• Thứ Ba, 21 tháng 5, 2019

    VÌ SAO GỌI PHẦN TỬ TRI THỨC LÀ “LÃO CỬU”

              Vì sao mọi người dùng “lão cửu” 老九 để chỉ văn nhân?
               Trung Quốc cổ đại có chế độ đẳng cấp tương đối nghiêm nhặt. Thời Xuân Thu Chiến Quốc, sự thống trị của quý tộc dưới chế độ tông pháp bị tiêu diệt. Hán Vũ Đế 汉武帝 độc tôn Nho thuật, địa vị của văn nhân sĩ tử được đề cao, thế gia văn hoá dường như đời đời làm quan. Từ thời Tuỳ Đường trở về sau, áp dụng chế độ khoa cử để tuyển chọn quan viên. Nhân đó, trong xã hội, người có thể ra làm quan, ngoài hoàng thân quốc thích ra, chính là các học trò. Thời cổ với đẳng cấp rõ ràng, được làm văn nhân là một vinh dự cho tổ tông. Nhân đó, trong xã hội có cách nói:
    Vạn ban giai hạ phẩm, duy hữu độc thư cao.
    万般皆下品, 惟有读书高
    (Tất cả các nghề đều thấp kém, chỉ có đọc sách mới là cao quý)
              Ngay cả hoàng đế Tống Chân Tông 宋真宗 cũng nói:
    Thư trung tự hữu thiên chung túc, thư trung tự hữu hoàng kim ốc, thư trung tự hữu nhan như ngọc.
              书中自有千钟粟, 书中自有黄金屋, 书中自有颜如玉.
              (Trong sách đã tự có ngàn chung thóc, trong sách đã tự có nhà vàng, trong sách đã tự có người đẹp như ngọc.)
              Có thể thấy, đọc sách là việc rất vinh dự vẻ vang.
              Nhưng đến triều Nguyên, địa vị của văn nhân bị xuống dốc. Giai cấp thống trị chia người ra làm 4 đẳng cấp, người Mông Cổ tôn quý nhất, kế tiếp là người sắc mục (1), người Hán do người Kim thống trị xếp thứ 3, người Hán của Nam Tống xếp thứ 4. Không những thế, theo ghi chép trong Tâm sử 心史, người Mông Cổ còn dựa theo chức nghiệp chia người là làm 10 hạng:
             Nhất quan, nhị lại, tam tăng, tứ đạo, ngũ y, lục công, thất liệp, bát dân, cửu nho, thập cái.
              一官, 二吏, 三僧, 四道, 五医, 六工, 七猎, 八民, 九儒, 十丐
              (1 là quan, 2 là lại, 3 là sư, 4 là đạo sĩ, 5 là thầy thuốc, 6 là thợ, 7 là thợ săn, 8 là dân, chín là nho, 10 là ăn xin.)
              Hạng “cửu nho” chính là văn nhân. Quy định này vào đời Nguyên được chép vào pháp điển. Nhân vì văn nhân nho sĩ bị liệt vào hạng thứ 9, cho nên mọi người gọi hạ là “lão cửu” 老九, đương nhiên cách xưng hô này có ý khinh miệt.

    Chú của người dịch
    1- Người sắc mục: tức “các sắc danh mục” 各色名目, từ gọi chung các tộc người ở tây bắc Trung Quốc, ở tây vực, và cả ở châu Âu vào thời Nguyên.

                                                                   Huỳnh Chương Hưng
                                                                   Quy Nhơn 21/5/2019

    Nguyên tác Trung văn
    Trong quyển
    THÚ VỊ VĂN HOÁ TRI THỨC ĐẠI TOÀN
    趣味文化知识大全
    Thanh Thạch 青石 biên soạn
    Trung Quốc Hoa kiều xuất bản xã, 2013

    Dịch thuật: Tại sao gọi phần tử tri thức là "lão cửu"

    Đăng lúc  22:30  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    VÌ SAO GỌI PHẦN TỬ TRI THỨC LÀ “LÃO CỬU”

              Vì sao mọi người dùng “lão cửu” 老九 để chỉ văn nhân?
               Trung Quốc cổ đại có chế độ đẳng cấp tương đối nghiêm nhặt. Thời Xuân Thu Chiến Quốc, sự thống trị của quý tộc dưới chế độ tông pháp bị tiêu diệt. Hán Vũ Đế 汉武帝 độc tôn Nho thuật, địa vị của văn nhân sĩ tử được đề cao, thế gia văn hoá dường như đời đời làm quan. Từ thời Tuỳ Đường trở về sau, áp dụng chế độ khoa cử để tuyển chọn quan viên. Nhân đó, trong xã hội, người có thể ra làm quan, ngoài hoàng thân quốc thích ra, chính là các học trò. Thời cổ với đẳng cấp rõ ràng, được làm văn nhân là một vinh dự cho tổ tông. Nhân đó, trong xã hội có cách nói:
    Vạn ban giai hạ phẩm, duy hữu độc thư cao.
    万般皆下品, 惟有读书高
    (Tất cả các nghề đều thấp kém, chỉ có đọc sách mới là cao quý)
              Ngay cả hoàng đế Tống Chân Tông 宋真宗 cũng nói:
    Thư trung tự hữu thiên chung túc, thư trung tự hữu hoàng kim ốc, thư trung tự hữu nhan như ngọc.
              书中自有千钟粟, 书中自有黄金屋, 书中自有颜如玉.
              (Trong sách đã tự có ngàn chung thóc, trong sách đã tự có nhà vàng, trong sách đã tự có người đẹp như ngọc.)
              Có thể thấy, đọc sách là việc rất vinh dự vẻ vang.
              Nhưng đến triều Nguyên, địa vị của văn nhân bị xuống dốc. Giai cấp thống trị chia người ra làm 4 đẳng cấp, người Mông Cổ tôn quý nhất, kế tiếp là người sắc mục (1), người Hán do người Kim thống trị xếp thứ 3, người Hán của Nam Tống xếp thứ 4. Không những thế, theo ghi chép trong Tâm sử 心史, người Mông Cổ còn dựa theo chức nghiệp chia người là làm 10 hạng:
             Nhất quan, nhị lại, tam tăng, tứ đạo, ngũ y, lục công, thất liệp, bát dân, cửu nho, thập cái.
              一官, 二吏, 三僧, 四道, 五医, 六工, 七猎, 八民, 九儒, 十丐
              (1 là quan, 2 là lại, 3 là sư, 4 là đạo sĩ, 5 là thầy thuốc, 6 là thợ, 7 là thợ săn, 8 là dân, chín là nho, 10 là ăn xin.)
              Hạng “cửu nho” chính là văn nhân. Quy định này vào đời Nguyên được chép vào pháp điển. Nhân vì văn nhân nho sĩ bị liệt vào hạng thứ 9, cho nên mọi người gọi hạ là “lão cửu” 老九, đương nhiên cách xưng hô này có ý khinh miệt.

    Chú của người dịch
    1- Người sắc mục: tức “các sắc danh mục” 各色名目, từ gọi chung các tộc người ở tây bắc Trung Quốc, ở tây vực, và cả ở châu Âu vào thời Nguyên.

                                                                   Huỳnh Chương Hưng
                                                                   Quy Nhơn 21/5/2019

    Nguyên tác Trung văn
    Trong quyển
    THÚ VỊ VĂN HOÁ TRI THỨC ĐẠI TOÀN
    趣味文化知识大全
    Thanh Thạch 青石 biên soạn
    Trung Quốc Hoa kiều xuất bản xã, 2013

    Thứ Hai, 20 tháng 5, 2019



    书低
        一生赁僧房读书, 每日游玩. 午后归房, 呼童取书来. 童持 文选”, 视之, : “.” 汉书”, 视之, : “.” 又持史记”, 视之, : “.” 僧大诧曰: “此三书, 熟其一, 足称饱学, 俱云低, 何也?” 生曰: “我要睡, 取书作枕头耳.”
                                      (笑林广记 - 古艳部)

    THƯ ĐÊ
              Nhất sinh nhẫm tăng phòng độc thư, mỗi nhật du ngoạn. Ngọ hậu quy phòng, hô đồng thủ thư lai. Đồng trì “Văn tuyển”, thị chi, viết: “Đê.” Trì “Hán thư”, thị chi, viết: “Đê.” Hựu trì “Sử kí”, thị chi, viết: “Đê.” Tăng đại sá viết: “Thử tam thư, thục kì nhất, túc xưng bão học, câu vân đê, hà dã?” Sinh viết: “Ngã yếu thuỵ, thủ thư tác chẩm đầu nhĩ.”
                                                           (Tiếu lâm quảng kỉ - Cổ diễm bộ)

    SÁCH THẤP
              Một anh chàng thư sinh đến thuê gian phòng của vị tăng để đọc sách, nhưng hằng ngày đều đi chơi. Ngày nọ sau buổi trưa về lại phòng, bảo thằng tiểu đồng đem sách tới. Tiểu đồng bê tới bộ “Văn tuyển”, anh chàng nhìn qua, nói rằng: “Thấp.” Tiểu đồng lại bê tới bộ “Hán thư”, anh chàng nhìn qua, rồi nói: “Thấp.” Tiểu đồng lại bê tới bộ “Sử kí”, anh chàng nhìn qua, cũng nói: “Thấp.” Vị tăng vô cùng kinh ngạc, hỏi: “Ba bộ sách đó, đọc thuộc một bộ cũng đủ để khen là học được nhiều. Sao anh lại nói là cả ba bộ đó đều thấp?” Chàng thư sinh đáp rằng: “Tôi muốn ngủ, bảo đem sách tới để làm gối kê đầu thôi.”

    Chú của người dịch
    TIẾU LÂM QUẢNG KÍ笑林广记:tập truyện cười do Du hí chủ nhân 游戏主人 đời Thanh thu thập biên soạn thành. Toàn sách chia làm 12 bộ, gồm:
    - Cổ diễm bộ 古艳部        - Hủ lưu bộ 腐流部         - Thuật nghiệp bộ 术业部
    - Hình thể bộ 形体部        - Thù bẩm bộ 殊禀部      - Khuê phong bộ 闺风部
    - Thế huý bộ 世讳部        - Tăng đạo bộ 僧道部      - Tham lận bộ 贪吝部
    - Bần cũ bộ 贫窭部          - Cơ thích bộ 讥剌部       - Mậu ngộ bộ 谬误部      
              Những truyện cười trong Tiếu lâm quảng kí đa phần là của hai đời Minh Thanh, hình thức chủ yếu là những đoạn văn ngắn.
              Truyện Thư đêCổ diễm bộ.

                                                                         Huỳnh Chương Hưng
                                                                         Quy Nhơn 20/5/2019

    TIẾU LÂM QUẢNG KÍ
    笑林广记
    (Thanh) Du Hí chủ nhân 游戏主人 biên soạn
    Tang Thánh Đồng 桑圣彤 chú dịch
    Sùng Văn thư cục, 2007

    Dịch thuật: Thư đê (Tiếu lâm quảng kí)

    Đăng lúc  21:39  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »



    书低
        一生赁僧房读书, 每日游玩. 午后归房, 呼童取书来. 童持 文选”, 视之, : “.” 汉书”, 视之, : “.” 又持史记”, 视之, : “.” 僧大诧曰: “此三书, 熟其一, 足称饱学, 俱云低, 何也?” 生曰: “我要睡, 取书作枕头耳.”
                                      (笑林广记 - 古艳部)

    THƯ ĐÊ
              Nhất sinh nhẫm tăng phòng độc thư, mỗi nhật du ngoạn. Ngọ hậu quy phòng, hô đồng thủ thư lai. Đồng trì “Văn tuyển”, thị chi, viết: “Đê.” Trì “Hán thư”, thị chi, viết: “Đê.” Hựu trì “Sử kí”, thị chi, viết: “Đê.” Tăng đại sá viết: “Thử tam thư, thục kì nhất, túc xưng bão học, câu vân đê, hà dã?” Sinh viết: “Ngã yếu thuỵ, thủ thư tác chẩm đầu nhĩ.”
                                                           (Tiếu lâm quảng kỉ - Cổ diễm bộ)

    SÁCH THẤP
              Một anh chàng thư sinh đến thuê gian phòng của vị tăng để đọc sách, nhưng hằng ngày đều đi chơi. Ngày nọ sau buổi trưa về lại phòng, bảo thằng tiểu đồng đem sách tới. Tiểu đồng bê tới bộ “Văn tuyển”, anh chàng nhìn qua, nói rằng: “Thấp.” Tiểu đồng lại bê tới bộ “Hán thư”, anh chàng nhìn qua, rồi nói: “Thấp.” Tiểu đồng lại bê tới bộ “Sử kí”, anh chàng nhìn qua, cũng nói: “Thấp.” Vị tăng vô cùng kinh ngạc, hỏi: “Ba bộ sách đó, đọc thuộc một bộ cũng đủ để khen là học được nhiều. Sao anh lại nói là cả ba bộ đó đều thấp?” Chàng thư sinh đáp rằng: “Tôi muốn ngủ, bảo đem sách tới để làm gối kê đầu thôi.”

    Chú của người dịch
    TIẾU LÂM QUẢNG KÍ笑林广记:tập truyện cười do Du hí chủ nhân 游戏主人 đời Thanh thu thập biên soạn thành. Toàn sách chia làm 12 bộ, gồm:
    - Cổ diễm bộ 古艳部        - Hủ lưu bộ 腐流部         - Thuật nghiệp bộ 术业部
    - Hình thể bộ 形体部        - Thù bẩm bộ 殊禀部      - Khuê phong bộ 闺风部
    - Thế huý bộ 世讳部        - Tăng đạo bộ 僧道部      - Tham lận bộ 贪吝部
    - Bần cũ bộ 贫窭部          - Cơ thích bộ 讥剌部       - Mậu ngộ bộ 谬误部      
              Những truyện cười trong Tiếu lâm quảng kí đa phần là của hai đời Minh Thanh, hình thức chủ yếu là những đoạn văn ngắn.
              Truyện Thư đêCổ diễm bộ.

                                                                         Huỳnh Chương Hưng
                                                                         Quy Nhơn 20/5/2019

    TIẾU LÂM QUẢNG KÍ
    笑林广记
    (Thanh) Du Hí chủ nhân 游戏主人 biên soạn
    Tang Thánh Đồng 桑圣彤 chú dịch
    Sùng Văn thư cục, 2007

    Chủ Nhật, 19 tháng 5, 2019

    THUẬN TRỊ PHẾ HẬU BÍ SỬ

              Khoa Nhĩ Thấm Thân vương Ngô Khắc Thiện 科尔沁亲王吴克善 là thân thích với Nhiếp chính vương Đa Nhĩ Cổn 摄政王多尔衮. Lúc Thuận Trị 顺治 đăng cơ, Ngô Khắc Thiện đưa con gái của mình vào cung, đồng thời Đa Nhĩ Cổn làm chủ việc đính hôn cho Thuận Trị. Đương thời, Đa Nhĩ Cổn xem Thuận Trị như con ruột của mình, mọi việc ông đều đích thân nắm giữ. Năm Thuận Trị thứ 8, con gái của Ngô Khắc Thiện được sách phong làm Phúc Lâm hoàng hậu 福临皇后. Nhưng Thuận Trị vốn không thích hoàng hậu này, tháng 8 năm đó, ông đã phế truất, đưa bà vào lãnh cung.
              Thuận Trị lúc nhỏ, triều chính đều bị Đa Nhĩ Cổn khống chế, sau khi trưởng thành, Thuận Trị rất hận những việc làm của Đa Nhĩ Cổn, lấy cớ mưu phản soán vị, trừ khử gia tộc Đa Nhĩ Cổn đồng thời tước đoạt tước phong vốn có trước đó, nhân vì Đa Nhĩ Cổn có quan hệ thân thích với hoàng hậu, Thuận Trị lại càng oán hận hoàng hậu, cuối cùng bà bị phế vì tội danh “thất đức” 失德.
              Hôm chiếu lệnh phế hậu ban xuống, văn võ cả triều đều kinh hãi. Đại học sĩ Phùng Thuyên 冯铨 là người đầu tiên dâng sớ biện giải:
              Tiền triều, như Hán Vũ Đế 汉武帝, Tống Nhân Tông 宋仁宗, Minh Tuyên Tông 明宣宗 đều được khen là vị quân chủ hiền minh, nhưng đều nhân vì hành vi phế truất hoàng hậu mà bị người đời sau chê trách. Khẩn thiết mong hoàng thượng suy nghĩ kĩ lại, thận trọng mọi cử động, danh tiếng tốt đẹp của thánh thượng thiên thu vạn thế có bị tổn hại hay không là xem quyết định hôm nay của ngài.
              Hoàng đế Thuận Trị xem qua tấu chương, không cho là như thế, mà cho rằng người mà mình phế truất là vô năng, còn nhóm người như Phùng Thuyên chỉ là nhân đó mà mua danh bán tiếng, cần phải nghiêm khắc khiển trách. Lúc bấy giờ Lễ bộ nghi chế ti Viên ngoại lang là Khổng Doãn Việt 孔允樾lại dâng tấu tranh luận:
              Chúng thần khảo sát sự việc đời trước, như Mã hoàng hậu triều Hán, Trưởng Tôn hoàng hậu triều Đường đều giản dị đôn hậu, dưỡng được phúc bình hoà. Còn như Lữ hậu và Võ Tắc Thiên, không phải là không thông minh võ đoán, nhưng cuối cùng lại gây ra động loạn trong thiên hạ, nguy hại đến xã tắc quốc gia. Nay hoàng hậu không nổi danh vì tài năng, nhưng thiên sinh đôn hậu thực thà, làm chủ trong cung có chỗ nào không thoả đáng, sao lại tuỳ tiện thay đổi?
              Đương thời, tiếp tục tranh biện cho hoàng hậu còn có 14 người của nhóm  Ngự sử Tông Đôn 宗敦. Tấu chương dâng lên, Thuận Trị nhất mực không nghe. Ngay lập tức Mãn Châu Thân vương Tế Nhĩ Cáp Lãng 济尔哈朗 dâng tấu phụ hoạ hoàng đế, cuối cùng việc phế truất hoàng hậu thành sự thực.
    Nhưng 5 năm sau, Thuận Trị đột nhiên tỉnh ngộ nhận ra quyết định sai lầm phế hậu, thế là hạ lệnh đem tôn hiệu, sách văn, ngọc tỉ của hoàng hậu ban lại theo như lúc trước.

                                                       Huỳnh Chương Hưng
                                                        Quy Nhơn 19/5/2019

    Nguồn
    ĐẠI THANH HOÀNG ĐẾ KÌ VĂN BÍ SỬ
    大清皇帝奇闻秘史
    Tác giả: Lưu Gia Bình 刘家平
    Nội Mông Cổ nhân dân xuất bản xã, 2004

    Dịch thuật: Thuận Trị phế hậu bí sử

    Đăng lúc  22:42  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    THUẬN TRỊ PHẾ HẬU BÍ SỬ

              Khoa Nhĩ Thấm Thân vương Ngô Khắc Thiện 科尔沁亲王吴克善 là thân thích với Nhiếp chính vương Đa Nhĩ Cổn 摄政王多尔衮. Lúc Thuận Trị 顺治 đăng cơ, Ngô Khắc Thiện đưa con gái của mình vào cung, đồng thời Đa Nhĩ Cổn làm chủ việc đính hôn cho Thuận Trị. Đương thời, Đa Nhĩ Cổn xem Thuận Trị như con ruột của mình, mọi việc ông đều đích thân nắm giữ. Năm Thuận Trị thứ 8, con gái của Ngô Khắc Thiện được sách phong làm Phúc Lâm hoàng hậu 福临皇后. Nhưng Thuận Trị vốn không thích hoàng hậu này, tháng 8 năm đó, ông đã phế truất, đưa bà vào lãnh cung.
              Thuận Trị lúc nhỏ, triều chính đều bị Đa Nhĩ Cổn khống chế, sau khi trưởng thành, Thuận Trị rất hận những việc làm của Đa Nhĩ Cổn, lấy cớ mưu phản soán vị, trừ khử gia tộc Đa Nhĩ Cổn đồng thời tước đoạt tước phong vốn có trước đó, nhân vì Đa Nhĩ Cổn có quan hệ thân thích với hoàng hậu, Thuận Trị lại càng oán hận hoàng hậu, cuối cùng bà bị phế vì tội danh “thất đức” 失德.
              Hôm chiếu lệnh phế hậu ban xuống, văn võ cả triều đều kinh hãi. Đại học sĩ Phùng Thuyên 冯铨 là người đầu tiên dâng sớ biện giải:
              Tiền triều, như Hán Vũ Đế 汉武帝, Tống Nhân Tông 宋仁宗, Minh Tuyên Tông 明宣宗 đều được khen là vị quân chủ hiền minh, nhưng đều nhân vì hành vi phế truất hoàng hậu mà bị người đời sau chê trách. Khẩn thiết mong hoàng thượng suy nghĩ kĩ lại, thận trọng mọi cử động, danh tiếng tốt đẹp của thánh thượng thiên thu vạn thế có bị tổn hại hay không là xem quyết định hôm nay của ngài.
              Hoàng đế Thuận Trị xem qua tấu chương, không cho là như thế, mà cho rằng người mà mình phế truất là vô năng, còn nhóm người như Phùng Thuyên chỉ là nhân đó mà mua danh bán tiếng, cần phải nghiêm khắc khiển trách. Lúc bấy giờ Lễ bộ nghi chế ti Viên ngoại lang là Khổng Doãn Việt 孔允樾lại dâng tấu tranh luận:
              Chúng thần khảo sát sự việc đời trước, như Mã hoàng hậu triều Hán, Trưởng Tôn hoàng hậu triều Đường đều giản dị đôn hậu, dưỡng được phúc bình hoà. Còn như Lữ hậu và Võ Tắc Thiên, không phải là không thông minh võ đoán, nhưng cuối cùng lại gây ra động loạn trong thiên hạ, nguy hại đến xã tắc quốc gia. Nay hoàng hậu không nổi danh vì tài năng, nhưng thiên sinh đôn hậu thực thà, làm chủ trong cung có chỗ nào không thoả đáng, sao lại tuỳ tiện thay đổi?
              Đương thời, tiếp tục tranh biện cho hoàng hậu còn có 14 người của nhóm  Ngự sử Tông Đôn 宗敦. Tấu chương dâng lên, Thuận Trị nhất mực không nghe. Ngay lập tức Mãn Châu Thân vương Tế Nhĩ Cáp Lãng 济尔哈朗 dâng tấu phụ hoạ hoàng đế, cuối cùng việc phế truất hoàng hậu thành sự thực.
    Nhưng 5 năm sau, Thuận Trị đột nhiên tỉnh ngộ nhận ra quyết định sai lầm phế hậu, thế là hạ lệnh đem tôn hiệu, sách văn, ngọc tỉ của hoàng hậu ban lại theo như lúc trước.

                                                       Huỳnh Chương Hưng
                                                        Quy Nhơn 19/5/2019

    Nguồn
    ĐẠI THANH HOÀNG ĐẾ KÌ VĂN BÍ SỬ
    大清皇帝奇闻秘史
    Tác giả: Lưu Gia Bình 刘家平
    Nội Mông Cổ nhân dân xuất bản xã, 2004

    Thứ Bảy, 18 tháng 5, 2019

    GÀ CÓ CÁNH NHƯNG KHÔNG THỂ BAY

              Chúng ta thường thấy nhiều loại gà khác nhau ở ngoài chợ hoặc trong vườn thú. Nhưng bạn đã từng nghĩ qua chưa, gà có cánh cũng giống như chim, nhưng tại sao lại không bay được trên trời cao?
              Tương truyền vào thời thượng cổ, gà không những có thể bay, mà còn bay lên đến tận trời cao, thậm chí bay lên tới cả thiên đình.
              Đáng tiếc là, một ngày nọ, một con gà bướng bỉnh đã gây ra sự việc:
              Hôm đó thời tiết vô cùng đẹp, có một con gà trống bay lên vườn cây ăn trái của Ngọc Hoàng Đại Đế.
              - Trời ơi! Trước giờ mình chưa thấy nhiều trái cây ngon như thế này.
              Thế là con gà nọ không ngăn nỗi sự quyến rũ, bèn thuận tay hái một trái đào để ăn. Nó cho rằng chẳng có ai biết, ai ngờ bị thiên binh nhìn thấy.
              - Bẩm Ngọc Hoàng Đại Đế, trái cây trong vườn bị trộm.
              Ngọc Hoàng Đại Đế vô cùng giận, bảo rằng:
              - Ai mà to gan như thế, ăn trộm trái cây của ta?
              - Bẩm Ngọc Đế, là gà ạ.
              Do bởi gà phạm tội ăn trộm, Ngọc Hoàng Đại Đế bèn ra lệnh:
              - Bắt đầu từ hôm nay, bọn gà chúng mày tuy có cánh, nhưng không thể bay lên thiên đình, đồng thời phạt chúng mày bị loài người giết để ăn thịt.
              - Ngọc Đế!
              Gà trống nghe qua đau khổ van xin, nhưng chẳng có ích gì, đành khóc quay về nhà, nói với gà mái rằng:
              - Tôi biết sai rồi, nhưng tôi thấy Ngọc Đế trừng phạt nặng quá. Này em, em có thể cầu xin Ngọc Đế lần nữa xem thử?
              Gà mái gạt nước mắt nghe theo lời gà trống.
              - Báo cáo Ngọc Đế, có gà mái xin cầu kiến.
              - Này gà mái, nhà ngươi đến đây có việc gì?
              Gà mái liền khóc đem chuyện của gà trống nói với Ngọc Đế. Do bởi sự tình đã qua mấy ngày rồi, Ngọc Đế không còn giận nữa, thế là nói với gà mái rằng:
              - Ta biết rồi, ta xử phạt gà trống quá nặng, nhưng ta là chủ nhân của thiên đình, nói ra lời thì không có cách gì thu hồi lại. Có một biện pháp duy nhất, đó là ta để cho loài người giết chúng mày, nhưng cũng để cho loài người nuôi chúng mày một đời.
              Đã như thế, gà mái cũng không biết làm sao. Sau khi về đến nhà gà mái cùng gà trống khóc một trận.
              Và bắt đầu từ đó, loài người trừ giết gà ra, còn phải nuôi gà. Đó chính là nguyên nhân con cháu đời sau của gà tuy có cánh nhưng không thể bay được.

                                                             Huỳnh Chương Hưng
                                                             Quy Nhơn 18/5/2019

    Nguồn
    TRUNG QUỐC ĐỒNG THOẠI ĐÍCH XỬ THẾ TRÍ TUỆ
    中國童話的處世智慧
    Tác giả: Lâm Huệ Văn 林惠文
    Đài Bắc huyện Trung Hoà thị: Hoa văn cương
    Năm 2002 (Dân Quốc năm thứ 91) 

    Dịch thuật: Gà có cánh nhưng không thể bay

    Đăng lúc  22:22  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    GÀ CÓ CÁNH NHƯNG KHÔNG THỂ BAY

              Chúng ta thường thấy nhiều loại gà khác nhau ở ngoài chợ hoặc trong vườn thú. Nhưng bạn đã từng nghĩ qua chưa, gà có cánh cũng giống như chim, nhưng tại sao lại không bay được trên trời cao?
              Tương truyền vào thời thượng cổ, gà không những có thể bay, mà còn bay lên đến tận trời cao, thậm chí bay lên tới cả thiên đình.
              Đáng tiếc là, một ngày nọ, một con gà bướng bỉnh đã gây ra sự việc:
              Hôm đó thời tiết vô cùng đẹp, có một con gà trống bay lên vườn cây ăn trái của Ngọc Hoàng Đại Đế.
              - Trời ơi! Trước giờ mình chưa thấy nhiều trái cây ngon như thế này.
              Thế là con gà nọ không ngăn nỗi sự quyến rũ, bèn thuận tay hái một trái đào để ăn. Nó cho rằng chẳng có ai biết, ai ngờ bị thiên binh nhìn thấy.
              - Bẩm Ngọc Hoàng Đại Đế, trái cây trong vườn bị trộm.
              Ngọc Hoàng Đại Đế vô cùng giận, bảo rằng:
              - Ai mà to gan như thế, ăn trộm trái cây của ta?
              - Bẩm Ngọc Đế, là gà ạ.
              Do bởi gà phạm tội ăn trộm, Ngọc Hoàng Đại Đế bèn ra lệnh:
              - Bắt đầu từ hôm nay, bọn gà chúng mày tuy có cánh, nhưng không thể bay lên thiên đình, đồng thời phạt chúng mày bị loài người giết để ăn thịt.
              - Ngọc Đế!
              Gà trống nghe qua đau khổ van xin, nhưng chẳng có ích gì, đành khóc quay về nhà, nói với gà mái rằng:
              - Tôi biết sai rồi, nhưng tôi thấy Ngọc Đế trừng phạt nặng quá. Này em, em có thể cầu xin Ngọc Đế lần nữa xem thử?
              Gà mái gạt nước mắt nghe theo lời gà trống.
              - Báo cáo Ngọc Đế, có gà mái xin cầu kiến.
              - Này gà mái, nhà ngươi đến đây có việc gì?
              Gà mái liền khóc đem chuyện của gà trống nói với Ngọc Đế. Do bởi sự tình đã qua mấy ngày rồi, Ngọc Đế không còn giận nữa, thế là nói với gà mái rằng:
              - Ta biết rồi, ta xử phạt gà trống quá nặng, nhưng ta là chủ nhân của thiên đình, nói ra lời thì không có cách gì thu hồi lại. Có một biện pháp duy nhất, đó là ta để cho loài người giết chúng mày, nhưng cũng để cho loài người nuôi chúng mày một đời.
              Đã như thế, gà mái cũng không biết làm sao. Sau khi về đến nhà gà mái cùng gà trống khóc một trận.
              Và bắt đầu từ đó, loài người trừ giết gà ra, còn phải nuôi gà. Đó chính là nguyên nhân con cháu đời sau của gà tuy có cánh nhưng không thể bay được.

                                                             Huỳnh Chương Hưng
                                                             Quy Nhơn 18/5/2019

    Nguồn
    TRUNG QUỐC ĐỒNG THOẠI ĐÍCH XỬ THẾ TRÍ TUỆ
    中國童話的處世智慧
    Tác giả: Lâm Huệ Văn 林惠文
    Đài Bắc huyện Trung Hoà thị: Hoa văn cương
    Năm 2002 (Dân Quốc năm thứ 91) 

    Thứ Sáu, 17 tháng 5, 2019

    TẦN THUỶ HOÀNG TUẦN HÀNH LẦN THỨ TƯ

              Tần Thuỷ Hoàng năm thứ 32 (năm 215 trước công nguyên), Thuỷ Hoàng bắt đầu tuần hành lần thứ 4. Mục đích tuần hành lần này là đến Kiệt Thạch 碣石 (nay là phía bắc Xương Lê 昌黎 Hà Bắc 河北) và vùng biên tái phương bắc.
              Tần Thuỷ Hoàng phía bắc vượt qua Hoàng hà, đi qua những nơi cũ là Hàn, Nguỵ, Triệu, Yên, Nơi đây quan tái hiểm trở, đê điều tắc nghẽn, thuỷ hoạn vô cùng, không những trở ngại giao thông và sản xuất cùng sinh hoạt xã hội, mà còn có thể bị thế lực phản Tần lợi dụng. Vì thế, Thuỷ Hoàng hạ lệnh “hoại thành quách, quyết thông đê phòng” 坏城郭, 决通堤防 (phá huỷ thành quách, khơi thông đê điều). Khi Thuỷ Hoàng đi về phía đông đến Kiệt Thạch, quan sát biển lớn, bèn tự hào khắc thạch ghi công của mình, xưng tụng rằng:
              Hoàng đế phấn uy, đức tịnh chư hầu, sơ nhất thái bình. Đoạ hoại thành quách, quyết thông xuyên phòng, di khứ hiểm trở. Địa thế kí định, lê thứ vô diêu, thiên hạ hàm phủ. Nam lạc kì trù, nữ tu kì nghiệp, sự các hữu tự. Huệ bị chư sản, cửu tịnh lai điền, mạc bất an sở.
              皇帝奋威, 德并诸侯, 初一泰平. 堕坏城郭, 决通川防, 夷去险阻. 地势既定, 黎庶无繇, 天下咸抚. 男乐其畴, 女修其业, 事各有序. 惠被诸产, 久并来田莫不安所.
              (Hoàng đế ra oai, đức đến cả chư hầu, đất nước vừa mới thống nhất thái bình. Phá huỷ thành quách, khơi thông đê điều, san bắng hiểm trở. Địa thế đã định, bách tính khỏi phải lao dịch, thiên hạ đều được vỗ về. Đàn ông vui với việc nông, đàn bà chăm lo việc nhà, mọi việc đều có trật tự. Ơn đức đến cả muôn vật, nông dân nước Tần trường kì canh tác cùng nông dân mới từ nơi khác đến khẩn hoang, không ai là không yên ổn.)
              Đó chính là “Kiệt thạch khắc thạch” 碣石刻石.
              Sau khi Thuỷ Hoàng đến Kiệt Thạch, sai Lư Sinh 卢生người đất Yên tìm hai vị tiên nhân là Tiện Môn 羡门 và Cao Thệ 高誓. Lại còn sai Hàn Chung 韩终, Hầu Công 侯公, Thạch Sinh 石生 đi tìm thuốc trường sinh bất tử. Chẳng bao lâu, Thuỷ Hoàng tuần du phía bắc, đại để từ Kiệt Thạch hướng về phía tây, đi qua các quận Bắc Bình 北平, Ngư Dương 渔阳, Thượng Cốc 上谷, Đại , Nhạn Môn 雁门,Vân Trung 云中, mục đích chủ yếu là tăng cường phòng vệ biên giới phía bắc, chuẩn bị chiến lược tác chiến đánh Hung Nô. Sau khi Thuỷ Hoàng từ Thượng quận 上郡 (quận trị tại Phu Thi 肤施, nay là phía đông nam Du Lâm 榆林Thiểm Tây 陕粞) về Hàm Dương 咸阳, chẳng bao lâu Lư Sinh cũng về lại Hàm Dương, báo cáo quá trình tìm tiên nhân. Lư Sinh bịa ra “đồ thư” dâng lên Thuỷ Hoàng, trong đó nói rằng: “vong Tần giả Hồ dã” 亡秦者胡也 (kẻ tiêu diệt triều Tần chính là người Hồ), điều này càng là choThuỷ Hoàng mê tín thần tiên kiên định quyết tâm bắc phạt Hung Nô. Lập tức Thuỷ Hoàng hạ lệnh cho Mông Điềm 蒙恬phát binh 30 vạn, đoạt lại đất Hà Nam 河南 mà Hung Nô chiếm cứ.

    Chú của người dịch
    1- Cửu tịnh lai điền 久并来田: “cửu” và “lai điền” 来田là 2 loại nông dân phân biệt theo thời gian. “Cửu” là “vi cửu điền giả” 久为田者, tức nông dân trường kì canh tác trên đất Tần. “Lai điền” 来田 chỉ nông dân từ các nơi khác đến khẩn hoang.

                                                              Huỳnh Chương Hưng
                                                              Quy Nhơn 17/5/2019

    Nguyên tác Trung văn
    ĐỆ TỨ THỨ TUẦN HÀNH
    第四次巡行
    Trong quyển
    THỐNG NHẤT VƯƠNG TRIỀU ĐÍCH ĐẢN SINH – TẦN
    统一王朝的诞生 -
    Chủ biên: “Đồ thuyết Trung Quốc lịch sử”
    Trường Xuân - Cát Lâm xuất bản tập đoàn hữu hạn trách nhiệm công ti, 2006

    Dịch thuật: Tần Thuỷ Hoàng tuần hành lần thứ tư

    Đăng lúc  21:37  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    TẦN THUỶ HOÀNG TUẦN HÀNH LẦN THỨ TƯ

              Tần Thuỷ Hoàng năm thứ 32 (năm 215 trước công nguyên), Thuỷ Hoàng bắt đầu tuần hành lần thứ 4. Mục đích tuần hành lần này là đến Kiệt Thạch 碣石 (nay là phía bắc Xương Lê 昌黎 Hà Bắc 河北) và vùng biên tái phương bắc.
              Tần Thuỷ Hoàng phía bắc vượt qua Hoàng hà, đi qua những nơi cũ là Hàn, Nguỵ, Triệu, Yên, Nơi đây quan tái hiểm trở, đê điều tắc nghẽn, thuỷ hoạn vô cùng, không những trở ngại giao thông và sản xuất cùng sinh hoạt xã hội, mà còn có thể bị thế lực phản Tần lợi dụng. Vì thế, Thuỷ Hoàng hạ lệnh “hoại thành quách, quyết thông đê phòng” 坏城郭, 决通堤防 (phá huỷ thành quách, khơi thông đê điều). Khi Thuỷ Hoàng đi về phía đông đến Kiệt Thạch, quan sát biển lớn, bèn tự hào khắc thạch ghi công của mình, xưng tụng rằng:
              Hoàng đế phấn uy, đức tịnh chư hầu, sơ nhất thái bình. Đoạ hoại thành quách, quyết thông xuyên phòng, di khứ hiểm trở. Địa thế kí định, lê thứ vô diêu, thiên hạ hàm phủ. Nam lạc kì trù, nữ tu kì nghiệp, sự các hữu tự. Huệ bị chư sản, cửu tịnh lai điền, mạc bất an sở.
              皇帝奋威, 德并诸侯, 初一泰平. 堕坏城郭, 决通川防, 夷去险阻. 地势既定, 黎庶无繇, 天下咸抚. 男乐其畴, 女修其业, 事各有序. 惠被诸产, 久并来田莫不安所.
              (Hoàng đế ra oai, đức đến cả chư hầu, đất nước vừa mới thống nhất thái bình. Phá huỷ thành quách, khơi thông đê điều, san bắng hiểm trở. Địa thế đã định, bách tính khỏi phải lao dịch, thiên hạ đều được vỗ về. Đàn ông vui với việc nông, đàn bà chăm lo việc nhà, mọi việc đều có trật tự. Ơn đức đến cả muôn vật, nông dân nước Tần trường kì canh tác cùng nông dân mới từ nơi khác đến khẩn hoang, không ai là không yên ổn.)
              Đó chính là “Kiệt thạch khắc thạch” 碣石刻石.
              Sau khi Thuỷ Hoàng đến Kiệt Thạch, sai Lư Sinh 卢生người đất Yên tìm hai vị tiên nhân là Tiện Môn 羡门 và Cao Thệ 高誓. Lại còn sai Hàn Chung 韩终, Hầu Công 侯公, Thạch Sinh 石生 đi tìm thuốc trường sinh bất tử. Chẳng bao lâu, Thuỷ Hoàng tuần du phía bắc, đại để từ Kiệt Thạch hướng về phía tây, đi qua các quận Bắc Bình 北平, Ngư Dương 渔阳, Thượng Cốc 上谷, Đại , Nhạn Môn 雁门,Vân Trung 云中, mục đích chủ yếu là tăng cường phòng vệ biên giới phía bắc, chuẩn bị chiến lược tác chiến đánh Hung Nô. Sau khi Thuỷ Hoàng từ Thượng quận 上郡 (quận trị tại Phu Thi 肤施, nay là phía đông nam Du Lâm 榆林Thiểm Tây 陕粞) về Hàm Dương 咸阳, chẳng bao lâu Lư Sinh cũng về lại Hàm Dương, báo cáo quá trình tìm tiên nhân. Lư Sinh bịa ra “đồ thư” dâng lên Thuỷ Hoàng, trong đó nói rằng: “vong Tần giả Hồ dã” 亡秦者胡也 (kẻ tiêu diệt triều Tần chính là người Hồ), điều này càng là choThuỷ Hoàng mê tín thần tiên kiên định quyết tâm bắc phạt Hung Nô. Lập tức Thuỷ Hoàng hạ lệnh cho Mông Điềm 蒙恬phát binh 30 vạn, đoạt lại đất Hà Nam 河南 mà Hung Nô chiếm cứ.

    Chú của người dịch
    1- Cửu tịnh lai điền 久并来田: “cửu” và “lai điền” 来田là 2 loại nông dân phân biệt theo thời gian. “Cửu” là “vi cửu điền giả” 久为田者, tức nông dân trường kì canh tác trên đất Tần. “Lai điền” 来田 chỉ nông dân từ các nơi khác đến khẩn hoang.

                                                              Huỳnh Chương Hưng
                                                              Quy Nhơn 17/5/2019

    Nguyên tác Trung văn
    ĐỆ TỨ THỨ TUẦN HÀNH
    第四次巡行
    Trong quyển
    THỐNG NHẤT VƯƠNG TRIỀU ĐÍCH ĐẢN SINH – TẦN
    统一王朝的诞生 -
    Chủ biên: “Đồ thuyết Trung Quốc lịch sử”
    Trường Xuân - Cát Lâm xuất bản tập đoàn hữu hạn trách nhiệm công ti, 2006

    Thứ Năm, 16 tháng 5, 2019



    NỘI PHỦ TRIỀU MINH

              Theo ghi chép trong Hoàng Minh Tổ Huấn 皇明祖訓 (1), triều Minh thiết lập Nội phủ nha môn 內府衙門, chức trách nắm giữ phẩm cấp, định ra pháp luật cho đời sau, đều tận thiện tận mĩ. Duy chỉ trong khoảng thời gian đó Tổ huấn chưa ghi chép hoặc ghi chép chưa tường tận, dần về sau mới hoàn thiện.
              Nội vụ phủ có 12 giám, gồm:
              Tư lễ giám 司禮監
              Ngự dụng giám 御用監
              Nội quan giám 內官監
              Ngự mã giám 御馬監
              Tư thiết giám 司設監
              Thượng bảo giám 尚寶監
              Thần cung giám 神宮監
              Thượng thiện giám 尚膳監
              Thượng y giám 尚衣監
              Ấn thụ giám 印綬監
              Trực điện giám 直殿監
              Đô tri giám 都知監

              4 ti
              Tích tân ti 惜薪司
              Bảo sao ti 寶鈔司
              Chung cổ ti 鐘鼓司
              Hỗn đường ti 混堂司

              8 cục
              Binh trượng cục 兵仗局
              Cân mạo cục 巾帽局
              Châm công cục 針工局
              Nội chức nhiễm cục 內職染局
              Tửu thố miến cục 酒醋麫局
              Tư uyển cục 司苑局
              Hoán y cục 浣衣局
              Ngân tác cục 銀作局

              Gọi chung là “nhị thập tứ nha môn”.
              Ngoài ra, có Nội phủ cung dụng khố 內府供用庫, Tư thược khố 司鑰庫, Nội thừa vận khố 內承運庫.  (trích)

    Chú của người dịch
    1- Hoàng Minh Tổ Huấn 皇明祖訓 : là bộ điển tịch triều Minh do Chu Nguyên Chương 朱元璋 chủ trì biên soạn. Nội dung là những huấn giới đối với con cháu đời sau nhằm củng cố hoàng quyền. Ban đầu sách có tên là Tổ huấn lục 祖训录, khởi thuỷ biên soạn vào năm Hồng Vũ 洪武 thứ 2 (năm 1369), năm thứ 6 hoàn thành, Chu Nguyên Chương viết lời tự, sai bộ Lễ san khắc in thành sách. Năm thứ 9 trùng đính. Năm thứ 28 (năm 1395) trùng định, đổi tên là Hoàng Minh Tổ Huấn皇明祖訓, đồng thời đem chương đầu tiên Châm giới箴戒 đổi gọi là Tổ Huấn thủ chương祖训首章.

                                                                Huỳnh Chương Hưng
                                                                Quy Nhơn 16/5/2019

    Nguồn
              MINH CUNG SỬ
    明宮史
    Tác giả: Minh . Lưu Nhược Ngu 劉若愚
    Bắc Kinh cổ tịch xuất bản xã, 1980

    Dịch thuật: Nội phủ triều Minh

    Đăng lúc  22:39  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »



    NỘI PHỦ TRIỀU MINH

              Theo ghi chép trong Hoàng Minh Tổ Huấn 皇明祖訓 (1), triều Minh thiết lập Nội phủ nha môn 內府衙門, chức trách nắm giữ phẩm cấp, định ra pháp luật cho đời sau, đều tận thiện tận mĩ. Duy chỉ trong khoảng thời gian đó Tổ huấn chưa ghi chép hoặc ghi chép chưa tường tận, dần về sau mới hoàn thiện.
              Nội vụ phủ có 12 giám, gồm:
              Tư lễ giám 司禮監
              Ngự dụng giám 御用監
              Nội quan giám 內官監
              Ngự mã giám 御馬監
              Tư thiết giám 司設監
              Thượng bảo giám 尚寶監
              Thần cung giám 神宮監
              Thượng thiện giám 尚膳監
              Thượng y giám 尚衣監
              Ấn thụ giám 印綬監
              Trực điện giám 直殿監
              Đô tri giám 都知監

              4 ti
              Tích tân ti 惜薪司
              Bảo sao ti 寶鈔司
              Chung cổ ti 鐘鼓司
              Hỗn đường ti 混堂司

              8 cục
              Binh trượng cục 兵仗局
              Cân mạo cục 巾帽局
              Châm công cục 針工局
              Nội chức nhiễm cục 內職染局
              Tửu thố miến cục 酒醋麫局
              Tư uyển cục 司苑局
              Hoán y cục 浣衣局
              Ngân tác cục 銀作局

              Gọi chung là “nhị thập tứ nha môn”.
              Ngoài ra, có Nội phủ cung dụng khố 內府供用庫, Tư thược khố 司鑰庫, Nội thừa vận khố 內承運庫.  (trích)

    Chú của người dịch
    1- Hoàng Minh Tổ Huấn 皇明祖訓 : là bộ điển tịch triều Minh do Chu Nguyên Chương 朱元璋 chủ trì biên soạn. Nội dung là những huấn giới đối với con cháu đời sau nhằm củng cố hoàng quyền. Ban đầu sách có tên là Tổ huấn lục 祖训录, khởi thuỷ biên soạn vào năm Hồng Vũ 洪武 thứ 2 (năm 1369), năm thứ 6 hoàn thành, Chu Nguyên Chương viết lời tự, sai bộ Lễ san khắc in thành sách. Năm thứ 9 trùng đính. Năm thứ 28 (năm 1395) trùng định, đổi tên là Hoàng Minh Tổ Huấn皇明祖訓, đồng thời đem chương đầu tiên Châm giới箴戒 đổi gọi là Tổ Huấn thủ chương祖训首章.

                                                                Huỳnh Chương Hưng
                                                                Quy Nhơn 16/5/2019

    Nguồn
              MINH CUNG SỬ
    明宮史
    Tác giả: Minh . Lưu Nhược Ngu 劉若愚
    Bắc Kinh cổ tịch xuất bản xã, 1980

    Thứ Tư, 15 tháng 5, 2019

    TẠI SAO GỌI CHỒNG CỦA CÔNG CHÚA LÀ “PHỤ MÔ (PHÒ MÃ)

              Từ “phụ mã’ 驸马 (phò mã) sớm nhất hoàn toàn không phải chỉ con rể của hoàng đế. Theo ghi chép trong Hán thư 汉书, “phụ mã” là một chức quan, gọi đầy đủ là “Phụ mã đô uý” 驸马都尉, là phó xa 副车chủ yếu phụ trách việc nắm giữ ngự dụng, thực danh là “Phó mã đô uý” 副马都尉, được thiết lập vào thời Hán Vũ Đế 汉武帝. Lúc đầu, đảm nhiệm chức vụ này đa phần là người trong hoàng thất hoặc ngoại thích, cũng có một số là con em của vương công đại thần, họ đều là quan thị tụng thân cận của hoàng đế. Theo sử liệu ghi chép, việc đãi ngộ chức quan này là không bạc, bổng lộc 2000 thạch.
              “Phụ mã” (phò mã) được xem là danh từ chuyên dùng để chỉ con rể của hoàng đế là bắt đầu vào thời Nguỵ Tấn. Tương truyền Huyền học gia Hà Án 何晏thời Nguỵ Tấn dung mạo tuấn mĩ, Nguỵ Văn Đế hứa gả công chúa Kim Hương 金乡 cho Hà Án, đồng thời trao chức “Phó mã đô uý” 副马都尉. Thế là các hoàng đế sau thời Nguỵ Tấn, đa phần đều phong cho chàng rể cưới công chúa là “Phó mã đô uý”. Qua một thời gian dài, mọi người cảm thấy dùng “phó mã” để chỉ thay chồng của công chúa là không thích hợp lắm, cho nên, bèn đem từ “phó mã” 副马 đổi thành “phụ mã” 驸马. Theo sự thay đổi của danh xưng, ý nghĩa chức quan của “phụ mã” đã nhạt dần. Như rể của Tấn Tuyên Đế 晋宣帝và Tấn Văn Đế 晋文帝tuy là “Phụ mã đô uý”, nhưng chỉ là cách xưng hô, không có chức vị thực tế. Về sau, mọi người cũng quen gọi chồng của công chúa là “phụ mã” (phò mã).
              Trừ xưng vị “phụ mã” 驸马 (phò mã) ra, người xưa còn gọi chồng của công chúa là “đế tế” 帝婿, “chủ tế” 主婿, “quốc tế” 国婿. Ngoài ra, “phụ mã” (phò mã) còn có biệt xưng, nói biệt xưng này phải bắt đầu từ Huyền học gia Hà Án. Theo truyền thuyết, Hà Án không chỉ dung mạo tuấn mĩ, mà còn có một khuôn mặt trắng như con gái. Nguỵ Văn Đế vốn tưởng Hà Án dồi phấn để gạt hoàng thất, nên dùng kế để thử. Kết quả, Hà Án lấy tay áo chùi mặt nhưng mặt vẫn trắng không thay đổi, thế là mọi người nhân mặt của Hà Án trằng như dồi phấn nên gọi anh ta là “phấn hầu” 粉侯. Về sau danh xưng này cũng được dùng để chỉ chồng của công chúa. Đến triều Thanh, chồng của công chúa được có thêm phong hiệu “ngạch phụ” 额驸, chồng của công chúa do hoàng hậu sinh ra là “Cố luân ngạch phụ” 固伦额驸, chồng của công chúa do phi tần sinh ra là “Hoà thạc ngạch phụ” 和硕额驸.

                                                                   Huỳnh Chương Hưng
                                                                   Quy Nhơn 15/5/2019

    Nguyên tác Trung văn
    Trong quyển
    THÚ VỊ VĂN HOÁ TRI THỨC ĐẠI TOÀN
    趣味文化知识大全
    Thanh Thạch 青石 biên soạn
    Trung Quốc Hoa kiều xuất bản xã, 2013

    Dịch thuật: Tại sao gọi chồng của công chúa là "phụ mã" (phò mã)

    Đăng lúc  21:27  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    TẠI SAO GỌI CHỒNG CỦA CÔNG CHÚA LÀ “PHỤ MÔ (PHÒ MÃ)

              Từ “phụ mã’ 驸马 (phò mã) sớm nhất hoàn toàn không phải chỉ con rể của hoàng đế. Theo ghi chép trong Hán thư 汉书, “phụ mã” là một chức quan, gọi đầy đủ là “Phụ mã đô uý” 驸马都尉, là phó xa 副车chủ yếu phụ trách việc nắm giữ ngự dụng, thực danh là “Phó mã đô uý” 副马都尉, được thiết lập vào thời Hán Vũ Đế 汉武帝. Lúc đầu, đảm nhiệm chức vụ này đa phần là người trong hoàng thất hoặc ngoại thích, cũng có một số là con em của vương công đại thần, họ đều là quan thị tụng thân cận của hoàng đế. Theo sử liệu ghi chép, việc đãi ngộ chức quan này là không bạc, bổng lộc 2000 thạch.
              “Phụ mã” (phò mã) được xem là danh từ chuyên dùng để chỉ con rể của hoàng đế là bắt đầu vào thời Nguỵ Tấn. Tương truyền Huyền học gia Hà Án 何晏thời Nguỵ Tấn dung mạo tuấn mĩ, Nguỵ Văn Đế hứa gả công chúa Kim Hương 金乡 cho Hà Án, đồng thời trao chức “Phó mã đô uý” 副马都尉. Thế là các hoàng đế sau thời Nguỵ Tấn, đa phần đều phong cho chàng rể cưới công chúa là “Phó mã đô uý”. Qua một thời gian dài, mọi người cảm thấy dùng “phó mã” để chỉ thay chồng của công chúa là không thích hợp lắm, cho nên, bèn đem từ “phó mã” 副马 đổi thành “phụ mã” 驸马. Theo sự thay đổi của danh xưng, ý nghĩa chức quan của “phụ mã” đã nhạt dần. Như rể của Tấn Tuyên Đế 晋宣帝và Tấn Văn Đế 晋文帝tuy là “Phụ mã đô uý”, nhưng chỉ là cách xưng hô, không có chức vị thực tế. Về sau, mọi người cũng quen gọi chồng của công chúa là “phụ mã” (phò mã).
              Trừ xưng vị “phụ mã” 驸马 (phò mã) ra, người xưa còn gọi chồng của công chúa là “đế tế” 帝婿, “chủ tế” 主婿, “quốc tế” 国婿. Ngoài ra, “phụ mã” (phò mã) còn có biệt xưng, nói biệt xưng này phải bắt đầu từ Huyền học gia Hà Án. Theo truyền thuyết, Hà Án không chỉ dung mạo tuấn mĩ, mà còn có một khuôn mặt trắng như con gái. Nguỵ Văn Đế vốn tưởng Hà Án dồi phấn để gạt hoàng thất, nên dùng kế để thử. Kết quả, Hà Án lấy tay áo chùi mặt nhưng mặt vẫn trắng không thay đổi, thế là mọi người nhân mặt của Hà Án trằng như dồi phấn nên gọi anh ta là “phấn hầu” 粉侯. Về sau danh xưng này cũng được dùng để chỉ chồng của công chúa. Đến triều Thanh, chồng của công chúa được có thêm phong hiệu “ngạch phụ” 额驸, chồng của công chúa do hoàng hậu sinh ra là “Cố luân ngạch phụ” 固伦额驸, chồng của công chúa do phi tần sinh ra là “Hoà thạc ngạch phụ” 和硕额驸.

                                                                   Huỳnh Chương Hưng
                                                                   Quy Nhơn 15/5/2019

    Nguyên tác Trung văn
    Trong quyển
    THÚ VỊ VĂN HOÁ TRI THỨC ĐẠI TOÀN
    趣味文化知识大全
    Thanh Thạch 青石 biên soạn
    Trung Quốc Hoa kiều xuất bản xã, 2013

    Thứ Ba, 14 tháng 5, 2019

    BÍ ẨN VỀ VIỆC TỊ HUÝ CỦA NGƯỜI XƯA

              Thời xưa có một người tên là Giả Lương Thần 贾良臣, tên của ông ta người trong nhà đặc biệt kị huý, một chữ cũng không được nói. Con của ông ta rất nghe lời. Ngày nọ, thằng con đọc Mạnh tử 孟子, đến câu:
    Kim chi sở vị lương thần, cổ chi sở vị dân tặc dã.
    今之所谓良臣, 古之所谓民贼
    (Nay gọi là bề tôi trung thành, thì xưa gọi là giặc của dân)
    Nó lớn tiếng đọc thành:
    Kim chi sở vị đa đa, cổ chi sở vị dân tặc dã.
    今之所谓爹爹, 古之所谓民贼
    (Nay gọi là cha, thì xưa gọi là giặc của dân)
    Giả Lương Thần nghe qua suýt ngất. Đây chỉ là chuyện cười mà thôi, nhưng vào thời cổ những chuyện cười như thế rất nhiều, như:
    Chỉ hứa châu quan phóng hoả, bất chuẩn bách tính điểm đăng
    只许州官放火, 不准百姓点灯
    (Cho quan của châu phóng hoả, không cho bách tính thắp đèn)
    Đây cũng là câu chuyện cười về việc tị huý của người xưa. Thế thì, việc tị huý của người xưa rốt cuộc là giống như những chuyện cười kia không?
              Sự thực, trong xã hội phong kiến cổ đại Trung Quốc, “tị huý” được xem là chế độ của chế độ tông pháp, là sản vật về quan niệm đẳng cấp tôn ti quý tiện, ảnh hưởng của nó rất lớn. Tị huý là một loại chế độ xã hội, là nguyên tắc mà người xưa cần phải tuân thủ, nói một cách cụ thể chính là mọi người trong cuộc sống thường ngày đặc biệt là trong văn thư giấy tờ qua lại, gặp phải tên của vị đế vương đương đại, tên của thánh nhân hoặc tên của tổ tiên của bản thân người đó, đều cần phải hồi tị. Cũng chính là không thể trực tiếp xưng hô tên của hoàng đế, tên của thánh nhân hoặc của các bậc tôn trưởng, nếu không sẽ chịu sự trựng phạt vô cùng nghiêm khắc, thậm chí mất đầu, đó chính là tị huý.
              Về thời gian bắt đầu của tập tục tị huý, trước mắt có 3 ý kiến:
    1- Bắt đầu từ thời Hạ Thương, Tiền Hi Ngôn 钱希言 trong Hí hà 戏瑕có viết:
              Án “Sơn hải kinh” hữu Hạ Hậu Khai, cái huý Khải danh. Huý sở dĩ do thuỷ hĩ.
              山海经有夏后开, 盖讳启名. 讳所以由始矣.
              (Theo “Sơn hải kinh” có Hạ Hậu Khai, huý tên Khải. Cho nên tục tị huý bắt đầu từ đó)
    2- Bắt đầu từ đời Chu. Trong Vinh Trai tuỳ bút 荣斋随笔có ghi:
              Đế vương huý danh, tự Chu thế thuỷ hữu thử chế.
              帝王讳名, 自周世始有此制,
              (Tị huý tên đế vương, từ đời Chu bắt đầu có chế độ này.)
    3- Bắt đầu từ thời Xuân Thu. Trong Công Dương truyện - Mẫn Công nguyên niên 公羊传 - 闵公元年 có ghi:
              Xuân Thu vi tôn giả huý, vi thân giả huý, vi hiền giả huý.
              春秋为尊者讳, 为亲者讳, 为贤者讳.
              (Thời Xuân Thu huý bậc tôn trưởng, huỷ người thân, huý người hiền.)
              Đề xuất nguyên tắc tị huý trong xã hội tông pháp phong kiến, dưới sự chỉ đạo của nguyên tắc này, dần hình thành chế độ và hệ thống tị huý. Phàm ai ngược lại với chế độ này sẽ bị trừng phạt. Trong Đường luật sớ nghị 唐律疏议 quy định, cố ý vi phạm là “đại bất kính” 大不敬 tức tội mà ‘thập ác bất xá” 十恶不赦. Đời Tống là thời kì đỉnh thịnh của tị huý, đời Nguyên có giảm chút ít, đời Thanh lại đẩy tị huý lên đến cực điểm. Trong khoa cử khảo thí đời Tống, khảo sinh nếu có lỡ thất huý thì sẽ bị khiển trách đánh rớt, cắt đứt tiền đồ; đời Thanh việc cấm kị càng mở rộng, thường lấy việc phạm kị làm lí do, đại hưng “văn tự ngục” 文字狱, nhân đó, “tị huý” phát triển đến chỗ cực cao.
              Biện pháp tị huý của người xưa rất nhiều, đại để có thể phân làm 5 biện pháp: để trống, viết khuyết bút, đổi chữ, đổi cách đọc và thay cách nói. Do bởi nhu cầu của tị huý, trong thư tịch cổ đại rất nhiều nhân danh, địa danh, quan danh bị thay đổi một cách vô lí, gây ra ảnh hưởng nhất định cho việc nghiên cứu lịch sử của chúng ta, nhưng đồng thời tị huý cũng được xem là một hiện tượng lịch sử, lại có đặc trưng thời đại rõ ràng, giúp chúng ta phán đoán được thời đại của sử liệu, xác định được tính chân nguỵ của thư tịch cổ đại.
              Việc tị huý của người xưa ở Trung Quốc là một hiện tượng độc nhất vô nhị trên thế giới, bị người đời chê cười, nhưng câu chuyện “châu quan phóng hoả” lại là sự tái diễn không ngừng hình thức của nó trong xã hội hiện thực, chỉ chẳng qua là từ chuyện cười nó biến thành bi kịch xã hội. Chúng ta tin rằng trong tương lai không xa nó vĩnh viễn sẽ trở thành lịch sử.

    Chú của người dịch
    I- Lục Du 陆游 đời Tống trong Lão Học Am bút kí 老学庵笔记 quyển 5 có chép câu chuyện như sau:
              Điền Đăng tác quận, tự huý kì danh, xúc giả tất nộ, lại tốt đa bị bảng si. Vu thị cử châu giai vị đăng vi hoả. Thượng nguyên phóng hoả nhân nhập châu trị du quan, lại nhân toại thư bảng yết vu thị viết: ‘Bản châu y lệ phóng hoả tam nhật.’
              田灯作郡, 自讳其名, 触者必怒, 吏卒多被榜笞. 于是举州皆谓登为火. 上元放火人入州治游观, 吏人遂书榜谒于市曰: ‘只本州依例放火三日’.
              (Điền Đăng là trưởng quan của châu, tự huý tên của mình, người nào phạm phải huý, ông ta sẽ giận, nhiều lại tốt vì phạm huý mà bị phạt đánh bằng gậy. Thế là cả châu đều nói “đăng” là “hoả”. Tiết Thượng nguyên có tục thả hoa đăng, người người đến châu xem hoa đăng thưởng ngoạn, tên lại bèn yết bảng nơi chợ viết rằng: ‘Bản châu theo lệ “phóng hoả” ba ngày’.
              Tên “Đăng” của viên quan đồng âm với chữ “đăng” là đèn.
    “Phóng hoả” 放火 là “đốt” (nhà cửa, cây cối), “điểm đăng” 点灯 là thắp đèn.
              Về sau người ta dùng “Chỉ hứa châu quan phóng hoả, bất chuẩn bách tính điểm đăng” để hình dung kẻ thống trị ngang ngược làm bậy, còn nhân dân làm những việc chính đáng thì bị hạn chế. Cũng phiếm chỉ bản thân tự ý làm những việc mình muốn, mà lại yêu cầu nghiêm khắc người khác hoặc không cho phép người khác có được quyền lợi chính đáng.

    II- Thập ác bất xá 十恶不赦:
    Thập ác là 10 tội trạng nặng nhất. Trong pháp luật Bắc Chu, Bắc Tề đã liệt kê danh mục “thập điều” 十条 (10 điều) trọng tội, trong pháp luật thời Tuỳ bắt đầu có tên gọi “thập ác” 十恶. Nội dung “thập ác” trong Đường luật 唐律 là:
    1- Mưu phản 谋反: phạm tội dự mưu cùng thực thi lật đổ sự thống trị của đế vương, bao gồm việc nguy hại đến nhân thân hoàng đế.
    2- Mưu đại nghịch 谋大逆: (nghịch : bội phản, phản nghịch) phạm tội dự mưu cùng thực thi huỷ hoại tông miếu vương thất, lăng mộ và cung điện.
    3- Mưu bạn 谋叛: phạm tội dự mưu cùng thực thi phản bội lại triều đình, đầu hàng ngoại quốc hoặc chính quyền khác.
    4- Ác nghịch 恶逆: đánh hoặc mưu sát ông bà nội, cha mẹ, giết bác trai bác gái, cô, anh, chị, ông bà ngoại, chồng cùng ông bà nội hoặc cha mẹ của chồng.
    5- Đại bất kính 大不敬: hành vi xâm phạm đến quyền uy tôn nghiêm của hoàng đế, uy hiếp sự an toàn nhân thân hoàng đế. Trong pháp luật thời Tống gọi là “đại bất cung” 大不恭.
    6- Bất đạo 不道: phạm tội giết chết 3 người vô tội của một nhà hoặc 3 người trở lên, chặt thi thể người bị giết; nuôi trùng độc hoặc phối chế thuốc độc để hại người; dùng pháp thuật tà ác khiến người bị mắc tai bệnh hoặc chết.
    7- Bất hiếu 不孝: phạm tội tố cáo hoặc chửi mắng ông bà nội, cha mẹ; khi ông bà nội, cha mẹ còn sống ra ở riêng hoặc cung dưỡng không đủ. Thời Minh Thanh, luật tăng thêm “ông bà nội, cha mẹ của chồng”.
    8- Bất mục 不睦: (mục : hoà thuận, gần gũi) phạm tội với thân tộc, như phạm tội mưu sát hại và bán đứng thân thuộc, đánh nhau hoặc tố cáo chồng, bậc tôn trưởng, thân thuộc.
    9- Bất nghĩa 不义: hạ thuộc (cấp dưới) giết chủ phủ của bản thuộc, thứ sử, huyện lệnh, thầy dạy; lại viên giết trưởng quan từ ngũ phẩm trở lên của bản bộ, chồng chết liền cải giá.
    10- Nội loạn 内乱: (nội : nội bộ, gia tộc nội loạn; loạn : nam nữ quan hệ không chính đáng, dâm loạn) hành vi dâm loạn trong gia tộc, như cưỡng gian thân thuộc hoặc thiếp của cha, của ông nội.
              Quy định về “thập ác” các đời noi theo. “Thập ác” không có khoan xá, nhân đó lời tục có câu: “thập ác bất xá” 十恶不赦.
              (Nguồn: “Trung Quốc cổ đại văn hoá thường thức” 中国古代文化常识
    Biên soạn: Thiệu Sĩ Mai 邵士梅,Đào Tịch Giai 陶夕佳,Tưởng Tiểu Ba 蒋筱波. Tam Xuân xuất bản xã, 2008)
                                                                            Huỳnh Chương Hưng
                                                                            Quy Nhơn 14/5/2019

    Nguyên tác Trung văn
    CỔ NHÂN TỊ HUÝ CHI MÊ
     古人避讳之谜
    Tác giả: Từ Quốc Cầm 徐国琴
    Trong quyển
    TRUNG QUỐC LỊCH SỬ CHI MÊ
    中国历史之谜
    Chủ biên: Lí Quảng Sinh 李广生
    Thiên Tân: Bách hoa văn nghệ xuất bản xã, 2001

    Dịch thuật: Bí ẩn về việc tị huý của người xưa

    Đăng lúc  22:16  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    BÍ ẨN VỀ VIỆC TỊ HUÝ CỦA NGƯỜI XƯA

              Thời xưa có một người tên là Giả Lương Thần 贾良臣, tên của ông ta người trong nhà đặc biệt kị huý, một chữ cũng không được nói. Con của ông ta rất nghe lời. Ngày nọ, thằng con đọc Mạnh tử 孟子, đến câu:
    Kim chi sở vị lương thần, cổ chi sở vị dân tặc dã.
    今之所谓良臣, 古之所谓民贼
    (Nay gọi là bề tôi trung thành, thì xưa gọi là giặc của dân)
    Nó lớn tiếng đọc thành:
    Kim chi sở vị đa đa, cổ chi sở vị dân tặc dã.
    今之所谓爹爹, 古之所谓民贼
    (Nay gọi là cha, thì xưa gọi là giặc của dân)
    Giả Lương Thần nghe qua suýt ngất. Đây chỉ là chuyện cười mà thôi, nhưng vào thời cổ những chuyện cười như thế rất nhiều, như:
    Chỉ hứa châu quan phóng hoả, bất chuẩn bách tính điểm đăng
    只许州官放火, 不准百姓点灯
    (Cho quan của châu phóng hoả, không cho bách tính thắp đèn)
    Đây cũng là câu chuyện cười về việc tị huý của người xưa. Thế thì, việc tị huý của người xưa rốt cuộc là giống như những chuyện cười kia không?
              Sự thực, trong xã hội phong kiến cổ đại Trung Quốc, “tị huý” được xem là chế độ của chế độ tông pháp, là sản vật về quan niệm đẳng cấp tôn ti quý tiện, ảnh hưởng của nó rất lớn. Tị huý là một loại chế độ xã hội, là nguyên tắc mà người xưa cần phải tuân thủ, nói một cách cụ thể chính là mọi người trong cuộc sống thường ngày đặc biệt là trong văn thư giấy tờ qua lại, gặp phải tên của vị đế vương đương đại, tên của thánh nhân hoặc tên của tổ tiên của bản thân người đó, đều cần phải hồi tị. Cũng chính là không thể trực tiếp xưng hô tên của hoàng đế, tên của thánh nhân hoặc của các bậc tôn trưởng, nếu không sẽ chịu sự trựng phạt vô cùng nghiêm khắc, thậm chí mất đầu, đó chính là tị huý.
              Về thời gian bắt đầu của tập tục tị huý, trước mắt có 3 ý kiến:
    1- Bắt đầu từ thời Hạ Thương, Tiền Hi Ngôn 钱希言 trong Hí hà 戏瑕có viết:
              Án “Sơn hải kinh” hữu Hạ Hậu Khai, cái huý Khải danh. Huý sở dĩ do thuỷ hĩ.
              山海经有夏后开, 盖讳启名. 讳所以由始矣.
              (Theo “Sơn hải kinh” có Hạ Hậu Khai, huý tên Khải. Cho nên tục tị huý bắt đầu từ đó)
    2- Bắt đầu từ đời Chu. Trong Vinh Trai tuỳ bút 荣斋随笔có ghi:
              Đế vương huý danh, tự Chu thế thuỷ hữu thử chế.
              帝王讳名, 自周世始有此制,
              (Tị huý tên đế vương, từ đời Chu bắt đầu có chế độ này.)
    3- Bắt đầu từ thời Xuân Thu. Trong Công Dương truyện - Mẫn Công nguyên niên 公羊传 - 闵公元年 có ghi:
              Xuân Thu vi tôn giả huý, vi thân giả huý, vi hiền giả huý.
              春秋为尊者讳, 为亲者讳, 为贤者讳.
              (Thời Xuân Thu huý bậc tôn trưởng, huỷ người thân, huý người hiền.)
              Đề xuất nguyên tắc tị huý trong xã hội tông pháp phong kiến, dưới sự chỉ đạo của nguyên tắc này, dần hình thành chế độ và hệ thống tị huý. Phàm ai ngược lại với chế độ này sẽ bị trừng phạt. Trong Đường luật sớ nghị 唐律疏议 quy định, cố ý vi phạm là “đại bất kính” 大不敬 tức tội mà ‘thập ác bất xá” 十恶不赦. Đời Tống là thời kì đỉnh thịnh của tị huý, đời Nguyên có giảm chút ít, đời Thanh lại đẩy tị huý lên đến cực điểm. Trong khoa cử khảo thí đời Tống, khảo sinh nếu có lỡ thất huý thì sẽ bị khiển trách đánh rớt, cắt đứt tiền đồ; đời Thanh việc cấm kị càng mở rộng, thường lấy việc phạm kị làm lí do, đại hưng “văn tự ngục” 文字狱, nhân đó, “tị huý” phát triển đến chỗ cực cao.
              Biện pháp tị huý của người xưa rất nhiều, đại để có thể phân làm 5 biện pháp: để trống, viết khuyết bút, đổi chữ, đổi cách đọc và thay cách nói. Do bởi nhu cầu của tị huý, trong thư tịch cổ đại rất nhiều nhân danh, địa danh, quan danh bị thay đổi một cách vô lí, gây ra ảnh hưởng nhất định cho việc nghiên cứu lịch sử của chúng ta, nhưng đồng thời tị huý cũng được xem là một hiện tượng lịch sử, lại có đặc trưng thời đại rõ ràng, giúp chúng ta phán đoán được thời đại của sử liệu, xác định được tính chân nguỵ của thư tịch cổ đại.
              Việc tị huý của người xưa ở Trung Quốc là một hiện tượng độc nhất vô nhị trên thế giới, bị người đời chê cười, nhưng câu chuyện “châu quan phóng hoả” lại là sự tái diễn không ngừng hình thức của nó trong xã hội hiện thực, chỉ chẳng qua là từ chuyện cười nó biến thành bi kịch xã hội. Chúng ta tin rằng trong tương lai không xa nó vĩnh viễn sẽ trở thành lịch sử.

    Chú của người dịch
    I- Lục Du 陆游 đời Tống trong Lão Học Am bút kí 老学庵笔记 quyển 5 có chép câu chuyện như sau:
              Điền Đăng tác quận, tự huý kì danh, xúc giả tất nộ, lại tốt đa bị bảng si. Vu thị cử châu giai vị đăng vi hoả. Thượng nguyên phóng hoả nhân nhập châu trị du quan, lại nhân toại thư bảng yết vu thị viết: ‘Bản châu y lệ phóng hoả tam nhật.’
              田灯作郡, 自讳其名, 触者必怒, 吏卒多被榜笞. 于是举州皆谓登为火. 上元放火人入州治游观, 吏人遂书榜谒于市曰: ‘只本州依例放火三日’.
              (Điền Đăng là trưởng quan của châu, tự huý tên của mình, người nào phạm phải huý, ông ta sẽ giận, nhiều lại tốt vì phạm huý mà bị phạt đánh bằng gậy. Thế là cả châu đều nói “đăng” là “hoả”. Tiết Thượng nguyên có tục thả hoa đăng, người người đến châu xem hoa đăng thưởng ngoạn, tên lại bèn yết bảng nơi chợ viết rằng: ‘Bản châu theo lệ “phóng hoả” ba ngày’.
              Tên “Đăng” của viên quan đồng âm với chữ “đăng” là đèn.
    “Phóng hoả” 放火 là “đốt” (nhà cửa, cây cối), “điểm đăng” 点灯 là thắp đèn.
              Về sau người ta dùng “Chỉ hứa châu quan phóng hoả, bất chuẩn bách tính điểm đăng” để hình dung kẻ thống trị ngang ngược làm bậy, còn nhân dân làm những việc chính đáng thì bị hạn chế. Cũng phiếm chỉ bản thân tự ý làm những việc mình muốn, mà lại yêu cầu nghiêm khắc người khác hoặc không cho phép người khác có được quyền lợi chính đáng.

    II- Thập ác bất xá 十恶不赦:
    Thập ác là 10 tội trạng nặng nhất. Trong pháp luật Bắc Chu, Bắc Tề đã liệt kê danh mục “thập điều” 十条 (10 điều) trọng tội, trong pháp luật thời Tuỳ bắt đầu có tên gọi “thập ác” 十恶. Nội dung “thập ác” trong Đường luật 唐律 là:
    1- Mưu phản 谋反: phạm tội dự mưu cùng thực thi lật đổ sự thống trị của đế vương, bao gồm việc nguy hại đến nhân thân hoàng đế.
    2- Mưu đại nghịch 谋大逆: (nghịch : bội phản, phản nghịch) phạm tội dự mưu cùng thực thi huỷ hoại tông miếu vương thất, lăng mộ và cung điện.
    3- Mưu bạn 谋叛: phạm tội dự mưu cùng thực thi phản bội lại triều đình, đầu hàng ngoại quốc hoặc chính quyền khác.
    4- Ác nghịch 恶逆: đánh hoặc mưu sát ông bà nội, cha mẹ, giết bác trai bác gái, cô, anh, chị, ông bà ngoại, chồng cùng ông bà nội hoặc cha mẹ của chồng.
    5- Đại bất kính 大不敬: hành vi xâm phạm đến quyền uy tôn nghiêm của hoàng đế, uy hiếp sự an toàn nhân thân hoàng đế. Trong pháp luật thời Tống gọi là “đại bất cung” 大不恭.
    6- Bất đạo 不道: phạm tội giết chết 3 người vô tội của một nhà hoặc 3 người trở lên, chặt thi thể người bị giết; nuôi trùng độc hoặc phối chế thuốc độc để hại người; dùng pháp thuật tà ác khiến người bị mắc tai bệnh hoặc chết.
    7- Bất hiếu 不孝: phạm tội tố cáo hoặc chửi mắng ông bà nội, cha mẹ; khi ông bà nội, cha mẹ còn sống ra ở riêng hoặc cung dưỡng không đủ. Thời Minh Thanh, luật tăng thêm “ông bà nội, cha mẹ của chồng”.
    8- Bất mục 不睦: (mục : hoà thuận, gần gũi) phạm tội với thân tộc, như phạm tội mưu sát hại và bán đứng thân thuộc, đánh nhau hoặc tố cáo chồng, bậc tôn trưởng, thân thuộc.
    9- Bất nghĩa 不义: hạ thuộc (cấp dưới) giết chủ phủ của bản thuộc, thứ sử, huyện lệnh, thầy dạy; lại viên giết trưởng quan từ ngũ phẩm trở lên của bản bộ, chồng chết liền cải giá.
    10- Nội loạn 内乱: (nội : nội bộ, gia tộc nội loạn; loạn : nam nữ quan hệ không chính đáng, dâm loạn) hành vi dâm loạn trong gia tộc, như cưỡng gian thân thuộc hoặc thiếp của cha, của ông nội.
              Quy định về “thập ác” các đời noi theo. “Thập ác” không có khoan xá, nhân đó lời tục có câu: “thập ác bất xá” 十恶不赦.
              (Nguồn: “Trung Quốc cổ đại văn hoá thường thức” 中国古代文化常识
    Biên soạn: Thiệu Sĩ Mai 邵士梅,Đào Tịch Giai 陶夕佳,Tưởng Tiểu Ba 蒋筱波. Tam Xuân xuất bản xã, 2008)
                                                                            Huỳnh Chương Hưng
                                                                            Quy Nhơn 14/5/2019

    Nguyên tác Trung văn
    CỔ NHÂN TỊ HUÝ CHI MÊ
     古人避讳之谜
    Tác giả: Từ Quốc Cầm 徐国琴
    Trong quyển
    TRUNG QUỐC LỊCH SỬ CHI MÊ
    中国历史之谜
    Chủ biên: Lí Quảng Sinh 李广生
    Thiên Tân: Bách hoa văn nghệ xuất bản xã, 2001

    Thứ Hai, 13 tháng 5, 2019

    HIỆU LỆNH NHƯ SƠN
    号令如山

    Giải thích: hiệu lệnh phát ra uy nghiêm như núi, không thể thay đổi.
    Xuất xứ: Nguyên . Thoát Thoát đẳng 脱脱等: Tống sử - Nhạc Phi truyện 宋史 - 岳飞传

              Nhạc Phi 岳飞 từng theo Chu Đồng 周侗 học bắn tên, do bởi khắc khổ luyện tập, nên bắn trăm phát trăm trúng. Nhạc Phi học trận đồ tác chiến với Tông Trạch 宗泽, ham học ham hỏi, cuối cùng nổi trội hơn cả thầy. Nhạc Phi lúc tác chiến dũng cảm mưu trí, quân địch nghe đến “Nhạc gia quân” 岳家军là khiếp đảm bỏ chạy.
              Nhưng, nguyên nhân quan trọng mà khiến cho quân địch táng đởm kinh tâm đó là hiệu lệnh mà Nhạc Phi dẫn quân rất nghiêm minh. Sau khi Tông Trạch qua đời, tướng lĩnh Nam Tống là Đỗ Sung 杜充 tiếp nhận chức vụ đã đầu hàng, các bộ tướng để cho bộ hạ tự do cướp đoạt. Lúc bấy giờ Nhạc Phi cũng là bộ hạ của Đỗ Sung, chỉ có quân đội của Nhạc Phi không hề tơ hào xâm phạm đối với bách tính. Các tướng sĩ của Nhạc Phi thà chịu đói chịu khát chứ không dám quấy nhiễu dân. Nhân đó bách tính khen ngợi Nhạc gia quân là:
    Đống tử bất sách ốc, ngạ tử bất lỗ lược.
    冻死不拆屋, 饿死不掳掠
    (Thà chết rét chứ không dỡ nhà của dân để lấy củi đốt sưởi ấm; thà chết đói chứ không cướp lương thực của dân để ăn)
              Nhạc Phi đối với hoàng đế vô cùng trung thành. Năm Thiệu Hưng 绍兴thứ 5 (niên hiệu của Tống Cao Tông Triệu Cấu 宋高宗赵构), Nhạc Phi phụng chỉ chinh tiễu cuộc khởi nghĩa nông dân của Dương Yêu 杨么, bộ hạ Dương Yêu là Hoàng Tá 黄佐 nói với thuộc hạ rằng:
              - Nhạc Tiết độ (đương thời Nhạc Phi nhậm chức Tiết độ sứ lộ Tương Dương 襄阳nam bắc Kinh Hồ 荆湖) hiệu lệnh như sơn, nếu chúng ta đối địch với ông ấy, thì không còn đường sống, chi bắng đầu hàng.
              Thế là dẫn thuộc hạ đầu hàng.
             
                                                          Huỳnh Chương Hưng
                                                Quy Nhơn 13/5/2019

    Nguyên tác Trung văn
    HIỆU LỆNH NHƯ SƠN
    号令如山
    TRUNG QUỐC THÀNH NGỮ CỐ SỰ TỔNG TẬP
    中国成语故事总集
    (tập 1)
    Chủ biên: Đường Kì 唐麒
    Trường Xuân – Thời đại văn nghệ xuất bản xã, 2004

    Dịch thuật: Hiệu lệnh như sơn (thành ngữ)

    Đăng lúc  21:28  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    HIỆU LỆNH NHƯ SƠN
    号令如山

    Giải thích: hiệu lệnh phát ra uy nghiêm như núi, không thể thay đổi.
    Xuất xứ: Nguyên . Thoát Thoát đẳng 脱脱等: Tống sử - Nhạc Phi truyện 宋史 - 岳飞传

              Nhạc Phi 岳飞 từng theo Chu Đồng 周侗 học bắn tên, do bởi khắc khổ luyện tập, nên bắn trăm phát trăm trúng. Nhạc Phi học trận đồ tác chiến với Tông Trạch 宗泽, ham học ham hỏi, cuối cùng nổi trội hơn cả thầy. Nhạc Phi lúc tác chiến dũng cảm mưu trí, quân địch nghe đến “Nhạc gia quân” 岳家军là khiếp đảm bỏ chạy.
              Nhưng, nguyên nhân quan trọng mà khiến cho quân địch táng đởm kinh tâm đó là hiệu lệnh mà Nhạc Phi dẫn quân rất nghiêm minh. Sau khi Tông Trạch qua đời, tướng lĩnh Nam Tống là Đỗ Sung 杜充 tiếp nhận chức vụ đã đầu hàng, các bộ tướng để cho bộ hạ tự do cướp đoạt. Lúc bấy giờ Nhạc Phi cũng là bộ hạ của Đỗ Sung, chỉ có quân đội của Nhạc Phi không hề tơ hào xâm phạm đối với bách tính. Các tướng sĩ của Nhạc Phi thà chịu đói chịu khát chứ không dám quấy nhiễu dân. Nhân đó bách tính khen ngợi Nhạc gia quân là:
    Đống tử bất sách ốc, ngạ tử bất lỗ lược.
    冻死不拆屋, 饿死不掳掠
    (Thà chết rét chứ không dỡ nhà của dân để lấy củi đốt sưởi ấm; thà chết đói chứ không cướp lương thực của dân để ăn)
              Nhạc Phi đối với hoàng đế vô cùng trung thành. Năm Thiệu Hưng 绍兴thứ 5 (niên hiệu của Tống Cao Tông Triệu Cấu 宋高宗赵构), Nhạc Phi phụng chỉ chinh tiễu cuộc khởi nghĩa nông dân của Dương Yêu 杨么, bộ hạ Dương Yêu là Hoàng Tá 黄佐 nói với thuộc hạ rằng:
              - Nhạc Tiết độ (đương thời Nhạc Phi nhậm chức Tiết độ sứ lộ Tương Dương 襄阳nam bắc Kinh Hồ 荆湖) hiệu lệnh như sơn, nếu chúng ta đối địch với ông ấy, thì không còn đường sống, chi bắng đầu hàng.
              Thế là dẫn thuộc hạ đầu hàng.
             
                                                          Huỳnh Chương Hưng
                                                Quy Nhơn 13/5/2019

    Nguyên tác Trung văn
    HIỆU LỆNH NHƯ SƠN
    号令如山
    TRUNG QUỐC THÀNH NGỮ CỐ SỰ TỔNG TẬP
    中国成语故事总集
    (tập 1)
    Chủ biên: Đường Kì 唐麒
    Trường Xuân – Thời đại văn nghệ xuất bản xã, 2004

    Mã nguồn bởi Huỳnh Chương Hưng
    Copyright © 2012 Huỳnh Chương Hưng.
    back to top