch tham đồng khế 周易参同契, trứ tác này được hậu thế xưng là “vạn cổ đan kinh vương”万古丹经王.
              Thời đại Nguỵ Bá Dương sinh sống, tuy nhiều người đang tìm thần đan trường sinh bất lão (cũng gọi là kim đan), chỉ có số ít người luyện chế loại đan dược này nơi thâm sơn cùng cốc. Nguỵ Bá Dương cũng cùng đệ tử tại núi sâu luyện đan. Nhưng người ngoài không biết Nguỵ Bá Dương rốt cuộc đang làm gì, bản thân ông cũng chỉ nói với mọi người là đang luyện tập phương pháp tu hành dưỡng sinh mà thôi. Nguỵ Bá Dương dẫn theo ba đệ tử, trải quan một thời gian khảo sát, ông phát hiện có hai đệ tử không có lòng tin đối với sự thành công của việc luyện đan, chỉ có một đệ tử họ Ngu là thành tâm nhất. Nguỵ Bá Dương quyết định khảo nghiệm hai đệ tử kia xem thử.
              Ngày nọ, đương lúc Nguỵ Bá Dương và mấy đệ tử luyện một số đan dược thành công, ông nói với mấy đệ tử rằng:
              - Kim đan tuy luyện thành, nhưng không biết nó có tác dụng hay không? uống vào có bị trúng độc hay không? Trước tiên chúng ta thử với con chó , nếu chó nuốt vào mà có thể bay, chứng tỏ đan dược luyện đã thành công, chúng ta cũng có thể uống được; nếu chó nuốt vào xuất hiện trúng độc hoặc bị chết, chứng tỏ đan dược này có độc, chúng ta cũng không thể dùng.
              Thế là Nguỵ Bá Dương đem đan dược đã luyện xong cho con chó trắng ăn. Kết quả sau khi chó ăn qua đan dược chẳng mấy chốc bắt đầu xuất hiện phản ứng trúng độc, mắt trợn ngược, bốn chân run rẩy, ngã lăn ra đất chết. Nguỵ Bá Dương sau khi thấy tình huống đó nói rằng:
              - Đan dược mà chúng ta luyện e là có vấn đề, đan luyện xong chó ăn bị chết, có thể là chúng ta vẫn chưa tìm ra bí quyết, nếu chúng ta dùng đan dược này e cũng giống như chó không tránh khỏi chết, các con nói thử giờ phải làm sao?
              Một đệ tử trong số đó hỏi Nguỵ Bá Dương:
              - Có phải thầy muốn uống đan dược này?
              Nguỵ Bá Dương nói rằng:
              - Thầy đã làm trái với nguyện vọng của người nhà và bạn bè là muốn thấy đi trên con đường làm quan, thế mà thầy đến núi này luyện chế đan được trường sinh bất lão, nếu không thể luyện thành tiên đan, khi về sẽ bị mọi người chê cười. Hiện cũng không thể quản được nhiều, dù sao việc sinh tử đã như vậy, thành hay không thành thầy cũng phải uống thử đan dược này.
              Nói xong, Nguỵ Bá Dương đem đan dược bỏ vào miệng rồi nuốt. Đan được lập tức xuất hiện phản ứng độc tính, sắc mặt ông ta biến sang trắng bệch, môi tím tái, tay chân run rẩy, hai mắt trợn ngược, ngã lăn ra đất chết. Mấy đệ tử thấy tình hình đó, nhìn nhau, một đệ tử nói rằng:
              - Sở dĩ chúng ta đến núi này luyện chế đan dược là vì để trường sinh bất lão, hiện dùng nó lại bị chết, phải làm sao đây?
              Đệ tử họ Ngu thành tâm nhất nghĩ rằng:
              Thầy hoàn toàn không phải là người bình thường, tại sao uống đan dược liền bị chết; hơn nữa thầy cũng nhìn thấy chó sau khi ăn vào bị chết, tại sao lại còn dùng? Nhất định trong đó có vấn đề, hay là thầy cố ý làm?
              Nghĩ tới đó, thế là đệ tử nọ cũng đem đan dược ra nuốt, kết quả nuốt xong cũng chết. Hai đệ tử kia thấy thầy và sư huynh đệ cả hai đều chết, trong lòng thầm nghĩ:
              Luyện đan là để cầu trường sinh, nếu dùng đan dược đó mà bị chết liền, chẳng bằng không dùng, còn có thể sống mấy chục năm trên đời.
              Hai đệ tử nọ không uống đan dược, cùng nhau xuống núi. Họ nhanh chóng đi tìm quan tài để an táng thầy và sư huynh đệ.
              Hai hai đệ tử đi khỏi, Nguỵ Bá Dương liền uống thuốc giải rồi đúng dậy, sau đó đem thuốc giải bỏ vào miệng của đệ tử và con chó đang nằm trên mặt đất. Một lát sau đệ tử và chó tỉnh lại. Nguỵ Bá Dương lập tức dẫn đệ tử và chó rời khỏi nơi luyện đan, chỉ để lại một phong thư cho hai đệ tử kia, nói rõ nguyên uỷ sự tình. Hai đệ tử sau khi đọc thư vô cùng hối hận.
              Hoá ra khi luyện chế đan dược, nếu thời thần của đan dược không đủ, độc tính của nó sẽ khó mà tiêu trừ. Uống loại đan dược đó không chỉ không thành tiên, mà ngược lại còn bị trúng độc, xuất hiện tử vong tạm thời. Đan dược mà Nguỵ Bá Dương uống là loại đan được có độc tính, cho nên xuất hiện tình huống chết giả. Nhưng loại đan dược đó nếu trải qua luyện chế một thời gian nhất định thì nghe nói có thể luyện thành thần đan, trường sinh bất tử. Nguỵ Bá Dương cũng đang dùng phương pháp này để khảo nghiệm đệ tử của mình, khiến hai đệ tử không thành tâm đi mất, chỉ lưu lại đệ tử thành tâm cùng với ông tiếp tục luyện. Sau đó chẳng bao lâu luyện thành thần đan, hai người đều thành thần tiên.                

                                                                Huỳnh Chương Hưng
                                                                Quy Nhơn 17/7/2019

    Nguyên tác Trung văn
              NGUỴ BÁ DƯƠNG GIẢ TỬ THÍ ĐỆ TỬ
    魏伯阳假死试弟子
    Trong quyển
    ĐẠO KINH CỐ SỰ
    道经故事
    Biên soạn: Dương Ngọc Huy 杨玉辉
    Tứ Xuyên văn nghệ xuất bản xã, 2002

    Dịch thuật: Nguỵ Bá Dương giả chết thử đệ tử

    Đăng lúc  21:22  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    NGUỴ BÁ DƯƠNG GIẢ CHẾT THỬ ĐỆ TỬ

              Theo Lịch thế chân tiên thể đạo thông giám历世真仙体道通鉴:
              Nguỵ Bá Dương 魏伯阳 là nhà luyện đan nổi tiếng thời Đông Hán, ông xuất thân từ danh gia vọng tộc, nhưng đối với việc làm quan không cảm thấy hứng thú, mà chỉ thích dưỡng tính tu đạo, một đời chuyên luyện đan thuật và nghiên cứu đạo pháp. Nguỵ Bá Dương đem tư tưởng Dịch học của Chu Dịch 周易 và Hoàng Lão mà từ đời Hán trở đi chủ trương dưỡng sinh cùng với phương pháp luyện đan của thần tiên gia kết hợp lại, sáng lập ra học thuyết đan đạo đặc biệt của mình, đồng thời viết Chu Dịch tham đồng khế 周易参同契, trứ tác này được hậu thế xưng là “vạn cổ đan kinh vương”万古丹经王.
              Thời đại Nguỵ Bá Dương sinh sống, tuy nhiều người đang tìm thần đan trường sinh bất lão (cũng gọi là kim đan), chỉ có số ít người luyện chế loại đan dược này nơi thâm sơn cùng cốc. Nguỵ Bá Dương cũng cùng đệ tử tại núi sâu luyện đan. Nhưng người ngoài không biết Nguỵ Bá Dương rốt cuộc đang làm gì, bản thân ông cũng chỉ nói với mọi người là đang luyện tập phương pháp tu hành dưỡng sinh mà thôi. Nguỵ Bá Dương dẫn theo ba đệ tử, trải quan một thời gian khảo sát, ông phát hiện có hai đệ tử không có lòng tin đối với sự thành công của việc luyện đan, chỉ có một đệ tử họ Ngu là thành tâm nhất. Nguỵ Bá Dương quyết định khảo nghiệm hai đệ tử kia xem thử.
              Ngày nọ, đương lúc Nguỵ Bá Dương và mấy đệ tử luyện một số đan dược thành công, ông nói với mấy đệ tử rằng:
              - Kim đan tuy luyện thành, nhưng không biết nó có tác dụng hay không? uống vào có bị trúng độc hay không? Trước tiên chúng ta thử với con chó , nếu chó nuốt vào mà có thể bay, chứng tỏ đan dược luyện đã thành công, chúng ta cũng có thể uống được; nếu chó nuốt vào xuất hiện trúng độc hoặc bị chết, chứng tỏ đan dược này có độc, chúng ta cũng không thể dùng.
              Thế là Nguỵ Bá Dương đem đan dược đã luyện xong cho con chó trắng ăn. Kết quả sau khi chó ăn qua đan dược chẳng mấy chốc bắt đầu xuất hiện phản ứng trúng độc, mắt trợn ngược, bốn chân run rẩy, ngã lăn ra đất chết. Nguỵ Bá Dương sau khi thấy tình huống đó nói rằng:
              - Đan dược mà chúng ta luyện e là có vấn đề, đan luyện xong chó ăn bị chết, có thể là chúng ta vẫn chưa tìm ra bí quyết, nếu chúng ta dùng đan dược này e cũng giống như chó không tránh khỏi chết, các con nói thử giờ phải làm sao?
              Một đệ tử trong số đó hỏi Nguỵ Bá Dương:
              - Có phải thầy muốn uống đan dược này?
              Nguỵ Bá Dương nói rằng:
              - Thầy đã làm trái với nguyện vọng của người nhà và bạn bè là muốn thấy đi trên con đường làm quan, thế mà thầy đến núi này luyện chế đan được trường sinh bất lão, nếu không thể luyện thành tiên đan, khi về sẽ bị mọi người chê cười. Hiện cũng không thể quản được nhiều, dù sao việc sinh tử đã như vậy, thành hay không thành thầy cũng phải uống thử đan dược này.
              Nói xong, Nguỵ Bá Dương đem đan dược bỏ vào miệng rồi nuốt. Đan được lập tức xuất hiện phản ứng độc tính, sắc mặt ông ta biến sang trắng bệch, môi tím tái, tay chân run rẩy, hai mắt trợn ngược, ngã lăn ra đất chết. Mấy đệ tử thấy tình hình đó, nhìn nhau, một đệ tử nói rằng:
              - Sở dĩ chúng ta đến núi này luyện chế đan dược là vì để trường sinh bất lão, hiện dùng nó lại bị chết, phải làm sao đây?
              Đệ tử họ Ngu thành tâm nhất nghĩ rằng:
              Thầy hoàn toàn không phải là người bình thường, tại sao uống đan dược liền bị chết; hơn nữa thầy cũng nhìn thấy chó sau khi ăn vào bị chết, tại sao lại còn dùng? Nhất định trong đó có vấn đề, hay là thầy cố ý làm?
              Nghĩ tới đó, thế là đệ tử nọ cũng đem đan dược ra nuốt, kết quả nuốt xong cũng chết. Hai đệ tử kia thấy thầy và sư huynh đệ cả hai đều chết, trong lòng thầm nghĩ:
              Luyện đan là để cầu trường sinh, nếu dùng đan dược đó mà bị chết liền, chẳng bằng không dùng, còn có thể sống mấy chục năm trên đời.
              Hai đệ tử nọ không uống đan dược, cùng nhau xuống núi. Họ nhanh chóng đi tìm quan tài để an táng thầy và sư huynh đệ.
              Hai hai đệ tử đi khỏi, Nguỵ Bá Dương liền uống thuốc giải rồi đúng dậy, sau đó đem thuốc giải bỏ vào miệng của đệ tử và con chó đang nằm trên mặt đất. Một lát sau đệ tử và chó tỉnh lại. Nguỵ Bá Dương lập tức dẫn đệ tử và chó rời khỏi nơi luyện đan, chỉ để lại một phong thư cho hai đệ tử kia, nói rõ nguyên uỷ sự tình. Hai đệ tử sau khi đọc thư vô cùng hối hận.
              Hoá ra khi luyện chế đan dược, nếu thời thần của đan dược không đủ, độc tính của nó sẽ khó mà tiêu trừ. Uống loại đan dược đó không chỉ không thành tiên, mà ngược lại còn bị trúng độc, xuất hiện tử vong tạm thời. Đan dược mà Nguỵ Bá Dương uống là loại đan được có độc tính, cho nên xuất hiện tình huống chết giả. Nhưng loại đan dược đó nếu trải qua luyện chế một thời gian nhất định thì nghe nói có thể luyện thành thần đan, trường sinh bất tử. Nguỵ Bá Dương cũng đang dùng phương pháp này để khảo nghiệm đệ tử của mình, khiến hai đệ tử không thành tâm đi mất, chỉ lưu lại đệ tử thành tâm cùng với ông tiếp tục luyện. Sau đó chẳng bao lâu luyện thành thần đan, hai người đều thành thần tiên.                

                                                                Huỳnh Chương Hưng
                                                                Quy Nhơn 17/7/2019

    Nguyên tác Trung văn
              NGUỴ BÁ DƯƠNG GIẢ TỬ THÍ ĐỆ TỬ
    魏伯阳假死试弟子
    Trong quyển
    ĐẠO KINH CỐ SỰ
    道经故事
    Biên soạn: Dương Ngọc Huy 杨玉辉
    Tứ Xuyên văn nghệ xuất bản xã, 2002

    Thứ Ba, 16 tháng 7, 2019



    CHỮ TRONG HÁN NGỮ CỔ

    1- : bính âm chéng (âm Hán Việt là “thình” – ND).
    Lúa thử lúa tắc đựng trong đồ vật, dùng để tế tự. Thường dùng liền 2 chữ “粢盛(tư thình). Trong Mạnh Tử - Đằng Văn Công hạ 孟子 - 滕文公下có câu:
    Chư hầu canh trợ dĩ cung tư thình
    諸侯耕助以供粢盛
    (Chư hầu đích thân cày cấy dùng để cung cấp tế phẩm)
              Trong Ung Hoà thi 雍和詩 của Nguỵ Trưng 魏徵 có câu:
    Tư thình hàm khiết
    粢盛咸潔
    (Tế phẩm đều tinh khiết)
              Dẫn đến ý nghĩa đựng vật phẩm vào khí cụ. Trong Trang Tử - Tiêu dao du 莊子 - 逍遙遊 có câu:
    Dĩ thình thuỷ tương
    以盛水漿
    (Lấy để đựng nước)

    2- : bính âm shèng (âm Hán Việt là “thịnh / thạnh” – ND)
              Hưng vượng, vượng thịnh, đối lập với  (suy). Trong Mạnh Tử - Công Tôn Sửu thượng 孟子 - 公孫丑上 có câu:
    Hạ Hậu Ân Chu chi thịnh, địa vị hữu quá thiên lí giả dã.
    夏后殷周之盛, 地未有過千里者也
    (Sự hưng thịnh của nhà Hạ Hậu, nhà Ân, nhà Chu, đất đai chưa quá ngàn dặm vậy).
              Hàn Dũ 韓愈 trong Tống Mạnh Đông Dã tự 送孟東野序 có viết:
    Ức bất tri thiên tương hoà kì thanh nhi sử minh quốc gia chi thịnh da?
    抑不知天將和其聲而使鳴國家之盛邪?
              (Không biết có phải trời muốn cho thanh âm của họ hài hoà, khiến họ vì sự hưng thịnh của đất nước mà phát ra thanh âm chăng?)
              Và trong Tống Lí Nguyện quy Bàn Cốc tự 送李愿歸盤谷序:
    Đạo cổ kim nhi dự thịnh đức
    道古今而譽盛德
    (Nói xưa bàn nay mà khen ngợi đức sáng)
              Dẫn đến nghĩa tươi tốt. Trong Trang Tử - Sơn thuỷ 莊子 - 山水 có câu:
    Kiến đại mộc chi diệp thịnh mậu.
    見大木枝葉盛茂
    (Thấy cây lớn cành lá tươi tốt)
    Thịnh phục 盛服
    - Ăn mặc chỉnh tề.
              Trong Tả truyện – Tuyên Công nhị niên 左傳 - 宣公二年 có ghi:
    Thịnh phục tương triều
    盛服將朝
    (Ăn mặc chỉnh tề chuẩn bị nhập triều)
    - Phục sức long trọng
              Trong Hán thư – Hoắc Quang truyện 漢書 - 霍光傳có ghi:
    Thái hậu bị châu nhu, thịnh phục toạ vũ trướng trung.
    太后被珠襦, 盛服坐武帳中
    (Thái hậu khoác châu nhu, phục sức long trọng ngồi trong trướng võ)
    (Châu nhu 珠襦: một loại áo ngắn đính hạt châu mà đế, hậu thời cổ mặc – ND)
    Thịnh khí 盛氣
              - Khí thế hừng hực.
              Trong Chiến quốc sách – Triệu sách tứ 戰國策 - 趙策四có ghi:
    Thái hậu thịnh khí nhi ấp chi
    太后盛氣而揖之
    (Thái hậu nộ khí hừng hực đợi ông ta đến)
              Nay có thành ngữ “thịnh khí lăng nhân” 盛氣凌人 (khí thế kiêu ngạo bức hiếp người khác)

    Phụ lục của người dịch
              Về chữ , Hán Việt tự điển của Thiều Chửu ghi rằng:
              Thịnh: Thịnh, đầy đủ, đông đúc chỉ thấy thêm không thấy kém đều gọi là thịnh. Một âm là thình. 1: Đựng, đựng xôi vào bát để cúng tế gọi là tư thình 粢盛. Vì thế nên xôi gọi là tư thình. 2: Cái đồ để đựng đồ. 3: Chịu, nhận, 4: Chỉnh đốn.
              (Nhà xuất bản Hồng Đức, 2015, trang 378)

                                                           Huỳnh Chương Hưng
                                                           Quy Nhơn 16/7/2019

    Nguyên tác Trung văn trong
    CỔ ĐẠI HÁN NGỮ
    古代漢語
    (tập 4)
    Chủ biên: Vương Lực 王力
    Trung Hoa thư cục, 1998.

    Dịch thuật: Chữ "thình / thịnh" trong Hán ngữ cổ

    Đăng lúc  21:19  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »



    CHỮ TRONG HÁN NGỮ CỔ

    1- : bính âm chéng (âm Hán Việt là “thình” – ND).
    Lúa thử lúa tắc đựng trong đồ vật, dùng để tế tự. Thường dùng liền 2 chữ “粢盛(tư thình). Trong Mạnh Tử - Đằng Văn Công hạ 孟子 - 滕文公下có câu:
    Chư hầu canh trợ dĩ cung tư thình
    諸侯耕助以供粢盛
    (Chư hầu đích thân cày cấy dùng để cung cấp tế phẩm)
              Trong Ung Hoà thi 雍和詩 của Nguỵ Trưng 魏徵 có câu:
    Tư thình hàm khiết
    粢盛咸潔
    (Tế phẩm đều tinh khiết)
              Dẫn đến ý nghĩa đựng vật phẩm vào khí cụ. Trong Trang Tử - Tiêu dao du 莊子 - 逍遙遊 có câu:
    Dĩ thình thuỷ tương
    以盛水漿
    (Lấy để đựng nước)

    2- : bính âm shèng (âm Hán Việt là “thịnh / thạnh” – ND)
              Hưng vượng, vượng thịnh, đối lập với  (suy). Trong Mạnh Tử - Công Tôn Sửu thượng 孟子 - 公孫丑上 có câu:
    Hạ Hậu Ân Chu chi thịnh, địa vị hữu quá thiên lí giả dã.
    夏后殷周之盛, 地未有過千里者也
    (Sự hưng thịnh của nhà Hạ Hậu, nhà Ân, nhà Chu, đất đai chưa quá ngàn dặm vậy).
              Hàn Dũ 韓愈 trong Tống Mạnh Đông Dã tự 送孟東野序 có viết:
    Ức bất tri thiên tương hoà kì thanh nhi sử minh quốc gia chi thịnh da?
    抑不知天將和其聲而使鳴國家之盛邪?
              (Không biết có phải trời muốn cho thanh âm của họ hài hoà, khiến họ vì sự hưng thịnh của đất nước mà phát ra thanh âm chăng?)
              Và trong Tống Lí Nguyện quy Bàn Cốc tự 送李愿歸盤谷序:
    Đạo cổ kim nhi dự thịnh đức
    道古今而譽盛德
    (Nói xưa bàn nay mà khen ngợi đức sáng)
              Dẫn đến nghĩa tươi tốt. Trong Trang Tử - Sơn thuỷ 莊子 - 山水 có câu:
    Kiến đại mộc chi diệp thịnh mậu.
    見大木枝葉盛茂
    (Thấy cây lớn cành lá tươi tốt)
    Thịnh phục 盛服
    - Ăn mặc chỉnh tề.
              Trong Tả truyện – Tuyên Công nhị niên 左傳 - 宣公二年 có ghi:
    Thịnh phục tương triều
    盛服將朝
    (Ăn mặc chỉnh tề chuẩn bị nhập triều)
    - Phục sức long trọng
              Trong Hán thư – Hoắc Quang truyện 漢書 - 霍光傳có ghi:
    Thái hậu bị châu nhu, thịnh phục toạ vũ trướng trung.
    太后被珠襦, 盛服坐武帳中
    (Thái hậu khoác châu nhu, phục sức long trọng ngồi trong trướng võ)
    (Châu nhu 珠襦: một loại áo ngắn đính hạt châu mà đế, hậu thời cổ mặc – ND)
    Thịnh khí 盛氣
              - Khí thế hừng hực.
              Trong Chiến quốc sách – Triệu sách tứ 戰國策 - 趙策四có ghi:
    Thái hậu thịnh khí nhi ấp chi
    太后盛氣而揖之
    (Thái hậu nộ khí hừng hực đợi ông ta đến)
              Nay có thành ngữ “thịnh khí lăng nhân” 盛氣凌人 (khí thế kiêu ngạo bức hiếp người khác)

    Phụ lục của người dịch
              Về chữ , Hán Việt tự điển của Thiều Chửu ghi rằng:
              Thịnh: Thịnh, đầy đủ, đông đúc chỉ thấy thêm không thấy kém đều gọi là thịnh. Một âm là thình. 1: Đựng, đựng xôi vào bát để cúng tế gọi là tư thình 粢盛. Vì thế nên xôi gọi là tư thình. 2: Cái đồ để đựng đồ. 3: Chịu, nhận, 4: Chỉnh đốn.
              (Nhà xuất bản Hồng Đức, 2015, trang 378)

                                                           Huỳnh Chương Hưng
                                                           Quy Nhơn 16/7/2019

    Nguyên tác Trung văn trong
    CỔ ĐẠI HÁN NGỮ
    古代漢語
    (tập 4)
    Chủ biên: Vương Lực 王力
    Trung Hoa thư cục, 1998.

    Thứ Hai, 15 tháng 7, 2019




    财要善用   禄要无愧
        财不患其不得, 患财得, 而不能善用其财; 禄不患其不来, 患禄来, 而不能无愧其禄.
                                                                             (围炉夜话)

    TÀI YẾU THIỆN DỤNG   LỘC YẾU VÔ QUÝ
              Tài bất hoạn kì bất đắc, hoạn tài đắc, nhi bất năng thiện dụng kì tài; Lộc bất hoạn kì bất lai, hoạn lộc lai, nhi bất năng vô quý kì lộc.
                                                                                        (Vi lô dạ thoại)

    TÀI CẦN KHÉO DÙNG, LỘC KHÔNG HỔ THẸN
              Với tiền tài đừng lo không có, chỉ lo khi có, mà ta không biết dùng tiền tài cho khéo; Với lộc quan đừng sợ không đến, chỉ sợ khi nó đến, mà ta lại hổ thẹn với lộc quan.

    Phân tích và thưởng thức
              Một người chỉ cần chăm chỉ làm việc, khơi nguồn kiệm nước, thì tiền tài không thể không có, chỉ sợ bản thân lười nhác, xài tiền phung phí, như thế mà vọng tưởng có tiền thì quả thực là nằm mơ giữa ban ngày. Càng đáng sợ hơn là khi có được tiền mà không khéo dùng, nếu chẳng phải là kẻ nô lệ của tiền tài, thì cũng là kẻ hoa thiên tửu địa, xa xỉ lãng phí. Thế thì, tiền tài trở thành thứ hại người, không chỉ hại bản thân nhà tan mạng mất, mà còn nguy hại cho xã hội. Kì thực, với tiền tài nếu biết dùng nó một cách chính đáng, là một sức mạnh để vui làm việc thiện có ích cho dân sinh, thì đó mới đúng là chân chính phát huy diệu dụng của tiền tài. Điều mà gọi là “thiên yếu nễ phú mạc thái xa” 天要你富莫太奢 (trời sẽ cho anh giàu nếu anh đừng quá xa xỉ), “vi phú đương nhân” 为富当仁 (làm giàu nên gánh vác việc nhân), chính là nói cho chúng ta biết phải dùng cho khéo kim tiền.
              Người đời đều khát vọng lộc quan và phúc phận, nhưng rốt cuộc có được mấy người? Nếu không do con đường chính đáng nhìn thấy, hoặc đã có được, nhưng lại làm những việc tổn phúc, có lỗi với lương tâm của bản thân thì có ích gì?  bởi, do vì những phúc lộc ngoại tại không trường cửu, mà đã vứt bỏ nhân cách của mình. Kì thực, phúc lộc vốn không có định số, hà tất phải quá chấp trước? chẳng bằng cầu phúc lộc ở nội tâm của mình, không siểm nịnh không a dua đó là tâm của quan, không ghen ghét không cầu xin đó là tâm của phúc, bất cứ ai cũng không có thể đoạt được.

    Chú của người dịch
    Vi lô dạ thoại 围炉夜话: là một tác phẩm nổi tiếng đời Thanh, tác giả là Vương Vĩnh Bân 王永彬. Vi lô dạ thoại có 221 tắc, đề cập nhiều phương diện như đạo đức, tu thân, độc thư, an bần lạc đạo, giáo tử, trung hiếu, cần kiệm … nêu rõ hàm nghĩa sâu xa: lập đức, lập công, lập ngôn đều lấy “lập nghiệp” làm gốc.Vi lô dạ thoại 围炉夜话cùng với Thái căn đàm 菜根谭, Tiểu song u kí 小窗幽记 được gọi chung là “xử thế tam đại kì thư”.

    Vương Vĩnh Bân 王永彬:
              Vương Vĩnh Bân tự Nghi Sơn 宜山, người đời gọi ông là Nghi Sơn tiên sinh 宜山先生, con cháu đời sau của họ Vương gọi ông là Nghi Sơn công 宜山公. Cuộc đời ông trải qua 5 vương triều: Càn Long 乾隆, Gia Khánh 嘉庆, Đạo Quang 道光, Hàm Phong 咸丰, Đồng Trị 同治. Ông sinh ngày 23 tháng Giêng năm Nhâm Tí thời Càn Long, mất ngày 25 tháng Giêng năm Kỉ Tị thời Đồng Trị, hưởng thọ 78 tuổi.
              Nguồn http://baike.baidu.com/view/53686.htm

                                                                         Huỳnh Chương Hưng
                                                                         Quy Nhơn 15/7/2019

    Nguồn
    VI LÔ DẠ THOẠI
    围炉夜话
    Tác giả: Vương Vĩnh Bân 王永彬
    Thiểm Tây lữ du xuất bản xã, 2002. 

    Dịch thuật: Tài yếu thiện dụng, lộc yếu vô quý (Vi lô dạ thoại)

    Đăng lúc  21:41  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »




    财要善用   禄要无愧
        财不患其不得, 患财得, 而不能善用其财; 禄不患其不来, 患禄来, 而不能无愧其禄.
                                                                             (围炉夜话)

    TÀI YẾU THIỆN DỤNG   LỘC YẾU VÔ QUÝ
              Tài bất hoạn kì bất đắc, hoạn tài đắc, nhi bất năng thiện dụng kì tài; Lộc bất hoạn kì bất lai, hoạn lộc lai, nhi bất năng vô quý kì lộc.
                                                                                        (Vi lô dạ thoại)

    TÀI CẦN KHÉO DÙNG, LỘC KHÔNG HỔ THẸN
              Với tiền tài đừng lo không có, chỉ lo khi có, mà ta không biết dùng tiền tài cho khéo; Với lộc quan đừng sợ không đến, chỉ sợ khi nó đến, mà ta lại hổ thẹn với lộc quan.

    Phân tích và thưởng thức
              Một người chỉ cần chăm chỉ làm việc, khơi nguồn kiệm nước, thì tiền tài không thể không có, chỉ sợ bản thân lười nhác, xài tiền phung phí, như thế mà vọng tưởng có tiền thì quả thực là nằm mơ giữa ban ngày. Càng đáng sợ hơn là khi có được tiền mà không khéo dùng, nếu chẳng phải là kẻ nô lệ của tiền tài, thì cũng là kẻ hoa thiên tửu địa, xa xỉ lãng phí. Thế thì, tiền tài trở thành thứ hại người, không chỉ hại bản thân nhà tan mạng mất, mà còn nguy hại cho xã hội. Kì thực, với tiền tài nếu biết dùng nó một cách chính đáng, là một sức mạnh để vui làm việc thiện có ích cho dân sinh, thì đó mới đúng là chân chính phát huy diệu dụng của tiền tài. Điều mà gọi là “thiên yếu nễ phú mạc thái xa” 天要你富莫太奢 (trời sẽ cho anh giàu nếu anh đừng quá xa xỉ), “vi phú đương nhân” 为富当仁 (làm giàu nên gánh vác việc nhân), chính là nói cho chúng ta biết phải dùng cho khéo kim tiền.
              Người đời đều khát vọng lộc quan và phúc phận, nhưng rốt cuộc có được mấy người? Nếu không do con đường chính đáng nhìn thấy, hoặc đã có được, nhưng lại làm những việc tổn phúc, có lỗi với lương tâm của bản thân thì có ích gì?  bởi, do vì những phúc lộc ngoại tại không trường cửu, mà đã vứt bỏ nhân cách của mình. Kì thực, phúc lộc vốn không có định số, hà tất phải quá chấp trước? chẳng bằng cầu phúc lộc ở nội tâm của mình, không siểm nịnh không a dua đó là tâm của quan, không ghen ghét không cầu xin đó là tâm của phúc, bất cứ ai cũng không có thể đoạt được.

    Chú của người dịch
    Vi lô dạ thoại 围炉夜话: là một tác phẩm nổi tiếng đời Thanh, tác giả là Vương Vĩnh Bân 王永彬. Vi lô dạ thoại có 221 tắc, đề cập nhiều phương diện như đạo đức, tu thân, độc thư, an bần lạc đạo, giáo tử, trung hiếu, cần kiệm … nêu rõ hàm nghĩa sâu xa: lập đức, lập công, lập ngôn đều lấy “lập nghiệp” làm gốc.Vi lô dạ thoại 围炉夜话cùng với Thái căn đàm 菜根谭, Tiểu song u kí 小窗幽记 được gọi chung là “xử thế tam đại kì thư”.

    Vương Vĩnh Bân 王永彬:
              Vương Vĩnh Bân tự Nghi Sơn 宜山, người đời gọi ông là Nghi Sơn tiên sinh 宜山先生, con cháu đời sau của họ Vương gọi ông là Nghi Sơn công 宜山公. Cuộc đời ông trải qua 5 vương triều: Càn Long 乾隆, Gia Khánh 嘉庆, Đạo Quang 道光, Hàm Phong 咸丰, Đồng Trị 同治. Ông sinh ngày 23 tháng Giêng năm Nhâm Tí thời Càn Long, mất ngày 25 tháng Giêng năm Kỉ Tị thời Đồng Trị, hưởng thọ 78 tuổi.
              Nguồn http://baike.baidu.com/view/53686.htm

                                                                         Huỳnh Chương Hưng
                                                                         Quy Nhơn 15/7/2019

    Nguồn
    VI LÔ DẠ THOẠI
    围炉夜话
    Tác giả: Vương Vĩnh Bân 王永彬
    Thiểm Tây lữ du xuất bản xã, 2002. 

    Chủ Nhật, 14 tháng 7, 2019

    BÍ ẨN VỀ TẤM  BIA KHÔNG CHỮ CỦA VÕ TẮC THIÊN

              Trên Lương sơn 梁山 phía tây bắc huyện Càn tỉnh Thiểm Tây 陕西, có một lăng mộ hoàng gia vô cùng khí thế hùng vĩ, đó là Càn Lăng 乾陵. Càn Lăng là mộ hợp táng Đường Cao Tông Lí Trị 唐高宗李治 cùng với hoàng hậu tức nhất đại nữ hoàng Võ Tắc Thiên 武则天hai bên đông tây của Càn Lăng dựng 2 tấm bia mỗi tấm cao khoảng 6m, phía tây là “Thuật Thánh bi” 述圣碑, bi văn do Võ Tắc Thiên soạn, ca tụng công tích lúc sinh tiền của Đường Cao Tông, còn phía đông chính là tấm bia không chữ (vô tự bi 无字碑) nổi tiếng. 
              Võ Tắc Thiên là vị nữ hoàng đế duy nhất của Trung Quốc cổ đại. Quách Mạt Nhược gọi bà là “kì nữ tử” 奇女子. Nhưng vị nữ tử từng hô mưa gọi gió trong lịch sử Trung Quốc này, sau khi mất lại không theo lệ cũ dựng bia trước lăng mộ để biểu chương công tích lúc sinh tiền. Tại sao lúc sống rất oanh liệt, nhưng sau khi mất lại tự cam chịu trầm mặc?
              Có người cho rằng, Võ Tắc Thiên từ nhỏ đã thông minh, trí tuệ hơn người, lập tấm bia không chữ chính là biểu hiện một ý định đặc biệt. Bà cho rằng, công đức của mình vô lượng, không thể dùng văn tự để biểu thuật, lấy ý từ một câu trong Luận ngữ 论语:
    Dân vô đức nhi danh yên (1)
    民无德而名焉
    cho nên lập bia không chữ.
              Cũng có người cho rằng, Võ Tắc Thiên lập bia không chữ hoàn toàn không phải là để khoe bản thân mình, mà ngược lại, lúc về già bà đã nhanh chóng tỉnh ngộ, cảm thấy tội chướng nặng nề, không mặt mũi nào để thuật lại. Khi còn là Chiêu Nghi 昭仪, bà mưu hại Vương hoàng hậu 王皇后  và Tiêu thục phi 萧淑妃, cuối cùng giết chết hai người. Sau khi lên làm hoàng hậu, bà lại thi triển thủ đoạn chính trị cay độc, bồi dưỡng vây cánh, tiêu diệt những ai khác với mình, ngay cả Trưởng Tôn Vô Kị 长孙无忌 cũng bị bà bức phải tự sát; sau khi lên ngôi đế, thực hành chính sách càng “sắt máu” hơn, nhậm dụng khốc lại, lạm dụng hình phạt, trấn áp một cách tàn khốc thế lực phản đối, sát hại một loạt đại thần. Đặc biệt, bà đã đổi Lí Đường 李唐 sang Đại Chu 大周, đại nghịch bất đạo, hổ thẹn với liệt tổ liệt tông.
              Còn có một thuyết chiết trung, đó là Võ tắc Thiên tự tri, biết người đương thời đối với bà có cái nhìn bất nhất, nghị luận cũng nhiều, thế nên lưu lại tấm bia không chữ, “đúng sai công tội, để người đời sau bình luận”.
              Gần đây, đối với tấm bia không chữ của Võ Tắc thiên có một thuyết mới, cho rằng, bi văn (bài văn bia) của tấm bia đó có khả năng đã bị chôn dưới địa cung. Nhân vì bề mặt của tấm bia không chữ đã có những ô kẻ chỉnh tề, dường như là đã chuẩn bị kĩ cho việc chạm khắc bi văn.
              Ai đúng ai sai, đến nay hãy còn là một bí ẩn.

    Chú của người dịch
    1- Ở thiên Quý thị 季氏  trong Luận ngữ 论语  có đoạn:          
              Tề Cảnh Công hữu mã thiên tứ, tử chi nhật, dân vô đức nhi xưng yên. Bá Di, Thúc Tề ngạ vu Thú dương chi hạ, dân đáo vu kim xưng chi.
              齐景公有马千驷, 死之日, 民无德而称焉. 伯夷. 叔齐饿于首阳之下,民到于今称之.
              (Tề Cảnh Công có ngàn con ngựa, nhưng khi chết, dân cho là không có công đức gì đáng để khen ngợi. Nhưng Bá Di, Thúc Tề chết đói ở núi Thú Dương, đến nay dân vẫn còn khen ngợi họ.)
              Như trong nguyên tác nói rằng, lấy ý theo câu “dân vô đức nhi xưng yên” ở Luận ngữ, xét thấy không hợp với nội dung.
              “Vô đức nhi xưng” 无德而称có 2 nghĩa:
              - Không có công đức gì để có thể khen ngợi.
              - Công đức to lớn không thể dùng lời để nói.
    Câu “dân vô đức nhi xưng yên” ở đây chính là ý nói công đức của Võ Tắc Thiên to lớn không gì sánh bằng, không thể dùng lời để nói.
              Trong Hậu Hán thư – Hoàng Hiến truyện luận 后汉书 -黄宪传论 có đoạn:
              Sĩ quân tử kiến chi giả, mị bất phục thâm viễn, khứ tì lận. Tương dĩ đạo chu tính toàn, vô đức nhi xưng hồ?
              士君子见之者, 靡不服深远, 去玼吝. 将以道周性全, 无德而称?
              (Sĩ quân tử khi gặp được ông ta (Hoàng Hiến), không ai là không bội phục
    sâu xa, từ bỏ khuyết điểm của mình, nhân vì ở ông, với đạo thì chu đáo hoàn bị, với tính thì toàn nhất, không có đức tháo danh xưng nào thích hợp để khen ngợi.)
              Lí Hiền 李贤 chú rằng:
              Đạo chu bị, tính toàn nhất. Vô đức nhi xưng, ngôn kì đức đại vô năng danh yên.
              道周备, 性全一. 无德而称,言其德大无能名焉.
              (Với đạo thì chu đáo hoàn bị, với tính thì toàn nhất. “Vô đức nhi xưng”, ý nói đức lớn không thể gọi tên được.)
                Như vậy, câu “dân vô đức nhi xưng yên” ở đây phải là lấy ý từ Hậu Hán thư – Hoàng Hiến truyện luận mới đúng.
              Trong nguyên tác ghi là “dân vô đức nhi danh yên” 民无德而名焉

                                                           Huỳnh Chương Hưng
                                                           Quy Nhơn 14/7/2019

    Nguyên tác Trung văn
    VÕ TẮC THIÊN VÔ TỰ BI CHI MÊ
    武则天无字碑之谜
    Trong quyển
    TRUNG QUỐC VỊ GIẢI CHI MÊ
    中国未解之谜
    Tác giả: Hải Tử 海子
    Trung Quốc Hoa Kiều xuất bản xã, 2013 

    Dịch thuật: Bí ẩn về tấm bia không chữ của Võ Tắc Thiên

    Đăng lúc  21:01  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    BÍ ẨN VỀ TẤM  BIA KHÔNG CHỮ CỦA VÕ TẮC THIÊN

              Trên Lương sơn 梁山 phía tây bắc huyện Càn tỉnh Thiểm Tây 陕西, có một lăng mộ hoàng gia vô cùng khí thế hùng vĩ, đó là Càn Lăng 乾陵. Càn Lăng là mộ hợp táng Đường Cao Tông Lí Trị 唐高宗李治 cùng với hoàng hậu tức nhất đại nữ hoàng Võ Tắc Thiên 武则天hai bên đông tây của Càn Lăng dựng 2 tấm bia mỗi tấm cao khoảng 6m, phía tây là “Thuật Thánh bi” 述圣碑, bi văn do Võ Tắc Thiên soạn, ca tụng công tích lúc sinh tiền của Đường Cao Tông, còn phía đông chính là tấm bia không chữ (vô tự bi 无字碑) nổi tiếng. 
              Võ Tắc Thiên là vị nữ hoàng đế duy nhất của Trung Quốc cổ đại. Quách Mạt Nhược gọi bà là “kì nữ tử” 奇女子. Nhưng vị nữ tử từng hô mưa gọi gió trong lịch sử Trung Quốc này, sau khi mất lại không theo lệ cũ dựng bia trước lăng mộ để biểu chương công tích lúc sinh tiền. Tại sao lúc sống rất oanh liệt, nhưng sau khi mất lại tự cam chịu trầm mặc?
              Có người cho rằng, Võ Tắc Thiên từ nhỏ đã thông minh, trí tuệ hơn người, lập tấm bia không chữ chính là biểu hiện một ý định đặc biệt. Bà cho rằng, công đức của mình vô lượng, không thể dùng văn tự để biểu thuật, lấy ý từ một câu trong Luận ngữ 论语:
    Dân vô đức nhi danh yên (1)
    民无德而名焉
    cho nên lập bia không chữ.
              Cũng có người cho rằng, Võ Tắc Thiên lập bia không chữ hoàn toàn không phải là để khoe bản thân mình, mà ngược lại, lúc về già bà đã nhanh chóng tỉnh ngộ, cảm thấy tội chướng nặng nề, không mặt mũi nào để thuật lại. Khi còn là Chiêu Nghi 昭仪, bà mưu hại Vương hoàng hậu 王皇后  và Tiêu thục phi 萧淑妃, cuối cùng giết chết hai người. Sau khi lên làm hoàng hậu, bà lại thi triển thủ đoạn chính trị cay độc, bồi dưỡng vây cánh, tiêu diệt những ai khác với mình, ngay cả Trưởng Tôn Vô Kị 长孙无忌 cũng bị bà bức phải tự sát; sau khi lên ngôi đế, thực hành chính sách càng “sắt máu” hơn, nhậm dụng khốc lại, lạm dụng hình phạt, trấn áp một cách tàn khốc thế lực phản đối, sát hại một loạt đại thần. Đặc biệt, bà đã đổi Lí Đường 李唐 sang Đại Chu 大周, đại nghịch bất đạo, hổ thẹn với liệt tổ liệt tông.
              Còn có một thuyết chiết trung, đó là Võ tắc Thiên tự tri, biết người đương thời đối với bà có cái nhìn bất nhất, nghị luận cũng nhiều, thế nên lưu lại tấm bia không chữ, “đúng sai công tội, để người đời sau bình luận”.
              Gần đây, đối với tấm bia không chữ của Võ Tắc thiên có một thuyết mới, cho rằng, bi văn (bài văn bia) của tấm bia đó có khả năng đã bị chôn dưới địa cung. Nhân vì bề mặt của tấm bia không chữ đã có những ô kẻ chỉnh tề, dường như là đã chuẩn bị kĩ cho việc chạm khắc bi văn.
              Ai đúng ai sai, đến nay hãy còn là một bí ẩn.

    Chú của người dịch
    1- Ở thiên Quý thị 季氏  trong Luận ngữ 论语  có đoạn:          
              Tề Cảnh Công hữu mã thiên tứ, tử chi nhật, dân vô đức nhi xưng yên. Bá Di, Thúc Tề ngạ vu Thú dương chi hạ, dân đáo vu kim xưng chi.
              齐景公有马千驷, 死之日, 民无德而称焉. 伯夷. 叔齐饿于首阳之下,民到于今称之.
              (Tề Cảnh Công có ngàn con ngựa, nhưng khi chết, dân cho là không có công đức gì đáng để khen ngợi. Nhưng Bá Di, Thúc Tề chết đói ở núi Thú Dương, đến nay dân vẫn còn khen ngợi họ.)
              Như trong nguyên tác nói rằng, lấy ý theo câu “dân vô đức nhi xưng yên” ở Luận ngữ, xét thấy không hợp với nội dung.
              “Vô đức nhi xưng” 无德而称có 2 nghĩa:
              - Không có công đức gì để có thể khen ngợi.
              - Công đức to lớn không thể dùng lời để nói.
    Câu “dân vô đức nhi xưng yên” ở đây chính là ý nói công đức của Võ Tắc Thiên to lớn không gì sánh bằng, không thể dùng lời để nói.
              Trong Hậu Hán thư – Hoàng Hiến truyện luận 后汉书 -黄宪传论 có đoạn:
              Sĩ quân tử kiến chi giả, mị bất phục thâm viễn, khứ tì lận. Tương dĩ đạo chu tính toàn, vô đức nhi xưng hồ?
              士君子见之者, 靡不服深远, 去玼吝. 将以道周性全, 无德而称?
              (Sĩ quân tử khi gặp được ông ta (Hoàng Hiến), không ai là không bội phục
    sâu xa, từ bỏ khuyết điểm của mình, nhân vì ở ông, với đạo thì chu đáo hoàn bị, với tính thì toàn nhất, không có đức tháo danh xưng nào thích hợp để khen ngợi.)
              Lí Hiền 李贤 chú rằng:
              Đạo chu bị, tính toàn nhất. Vô đức nhi xưng, ngôn kì đức đại vô năng danh yên.
              道周备, 性全一. 无德而称,言其德大无能名焉.
              (Với đạo thì chu đáo hoàn bị, với tính thì toàn nhất. “Vô đức nhi xưng”, ý nói đức lớn không thể gọi tên được.)
                Như vậy, câu “dân vô đức nhi xưng yên” ở đây phải là lấy ý từ Hậu Hán thư – Hoàng Hiến truyện luận mới đúng.
              Trong nguyên tác ghi là “dân vô đức nhi danh yên” 民无德而名焉

                                                           Huỳnh Chương Hưng
                                                           Quy Nhơn 14/7/2019

    Nguyên tác Trung văn
    VÕ TẮC THIÊN VÔ TỰ BI CHI MÊ
    武则天无字碑之谜
    Trong quyển
    TRUNG QUỐC VỊ GIẢI CHI MÊ
    中国未解之谜
    Tác giả: Hải Tử 海子
    Trung Quốc Hoa Kiều xuất bản xã, 2013 

    Thứ Bảy, 13 tháng 7, 2019

    NHÂN VI ĐAO TRỞ, NGÃ VI NGƯ NHỤC
    人为刀俎, 我为鱼肉
    NGƯỜI TA LÀ DAO THỚT, CHÚNG TA LÀ CÁ THỊT

    Giải thích: ví với việc tuỳ ý chặt cắt
    Xuất xứ: Hán . Tư Mã Thiên 司马迁: Sử kí – Hạng Vũ bản kỉ 史记 - 项羽本纪 

              Lúc Sở Hán tương tranh, Hạng Vũ 项羽 tại Hồng Môn 鸿门ở ngoài thành Hàm Dương 咸阳 bày yến tiệc chiêu đãi Lưu Bang 刘邦, Phạm Tăng 范增 thừa cơ muốn giết chết Lưu Bang để tiêu trừ kẻ địch hùng mạnh. Trong buổi tiệc, Phạm Tăng từng ba lần dùng ngọc bội ra tín hiệu cho Hạng Vũ, Hạng Vũ luôn do dự không quyết. Phạm Tăng đành mời người em họ của Hạng Vũ là Hạng Trang 项庄 đến, bảo anh ta mượn cơ hội múa kiếm để giết Lưu Bang. Ý đồ của Hạng Trang bị Trương Lương 张良 thấy rõ, Trương Lương vội tìm Phàn Khoái 樊哙đến bảo vệ Lưu Bang.
              Lưu Bang nhìn thấy trong bữa tiệc đầy sát khí, bèn mượn cơ hội ra nhà xí rồi trốn khỏi quân trướng, Phàn Khoái cũng đi theo.
              Lưu Bang bất an nói với Phàn Khoái:
              - Chúng ta không từ biệt Hạng Vũ mà đã bỏ đi, như vậy có được không?
              Phàn Khoái lòng như lửa đốt, nói rằng:
              - Đến lúc này mà còn nói như thế sao, làm việc lớn không câu nệ đến tiểu tiết, luận lễ lớn bất tất phải so đo khiêm nhường việc nhỏ. Nay họ là dao thớt, chúng ta là cá thịt, còn cáo từ cái gì nữa.
              Sự việc sau đó do Trương Lương giải quyết.
              Đương thời doanh trại của quân đội Lưu Bang tại Bá Thượng 霸上, cách Hồng Môn 40 dặm đường. Lưu Bang không dám ngồi xe, chỉ cưỡi lên một con ngựa, Phàn Khoái 樊哙, Hạ Hầu Anh 夏侯婴cầm kiếm cầm thuẫn chạy bộ, từ đường nhỏ vùng núi theo đường tắt chạy nhanh, chẳng mấy chốc về tới doanh trại.
              Trương Lương tính toán Lưu Bang đã thoát hiểm an toàn, liền ung dung tự nhiên tiến vào quân trướng, khách sáo nói với Hạng Vũ:
              - Chúa của tôi là Bái Công không đương nổi mấy li rượu, đã về lại doanh trại, không thể gặp mặt tạ từ, sai tôi dâng lên đại vương một đôi bạch bích, dâng lên tướng quân Phạm Tăng một đôi ngọc đấu.
              Hạng Vũ liền hỏi:
              - Bái Công giờ ở nơi đâu?
              Trương Lương cười đáp rằng:
              - Hiện tại đã về đến quân doanh rồi.
              Lưu bang chuyển nguy thành an, về sau cuối cùng đánh bại Hạng Vũ, kiến lập triều Hán.  

                                                           Huỳnh Chương Hưng
                                                 Quy Nhơn 13/7/2019

    Nguyên tác Trung văn
    NHÂN VI ĐAO TRỞ, NGÃ VI NGƯ NHỤC
    人为刀俎, 我为鱼肉
    TRUNG QUỐC THÀNH NGỮ CỐ SỰ TỔNG TẬP
    中国成语故事总集
    (tập 1)
    Chủ biên: Đường Kì 唐麒
    Trường Xuân – Thời đại văn nghệ xuất bản xã, 2004

    Dịch thuật: Nhân vi đao trở, ngã vi ngư nhục (thành ngữ)

    Đăng lúc  21:15  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    NHÂN VI ĐAO TRỞ, NGÃ VI NGƯ NHỤC
    人为刀俎, 我为鱼肉
    NGƯỜI TA LÀ DAO THỚT, CHÚNG TA LÀ CÁ THỊT

    Giải thích: ví với việc tuỳ ý chặt cắt
    Xuất xứ: Hán . Tư Mã Thiên 司马迁: Sử kí – Hạng Vũ bản kỉ 史记 - 项羽本纪 

              Lúc Sở Hán tương tranh, Hạng Vũ 项羽 tại Hồng Môn 鸿门ở ngoài thành Hàm Dương 咸阳 bày yến tiệc chiêu đãi Lưu Bang 刘邦, Phạm Tăng 范增 thừa cơ muốn giết chết Lưu Bang để tiêu trừ kẻ địch hùng mạnh. Trong buổi tiệc, Phạm Tăng từng ba lần dùng ngọc bội ra tín hiệu cho Hạng Vũ, Hạng Vũ luôn do dự không quyết. Phạm Tăng đành mời người em họ của Hạng Vũ là Hạng Trang 项庄 đến, bảo anh ta mượn cơ hội múa kiếm để giết Lưu Bang. Ý đồ của Hạng Trang bị Trương Lương 张良 thấy rõ, Trương Lương vội tìm Phàn Khoái 樊哙đến bảo vệ Lưu Bang.
              Lưu Bang nhìn thấy trong bữa tiệc đầy sát khí, bèn mượn cơ hội ra nhà xí rồi trốn khỏi quân trướng, Phàn Khoái cũng đi theo.
              Lưu Bang bất an nói với Phàn Khoái:
              - Chúng ta không từ biệt Hạng Vũ mà đã bỏ đi, như vậy có được không?
              Phàn Khoái lòng như lửa đốt, nói rằng:
              - Đến lúc này mà còn nói như thế sao, làm việc lớn không câu nệ đến tiểu tiết, luận lễ lớn bất tất phải so đo khiêm nhường việc nhỏ. Nay họ là dao thớt, chúng ta là cá thịt, còn cáo từ cái gì nữa.
              Sự việc sau đó do Trương Lương giải quyết.
              Đương thời doanh trại của quân đội Lưu Bang tại Bá Thượng 霸上, cách Hồng Môn 40 dặm đường. Lưu Bang không dám ngồi xe, chỉ cưỡi lên một con ngựa, Phàn Khoái 樊哙, Hạ Hầu Anh 夏侯婴cầm kiếm cầm thuẫn chạy bộ, từ đường nhỏ vùng núi theo đường tắt chạy nhanh, chẳng mấy chốc về tới doanh trại.
              Trương Lương tính toán Lưu Bang đã thoát hiểm an toàn, liền ung dung tự nhiên tiến vào quân trướng, khách sáo nói với Hạng Vũ:
              - Chúa của tôi là Bái Công không đương nổi mấy li rượu, đã về lại doanh trại, không thể gặp mặt tạ từ, sai tôi dâng lên đại vương một đôi bạch bích, dâng lên tướng quân Phạm Tăng một đôi ngọc đấu.
              Hạng Vũ liền hỏi:
              - Bái Công giờ ở nơi đâu?
              Trương Lương cười đáp rằng:
              - Hiện tại đã về đến quân doanh rồi.
              Lưu bang chuyển nguy thành an, về sau cuối cùng đánh bại Hạng Vũ, kiến lập triều Hán.  

                                                           Huỳnh Chương Hưng
                                                 Quy Nhơn 13/7/2019

    Nguyên tác Trung văn
    NHÂN VI ĐAO TRỞ, NGÃ VI NGƯ NHỤC
    人为刀俎, 我为鱼肉
    TRUNG QUỐC THÀNH NGỮ CỐ SỰ TỔNG TẬP
    中国成语故事总集
    (tập 1)
    Chủ biên: Đường Kì 唐麒
    Trường Xuân – Thời đại văn nghệ xuất bản xã, 2004

    Thứ Sáu, 12 tháng 7, 2019



    “TÍNH” VÀ “THỊ” LÚC BAN ĐẦU CÓ PHẢI LÀ MỘT

              Ngày nay chúng ta thường thấy sau danh sách sắp xếp tên theo thứ tự có câu giải thích: thứ tự tên không phân trước sau, chỉ theo số nét của tính thị mà sắp xếp. “Tính thị” 姓氏 ở đây kì thực là chỉ “tính” , “thị” và “tính” là một. Ví dụ như “Lí thị” 李氏 “Lưu thị” 刘氏, ý nghĩa là “người tính Lí” “người tính Lưu”. Nhưng trước thời Tần Hán, “tính” và “thị” được phân biệt một cách nghiêm túc.
              Khởi nguyên của “tính” tương đối xưa, là xưng hiệu đại biểu của một nhóm người có cùng chung mối quan hệ huyết thống. Tác dụng của “tính”, trừ duy trì mối quan hệ huyết thống của bộ tộc ra, còn có một tác dụng khác đó là tránh hôn nhân cận huyết. Người xưa tuy không biết tri thức về “ưu sinh học” (1), nhưng từ rất sớm đã đề ra quy định người cùng tính không được kết hôn, nghiêm khắc cấm chỉ nam nữ cùng tính kết hợp. Nhân đó, người xưa đối với “tính” tương đối rõ ràng, thậm chí khi mua một nô lệ, những vần đề khác có thể không biết, nhưng nhất định phải biết rõ “tính” của người đó.
              So với “tính”, “thị” xuất hiện muộn hơn, tình huống cũng phức tạp hơn nhiều. “Thị” là thứ mà chỉ quý tộc nam tử mới có, nó tượng trưng cho thân phận cao thấp. Nói chung, chư hầu lấy nước thụ phong làm “thị”, như Lỗ thị 鲁氏, Hàn thị 韩氏. Khanh đại phu có người lấy chức quan làm “thị”, như Sư thị 师氏, Sử thị 史氏, Bốc thị 卜氏, Vu thị 巫氏, Tư Mã thị 司马... ; có người lấy nơi ở làm “thị” như Đông Quách thị 东郭氏, Nam Cung thị 南宫氏, Liễu Hạ thị 柳下氏; có người lấy nghề nghiệp làm “thị”, như Đào thị 陶氏, Tượng thị 匠氏, Đồ thị 屠氏. Ngoài ra, so với sự ổn định bất biến của “tính”, “thị” có thể thay đổi, có khi tương đối nhiều lần. Nhất là công thất chư hầu và khanh đại phu, có trường hợp không chỉ đời trước và đời sau không cùng “thị”, mà ngay cả trước và sau của một người có thể có 2 hoặc 2 “thị” trở lên. Sự biến hoá này của “thị” đã phản ánh sự lên xuống của thế lực trong đấu tranh chính trị của  lực lượng các phái trong nội bộ quý tộc.
              Thời Đông Chu, theo sự sụp đổ của chế độ tông pháp phong kiến, quý tộc thị tộc ngày càng đi đến chỗ tan rã, một biểu hiện cụ thể của nó đó là chế độ tính thị ở thời Chiến Quốc hỗn loạn. Sự thống nhất của triều Tần về cơ bản đã kết thúc chế độ tông pháp phong kiến thời Tây Chu, thị tộc cũ cùng chế độ tính thị cũng bị thanh trừ, “tính” và “thị” bắt đầu hợp làm một. Trải qua cuộc đại loạn cuối triều Tần, tiến vào triều Tây Hán, “tính” và “thị” hoàn toàn dung hợp thành nhất thể.

    Chú của người dịch
    1- Ưu sinh học 优生学: là bộ môn khoa học nghiên cứu sự di truyền của nhân loại.

                                                                  Huỳnh Chương Hưng
                                                                   Quy Nhơn 12/7/2019

    Nguyên tác Trung văn
    Trong quyển
    THÚ VỊ VĂN HOÁ TRI THỨC ĐẠI TOÀN
    趣味文化知识大全
    Thanh Thạch 青石 biên soạn
    Trung Quốc Hoa kiều xuất bản xã, 2013

    Dịch thuật: "Tính" và "thị" lúc ban đầu có phải là một

    Đăng lúc  21:48  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »



    “TÍNH” VÀ “THỊ” LÚC BAN ĐẦU CÓ PHẢI LÀ MỘT

              Ngày nay chúng ta thường thấy sau danh sách sắp xếp tên theo thứ tự có câu giải thích: thứ tự tên không phân trước sau, chỉ theo số nét của tính thị mà sắp xếp. “Tính thị” 姓氏 ở đây kì thực là chỉ “tính” , “thị” và “tính” là một. Ví dụ như “Lí thị” 李氏 “Lưu thị” 刘氏, ý nghĩa là “người tính Lí” “người tính Lưu”. Nhưng trước thời Tần Hán, “tính” và “thị” được phân biệt một cách nghiêm túc.
              Khởi nguyên của “tính” tương đối xưa, là xưng hiệu đại biểu của một nhóm người có cùng chung mối quan hệ huyết thống. Tác dụng của “tính”, trừ duy trì mối quan hệ huyết thống của bộ tộc ra, còn có một tác dụng khác đó là tránh hôn nhân cận huyết. Người xưa tuy không biết tri thức về “ưu sinh học” (1), nhưng từ rất sớm đã đề ra quy định người cùng tính không được kết hôn, nghiêm khắc cấm chỉ nam nữ cùng tính kết hợp. Nhân đó, người xưa đối với “tính” tương đối rõ ràng, thậm chí khi mua một nô lệ, những vần đề khác có thể không biết, nhưng nhất định phải biết rõ “tính” của người đó.
              So với “tính”, “thị” xuất hiện muộn hơn, tình huống cũng phức tạp hơn nhiều. “Thị” là thứ mà chỉ quý tộc nam tử mới có, nó tượng trưng cho thân phận cao thấp. Nói chung, chư hầu lấy nước thụ phong làm “thị”, như Lỗ thị 鲁氏, Hàn thị 韩氏. Khanh đại phu có người lấy chức quan làm “thị”, như Sư thị 师氏, Sử thị 史氏, Bốc thị 卜氏, Vu thị 巫氏, Tư Mã thị 司马... ; có người lấy nơi ở làm “thị” như Đông Quách thị 东郭氏, Nam Cung thị 南宫氏, Liễu Hạ thị 柳下氏; có người lấy nghề nghiệp làm “thị”, như Đào thị 陶氏, Tượng thị 匠氏, Đồ thị 屠氏. Ngoài ra, so với sự ổn định bất biến của “tính”, “thị” có thể thay đổi, có khi tương đối nhiều lần. Nhất là công thất chư hầu và khanh đại phu, có trường hợp không chỉ đời trước và đời sau không cùng “thị”, mà ngay cả trước và sau của một người có thể có 2 hoặc 2 “thị” trở lên. Sự biến hoá này của “thị” đã phản ánh sự lên xuống của thế lực trong đấu tranh chính trị của  lực lượng các phái trong nội bộ quý tộc.
              Thời Đông Chu, theo sự sụp đổ của chế độ tông pháp phong kiến, quý tộc thị tộc ngày càng đi đến chỗ tan rã, một biểu hiện cụ thể của nó đó là chế độ tính thị ở thời Chiến Quốc hỗn loạn. Sự thống nhất của triều Tần về cơ bản đã kết thúc chế độ tông pháp phong kiến thời Tây Chu, thị tộc cũ cùng chế độ tính thị cũng bị thanh trừ, “tính” và “thị” bắt đầu hợp làm một. Trải qua cuộc đại loạn cuối triều Tần, tiến vào triều Tây Hán, “tính” và “thị” hoàn toàn dung hợp thành nhất thể.

    Chú của người dịch
    1- Ưu sinh học 优生学: là bộ môn khoa học nghiên cứu sự di truyền của nhân loại.

                                                                  Huỳnh Chương Hưng
                                                                   Quy Nhơn 12/7/2019

    Nguyên tác Trung văn
    Trong quyển
    THÚ VỊ VĂN HOÁ TRI THỨC ĐẠI TOÀN
    趣味文化知识大全
    Thanh Thạch 青石 biên soạn
    Trung Quốc Hoa kiều xuất bản xã, 2013

    Thứ Năm, 11 tháng 7, 2019



    TỨC MẶC CHI CHIẾN
    (kì 5)

              田单知士卒之可用, 乃身操版, (1), 与士卒分功 (2); 妻妾编于行伍之间 (3); 尽散饮食飨士 (4). 令甲卒皆伏 (5), 使老, , 女子乘城 (6), 遣使约降于燕; 燕军皆呼万岁. 田单又收民金得千镒 (7), 令即墨富豪遗燕将, : “即降(8), 愿无虏掠吾族家!” 燕将大喜, 许之, 燕军益懈 (9).

    Phiên âm
              Điền Đan tri sĩ tốt chi khả dụng, nãi thân thao bản, tráp (1), dữ sĩ tốt phân công (2); thê thiếp biên vu hàng ngũ chi gian (3); tận tán ẩm thực hưởng sĩ (4). Lệnh giáp tốt giai phục (5), sử lão, nhược, nữ tử thừa thành (6), khiển sứ ước hàng vu Yên; Yên quân giai hô vạn tuế. Điền Đan hựu thu dân kim đắc thiên dật (7), lệnh Tức Mặc hào phú di Yên tướng, viết: “Tức hàng (8), nguyện vô lỗ lược ngô tộc gia!” Yên tướng đại hỉ, hứa chi, Yên quân ích giải (9).

    Chú thích
    1- Thân thao bản, tráp身操版, : đích thân cầm công cụ xây tường thành và đào đất.
    2- Phân công 分功: phân ra đảm nhiệm công việc.
    3- Hàng ngũ 行伍: biên chế quân đội.
    4- Hưởng sĩ 飨士: cho quân sĩ ăn.
    5- Giáp tốt giai phục甲卒皆伏: chiến sĩ mặc giáp mai phục.
              Phục : mai phục.
    6- Thừa thành 乘城: lên thành phòng vệ.
    7- Dật : 20 lượng là 1 dật.
    8- Tức hàng即降: sẽ đầu hàng.
    9- Ích giải 益懈: dần lỏng lẻo.

    Dịch nghĩa
              Điền Đan biết quân sĩ lúc này đều chuẩn bị tử chiến, thế là đích thân cầm công cụ xây tường thành và đào đất, cùng quân sĩ đảm nhiệm công việc; ông cho thê thiếp của mình biên nhập vào hàng ngũ quân đội; lại lấy đồ ăn thức uống phân phát cho quân sĩ. Sau đó, mệnh lệnh cho quân sĩ mặc giáp, toàn bộ mai phục, sai người già, người yếu và phụ nữ lên thành để phòng vệ, đồng thời phái sứ giả đi bàn việc đầu hàng với quân đội nước Yên; tướng sĩ nước Yên hô to vạn tuế. Điền Đan lại quyên góp vàng của bách tính trong thành được ngàn dật, sai phú hào trong thành Tức Mặc lén tặng cho tướng lĩnh nước Yên, nói rằng: “Quân Tề sẽ đầu hàng, chỉ mong quân đội quý quốc sau khi nhận sự đầu hàng không bắt gia tộc của chúng tôi!” Tướng lĩnh nước Yên vô cùng vui mừng, bèn đáp ứng lời thỉnh cầu của họ. Sự cảnh giới phòng bị của tướng sĩ quân Yên dần lỏng lẻo. 

                                                                Huỳnh Chương Hưng
                                                                Quy Nhơn 11/7/2019

    Nguồn
    TƯ TRỊ THÔNG GIÁM
    资治通鉴
    Bắc Tống . Tư Mã Quang 司马光
    Chủ biên: Nhậm Tư Vũ 任思武
    Bắc Kinh . Trung Quốc Hoa kiều xuất bản xã, 2013

    Dịch thuật: Tức Mặc chi chiến (kì 5) (Tư trị thông giám)

    Đăng lúc  22:05  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »



    TỨC MẶC CHI CHIẾN
    (kì 5)

              田单知士卒之可用, 乃身操版, (1), 与士卒分功 (2); 妻妾编于行伍之间 (3); 尽散饮食飨士 (4). 令甲卒皆伏 (5), 使老, , 女子乘城 (6), 遣使约降于燕; 燕军皆呼万岁. 田单又收民金得千镒 (7), 令即墨富豪遗燕将, : “即降(8), 愿无虏掠吾族家!” 燕将大喜, 许之, 燕军益懈 (9).

    Phiên âm
              Điền Đan tri sĩ tốt chi khả dụng, nãi thân thao bản, tráp (1), dữ sĩ tốt phân công (2); thê thiếp biên vu hàng ngũ chi gian (3); tận tán ẩm thực hưởng sĩ (4). Lệnh giáp tốt giai phục (5), sử lão, nhược, nữ tử thừa thành (6), khiển sứ ước hàng vu Yên; Yên quân giai hô vạn tuế. Điền Đan hựu thu dân kim đắc thiên dật (7), lệnh Tức Mặc hào phú di Yên tướng, viết: “Tức hàng (8), nguyện vô lỗ lược ngô tộc gia!” Yên tướng đại hỉ, hứa chi, Yên quân ích giải (9).

    Chú thích
    1- Thân thao bản, tráp身操版, : đích thân cầm công cụ xây tường thành và đào đất.
    2- Phân công 分功: phân ra đảm nhiệm công việc.
    3- Hàng ngũ 行伍: biên chế quân đội.
    4- Hưởng sĩ 飨士: cho quân sĩ ăn.
    5- Giáp tốt giai phục甲卒皆伏: chiến sĩ mặc giáp mai phục.
              Phục : mai phục.
    6- Thừa thành 乘城: lên thành phòng vệ.
    7- Dật : 20 lượng là 1 dật.
    8- Tức hàng即降: sẽ đầu hàng.
    9- Ích giải 益懈: dần lỏng lẻo.

    Dịch nghĩa
              Điền Đan biết quân sĩ lúc này đều chuẩn bị tử chiến, thế là đích thân cầm công cụ xây tường thành và đào đất, cùng quân sĩ đảm nhiệm công việc; ông cho thê thiếp của mình biên nhập vào hàng ngũ quân đội; lại lấy đồ ăn thức uống phân phát cho quân sĩ. Sau đó, mệnh lệnh cho quân sĩ mặc giáp, toàn bộ mai phục, sai người già, người yếu và phụ nữ lên thành để phòng vệ, đồng thời phái sứ giả đi bàn việc đầu hàng với quân đội nước Yên; tướng sĩ nước Yên hô to vạn tuế. Điền Đan lại quyên góp vàng của bách tính trong thành được ngàn dật, sai phú hào trong thành Tức Mặc lén tặng cho tướng lĩnh nước Yên, nói rằng: “Quân Tề sẽ đầu hàng, chỉ mong quân đội quý quốc sau khi nhận sự đầu hàng không bắt gia tộc của chúng tôi!” Tướng lĩnh nước Yên vô cùng vui mừng, bèn đáp ứng lời thỉnh cầu của họ. Sự cảnh giới phòng bị của tướng sĩ quân Yên dần lỏng lẻo. 

                                                                Huỳnh Chương Hưng
                                                                Quy Nhơn 11/7/2019

    Nguồn
    TƯ TRỊ THÔNG GIÁM
    资治通鉴
    Bắc Tống . Tư Mã Quang 司马光
    Chủ biên: Nhậm Tư Vũ 任思武
    Bắc Kinh . Trung Quốc Hoa kiều xuất bản xã, 2013

    Thứ Tư, 10 tháng 7, 2019



    TẦN THUỶ HOÀNG TUẦN HÀNH LẦN THỨ NĂM

              Trong những năm cuối cùng của cuộc đời, Tần Thuỷ Hoàng luôn bận vào việc đánh Hung Nô phía bắc, xây dựng trường thành, di dân vùng ven, kiến tạo lăng mộ, “phần thư khanh nho” 焚书坑儒 (đốt sách chôn nho), những việc đó dường như đã hao phí hết tinh lực của cuộc đời ông, lại thêm bản thân vào lúc vãn niên, mâu thuẫn xã hội nhanh chóng gay gắt, quả thực ông không còn muốn tiếp tục tuần thú thiên hạ. Năm Thuỷ Hoàng 始皇thứ 36 (năm 211 trước công nguyên), một loạt những hiện tượng tự nhiên và nhân sự thần bí hoá đã khiến cho vị thiên tử lúc vãn niên một lần nữa phải lên xa giá tuần thú phía đông nam.
              Năm đó, thiên tượng “huỳnh hoặc (tức sao hoả) thủ tâm” 荧惑守心  (sao hoả ở khoảng giữa sao tâm) cùng truỵ tinh 坠星 (tức vẫn thạch) sa xuống Đông quận, 东郡 chiêm bốc “đông nam hữu thiên tử khí” 东南有天子气 (phía đông nam có khí thiên tử) cùng với truyền ngôn “kim niên tổ long tử” 今年祖龙死 (năm nay tổ long chết) “nhân dữ chi vi oán, gia dữ chi vi cừu” 人与之为怨, 家与之为仇  (người người đối với ông đều oán, nhà nhà đối với ông như cừu thù) đủ để khiến cho bạo quân Thuỷ Hoàng không lạnh mà run. Quan thái bốc cầu đảo thần, “quái đắc du tỉ cát” 卦得游徙吉 (được quẻ du ngoạn, di dời, tốt), Thuỷ Hoàng bèn theo mệnh, một mặt “thiên Bắc Hà Du trung tam vạn gia” 迁北河榆中三万家 (dời ba vạn nhà đến Bắc Hà 北河, Du Trung 榆中 định cư) để ứng với chữ “tỉ” , một mặt lên kế hoạch xuất tuần đông nam để ứng với chữ “du” . Trên thực tế, nơi mà khiến cho Thuỷ Hoàng không yên tâm nhất vẫn chính là phía đông nam, triều Tần cho đến cuối đời vẫn chưa khồng chế tốt khu vực này.
              Lần xuất tuần cuối cùng là vào tháng 10 năm thứ 37 (năm 210 trước công nguyên). Theo xuất tuần chủ yếu có Tả thừa tướng Lí Tư 李斯, Trung xa phủ lệnh Triệu Cao 赵高, thiếu tử Hồ Hợi 胡亥. Đoàn người từ Hàm Dương 咸阳xuất phát, ra Vũ quan 武关 (nay là phía đông nam Thương Nam 商南 Thiểm Tây 陕西), theo lưu vực Đan thuỷ 丹水, Hán thuỷ 汉水 xuống phía nam đến Vân Mộng 云梦 (nay là nơi giao nhau giữa Hán thuỷ 汉水, Trường giang 长江đến vùng hồ bạc của  hồ Động Đình 洞庭), tế vọng Ngu Thuấn 虞舜 tại núi Cửu Nghi 九嶷 (nay là phía nam Ninh Viễn 宁远 Hồ Nam 湖南). Sau đó thuận theo đường sông xuống phía đông, qua Đan Dương 丹阳 (nay là phía đông huyện Đương Đồ 当涂 An Huy 安徽), đến Tiền Đường 钱塘 (nay là Hàng Châu 杭州Chiết Giang 浙江), đến Chiết giang . Nguyên vốn định từ đây đi thuyền lên Cối Kê 会稽 (nay là phía nam thành phố Thiệu Hưng 绍兴 Chiết Giang 浙江), cuối cùng do vì sóng nước hung hiểm, đổi sang Hiệp Trung 狭中 (nay là phụ cận Phú Dương 富阳 Chiết Giang浙江), vượt sông lên núi Cối Kê, bái tế Đại Vũ 大禹, khắc đá để ca tụng đức nhà Tần, tức “Cối Kê khắc thạch” 会稽刻石nổi tiếng.
              Trừ việc truy thuật công lao tập quyền thống nhất “bình nhất vũ nội” 平一圩宇内 (thống nhất cõi bờ), “kiêm thính vạn sự” 兼听万事 (lắng nghe muôn việc) của Thuỷ Hoàng, từ một mặt khác nó phản ánh sự động loạn xã hội cùng phong tục “dâm dật” của triều Tần.
              Suốt dọc đường, Thuỷ Hoàng tìm “thiên tử chi khí” 天子之气, “vương giả chi thế” 王者之势, đồng thời tiêu giải hết “đông nam thiên tử khí” 东南天子气, thông lệnh chỉnh đốn phong tục tập quán. Sau khi từ Cối Kê trở về, từ Giang Thặng 江乘 (phía bắc Giang Thị 江市  trấn Giang Tô 江苏), vượt sông, ngồi thuyền lên phía bắc đến Lang Da 琅琊. Thuỷ Hoàng thăm lại quê cũ, không phải không là muốn tìm tiên dược bất lão một lần nữa. Với lòng ham muốn cầu tiên dược Thuỷ Hoàng đã tin những lời hoang đường của Từ Phúc 徐福, đích thân “dĩ liên nỗ hậu đại ngư xuất xạ chi” 以连弩候大鱼出射之dùng nỏ liên hoàn chờ cá lớn xuất hiện để bắn), từ Lang Da đến núi Vinh Thành 荣成, cho đến Chi Phù 芝罘, “kiến cự ngư, xạ sát nhất ngư” 见巨鱼, 射杀一鱼 (thấy cá lớn giết một con) mới chịu thôi. Thế rồi theo đường đến Lâm Tri 临淄 (nay là phía đông bắc thành phố Tri Bác 淄博 Sơn Đông 山东), đến Bình Nguyên 平原 (nay là phía nam Bình Nguyên 平原 Sơn Đông山东). Khi xa giá đến bến Bình Nguyên, khí trời đang cực nóng, Thuỷ Hoàng bệnh chết ở Sa Khâu 沙丘.
              Việc xuất tuần của Thuỷ Hoàng kế thừa chế độ tuần thú của các đời, “thân tuần thiên hạ, chu lãm viễn phương” 亲巡天下, 周览远方 (đích thân tuần thú thiên hạ, xem xét phương xa), tế thiên tế địa, ca tụng công đức, diệu võ dương oai, nhiếp phục tứ phương, đốc sát chính trị, chỉnh đốn phong tục, có lợi cho việc xác lập quyền uy, củng cố sự thống nhất, tăng cường biên phòng. Nhưng xuất tuần không một chút tiết chế quả thực tệ nạn rất nhiều. Ham thích việc lớn ham muốn công danh, hưng binh động chúng, hao phí tài vật, bái tế quỷ thần, cầu tiên tìm thuốc, truy tìm vương khí, thực tế đã làm cho nhân dân lao khổ, tổn hao tài vật, hại quốc bại gia, tổn nhân diệt kỉ, bài học giáo huấn đó rất là sâu sắc. (hết)

                                                             Huỳnh Chương Hưng
                                                              Quy Nhơn 10/7/2019

    Nguyên tác Trung văn
    ĐỆ NGŨ THỨ TUẦN HÀNH
    第五次巡行
    Trong quyển
    THỐNG NHẤT VƯƠNG TRIỀU ĐÍCH ĐẢN SINH – TẦN
    统一王朝的诞生 -
    Chủ biên: “Đồ thuyết Trung Quốc lịch sử”
    Trường Xuân - Cát Lâm xuất bản tập đoàn hữu hạn trách nhiệm công ti, 2006


    Dịch thuật: Tần Thuỷ Hoàng tuần hành lần thứ năm

    Đăng lúc  23:01  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »



    TẦN THUỶ HOÀNG TUẦN HÀNH LẦN THỨ NĂM

              Trong những năm cuối cùng của cuộc đời, Tần Thuỷ Hoàng luôn bận vào việc đánh Hung Nô phía bắc, xây dựng trường thành, di dân vùng ven, kiến tạo lăng mộ, “phần thư khanh nho” 焚书坑儒 (đốt sách chôn nho), những việc đó dường như đã hao phí hết tinh lực của cuộc đời ông, lại thêm bản thân vào lúc vãn niên, mâu thuẫn xã hội nhanh chóng gay gắt, quả thực ông không còn muốn tiếp tục tuần thú thiên hạ. Năm Thuỷ Hoàng 始皇thứ 36 (năm 211 trước công nguyên), một loạt những hiện tượng tự nhiên và nhân sự thần bí hoá đã khiến cho vị thiên tử lúc vãn niên một lần nữa phải lên xa giá tuần thú phía đông nam.
              Năm đó, thiên tượng “huỳnh hoặc (tức sao hoả) thủ tâm” 荧惑守心  (sao hoả ở khoảng giữa sao tâm) cùng truỵ tinh 坠星 (tức vẫn thạch) sa xuống Đông quận, 东郡 chiêm bốc “đông nam hữu thiên tử khí” 东南有天子气 (phía đông nam có khí thiên tử) cùng với truyền ngôn “kim niên tổ long tử” 今年祖龙死 (năm nay tổ long chết) “nhân dữ chi vi oán, gia dữ chi vi cừu” 人与之为怨, 家与之为仇  (người người đối với ông đều oán, nhà nhà đối với ông như cừu thù) đủ để khiến cho bạo quân Thuỷ Hoàng không lạnh mà run. Quan thái bốc cầu đảo thần, “quái đắc du tỉ cát” 卦得游徙吉 (được quẻ du ngoạn, di dời, tốt), Thuỷ Hoàng bèn theo mệnh, một mặt “thiên Bắc Hà Du trung tam vạn gia” 迁北河榆中三万家 (dời ba vạn nhà đến Bắc Hà 北河, Du Trung 榆中 định cư) để ứng với chữ “tỉ” , một mặt lên kế hoạch xuất tuần đông nam để ứng với chữ “du” . Trên thực tế, nơi mà khiến cho Thuỷ Hoàng không yên tâm nhất vẫn chính là phía đông nam, triều Tần cho đến cuối đời vẫn chưa khồng chế tốt khu vực này.
              Lần xuất tuần cuối cùng là vào tháng 10 năm thứ 37 (năm 210 trước công nguyên). Theo xuất tuần chủ yếu có Tả thừa tướng Lí Tư 李斯, Trung xa phủ lệnh Triệu Cao 赵高, thiếu tử Hồ Hợi 胡亥. Đoàn người từ Hàm Dương 咸阳xuất phát, ra Vũ quan 武关 (nay là phía đông nam Thương Nam 商南 Thiểm Tây 陕西), theo lưu vực Đan thuỷ 丹水, Hán thuỷ 汉水 xuống phía nam đến Vân Mộng 云梦 (nay là nơi giao nhau giữa Hán thuỷ 汉水, Trường giang 长江đến vùng hồ bạc của  hồ Động Đình 洞庭), tế vọng Ngu Thuấn 虞舜 tại núi Cửu Nghi 九嶷 (nay là phía nam Ninh Viễn 宁远 Hồ Nam 湖南). Sau đó thuận theo đường sông xuống phía đông, qua Đan Dương 丹阳 (nay là phía đông huyện Đương Đồ 当涂 An Huy 安徽), đến Tiền Đường 钱塘 (nay là Hàng Châu 杭州Chiết Giang 浙江), đến Chiết giang . Nguyên vốn định từ đây đi thuyền lên Cối Kê 会稽 (nay là phía nam thành phố Thiệu Hưng 绍兴 Chiết Giang 浙江), cuối cùng do vì sóng nước hung hiểm, đổi sang Hiệp Trung 狭中 (nay là phụ cận Phú Dương 富阳 Chiết Giang浙江), vượt sông lên núi Cối Kê, bái tế Đại Vũ 大禹, khắc đá để ca tụng đức nhà Tần, tức “Cối Kê khắc thạch” 会稽刻石nổi tiếng.
              Trừ việc truy thuật công lao tập quyền thống nhất “bình nhất vũ nội” 平一圩宇内 (thống nhất cõi bờ), “kiêm thính vạn sự” 兼听万事 (lắng nghe muôn việc) của Thuỷ Hoàng, từ một mặt khác nó phản ánh sự động loạn xã hội cùng phong tục “dâm dật” của triều Tần.
              Suốt dọc đường, Thuỷ Hoàng tìm “thiên tử chi khí” 天子之气, “vương giả chi thế” 王者之势, đồng thời tiêu giải hết “đông nam thiên tử khí” 东南天子气, thông lệnh chỉnh đốn phong tục tập quán. Sau khi từ Cối Kê trở về, từ Giang Thặng 江乘 (phía bắc Giang Thị 江市  trấn Giang Tô 江苏), vượt sông, ngồi thuyền lên phía bắc đến Lang Da 琅琊. Thuỷ Hoàng thăm lại quê cũ, không phải không là muốn tìm tiên dược bất lão một lần nữa. Với lòng ham muốn cầu tiên dược Thuỷ Hoàng đã tin những lời hoang đường của Từ Phúc 徐福, đích thân “dĩ liên nỗ hậu đại ngư xuất xạ chi” 以连弩候大鱼出射之dùng nỏ liên hoàn chờ cá lớn xuất hiện để bắn), từ Lang Da đến núi Vinh Thành 荣成, cho đến Chi Phù 芝罘, “kiến cự ngư, xạ sát nhất ngư” 见巨鱼, 射杀一鱼 (thấy cá lớn giết một con) mới chịu thôi. Thế rồi theo đường đến Lâm Tri 临淄 (nay là phía đông bắc thành phố Tri Bác 淄博 Sơn Đông 山东), đến Bình Nguyên 平原 (nay là phía nam Bình Nguyên 平原 Sơn Đông山东). Khi xa giá đến bến Bình Nguyên, khí trời đang cực nóng, Thuỷ Hoàng bệnh chết ở Sa Khâu 沙丘.
              Việc xuất tuần của Thuỷ Hoàng kế thừa chế độ tuần thú của các đời, “thân tuần thiên hạ, chu lãm viễn phương” 亲巡天下, 周览远方 (đích thân tuần thú thiên hạ, xem xét phương xa), tế thiên tế địa, ca tụng công đức, diệu võ dương oai, nhiếp phục tứ phương, đốc sát chính trị, chỉnh đốn phong tục, có lợi cho việc xác lập quyền uy, củng cố sự thống nhất, tăng cường biên phòng. Nhưng xuất tuần không một chút tiết chế quả thực tệ nạn rất nhiều. Ham thích việc lớn ham muốn công danh, hưng binh động chúng, hao phí tài vật, bái tế quỷ thần, cầu tiên tìm thuốc, truy tìm vương khí, thực tế đã làm cho nhân dân lao khổ, tổn hao tài vật, hại quốc bại gia, tổn nhân diệt kỉ, bài học giáo huấn đó rất là sâu sắc. (hết)

                                                             Huỳnh Chương Hưng
                                                              Quy Nhơn 10/7/2019

    Nguyên tác Trung văn
    ĐỆ NGŨ THỨ TUẦN HÀNH
    第五次巡行
    Trong quyển
    THỐNG NHẤT VƯƠNG TRIỀU ĐÍCH ĐẢN SINH – TẦN
    统一王朝的诞生 -
    Chủ biên: “Đồ thuyết Trung Quốc lịch sử”
    Trường Xuân - Cát Lâm xuất bản tập đoàn hữu hạn trách nhiệm công ti, 2006


    Mã nguồn bởi Huỳnh Chương Hưng
    Copyright © 2012 Huỳnh Chương Hưng.
    back to top