• Chủ Nhật, 5 tháng 4, 2020


    KHÚC ĐÂU HÁN SỞ CHIẾN TRƯỜNG (473)
              Hán Sở chiến trường: Ý nói cảnh giao tranh giữa quân đội của Lưu Bang và Hạng Vũ.
              Sở và Hán ở đây chỉ Tây Sở Bá Vương Hạng Vũ 西楚霸王項羽 với Hán Vương Lưu Bang 漢王劉邦, hai tập đoàn lớn vì tranh đoạt chính quyền mà tiến hành trận chiến đại quy mô.
              Trận chiến này gọi là Sở Hán chi tranh 楚漢之爭, cùng còn gọi là Sở Hán chiến tranh楚漢戰爭, Sở Hán tranh bá楚漢爭霸, Sở Hán tương tranh楚漢相爭, Sở Hán chi chiến楚漢之戰, từ năm 206 đến năm 202 trước công nguyên. Cuối cùng Hạng Vũ bại vong, Lưu Bang kiến lập vương triều Tây Hán.
             
    Khúc đâu Hán Sở chiến trường
    Nghe ra tiếng sắt tiếng vàng chen nhau
    (“Truyện Kiều” 473 – 474)
    Hán Sở chiến trường: Khúc nhạc biểu hiện cảnh giao chiến giữa Hán và Sở, tức là giữa Hán Cao Tổ và Hạng Vũ tranh nhau làm chủ Trung Quốc sau khi nhà Tần đã sụp đổ.
    (Đào Duy Anh: “Từ điển Truyện Kiều”, nxb Khoa học xã hội, Hà Nội – 1989)

    Xét:
    - Bản Duy Minh Thị 1872” do GS Nguyễn Tài Cẩn phiên Nôm, câu 473 là:
    Khúc đâu  SỞ HÁN chiến trường
                                                         (Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2002

                                                          Huỳnh Chương Hưng
                                                          Quy Nhơn 05/4/2020

    Dịch thuật: Khúc đâu Hán Sở chiến trường (473) ("Truyện Kiều")

    Đăng lúc  12:05  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »


    KHÚC ĐÂU HÁN SỞ CHIẾN TRƯỜNG (473)
              Hán Sở chiến trường: Ý nói cảnh giao tranh giữa quân đội của Lưu Bang và Hạng Vũ.
              Sở và Hán ở đây chỉ Tây Sở Bá Vương Hạng Vũ 西楚霸王項羽 với Hán Vương Lưu Bang 漢王劉邦, hai tập đoàn lớn vì tranh đoạt chính quyền mà tiến hành trận chiến đại quy mô.
              Trận chiến này gọi là Sở Hán chi tranh 楚漢之爭, cùng còn gọi là Sở Hán chiến tranh楚漢戰爭, Sở Hán tranh bá楚漢爭霸, Sở Hán tương tranh楚漢相爭, Sở Hán chi chiến楚漢之戰, từ năm 206 đến năm 202 trước công nguyên. Cuối cùng Hạng Vũ bại vong, Lưu Bang kiến lập vương triều Tây Hán.
             
    Khúc đâu Hán Sở chiến trường
    Nghe ra tiếng sắt tiếng vàng chen nhau
    (“Truyện Kiều” 473 – 474)
    Hán Sở chiến trường: Khúc nhạc biểu hiện cảnh giao chiến giữa Hán và Sở, tức là giữa Hán Cao Tổ và Hạng Vũ tranh nhau làm chủ Trung Quốc sau khi nhà Tần đã sụp đổ.
    (Đào Duy Anh: “Từ điển Truyện Kiều”, nxb Khoa học xã hội, Hà Nội – 1989)

    Xét:
    - Bản Duy Minh Thị 1872” do GS Nguyễn Tài Cẩn phiên Nôm, câu 473 là:
    Khúc đâu  SỞ HÁN chiến trường
                                                         (Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2002

                                                          Huỳnh Chương Hưng
                                                          Quy Nhơn 05/4/2020

    Thứ Bảy, 4 tháng 4, 2020

    THANH MINH TIẾT

    Tiết nhật truyền thống của Trung Quốc
              Thanh minh tiết 清明节 cũng gọi là “Đạp thanh tiết” 踏青节, “Hành thanh tiết” 行清节, “Tam nguyệt tiết” 三月节, Tế tổ tiết” 祭祖节, tiết kì giao thời  khoảng vào giữa xuân với cuối xuân. Thanh minh tiết bắt nguồn từ tín ngưỡng tổ tiên với lễ tục tế xuân thời thượng cổ, gồm hai nội hàm lớn là tự nhiên và nhân văn, vừa là điểm tiết khí của tự nhiên, cũng là tiết nhật truyền thống. Tảo mộ tế tổ với đạp thanh vui chơi là chủ đề hai đại lễ tục của Thanh minh tiết, chủ đề hai lễ tục truyền thống này từ thời cổ tại Trung Quốc đã có sự truyền thừa đến nay không gián đoạn.
              Thanh minh tiết là tiết nhật cổ xưa của dân tộc Trung Hoa, vừa là tiết nhật nghiêm túc cung kính tảo mộ tế tổ, cũng là tiết nhật đạp thanh vui chơi  thân cận với tự nhiên, hưởng thụ mùa xuân. Chuôi sao Đẩu chỉ phương vị Ất là Thanh minh tiết khí, thời gian giao tiết trước sau ngày 4 ngày 5 dương lịch. Thời tiết lúc này sinh khí thịnh vượng, âm khí thoái lui, vạn vật nhả khí cũ hấp thu khí mới, khắp mặt đất thể hiện cảnh tượng sáng trong, là lúc thích hợp để ra ngoại ô vui chơi đạp thanh và cử hành tảo mộ tế tổ.
              Thanh minh tiết là tiết nhật tế xuân trọng đại truyền thống, tảo mộ cúng tế, tưởng nhớ tổ tiên là truyền thống tốt đẹp từ xưa đến nay của dân tộc Trung Hoa, không chỉ có lợi cho việc hoằng dương đạo hiếu, kêu gọi gia tộc cùng tưởng nhớ mà còn thúc đẩy sức ngưng tụ và tình cảm nhận đồng giữa các thành viên gia tộc cho đến dân tộc. Thanh minh tiết dung hợp tiết khí tự nhiên với phong tục văn nhân thành nhất thể, là sự hợp nhất giữa thiên thời địa lợi và nhân hoà, thể hiện đầy đủ sự truy cầu hài hoà hợp nhất giữa thiên, địa, nhân của tổ tiên dân tộc Trung Hoa, chú trọng tư tưởng thuận ứng thiên thời địa nghi, tuân tuần quy luật tự nhiên.
              Thanh minh tiết清明节 cùng Xuân tiết 春节, Đoan ngọ tiết 端午节, Trung thu tiết 中秋节gọi chung là “Trung Quốc tứ đại truyền thống tiết nhật”.

    Nội hàm văn hoá của Thanh minh tiết
              Thanh minh tiết là đại tiết tế tổ thịnh đại long trọng nhất của dân tộc Trung Hoa, thuộc về tiết nhật truyền thống văn hoá lễ kính tổ tiên, thận chung truy viễn. Thanh minh tiết ngưng tụ tinh thần dân tộc, truyền thừa văn hoá tế tự của văn minh Trung Hoa, bộc lộ tình cảm đạo đức kế chí  thuật sự, mọi người tôn kính tổ tiên. Tảo mộ tức “mộ tế” 墓祭, gọi đó là “tư thời chi kính” 思时之敬  (hết sức thành kính khi tưởng nhớ) đối với tổ tiên. Tế xuân tế thu từ thời cổ đã có. Lịch sử Thanh minh tiết lâu đời, bắt nguồn từ tín ngưỡng tổ tiên và lễ tục tế xuân thời thượng cổ. Căn cứ vào thành quả nghiên cứu của nhân loại học, khảo cổ học, hai tín ngưỡng nguyên thuỷ nhất của nhân loại là tín ngưỡng thiên địa và tín ngưỡng tổ tiên. Theo sự khai quật khảo cổ, tại di chỉ trấn Thanh Đường 青塘 thành phố Anh Đức 英德 tỉnh Quảng Đông 广东 đã phát hiện mộ táng cách nay cả vạn năm, đây là mộ táng với táng thức có niên đại sớm nhất được xác nhận, cho thấy tiên dân thời thượng cổ cả vạn năm trước đã có ý thức về hành vi mộ táng và quan niệm lễ tục. Lễ tục “mộ tế” có nguồn gốc lịch sử lâu đời. “Mộ tế” Thanh minh là sự tổng hợp và thăng hoa của tiết tục mùa xuân truyền thống. Sự chế định lịch pháp can chi thượng cổ cung cấp điều kiện tiên quyết để hình thành tiết nhật. Tín ngưỡng tế tổ và văn hoá tế tự là nhân tố trọng yếu hình thành lễ tục Thanh minh tế tổ. Tiết tục Thanh minh phong phú, quy nạp lại là hai truyền thống đại tiết lệnh: một là lễ kính tổ tiên, thận chung truy viễn, hai là hoạt động vui chơi đạp thanh, thân cận với tự nhiên. Thanh minh tiết không chỉ có chủ đề tế tảo, tưởng nhớ, truy niệm, mà còn có chủ đề vui chơi đạp thanh, thân tâm vui vẻ, lí niệm truyền thống “thiên nhân hợp nhất” trong Thanh minh tiết đã có được sự thể hiện sinh động. Theo sự phát triển của lịch sử, Thanh minh tiết vào thời Đường Tống đã dung hợp tập tục của Hàn thực tiết 寒食节 và Thượng tị tiết 上巳节, trộn lẫn dân tục của các vùng các dân tộc thành nhất thể, có nội hàm văn hoá cực phong phú.

    Truyền thuyết câu chuyện Thanh minh tiết
              Câu chuyện Giới Tử Thôi 介子推 “cát cổ phụng quân” 割股奉君 (cắt thịt đùi của mình dâng lên quốc quân)
              Tương truyền vào thời Xuân Thu, Tấn công tử Trùng Nhĩ 重耳 để tránh bị bức hại mà phải lưu vong ngoài nước. Trên đường lưu vong, đến một nơi vắng vẻ không có một bóng người, vừa mệt vừa đói, không còn sức để đi. Tuỳ thần bên cạnh tìm thức ăn cả buổi mà không có, đương lúc nguy cấp, tuỳ thần Giới Tử Thôi đi đến một nơi vắng, cắt một miếng lớn thịt trên đùi của mình, nấu thành bát canh dâng lên công tử. Trùng Nhĩ dần khôi phục tinh thần. Khi Trùng Nhĩ phát hiện đó là thịt đùi của Giới Tử Thôi đã rơi nước mắt. 19 năm sau, Trùng Nhĩ lên làm quốc quân, đó chính là Tấn n Công 晋文公 trong lịch sử. Sau khi lên ngôi, Văn Công ban thưởng rất hậu cho những công thần trước đây từng lưu vong với mình, mà quên mất Giới Tử Thôi. Rất nhiều người lên tiếng bất bình cho Giới Tử Thôi, khuyên Giới Tử Thôi nên gặp quốc quân để đòi ban thưởng, nhưng Giới Tử Thôi xem thường nhất những kẻ tranh công đòi thưởng. Giới Tử Thôi gói ghém hành trang, lặng lẽ đưa mẹ lên Miên sơn 绵山 ẩn cư. Tấn n Công sau khi nghe nói, vô cùng xấu hổ, đích thân dẫn người đi mời Giới Tử Thôi, nhưng Giới tử Thôi đã bỏ nhà vào Miên sơn. Miên sơn núi cao đường hiểm, cây cối um tùm, tìm hai người quả là không dễ. Có người hiến kế, thiêu đốt ba mặt của Miên sơn, bức Giới tử Thôi phải ra. Lửa lớn cháy khắp Miên sơn nhưng lại không thấy bóng dáng Giới Tử Thôi đâu. Sau khi lửa tắt, mọi người mới phát hiện Giới Tử thôi trên lưng cõng mẹ ngồi chết dưới một gốc cây liễu già. Thấy cảnh tượng đó, Tấn n Công khóc lên. Lúc trang liệm, từ bọng cây phát hiện một bức huyết thư, bên trên viết rằng:
    Cát nhục phụng quân tận đan tâm
    Đản nguyện chủ công thường thanh minh
    割肉奉君尽丹心
    但愿主公常清明
    (Cắt thịt dâng lên quốc quân  thể hiện hết lòng son
    Chỉ mong chúa công luôn sáng suốt)
              Để kỉ niệm Giới Tử Thôi, Tấn n Công hạ lệnh lấy ngày đó định làm “Hàn thực tiết” 寒食节. Năm sau Tấn Văn Công dẫn quần thần lên núi tế bái, phát hiện cây liễu già đã chết giờ sống lại, bèn ban tên cho cây liễu  là “Thanh minh liễu” 清明柳, đồng thời hiểu dụ khắp thiên hạ, thế là lại đem một ngày sau Hàn thực tiết định làm Thanh minh tiết.
              Trong các sử sách ghi chép, quả thực có Giới Tử Thôi. Nhưng những ghi chép trong sử thư Tả truyện 左传, Sử kí 史记 hoàn toàn không có tình tiết Giới tử Thôi vì núi bị đốt mà chết. Đồng thời, về Hàn thực tiết bắt nguồn từ việc kỉ niệm Giới Tử Thôi, thuyết này sớm nhất cũng vào lúc giao thời giữa Tây Hán và Đông Hán mới có ghi chép (xem “Tân luận” 新论 của Hoàn Đàm 桓谭). Nhiều học giả cho rằng đó là người đời sau khiên cưỡng giải thích Hàn thực tiết mà ra. Theo sự khảo chứng, khởi nguồn của Thanh minh tiết kì thực không liên quan gì đến Giới Tử Thôi. Thanh minh tiết là một đại tiết tế xuân, trước đời Chu đã xác định. Địa vực Trung Quốc rộng lớn, thời Tiên Tần phong tục nam bắc khác nhau, trong văn hiến chủ yếu ghi chép bắc tục. Thời Đường là thời kì dung hợp phong tục mộ tế các nơi. Từ đó về sau tiết tục mộ tế lúc Thanh minh tế dần xuất hiện trong các sử sách. Tiết nhật truyền thống trong diễn biến của sự phát triển lịch sử đa phần được gán ghép vào một truyền thống làm “khởi nguyên”, nhưng theo khảo sát thực tế, cách nói này luôn muộn hơn nhiều so sự ra đời của tiết nhật, nó là do đời sau tạo ra.

                                                                Huỳnh Chương Hưng
                                                                Quy Nhơn 04/4/2020
                                                     12/3 Thanh minh tiết năm Canh Tí

    Nguồn


    Dịch thuật: Thanh minh tiết

    Đăng lúc  19:43  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    THANH MINH TIẾT

    Tiết nhật truyền thống của Trung Quốc
              Thanh minh tiết 清明节 cũng gọi là “Đạp thanh tiết” 踏青节, “Hành thanh tiết” 行清节, “Tam nguyệt tiết” 三月节, Tế tổ tiết” 祭祖节, tiết kì giao thời  khoảng vào giữa xuân với cuối xuân. Thanh minh tiết bắt nguồn từ tín ngưỡng tổ tiên với lễ tục tế xuân thời thượng cổ, gồm hai nội hàm lớn là tự nhiên và nhân văn, vừa là điểm tiết khí của tự nhiên, cũng là tiết nhật truyền thống. Tảo mộ tế tổ với đạp thanh vui chơi là chủ đề hai đại lễ tục của Thanh minh tiết, chủ đề hai lễ tục truyền thống này từ thời cổ tại Trung Quốc đã có sự truyền thừa đến nay không gián đoạn.
              Thanh minh tiết là tiết nhật cổ xưa của dân tộc Trung Hoa, vừa là tiết nhật nghiêm túc cung kính tảo mộ tế tổ, cũng là tiết nhật đạp thanh vui chơi  thân cận với tự nhiên, hưởng thụ mùa xuân. Chuôi sao Đẩu chỉ phương vị Ất là Thanh minh tiết khí, thời gian giao tiết trước sau ngày 4 ngày 5 dương lịch. Thời tiết lúc này sinh khí thịnh vượng, âm khí thoái lui, vạn vật nhả khí cũ hấp thu khí mới, khắp mặt đất thể hiện cảnh tượng sáng trong, là lúc thích hợp để ra ngoại ô vui chơi đạp thanh và cử hành tảo mộ tế tổ.
              Thanh minh tiết là tiết nhật tế xuân trọng đại truyền thống, tảo mộ cúng tế, tưởng nhớ tổ tiên là truyền thống tốt đẹp từ xưa đến nay của dân tộc Trung Hoa, không chỉ có lợi cho việc hoằng dương đạo hiếu, kêu gọi gia tộc cùng tưởng nhớ mà còn thúc đẩy sức ngưng tụ và tình cảm nhận đồng giữa các thành viên gia tộc cho đến dân tộc. Thanh minh tiết dung hợp tiết khí tự nhiên với phong tục văn nhân thành nhất thể, là sự hợp nhất giữa thiên thời địa lợi và nhân hoà, thể hiện đầy đủ sự truy cầu hài hoà hợp nhất giữa thiên, địa, nhân của tổ tiên dân tộc Trung Hoa, chú trọng tư tưởng thuận ứng thiên thời địa nghi, tuân tuần quy luật tự nhiên.
              Thanh minh tiết清明节 cùng Xuân tiết 春节, Đoan ngọ tiết 端午节, Trung thu tiết 中秋节gọi chung là “Trung Quốc tứ đại truyền thống tiết nhật”.

    Nội hàm văn hoá của Thanh minh tiết
              Thanh minh tiết là đại tiết tế tổ thịnh đại long trọng nhất của dân tộc Trung Hoa, thuộc về tiết nhật truyền thống văn hoá lễ kính tổ tiên, thận chung truy viễn. Thanh minh tiết ngưng tụ tinh thần dân tộc, truyền thừa văn hoá tế tự của văn minh Trung Hoa, bộc lộ tình cảm đạo đức kế chí  thuật sự, mọi người tôn kính tổ tiên. Tảo mộ tức “mộ tế” 墓祭, gọi đó là “tư thời chi kính” 思时之敬  (hết sức thành kính khi tưởng nhớ) đối với tổ tiên. Tế xuân tế thu từ thời cổ đã có. Lịch sử Thanh minh tiết lâu đời, bắt nguồn từ tín ngưỡng tổ tiên và lễ tục tế xuân thời thượng cổ. Căn cứ vào thành quả nghiên cứu của nhân loại học, khảo cổ học, hai tín ngưỡng nguyên thuỷ nhất của nhân loại là tín ngưỡng thiên địa và tín ngưỡng tổ tiên. Theo sự khai quật khảo cổ, tại di chỉ trấn Thanh Đường 青塘 thành phố Anh Đức 英德 tỉnh Quảng Đông 广东 đã phát hiện mộ táng cách nay cả vạn năm, đây là mộ táng với táng thức có niên đại sớm nhất được xác nhận, cho thấy tiên dân thời thượng cổ cả vạn năm trước đã có ý thức về hành vi mộ táng và quan niệm lễ tục. Lễ tục “mộ tế” có nguồn gốc lịch sử lâu đời. “Mộ tế” Thanh minh là sự tổng hợp và thăng hoa của tiết tục mùa xuân truyền thống. Sự chế định lịch pháp can chi thượng cổ cung cấp điều kiện tiên quyết để hình thành tiết nhật. Tín ngưỡng tế tổ và văn hoá tế tự là nhân tố trọng yếu hình thành lễ tục Thanh minh tế tổ. Tiết tục Thanh minh phong phú, quy nạp lại là hai truyền thống đại tiết lệnh: một là lễ kính tổ tiên, thận chung truy viễn, hai là hoạt động vui chơi đạp thanh, thân cận với tự nhiên. Thanh minh tiết không chỉ có chủ đề tế tảo, tưởng nhớ, truy niệm, mà còn có chủ đề vui chơi đạp thanh, thân tâm vui vẻ, lí niệm truyền thống “thiên nhân hợp nhất” trong Thanh minh tiết đã có được sự thể hiện sinh động. Theo sự phát triển của lịch sử, Thanh minh tiết vào thời Đường Tống đã dung hợp tập tục của Hàn thực tiết 寒食节 và Thượng tị tiết 上巳节, trộn lẫn dân tục của các vùng các dân tộc thành nhất thể, có nội hàm văn hoá cực phong phú.

    Truyền thuyết câu chuyện Thanh minh tiết
              Câu chuyện Giới Tử Thôi 介子推 “cát cổ phụng quân” 割股奉君 (cắt thịt đùi của mình dâng lên quốc quân)
              Tương truyền vào thời Xuân Thu, Tấn công tử Trùng Nhĩ 重耳 để tránh bị bức hại mà phải lưu vong ngoài nước. Trên đường lưu vong, đến một nơi vắng vẻ không có một bóng người, vừa mệt vừa đói, không còn sức để đi. Tuỳ thần bên cạnh tìm thức ăn cả buổi mà không có, đương lúc nguy cấp, tuỳ thần Giới Tử Thôi đi đến một nơi vắng, cắt một miếng lớn thịt trên đùi của mình, nấu thành bát canh dâng lên công tử. Trùng Nhĩ dần khôi phục tinh thần. Khi Trùng Nhĩ phát hiện đó là thịt đùi của Giới Tử Thôi đã rơi nước mắt. 19 năm sau, Trùng Nhĩ lên làm quốc quân, đó chính là Tấn n Công 晋文公 trong lịch sử. Sau khi lên ngôi, Văn Công ban thưởng rất hậu cho những công thần trước đây từng lưu vong với mình, mà quên mất Giới Tử Thôi. Rất nhiều người lên tiếng bất bình cho Giới Tử Thôi, khuyên Giới Tử Thôi nên gặp quốc quân để đòi ban thưởng, nhưng Giới Tử Thôi xem thường nhất những kẻ tranh công đòi thưởng. Giới Tử Thôi gói ghém hành trang, lặng lẽ đưa mẹ lên Miên sơn 绵山 ẩn cư. Tấn n Công sau khi nghe nói, vô cùng xấu hổ, đích thân dẫn người đi mời Giới Tử Thôi, nhưng Giới tử Thôi đã bỏ nhà vào Miên sơn. Miên sơn núi cao đường hiểm, cây cối um tùm, tìm hai người quả là không dễ. Có người hiến kế, thiêu đốt ba mặt của Miên sơn, bức Giới tử Thôi phải ra. Lửa lớn cháy khắp Miên sơn nhưng lại không thấy bóng dáng Giới Tử Thôi đâu. Sau khi lửa tắt, mọi người mới phát hiện Giới Tử thôi trên lưng cõng mẹ ngồi chết dưới một gốc cây liễu già. Thấy cảnh tượng đó, Tấn n Công khóc lên. Lúc trang liệm, từ bọng cây phát hiện một bức huyết thư, bên trên viết rằng:
    Cát nhục phụng quân tận đan tâm
    Đản nguyện chủ công thường thanh minh
    割肉奉君尽丹心
    但愿主公常清明
    (Cắt thịt dâng lên quốc quân  thể hiện hết lòng son
    Chỉ mong chúa công luôn sáng suốt)
              Để kỉ niệm Giới Tử Thôi, Tấn n Công hạ lệnh lấy ngày đó định làm “Hàn thực tiết” 寒食节. Năm sau Tấn Văn Công dẫn quần thần lên núi tế bái, phát hiện cây liễu già đã chết giờ sống lại, bèn ban tên cho cây liễu  là “Thanh minh liễu” 清明柳, đồng thời hiểu dụ khắp thiên hạ, thế là lại đem một ngày sau Hàn thực tiết định làm Thanh minh tiết.
              Trong các sử sách ghi chép, quả thực có Giới Tử Thôi. Nhưng những ghi chép trong sử thư Tả truyện 左传, Sử kí 史记 hoàn toàn không có tình tiết Giới tử Thôi vì núi bị đốt mà chết. Đồng thời, về Hàn thực tiết bắt nguồn từ việc kỉ niệm Giới Tử Thôi, thuyết này sớm nhất cũng vào lúc giao thời giữa Tây Hán và Đông Hán mới có ghi chép (xem “Tân luận” 新论 của Hoàn Đàm 桓谭). Nhiều học giả cho rằng đó là người đời sau khiên cưỡng giải thích Hàn thực tiết mà ra. Theo sự khảo chứng, khởi nguồn của Thanh minh tiết kì thực không liên quan gì đến Giới Tử Thôi. Thanh minh tiết là một đại tiết tế xuân, trước đời Chu đã xác định. Địa vực Trung Quốc rộng lớn, thời Tiên Tần phong tục nam bắc khác nhau, trong văn hiến chủ yếu ghi chép bắc tục. Thời Đường là thời kì dung hợp phong tục mộ tế các nơi. Từ đó về sau tiết tục mộ tế lúc Thanh minh tế dần xuất hiện trong các sử sách. Tiết nhật truyền thống trong diễn biến của sự phát triển lịch sử đa phần được gán ghép vào một truyền thống làm “khởi nguyên”, nhưng theo khảo sát thực tế, cách nói này luôn muộn hơn nhiều so sự ra đời của tiết nhật, nó là do đời sau tạo ra.

                                                                Huỳnh Chương Hưng
                                                                Quy Nhơn 04/4/2020
                                                     12/3 Thanh minh tiết năm Canh Tí

    Nguồn


    Thứ Sáu, 3 tháng 4, 2020


    LONG BÁ CÂU NGAO

              Bàn Cổ 盘古 sau khi khai thiên lập địa vì quá mệt mà chết, 5 ngón chân trên một bàn chân của ông đã biến thành 5 ngọn núi tiên. Lúc đầu, 5 ngọn núi tiên này liền với đất liền. Nhưng khi Cung Công 共公 húc đổ núi Bất Chu 不周, trên đất liền phát sinh trận động đất lớn, núi tiên cũng bị rời khỏi đất liền, cả ngày trôi lênh đênh trên biển. Thiên đế bèn sai 5 con đại ngao lần lượt đội 5 ngọn núi, 5 ngọn núi mới yên định lại.
              Do bởi đại ngao đội núi tiên, nên không thể tuỳ tiện hoạt động, cũng không thể đi tìm thức ăn. Lúc đầu, thần tiên trên núi tiên còn theo giờ cho chúng thức ăn, lâu dần thần tiên cũng lười, quên cho chúng ăn. Ngày nọ, một người khổng lồ tên là Long Bá 龙伯 đến buông câu nơi biển đông. Trong phút chốc đã câu được 3 con ngao, thế là 3 ngọn núi tiên Bồng Lai 蓬莱, Phương Trượng 方丈, Doanh Châu 瀛州 liền trôi ra biển lớn. Thiên đế giận dữ, phạt con cháu đời sau của Long Bá dần nhỏ lại, đồng thời đày họ đến Bắc minh 北冥 - một nơi quanh năm không thấy ánh mặt trời. Nhưng sau nhiều năm, con cháu đời sau của Long Bá vẫn rất cao. Khoa Phủ 夸父 đuổi theo mặt trời chính là con cháu đời sau của Long Bá.

                                                         Huỳnh Chương Hưng
                                                         Quy Nhơn 03/4/2020

    Nguyên tác Trung văn
    LONG BÁ ĐIẾU NGAO
    龙伯钓鳌
    Trong quyển
    THANH THIẾU NIÊN TỐI HỈ HOAN ĐÍCH
    THẦN THOẠI CỐ SỰ
    青少年最喜欢的
    神话故事
    Tác giả: Ngô Cảnh Minh 吴景明
    Diên Biên nhân dân xuất bản xã, 2002

    Dịch thuật: Long Bá câu ngao (Thần thoại cố sự)

    Đăng lúc  18:27  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »


    LONG BÁ CÂU NGAO

              Bàn Cổ 盘古 sau khi khai thiên lập địa vì quá mệt mà chết, 5 ngón chân trên một bàn chân của ông đã biến thành 5 ngọn núi tiên. Lúc đầu, 5 ngọn núi tiên này liền với đất liền. Nhưng khi Cung Công 共公 húc đổ núi Bất Chu 不周, trên đất liền phát sinh trận động đất lớn, núi tiên cũng bị rời khỏi đất liền, cả ngày trôi lênh đênh trên biển. Thiên đế bèn sai 5 con đại ngao lần lượt đội 5 ngọn núi, 5 ngọn núi mới yên định lại.
              Do bởi đại ngao đội núi tiên, nên không thể tuỳ tiện hoạt động, cũng không thể đi tìm thức ăn. Lúc đầu, thần tiên trên núi tiên còn theo giờ cho chúng thức ăn, lâu dần thần tiên cũng lười, quên cho chúng ăn. Ngày nọ, một người khổng lồ tên là Long Bá 龙伯 đến buông câu nơi biển đông. Trong phút chốc đã câu được 3 con ngao, thế là 3 ngọn núi tiên Bồng Lai 蓬莱, Phương Trượng 方丈, Doanh Châu 瀛州 liền trôi ra biển lớn. Thiên đế giận dữ, phạt con cháu đời sau của Long Bá dần nhỏ lại, đồng thời đày họ đến Bắc minh 北冥 - một nơi quanh năm không thấy ánh mặt trời. Nhưng sau nhiều năm, con cháu đời sau của Long Bá vẫn rất cao. Khoa Phủ 夸父 đuổi theo mặt trời chính là con cháu đời sau của Long Bá.

                                                         Huỳnh Chương Hưng
                                                         Quy Nhơn 03/4/2020

    Nguyên tác Trung văn
    LONG BÁ ĐIẾU NGAO
    龙伯钓鳌
    Trong quyển
    THANH THIẾU NIÊN TỐI HỈ HOAN ĐÍCH
    THẦN THOẠI CỐ SỰ
    青少年最喜欢的
    神话故事
    Tác giả: Ngô Cảnh Minh 吴景明
    Diên Biên nhân dân xuất bản xã, 2002

    Thứ Năm, 2 tháng 4, 2020


    牛马与猪狗
    人不通古今 (1), 襟裾马牛 (2); 士不晓廉耻, 衣冠狗彘 (3).
                                             (小窗幽记)

    NGƯU MÃ DỮ TRƯ CẨU
              Nhân bất thông cổ kim (1), khâm cư mã ngưu (2); sĩ bất hiểu liêm sỉ, y quan cẩu trệ (3).
                                                                                       (Tiểu song u kí)

    Chú thích
    1- Thông : thông hiểu, thông đạt.
    2- Khâm cư 襟裾: phiếm chỉ y phục. Khâm : vạt áo; cư : tay áo.
    3- Cẩu trệ 狗彘: chó và heo.

    Dịch nghĩa
    TRÂU NGỰA VÀ HEO CHÓ
              Người mà không thông hiểu cổ kim thì cũng giống như loài ngựa loài trâu mặc quần mặc áo. Người đọc sách mà không biết liêm sỉ thì cũng giống như loài heo loài chó đội mũ mang đai.

    Phân tích và thưởng thức
              Trong sách Mạnh Tử 孟子 có nói:
              Dương thị vị ngã, thị vô quân dã; Mặc thị kiêm ái, thị vô phụ dã; vô quân vô phụ, thị cầm thú dã.
              杨氏为我, 是无君也; 墨氏兼爱, 是无父也; 无君无父, 是禽兽也
              (Họ Dương chủ trương vị ngã ấy là không có vua; họ Mặc chủ trương kiêm ái, ấy là không có cha)
              Đó là câu mắng của Mạnh Tử, có thể thấy thái độ của ông rất nghiêm khắc. Trung  Quốc từ xưa đến nay rất coi trọng đạo lí làm người, cách ngôn của tiên thánh tiên hiền lưu lại đều dạy chúng ta phải làm người như thế nào mới có thể không mất đi chính đạo. Gọi là thông hiểu cổ kim, chẳng qua là chỉ đạo lí làm người. Nếu những đạo lí này mà không biết rõ, thế thì có khác gì loài trâu ngựa? Đạo lí làm người hoàn toàn không nhất định phải là làm những việc làm oanh liệt, chí ít cần phải có lương tri cơ bản, không vi phạm bản ý làm người. Đạo đức luân lí của Trung Quốc đề xướng “hiếu đễ trung tín, lễ nghĩa liêm sỉ” 孝悌忠信, 礼义廉耻, đó tuy là đạo đức quan của xã hội phong kiến, nhưng đến nay vẫn có ý nghĩa tích cực nhất định, nó nhấn mạnh chuẩn tắc cơ bản làm người. Nếu chúng ta không biết liêm sỉ, thế thì có khác gì loài trâu ngựa chó heo mặc áo đội mũ đâu.

    Tiểu song u kí 小窗幽记 là tác phẩm ghi lại những cách ngôn tu thân xử thế do Trần Kế Nho 陈继儒biên soạn, thể hiện thái độ nhân sinh tích cực của nho gia về việc tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Tác phẩm này xưa nay được xem là giai tác về việc tu dưỡng bản thân.
              Toàn sách được chia làm 12 quyển:
         quyển 1: tập tỉnh 集醒     quyển 2: tập tình 集情     quyển 3: tập tiễu 集峭
         quyển 4: tập linh 集灵     quyển 5: tập tố 集素        quyển 6: tập cảnh 集景
         quyển 7: tập vận 集韵     quyển 8: tập kì 集奇        quyển 9: tập ỷ 集绮
         quyển 10: tập hào 集豪   quyển 11: tập pháp 集法  quyển 12: tập thiến 集倩
              Theo http://www.360doc.com/content
                       http://baike.baidu.com/view/147434.htm
              Tiểu song u kí được dùng ở đây do Lôi Phương 雷芳 chú dịch, Sùng Văn thư cục xuất bản năm 2007, sách này  không chia thành 12 quyển như ở trên.

    Trần Kế Nho 陈继儒 (1558 – 1639): văn học gia, thư hoạ gia đời Minh, tự Trọng Thuần 仲醇, hiệu Mi Công 眉公, người Hoa Đình 华亭 Tùng Giang 松江 (nay là Tùng Giang Thượng Hải).
    Trần Kế Nho lúc nhỏ đã thông minh, ông học rộng biết nhiều, giỏi cả thơ lẫn văn, về thư pháp theo Tô Thức 苏轼, Mễ Phế 米芾 nổi tiếng một thời. Khoảng những năm hai mươi mấy tuổi, ông tuyệt ý với khoa cử, ẩn cư tại Tiểu Côn sơn 小昆山, sau cất nhà tại Đông Xà 东佘 suốt ngày đóng cửa viết sách. Triều đình nhiều lần cho mời nhưng ông đều lấy cớ bệnh tật từ chối.
    Trần Kế Nho cả một đời đọc rất nhiều, trứ thuật cũng đồ sộ phong phú. Tác phẩm của ông có Trần Mi Công toàn tập 陈眉公全集  truyền đời.

                                                                           Huỳnh Chương Hưng
                                                                           Quy Nhơn 02/4/2020

    Nguyên tác
    NGƯU MÃ DỮ TRƯ CẨU
     牛马与猪狗
    Trong quyển
    TIỂU SONG U KÍ
    小窗幽记
    Tác giả: Trần Kế Nho 陈继儒
    Chú dịch: Lôi Phương 雷芳
    Sùng Văn thư cục, 2007.

    Dịch thuật: Ngưu mã dữ trư cẩu (Tiểu song u kí)

    Đăng lúc  18:05  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »


    牛马与猪狗
    人不通古今 (1), 襟裾马牛 (2); 士不晓廉耻, 衣冠狗彘 (3).
                                             (小窗幽记)

    NGƯU MÃ DỮ TRƯ CẨU
              Nhân bất thông cổ kim (1), khâm cư mã ngưu (2); sĩ bất hiểu liêm sỉ, y quan cẩu trệ (3).
                                                                                       (Tiểu song u kí)

    Chú thích
    1- Thông : thông hiểu, thông đạt.
    2- Khâm cư 襟裾: phiếm chỉ y phục. Khâm : vạt áo; cư : tay áo.
    3- Cẩu trệ 狗彘: chó và heo.

    Dịch nghĩa
    TRÂU NGỰA VÀ HEO CHÓ
              Người mà không thông hiểu cổ kim thì cũng giống như loài ngựa loài trâu mặc quần mặc áo. Người đọc sách mà không biết liêm sỉ thì cũng giống như loài heo loài chó đội mũ mang đai.

    Phân tích và thưởng thức
              Trong sách Mạnh Tử 孟子 có nói:
              Dương thị vị ngã, thị vô quân dã; Mặc thị kiêm ái, thị vô phụ dã; vô quân vô phụ, thị cầm thú dã.
              杨氏为我, 是无君也; 墨氏兼爱, 是无父也; 无君无父, 是禽兽也
              (Họ Dương chủ trương vị ngã ấy là không có vua; họ Mặc chủ trương kiêm ái, ấy là không có cha)
              Đó là câu mắng của Mạnh Tử, có thể thấy thái độ của ông rất nghiêm khắc. Trung  Quốc từ xưa đến nay rất coi trọng đạo lí làm người, cách ngôn của tiên thánh tiên hiền lưu lại đều dạy chúng ta phải làm người như thế nào mới có thể không mất đi chính đạo. Gọi là thông hiểu cổ kim, chẳng qua là chỉ đạo lí làm người. Nếu những đạo lí này mà không biết rõ, thế thì có khác gì loài trâu ngựa? Đạo lí làm người hoàn toàn không nhất định phải là làm những việc làm oanh liệt, chí ít cần phải có lương tri cơ bản, không vi phạm bản ý làm người. Đạo đức luân lí của Trung Quốc đề xướng “hiếu đễ trung tín, lễ nghĩa liêm sỉ” 孝悌忠信, 礼义廉耻, đó tuy là đạo đức quan của xã hội phong kiến, nhưng đến nay vẫn có ý nghĩa tích cực nhất định, nó nhấn mạnh chuẩn tắc cơ bản làm người. Nếu chúng ta không biết liêm sỉ, thế thì có khác gì loài trâu ngựa chó heo mặc áo đội mũ đâu.

    Tiểu song u kí 小窗幽记 là tác phẩm ghi lại những cách ngôn tu thân xử thế do Trần Kế Nho 陈继儒biên soạn, thể hiện thái độ nhân sinh tích cực của nho gia về việc tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Tác phẩm này xưa nay được xem là giai tác về việc tu dưỡng bản thân.
              Toàn sách được chia làm 12 quyển:
         quyển 1: tập tỉnh 集醒     quyển 2: tập tình 集情     quyển 3: tập tiễu 集峭
         quyển 4: tập linh 集灵     quyển 5: tập tố 集素        quyển 6: tập cảnh 集景
         quyển 7: tập vận 集韵     quyển 8: tập kì 集奇        quyển 9: tập ỷ 集绮
         quyển 10: tập hào 集豪   quyển 11: tập pháp 集法  quyển 12: tập thiến 集倩
              Theo http://www.360doc.com/content
                       http://baike.baidu.com/view/147434.htm
              Tiểu song u kí được dùng ở đây do Lôi Phương 雷芳 chú dịch, Sùng Văn thư cục xuất bản năm 2007, sách này  không chia thành 12 quyển như ở trên.

    Trần Kế Nho 陈继儒 (1558 – 1639): văn học gia, thư hoạ gia đời Minh, tự Trọng Thuần 仲醇, hiệu Mi Công 眉公, người Hoa Đình 华亭 Tùng Giang 松江 (nay là Tùng Giang Thượng Hải).
    Trần Kế Nho lúc nhỏ đã thông minh, ông học rộng biết nhiều, giỏi cả thơ lẫn văn, về thư pháp theo Tô Thức 苏轼, Mễ Phế 米芾 nổi tiếng một thời. Khoảng những năm hai mươi mấy tuổi, ông tuyệt ý với khoa cử, ẩn cư tại Tiểu Côn sơn 小昆山, sau cất nhà tại Đông Xà 东佘 suốt ngày đóng cửa viết sách. Triều đình nhiều lần cho mời nhưng ông đều lấy cớ bệnh tật từ chối.
    Trần Kế Nho cả một đời đọc rất nhiều, trứ thuật cũng đồ sộ phong phú. Tác phẩm của ông có Trần Mi Công toàn tập 陈眉公全集  truyền đời.

                                                                           Huỳnh Chương Hưng
                                                                           Quy Nhơn 02/4/2020

    Nguyên tác
    NGƯU MÃ DỮ TRƯ CẨU
     牛马与猪狗
    Trong quyển
    TIỂU SONG U KÍ
    小窗幽记
    Tác giả: Trần Kế Nho 陈继儒
    Chú dịch: Lôi Phương 雷芳
    Sùng Văn thư cục, 2007.

    Thứ Tư, 1 tháng 4, 2020

    CHỮ TRONG “KHANG HI TỰ ĐIỂN”

    1- Âm TRAI bính âm zhāi
              “Quảng vận” TRẮC GIAI thiết. “Tập vận”, “Vận hội”, “Chính vận” TRANG GIAI  thiết, TRÁI bình thanh.
              “廣韻側皆切. “集韻”, “韻會”, “正韻莊皆切, 債平聲
              (“Quảng vận” phiên thiết là TRẮC GIAI. “Tập vận”, “Vận hội”, “Chính vận” phiên thiết là TRANG GIAI, âm TRÁI nhưng bình thanh)
              “Chính vận” Khiết dã, trang dã.
              “正韻潔也, 莊也
              (Trong “Chính vận” có nghĩa là “khiết” (trong sạch), là “trang” (trang nghiêm)
              “Quảng nhã” Trai, kính dã
              “廣雅, 敬也
              (Trong “Quảng nhã” giải thích “trai” là “kính”)
              Trong Lễ - Tế thống - 祭統 có ghi:
    Trai chi vi ngôn tề.
    齋之為言齊
    (“Trai” chính là “tề”, ý nói thông qua trai giới để chỉnh tề thân tâm)
              Trong Dịch – Hệ từ - 繫辭 có câu:
    Thánh nhân dĩ thử trai giới
    聖人以此齋戒
    (Thánh nhân lấy đó mà trai giới)
              Chú rằng:
    Tẩy tâm viết trai
    洗心曰齋
    (Tẩy rửa tấm lòng gọi là “trai”)
              Và trong Hậu Hán thư – Dư phục chí 後漢書 - 輿服志 có ghi:
    Hữu trai quan viết trường quan
    有齋冠曰長冠
    (Có “trai quan” gọi là “trường quan” (một loại mũ - ND)
              Và
    Yến cư chi thất viết trai
    燕居之室曰齋
    (Phòng ở mà được an nhàn thư thái gọi là “trai”)
    2- Âm TƯ bính âm
              “Tập vận”, “Chính vận” TÂN TƯ  thiết, âm TƯ.
              ““集韻”, “正韻津私切, 音資
              (“Tập vận”, “Chính vận” phiên thiết là TÂN TƯ, âm TƯ)
              Trang Mạnh Tử 孟子 có câu:
    Tư sơ chi phục
    齋疏之服
    (Mặc tang phục bằng vải thô viền biên)
              Triệu Kì 趙岐 chú rằng:
    Tức tư thôi (1) dã. Âm tư
    即齋縗 (1) . 音資
              Và trong Dịch – Lí quái - 履卦:
    Đắc kì tư phủ (2)
    得其資斧 (2)
              Trong Tử Hạ truyện 子夏傳 ghi là “ 齋斧”. Trong Chí lâm 志林 của Ngô Hỉ 吳喜 nói là:
    Đương tác . Trai giới nhập miếu nhi thụ phủ dã.
    當作齋. 齋戒入廟而受斧也
    (Đúng ra viết là 齋 (tư). Trai giới vào miếu mà nhận rìu)

    Và để hiệp vần, có phiên thiết là CHÂN NHI 真而, âm CHI .
              Trong Hậu Hán thư – Chu Trạch truyện 後漢書- 周澤傳 có đoạn:
              Sinh thế bất hài, tác Thái thường thê, nhất niên tam bách lục thập nhật, tam bách ngũ thập cửu nhật chi.
              生世不諧, 作太常妻, 一年三百六十日, 三百五十九日
              (Sống trên đời số mệnh không được may mắn, làm vợ của quan Thái thường, một năm có 360 ngày thì hết 359 ngày ông ta đã trai giới)
              Theo Thuyết văn 說文:
    Thị tề vi trai. Thị, minh dã, chi dã. Tề giả, vạn vật chi khiết tề dã.
    示齊為齋. , 明也, 祗也, 齊者, 萬物之潔齊也
    (Thị tề là trai. Thị là sáng, là kính. Tề là muôn vật thanh khiết chỉnh tề)
              Trong bộ Chính vận 正韻 thời Hồng Vũ 洪武 có ghi:
    Cổ  tác , hậu nhân vu kì hạ gia lập tâm, dĩ biệt chi nhĩ.
    古單作齊, 後人于其下加立心, 以別之耳
    (Thời cổ chữ viết là , người đời sau thêm bộ tâm đứng ở dưới để phân biệt)

    Chú của người dịch
    1- Tư thôi 齋縗: cũng được viết là , 齊衰, loại tang phục sau “trảm thôi” 斬缞. “Tư thôi” dùng vải gai thô may thành, phần biên may chỉnh tề, cho nên có tên như thế. “Trảm thôi” thì không may đường biên.
    2- Đắc kì tư phủ得其資斧: Câu này ở hào Cửu tứ 九四, quẻ Lữ trong Kinh Dịch.

                                                                       Huỳnh Chương Hưng
                                                                       Quy Nhơn 01/4/2020

    KHANG HI TỰ ĐIỂN
    康熙字典
    (Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 2003, trang 851)

    Dịch thuật: Chữ 齋 trong "Khang Hi tự điển"

    Đăng lúc  18:50  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    CHỮ TRONG “KHANG HI TỰ ĐIỂN”

    1- Âm TRAI bính âm zhāi
              “Quảng vận” TRẮC GIAI thiết. “Tập vận”, “Vận hội”, “Chính vận” TRANG GIAI  thiết, TRÁI bình thanh.
              “廣韻側皆切. “集韻”, “韻會”, “正韻莊皆切, 債平聲
              (“Quảng vận” phiên thiết là TRẮC GIAI. “Tập vận”, “Vận hội”, “Chính vận” phiên thiết là TRANG GIAI, âm TRÁI nhưng bình thanh)
              “Chính vận” Khiết dã, trang dã.
              “正韻潔也, 莊也
              (Trong “Chính vận” có nghĩa là “khiết” (trong sạch), là “trang” (trang nghiêm)
              “Quảng nhã” Trai, kính dã
              “廣雅, 敬也
              (Trong “Quảng nhã” giải thích “trai” là “kính”)
              Trong Lễ - Tế thống - 祭統 có ghi:
    Trai chi vi ngôn tề.
    齋之為言齊
    (“Trai” chính là “tề”, ý nói thông qua trai giới để chỉnh tề thân tâm)
              Trong Dịch – Hệ từ - 繫辭 có câu:
    Thánh nhân dĩ thử trai giới
    聖人以此齋戒
    (Thánh nhân lấy đó mà trai giới)
              Chú rằng:
    Tẩy tâm viết trai
    洗心曰齋
    (Tẩy rửa tấm lòng gọi là “trai”)
              Và trong Hậu Hán thư – Dư phục chí 後漢書 - 輿服志 có ghi:
    Hữu trai quan viết trường quan
    有齋冠曰長冠
    (Có “trai quan” gọi là “trường quan” (một loại mũ - ND)
              Và
    Yến cư chi thất viết trai
    燕居之室曰齋
    (Phòng ở mà được an nhàn thư thái gọi là “trai”)
    2- Âm TƯ bính âm
              “Tập vận”, “Chính vận” TÂN TƯ  thiết, âm TƯ.
              ““集韻”, “正韻津私切, 音資
              (“Tập vận”, “Chính vận” phiên thiết là TÂN TƯ, âm TƯ)
              Trang Mạnh Tử 孟子 có câu:
    Tư sơ chi phục
    齋疏之服
    (Mặc tang phục bằng vải thô viền biên)
              Triệu Kì 趙岐 chú rằng:
    Tức tư thôi (1) dã. Âm tư
    即齋縗 (1) . 音資
              Và trong Dịch – Lí quái - 履卦:
    Đắc kì tư phủ (2)
    得其資斧 (2)
              Trong Tử Hạ truyện 子夏傳 ghi là “ 齋斧”. Trong Chí lâm 志林 của Ngô Hỉ 吳喜 nói là:
    Đương tác . Trai giới nhập miếu nhi thụ phủ dã.
    當作齋. 齋戒入廟而受斧也
    (Đúng ra viết là 齋 (tư). Trai giới vào miếu mà nhận rìu)

    Và để hiệp vần, có phiên thiết là CHÂN NHI 真而, âm CHI .
              Trong Hậu Hán thư – Chu Trạch truyện 後漢書- 周澤傳 có đoạn:
              Sinh thế bất hài, tác Thái thường thê, nhất niên tam bách lục thập nhật, tam bách ngũ thập cửu nhật chi.
              生世不諧, 作太常妻, 一年三百六十日, 三百五十九日
              (Sống trên đời số mệnh không được may mắn, làm vợ của quan Thái thường, một năm có 360 ngày thì hết 359 ngày ông ta đã trai giới)
              Theo Thuyết văn 說文:
    Thị tề vi trai. Thị, minh dã, chi dã. Tề giả, vạn vật chi khiết tề dã.
    示齊為齋. , 明也, 祗也, 齊者, 萬物之潔齊也
    (Thị tề là trai. Thị là sáng, là kính. Tề là muôn vật thanh khiết chỉnh tề)
              Trong bộ Chính vận 正韻 thời Hồng Vũ 洪武 có ghi:
    Cổ  tác , hậu nhân vu kì hạ gia lập tâm, dĩ biệt chi nhĩ.
    古單作齊, 後人于其下加立心, 以別之耳
    (Thời cổ chữ viết là , người đời sau thêm bộ tâm đứng ở dưới để phân biệt)

    Chú của người dịch
    1- Tư thôi 齋縗: cũng được viết là , 齊衰, loại tang phục sau “trảm thôi” 斬缞. “Tư thôi” dùng vải gai thô may thành, phần biên may chỉnh tề, cho nên có tên như thế. “Trảm thôi” thì không may đường biên.
    2- Đắc kì tư phủ得其資斧: Câu này ở hào Cửu tứ 九四, quẻ Lữ trong Kinh Dịch.

                                                                       Huỳnh Chương Hưng
                                                                       Quy Nhơn 01/4/2020

    KHANG HI TỰ ĐIỂN
    康熙字典
    (Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 2003, trang 851)


    CHÀY SƯƠNG CHƯA NỆN CẦU LAM (457)
              Xuất xứ từ điển Bùi Hàng gặp Vân Anh.
    Truyền thuyết kể rằng, vào khoảng niên hiệu Trường Khánh 长庆thời Đường có vị Tú tài tên Bùi Hàng 裴航 dạo chơi ở Ngạc Chử 鄂渚, nằm mộng thấy bài thơ:
    Nhất ẩm quỳnh tương bách cảm sinh
    Huyền sương đảo tận kiến Vân Anh
    Lam Kiều tiện thị thần tiên quật
    Hà tất khi khu thướng Ngọc Thanh
    一饮琼浆百感生
    玄霜捣尽见云英
    蓝桥便是神仙窟
    何必崎岖上玉青
    (Uống được quỳnh tương trăm mối cảm xúc sinh ra
    Thuốc tiên giã xong sẽ thấy được nàng Vân Anh
    Lam Kiều chính là cung điện thần tiên đó
    Cần gì phải vất vả đến cung Ngọc Thanh)
             Bùi Hàng quay về, đi ngang qua trạm ở Lam Kiều 蓝桥, gặp được một bà lão đang dệt vải gai, nhân khát nước bèn đến xin nước uống. Bà lão gọi cô con gái là Vân Anh 云英 mang nước ra, Bùi Hàng uống vào cảm thấy ngọt như quỳnh tương. Lại thấy Vân Anh tư dung tuyệt thế, nhân đó muốn cưới làm vợ. Bà lão bảo rằng:
              - Hôm qua có vị thần tiên cho một ít thuốc, cần phải có chày cối bằng ngọc để giã. Muốn cưới Vân Anh, phải dùng chày cối ngọc làm sính lễ, giã thuốc một trăm ngày mới được.
              Bùi Hàng cuối cùng tìm được chày cối bằng ngọc mà thỏ ngọc trên cung trăng dùng, cưới Vân Anh làm vợ, hai vợ chồng vào núi Ngọc phong 玉峰 hoá thành tiên đi mất.
                Trong văn học cũng thường dùng “Lam kiều”, tức “cầu Lam” chính là điển này.

    Chày sương chưa nện cầu Lam
    Sợ lần khân quá sa sàm  sỡ chăng?
    (“Truyện Kiều” 457 – 458)
    Cầu Lam xem Chày sương: Thuốc tiên gọi là huyền sương, chày sương là cái chày để giã thuốc tiên. Sách Thái Bình quảng kí chép chuyện Bùi Hàng đời Đường, thi hỏng, đến cái cầu là Lam Kiều tỉnh Quảng Tây, gặp một bà già. Bà ấy nói: Hôm trước có thần tiên cho một liều linh dược, nhưng phải có cái chày ngọc để giã. Nếu tìm được cái chày ấy thì lấy được vợ đẹp. Hàng tìm được chày ngọc, giã thuốc một trăm ngày sau lấy được nàng Vân Anh, rồi hai người thành tiên. Câu này nói có chày ngọc rồi nhưng chưa giã (nện) được thuốc tiên ở Lam Kiều (Cầu Lam) nên chưa lấy được người đàn bà đẹp.
    (Đào Duy Anh: “Từ điển Truyện Kiều”, nxb Khoa học xã hội, Hà Nội – 1989)
    Trong “Kim Vân Kiều” (Đoạn trường tân thanh) do Bùi Khánh Diễn chú thích, ghi rằng:
              Đường Bùi Hàng đắc ngọc chử cữu, để Lam Kiều thú Vân Anh nhi tiên khứ.
              唐裴航得玉杵臼抵藍橋娶雲英而仙去
              (Ngươi Bùi Hàng nhà Đường được cái cối chày bằng ngọc, đến Lam Kiều lấy nàng Vân Anh rồi lên tiên)
    (Sài Gòn: nxb Sống Mới, 1960)
     
    Xét: Theo tư liệu ở trên, Lam Kiều ở huyện Lam Điền tỉnh Thiểm Tây. Trong “Từ điển Truyện Kiều” của Đào Duy Anh, bản năm 1989 in nhầm Lam Kiều ở tỉnh Quảng Tây. Bản in lại năm 2000 đã sửa lại là Thiểm Tây.
    Trong “Kim Vân Kiều” (Đoạn trường tân thanh) do Bùi Khánh Diễn chú thích, câu 458 là:
    Sợ lần khân quá, ra SỜM sỡ chăng?

                                                                        Huỳnh Chương Hưng
                                                                        Quy Nhơn 01/4/2020

    Dịch thuật: Chày sương chưa nện cầu Lam (457) ("Truyện Kiều")

    Đăng lúc  11:03  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »


    CHÀY SƯƠNG CHƯA NỆN CẦU LAM (457)
              Xuất xứ từ điển Bùi Hàng gặp Vân Anh.
    Truyền thuyết kể rằng, vào khoảng niên hiệu Trường Khánh 长庆thời Đường có vị Tú tài tên Bùi Hàng 裴航 dạo chơi ở Ngạc Chử 鄂渚, nằm mộng thấy bài thơ:
    Nhất ẩm quỳnh tương bách cảm sinh
    Huyền sương đảo tận kiến Vân Anh
    Lam Kiều tiện thị thần tiên quật
    Hà tất khi khu thướng Ngọc Thanh
    一饮琼浆百感生
    玄霜捣尽见云英
    蓝桥便是神仙窟
    何必崎岖上玉青
    (Uống được quỳnh tương trăm mối cảm xúc sinh ra
    Thuốc tiên giã xong sẽ thấy được nàng Vân Anh
    Lam Kiều chính là cung điện thần tiên đó
    Cần gì phải vất vả đến cung Ngọc Thanh)
             Bùi Hàng quay về, đi ngang qua trạm ở Lam Kiều 蓝桥, gặp được một bà lão đang dệt vải gai, nhân khát nước bèn đến xin nước uống. Bà lão gọi cô con gái là Vân Anh 云英 mang nước ra, Bùi Hàng uống vào cảm thấy ngọt như quỳnh tương. Lại thấy Vân Anh tư dung tuyệt thế, nhân đó muốn cưới làm vợ. Bà lão bảo rằng:
              - Hôm qua có vị thần tiên cho một ít thuốc, cần phải có chày cối bằng ngọc để giã. Muốn cưới Vân Anh, phải dùng chày cối ngọc làm sính lễ, giã thuốc một trăm ngày mới được.
              Bùi Hàng cuối cùng tìm được chày cối bằng ngọc mà thỏ ngọc trên cung trăng dùng, cưới Vân Anh làm vợ, hai vợ chồng vào núi Ngọc phong 玉峰 hoá thành tiên đi mất.
                Trong văn học cũng thường dùng “Lam kiều”, tức “cầu Lam” chính là điển này.

    Chày sương chưa nện cầu Lam
    Sợ lần khân quá sa sàm  sỡ chăng?
    (“Truyện Kiều” 457 – 458)
    Cầu Lam xem Chày sương: Thuốc tiên gọi là huyền sương, chày sương là cái chày để giã thuốc tiên. Sách Thái Bình quảng kí chép chuyện Bùi Hàng đời Đường, thi hỏng, đến cái cầu là Lam Kiều tỉnh Quảng Tây, gặp một bà già. Bà ấy nói: Hôm trước có thần tiên cho một liều linh dược, nhưng phải có cái chày ngọc để giã. Nếu tìm được cái chày ấy thì lấy được vợ đẹp. Hàng tìm được chày ngọc, giã thuốc một trăm ngày sau lấy được nàng Vân Anh, rồi hai người thành tiên. Câu này nói có chày ngọc rồi nhưng chưa giã (nện) được thuốc tiên ở Lam Kiều (Cầu Lam) nên chưa lấy được người đàn bà đẹp.
    (Đào Duy Anh: “Từ điển Truyện Kiều”, nxb Khoa học xã hội, Hà Nội – 1989)
    Trong “Kim Vân Kiều” (Đoạn trường tân thanh) do Bùi Khánh Diễn chú thích, ghi rằng:
              Đường Bùi Hàng đắc ngọc chử cữu, để Lam Kiều thú Vân Anh nhi tiên khứ.
              唐裴航得玉杵臼抵藍橋娶雲英而仙去
              (Ngươi Bùi Hàng nhà Đường được cái cối chày bằng ngọc, đến Lam Kiều lấy nàng Vân Anh rồi lên tiên)
    (Sài Gòn: nxb Sống Mới, 1960)
     
    Xét: Theo tư liệu ở trên, Lam Kiều ở huyện Lam Điền tỉnh Thiểm Tây. Trong “Từ điển Truyện Kiều” của Đào Duy Anh, bản năm 1989 in nhầm Lam Kiều ở tỉnh Quảng Tây. Bản in lại năm 2000 đã sửa lại là Thiểm Tây.
    Trong “Kim Vân Kiều” (Đoạn trường tân thanh) do Bùi Khánh Diễn chú thích, câu 458 là:
    Sợ lần khân quá, ra SỜM sỡ chăng?

                                                                        Huỳnh Chương Hưng
                                                                        Quy Nhơn 01/4/2020

    Thứ Ba, 31 tháng 3, 2020


    MÀU SẮC KIẾN TRÚC CHỦ THỂ CỦA TỬ CẤM THÀNH

              Bước vào Tử Cấm Thành 紫禁城, hiện ra trước mắt rõ ràng nhất là tường đỏ ngói vàng. Kiến trúc của Tử Cấm Thành tại sao sử dụng phổ biến hai màu là vàng và đỏ? Hoá ra trong học thuyết Âm dương ngũ hành cổ đại của Trung Quốc thì kim , mộc , thuỷ , hoả , thổ đại biểu cho 5 phương vị đông, nam, tây, bắc, trung ương. Thổ tại trung ương, đại biểu sắc vàng, tượng trưng hoàng quyền tôn quý. Hoàng Đế cho rằng, cung điện của mình ở vào vị trí trung tâm của thế giới, có thể khống chế bốn phương, nhân đó Tử Cấm Thành dùng nhiều sắc vàng. Ngay cả y phục và dụng cụ của hoàng đế cũng sắc vàng, người khác dùng màu này sẽ phạm tội đại nghịch bất đạo.
              Các trụ, cung tường, cửa lớn, cửa sổ trong Tử Cấm Thành đa phần sử dụng sắc đỏ. Đỏ thuộc hoả, tượng trưng cát tường, hỉ khánh, mĩ mãn, hạnh phúc.
              Đương nhiên, cá biệt cũng có cung điện dùng màu khác. Như phần mái của Văn Uyên các 文渊阁 dùng sắc đen. Sắc đen đại biểu cho thuỷ, thuỷ có thể khắc hoả, trong Văn Uyên các có cất bộ Tứ khố toàn thư  四库全书, hoàng đế hi vọng có thể tránh được hoả tai.

    Phụ lục
              Tứ khố toàn thư四库全书
              Tứ khố toàn thư do hoàng đế Càn Long 乾隆 chủ trì, hơn 360 vị cao quan học giả của nhóm Kỉ Vân 纪昀 biên soạn, hơn 3800 người sao chép, trải qua 13 năm hoàn thành. Bộ sách này phân làm tứ bộ là kinh , sử , tử , tập cho nên có tên là “Tứ khố” 四库. Tổng cộng 7,9 vạn quyển, ước khoảng 800 triệu chữ, cơ bản bao quát đồ hết thảy thư cổ đại mà Trung Quốc sở hữu, cho nên gọi là “toàn thư” 全书.

                                                                             Huỳnh Chương Hưng
                                                                            Quy Nhơn 31/3/2020

    Nguồn
    TỬ CẤM THÀNH CHỦ THỂ KIẾN TRÚC ĐÍCH NHAN SẮC
    紫禁城主体建筑的颜色
    Trong quyển
    ĐỒ GIẢI CỐ CUNG
    图解故宫
    Tác giả: Định Giới 定界
    Bắc Kinh: Bắc Kinh xuất bản xã, 2018

    Dịch thuật: Màu sắc kiến trúc chủ thể của Tử Cấm Thành

    Đăng lúc  18:21  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »


    MÀU SẮC KIẾN TRÚC CHỦ THỂ CỦA TỬ CẤM THÀNH

              Bước vào Tử Cấm Thành 紫禁城, hiện ra trước mắt rõ ràng nhất là tường đỏ ngói vàng. Kiến trúc của Tử Cấm Thành tại sao sử dụng phổ biến hai màu là vàng và đỏ? Hoá ra trong học thuyết Âm dương ngũ hành cổ đại của Trung Quốc thì kim , mộc , thuỷ , hoả , thổ đại biểu cho 5 phương vị đông, nam, tây, bắc, trung ương. Thổ tại trung ương, đại biểu sắc vàng, tượng trưng hoàng quyền tôn quý. Hoàng Đế cho rằng, cung điện của mình ở vào vị trí trung tâm của thế giới, có thể khống chế bốn phương, nhân đó Tử Cấm Thành dùng nhiều sắc vàng. Ngay cả y phục và dụng cụ của hoàng đế cũng sắc vàng, người khác dùng màu này sẽ phạm tội đại nghịch bất đạo.
              Các trụ, cung tường, cửa lớn, cửa sổ trong Tử Cấm Thành đa phần sử dụng sắc đỏ. Đỏ thuộc hoả, tượng trưng cát tường, hỉ khánh, mĩ mãn, hạnh phúc.
              Đương nhiên, cá biệt cũng có cung điện dùng màu khác. Như phần mái của Văn Uyên các 文渊阁 dùng sắc đen. Sắc đen đại biểu cho thuỷ, thuỷ có thể khắc hoả, trong Văn Uyên các có cất bộ Tứ khố toàn thư  四库全书, hoàng đế hi vọng có thể tránh được hoả tai.

    Phụ lục
              Tứ khố toàn thư四库全书
              Tứ khố toàn thư do hoàng đế Càn Long 乾隆 chủ trì, hơn 360 vị cao quan học giả của nhóm Kỉ Vân 纪昀 biên soạn, hơn 3800 người sao chép, trải qua 13 năm hoàn thành. Bộ sách này phân làm tứ bộ là kinh , sử , tử , tập cho nên có tên là “Tứ khố” 四库. Tổng cộng 7,9 vạn quyển, ước khoảng 800 triệu chữ, cơ bản bao quát đồ hết thảy thư cổ đại mà Trung Quốc sở hữu, cho nên gọi là “toàn thư” 全书.

                                                                             Huỳnh Chương Hưng
                                                                            Quy Nhơn 31/3/2020

    Nguồn
    TỬ CẤM THÀNH CHỦ THỂ KIẾN TRÚC ĐÍCH NHAN SẮC
    紫禁城主体建筑的颜色
    Trong quyển
    ĐỒ GIẢI CỐ CUNG
    图解故宫
    Tác giả: Định Giới 定界
    Bắc Kinh: Bắc Kinh xuất bản xã, 2018


    SINH RẰNG: GIÓ MÁT TRĂNG TRONG (455)
              Gió mát trăng trong tức “nguyệt bạch phong thanh” 月白風清.
              Trong bài Hậu Xích Bích phú 後赤壁賦 của Tô Thức 蘇軾 có câu:
             ..... Hữu khách vô tửu, hữu tửu vô hào, nguyệt bạch phong thanh, như thử lương dạ hà?....
              ..... 有客無酒, 有酒無肴, 月白風清, 如此良夜何 .....
              (..... Có khách mà không có rượu, có rượu lại chẳng có món ngon, trăng trong gió mát, đêm đẹp như thế này biết làm gì đây? .....)
              Thành ngữ “nguyệt bạch phong thanh” hoặc “phong thanh nguyệt bạch” ví cảnh đêm đẹp có trăng trong gió mát.

    Sinh rằng: Gió mát trăng trong
    Bấy lâu nay một chút lòng chưa cam
    (“Truyện Kiều” 455 – 456)
    Gió mát trăng trong và gió mát trăng thanh: Chỉ cảnh đêm trăng sáng mát mẻ.
    (Đào Duy Anh: “Từ điển Truyện Kiều”, nxb Khoa học xã hội, Hà Nội – 1989)
    Trong “Kim Vân Kiều” (Đoạn trường tân thanh) do Bùi Khánh Diễn chú thích, ghi rằng:
              Tô Đông Pha Hậu Xích Bích phú: Phong thanh nguyệt bạch như thử lương dạ hà?
              蘇東坡後赤壁賦: 風清月白如此良夜何
              (Bài phú Xích Bích của ông Tô Đông Pha: Gió mát trăng trong như đêm tốt này thì làm gì?)
    (Sài Gòn: nxb Sống Mới, 1960) 

    Xét: Theo ý riêng, với câu 455, Nguyễn Du có lẽ cũng liên tưởng đến thành ngữ “nguyệt bạch phong thanh” này.

                                                                         Huỳnh Chương Hưng
                                                                         Quy Nhơn 31/3/2020

    Dịch thuật: Sinh rằng: Gió mát trăng trong (455) ("Truyện Kiều")

    Đăng lúc  10:46  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »


    SINH RẰNG: GIÓ MÁT TRĂNG TRONG (455)
              Gió mát trăng trong tức “nguyệt bạch phong thanh” 月白風清.
              Trong bài Hậu Xích Bích phú 後赤壁賦 của Tô Thức 蘇軾 có câu:
             ..... Hữu khách vô tửu, hữu tửu vô hào, nguyệt bạch phong thanh, như thử lương dạ hà?....
              ..... 有客無酒, 有酒無肴, 月白風清, 如此良夜何 .....
              (..... Có khách mà không có rượu, có rượu lại chẳng có món ngon, trăng trong gió mát, đêm đẹp như thế này biết làm gì đây? .....)
              Thành ngữ “nguyệt bạch phong thanh” hoặc “phong thanh nguyệt bạch” ví cảnh đêm đẹp có trăng trong gió mát.

    Sinh rằng: Gió mát trăng trong
    Bấy lâu nay một chút lòng chưa cam
    (“Truyện Kiều” 455 – 456)
    Gió mát trăng trong và gió mát trăng thanh: Chỉ cảnh đêm trăng sáng mát mẻ.
    (Đào Duy Anh: “Từ điển Truyện Kiều”, nxb Khoa học xã hội, Hà Nội – 1989)
    Trong “Kim Vân Kiều” (Đoạn trường tân thanh) do Bùi Khánh Diễn chú thích, ghi rằng:
              Tô Đông Pha Hậu Xích Bích phú: Phong thanh nguyệt bạch như thử lương dạ hà?
              蘇東坡後赤壁賦: 風清月白如此良夜何
              (Bài phú Xích Bích của ông Tô Đông Pha: Gió mát trăng trong như đêm tốt này thì làm gì?)
    (Sài Gòn: nxb Sống Mới, 1960) 

    Xét: Theo ý riêng, với câu 455, Nguyễn Du có lẽ cũng liên tưởng đến thành ngữ “nguyệt bạch phong thanh” này.

                                                                         Huỳnh Chương Hưng
                                                                         Quy Nhơn 31/3/2020

    Thứ Hai, 30 tháng 3, 2020

    TRẬN CHIẾN QUAN ĐỘ

              Viên Thiệu 袁绍, tự Bản Sơ 本初, Hán tộc, người Nhữ Dương 汝阳 Nhữ Nam 汝南. Viên Thiệu xuất thân trong một gia đình nối đời làm quan, từ tằng tổ phụ trở đi, có nhiều người ở địa vị cao, nhân đó, gia tộc của ông cũng được gọi là gia tộc “tứ thế tam công” 四世三公. Năm 199, Viên Thiệu đánh bại Công Tôn Toản 公孙瓒, thế lực đạt đến đỉnh cao. Trong trận chiến Quan Độ 官渡, Viên thiệu bị Tào Tháo 曹操 đánh bại, hai năm sau, vì u uất mà qua đời.

              Cuối thời Đông Hán, Tào Tháo 曹操chiếm cứ khu vực phía nam Hoàng hà 黄河, dưới tay có mấy vạn binh mã. Còn khu vực phía bắc Hoàng hà thì dưới sự khống chế của Viên Thiệu 袁绍, nhưng Viên Thiệu lại có đến mấy chục vạn binh mã. Tỉ lệ khác biệt rất lớn đó, khiến Tào Tháo ở vào thế yếu. Tào Tháo đưa Hán Hiến Đế 汉献帝 đến chỗ của ông, thường mượn danh nghĩa Hán Hiến Đế mà hiệu lệnh thiên hạ. Viên Thiệu muốn xưng đế, không nghi ngờ gì, Tào Tháo là chướng ngại lớn nhất trước mặt, cho nên Viên Thiệu muốn phát binh tảo trừ chướng ngại.
              Năm 200, Đại tướng dưới tay Viên Thiệu là Nhan Lương 颜良 đem mười mấy vạn binh đi đánh Tào Tháo. Trước tiên chiếm lấy Lê Dương 黎阳, sau khi vượt qua Hoàng hà bao vây Bạch Mã 白马. Binh mã của Tào Tháo ít, đương nhiên không thể đánh với Nhan Lương. Mưu sĩ Tuân Du 荀攸đưa ra chủ ý, bảo Tào Tháo trước tiên phái một đội nhân mã đến bến Diên Tân 延津 giả trang như là muốn qua sông, nhất định Nhan Lương sẽ đem bính đến ngăn chặn. Đợi quân chủ lực của Viên Thiệu vừa chuyển dời, liền đem binh bất ngờ tập kích Bạch Mã, nhất định sẽ lấy được Bạch Mã. Tào Tháo nghe theo kiến nghị đó, tất cả quả nhiên đúng như Tuân Du dự tính, Nhan Lương đại bại.
              Viên Thiệu nghe sự việc đó, trong lòng rất không phục. Giám quân Tự Thụ 沮授 khuyên Viên Thiệu lưu quân chủ lực lại phía nam Diên Tân, phân một bộ phận binh lực xuất kích. Nhưng Viên Thiệu trong lòng như lửa đốt, không nghe theo khuyến cáo của Tự Thụ, hạ lệnh toàn quân vượt sông truy kích quân Tào, đồng thời phái Đại tướng Văn Xú 文丑 thống lĩnh năm sáu ngàn kị binh đánh tiên phong. Lúc bấy giờ, Tào Tháo từ Bạch Mã thoái lui về Quan Độ 官渡, nghe nói quân Viên Thiệu đuổi theo, liền cho 600 tên kị binh mai phục tại dốc phía nam Diên Tân, bảo binh sĩ tháo yên ngựa, để cho ngựa chạy rông dưới chân núi, đem vũ khí giáp trụ vất đầy trên đất. Đội quân của văn Xú đi qua nhìn thấy trên đất vũ khí vất đầy liền xuống ngựa nhặt. Lúc này, đội quân của Tào Tháo xông ra, khiến đội quân của Văn Xú trở tay không kịp, Văn Xú cũng bị bại dưới tay Tào Tháo.
              Viên Thiệu liên tiếp bị bại hai trận vẫn không chịu nhận thua, Tào Tháo dẫn nhân mã của mình lui đến Quan Độ. Viên Thiệu nghĩa ra cách xạ kích từ đài cao, bèn cho đắp thổ đài cao cao, từ chỗ cao nhắm đến đội quân Tào Tháo mà bắn tên. Tào Tháo liền dùng “tích lịch xa” 霹雳车 (xe bắn đá) đối phó. Công cụ này bắn đá phá huỷ đài cao. Viên Thiệu lại đào địa đạo, Tào Tháo liền dùng hào nước cắt đứt địa đạo. Quân hai bên đối kháng như thế đến mấy tháng.
              Đội quân của Tào Tháo lúc này rơi vào tình thế bị vây khốn, lương thực không thể duy trì được lâu. Mưu sĩ của Viên Thiệu là Hứa Du 许攸bảo nên nhân cơ hội này tấn công quân Tào, Viên Thiệu không nghe, lại còn mắng Hứa Du một trận. Hứa Du bèn đầu bôn bên Tào Tháo.
              Tào Tháo thấy Hứa Du đến, trong lòng vô cùng vui mừng. Hứa Du đưa ra biện pháp, có thể khiến Viên Thiệu không đánh mà cũng tự tan rã. Tào Tháo y lời, phái một đội nhân mã, giương cờ hiệu của Viên quân chạy đến Ô Sào 乌巢, gặp trạm canh thì nói là Viên Thiệu phái quân tăng viện. Tại Ô Sào, có kho lương thảo cho hơn một vạn quân của Viên Thiệu. Người phụ trách canh giữ là Thuần Vu Quỳnh 淳于琼 phòng bị không nghiêm ngặt, Hứa Du liền bảo Tào Tháo nhắm vào chỗ yếu này.
              Quân Tào trên đường đi không gặp phải cản trở nào, đến Ô Sào liền phóng hoả đốt cháy kho lương thảo của Viên Thiệu. Nhân lúc đội quân của Viên Thiệu hoảng loạn, Tào Tháo đánh cho một trận tơi tả.
    Tướng sĩ của Viên Thiệu tại Quan Độ nghe tin Ô Sào phát hoả đêu kinh hoảng. Hai tướng thủ hạ của Viên Thiệu là Đại tướng Trương Cáp 张郃, Cao Lãm 高览 dẫn binh đầu hàng. Quân Tào thừa thế tấn công mãnh liệt. Quân Viên Thiệu đào thoát tứ xứ. Viên Thiệu và con là Viên Đàm 袁谭, ngay cả giáp trụ cũng chưa kịp cởi dẫn hơn 800 kị bình còn sót lại chạy về phía bắc.
              Trải qua trận chiến này, quân chủ lực của Viên Thiệu  đã bị tiêu diệt. Qua hai năm sau, Viên Thiệu bệnh và qua đời. Tào Tháo lại mất thêm 7 năm mới tảo trừ hết thế lực tàn dư của Viên Thiệu, thống nhất phương bắc.

    Phụ lục
              Kiến An 建安năm thứ 5, Viên Thiệu thống lĩnh 10 vạn đại quân chuẩn bị đánh Tào Tháo. Mưu sĩ bên cạnh Viên Thiệu là Điền Phong 田丰 khuyến cáo rằng:
              - Hiện tại Tào Tháo vừa mới công phá Từ Châu 徐州, thực lực đang mạnh, quả thực không thể xem nhẹ. Chi bằng chúng ta án binh bất động, tích chứa lực lượng, đợi sau này có thời cơ sẽ đánh lại.
              Viên Thiệu không nghe, đồng thời bắt Điền Phong giam vào ngục. Trận chiến Quan Độ, Viên Thiệu thảm bại. Ngục lại nói với Điền Phong rằng:
              - Viên Thiệu đại bại trở về là do bởi không nghe theo kiến nghị của ông. Sau khi trở về, Viên Thiệu nhất định dùng lại ông.
              Điền Phong lại nói rằng:
              - Nếu đánh thắng trận, có thể tôi còn có hi vọng sống sót. Nay bị bại trận, tôi làm sao mong có thể được sống sót.
              Quả nhiên, sau khi Viên Thiệu trở về đã giết chết Điền Phong.


     Tích lịch xa 

                                                            Huỳnh Chương Hưng
                                                            Quy Nhơn 30/3/2020

    Nguyên tác Trung văn
    QUAN ĐỘ CHI CHIẾN
    官渡之战
    Trong quyển
    TRUNG QUỐC LỊCH SỬ CỐ SỰ (tập 3)
    中国历史故事
    Biên soạn: Sơ Dương Tả Tả 初阳姐姐
    Trường Xuân: Cát Lâm văn sử xuất bản xã, 2015

    Dịch thuật: Trận chiến Quan Độ

    Đăng lúc  20:29  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    TRẬN CHIẾN QUAN ĐỘ

              Viên Thiệu 袁绍, tự Bản Sơ 本初, Hán tộc, người Nhữ Dương 汝阳 Nhữ Nam 汝南. Viên Thiệu xuất thân trong một gia đình nối đời làm quan, từ tằng tổ phụ trở đi, có nhiều người ở địa vị cao, nhân đó, gia tộc của ông cũng được gọi là gia tộc “tứ thế tam công” 四世三公. Năm 199, Viên Thiệu đánh bại Công Tôn Toản 公孙瓒, thế lực đạt đến đỉnh cao. Trong trận chiến Quan Độ 官渡, Viên thiệu bị Tào Tháo 曹操 đánh bại, hai năm sau, vì u uất mà qua đời.

              Cuối thời Đông Hán, Tào Tháo 曹操chiếm cứ khu vực phía nam Hoàng hà 黄河, dưới tay có mấy vạn binh mã. Còn khu vực phía bắc Hoàng hà thì dưới sự khống chế của Viên Thiệu 袁绍, nhưng Viên Thiệu lại có đến mấy chục vạn binh mã. Tỉ lệ khác biệt rất lớn đó, khiến Tào Tháo ở vào thế yếu. Tào Tháo đưa Hán Hiến Đế 汉献帝 đến chỗ của ông, thường mượn danh nghĩa Hán Hiến Đế mà hiệu lệnh thiên hạ. Viên Thiệu muốn xưng đế, không nghi ngờ gì, Tào Tháo là chướng ngại lớn nhất trước mặt, cho nên Viên Thiệu muốn phát binh tảo trừ chướng ngại.
              Năm 200, Đại tướng dưới tay Viên Thiệu là Nhan Lương 颜良 đem mười mấy vạn binh đi đánh Tào Tháo. Trước tiên chiếm lấy Lê Dương 黎阳, sau khi vượt qua Hoàng hà bao vây Bạch Mã 白马. Binh mã của Tào Tháo ít, đương nhiên không thể đánh với Nhan Lương. Mưu sĩ Tuân Du 荀攸đưa ra chủ ý, bảo Tào Tháo trước tiên phái một đội nhân mã đến bến Diên Tân 延津 giả trang như là muốn qua sông, nhất định Nhan Lương sẽ đem bính đến ngăn chặn. Đợi quân chủ lực của Viên Thiệu vừa chuyển dời, liền đem binh bất ngờ tập kích Bạch Mã, nhất định sẽ lấy được Bạch Mã. Tào Tháo nghe theo kiến nghị đó, tất cả quả nhiên đúng như Tuân Du dự tính, Nhan Lương đại bại.
              Viên Thiệu nghe sự việc đó, trong lòng rất không phục. Giám quân Tự Thụ 沮授 khuyên Viên Thiệu lưu quân chủ lực lại phía nam Diên Tân, phân một bộ phận binh lực xuất kích. Nhưng Viên Thiệu trong lòng như lửa đốt, không nghe theo khuyến cáo của Tự Thụ, hạ lệnh toàn quân vượt sông truy kích quân Tào, đồng thời phái Đại tướng Văn Xú 文丑 thống lĩnh năm sáu ngàn kị binh đánh tiên phong. Lúc bấy giờ, Tào Tháo từ Bạch Mã thoái lui về Quan Độ 官渡, nghe nói quân Viên Thiệu đuổi theo, liền cho 600 tên kị binh mai phục tại dốc phía nam Diên Tân, bảo binh sĩ tháo yên ngựa, để cho ngựa chạy rông dưới chân núi, đem vũ khí giáp trụ vất đầy trên đất. Đội quân của văn Xú đi qua nhìn thấy trên đất vũ khí vất đầy liền xuống ngựa nhặt. Lúc này, đội quân của Tào Tháo xông ra, khiến đội quân của Văn Xú trở tay không kịp, Văn Xú cũng bị bại dưới tay Tào Tháo.
              Viên Thiệu liên tiếp bị bại hai trận vẫn không chịu nhận thua, Tào Tháo dẫn nhân mã của mình lui đến Quan Độ. Viên Thiệu nghĩa ra cách xạ kích từ đài cao, bèn cho đắp thổ đài cao cao, từ chỗ cao nhắm đến đội quân Tào Tháo mà bắn tên. Tào Tháo liền dùng “tích lịch xa” 霹雳车 (xe bắn đá) đối phó. Công cụ này bắn đá phá huỷ đài cao. Viên Thiệu lại đào địa đạo, Tào Tháo liền dùng hào nước cắt đứt địa đạo. Quân hai bên đối kháng như thế đến mấy tháng.
              Đội quân của Tào Tháo lúc này rơi vào tình thế bị vây khốn, lương thực không thể duy trì được lâu. Mưu sĩ của Viên Thiệu là Hứa Du 许攸bảo nên nhân cơ hội này tấn công quân Tào, Viên Thiệu không nghe, lại còn mắng Hứa Du một trận. Hứa Du bèn đầu bôn bên Tào Tháo.
              Tào Tháo thấy Hứa Du đến, trong lòng vô cùng vui mừng. Hứa Du đưa ra biện pháp, có thể khiến Viên Thiệu không đánh mà cũng tự tan rã. Tào Tháo y lời, phái một đội nhân mã, giương cờ hiệu của Viên quân chạy đến Ô Sào 乌巢, gặp trạm canh thì nói là Viên Thiệu phái quân tăng viện. Tại Ô Sào, có kho lương thảo cho hơn một vạn quân của Viên Thiệu. Người phụ trách canh giữ là Thuần Vu Quỳnh 淳于琼 phòng bị không nghiêm ngặt, Hứa Du liền bảo Tào Tháo nhắm vào chỗ yếu này.
              Quân Tào trên đường đi không gặp phải cản trở nào, đến Ô Sào liền phóng hoả đốt cháy kho lương thảo của Viên Thiệu. Nhân lúc đội quân của Viên Thiệu hoảng loạn, Tào Tháo đánh cho một trận tơi tả.
    Tướng sĩ của Viên Thiệu tại Quan Độ nghe tin Ô Sào phát hoả đêu kinh hoảng. Hai tướng thủ hạ của Viên Thiệu là Đại tướng Trương Cáp 张郃, Cao Lãm 高览 dẫn binh đầu hàng. Quân Tào thừa thế tấn công mãnh liệt. Quân Viên Thiệu đào thoát tứ xứ. Viên Thiệu và con là Viên Đàm 袁谭, ngay cả giáp trụ cũng chưa kịp cởi dẫn hơn 800 kị bình còn sót lại chạy về phía bắc.
              Trải qua trận chiến này, quân chủ lực của Viên Thiệu  đã bị tiêu diệt. Qua hai năm sau, Viên Thiệu bệnh và qua đời. Tào Tháo lại mất thêm 7 năm mới tảo trừ hết thế lực tàn dư của Viên Thiệu, thống nhất phương bắc.

    Phụ lục
              Kiến An 建安năm thứ 5, Viên Thiệu thống lĩnh 10 vạn đại quân chuẩn bị đánh Tào Tháo. Mưu sĩ bên cạnh Viên Thiệu là Điền Phong 田丰 khuyến cáo rằng:
              - Hiện tại Tào Tháo vừa mới công phá Từ Châu 徐州, thực lực đang mạnh, quả thực không thể xem nhẹ. Chi bằng chúng ta án binh bất động, tích chứa lực lượng, đợi sau này có thời cơ sẽ đánh lại.
              Viên Thiệu không nghe, đồng thời bắt Điền Phong giam vào ngục. Trận chiến Quan Độ, Viên Thiệu thảm bại. Ngục lại nói với Điền Phong rằng:
              - Viên Thiệu đại bại trở về là do bởi không nghe theo kiến nghị của ông. Sau khi trở về, Viên Thiệu nhất định dùng lại ông.
              Điền Phong lại nói rằng:
              - Nếu đánh thắng trận, có thể tôi còn có hi vọng sống sót. Nay bị bại trận, tôi làm sao mong có thể được sống sót.
              Quả nhiên, sau khi Viên Thiệu trở về đã giết chết Điền Phong.


     Tích lịch xa 

                                                            Huỳnh Chương Hưng
                                                            Quy Nhơn 30/3/2020

    Nguyên tác Trung văn
    QUAN ĐỘ CHI CHIẾN
    官渡之战
    Trong quyển
    TRUNG QUỐC LỊCH SỬ CỐ SỰ (tập 3)
    中国历史故事
    Biên soạn: Sơ Dương Tả Tả 初阳姐姐
    Trường Xuân: Cát Lâm văn sử xuất bản xã, 2015

    Mã nguồn bởi Huỳnh Chương Hưng
    Copyright © 2012 Huỳnh Chương Hưng.
    back to top