• Thứ Ba, 20 tháng 11, 2018


    骑兵参军
        王子猷作桓车骑骑兵参军, 桓问曰:卿何署?答曰:不知何署, 时见牵马来, 似是马曹.桓又问:官有几马?答曰:不问马, 何由知其数? 又问:马比死多少?答曰 :未知生焉知死.”
                                                                          (世说新语 - 简傲)

    KỊ BINH THAM QUÂN
              Vương Tử Du tác Hoàn xa kị kị binh tham quân, Hoàn vấn viết: “Khanh hà thự?” Đáp viết: “Bất tri hà thự, thời kiến khiên mã lai, tự thị mã tào.” Hoàn hựu vấn: “Quan hữu kỉ mã?” Đáp viết: “Bất vấn mã, hà do tri kì số?” Hựu vấn: “Mã bí tử đa thiểu?” Đáp viết: “Vị tri sinh yên tri tử.”
                                                            (Thế thuyết tân ngữ - Giản ngạo)

    KỊ BINH THAM QUÂN
              Vương Tử Du giữ chức Kị binh tham quân cho Xa kị tướng quân Hoàn Xung. Một lần nọ, Hoàn Xung hỏi Vương Tử Du: “Ông làm việc ở quan thự nào?” Vương Tử Du đáp rằng: “Không biết quan thự nào, chỉ thường thấy dắt ngựa vào, giống như là mã tào (1).” Hoàn Xung lại hỏi: “Trong quan phủ có bao nhiêu ngựa?” Vương Tử Du đáp rằng: “Đừng hỏi ngựa, làm sao biết được số ngựa.” Hoàn Xung lại hỏi: “Gần đây ngựa chết nhiều không?” Vương Tử Du đáp rằng: “Số con sống còn chưa biết làm sao biết số con chết.”

    Chú của người dịch
    1- Mã tào 马曹: “tào” là một cơ quan chuyên ngành vào thời cố. Mã tào là quan thự chuyên coi về ngựa.

    Thế thuyết tân ngữ 世说新语 : bộ bút kí tiểu thuyết thuật lại những huyền học ngôn đàm dật sự của sĩ đại phu thời Nguỵ Tấn. Trong đó có thể nhìn thấy ngôn đàm về huyền học thời Nguỵ Tấn đã trở thành phong thượng, mà huyền học chính là lấy tư tưởng Lão Trang làm gốc. Tư tưởng của Đạo gia đối với phương thức tư duy và trạng thái sinh hoạt của sĩ đại phu thời Nguỵ Tấn, thậm chí phong khí của cả xã hội đều sản sinh ảnh hưởng quan trọng. Tác phẩm này do Lâm Xuyên Vương Lưu Nghĩa Khánh 临川王刘义庆, thuộc dòng dõi tông thất nhà Lưu Tống thời Nam Bắc triều đã tập hợp một số văn nhân biên soạn, Lưu Tuấn 刘峻 đời Lương viết lời chú. Toàn sách nguyên có 8 quyển, bản chú của Lưu Tuấn phân làm 10 quyển. Các bản hiện nay đều là 3 quyển phân làm 36 môn như: đức hạnh, ngôn ngữ, chính sự, văn học, phương chính, nhã lượng v.v… Toàn sách tổng cộng hơn 1000 tắc, kí thuật những dật văn dật sự của danh sĩ quý tộc từ cuối đời Hán đến thời Lưu Tống, chủ yếu là những câu chuyện có liên quan đến việc bình luận, thanh đàm huyền ngôn và ứng đối cơ trí của các nhân vật.
              Lưu Nghĩa Khánh 刘义庆 (năm 403 – khoảng năm 444): người Bành Thành 彭城 (nay là Từ Châu 徐州 Giang Tô 江苏), văn học gia thời Nam triều, thuộc dòng dõi tông thất nhà Lưu Tống, được tập phong Lâm Xuyên Vương 临川王, nhậm chức Thứ sử Kinh Châu 荆州. Ông giữ chức được 8 năm, chính tích rất tốt. Sau nhậm chức Thứ sử Giang Châu 江州, được một năm, nhân vì đồng tình với một viên quan bị biếm là Vương Nghĩa Khang 王义康 đã xúc nộ Văn Đế, bị điều về kinh đổi làm Thứ sử Nam Kinh Châu 南京州, Đô đốc gia khai phủ nghi đồng tam ti. Chẳng bao lâu vì bệnh ông từ chức.
    Lưu Nghĩa Khánh mất năm Nguyên Gia 元嘉 thứ 21 ở Kiến Khang 建康 (nay là Nam Kinh)
              Lưu Nghĩa Khánh từ nhỏ đã tài hoa xuất chúng, yêu thích văn học. Ngoài Thế thuyết tân ngữ 世说新语 ra, ông còn có tiểu thuyết chí quái U minh lục 幽明录.
              Nguồn http://baike.baidu.com/view/39662.htm
              Tắc Kị binh tham quân  thuộc môn Giản ngạo.

                                                                          Huỳnh Chương Hưng
                                                                          Quy Nhơn 20/11/2018

    Nguồn
    THẾ THUYẾT TÂN NGỮ
    世说新语
    Tác giả: Lưu Nghĩa Khánh 刘义庆
    Thiểm Tây lữ du xuất bản xã, 2002.

    Dịch thuật: Kị binh tham quân (Thế thuyết tân ngữ)

    Đăng lúc  23:12  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »


    骑兵参军
        王子猷作桓车骑骑兵参军, 桓问曰:卿何署?答曰:不知何署, 时见牵马来, 似是马曹.桓又问:官有几马?答曰:不问马, 何由知其数? 又问:马比死多少?答曰 :未知生焉知死.”
                                                                          (世说新语 - 简傲)

    KỊ BINH THAM QUÂN
              Vương Tử Du tác Hoàn xa kị kị binh tham quân, Hoàn vấn viết: “Khanh hà thự?” Đáp viết: “Bất tri hà thự, thời kiến khiên mã lai, tự thị mã tào.” Hoàn hựu vấn: “Quan hữu kỉ mã?” Đáp viết: “Bất vấn mã, hà do tri kì số?” Hựu vấn: “Mã bí tử đa thiểu?” Đáp viết: “Vị tri sinh yên tri tử.”
                                                            (Thế thuyết tân ngữ - Giản ngạo)

    KỊ BINH THAM QUÂN
              Vương Tử Du giữ chức Kị binh tham quân cho Xa kị tướng quân Hoàn Xung. Một lần nọ, Hoàn Xung hỏi Vương Tử Du: “Ông làm việc ở quan thự nào?” Vương Tử Du đáp rằng: “Không biết quan thự nào, chỉ thường thấy dắt ngựa vào, giống như là mã tào (1).” Hoàn Xung lại hỏi: “Trong quan phủ có bao nhiêu ngựa?” Vương Tử Du đáp rằng: “Đừng hỏi ngựa, làm sao biết được số ngựa.” Hoàn Xung lại hỏi: “Gần đây ngựa chết nhiều không?” Vương Tử Du đáp rằng: “Số con sống còn chưa biết làm sao biết số con chết.”

    Chú của người dịch
    1- Mã tào 马曹: “tào” là một cơ quan chuyên ngành vào thời cố. Mã tào là quan thự chuyên coi về ngựa.

    Thế thuyết tân ngữ 世说新语 : bộ bút kí tiểu thuyết thuật lại những huyền học ngôn đàm dật sự của sĩ đại phu thời Nguỵ Tấn. Trong đó có thể nhìn thấy ngôn đàm về huyền học thời Nguỵ Tấn đã trở thành phong thượng, mà huyền học chính là lấy tư tưởng Lão Trang làm gốc. Tư tưởng của Đạo gia đối với phương thức tư duy và trạng thái sinh hoạt của sĩ đại phu thời Nguỵ Tấn, thậm chí phong khí của cả xã hội đều sản sinh ảnh hưởng quan trọng. Tác phẩm này do Lâm Xuyên Vương Lưu Nghĩa Khánh 临川王刘义庆, thuộc dòng dõi tông thất nhà Lưu Tống thời Nam Bắc triều đã tập hợp một số văn nhân biên soạn, Lưu Tuấn 刘峻 đời Lương viết lời chú. Toàn sách nguyên có 8 quyển, bản chú của Lưu Tuấn phân làm 10 quyển. Các bản hiện nay đều là 3 quyển phân làm 36 môn như: đức hạnh, ngôn ngữ, chính sự, văn học, phương chính, nhã lượng v.v… Toàn sách tổng cộng hơn 1000 tắc, kí thuật những dật văn dật sự của danh sĩ quý tộc từ cuối đời Hán đến thời Lưu Tống, chủ yếu là những câu chuyện có liên quan đến việc bình luận, thanh đàm huyền ngôn và ứng đối cơ trí của các nhân vật.
              Lưu Nghĩa Khánh 刘义庆 (năm 403 – khoảng năm 444): người Bành Thành 彭城 (nay là Từ Châu 徐州 Giang Tô 江苏), văn học gia thời Nam triều, thuộc dòng dõi tông thất nhà Lưu Tống, được tập phong Lâm Xuyên Vương 临川王, nhậm chức Thứ sử Kinh Châu 荆州. Ông giữ chức được 8 năm, chính tích rất tốt. Sau nhậm chức Thứ sử Giang Châu 江州, được một năm, nhân vì đồng tình với một viên quan bị biếm là Vương Nghĩa Khang 王义康 đã xúc nộ Văn Đế, bị điều về kinh đổi làm Thứ sử Nam Kinh Châu 南京州, Đô đốc gia khai phủ nghi đồng tam ti. Chẳng bao lâu vì bệnh ông từ chức.
    Lưu Nghĩa Khánh mất năm Nguyên Gia 元嘉 thứ 21 ở Kiến Khang 建康 (nay là Nam Kinh)
              Lưu Nghĩa Khánh từ nhỏ đã tài hoa xuất chúng, yêu thích văn học. Ngoài Thế thuyết tân ngữ 世说新语 ra, ông còn có tiểu thuyết chí quái U minh lục 幽明录.
              Nguồn http://baike.baidu.com/view/39662.htm
              Tắc Kị binh tham quân  thuộc môn Giản ngạo.

                                                                          Huỳnh Chương Hưng
                                                                          Quy Nhơn 20/11/2018

    Nguồn
    THẾ THUYẾT TÂN NGỮ
    世说新语
    Tác giả: Lưu Nghĩa Khánh 刘义庆
    Thiểm Tây lữ du xuất bản xã, 2002.

    Thứ Hai, 19 tháng 11, 2018

    NHẤT PHẠN THIÊN KIM
    一饭千金
    MỘT BÁT CƠM ĐÁNG GIÁ NGÀN VÀNG

    Giải thích: Ví lúc nghèo khó được người giúp đỡ, sau khi phát đạt báo đáp hậu hĩ.
    Xuất xứ: Hán . Tư Mã Thiên 司马迁: Sử kí – Hoài Âm Hầu liệt truyện 史记 - 淮阴侯列传.

              Đại tướng Hàn Tín 韩信 thời Hán Cao Tổ 汉高祖 là người Hoài Âm 淮阴, lúc trẻ rất thất ý, nghèo khó, nên không được ai tiến cử làm quan. Lúc bấy giờ, Hàn Tín thường ra ngoài thành câu cá, hi vọng gặp vận may, có thể giải quyết được sinh kế, nhưng không được như nguyện, vì thế bụng luôn đói. Nơi Hàn Tín câu cá có rất nhiều “phiếu mẫu” 漂母 (phụ nữ trung niên và lão niên giặt quần áo), trong số đó có một bà lão đồng tình cảnh ngộ của Hàn Tín luôn giúp đỡ, mang cơm cho ăn. Hàn Tín trong lúc khốn khó, được ân huệ của một bà lão cần cù khắc khổ chỉ biết dựa vào đôi tay của mình để sống qua ngày, nên rất cảm kích, liền nói với bà, tương lai nhất định sẽ báo đáp hậu hĩ. Bà lão nghe mấy lời của Hàn Tín không hề vui mừng, biểu thị không hi vọng trong tương lai Hàn Tín sẽ báo đáp. Về sau, quả nhiên Hàn Tín lập nhiều công lao cho Hán Vương 汉王, được phong làm Sở Vương 楚王. Nhớ đến ngày trước từng nhận qua ân huệ của bà lão, Hàn Tín liền sai người mang rượu và thức ăn đến cho bà, còn đem 1000 lượng vàng đáp tạ.

                                                           Huỳnh Chương Hưng
                                                 Quy Nhơn 19/11/2018

    Nguyên tác Trung văn
    NHẤT PHẠN THIÊN KIM
    一饭千金
    TRUNG QUỐC THÀNH NGỮ CỐ SỰ TỔNG TẬP
    中国成语故事总集
    (tập 1)
    Chủ biên: Đường Kì 唐麒
    Trường Xuân – Thời đại văn nghệ xuất bản xã, 2004

    Dịch thuật: Nhất phạn thiên kim (thành ngữ)

    Đăng lúc  22:12  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    NHẤT PHẠN THIÊN KIM
    一饭千金
    MỘT BÁT CƠM ĐÁNG GIÁ NGÀN VÀNG

    Giải thích: Ví lúc nghèo khó được người giúp đỡ, sau khi phát đạt báo đáp hậu hĩ.
    Xuất xứ: Hán . Tư Mã Thiên 司马迁: Sử kí – Hoài Âm Hầu liệt truyện 史记 - 淮阴侯列传.

              Đại tướng Hàn Tín 韩信 thời Hán Cao Tổ 汉高祖 là người Hoài Âm 淮阴, lúc trẻ rất thất ý, nghèo khó, nên không được ai tiến cử làm quan. Lúc bấy giờ, Hàn Tín thường ra ngoài thành câu cá, hi vọng gặp vận may, có thể giải quyết được sinh kế, nhưng không được như nguyện, vì thế bụng luôn đói. Nơi Hàn Tín câu cá có rất nhiều “phiếu mẫu” 漂母 (phụ nữ trung niên và lão niên giặt quần áo), trong số đó có một bà lão đồng tình cảnh ngộ của Hàn Tín luôn giúp đỡ, mang cơm cho ăn. Hàn Tín trong lúc khốn khó, được ân huệ của một bà lão cần cù khắc khổ chỉ biết dựa vào đôi tay của mình để sống qua ngày, nên rất cảm kích, liền nói với bà, tương lai nhất định sẽ báo đáp hậu hĩ. Bà lão nghe mấy lời của Hàn Tín không hề vui mừng, biểu thị không hi vọng trong tương lai Hàn Tín sẽ báo đáp. Về sau, quả nhiên Hàn Tín lập nhiều công lao cho Hán Vương 汉王, được phong làm Sở Vương 楚王. Nhớ đến ngày trước từng nhận qua ân huệ của bà lão, Hàn Tín liền sai người mang rượu và thức ăn đến cho bà, còn đem 1000 lượng vàng đáp tạ.

                                                           Huỳnh Chương Hưng
                                                 Quy Nhơn 19/11/2018

    Nguyên tác Trung văn
    NHẤT PHẠN THIÊN KIM
    一饭千金
    TRUNG QUỐC THÀNH NGỮ CỐ SỰ TỔNG TẬP
    中国成语故事总集
    (tập 1)
    Chủ biên: Đường Kì 唐麒
    Trường Xuân – Thời đại văn nghệ xuất bản xã, 2004

    Chủ Nhật, 18 tháng 11, 2018

    ĐỘNG VẬT CÁT TƯỜNG
    NGƯU

              Trâu (ngưu ) trong dân gian Trung Quốc được xem là thần vật, những câu chuyện liên quan tới trâu trong thần thoại rất nhiều, thần tiên cưỡi trâu cũng rất nhiều. Tị tổ Đạo gia là Lão Tử 老子khi đi về phía tây đã cưỡi thanh ngưu.
              Mọi người đều cho rằng trâu và nước có quan hệ mật thiết với nhau. Ở nhiều nơi, người ta đem trâu được chế tác bằng đá hoặc bằng đồng đặt vào trong nước để trấn thuỷ, phòng trừ nạn nước dâng, phá huỷ để điều. Phương nam Trung Quốc, còn lưu hành tập tục sùng bái trâu. Do bởi sau khai xuân, trâu xuống đồng cày ruộng, cho nên lấy trâu tượng trưng cho mùa xuân, mọi người cử hành nghi thức khai canh, thậm chí có lúc hoàng đế  cũng đến tham gia. Có nơi ca tụng tính cần cù của trâu chịu đựng mệt nhọc, chịu đựng oán trách, đã dựng “ngưu miếu” 牛廟thờ phụng.
              Trâu là một trong 12 con giáp, cho nên người cầm tinh con trâu đương nhiên xem trâu là vật cát tường của sinh mệnh bản thân.

                                                                             Huỳnh Chương Hưng
                                                                             Quy Nhơn 18/11/2018

    Nguyên tác Trung văn
    NGƯU
    Trong quyển
    CÁT TƯỜNG ĐÍCH TRUNG QUỐC
    吉祥的中國
    Bản công ti biên tập bộ biên soạn
    Ngọc thụ đồ thư ấn loát hữu hạn công ti, năm Dân Quốc thứ 90.

    Dịch thuật: Động vật cát tường - Ngưu

    Đăng lúc  20:59  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    ĐỘNG VẬT CÁT TƯỜNG
    NGƯU

              Trâu (ngưu ) trong dân gian Trung Quốc được xem là thần vật, những câu chuyện liên quan tới trâu trong thần thoại rất nhiều, thần tiên cưỡi trâu cũng rất nhiều. Tị tổ Đạo gia là Lão Tử 老子khi đi về phía tây đã cưỡi thanh ngưu.
              Mọi người đều cho rằng trâu và nước có quan hệ mật thiết với nhau. Ở nhiều nơi, người ta đem trâu được chế tác bằng đá hoặc bằng đồng đặt vào trong nước để trấn thuỷ, phòng trừ nạn nước dâng, phá huỷ để điều. Phương nam Trung Quốc, còn lưu hành tập tục sùng bái trâu. Do bởi sau khai xuân, trâu xuống đồng cày ruộng, cho nên lấy trâu tượng trưng cho mùa xuân, mọi người cử hành nghi thức khai canh, thậm chí có lúc hoàng đế  cũng đến tham gia. Có nơi ca tụng tính cần cù của trâu chịu đựng mệt nhọc, chịu đựng oán trách, đã dựng “ngưu miếu” 牛廟thờ phụng.
              Trâu là một trong 12 con giáp, cho nên người cầm tinh con trâu đương nhiên xem trâu là vật cát tường của sinh mệnh bản thân.

                                                                             Huỳnh Chương Hưng
                                                                             Quy Nhơn 18/11/2018

    Nguyên tác Trung văn
    NGƯU
    Trong quyển
    CÁT TƯỜNG ĐÍCH TRUNG QUỐC
    吉祥的中國
    Bản công ti biên tập bộ biên soạn
    Ngọc thụ đồ thư ấn loát hữu hạn công ti, năm Dân Quốc thứ 90.

    Thứ Bảy, 17 tháng 11, 2018

    “CẬN CHU GIẢ XÍCH, CẬN MẶC GIẢ HẮC”
    DO AI NÓI ĐẦU TIÊN

              “Cận chu giả xích, cận mặc giả hắc” 近朱者赤, 近墨者黑, ý nói gần chu sa thì sẽ biến thành đỏ, gần mực sẽ biến thành đen, nhấn mạnh ảnh hưởng của hoàn cảnh đối với cá nhân. Về câu này lần đầu tiên do ai nói, đến nay vẫn còn tranh nghị. Có người cho là Khổng Tử 孔子 nói khi dạy học trò, có người cho là Chu Hi 朱熹 đời Tống nói, cũng có người cho là Phạm Trọng Yêm 范仲淹nói.
              Truyền thuyết cho rằng, Âu Dương Tu 欧阳修khi làm Thái thú phủ Dĩnh Châu 颍州 (nay là Phụ Dương 阜阳 An Huy 安徽), có người trẻ tuổi tên Lữ Công Trứ  吕公著 làm việc dưới tay ông. Một lần nọ, bạn của Âu Dương Tu là Phạm Trọng Yêm trên đường đi ngang qua Dĩnh Châu đã ghé lại thăm. Âu Dương Tu nhiệt tình chiêu đãi, đồng thời nhờ Lữ Công Trứ phụ tiếp đãi. Trong khi trò chuyện, Phạm Trọng Yêm nói với Lữ Công Trứ rằng:
              - ‘Cận chu giả xích, cận mặc giả hắc’. Anh ở bên cạnh Âu Dương Tu, thật là quá tốt. Nên hướng đến ông ta xin thỉnh giáo kĩ xảo viết văn làm thơ.
              Lữ Công Trứ gật đầu. Về sau, qua việc ngôn truyền thân giáo của Âu Dương Tu, năng lực sáng tác của Lữ Công Trứ đã nhanh chóng được nâng cao.
              Ở đây Phạm Trọng Yêm chỉ nói “cận chu giả xích, cận mặc giả hắc”, hoàn toàn không thể nói đó là đại biểu cho xuất xứ nguyên thuỷ. Còn với Khổng Tử tuy thời gian sớm nhất, nhưng xem trong Luận ngữ 论语và những trứ tác có liên quan, tuy có những câu có ý biểu đạt tương đồng, nhưng không thấy câu “cận chu giả xích, cận mặc giả hắc”. Thuyết có thể tin tưởng là trong Thái tử Thiếu phó châm 太子少傅箴 của Phó Huyền 傅玄 đời Tấn:
              Cố cận chu giả xích, cận mặc giả hắc; thanh hoà tắc hưởng thanh, hình chính tắc ảnh trực.
              故近朱者赤, 近墨者黑; 声和则响清, 形正则影直.
              (Cho nên gần son thì đỏ, gần mực thì đen; thanh âm mà hoà hợp thì tiếng vang nghe trong trẻo, hình mà ngay thì ảnh thẳng.)
              Nói một cách chuẩn xác, hiện nay rất khó để mà tra nguyên tác giả là ai. Nhưng điều đó không quan trọng, điều mà chúng ta cần phải hiểu rõ đó là hoàn cảnh có ảnh hưởng rất lớn đối với con người.

                                                      Huỳnh Chương Hưng
                                                      Quy Nhơn 17/11/2018

    Nguyên tác Trung văn
    Trong quyển
    THÚ VỊ VĂN HOÁ TRI THỨC ĐẠI TOÀN
    趣味文化知识大全
    Thanh Thạch 青石 biên soạn
    Trung Quốc Hoa kiều xuất bản xã, 2013

    Dịch thuật: "Cận chu giả xích, cận mặc giả hắc" do ai nói đầu tiên

    Đăng lúc  19:59  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    “CẬN CHU GIẢ XÍCH, CẬN MẶC GIẢ HẮC”
    DO AI NÓI ĐẦU TIÊN

              “Cận chu giả xích, cận mặc giả hắc” 近朱者赤, 近墨者黑, ý nói gần chu sa thì sẽ biến thành đỏ, gần mực sẽ biến thành đen, nhấn mạnh ảnh hưởng của hoàn cảnh đối với cá nhân. Về câu này lần đầu tiên do ai nói, đến nay vẫn còn tranh nghị. Có người cho là Khổng Tử 孔子 nói khi dạy học trò, có người cho là Chu Hi 朱熹 đời Tống nói, cũng có người cho là Phạm Trọng Yêm 范仲淹nói.
              Truyền thuyết cho rằng, Âu Dương Tu 欧阳修khi làm Thái thú phủ Dĩnh Châu 颍州 (nay là Phụ Dương 阜阳 An Huy 安徽), có người trẻ tuổi tên Lữ Công Trứ  吕公著 làm việc dưới tay ông. Một lần nọ, bạn của Âu Dương Tu là Phạm Trọng Yêm trên đường đi ngang qua Dĩnh Châu đã ghé lại thăm. Âu Dương Tu nhiệt tình chiêu đãi, đồng thời nhờ Lữ Công Trứ phụ tiếp đãi. Trong khi trò chuyện, Phạm Trọng Yêm nói với Lữ Công Trứ rằng:
              - ‘Cận chu giả xích, cận mặc giả hắc’. Anh ở bên cạnh Âu Dương Tu, thật là quá tốt. Nên hướng đến ông ta xin thỉnh giáo kĩ xảo viết văn làm thơ.
              Lữ Công Trứ gật đầu. Về sau, qua việc ngôn truyền thân giáo của Âu Dương Tu, năng lực sáng tác của Lữ Công Trứ đã nhanh chóng được nâng cao.
              Ở đây Phạm Trọng Yêm chỉ nói “cận chu giả xích, cận mặc giả hắc”, hoàn toàn không thể nói đó là đại biểu cho xuất xứ nguyên thuỷ. Còn với Khổng Tử tuy thời gian sớm nhất, nhưng xem trong Luận ngữ 论语và những trứ tác có liên quan, tuy có những câu có ý biểu đạt tương đồng, nhưng không thấy câu “cận chu giả xích, cận mặc giả hắc”. Thuyết có thể tin tưởng là trong Thái tử Thiếu phó châm 太子少傅箴 của Phó Huyền 傅玄 đời Tấn:
              Cố cận chu giả xích, cận mặc giả hắc; thanh hoà tắc hưởng thanh, hình chính tắc ảnh trực.
              故近朱者赤, 近墨者黑; 声和则响清, 形正则影直.
              (Cho nên gần son thì đỏ, gần mực thì đen; thanh âm mà hoà hợp thì tiếng vang nghe trong trẻo, hình mà ngay thì ảnh thẳng.)
              Nói một cách chuẩn xác, hiện nay rất khó để mà tra nguyên tác giả là ai. Nhưng điều đó không quan trọng, điều mà chúng ta cần phải hiểu rõ đó là hoàn cảnh có ảnh hưởng rất lớn đối với con người.

                                                      Huỳnh Chương Hưng
                                                      Quy Nhơn 17/11/2018

    Nguyên tác Trung văn
    Trong quyển
    THÚ VỊ VĂN HOÁ TRI THỨC ĐẠI TOÀN
    趣味文化知识大全
    Thanh Thạch 青石 biên soạn
    Trung Quốc Hoa kiều xuất bản xã, 2013

    Thứ Sáu, 16 tháng 11, 2018

    LỄ TIẾT QUAN TRỌNG CỦA ĐẠO GIÁO
    GỒM NHỮNG NGÀY NÀO

              Lễ tiết của Đạo giáo căn cứ vào ngày đản sinh của thần, tiên cùng tổ sư các phái của Đạo giáo được phụng thờ mà xác định. Như mọi người đều biết, thần tiên mà Đạo giáo phụng thờ rất nhiều, hơn nữa phái biệt Đạo giáo cũng nhiều. Như vậy ngày lễ tiết của Đạo giáo cũng không ít. Nói chung, ngày lễ tiết quan trọng của Đạo giáo trừ ngày sinh của Tổ sư bổn phái ra, còn có một số ngày lễ tiết trọng yếu mà các phái của Đạo giáo xem trọng. Thời kì của những lễ tiết này, các cung quán của Đạo giáo đều tiến hành hoạt động tế lễ long trọng để chúc mừng. Dưới đây sẽ giới thiệu vắn tắt những ngày lễ tiết quan trọng.
              Tam Thanh tiết 三清节: tức Thánh đản của 3 vị tôn thần tối cao trong
    Đạo giáo. Hàng năm vào ngày Đông chí là đản thần của Nguyên Thuỷ Thiên Tôn 元始天尊; ngày Hạ chí là đản thần của Linh Bảo Thiên Tôn 灵宝天尊; ngày rằm tháng 2 âm lịch là đản thần của Đạo Đức Thiên Tôn 道德天尊(Thái Thượng Lão Quân 太上老君).
              Tam Nguyên tiết 三元节: tức ngày lễ 3 vị thần kì là Thiên quan 天官, Địa quan 地官và Thuỷ quan 水官. Hàng năm vào ngày rằm tháng Giêng âm lịch là Thượng Nguyên Thiên quan tiết; ngày rằm tháng 7 là Trung Nguyên Địa quan tiết; ngày rằm tháng 10 là Hạ Nguyên Thuỷ quan tiết. Vào thời đạo Ngũ đẩu mễ 五斗米,  tín đồ Đạo giáo rất sùng phụng “Tam Quan”, họ cho rằng “Thiên quan tứ phúc, Địa quan xá tội, Thuỷ quan giải ách” 天官赐福, 地官赦罪, 水官解厄, “nhất thiết chúng sinh giai thị Thiên, Địa, Thuỷ tam quan thống nhiếp” 一切众生皆是天, , 水三官统摄. Theo sự phát triển của Đạo giáo, Tam Nguyên tiết dần hình thành.
              Bàn đào hội 蟠桃会: Đạo giáo căn cứ vào thần thoại cổ đại Tây Vương Mẫu 西王母giữ thuốc trường sinh bất tử, cho rằng Tây Vương Mẫu đem bàn đào 3000 năm mới chín tặng cho Hán Vũ Đế 汉武帝để được kéo dài tuổi thọ, như vậy Tây Vương Mẫu trở thành vị thần tiên mà Đạo giáo sùng phụng. Theo truyền thuyết, ngày mồng 3 tháng 3 âm lịch là đản thần của Tây Vương Mẫu. Vào ngày này Tây Vương Mẫu mở hội Bàn đào, quần tiên tụ tập dâng thọ cho Tây Vương Mẫu. Hàng năm vào ngày này Đạo giáo cử hành lễ hội long trọng gọi là Bàn đào hội. Tây Vương Mẫu tức tục xưng là Vương Mẫu Nương Nương 王母娘娘.
              Đản thần của Đông Hoa Đế Quân 东华帝君là mồng 6 tháng 2 âm lịch.
              Ngũ lạp tiết 五腊节: phân biệt là Thiên lạp 天腊, Địa lạp 地腊, Đạo đức lạp 道德腊, Dân tuế lạp 民岁腊, Hầu vương lạp 侯王腊. Thiên lạp là vào ngày mồng 1 tháng Giêng âm lịch hàng năm; Địa lạp là vào ngày mồng 5 tháng 5 âm lịch; Đạo đức lạp là vào ngày mồng 1 tháng 10 âm lịch; Dân tuế lạp vào ngày mồng 1 tháng 10; Hầu vương lạp vào ngày mồng 8 tháng 12 âm lịch.
              Ngoài ra:
    - Ngày rằm tháng 3 âm lịch là đản thần của Thiên sư Trương Đạo Lăng 天师张道陵.
    - Ngày 24 tháng 6 là đản thần của Quan Thánh Đế Quân 关圣帝君.
              - Ngày 17 tháng 9 là đản thần của Tài thần 财神.
              - Ngày mồng 3 tháng 10 là đản thần của Tam Mao Chân Quân 三茅真君.
              - Ngày 22 tháng 12 là đản thần của Vương Trùng Dương Tổ sư 王重阳祖师.

                                                                     Huỳnh Chương Hưng
                                                                     Quy Nhơn 16/11/2018

    Nguồn 
    ĐẠO GIÁO THƯỜNG THỨC ĐÁP VẤN
    道教常识答问
    Tác giả: Khanh Hi Thái 卿希泰
                       Vương Chí Trung 王志忠
                       Đường Đại Triều 唐大潮
    Giang Tô cổ tịch xuất bản xã, 1996

    Dịch thuật: Lễ tiết quan trọng của Đạo giáo gồm những ngày nào

    Đăng lúc  21:22  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    LỄ TIẾT QUAN TRỌNG CỦA ĐẠO GIÁO
    GỒM NHỮNG NGÀY NÀO

              Lễ tiết của Đạo giáo căn cứ vào ngày đản sinh của thần, tiên cùng tổ sư các phái của Đạo giáo được phụng thờ mà xác định. Như mọi người đều biết, thần tiên mà Đạo giáo phụng thờ rất nhiều, hơn nữa phái biệt Đạo giáo cũng nhiều. Như vậy ngày lễ tiết của Đạo giáo cũng không ít. Nói chung, ngày lễ tiết quan trọng của Đạo giáo trừ ngày sinh của Tổ sư bổn phái ra, còn có một số ngày lễ tiết trọng yếu mà các phái của Đạo giáo xem trọng. Thời kì của những lễ tiết này, các cung quán của Đạo giáo đều tiến hành hoạt động tế lễ long trọng để chúc mừng. Dưới đây sẽ giới thiệu vắn tắt những ngày lễ tiết quan trọng.
              Tam Thanh tiết 三清节: tức Thánh đản của 3 vị tôn thần tối cao trong
    Đạo giáo. Hàng năm vào ngày Đông chí là đản thần của Nguyên Thuỷ Thiên Tôn 元始天尊; ngày Hạ chí là đản thần của Linh Bảo Thiên Tôn 灵宝天尊; ngày rằm tháng 2 âm lịch là đản thần của Đạo Đức Thiên Tôn 道德天尊(Thái Thượng Lão Quân 太上老君).
              Tam Nguyên tiết 三元节: tức ngày lễ 3 vị thần kì là Thiên quan 天官, Địa quan 地官và Thuỷ quan 水官. Hàng năm vào ngày rằm tháng Giêng âm lịch là Thượng Nguyên Thiên quan tiết; ngày rằm tháng 7 là Trung Nguyên Địa quan tiết; ngày rằm tháng 10 là Hạ Nguyên Thuỷ quan tiết. Vào thời đạo Ngũ đẩu mễ 五斗米,  tín đồ Đạo giáo rất sùng phụng “Tam Quan”, họ cho rằng “Thiên quan tứ phúc, Địa quan xá tội, Thuỷ quan giải ách” 天官赐福, 地官赦罪, 水官解厄, “nhất thiết chúng sinh giai thị Thiên, Địa, Thuỷ tam quan thống nhiếp” 一切众生皆是天, , 水三官统摄. Theo sự phát triển của Đạo giáo, Tam Nguyên tiết dần hình thành.
              Bàn đào hội 蟠桃会: Đạo giáo căn cứ vào thần thoại cổ đại Tây Vương Mẫu 西王母giữ thuốc trường sinh bất tử, cho rằng Tây Vương Mẫu đem bàn đào 3000 năm mới chín tặng cho Hán Vũ Đế 汉武帝để được kéo dài tuổi thọ, như vậy Tây Vương Mẫu trở thành vị thần tiên mà Đạo giáo sùng phụng. Theo truyền thuyết, ngày mồng 3 tháng 3 âm lịch là đản thần của Tây Vương Mẫu. Vào ngày này Tây Vương Mẫu mở hội Bàn đào, quần tiên tụ tập dâng thọ cho Tây Vương Mẫu. Hàng năm vào ngày này Đạo giáo cử hành lễ hội long trọng gọi là Bàn đào hội. Tây Vương Mẫu tức tục xưng là Vương Mẫu Nương Nương 王母娘娘.
              Đản thần của Đông Hoa Đế Quân 东华帝君là mồng 6 tháng 2 âm lịch.
              Ngũ lạp tiết 五腊节: phân biệt là Thiên lạp 天腊, Địa lạp 地腊, Đạo đức lạp 道德腊, Dân tuế lạp 民岁腊, Hầu vương lạp 侯王腊. Thiên lạp là vào ngày mồng 1 tháng Giêng âm lịch hàng năm; Địa lạp là vào ngày mồng 5 tháng 5 âm lịch; Đạo đức lạp là vào ngày mồng 1 tháng 10 âm lịch; Dân tuế lạp vào ngày mồng 1 tháng 10; Hầu vương lạp vào ngày mồng 8 tháng 12 âm lịch.
              Ngoài ra:
    - Ngày rằm tháng 3 âm lịch là đản thần của Thiên sư Trương Đạo Lăng 天师张道陵.
    - Ngày 24 tháng 6 là đản thần của Quan Thánh Đế Quân 关圣帝君.
              - Ngày 17 tháng 9 là đản thần của Tài thần 财神.
              - Ngày mồng 3 tháng 10 là đản thần của Tam Mao Chân Quân 三茅真君.
              - Ngày 22 tháng 12 là đản thần của Vương Trùng Dương Tổ sư 王重阳祖师.

                                                                     Huỳnh Chương Hưng
                                                                     Quy Nhơn 16/11/2018

    Nguồn 
    ĐẠO GIÁO THƯỜNG THỨC ĐÁP VẤN
    道教常识答问
    Tác giả: Khanh Hi Thái 卿希泰
                       Vương Chí Trung 王志忠
                       Đường Đại Triều 唐大潮
    Giang Tô cổ tịch xuất bản xã, 1996

    Thứ Năm, 15 tháng 11, 2018

    CÁI CHẾT CỦA KHÁNH KỊ

              Cơ Quang 姬光giết quốc quân, lợi dụng Chuyên Chư 专诸thích sát Vương Liêu 王僚, tự lập làm Ngô Vương Hạp Lư 吴王阖闾.
              Con của Ngô Vương Liêu là Khánh Kị 庆忌, chạy ra bên ngoài, chiêu nạp hiền sĩ, liên hiệp với lân quốc đợi thời cơ phạt Ngô báo thù.
              Hạp Lư vốn biết Khánh Kị mạnh khoẻ nhanh nhẹn, dũng mãnh phi thường, vạn người cũng khó địch lại, nay nghe tin này nên rất lo sợ, muốn sai người đi hành thích, nhưng nhất thời tìm chưa được người thích hợp.
              Ngày nọ, Ngũ Viên 伍员mời đến một dũng sĩ, tên là Yếu Li 要离.
              Hạp Lư và nhìn thấy Yếu li thân cao chưa đến 5 xích, lưng to tướng xấu nên thất vọng, không vui, hỏi:
              - Ngươi là dũng sĩ Yếu Li mà Ngũ đại phu giới thiệu chăng?
              Yếu Li đáp rằng:
              - Thần nhỏ bé không có sức, gặp gió phải rạp, ngược gió phải đổ, đâu có phải dũng sĩ gì. Nhưng nếu đại vương sai khiến, thần nhất định sẽ làm hết khả năng.
              Hạp Lư nghe qua càng không vui. Ngũ Viên biết ý bèn nói:
              - Ngựa tốt không phải ở chỗ phải cao to, chỉ cần có thể thồ được nặng chạy được xa thì là ngựa tốt. Yếu Li tướng mạo tuy xấu, nhưng vô cùng cơ trí mẫn tiệp, nhất định sẽ hoàn thành thắng lợi vương mệnh.
              Hạp Lư thấy Ngũ Viên ra sức tiến cử bèn mời Yếu Li đến hậu cung bàn chuyện. Yếu Li hỏi:
              - Đại vương trong lòng lo âu, muốn sai phái tiểu nhân, có phải là vì Khánh Kị chăng? Thần có thể thích sát ông ta.
              Hạp Lư cười bảo rằng:
              - Khánh Kị là người tài giỏi, y thân cao sức lớn, chạy nhanh như ngựa phi, khoẻ mạnh như thần, vạn người khó đương lại, e ngươi chế phục hắn không nỗi.
              Yếu Li nói rằng:
              - Người giỏi giết người, là ở trí chứ không phải ở sức, thần chỉ cần tiếp cận Khánh Kị là có thể giết được ông ta.
              Hạp Lư hỏi:
              - Khánh Kị là người thông minh, sao có thể dễ dàng tiếp cận người khác.
              Yếu Li nói một cách tự tin:
              - Thần có cách để ông ta tiếp cận, không thể tin là thần không thể. Ông ta hiện đang chiêu nạp bọn vong mạng, thần trá làm tội thần, đầu bôn đến chỗ ông ta. Xin đại vương chém tay phải của thần, giết người nhà của thần, như vậy há lí nào Khánh Kị không tin?
              Hạp Lư chau mày nói rằng:
              - Ngươi vô tội, lẽ nào lại hạ độc thủ như thế?
              Yếu Li khảng khái hiên ngang nói rằng:
              - Ở yên với cái vui của vợ con, không hết sức thờ quốc quân, thì không thể nói là trung. Tham luyến gia thất, quên cái lo của quốc quân, không phải là điều mà dũng sĩ làm. Thần có thể toàn trung toàn nghĩa, cho dù có huỷ hoại toàn gia cũng cam lòng!
              Ngũ Viên bên cạnh nói thêm vào:
              - Yếu Li vì nước quên nhà, quả là kẻ sĩ trung liệt, nếu thành công nên ban thưởng cho công nghiệp của ông ta, treo biển ngợi khen thê tử ông ta, khiến danh dương hậu thế, đó là nghĩa cử nhất cử lưỡng tiện.
              Hạp Lư suy nghĩ một hồi mới bằng lòng.
              Ngày hôm sau, Ngũ Viên cùng Yếu Li vào triều, tiến cử Yếu Li làm Tướng quân, dẫn quân tấn công nước Sở. Hạp Lư nghe tấu, giận dữ trách Ngũ Viên:
              - Yếu Li thấp bé, giết gà còn không dám, cưỡi ngựa không có uy, làm sao có thể làm quan thống lĩnh quân binh được? Thật là hồ đồ, làm gì có lí đó.
              Yếu Li khải tấu:
              - Đại vương vong ơn đến cực điểm, Ngũ Viên vì đại vương an định giang sơn, đại vương lại không thay Ngũ Viên báo thù Sở Vương ...
              Hạp Lư cả giận vỗ án nói rằng:
              - Đó là quốc gia đại sự, không phải việc mà ngươi biết, sao trước mặt trách nhục quả nhân?
              Lập tức hạ lệnh chặt tay phải của Yếu Li, tống giam vào ngục, cho bắt vợ con ông ta. Ngũ Viên cất tiếng than rồi lui ra, quần thần không ai biết chuyện gì.
              Qua mấy ngày sau, Ngũ Viên ngầm bảo quan canh ngục nới lỏng việc giám sát Yếu Li, Yếu Li thừa cơ vượt ngục. Hạp Lư hạ lệnh chém đầu vợ con Yếu Li, bêu ở chợ để thị chúng.
              Yếu Li chạy ra khỏi biên giới nước Ngô, trên đường gặp người, kể nỗi oan của mình, và hỏi thăm biết được Khánh Kị đang ở nước Vệ, liền chạy đến nước Vệ cầu kiến. Khánh Kị nghi ngờ Yếu Li trá nguỵ, không chịu thu nhận, Yếu Li bèn cởi áo ra, Khánh Kị nhìn thấy Yếu Li bị chặt đứt tay phải lúc bấy giờ mới tin, bèn hỏi:
              - Hạp Lư đã chặt tay của ông, khiến ông trở nên tàn phế, ông đến gặp ta rốt cuộc là có ý gì?
              Yếu Li đáp rằng:
              - Tôi nghe Hạp Lư giết phụ thân công tử, đoạt lấy vương vị, hiện công tử liên kết chư hầu, muốn báo thù rửa hận, cho nên tôi đến, tuy không thể xung phong hãm trận, nhưng có thể chỉ đường. Đối với hình thế núi sông nước Ngô, tôi tương đối quen thuộc, chỉ cần công tử báo được thù, tôi rửa được hận giết vợ con thì cũng mãn nguyện rồi.
              Khánh Kị hãy còn chưa tin lắm, vừa lúc có tên tâm phúc đến báo cáo, nói rằng vợ con Yếu Li đã bị Hạp Lư chém đầu thị chúng.
              Yếu Li nghe qua liền khóc lớn, nghiến răng trợn mắt mắng Hạp Lư. Như vậy, Khánh Kị mới tin không còn nghi ngờ.
              Khánh Kị hỏi:
              - Trước mắt Hạp Lư có Ngũ Viên và Bá Bĩ 伯嚭 làm mưu sĩ, luyện binh tuyển tướng, trong nước đại trị. Ta thì binh ít lực ít, làm sao đối kháng với y để trút cái giận trong lòng?
              Yếu Li đáp rằng:
              - Bá Bĩ là kẻ vô mưu, không có đầu óc, không đáng để lo; chỉ có Ngũ Viên mới gọi là trí dũng có đủ, nhưng nay với Hạp Lư bề ngoài thì hợp nhưng bên trong thì xa cách.
              - Thế thì làm thế nào?
              Yếu Li nói rằng:
              - Công tử chỉ biết một mà không biết hai. Ngũ Viên sở dĩ tận lực giúp Hạp Lư, mục đích ở chỗ mượn binh phạt Sở, báo thù cho cha và anh, nhưng hiện Sở Bình Vương đã chết, thù nhà cũng quên, Hạp Lư ở yên với vương vị, hàng ngày chỉ biết đến tửu sắc, không nghĩ đến việc thay Ngũ Viên báo thù. Lấy sự việc trước mắt mà nói, Ngũ Viên tiến cử tôi phạt Sở, Hạp Lư chỉ trích tôi tại chỗ, còn giết gà doạ khỉ gia tội cho tôi, cho nên Ngũ Viên oán hận Hạp Lư đã là hình thế bức bách. Nói thực, tôi lần này vượt ngục trốn chạy cũng là nhờ Ngũ Viên mua chuộc quan coi ngục, ông ta từng dặn tôi: ‘Ông lần này trước tiên đi gặp công tử, quan sát xem động tĩnh thế nào, nếu chịu vì Ngũ Viên ta báo thù, ta nguyện sẽ làm nội ứng, để chuộc tội trước đây đã giết quốc quân.’ Công tử không nhân lúc này phát binh nhập Ngô thì còn đợi lúc nào nữa? Sợ là không còn có ngày báo thù nữa.
              Yếu Li nói xong khóc lớn, dập mạnh đầu xuống đất.
              Khánh Kị vội khuyên:
              - Được, được. Ta nghe theo lời ông, nhất định trong một thời gian ngắn nhất sẽ khởi nghĩa.
              Khánh Kị đưa Yếu Li về căn cứ địa Ngải Thành 艾城, xem là tâm phúc, giao phụ trách việc huấn luyện quân sĩ, tu sửa thuyền binh.
              Qua 3 tháng, dưới sự xúi giục của Yếu Li, Khánh Kị đại cử nghĩa kì, xuất binh làm 2 lộ, thuỷ lục cùng tiến, rầm rầm rộ rộ tiến đến nước Ngô.
              Khánh Kị và Yếu Li cùng ngồi một thuyền, đến giữa giòng, thuyền phía sau bỗng theo không kịp. Yếu Li nói với Khánh Kị:
              - Công tử có thể ngồi yên tại thuyền, thuyền công nhìn thấy sẽ không dám không ra sức.
              Khánh Kị ngồi ở đầu thuyền, Yếu Li cầm kích đứng hầu. Bỗng nhiên trên núi nổi trận gió lạ, Yếu Li chuyển người, thình lình đâm vào ngực Khánh Kị một kích, xuyên thấu ra phía sau. Khánh Kị thân thể khôi ngô, hai tay nhấc Yếu Li dìm xuống nước 3 lần, sau đó đặt Yếu Li trên đầu gối, gượng cười nói rằng:
              - Ngươi có thể nói là dũng sĩ, ngay cả ta mà cũng dám hành thích!
              Tả hữu đều muốn đâm chết Yếu Li, Khánh Kị bảo rằng:
              - Đó là kẻ sĩ có tài, thả cho y đi đi.
              Nói xong, do vì máu chảy quá nhiều, Khánh Kị ngã lăn ra đất chết.
              Yếu Li thấy nhiệm vụ đã hoàn thành, cũng liền đoạt lấy kiếm tự sát. 

                                                              Huỳnh Chương Hưng
                                                              Quy Nhơn 15/11/2018

    Nguồn
    TRUNG HOA THƯỢNG HẠ NGŨ THIÊN NIÊN
    中华上下五千年
    Chủ biên: Lí Tinh 李晶
    Nam Kinh đại học xuất bản xã, 2007

    Dịch thuật: Cái chết của Khánh Kị

    Đăng lúc  21:10  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    CÁI CHẾT CỦA KHÁNH KỊ

              Cơ Quang 姬光giết quốc quân, lợi dụng Chuyên Chư 专诸thích sát Vương Liêu 王僚, tự lập làm Ngô Vương Hạp Lư 吴王阖闾.
              Con của Ngô Vương Liêu là Khánh Kị 庆忌, chạy ra bên ngoài, chiêu nạp hiền sĩ, liên hiệp với lân quốc đợi thời cơ phạt Ngô báo thù.
              Hạp Lư vốn biết Khánh Kị mạnh khoẻ nhanh nhẹn, dũng mãnh phi thường, vạn người cũng khó địch lại, nay nghe tin này nên rất lo sợ, muốn sai người đi hành thích, nhưng nhất thời tìm chưa được người thích hợp.
              Ngày nọ, Ngũ Viên 伍员mời đến một dũng sĩ, tên là Yếu Li 要离.
              Hạp Lư và nhìn thấy Yếu li thân cao chưa đến 5 xích, lưng to tướng xấu nên thất vọng, không vui, hỏi:
              - Ngươi là dũng sĩ Yếu Li mà Ngũ đại phu giới thiệu chăng?
              Yếu Li đáp rằng:
              - Thần nhỏ bé không có sức, gặp gió phải rạp, ngược gió phải đổ, đâu có phải dũng sĩ gì. Nhưng nếu đại vương sai khiến, thần nhất định sẽ làm hết khả năng.
              Hạp Lư nghe qua càng không vui. Ngũ Viên biết ý bèn nói:
              - Ngựa tốt không phải ở chỗ phải cao to, chỉ cần có thể thồ được nặng chạy được xa thì là ngựa tốt. Yếu Li tướng mạo tuy xấu, nhưng vô cùng cơ trí mẫn tiệp, nhất định sẽ hoàn thành thắng lợi vương mệnh.
              Hạp Lư thấy Ngũ Viên ra sức tiến cử bèn mời Yếu Li đến hậu cung bàn chuyện. Yếu Li hỏi:
              - Đại vương trong lòng lo âu, muốn sai phái tiểu nhân, có phải là vì Khánh Kị chăng? Thần có thể thích sát ông ta.
              Hạp Lư cười bảo rằng:
              - Khánh Kị là người tài giỏi, y thân cao sức lớn, chạy nhanh như ngựa phi, khoẻ mạnh như thần, vạn người khó đương lại, e ngươi chế phục hắn không nỗi.
              Yếu Li nói rằng:
              - Người giỏi giết người, là ở trí chứ không phải ở sức, thần chỉ cần tiếp cận Khánh Kị là có thể giết được ông ta.
              Hạp Lư hỏi:
              - Khánh Kị là người thông minh, sao có thể dễ dàng tiếp cận người khác.
              Yếu Li nói một cách tự tin:
              - Thần có cách để ông ta tiếp cận, không thể tin là thần không thể. Ông ta hiện đang chiêu nạp bọn vong mạng, thần trá làm tội thần, đầu bôn đến chỗ ông ta. Xin đại vương chém tay phải của thần, giết người nhà của thần, như vậy há lí nào Khánh Kị không tin?
              Hạp Lư chau mày nói rằng:
              - Ngươi vô tội, lẽ nào lại hạ độc thủ như thế?
              Yếu Li khảng khái hiên ngang nói rằng:
              - Ở yên với cái vui của vợ con, không hết sức thờ quốc quân, thì không thể nói là trung. Tham luyến gia thất, quên cái lo của quốc quân, không phải là điều mà dũng sĩ làm. Thần có thể toàn trung toàn nghĩa, cho dù có huỷ hoại toàn gia cũng cam lòng!
              Ngũ Viên bên cạnh nói thêm vào:
              - Yếu Li vì nước quên nhà, quả là kẻ sĩ trung liệt, nếu thành công nên ban thưởng cho công nghiệp của ông ta, treo biển ngợi khen thê tử ông ta, khiến danh dương hậu thế, đó là nghĩa cử nhất cử lưỡng tiện.
              Hạp Lư suy nghĩ một hồi mới bằng lòng.
              Ngày hôm sau, Ngũ Viên cùng Yếu Li vào triều, tiến cử Yếu Li làm Tướng quân, dẫn quân tấn công nước Sở. Hạp Lư nghe tấu, giận dữ trách Ngũ Viên:
              - Yếu Li thấp bé, giết gà còn không dám, cưỡi ngựa không có uy, làm sao có thể làm quan thống lĩnh quân binh được? Thật là hồ đồ, làm gì có lí đó.
              Yếu Li khải tấu:
              - Đại vương vong ơn đến cực điểm, Ngũ Viên vì đại vương an định giang sơn, đại vương lại không thay Ngũ Viên báo thù Sở Vương ...
              Hạp Lư cả giận vỗ án nói rằng:
              - Đó là quốc gia đại sự, không phải việc mà ngươi biết, sao trước mặt trách nhục quả nhân?
              Lập tức hạ lệnh chặt tay phải của Yếu Li, tống giam vào ngục, cho bắt vợ con ông ta. Ngũ Viên cất tiếng than rồi lui ra, quần thần không ai biết chuyện gì.
              Qua mấy ngày sau, Ngũ Viên ngầm bảo quan canh ngục nới lỏng việc giám sát Yếu Li, Yếu Li thừa cơ vượt ngục. Hạp Lư hạ lệnh chém đầu vợ con Yếu Li, bêu ở chợ để thị chúng.
              Yếu Li chạy ra khỏi biên giới nước Ngô, trên đường gặp người, kể nỗi oan của mình, và hỏi thăm biết được Khánh Kị đang ở nước Vệ, liền chạy đến nước Vệ cầu kiến. Khánh Kị nghi ngờ Yếu Li trá nguỵ, không chịu thu nhận, Yếu Li bèn cởi áo ra, Khánh Kị nhìn thấy Yếu Li bị chặt đứt tay phải lúc bấy giờ mới tin, bèn hỏi:
              - Hạp Lư đã chặt tay của ông, khiến ông trở nên tàn phế, ông đến gặp ta rốt cuộc là có ý gì?
              Yếu Li đáp rằng:
              - Tôi nghe Hạp Lư giết phụ thân công tử, đoạt lấy vương vị, hiện công tử liên kết chư hầu, muốn báo thù rửa hận, cho nên tôi đến, tuy không thể xung phong hãm trận, nhưng có thể chỉ đường. Đối với hình thế núi sông nước Ngô, tôi tương đối quen thuộc, chỉ cần công tử báo được thù, tôi rửa được hận giết vợ con thì cũng mãn nguyện rồi.
              Khánh Kị hãy còn chưa tin lắm, vừa lúc có tên tâm phúc đến báo cáo, nói rằng vợ con Yếu Li đã bị Hạp Lư chém đầu thị chúng.
              Yếu Li nghe qua liền khóc lớn, nghiến răng trợn mắt mắng Hạp Lư. Như vậy, Khánh Kị mới tin không còn nghi ngờ.
              Khánh Kị hỏi:
              - Trước mắt Hạp Lư có Ngũ Viên và Bá Bĩ 伯嚭 làm mưu sĩ, luyện binh tuyển tướng, trong nước đại trị. Ta thì binh ít lực ít, làm sao đối kháng với y để trút cái giận trong lòng?
              Yếu Li đáp rằng:
              - Bá Bĩ là kẻ vô mưu, không có đầu óc, không đáng để lo; chỉ có Ngũ Viên mới gọi là trí dũng có đủ, nhưng nay với Hạp Lư bề ngoài thì hợp nhưng bên trong thì xa cách.
              - Thế thì làm thế nào?
              Yếu Li nói rằng:
              - Công tử chỉ biết một mà không biết hai. Ngũ Viên sở dĩ tận lực giúp Hạp Lư, mục đích ở chỗ mượn binh phạt Sở, báo thù cho cha và anh, nhưng hiện Sở Bình Vương đã chết, thù nhà cũng quên, Hạp Lư ở yên với vương vị, hàng ngày chỉ biết đến tửu sắc, không nghĩ đến việc thay Ngũ Viên báo thù. Lấy sự việc trước mắt mà nói, Ngũ Viên tiến cử tôi phạt Sở, Hạp Lư chỉ trích tôi tại chỗ, còn giết gà doạ khỉ gia tội cho tôi, cho nên Ngũ Viên oán hận Hạp Lư đã là hình thế bức bách. Nói thực, tôi lần này vượt ngục trốn chạy cũng là nhờ Ngũ Viên mua chuộc quan coi ngục, ông ta từng dặn tôi: ‘Ông lần này trước tiên đi gặp công tử, quan sát xem động tĩnh thế nào, nếu chịu vì Ngũ Viên ta báo thù, ta nguyện sẽ làm nội ứng, để chuộc tội trước đây đã giết quốc quân.’ Công tử không nhân lúc này phát binh nhập Ngô thì còn đợi lúc nào nữa? Sợ là không còn có ngày báo thù nữa.
              Yếu Li nói xong khóc lớn, dập mạnh đầu xuống đất.
              Khánh Kị vội khuyên:
              - Được, được. Ta nghe theo lời ông, nhất định trong một thời gian ngắn nhất sẽ khởi nghĩa.
              Khánh Kị đưa Yếu Li về căn cứ địa Ngải Thành 艾城, xem là tâm phúc, giao phụ trách việc huấn luyện quân sĩ, tu sửa thuyền binh.
              Qua 3 tháng, dưới sự xúi giục của Yếu Li, Khánh Kị đại cử nghĩa kì, xuất binh làm 2 lộ, thuỷ lục cùng tiến, rầm rầm rộ rộ tiến đến nước Ngô.
              Khánh Kị và Yếu Li cùng ngồi một thuyền, đến giữa giòng, thuyền phía sau bỗng theo không kịp. Yếu Li nói với Khánh Kị:
              - Công tử có thể ngồi yên tại thuyền, thuyền công nhìn thấy sẽ không dám không ra sức.
              Khánh Kị ngồi ở đầu thuyền, Yếu Li cầm kích đứng hầu. Bỗng nhiên trên núi nổi trận gió lạ, Yếu Li chuyển người, thình lình đâm vào ngực Khánh Kị một kích, xuyên thấu ra phía sau. Khánh Kị thân thể khôi ngô, hai tay nhấc Yếu Li dìm xuống nước 3 lần, sau đó đặt Yếu Li trên đầu gối, gượng cười nói rằng:
              - Ngươi có thể nói là dũng sĩ, ngay cả ta mà cũng dám hành thích!
              Tả hữu đều muốn đâm chết Yếu Li, Khánh Kị bảo rằng:
              - Đó là kẻ sĩ có tài, thả cho y đi đi.
              Nói xong, do vì máu chảy quá nhiều, Khánh Kị ngã lăn ra đất chết.
              Yếu Li thấy nhiệm vụ đã hoàn thành, cũng liền đoạt lấy kiếm tự sát. 

                                                              Huỳnh Chương Hưng
                                                              Quy Nhơn 15/11/2018

    Nguồn
    TRUNG HOA THƯỢNG HẠ NGŨ THIÊN NIÊN
    中华上下五千年
    Chủ biên: Lí Tinh 李晶
    Nam Kinh đại học xuất bản xã, 2007

    Thứ Tư, 14 tháng 11, 2018

    LIÊU THÁNH TÔNG DA LUẬT LONG TỰ

              Long Tự 隆绪là tên Hán, tên Khất Đan là Văn Thù Nô 文殊奴.
              Da Luật Long Tự 耶律隆绪là con trưởng của Liêu Cảnh Tông Da Luật Hiền 辽景宗耶律贤, mẫu thân là Duệ Tri hoàng hậu Tiêu thị 睿知皇后萧氏.
              Long Tự thiên tư thông minh dĩnh ngộ, lúc nhỏ rất thích đọc sách, lên 10 tuổi có thể làm thơ. Sau khi trưởng thành, Long Tự giỏi về kị xạ, thông hiểu âm luật, ham thích thư hoạ.
              Năm Càn Hanh 乾亨 thứ 2, năm công nguyên 980, Long Tự được phong làm Lương Vương 梁王.
              Tháng 9 năm Càn Hanh thứ 4, Cảnh Đế 景帝qua đời, Long Tự tức đế vị, tại vị từ năm 982 đến năm 1031.
              Khi Long Tự lên ngôi chỉ mới 11 tuổi, triều chính do Thái hậu chủ trì. Thừa Thiên thái hậu 承天太后sủng dụng bề tôi người Hán là Hàn Đức Nhượng 韩德让, nắm giữ quân chính.
              Năm Thống Hoà 统和thứ 27, năm 1009, Thừa Thiên thái hậu bệnh và qua đời, Long Tự chính thức thân chính. Kết minh, hoà thân với Tây Hạ 西夏. Đông chinh Cao Li 高丽, bức Cao Li thần phục. Phía tây đánh bại Thát Đát 鞑靼, bức Cam Châu 甘州, Tây Châu Hồi Cốt 西州回鹘tiến cống. Năm Thống Hoà thứ 4, đánh Tống ở phía nam, quân Tống đại bại tại Kì Câu Quan 歧沟关. Đầu tháng 12 năm Thống Hoà thứ 22, đính lập minh ước Thiền Uyên 澶渊 với Tống Chân Tông.
    Thánh Tông chú ý đối xử hoà mục với các nước chung quanh. Thời gian tại vị, ông tu đính pháp luật, phóng thích nô tì, giảm nhẹ thuế khoá, chỉnh đốn lại trị. Năm Thống Hoà thứ 6, Thánh Tông ban chiếu lệnh mở khoa thi lấy người tài. Thánh Tông lại thiết trí 24 bộ, chiêu tập thợ giỏi người Hán ở Yên Kế 燕蓟 xây dựng Trung kinh thành 中京城 (nay là Ninh Thành 宁城 Nội Mông Cổ). Thời gian Thánh Tông tại vị, quốc gia cường thịnh, kinh tế phồn vinh, đó là thời kì toàn tịnh của Đại Liêu, nhân đó Thánh Tông được xưng là Thịnh chúa.

                                                                   Huỳnh Chương Hưng
                                                                Quy Nhơn 14/11/2018

    Nguồn
    HOÀNG TRIỀU ĐIỂN CỐ KỈ VĂN
    皇朝典故纪闻
    Tác giả: Hướng Tư 向斯
    Bắc Kinh: Trung Quốc văn sử xuất bản xã, 2002

    Dịch thuật: Liêu Thánh Tông Da Luật Long tự

    Đăng lúc  21:53  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    LIÊU THÁNH TÔNG DA LUẬT LONG TỰ

              Long Tự 隆绪là tên Hán, tên Khất Đan là Văn Thù Nô 文殊奴.
              Da Luật Long Tự 耶律隆绪là con trưởng của Liêu Cảnh Tông Da Luật Hiền 辽景宗耶律贤, mẫu thân là Duệ Tri hoàng hậu Tiêu thị 睿知皇后萧氏.
              Long Tự thiên tư thông minh dĩnh ngộ, lúc nhỏ rất thích đọc sách, lên 10 tuổi có thể làm thơ. Sau khi trưởng thành, Long Tự giỏi về kị xạ, thông hiểu âm luật, ham thích thư hoạ.
              Năm Càn Hanh 乾亨 thứ 2, năm công nguyên 980, Long Tự được phong làm Lương Vương 梁王.
              Tháng 9 năm Càn Hanh thứ 4, Cảnh Đế 景帝qua đời, Long Tự tức đế vị, tại vị từ năm 982 đến năm 1031.
              Khi Long Tự lên ngôi chỉ mới 11 tuổi, triều chính do Thái hậu chủ trì. Thừa Thiên thái hậu 承天太后sủng dụng bề tôi người Hán là Hàn Đức Nhượng 韩德让, nắm giữ quân chính.
              Năm Thống Hoà 统和thứ 27, năm 1009, Thừa Thiên thái hậu bệnh và qua đời, Long Tự chính thức thân chính. Kết minh, hoà thân với Tây Hạ 西夏. Đông chinh Cao Li 高丽, bức Cao Li thần phục. Phía tây đánh bại Thát Đát 鞑靼, bức Cam Châu 甘州, Tây Châu Hồi Cốt 西州回鹘tiến cống. Năm Thống Hoà thứ 4, đánh Tống ở phía nam, quân Tống đại bại tại Kì Câu Quan 歧沟关. Đầu tháng 12 năm Thống Hoà thứ 22, đính lập minh ước Thiền Uyên 澶渊 với Tống Chân Tông.
    Thánh Tông chú ý đối xử hoà mục với các nước chung quanh. Thời gian tại vị, ông tu đính pháp luật, phóng thích nô tì, giảm nhẹ thuế khoá, chỉnh đốn lại trị. Năm Thống Hoà thứ 6, Thánh Tông ban chiếu lệnh mở khoa thi lấy người tài. Thánh Tông lại thiết trí 24 bộ, chiêu tập thợ giỏi người Hán ở Yên Kế 燕蓟 xây dựng Trung kinh thành 中京城 (nay là Ninh Thành 宁城 Nội Mông Cổ). Thời gian Thánh Tông tại vị, quốc gia cường thịnh, kinh tế phồn vinh, đó là thời kì toàn tịnh của Đại Liêu, nhân đó Thánh Tông được xưng là Thịnh chúa.

                                                                   Huỳnh Chương Hưng
                                                                Quy Nhơn 14/11/2018

    Nguồn
    HOÀNG TRIỀU ĐIỂN CỐ KỈ VĂN
    皇朝典故纪闻
    Tác giả: Hướng Tư 向斯
    Bắc Kinh: Trung Quốc văn sử xuất bản xã, 2002

    Thứ Ba, 13 tháng 11, 2018

    QUAN CHẾ ĐỊA PHƯƠNG
    (tiếp theo)

              Thời Đường, sự giám sát của trung ương đối với địa phương bắt đầu là phái quan xuất tuần các châu, gọi là Truất trắc sứ 黜陟使 (có quyền bãi miễn hoặc cất nhắc quan lại địa phương). Về sau cả nước chia làm một số đạo, mỗi đạo phái quan kinh thành 1 người tuần sát châu huyện sở thuộc, trước sau gọi là Tuần sát sứ 巡察使, Án sát sứ 按察使, Thái phỏng xử trí sứ 采访处置使, Quan sát sứ 观察使. Thời Đường, tụ họp một số châu nơi biên giới làm một trấn, đặt  các sứ  như Tiết độ sứ 节度使, kiêm các sứ như Đạc chi 度支, Doanh điền 营田, Quan sát 观察, nắm giữ cả quân chính, dân chính, tài chính và đại quyền giám sát. Quan sát sứ, Tiết độ sứ có thuộc quan như Phán quan 判官, Chưởng thư kí 掌书记, Thôi quan 推官. Lúc đầu Tiết độ sứ được thiết trí tại những trọng trấn biên phòng, về sau cũng thiết trí phổ biến ở nội địa, hình thành cục diện phiên trấn cát cứ. Thời Tống phế bỏ chế độ phiên trấn, Tiết độ sứ chỉ là hư hàm ưu sủng tướng soái đại thần và hoàng thân quốc thích có công của tông thất. Ngoài ra còn chia cả nước ra làm một số lộ, các lộ thiết trí quan Chuyển vận sứ 转运使, nắm giữ tài phú của một lộ.
              Thời Tống, đơn vị hành chính trên huyện là châu, chính quyền của châu do trung ương phái người đến quản lí, xưng là “Tri mỗ châu quân châu sự” 知某州军州事 (“quân” chỉ quân đội địa phương, “châu” chỉ dân chính), gọi tắt là Tri châu 知州. Châu có Thông phán 通判, hiệu xưng là Giám châu quan 监州官, không giống như phó chức của đời sau. Thuộc quan của châu có Phán quan 判官quản hành chính, Thôi quan 推官quản tư pháp. Ngang với châu còn có phủ , quân , giám , thiết trí quan lại đại để tương đồng với châu.
              Thời Tống không có Thái thú, Thứ sử cũng chỉ là hư hàm. Âu Dương Tu 欧阳修 khi là Tri châu Trừ Châu 滁州 viết Tuý Ông đình kí 醉翁亭记có nhắc đến Thái thú, viết Phong Nhạc đình kí 丰乐亭记 có nhắc đến Thứ sử, đều là theo cách gọi cũ của đời trước.
              Thời Nguyên, cơ cấu hành chính địa phương cao nhất là Trung thư sảnh 中书省, thể chế như trung ương, cũng có Thừa tướng, Tham tri chính sự. Đầu đời Minh theo chế độ thời Nguyên, sau đổi gọi là Thừa tuyên Bố chính sứ ti承宣布政使司, gọi tắt là Bố chính ti 布政司, nhưng vẫn quen gọi là “sảnh” , trưởng quan là Tả Hữu Bố chính sứ 左右布政使, nắm giữ hành chính của một tỉnh. Thời Minh, lúc có chiến sự, phái triều thần xuất tuần địa phương, xử lí quân vụ, xưng là Tuần phủ 巡抚. Khi gặp vấn đề quân sự liên quan đến nhiều tỉnh, Tuần phủ không thể giải quyết, thì phái Tổng đốc 总督xử lí. Tổng đốc, Tuần phủ đều là sai sứ lâm thời, không xem là quan địa phương chính thức. Thời Thanh Tổng Đốc, Tuần Vũ mới trở thành “phong cương đại lại” 封疆大吏chính thức, Tuần phủ là vị trưởng quan tối cao cấp tỉnh, Tổng đốc thì nắm giữ việc quân sự dân sự trọng yếu của một tỉnh hoặc hai ba tỉnh. Như vậy, Bố chính sứ chỉ quản tài chính và nhân sự, trở thành hạ thuộc của Tuần phủ.
              Thời Minh Thanh, một tỉnh phân ra một số đạo, dưới đạo có phủ có châu. Trưởng quan của phủ châu gọi là Tri phủ 知府, Tri châu 知州. Cấp phó trợ giúp, ở phủ có Đồng tri 同知, Thông phán 通判, ở châu có Châu đồng 州同 (Đồng tri 同知), Châu phán 州判. Có 2 loại châu: châu trực thuộc gần giống như phủ và tán châu lệ thuộc phủ, tương đương với huyện. (hết)

                                                               Huỳnh Chương Hưng
                                                               Quy Nhơn 13/11/2018

    Nguồn
    TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI VĂN HOÁ THƯỜNG THỨC
    中国古代文化常识
    Chủ biên: Vương Lực 王力
    Bắc Kinh: Trung Quốc Nhân dân Đại học xuất bản xã, 2012

    Dịch thuật: Quan chế địa phương (tiếp theo)

    Đăng lúc  20:10  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    QUAN CHẾ ĐỊA PHƯƠNG
    (tiếp theo)

              Thời Đường, sự giám sát của trung ương đối với địa phương bắt đầu là phái quan xuất tuần các châu, gọi là Truất trắc sứ 黜陟使 (có quyền bãi miễn hoặc cất nhắc quan lại địa phương). Về sau cả nước chia làm một số đạo, mỗi đạo phái quan kinh thành 1 người tuần sát châu huyện sở thuộc, trước sau gọi là Tuần sát sứ 巡察使, Án sát sứ 按察使, Thái phỏng xử trí sứ 采访处置使, Quan sát sứ 观察使. Thời Đường, tụ họp một số châu nơi biên giới làm một trấn, đặt  các sứ  như Tiết độ sứ 节度使, kiêm các sứ như Đạc chi 度支, Doanh điền 营田, Quan sát 观察, nắm giữ cả quân chính, dân chính, tài chính và đại quyền giám sát. Quan sát sứ, Tiết độ sứ có thuộc quan như Phán quan 判官, Chưởng thư kí 掌书记, Thôi quan 推官. Lúc đầu Tiết độ sứ được thiết trí tại những trọng trấn biên phòng, về sau cũng thiết trí phổ biến ở nội địa, hình thành cục diện phiên trấn cát cứ. Thời Tống phế bỏ chế độ phiên trấn, Tiết độ sứ chỉ là hư hàm ưu sủng tướng soái đại thần và hoàng thân quốc thích có công của tông thất. Ngoài ra còn chia cả nước ra làm một số lộ, các lộ thiết trí quan Chuyển vận sứ 转运使, nắm giữ tài phú của một lộ.
              Thời Tống, đơn vị hành chính trên huyện là châu, chính quyền của châu do trung ương phái người đến quản lí, xưng là “Tri mỗ châu quân châu sự” 知某州军州事 (“quân” chỉ quân đội địa phương, “châu” chỉ dân chính), gọi tắt là Tri châu 知州. Châu có Thông phán 通判, hiệu xưng là Giám châu quan 监州官, không giống như phó chức của đời sau. Thuộc quan của châu có Phán quan 判官quản hành chính, Thôi quan 推官quản tư pháp. Ngang với châu còn có phủ , quân , giám , thiết trí quan lại đại để tương đồng với châu.
              Thời Tống không có Thái thú, Thứ sử cũng chỉ là hư hàm. Âu Dương Tu 欧阳修 khi là Tri châu Trừ Châu 滁州 viết Tuý Ông đình kí 醉翁亭记có nhắc đến Thái thú, viết Phong Nhạc đình kí 丰乐亭记 có nhắc đến Thứ sử, đều là theo cách gọi cũ của đời trước.
              Thời Nguyên, cơ cấu hành chính địa phương cao nhất là Trung thư sảnh 中书省, thể chế như trung ương, cũng có Thừa tướng, Tham tri chính sự. Đầu đời Minh theo chế độ thời Nguyên, sau đổi gọi là Thừa tuyên Bố chính sứ ti承宣布政使司, gọi tắt là Bố chính ti 布政司, nhưng vẫn quen gọi là “sảnh” , trưởng quan là Tả Hữu Bố chính sứ 左右布政使, nắm giữ hành chính của một tỉnh. Thời Minh, lúc có chiến sự, phái triều thần xuất tuần địa phương, xử lí quân vụ, xưng là Tuần phủ 巡抚. Khi gặp vấn đề quân sự liên quan đến nhiều tỉnh, Tuần phủ không thể giải quyết, thì phái Tổng đốc 总督xử lí. Tổng đốc, Tuần phủ đều là sai sứ lâm thời, không xem là quan địa phương chính thức. Thời Thanh Tổng Đốc, Tuần Vũ mới trở thành “phong cương đại lại” 封疆大吏chính thức, Tuần phủ là vị trưởng quan tối cao cấp tỉnh, Tổng đốc thì nắm giữ việc quân sự dân sự trọng yếu của một tỉnh hoặc hai ba tỉnh. Như vậy, Bố chính sứ chỉ quản tài chính và nhân sự, trở thành hạ thuộc của Tuần phủ.
              Thời Minh Thanh, một tỉnh phân ra một số đạo, dưới đạo có phủ có châu. Trưởng quan của phủ châu gọi là Tri phủ 知府, Tri châu 知州. Cấp phó trợ giúp, ở phủ có Đồng tri 同知, Thông phán 通判, ở châu có Châu đồng 州同 (Đồng tri 同知), Châu phán 州判. Có 2 loại châu: châu trực thuộc gần giống như phủ và tán châu lệ thuộc phủ, tương đương với huyện. (hết)

                                                               Huỳnh Chương Hưng
                                                               Quy Nhơn 13/11/2018

    Nguồn
    TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI VĂN HOÁ THƯỜNG THỨC
    中国古代文化常识
    Chủ biên: Vương Lực 王力
    Bắc Kinh: Trung Quốc Nhân dân Đại học xuất bản xã, 2012

    Thứ Hai, 12 tháng 11, 2018

    QUAN CHẾ ĐỊA PHƯƠNG

              Đơn vị hành chính thời Xuân Thu có ấp huyện. Vị trưởng quan của ấp huyện, Lỗ và Vệ gọi là Tể , Tấn gọi là Đại phu 大夫, Sở gọi là Lệnh doãn 令尹. Thời Chiến Quốc có quận có huyện. Trưởng quan của quận là Thú , chủ yếu nắm giữ quân sự; trưởng quan của huyện là Lệnh , chủ yếu nắm giữ dân chính. Về sau quận lĩnh cả huyện, hình thành đơn vị hành chính địa phương quận huyện 2 hai cấp.
             Thời Tần Hán, huyện có vạn hộ trở lên, vị trưởng quan gọi là Lệnh ; huyện chưa đến vạn hộ, trưởng quan gọi là Trưởng . Huyện thừa 县丞giúp việc hành chính của huyện, Huyện uý 县尉lo việc trị an. Thời Tuỳ Đường, vị trưởng quan của huyện gọi chung là Lệnh. Thời Tống, phái quan viên trung ương đến nắm giữ việc hành chính của huyện gọi là “Tri X X huyện sự” X X县事, gọi tắt là Tri huyện 知县. Thời Minh Thanh vẫn theo cách gọi Tri huyện, thời Nguyên thì gọi là Huyện doãn 县尹. Huyện của các đời có các tào duyện sử 曹掾史, mỗi bộ phận nắm giữ những chức trách khác nhau.
              Thời Tần Hán, đơn vị hành chính trên cấp huyện là quận. Vị trưởng quan hành chính của quận, thời Tần gọi là Quận thú 郡守, nắm giữ quân sự là Uý , coi việc giám sát là Giám ngự sử 监御史, gọi tắt là Giám . Quận thừa 郡丞là vị phó quan giúp Quận thú. Thời Hán, Quận thú đổi gọi là Thái thú 太守, về sau nhân kiêm lĩnh luôn quân sự, cho nên có danh xưng Quận tướng 郡将. Thuộc quan của quận ngoài các tào 曹曹 ra còn có đốc bưu 督邮, chủ bạ 主簿... Đốc bưu giám sát công tội thiện ác của lại quan huyện thuộc, đồng thời đốc trị cường hào gian ác ở địa phương. Chủ bạ chủ quản văn thư bạ tịch 文书簿籍 (1). Thời Hán, ngang với quận còn có “quốc”, đây là phong địa của con em hoàng đế, quan lại được thiết lập mô phỏng trung ương. Sau loạn 7 nước Ngô Sở đã tước giảm, do trung ương phái Tướng xuống để xử lí hành chính (2). Tướng và Thái thú tương đương, đều là chức quan nhị thiên thạch 二千石 (2000 thạch) (3), cho nên thời Hán thường dùng “nhị thiên thạch” 二千石 là từ xưng thay cho “quận quốc Thú Tướng” 郡国守相.
              Thời Hán Vũ Đế, cả nước chia làm mười mấy giám sát khu, gọi là châu hoặc bộ , mỗi châu đặt 1 Thứ sử 刺史 (sau hoặc gọi là Mục ) giám sát quận quốc sở thuộc. Châu tại kinh sư đặt Tư lệ hiệu uý 司隶校尉cũng gần như Thứ sử. Thứ sử có các thuộc quan như Biệt giá tùng sự sử 别驾从事史, Trị trung tùng sự sử 治中从事史. Biệt giá theo Thứ sử xuất tuần, Trị trung “chủ chúng tào văn thư” (4). Thời Đông Hán chiến tranh liên miên, Thứ sử hoặc Châu mục đều nắm giữ binh quyền. Thời Nguỵ Tấn Nam Bắc triều, Thứ sử đa phần mang xưng hiệu Tướng quân, đồng thời được phép thành lập quân phủ, tự thiết lập liêu thuộc, quyền thế rất lớn (5). Như vậy, Thứ sử có 2 nhóm thuộc quan, một nhóm là Biệt giá, Trị trung thuộc  hệ thống giám sát, một nhóm khác là Trưởng sử, Tư mã, Tham quân thuộc hệ thống quân sự.
              Thời Tuỳ Đường, đơn vị hành chính trên huyện là châu hoặc quận, xưng trưởng quan của châu là Thứ sử 刺史, xưng trưởng quan của quận là Thái thú 太守 (6). Trên thực tế, Thứ sử ngang như Thái thú. Người xưa gọi Thứ sử hoặc Thái thú là Sứ quân 使君, Liễu Tông Nguyên 柳宗元 đã viết cho Vĩnh Châu Thứ sử Vi Công 永州刺史韦公 bài Vĩnh Châu Vi Sứ quân tân đường kí 永州韦使君新堂记, cuối bài nói rằng “biên dĩ vi nhị thiên thạch khải pháp” 编以为二千石楷法, (biên chép vào sách, lấy làm chuẩn mực của Thứ sử) “nhị thiên thạch” ở đây dùng theo cách xưng hô quận quốc Thú Tướng thời Hán, kì thực là chỉ Thứ sử trưởng quan hành chính của châu lúc bấy giờ. Thứ sử đã trở thành trưởng quan hành chính, thế thì xưng hiệu hai nhóm thuộc quan của Thứ sử đời trước cũng được tham khảo để dùng làm quan hiệu trong hệ thống hành chính (7). Hiểu được điểm này mới rõ Tư mã châu quận thời Tuỳ Đường kì thực không nắm giữ việc võ.   
                                                                                            (còn tiếp)

    Chú của nguyên tác
    1- Đốc bưu 督邮chức quyền rất nặng, sau thời Đường bắt đầu phế bỏ. Thời cổ, quan thự nhìn chung đều đặt Chủ bạ 主簿. Sau thời Tống, Chủ bạ của huyện và Thừa uý 丞尉đồng là trợ lí của Huyện lệnh (Tri huyện).
    2- Thời Nguỵ Tấn Nam Bắc triều đổi gọi là Nội sử 内史.
    3- Chế độ thời Hán lấy bổng lộc nhiều ít làm tiêu chí đẳng cấp chức quan, nguyệt bổng của quan nhị thiên thạch là 120 hộc.
    4- Đỗ Hựu 杜佑 trong Thông điển 通典quyển 32, mục Chức quan 职官 14 nói rằng:
              Trị trung tùng sự sử nhất nhân, cư trung trị sự, chủ chúng tào văn thư, Hán chế dã.
              治中从事史一人, 居中治事, 主众曹文书, 汉制也.
              (Trị trung tùng sự sử một người, cư trung trị sự, chủ quản văn thư các tào, đó là chế độ thời Hán)
    5- Không gia thêm xưng hiệu Tướng quân thì gọi là Đơn xa Thứ sử 单车刺史, đa phần do “thứ tính” 庶姓 (những người khác họ với thiên tử hoặc chư hầu) đảm nhậm. Và, thời Tấn, quận thú cũng đa phần gia thêm xưng hiệu Tướng quân.
    6- Châu ở thủ đô hoặc bồi đô xưng là phủ, quan có Doãn , Thiếu doãn 少尹.
    7- Cựu Đường thư – Cao Tông kỉ 旧唐书 - 高宗纪 chép tháng 7 năm Trinh Quan 贞观thứ 23 (năm 649) đổi Trị trung 治中của các châu thành Tư mã 司马, đổi Biệt giá 别驾 thành Trưởng sử 长史.

                                                               Huỳnh Chương Hưng
                                                               Quy Nhơn 12/11/2018

    Nguồn
    TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI VĂN HOÁ THƯỜNG THỨC
    中国古代文化常识
    Chủ biên: Vương Lực 王力
    Bắc Kinh: Trung Quốc Nhân dân Đại học xuất bản xã, 2012

    Dịch thuật: Quan chế địa phương

    Đăng lúc  21:48  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    QUAN CHẾ ĐỊA PHƯƠNG

              Đơn vị hành chính thời Xuân Thu có ấp huyện. Vị trưởng quan của ấp huyện, Lỗ và Vệ gọi là Tể , Tấn gọi là Đại phu 大夫, Sở gọi là Lệnh doãn 令尹. Thời Chiến Quốc có quận có huyện. Trưởng quan của quận là Thú , chủ yếu nắm giữ quân sự; trưởng quan của huyện là Lệnh , chủ yếu nắm giữ dân chính. Về sau quận lĩnh cả huyện, hình thành đơn vị hành chính địa phương quận huyện 2 hai cấp.
             Thời Tần Hán, huyện có vạn hộ trở lên, vị trưởng quan gọi là Lệnh ; huyện chưa đến vạn hộ, trưởng quan gọi là Trưởng . Huyện thừa 县丞giúp việc hành chính của huyện, Huyện uý 县尉lo việc trị an. Thời Tuỳ Đường, vị trưởng quan của huyện gọi chung là Lệnh. Thời Tống, phái quan viên trung ương đến nắm giữ việc hành chính của huyện gọi là “Tri X X huyện sự” X X县事, gọi tắt là Tri huyện 知县. Thời Minh Thanh vẫn theo cách gọi Tri huyện, thời Nguyên thì gọi là Huyện doãn 县尹. Huyện của các đời có các tào duyện sử 曹掾史, mỗi bộ phận nắm giữ những chức trách khác nhau.
              Thời Tần Hán, đơn vị hành chính trên cấp huyện là quận. Vị trưởng quan hành chính của quận, thời Tần gọi là Quận thú 郡守, nắm giữ quân sự là Uý , coi việc giám sát là Giám ngự sử 监御史, gọi tắt là Giám . Quận thừa 郡丞là vị phó quan giúp Quận thú. Thời Hán, Quận thú đổi gọi là Thái thú 太守, về sau nhân kiêm lĩnh luôn quân sự, cho nên có danh xưng Quận tướng 郡将. Thuộc quan của quận ngoài các tào 曹曹 ra còn có đốc bưu 督邮, chủ bạ 主簿... Đốc bưu giám sát công tội thiện ác của lại quan huyện thuộc, đồng thời đốc trị cường hào gian ác ở địa phương. Chủ bạ chủ quản văn thư bạ tịch 文书簿籍 (1). Thời Hán, ngang với quận còn có “quốc”, đây là phong địa của con em hoàng đế, quan lại được thiết lập mô phỏng trung ương. Sau loạn 7 nước Ngô Sở đã tước giảm, do trung ương phái Tướng xuống để xử lí hành chính (2). Tướng và Thái thú tương đương, đều là chức quan nhị thiên thạch 二千石 (2000 thạch) (3), cho nên thời Hán thường dùng “nhị thiên thạch” 二千石 là từ xưng thay cho “quận quốc Thú Tướng” 郡国守相.
              Thời Hán Vũ Đế, cả nước chia làm mười mấy giám sát khu, gọi là châu hoặc bộ , mỗi châu đặt 1 Thứ sử 刺史 (sau hoặc gọi là Mục ) giám sát quận quốc sở thuộc. Châu tại kinh sư đặt Tư lệ hiệu uý 司隶校尉cũng gần như Thứ sử. Thứ sử có các thuộc quan như Biệt giá tùng sự sử 别驾从事史, Trị trung tùng sự sử 治中从事史. Biệt giá theo Thứ sử xuất tuần, Trị trung “chủ chúng tào văn thư” (4). Thời Đông Hán chiến tranh liên miên, Thứ sử hoặc Châu mục đều nắm giữ binh quyền. Thời Nguỵ Tấn Nam Bắc triều, Thứ sử đa phần mang xưng hiệu Tướng quân, đồng thời được phép thành lập quân phủ, tự thiết lập liêu thuộc, quyền thế rất lớn (5). Như vậy, Thứ sử có 2 nhóm thuộc quan, một nhóm là Biệt giá, Trị trung thuộc  hệ thống giám sát, một nhóm khác là Trưởng sử, Tư mã, Tham quân thuộc hệ thống quân sự.
              Thời Tuỳ Đường, đơn vị hành chính trên huyện là châu hoặc quận, xưng trưởng quan của châu là Thứ sử 刺史, xưng trưởng quan của quận là Thái thú 太守 (6). Trên thực tế, Thứ sử ngang như Thái thú. Người xưa gọi Thứ sử hoặc Thái thú là Sứ quân 使君, Liễu Tông Nguyên 柳宗元 đã viết cho Vĩnh Châu Thứ sử Vi Công 永州刺史韦公 bài Vĩnh Châu Vi Sứ quân tân đường kí 永州韦使君新堂记, cuối bài nói rằng “biên dĩ vi nhị thiên thạch khải pháp” 编以为二千石楷法, (biên chép vào sách, lấy làm chuẩn mực của Thứ sử) “nhị thiên thạch” ở đây dùng theo cách xưng hô quận quốc Thú Tướng thời Hán, kì thực là chỉ Thứ sử trưởng quan hành chính của châu lúc bấy giờ. Thứ sử đã trở thành trưởng quan hành chính, thế thì xưng hiệu hai nhóm thuộc quan của Thứ sử đời trước cũng được tham khảo để dùng làm quan hiệu trong hệ thống hành chính (7). Hiểu được điểm này mới rõ Tư mã châu quận thời Tuỳ Đường kì thực không nắm giữ việc võ.   
                                                                                            (còn tiếp)

    Chú của nguyên tác
    1- Đốc bưu 督邮chức quyền rất nặng, sau thời Đường bắt đầu phế bỏ. Thời cổ, quan thự nhìn chung đều đặt Chủ bạ 主簿. Sau thời Tống, Chủ bạ của huyện và Thừa uý 丞尉đồng là trợ lí của Huyện lệnh (Tri huyện).
    2- Thời Nguỵ Tấn Nam Bắc triều đổi gọi là Nội sử 内史.
    3- Chế độ thời Hán lấy bổng lộc nhiều ít làm tiêu chí đẳng cấp chức quan, nguyệt bổng của quan nhị thiên thạch là 120 hộc.
    4- Đỗ Hựu 杜佑 trong Thông điển 通典quyển 32, mục Chức quan 职官 14 nói rằng:
              Trị trung tùng sự sử nhất nhân, cư trung trị sự, chủ chúng tào văn thư, Hán chế dã.
              治中从事史一人, 居中治事, 主众曹文书, 汉制也.
              (Trị trung tùng sự sử một người, cư trung trị sự, chủ quản văn thư các tào, đó là chế độ thời Hán)
    5- Không gia thêm xưng hiệu Tướng quân thì gọi là Đơn xa Thứ sử 单车刺史, đa phần do “thứ tính” 庶姓 (những người khác họ với thiên tử hoặc chư hầu) đảm nhậm. Và, thời Tấn, quận thú cũng đa phần gia thêm xưng hiệu Tướng quân.
    6- Châu ở thủ đô hoặc bồi đô xưng là phủ, quan có Doãn , Thiếu doãn 少尹.
    7- Cựu Đường thư – Cao Tông kỉ 旧唐书 - 高宗纪 chép tháng 7 năm Trinh Quan 贞观thứ 23 (năm 649) đổi Trị trung 治中của các châu thành Tư mã 司马, đổi Biệt giá 别驾 thành Trưởng sử 长史.

                                                               Huỳnh Chương Hưng
                                                               Quy Nhơn 12/11/2018

    Nguồn
    TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI VĂN HOÁ THƯỜNG THỨC
    中国古代文化常识
    Chủ biên: Vương Lực 王力
    Bắc Kinh: Trung Quốc Nhân dân Đại học xuất bản xã, 2012

    Chủ Nhật, 11 tháng 11, 2018

    CHỮ “THÍNH”
     
    Bính âm ting (thanh điệu 1)

    7 nét
    22 nét

    1- Dùng tai tiếp thụ thanh âm:
              Thính lực 听力 /  thính chẩn 听诊 / thính giảng 听讲 / khuynh thính 倾听 / thu thính 收听 / bàng thính 旁听 / thâu thính 偷听.
    2- Nghe theo, tiếp thụ ý kiến: 
              Thính thoại 听话 / ngã khuyến tha, tha nhất điểm dã bất thính 我劝他, 他一点也不听.
    3- Trị lí, phán đoán:
              Thính chính 听政 / thính tụng 听讼.
    4- Tuỳ ý, mặc ý: 
              Thính nhậm 听任 / thính tiện 听便 / thính thiên do mệnh 听天由命.

    Thuyết giải
              Chữ , bộ , kết cấu trái phải. Về nguồn gốc của chữ này, các thuyết không nhất trí:
              - Thuyết giả tá. Chữ vốn đọc là yin (thanh điệu 3), là chữ hình thanh. Trong Thuyết văn – Khẩu bộ 说文 - 口部 có ghi:
    Thính, tiếu nhi
    , 笑兒
    (Thính là cười tủm tỉm)
              Trong Chính tự thông – Khẩu bộ 正字通 - 口部:
    Thính, tục tá vi thính tự tỉnh văn
    , 俗借為字省文
    (Chữ tục mượn thay chữ  viết giản lược)
              - Thuyết từ thảo thư ngoa biến ra. Tục thể của chữ hội ý vốn được viết bên trái chữ , bên phải chữ . Cách viết thảo của chữ ngoa biến ra chữ (xem Hoàng Ước Trai 黃约斋 Hán tự tự thể biến thiên giản sử 汉字字体变迁简史,  trang 47)
         - Thuyết tục tự thanh bàng ngoa biến. Theo Lưu Tri Viễn 刘知远  bản san khắc đời Kim, chữ giản lược viết thành bên trái chữ , bên phải chữ , hình dạng thanh bàng gần giống , do đó viết nhầm thành .
              Trong Thủ kinh thi thoại 取经诗话 bản san khắc đời Tống, Tạp kịch 杂剧 bản san khắc đời Nguyên, Kiều Hồng kí 娇红记 bản san khắc đời Minh ... chữ viết giản lược thành hoặc bộ 广 bên dưới là chữ , có thể lấy đó làm chứng cứ.
              Trong Tục tự phổ 俗字谱, từ Tạp kịch 杂剧 bản san khắc đời Nguyên trở về sau, các sách đều dùng chữ , nó được thừa nhận dùng từ lâu.

                                                          Huỳnh Chương Hưng
                                                          Quy Nhơn 11/11/2018

    Nguồn
    GIẢN HOÁ TỰ, PHỒN THỂ TỰ ĐỐI CHIẾU TỰ ĐIỂN
    简化字繁体字对照字典
    Chủ biên: Giang Lam Sinh 江蓝生, Lục Tôn Ngô 陆尊梧
    Thượng Hải – Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 1998

    Dịch thuật: Chữ "thính" (Đối chiếu tự điển)

    Đăng lúc  19:14  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    CHỮ “THÍNH”
     
    Bính âm ting (thanh điệu 1)

    7 nét
    22 nét

    1- Dùng tai tiếp thụ thanh âm:
              Thính lực 听力 /  thính chẩn 听诊 / thính giảng 听讲 / khuynh thính 倾听 / thu thính 收听 / bàng thính 旁听 / thâu thính 偷听.
    2- Nghe theo, tiếp thụ ý kiến: 
              Thính thoại 听话 / ngã khuyến tha, tha nhất điểm dã bất thính 我劝他, 他一点也不听.
    3- Trị lí, phán đoán:
              Thính chính 听政 / thính tụng 听讼.
    4- Tuỳ ý, mặc ý: 
              Thính nhậm 听任 / thính tiện 听便 / thính thiên do mệnh 听天由命.

    Thuyết giải
              Chữ , bộ , kết cấu trái phải. Về nguồn gốc của chữ này, các thuyết không nhất trí:
              - Thuyết giả tá. Chữ vốn đọc là yin (thanh điệu 3), là chữ hình thanh. Trong Thuyết văn – Khẩu bộ 说文 - 口部 có ghi:
    Thính, tiếu nhi
    , 笑兒
    (Thính là cười tủm tỉm)
              Trong Chính tự thông – Khẩu bộ 正字通 - 口部:
    Thính, tục tá vi thính tự tỉnh văn
    , 俗借為字省文
    (Chữ tục mượn thay chữ  viết giản lược)
              - Thuyết từ thảo thư ngoa biến ra. Tục thể của chữ hội ý vốn được viết bên trái chữ , bên phải chữ . Cách viết thảo của chữ ngoa biến ra chữ (xem Hoàng Ước Trai 黃约斋 Hán tự tự thể biến thiên giản sử 汉字字体变迁简史,  trang 47)
         - Thuyết tục tự thanh bàng ngoa biến. Theo Lưu Tri Viễn 刘知远  bản san khắc đời Kim, chữ giản lược viết thành bên trái chữ , bên phải chữ , hình dạng thanh bàng gần giống , do đó viết nhầm thành .
              Trong Thủ kinh thi thoại 取经诗话 bản san khắc đời Tống, Tạp kịch 杂剧 bản san khắc đời Nguyên, Kiều Hồng kí 娇红记 bản san khắc đời Minh ... chữ viết giản lược thành hoặc bộ 广 bên dưới là chữ , có thể lấy đó làm chứng cứ.
              Trong Tục tự phổ 俗字谱, từ Tạp kịch 杂剧 bản san khắc đời Nguyên trở về sau, các sách đều dùng chữ , nó được thừa nhận dùng từ lâu.

                                                          Huỳnh Chương Hưng
                                                          Quy Nhơn 11/11/2018

    Nguồn
    GIẢN HOÁ TỰ, PHỒN THỂ TỰ ĐỐI CHIẾU TỰ ĐIỂN
    简化字繁体字对照字典
    Chủ biên: Giang Lam Sinh 江蓝生, Lục Tôn Ngô 陆尊梧
    Thượng Hải – Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 1998

    Mã nguồn bởi Huỳnh Chương Hưng
    Copyright © 2012 Huỳnh Chương Hưng.
    back to top