• Thứ Năm, 15 tháng 11, 2018

    CÁI CHẾT CỦA KHÁNH KỊ

              Cơ Quang 姬光giết quốc quân, lợi dụng Chuyên Chư 专诸thích sát Vương Liêu 王僚, tự lập làm Ngô Vương Hạp Lư 吴王阖闾.
              Con của Ngô Vương Liêu là Khánh Kị 庆忌, chạy ra bên ngoài, chiêu nạp hiền sĩ, liên hiệp với lân quốc đợi thời cơ phạt Ngô báo thù.
              Hạp Lư vốn biết Khánh Kị mạnh khoẻ nhanh nhẹn, dũng mãnh phi thường, vạn người cũng khó địch lại, nay nghe tin này nên rất lo sợ, muốn sai người đi hành thích, nhưng nhất thời tìm chưa được người thích hợp.
              Ngày nọ, Ngũ Viên 伍员mời đến một dũng sĩ, tên là Yếu Li 要离.
              Hạp Lư và nhìn thấy Yếu li thân cao chưa đến 5 xích, lưng to tướng xấu nên thất vọng, không vui, hỏi:
              - Ngươi là dũng sĩ Yếu Li mà Ngũ đại phu giới thiệu chăng?
              Yếu Li đáp rằng:
              - Thần nhỏ bé không có sức, gặp gió phải rạp, ngược gió phải đổ, đâu có phải dũng sĩ gì. Nhưng nếu đại vương sai khiến, thần nhất định sẽ làm hết khả năng.
              Hạp Lư nghe qua càng không vui. Ngũ Viên biết ý bèn nói:
              - Ngựa tốt không phải ở chỗ phải cao to, chỉ cần có thể thồ được nặng chạy được xa thì là ngựa tốt. Yếu Li tướng mạo tuy xấu, nhưng vô cùng cơ trí mẫn tiệp, nhất định sẽ hoàn thành thắng lợi vương mệnh.
              Hạp Lư thấy Ngũ Viên ra sức tiến cử bèn mời Yếu Li đến hậu cung bàn chuyện. Yếu Li hỏi:
              - Đại vương trong lòng lo âu, muốn sai phái tiểu nhân, có phải là vì Khánh Kị chăng? Thần có thể thích sát ông ta.
              Hạp Lư cười bảo rằng:
              - Khánh Kị là người tài giỏi, y thân cao sức lớn, chạy nhanh như ngựa phi, khoẻ mạnh như thần, vạn người khó đương lại, e ngươi chế phục hắn không nỗi.
              Yếu Li nói rằng:
              - Người giỏi giết người, là ở trí chứ không phải ở sức, thần chỉ cần tiếp cận Khánh Kị là có thể giết được ông ta.
              Hạp Lư hỏi:
              - Khánh Kị là người thông minh, sao có thể dễ dàng tiếp cận người khác.
              Yếu Li nói một cách tự tin:
              - Thần có cách để ông ta tiếp cận, không thể tin là thần không thể. Ông ta hiện đang chiêu nạp bọn vong mạng, thần trá làm tội thần, đầu bôn đến chỗ ông ta. Xin đại vương chém tay phải của thần, giết người nhà của thần, như vậy há lí nào Khánh Kị không tin?
              Hạp Lư chau mày nói rằng:
              - Ngươi vô tội, lẽ nào lại hạ độc thủ như thế?
              Yếu Li khảng khái hiên ngang nói rằng:
              - Ở yên với cái vui của vợ con, không hết sức thờ quốc quân, thì không thể nói là trung. Tham luyến gia thất, quên cái lo của quốc quân, không phải là điều mà dũng sĩ làm. Thần có thể toàn trung toàn nghĩa, cho dù có huỷ hoại toàn gia cũng cam lòng!
              Ngũ Viên bên cạnh nói thêm vào:
              - Yếu Li vì nước quên nhà, quả là kẻ sĩ trung liệt, nếu thành công nên ban thưởng cho công nghiệp của ông ta, treo biển ngợi khen thê tử ông ta, khiến danh dương hậu thế, đó là nghĩa cử nhất cử lưỡng tiện.
              Hạp Lư suy nghĩ một hồi mới bằng lòng.
              Ngày hôm sau, Ngũ Viên cùng Yếu Li vào triều, tiến cử Yếu Li làm Tướng quân, dẫn quân tấn công nước Sở. Hạp Lư nghe tấu, giận dữ trách Ngũ Viên:
              - Yếu Li thấp bé, giết gà còn không dám, cưỡi ngựa không có uy, làm sao có thể làm quan thống lĩnh quân binh được? Thật là hồ đồ, làm gì có lí đó.
              Yếu Li khải tấu:
              - Đại vương vong ơn đến cực điểm, Ngũ Viên vì đại vương an định giang sơn, đại vương lại không thay Ngũ Viên báo thù Sở Vương ...
              Hạp Lư cả giận vỗ án nói rằng:
              - Đó là quốc gia đại sự, không phải việc mà ngươi biết, sao trước mặt trách nhục quả nhân?
              Lập tức hạ lệnh chặt tay phải của Yếu Li, tống giam vào ngục, cho bắt vợ con ông ta. Ngũ Viên cất tiếng than rồi lui ra, quần thần không ai biết chuyện gì.
              Qua mấy ngày sau, Ngũ Viên ngầm bảo quan canh ngục nới lỏng việc giám sát Yếu Li, Yếu Li thừa cơ vượt ngục. Hạp Lư hạ lệnh chém đầu vợ con Yếu Li, bêu ở chợ để thị chúng.
              Yếu Li chạy ra khỏi biên giới nước Ngô, trên đường gặp người, kể nỗi oan của mình, và hỏi thăm biết được Khánh Kị đang ở nước Vệ, liền chạy đến nước Vệ cầu kiến. Khánh Kị nghi ngờ Yếu Li trá nguỵ, không chịu thu nhận, Yếu Li bèn cởi áo ra, Khánh Kị nhìn thấy Yếu Li bị chặt đứt tay phải lúc bấy giờ mới tin, bèn hỏi:
              - Hạp Lư đã chặt tay của ông, khiến ông trở nên tàn phế, ông đến gặp ta rốt cuộc là có ý gì?
              Yếu Li đáp rằng:
              - Tôi nghe Hạp Lư giết phụ thân công tử, đoạt lấy vương vị, hiện công tử liên kết chư hầu, muốn báo thù rửa hận, cho nên tôi đến, tuy không thể xung phong hãm trận, nhưng có thể chỉ đường. Đối với hình thế núi sông nước Ngô, tôi tương đối quen thuộc, chỉ cần công tử báo được thù, tôi rửa được hận giết vợ con thì cũng mãn nguyện rồi.
              Khánh Kị hãy còn chưa tin lắm, vừa lúc có tên tâm phúc đến báo cáo, nói rằng vợ con Yếu Li đã bị Hạp Lư chém đầu thị chúng.
              Yếu Li nghe qua liền khóc lớn, nghiến răng trợn mắt mắng Hạp Lư. Như vậy, Khánh Kị mới tin không còn nghi ngờ.
              Khánh Kị hỏi:
              - Trước mắt Hạp Lư có Ngũ Viên và Bá Bĩ 伯嚭 làm mưu sĩ, luyện binh tuyển tướng, trong nước đại trị. Ta thì binh ít lực ít, làm sao đối kháng với y để trút cái giận trong lòng?
              Yếu Li đáp rằng:
              - Bá Bĩ là kẻ vô mưu, không có đầu óc, không đáng để lo; chỉ có Ngũ Viên mới gọi là trí dũng có đủ, nhưng nay với Hạp Lư bề ngoài thì hợp nhưng bên trong thì xa cách.
              - Thế thì làm thế nào?
              Yếu Li nói rằng:
              - Công tử chỉ biết một mà không biết hai. Ngũ Viên sở dĩ tận lực giúp Hạp Lư, mục đích ở chỗ mượn binh phạt Sở, báo thù cho cha và anh, nhưng hiện Sở Bình Vương đã chết, thù nhà cũng quên, Hạp Lư ở yên với vương vị, hàng ngày chỉ biết đến tửu sắc, không nghĩ đến việc thay Ngũ Viên báo thù. Lấy sự việc trước mắt mà nói, Ngũ Viên tiến cử tôi phạt Sở, Hạp Lư chỉ trích tôi tại chỗ, còn giết gà doạ khỉ gia tội cho tôi, cho nên Ngũ Viên oán hận Hạp Lư đã là hình thế bức bách. Nói thực, tôi lần này vượt ngục trốn chạy cũng là nhờ Ngũ Viên mua chuộc quan coi ngục, ông ta từng dặn tôi: ‘Ông lần này trước tiên đi gặp công tử, quan sát xem động tĩnh thế nào, nếu chịu vì Ngũ Viên ta báo thù, ta nguyện sẽ làm nội ứng, để chuộc tội trước đây đã giết quốc quân.’ Công tử không nhân lúc này phát binh nhập Ngô thì còn đợi lúc nào nữa? Sợ là không còn có ngày báo thù nữa.
              Yếu Li nói xong khóc lớn, dập mạnh đầu xuống đất.
              Khánh Kị vội khuyên:
              - Được, được. Ta nghe theo lời ông, nhất định trong một thời gian ngắn nhất sẽ khởi nghĩa.
              Khánh Kị đưa Yếu Li về căn cứ địa Ngải Thành 艾城, xem là tâm phúc, giao phụ trách việc huấn luyện quân sĩ, tu sửa thuyền binh.
              Qua 3 tháng, dưới sự xúi giục của Yếu Li, Khánh Kị đại cử nghĩa kì, xuất binh làm 2 lộ, thuỷ lục cùng tiến, rầm rầm rộ rộ tiến đến nước Ngô.
              Khánh Kị và Yếu Li cùng ngồi một thuyền, đến giữa giòng, thuyền phía sau bỗng theo không kịp. Yếu Li nói với Khánh Kị:
              - Công tử có thể ngồi yên tại thuyền, thuyền công nhìn thấy sẽ không dám không ra sức.
              Khánh Kị ngồi ở đầu thuyền, Yếu Li cầm kích đứng hầu. Bỗng nhiên trên núi nổi trận gió lạ, Yếu Li chuyển người, thình lình đâm vào ngực Khánh Kị một kích, xuyên thấu ra phía sau. Khánh Kị thân thể khôi ngô, hai tay nhấc Yếu Li dìm xuống nước 3 lần, sau đó đặt Yếu Li trên đầu gối, gượng cười nói rằng:
              - Ngươi có thể nói là dũng sĩ, ngay cả ta mà cũng dám hành thích!
              Tả hữu đều muốn đâm chết Yếu Li, Khánh Kị bảo rằng:
              - Đó là kẻ sĩ có tài, thả cho y đi đi.
              Nói xong, do vì máu chảy quá nhiều, Khánh Kị ngã lăn ra đất chết.
              Yếu Li thấy nhiệm vụ đã hoàn thành, cũng liền đoạt lấy kiếm tự sát. 

                                                              Huỳnh Chương Hưng
                                                              Quy Nhơn 15/11/2018

    Nguồn
    TRUNG HOA THƯỢNG HẠ NGŨ THIÊN NIÊN
    中华上下五千年
    Chủ biên: Lí Tinh 李晶
    Nam Kinh đại học xuất bản xã, 2007

    Dịch thuật: Cái chết của Khánh Kị

    Đăng lúc  21:10  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    CÁI CHẾT CỦA KHÁNH KỊ

              Cơ Quang 姬光giết quốc quân, lợi dụng Chuyên Chư 专诸thích sát Vương Liêu 王僚, tự lập làm Ngô Vương Hạp Lư 吴王阖闾.
              Con của Ngô Vương Liêu là Khánh Kị 庆忌, chạy ra bên ngoài, chiêu nạp hiền sĩ, liên hiệp với lân quốc đợi thời cơ phạt Ngô báo thù.
              Hạp Lư vốn biết Khánh Kị mạnh khoẻ nhanh nhẹn, dũng mãnh phi thường, vạn người cũng khó địch lại, nay nghe tin này nên rất lo sợ, muốn sai người đi hành thích, nhưng nhất thời tìm chưa được người thích hợp.
              Ngày nọ, Ngũ Viên 伍员mời đến một dũng sĩ, tên là Yếu Li 要离.
              Hạp Lư và nhìn thấy Yếu li thân cao chưa đến 5 xích, lưng to tướng xấu nên thất vọng, không vui, hỏi:
              - Ngươi là dũng sĩ Yếu Li mà Ngũ đại phu giới thiệu chăng?
              Yếu Li đáp rằng:
              - Thần nhỏ bé không có sức, gặp gió phải rạp, ngược gió phải đổ, đâu có phải dũng sĩ gì. Nhưng nếu đại vương sai khiến, thần nhất định sẽ làm hết khả năng.
              Hạp Lư nghe qua càng không vui. Ngũ Viên biết ý bèn nói:
              - Ngựa tốt không phải ở chỗ phải cao to, chỉ cần có thể thồ được nặng chạy được xa thì là ngựa tốt. Yếu Li tướng mạo tuy xấu, nhưng vô cùng cơ trí mẫn tiệp, nhất định sẽ hoàn thành thắng lợi vương mệnh.
              Hạp Lư thấy Ngũ Viên ra sức tiến cử bèn mời Yếu Li đến hậu cung bàn chuyện. Yếu Li hỏi:
              - Đại vương trong lòng lo âu, muốn sai phái tiểu nhân, có phải là vì Khánh Kị chăng? Thần có thể thích sát ông ta.
              Hạp Lư cười bảo rằng:
              - Khánh Kị là người tài giỏi, y thân cao sức lớn, chạy nhanh như ngựa phi, khoẻ mạnh như thần, vạn người khó đương lại, e ngươi chế phục hắn không nỗi.
              Yếu Li nói rằng:
              - Người giỏi giết người, là ở trí chứ không phải ở sức, thần chỉ cần tiếp cận Khánh Kị là có thể giết được ông ta.
              Hạp Lư hỏi:
              - Khánh Kị là người thông minh, sao có thể dễ dàng tiếp cận người khác.
              Yếu Li nói một cách tự tin:
              - Thần có cách để ông ta tiếp cận, không thể tin là thần không thể. Ông ta hiện đang chiêu nạp bọn vong mạng, thần trá làm tội thần, đầu bôn đến chỗ ông ta. Xin đại vương chém tay phải của thần, giết người nhà của thần, như vậy há lí nào Khánh Kị không tin?
              Hạp Lư chau mày nói rằng:
              - Ngươi vô tội, lẽ nào lại hạ độc thủ như thế?
              Yếu Li khảng khái hiên ngang nói rằng:
              - Ở yên với cái vui của vợ con, không hết sức thờ quốc quân, thì không thể nói là trung. Tham luyến gia thất, quên cái lo của quốc quân, không phải là điều mà dũng sĩ làm. Thần có thể toàn trung toàn nghĩa, cho dù có huỷ hoại toàn gia cũng cam lòng!
              Ngũ Viên bên cạnh nói thêm vào:
              - Yếu Li vì nước quên nhà, quả là kẻ sĩ trung liệt, nếu thành công nên ban thưởng cho công nghiệp của ông ta, treo biển ngợi khen thê tử ông ta, khiến danh dương hậu thế, đó là nghĩa cử nhất cử lưỡng tiện.
              Hạp Lư suy nghĩ một hồi mới bằng lòng.
              Ngày hôm sau, Ngũ Viên cùng Yếu Li vào triều, tiến cử Yếu Li làm Tướng quân, dẫn quân tấn công nước Sở. Hạp Lư nghe tấu, giận dữ trách Ngũ Viên:
              - Yếu Li thấp bé, giết gà còn không dám, cưỡi ngựa không có uy, làm sao có thể làm quan thống lĩnh quân binh được? Thật là hồ đồ, làm gì có lí đó.
              Yếu Li khải tấu:
              - Đại vương vong ơn đến cực điểm, Ngũ Viên vì đại vương an định giang sơn, đại vương lại không thay Ngũ Viên báo thù Sở Vương ...
              Hạp Lư cả giận vỗ án nói rằng:
              - Đó là quốc gia đại sự, không phải việc mà ngươi biết, sao trước mặt trách nhục quả nhân?
              Lập tức hạ lệnh chặt tay phải của Yếu Li, tống giam vào ngục, cho bắt vợ con ông ta. Ngũ Viên cất tiếng than rồi lui ra, quần thần không ai biết chuyện gì.
              Qua mấy ngày sau, Ngũ Viên ngầm bảo quan canh ngục nới lỏng việc giám sát Yếu Li, Yếu Li thừa cơ vượt ngục. Hạp Lư hạ lệnh chém đầu vợ con Yếu Li, bêu ở chợ để thị chúng.
              Yếu Li chạy ra khỏi biên giới nước Ngô, trên đường gặp người, kể nỗi oan của mình, và hỏi thăm biết được Khánh Kị đang ở nước Vệ, liền chạy đến nước Vệ cầu kiến. Khánh Kị nghi ngờ Yếu Li trá nguỵ, không chịu thu nhận, Yếu Li bèn cởi áo ra, Khánh Kị nhìn thấy Yếu Li bị chặt đứt tay phải lúc bấy giờ mới tin, bèn hỏi:
              - Hạp Lư đã chặt tay của ông, khiến ông trở nên tàn phế, ông đến gặp ta rốt cuộc là có ý gì?
              Yếu Li đáp rằng:
              - Tôi nghe Hạp Lư giết phụ thân công tử, đoạt lấy vương vị, hiện công tử liên kết chư hầu, muốn báo thù rửa hận, cho nên tôi đến, tuy không thể xung phong hãm trận, nhưng có thể chỉ đường. Đối với hình thế núi sông nước Ngô, tôi tương đối quen thuộc, chỉ cần công tử báo được thù, tôi rửa được hận giết vợ con thì cũng mãn nguyện rồi.
              Khánh Kị hãy còn chưa tin lắm, vừa lúc có tên tâm phúc đến báo cáo, nói rằng vợ con Yếu Li đã bị Hạp Lư chém đầu thị chúng.
              Yếu Li nghe qua liền khóc lớn, nghiến răng trợn mắt mắng Hạp Lư. Như vậy, Khánh Kị mới tin không còn nghi ngờ.
              Khánh Kị hỏi:
              - Trước mắt Hạp Lư có Ngũ Viên và Bá Bĩ 伯嚭 làm mưu sĩ, luyện binh tuyển tướng, trong nước đại trị. Ta thì binh ít lực ít, làm sao đối kháng với y để trút cái giận trong lòng?
              Yếu Li đáp rằng:
              - Bá Bĩ là kẻ vô mưu, không có đầu óc, không đáng để lo; chỉ có Ngũ Viên mới gọi là trí dũng có đủ, nhưng nay với Hạp Lư bề ngoài thì hợp nhưng bên trong thì xa cách.
              - Thế thì làm thế nào?
              Yếu Li nói rằng:
              - Công tử chỉ biết một mà không biết hai. Ngũ Viên sở dĩ tận lực giúp Hạp Lư, mục đích ở chỗ mượn binh phạt Sở, báo thù cho cha và anh, nhưng hiện Sở Bình Vương đã chết, thù nhà cũng quên, Hạp Lư ở yên với vương vị, hàng ngày chỉ biết đến tửu sắc, không nghĩ đến việc thay Ngũ Viên báo thù. Lấy sự việc trước mắt mà nói, Ngũ Viên tiến cử tôi phạt Sở, Hạp Lư chỉ trích tôi tại chỗ, còn giết gà doạ khỉ gia tội cho tôi, cho nên Ngũ Viên oán hận Hạp Lư đã là hình thế bức bách. Nói thực, tôi lần này vượt ngục trốn chạy cũng là nhờ Ngũ Viên mua chuộc quan coi ngục, ông ta từng dặn tôi: ‘Ông lần này trước tiên đi gặp công tử, quan sát xem động tĩnh thế nào, nếu chịu vì Ngũ Viên ta báo thù, ta nguyện sẽ làm nội ứng, để chuộc tội trước đây đã giết quốc quân.’ Công tử không nhân lúc này phát binh nhập Ngô thì còn đợi lúc nào nữa? Sợ là không còn có ngày báo thù nữa.
              Yếu Li nói xong khóc lớn, dập mạnh đầu xuống đất.
              Khánh Kị vội khuyên:
              - Được, được. Ta nghe theo lời ông, nhất định trong một thời gian ngắn nhất sẽ khởi nghĩa.
              Khánh Kị đưa Yếu Li về căn cứ địa Ngải Thành 艾城, xem là tâm phúc, giao phụ trách việc huấn luyện quân sĩ, tu sửa thuyền binh.
              Qua 3 tháng, dưới sự xúi giục của Yếu Li, Khánh Kị đại cử nghĩa kì, xuất binh làm 2 lộ, thuỷ lục cùng tiến, rầm rầm rộ rộ tiến đến nước Ngô.
              Khánh Kị và Yếu Li cùng ngồi một thuyền, đến giữa giòng, thuyền phía sau bỗng theo không kịp. Yếu Li nói với Khánh Kị:
              - Công tử có thể ngồi yên tại thuyền, thuyền công nhìn thấy sẽ không dám không ra sức.
              Khánh Kị ngồi ở đầu thuyền, Yếu Li cầm kích đứng hầu. Bỗng nhiên trên núi nổi trận gió lạ, Yếu Li chuyển người, thình lình đâm vào ngực Khánh Kị một kích, xuyên thấu ra phía sau. Khánh Kị thân thể khôi ngô, hai tay nhấc Yếu Li dìm xuống nước 3 lần, sau đó đặt Yếu Li trên đầu gối, gượng cười nói rằng:
              - Ngươi có thể nói là dũng sĩ, ngay cả ta mà cũng dám hành thích!
              Tả hữu đều muốn đâm chết Yếu Li, Khánh Kị bảo rằng:
              - Đó là kẻ sĩ có tài, thả cho y đi đi.
              Nói xong, do vì máu chảy quá nhiều, Khánh Kị ngã lăn ra đất chết.
              Yếu Li thấy nhiệm vụ đã hoàn thành, cũng liền đoạt lấy kiếm tự sát. 

                                                              Huỳnh Chương Hưng
                                                              Quy Nhơn 15/11/2018

    Nguồn
    TRUNG HOA THƯỢNG HẠ NGŨ THIÊN NIÊN
    中华上下五千年
    Chủ biên: Lí Tinh 李晶
    Nam Kinh đại học xuất bản xã, 2007

    Thứ Tư, 14 tháng 11, 2018

    LIÊU THÁNH TÔNG DA LUẬT LONG TỰ

              Long Tự 隆绪là tên Hán, tên Khất Đan là Văn Thù Nô 文殊奴.
              Da Luật Long Tự 耶律隆绪là con trưởng của Liêu Cảnh Tông Da Luật Hiền 辽景宗耶律贤, mẫu thân là Duệ Tri hoàng hậu Tiêu thị 睿知皇后萧氏.
              Long Tự thiên tư thông minh dĩnh ngộ, lúc nhỏ rất thích đọc sách, lên 10 tuổi có thể làm thơ. Sau khi trưởng thành, Long Tự giỏi về kị xạ, thông hiểu âm luật, ham thích thư hoạ.
              Năm Càn Hanh 乾亨 thứ 2, năm công nguyên 980, Long Tự được phong làm Lương Vương 梁王.
              Tháng 9 năm Càn Hanh thứ 4, Cảnh Đế 景帝qua đời, Long Tự tức đế vị, tại vị từ năm 982 đến năm 1031.
              Khi Long Tự lên ngôi chỉ mới 11 tuổi, triều chính do Thái hậu chủ trì. Thừa Thiên thái hậu 承天太后sủng dụng bề tôi người Hán là Hàn Đức Nhượng 韩德让, nắm giữ quân chính.
              Năm Thống Hoà 统和thứ 27, năm 1009, Thừa Thiên thái hậu bệnh và qua đời, Long Tự chính thức thân chính. Kết minh, hoà thân với Tây Hạ 西夏. Đông chinh Cao Li 高丽, bức Cao Li thần phục. Phía tây đánh bại Thát Đát 鞑靼, bức Cam Châu 甘州, Tây Châu Hồi Cốt 西州回鹘tiến cống. Năm Thống Hoà thứ 4, đánh Tống ở phía nam, quân Tống đại bại tại Kì Câu Quan 歧沟关. Đầu tháng 12 năm Thống Hoà thứ 22, đính lập minh ước Thiền Uyên 澶渊 với Tống Chân Tông.
    Thánh Tông chú ý đối xử hoà mục với các nước chung quanh. Thời gian tại vị, ông tu đính pháp luật, phóng thích nô tì, giảm nhẹ thuế khoá, chỉnh đốn lại trị. Năm Thống Hoà thứ 6, Thánh Tông ban chiếu lệnh mở khoa thi lấy người tài. Thánh Tông lại thiết trí 24 bộ, chiêu tập thợ giỏi người Hán ở Yên Kế 燕蓟 xây dựng Trung kinh thành 中京城 (nay là Ninh Thành 宁城 Nội Mông Cổ). Thời gian Thánh Tông tại vị, quốc gia cường thịnh, kinh tế phồn vinh, đó là thời kì toàn tịnh của Đại Liêu, nhân đó Thánh Tông được xưng là Thịnh chúa.

                                                                   Huỳnh Chương Hưng
                                                                Quy Nhơn 14/11/2018

    Nguồn
    HOÀNG TRIỀU ĐIỂN CỐ KỈ VĂN
    皇朝典故纪闻
    Tác giả: Hướng Tư 向斯
    Bắc Kinh: Trung Quốc văn sử xuất bản xã, 2002

    Dịch thuật: Liêu Thánh Tông Da Luật Long tự

    Đăng lúc  21:53  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    LIÊU THÁNH TÔNG DA LUẬT LONG TỰ

              Long Tự 隆绪là tên Hán, tên Khất Đan là Văn Thù Nô 文殊奴.
              Da Luật Long Tự 耶律隆绪là con trưởng của Liêu Cảnh Tông Da Luật Hiền 辽景宗耶律贤, mẫu thân là Duệ Tri hoàng hậu Tiêu thị 睿知皇后萧氏.
              Long Tự thiên tư thông minh dĩnh ngộ, lúc nhỏ rất thích đọc sách, lên 10 tuổi có thể làm thơ. Sau khi trưởng thành, Long Tự giỏi về kị xạ, thông hiểu âm luật, ham thích thư hoạ.
              Năm Càn Hanh 乾亨 thứ 2, năm công nguyên 980, Long Tự được phong làm Lương Vương 梁王.
              Tháng 9 năm Càn Hanh thứ 4, Cảnh Đế 景帝qua đời, Long Tự tức đế vị, tại vị từ năm 982 đến năm 1031.
              Khi Long Tự lên ngôi chỉ mới 11 tuổi, triều chính do Thái hậu chủ trì. Thừa Thiên thái hậu 承天太后sủng dụng bề tôi người Hán là Hàn Đức Nhượng 韩德让, nắm giữ quân chính.
              Năm Thống Hoà 统和thứ 27, năm 1009, Thừa Thiên thái hậu bệnh và qua đời, Long Tự chính thức thân chính. Kết minh, hoà thân với Tây Hạ 西夏. Đông chinh Cao Li 高丽, bức Cao Li thần phục. Phía tây đánh bại Thát Đát 鞑靼, bức Cam Châu 甘州, Tây Châu Hồi Cốt 西州回鹘tiến cống. Năm Thống Hoà thứ 4, đánh Tống ở phía nam, quân Tống đại bại tại Kì Câu Quan 歧沟关. Đầu tháng 12 năm Thống Hoà thứ 22, đính lập minh ước Thiền Uyên 澶渊 với Tống Chân Tông.
    Thánh Tông chú ý đối xử hoà mục với các nước chung quanh. Thời gian tại vị, ông tu đính pháp luật, phóng thích nô tì, giảm nhẹ thuế khoá, chỉnh đốn lại trị. Năm Thống Hoà thứ 6, Thánh Tông ban chiếu lệnh mở khoa thi lấy người tài. Thánh Tông lại thiết trí 24 bộ, chiêu tập thợ giỏi người Hán ở Yên Kế 燕蓟 xây dựng Trung kinh thành 中京城 (nay là Ninh Thành 宁城 Nội Mông Cổ). Thời gian Thánh Tông tại vị, quốc gia cường thịnh, kinh tế phồn vinh, đó là thời kì toàn tịnh của Đại Liêu, nhân đó Thánh Tông được xưng là Thịnh chúa.

                                                                   Huỳnh Chương Hưng
                                                                Quy Nhơn 14/11/2018

    Nguồn
    HOÀNG TRIỀU ĐIỂN CỐ KỈ VĂN
    皇朝典故纪闻
    Tác giả: Hướng Tư 向斯
    Bắc Kinh: Trung Quốc văn sử xuất bản xã, 2002

    Thứ Ba, 13 tháng 11, 2018

    QUAN CHẾ ĐỊA PHƯƠNG
    (tiếp theo)

              Thời Đường, sự giám sát của trung ương đối với địa phương bắt đầu là phái quan xuất tuần các châu, gọi là Truất trắc sứ 黜陟使 (có quyền bãi miễn hoặc cất nhắc quan lại địa phương). Về sau cả nước chia làm một số đạo, mỗi đạo phái quan kinh thành 1 người tuần sát châu huyện sở thuộc, trước sau gọi là Tuần sát sứ 巡察使, Án sát sứ 按察使, Thái phỏng xử trí sứ 采访处置使, Quan sát sứ 观察使. Thời Đường, tụ họp một số châu nơi biên giới làm một trấn, đặt  các sứ  như Tiết độ sứ 节度使, kiêm các sứ như Đạc chi 度支, Doanh điền 营田, Quan sát 观察, nắm giữ cả quân chính, dân chính, tài chính và đại quyền giám sát. Quan sát sứ, Tiết độ sứ có thuộc quan như Phán quan 判官, Chưởng thư kí 掌书记, Thôi quan 推官. Lúc đầu Tiết độ sứ được thiết trí tại những trọng trấn biên phòng, về sau cũng thiết trí phổ biến ở nội địa, hình thành cục diện phiên trấn cát cứ. Thời Tống phế bỏ chế độ phiên trấn, Tiết độ sứ chỉ là hư hàm ưu sủng tướng soái đại thần và hoàng thân quốc thích có công của tông thất. Ngoài ra còn chia cả nước ra làm một số lộ, các lộ thiết trí quan Chuyển vận sứ 转运使, nắm giữ tài phú của một lộ.
              Thời Tống, đơn vị hành chính trên huyện là châu, chính quyền của châu do trung ương phái người đến quản lí, xưng là “Tri mỗ châu quân châu sự” 知某州军州事 (“quân” chỉ quân đội địa phương, “châu” chỉ dân chính), gọi tắt là Tri châu 知州. Châu có Thông phán 通判, hiệu xưng là Giám châu quan 监州官, không giống như phó chức của đời sau. Thuộc quan của châu có Phán quan 判官quản hành chính, Thôi quan 推官quản tư pháp. Ngang với châu còn có phủ , quân , giám , thiết trí quan lại đại để tương đồng với châu.
              Thời Tống không có Thái thú, Thứ sử cũng chỉ là hư hàm. Âu Dương Tu 欧阳修 khi là Tri châu Trừ Châu 滁州 viết Tuý Ông đình kí 醉翁亭记có nhắc đến Thái thú, viết Phong Nhạc đình kí 丰乐亭记 có nhắc đến Thứ sử, đều là theo cách gọi cũ của đời trước.
              Thời Nguyên, cơ cấu hành chính địa phương cao nhất là Trung thư sảnh 中书省, thể chế như trung ương, cũng có Thừa tướng, Tham tri chính sự. Đầu đời Minh theo chế độ thời Nguyên, sau đổi gọi là Thừa tuyên Bố chính sứ ti承宣布政使司, gọi tắt là Bố chính ti 布政司, nhưng vẫn quen gọi là “sảnh” , trưởng quan là Tả Hữu Bố chính sứ 左右布政使, nắm giữ hành chính của một tỉnh. Thời Minh, lúc có chiến sự, phái triều thần xuất tuần địa phương, xử lí quân vụ, xưng là Tuần phủ 巡抚. Khi gặp vấn đề quân sự liên quan đến nhiều tỉnh, Tuần phủ không thể giải quyết, thì phái Tổng đốc 总督xử lí. Tổng đốc, Tuần phủ đều là sai sứ lâm thời, không xem là quan địa phương chính thức. Thời Thanh Tổng Đốc, Tuần Vũ mới trở thành “phong cương đại lại” 封疆大吏chính thức, Tuần phủ là vị trưởng quan tối cao cấp tỉnh, Tổng đốc thì nắm giữ việc quân sự dân sự trọng yếu của một tỉnh hoặc hai ba tỉnh. Như vậy, Bố chính sứ chỉ quản tài chính và nhân sự, trở thành hạ thuộc của Tuần phủ.
              Thời Minh Thanh, một tỉnh phân ra một số đạo, dưới đạo có phủ có châu. Trưởng quan của phủ châu gọi là Tri phủ 知府, Tri châu 知州. Cấp phó trợ giúp, ở phủ có Đồng tri 同知, Thông phán 通判, ở châu có Châu đồng 州同 (Đồng tri 同知), Châu phán 州判. Có 2 loại châu: châu trực thuộc gần giống như phủ và tán châu lệ thuộc phủ, tương đương với huyện. (hết)

                                                               Huỳnh Chương Hưng
                                                               Quy Nhơn 13/11/2018

    Nguồn
    TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI VĂN HOÁ THƯỜNG THỨC
    中国古代文化常识
    Chủ biên: Vương Lực 王力
    Bắc Kinh: Trung Quốc Nhân dân Đại học xuất bản xã, 2012

    Dịch thuật: Quan chế địa phương (tiếp theo)

    Đăng lúc  20:10  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    QUAN CHẾ ĐỊA PHƯƠNG
    (tiếp theo)

              Thời Đường, sự giám sát của trung ương đối với địa phương bắt đầu là phái quan xuất tuần các châu, gọi là Truất trắc sứ 黜陟使 (có quyền bãi miễn hoặc cất nhắc quan lại địa phương). Về sau cả nước chia làm một số đạo, mỗi đạo phái quan kinh thành 1 người tuần sát châu huyện sở thuộc, trước sau gọi là Tuần sát sứ 巡察使, Án sát sứ 按察使, Thái phỏng xử trí sứ 采访处置使, Quan sát sứ 观察使. Thời Đường, tụ họp một số châu nơi biên giới làm một trấn, đặt  các sứ  như Tiết độ sứ 节度使, kiêm các sứ như Đạc chi 度支, Doanh điền 营田, Quan sát 观察, nắm giữ cả quân chính, dân chính, tài chính và đại quyền giám sát. Quan sát sứ, Tiết độ sứ có thuộc quan như Phán quan 判官, Chưởng thư kí 掌书记, Thôi quan 推官. Lúc đầu Tiết độ sứ được thiết trí tại những trọng trấn biên phòng, về sau cũng thiết trí phổ biến ở nội địa, hình thành cục diện phiên trấn cát cứ. Thời Tống phế bỏ chế độ phiên trấn, Tiết độ sứ chỉ là hư hàm ưu sủng tướng soái đại thần và hoàng thân quốc thích có công của tông thất. Ngoài ra còn chia cả nước ra làm một số lộ, các lộ thiết trí quan Chuyển vận sứ 转运使, nắm giữ tài phú của một lộ.
              Thời Tống, đơn vị hành chính trên huyện là châu, chính quyền của châu do trung ương phái người đến quản lí, xưng là “Tri mỗ châu quân châu sự” 知某州军州事 (“quân” chỉ quân đội địa phương, “châu” chỉ dân chính), gọi tắt là Tri châu 知州. Châu có Thông phán 通判, hiệu xưng là Giám châu quan 监州官, không giống như phó chức của đời sau. Thuộc quan của châu có Phán quan 判官quản hành chính, Thôi quan 推官quản tư pháp. Ngang với châu còn có phủ , quân , giám , thiết trí quan lại đại để tương đồng với châu.
              Thời Tống không có Thái thú, Thứ sử cũng chỉ là hư hàm. Âu Dương Tu 欧阳修 khi là Tri châu Trừ Châu 滁州 viết Tuý Ông đình kí 醉翁亭记có nhắc đến Thái thú, viết Phong Nhạc đình kí 丰乐亭记 có nhắc đến Thứ sử, đều là theo cách gọi cũ của đời trước.
              Thời Nguyên, cơ cấu hành chính địa phương cao nhất là Trung thư sảnh 中书省, thể chế như trung ương, cũng có Thừa tướng, Tham tri chính sự. Đầu đời Minh theo chế độ thời Nguyên, sau đổi gọi là Thừa tuyên Bố chính sứ ti承宣布政使司, gọi tắt là Bố chính ti 布政司, nhưng vẫn quen gọi là “sảnh” , trưởng quan là Tả Hữu Bố chính sứ 左右布政使, nắm giữ hành chính của một tỉnh. Thời Minh, lúc có chiến sự, phái triều thần xuất tuần địa phương, xử lí quân vụ, xưng là Tuần phủ 巡抚. Khi gặp vấn đề quân sự liên quan đến nhiều tỉnh, Tuần phủ không thể giải quyết, thì phái Tổng đốc 总督xử lí. Tổng đốc, Tuần phủ đều là sai sứ lâm thời, không xem là quan địa phương chính thức. Thời Thanh Tổng Đốc, Tuần Vũ mới trở thành “phong cương đại lại” 封疆大吏chính thức, Tuần phủ là vị trưởng quan tối cao cấp tỉnh, Tổng đốc thì nắm giữ việc quân sự dân sự trọng yếu của một tỉnh hoặc hai ba tỉnh. Như vậy, Bố chính sứ chỉ quản tài chính và nhân sự, trở thành hạ thuộc của Tuần phủ.
              Thời Minh Thanh, một tỉnh phân ra một số đạo, dưới đạo có phủ có châu. Trưởng quan của phủ châu gọi là Tri phủ 知府, Tri châu 知州. Cấp phó trợ giúp, ở phủ có Đồng tri 同知, Thông phán 通判, ở châu có Châu đồng 州同 (Đồng tri 同知), Châu phán 州判. Có 2 loại châu: châu trực thuộc gần giống như phủ và tán châu lệ thuộc phủ, tương đương với huyện. (hết)

                                                               Huỳnh Chương Hưng
                                                               Quy Nhơn 13/11/2018

    Nguồn
    TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI VĂN HOÁ THƯỜNG THỨC
    中国古代文化常识
    Chủ biên: Vương Lực 王力
    Bắc Kinh: Trung Quốc Nhân dân Đại học xuất bản xã, 2012

    Thứ Hai, 12 tháng 11, 2018

    QUAN CHẾ ĐỊA PHƯƠNG

              Đơn vị hành chính thời Xuân Thu có ấp huyện. Vị trưởng quan của ấp huyện, Lỗ và Vệ gọi là Tể , Tấn gọi là Đại phu 大夫, Sở gọi là Lệnh doãn 令尹. Thời Chiến Quốc có quận có huyện. Trưởng quan của quận là Thú , chủ yếu nắm giữ quân sự; trưởng quan của huyện là Lệnh , chủ yếu nắm giữ dân chính. Về sau quận lĩnh cả huyện, hình thành đơn vị hành chính địa phương quận huyện 2 hai cấp.
             Thời Tần Hán, huyện có vạn hộ trở lên, vị trưởng quan gọi là Lệnh ; huyện chưa đến vạn hộ, trưởng quan gọi là Trưởng . Huyện thừa 县丞giúp việc hành chính của huyện, Huyện uý 县尉lo việc trị an. Thời Tuỳ Đường, vị trưởng quan của huyện gọi chung là Lệnh. Thời Tống, phái quan viên trung ương đến nắm giữ việc hành chính của huyện gọi là “Tri X X huyện sự” X X县事, gọi tắt là Tri huyện 知县. Thời Minh Thanh vẫn theo cách gọi Tri huyện, thời Nguyên thì gọi là Huyện doãn 县尹. Huyện của các đời có các tào duyện sử 曹掾史, mỗi bộ phận nắm giữ những chức trách khác nhau.
              Thời Tần Hán, đơn vị hành chính trên cấp huyện là quận. Vị trưởng quan hành chính của quận, thời Tần gọi là Quận thú 郡守, nắm giữ quân sự là Uý , coi việc giám sát là Giám ngự sử 监御史, gọi tắt là Giám . Quận thừa 郡丞là vị phó quan giúp Quận thú. Thời Hán, Quận thú đổi gọi là Thái thú 太守, về sau nhân kiêm lĩnh luôn quân sự, cho nên có danh xưng Quận tướng 郡将. Thuộc quan của quận ngoài các tào 曹曹 ra còn có đốc bưu 督邮, chủ bạ 主簿... Đốc bưu giám sát công tội thiện ác của lại quan huyện thuộc, đồng thời đốc trị cường hào gian ác ở địa phương. Chủ bạ chủ quản văn thư bạ tịch 文书簿籍 (1). Thời Hán, ngang với quận còn có “quốc”, đây là phong địa của con em hoàng đế, quan lại được thiết lập mô phỏng trung ương. Sau loạn 7 nước Ngô Sở đã tước giảm, do trung ương phái Tướng xuống để xử lí hành chính (2). Tướng và Thái thú tương đương, đều là chức quan nhị thiên thạch 二千石 (2000 thạch) (3), cho nên thời Hán thường dùng “nhị thiên thạch” 二千石 là từ xưng thay cho “quận quốc Thú Tướng” 郡国守相.
              Thời Hán Vũ Đế, cả nước chia làm mười mấy giám sát khu, gọi là châu hoặc bộ , mỗi châu đặt 1 Thứ sử 刺史 (sau hoặc gọi là Mục ) giám sát quận quốc sở thuộc. Châu tại kinh sư đặt Tư lệ hiệu uý 司隶校尉cũng gần như Thứ sử. Thứ sử có các thuộc quan như Biệt giá tùng sự sử 别驾从事史, Trị trung tùng sự sử 治中从事史. Biệt giá theo Thứ sử xuất tuần, Trị trung “chủ chúng tào văn thư” (4). Thời Đông Hán chiến tranh liên miên, Thứ sử hoặc Châu mục đều nắm giữ binh quyền. Thời Nguỵ Tấn Nam Bắc triều, Thứ sử đa phần mang xưng hiệu Tướng quân, đồng thời được phép thành lập quân phủ, tự thiết lập liêu thuộc, quyền thế rất lớn (5). Như vậy, Thứ sử có 2 nhóm thuộc quan, một nhóm là Biệt giá, Trị trung thuộc  hệ thống giám sát, một nhóm khác là Trưởng sử, Tư mã, Tham quân thuộc hệ thống quân sự.
              Thời Tuỳ Đường, đơn vị hành chính trên huyện là châu hoặc quận, xưng trưởng quan của châu là Thứ sử 刺史, xưng trưởng quan của quận là Thái thú 太守 (6). Trên thực tế, Thứ sử ngang như Thái thú. Người xưa gọi Thứ sử hoặc Thái thú là Sứ quân 使君, Liễu Tông Nguyên 柳宗元 đã viết cho Vĩnh Châu Thứ sử Vi Công 永州刺史韦公 bài Vĩnh Châu Vi Sứ quân tân đường kí 永州韦使君新堂记, cuối bài nói rằng “biên dĩ vi nhị thiên thạch khải pháp” 编以为二千石楷法, (biên chép vào sách, lấy làm chuẩn mực của Thứ sử) “nhị thiên thạch” ở đây dùng theo cách xưng hô quận quốc Thú Tướng thời Hán, kì thực là chỉ Thứ sử trưởng quan hành chính của châu lúc bấy giờ. Thứ sử đã trở thành trưởng quan hành chính, thế thì xưng hiệu hai nhóm thuộc quan của Thứ sử đời trước cũng được tham khảo để dùng làm quan hiệu trong hệ thống hành chính (7). Hiểu được điểm này mới rõ Tư mã châu quận thời Tuỳ Đường kì thực không nắm giữ việc võ.   
                                                                                            (còn tiếp)

    Chú của nguyên tác
    1- Đốc bưu 督邮chức quyền rất nặng, sau thời Đường bắt đầu phế bỏ. Thời cổ, quan thự nhìn chung đều đặt Chủ bạ 主簿. Sau thời Tống, Chủ bạ của huyện và Thừa uý 丞尉đồng là trợ lí của Huyện lệnh (Tri huyện).
    2- Thời Nguỵ Tấn Nam Bắc triều đổi gọi là Nội sử 内史.
    3- Chế độ thời Hán lấy bổng lộc nhiều ít làm tiêu chí đẳng cấp chức quan, nguyệt bổng của quan nhị thiên thạch là 120 hộc.
    4- Đỗ Hựu 杜佑 trong Thông điển 通典quyển 32, mục Chức quan 职官 14 nói rằng:
              Trị trung tùng sự sử nhất nhân, cư trung trị sự, chủ chúng tào văn thư, Hán chế dã.
              治中从事史一人, 居中治事, 主众曹文书, 汉制也.
              (Trị trung tùng sự sử một người, cư trung trị sự, chủ quản văn thư các tào, đó là chế độ thời Hán)
    5- Không gia thêm xưng hiệu Tướng quân thì gọi là Đơn xa Thứ sử 单车刺史, đa phần do “thứ tính” 庶姓 (những người khác họ với thiên tử hoặc chư hầu) đảm nhậm. Và, thời Tấn, quận thú cũng đa phần gia thêm xưng hiệu Tướng quân.
    6- Châu ở thủ đô hoặc bồi đô xưng là phủ, quan có Doãn , Thiếu doãn 少尹.
    7- Cựu Đường thư – Cao Tông kỉ 旧唐书 - 高宗纪 chép tháng 7 năm Trinh Quan 贞观thứ 23 (năm 649) đổi Trị trung 治中của các châu thành Tư mã 司马, đổi Biệt giá 别驾 thành Trưởng sử 长史.

                                                               Huỳnh Chương Hưng
                                                               Quy Nhơn 12/11/2018

    Nguồn
    TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI VĂN HOÁ THƯỜNG THỨC
    中国古代文化常识
    Chủ biên: Vương Lực 王力
    Bắc Kinh: Trung Quốc Nhân dân Đại học xuất bản xã, 2012

    Dịch thuật: Quan chế địa phương

    Đăng lúc  21:48  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    QUAN CHẾ ĐỊA PHƯƠNG

              Đơn vị hành chính thời Xuân Thu có ấp huyện. Vị trưởng quan của ấp huyện, Lỗ và Vệ gọi là Tể , Tấn gọi là Đại phu 大夫, Sở gọi là Lệnh doãn 令尹. Thời Chiến Quốc có quận có huyện. Trưởng quan của quận là Thú , chủ yếu nắm giữ quân sự; trưởng quan của huyện là Lệnh , chủ yếu nắm giữ dân chính. Về sau quận lĩnh cả huyện, hình thành đơn vị hành chính địa phương quận huyện 2 hai cấp.
             Thời Tần Hán, huyện có vạn hộ trở lên, vị trưởng quan gọi là Lệnh ; huyện chưa đến vạn hộ, trưởng quan gọi là Trưởng . Huyện thừa 县丞giúp việc hành chính của huyện, Huyện uý 县尉lo việc trị an. Thời Tuỳ Đường, vị trưởng quan của huyện gọi chung là Lệnh. Thời Tống, phái quan viên trung ương đến nắm giữ việc hành chính của huyện gọi là “Tri X X huyện sự” X X县事, gọi tắt là Tri huyện 知县. Thời Minh Thanh vẫn theo cách gọi Tri huyện, thời Nguyên thì gọi là Huyện doãn 县尹. Huyện của các đời có các tào duyện sử 曹掾史, mỗi bộ phận nắm giữ những chức trách khác nhau.
              Thời Tần Hán, đơn vị hành chính trên cấp huyện là quận. Vị trưởng quan hành chính của quận, thời Tần gọi là Quận thú 郡守, nắm giữ quân sự là Uý , coi việc giám sát là Giám ngự sử 监御史, gọi tắt là Giám . Quận thừa 郡丞là vị phó quan giúp Quận thú. Thời Hán, Quận thú đổi gọi là Thái thú 太守, về sau nhân kiêm lĩnh luôn quân sự, cho nên có danh xưng Quận tướng 郡将. Thuộc quan của quận ngoài các tào 曹曹 ra còn có đốc bưu 督邮, chủ bạ 主簿... Đốc bưu giám sát công tội thiện ác của lại quan huyện thuộc, đồng thời đốc trị cường hào gian ác ở địa phương. Chủ bạ chủ quản văn thư bạ tịch 文书簿籍 (1). Thời Hán, ngang với quận còn có “quốc”, đây là phong địa của con em hoàng đế, quan lại được thiết lập mô phỏng trung ương. Sau loạn 7 nước Ngô Sở đã tước giảm, do trung ương phái Tướng xuống để xử lí hành chính (2). Tướng và Thái thú tương đương, đều là chức quan nhị thiên thạch 二千石 (2000 thạch) (3), cho nên thời Hán thường dùng “nhị thiên thạch” 二千石 là từ xưng thay cho “quận quốc Thú Tướng” 郡国守相.
              Thời Hán Vũ Đế, cả nước chia làm mười mấy giám sát khu, gọi là châu hoặc bộ , mỗi châu đặt 1 Thứ sử 刺史 (sau hoặc gọi là Mục ) giám sát quận quốc sở thuộc. Châu tại kinh sư đặt Tư lệ hiệu uý 司隶校尉cũng gần như Thứ sử. Thứ sử có các thuộc quan như Biệt giá tùng sự sử 别驾从事史, Trị trung tùng sự sử 治中从事史. Biệt giá theo Thứ sử xuất tuần, Trị trung “chủ chúng tào văn thư” (4). Thời Đông Hán chiến tranh liên miên, Thứ sử hoặc Châu mục đều nắm giữ binh quyền. Thời Nguỵ Tấn Nam Bắc triều, Thứ sử đa phần mang xưng hiệu Tướng quân, đồng thời được phép thành lập quân phủ, tự thiết lập liêu thuộc, quyền thế rất lớn (5). Như vậy, Thứ sử có 2 nhóm thuộc quan, một nhóm là Biệt giá, Trị trung thuộc  hệ thống giám sát, một nhóm khác là Trưởng sử, Tư mã, Tham quân thuộc hệ thống quân sự.
              Thời Tuỳ Đường, đơn vị hành chính trên huyện là châu hoặc quận, xưng trưởng quan của châu là Thứ sử 刺史, xưng trưởng quan của quận là Thái thú 太守 (6). Trên thực tế, Thứ sử ngang như Thái thú. Người xưa gọi Thứ sử hoặc Thái thú là Sứ quân 使君, Liễu Tông Nguyên 柳宗元 đã viết cho Vĩnh Châu Thứ sử Vi Công 永州刺史韦公 bài Vĩnh Châu Vi Sứ quân tân đường kí 永州韦使君新堂记, cuối bài nói rằng “biên dĩ vi nhị thiên thạch khải pháp” 编以为二千石楷法, (biên chép vào sách, lấy làm chuẩn mực của Thứ sử) “nhị thiên thạch” ở đây dùng theo cách xưng hô quận quốc Thú Tướng thời Hán, kì thực là chỉ Thứ sử trưởng quan hành chính của châu lúc bấy giờ. Thứ sử đã trở thành trưởng quan hành chính, thế thì xưng hiệu hai nhóm thuộc quan của Thứ sử đời trước cũng được tham khảo để dùng làm quan hiệu trong hệ thống hành chính (7). Hiểu được điểm này mới rõ Tư mã châu quận thời Tuỳ Đường kì thực không nắm giữ việc võ.   
                                                                                            (còn tiếp)

    Chú của nguyên tác
    1- Đốc bưu 督邮chức quyền rất nặng, sau thời Đường bắt đầu phế bỏ. Thời cổ, quan thự nhìn chung đều đặt Chủ bạ 主簿. Sau thời Tống, Chủ bạ của huyện và Thừa uý 丞尉đồng là trợ lí của Huyện lệnh (Tri huyện).
    2- Thời Nguỵ Tấn Nam Bắc triều đổi gọi là Nội sử 内史.
    3- Chế độ thời Hán lấy bổng lộc nhiều ít làm tiêu chí đẳng cấp chức quan, nguyệt bổng của quan nhị thiên thạch là 120 hộc.
    4- Đỗ Hựu 杜佑 trong Thông điển 通典quyển 32, mục Chức quan 职官 14 nói rằng:
              Trị trung tùng sự sử nhất nhân, cư trung trị sự, chủ chúng tào văn thư, Hán chế dã.
              治中从事史一人, 居中治事, 主众曹文书, 汉制也.
              (Trị trung tùng sự sử một người, cư trung trị sự, chủ quản văn thư các tào, đó là chế độ thời Hán)
    5- Không gia thêm xưng hiệu Tướng quân thì gọi là Đơn xa Thứ sử 单车刺史, đa phần do “thứ tính” 庶姓 (những người khác họ với thiên tử hoặc chư hầu) đảm nhậm. Và, thời Tấn, quận thú cũng đa phần gia thêm xưng hiệu Tướng quân.
    6- Châu ở thủ đô hoặc bồi đô xưng là phủ, quan có Doãn , Thiếu doãn 少尹.
    7- Cựu Đường thư – Cao Tông kỉ 旧唐书 - 高宗纪 chép tháng 7 năm Trinh Quan 贞观thứ 23 (năm 649) đổi Trị trung 治中của các châu thành Tư mã 司马, đổi Biệt giá 别驾 thành Trưởng sử 长史.

                                                               Huỳnh Chương Hưng
                                                               Quy Nhơn 12/11/2018

    Nguồn
    TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI VĂN HOÁ THƯỜNG THỨC
    中国古代文化常识
    Chủ biên: Vương Lực 王力
    Bắc Kinh: Trung Quốc Nhân dân Đại học xuất bản xã, 2012

    Chủ Nhật, 11 tháng 11, 2018

    CHỮ “THÍNH”
     
    Bính âm ting (thanh điệu 1)

    7 nét
    22 nét

    1- Dùng tai tiếp thụ thanh âm:
              Thính lực 听力 /  thính chẩn 听诊 / thính giảng 听讲 / khuynh thính 倾听 / thu thính 收听 / bàng thính 旁听 / thâu thính 偷听.
    2- Nghe theo, tiếp thụ ý kiến: 
              Thính thoại 听话 / ngã khuyến tha, tha nhất điểm dã bất thính 我劝他, 他一点也不听.
    3- Trị lí, phán đoán:
              Thính chính 听政 / thính tụng 听讼.
    4- Tuỳ ý, mặc ý: 
              Thính nhậm 听任 / thính tiện 听便 / thính thiên do mệnh 听天由命.

    Thuyết giải
              Chữ , bộ , kết cấu trái phải. Về nguồn gốc của chữ này, các thuyết không nhất trí:
              - Thuyết giả tá. Chữ vốn đọc là yin (thanh điệu 3), là chữ hình thanh. Trong Thuyết văn – Khẩu bộ 说文 - 口部 có ghi:
    Thính, tiếu nhi
    , 笑兒
    (Thính là cười tủm tỉm)
              Trong Chính tự thông – Khẩu bộ 正字通 - 口部:
    Thính, tục tá vi thính tự tỉnh văn
    , 俗借為字省文
    (Chữ tục mượn thay chữ  viết giản lược)
              - Thuyết từ thảo thư ngoa biến ra. Tục thể của chữ hội ý vốn được viết bên trái chữ , bên phải chữ . Cách viết thảo của chữ ngoa biến ra chữ (xem Hoàng Ước Trai 黃约斋 Hán tự tự thể biến thiên giản sử 汉字字体变迁简史,  trang 47)
         - Thuyết tục tự thanh bàng ngoa biến. Theo Lưu Tri Viễn 刘知远  bản san khắc đời Kim, chữ giản lược viết thành bên trái chữ , bên phải chữ , hình dạng thanh bàng gần giống , do đó viết nhầm thành .
              Trong Thủ kinh thi thoại 取经诗话 bản san khắc đời Tống, Tạp kịch 杂剧 bản san khắc đời Nguyên, Kiều Hồng kí 娇红记 bản san khắc đời Minh ... chữ viết giản lược thành hoặc bộ 广 bên dưới là chữ , có thể lấy đó làm chứng cứ.
              Trong Tục tự phổ 俗字谱, từ Tạp kịch 杂剧 bản san khắc đời Nguyên trở về sau, các sách đều dùng chữ , nó được thừa nhận dùng từ lâu.

                                                          Huỳnh Chương Hưng
                                                          Quy Nhơn 11/11/2018

    Nguồn
    GIẢN HOÁ TỰ, PHỒN THỂ TỰ ĐỐI CHIẾU TỰ ĐIỂN
    简化字繁体字对照字典
    Chủ biên: Giang Lam Sinh 江蓝生, Lục Tôn Ngô 陆尊梧
    Thượng Hải – Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 1998

    Dịch thuật: Chữ "thính" (Đối chiếu tự điển)

    Đăng lúc  19:14  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    CHỮ “THÍNH”
     
    Bính âm ting (thanh điệu 1)

    7 nét
    22 nét

    1- Dùng tai tiếp thụ thanh âm:
              Thính lực 听力 /  thính chẩn 听诊 / thính giảng 听讲 / khuynh thính 倾听 / thu thính 收听 / bàng thính 旁听 / thâu thính 偷听.
    2- Nghe theo, tiếp thụ ý kiến: 
              Thính thoại 听话 / ngã khuyến tha, tha nhất điểm dã bất thính 我劝他, 他一点也不听.
    3- Trị lí, phán đoán:
              Thính chính 听政 / thính tụng 听讼.
    4- Tuỳ ý, mặc ý: 
              Thính nhậm 听任 / thính tiện 听便 / thính thiên do mệnh 听天由命.

    Thuyết giải
              Chữ , bộ , kết cấu trái phải. Về nguồn gốc của chữ này, các thuyết không nhất trí:
              - Thuyết giả tá. Chữ vốn đọc là yin (thanh điệu 3), là chữ hình thanh. Trong Thuyết văn – Khẩu bộ 说文 - 口部 có ghi:
    Thính, tiếu nhi
    , 笑兒
    (Thính là cười tủm tỉm)
              Trong Chính tự thông – Khẩu bộ 正字通 - 口部:
    Thính, tục tá vi thính tự tỉnh văn
    , 俗借為字省文
    (Chữ tục mượn thay chữ  viết giản lược)
              - Thuyết từ thảo thư ngoa biến ra. Tục thể của chữ hội ý vốn được viết bên trái chữ , bên phải chữ . Cách viết thảo của chữ ngoa biến ra chữ (xem Hoàng Ước Trai 黃约斋 Hán tự tự thể biến thiên giản sử 汉字字体变迁简史,  trang 47)
         - Thuyết tục tự thanh bàng ngoa biến. Theo Lưu Tri Viễn 刘知远  bản san khắc đời Kim, chữ giản lược viết thành bên trái chữ , bên phải chữ , hình dạng thanh bàng gần giống , do đó viết nhầm thành .
              Trong Thủ kinh thi thoại 取经诗话 bản san khắc đời Tống, Tạp kịch 杂剧 bản san khắc đời Nguyên, Kiều Hồng kí 娇红记 bản san khắc đời Minh ... chữ viết giản lược thành hoặc bộ 广 bên dưới là chữ , có thể lấy đó làm chứng cứ.
              Trong Tục tự phổ 俗字谱, từ Tạp kịch 杂剧 bản san khắc đời Nguyên trở về sau, các sách đều dùng chữ , nó được thừa nhận dùng từ lâu.

                                                          Huỳnh Chương Hưng
                                                          Quy Nhơn 11/11/2018

    Nguồn
    GIẢN HOÁ TỰ, PHỒN THỂ TỰ ĐỐI CHIẾU TỰ ĐIỂN
    简化字繁体字对照字典
    Chủ biên: Giang Lam Sinh 江蓝生, Lục Tôn Ngô 陆尊梧
    Thượng Hải – Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 1998

    Thứ Bảy, 10 tháng 11, 2018

    TRUYỀN THUYẾT NGŨ CHỈ SƠN

              Ngày xưa trên đảo Hải Nam 海南không có Ngũ Chỉ sơn 五指山, nơi đó là một vùng bình nguyên. Thế thì, Ngũ Chỉ sơn từ đâu mà đến?
              Truyền thuyết kể rằng, ngày xửa ngày xưa trên vùng đất bình nguyên này có một đôi vợ chồng sinh sống, chồng tên A Lập 阿立, vợ tên Ổ Mạch 邬麦. Họ sinh được 5 người con. Cả nhà 7 người sống chung với nhau, làm việc bất kể ngày đêm. Lúc bấy giờ, công cụ gì cũng không có, họ lấy cây gỗ làm cuốc, lấy đá làm rìu, dùng hạt giống lúa trời trên bình nguyên để gieo trồng.
              Bảy người họ cả ngày lao động, mà chỉ có thể khai khẩn nửa mẫu đất hoang. Một đêm nọ, cả nhà nghỉ ngơi trong gian nhà cỏ, Ổ Mạch và mấy người con đều đã ngủ, chỉ có A Lập vì mảnh đất hoang mà cứ trăn qua trở lại ngủ không được. Đến nửa đêm, lúc anh ta chìm sâu trong giấc ngủ, bỗng mộng thấy một ông lão râu trắng đứng trước mặt, nói với anh ta rằng:
              - Các con hãy đem sức lực ra khai khẩn mảnh đất màu mỡ này. Cạnh nhà các con có chôn một cây cuốc và một thanh bảo kiếm, các con hãy đào lấy lên mà sử dụng. Chỉ cần các con giơ cao cuốc, la lên một tiếng “cuốc”, mảnh đất hoang đó lập tức sẽ biến thành ruộng tốt; chỉ cần các con vung bảo kiếm chặt xuống, kêu lên một tiếng “chém”, cây cối sẽ theo lời mà đổ rạp; nếu có kẻ xấu đến xâm phạm, chỉ cần hét lên một tiếng “giết”, kẻ xấu sẽ bị rơi đầu.
              Sáng sớm ngày hôm sau, A Lập đem câu chuyện trong giấc mộng kể cho người nhà nghe. Họ cảm thấy rất phấn chấn, bèn ra sức đào chung quanh nhà. Họ đào, đào mãi đến trưa, người con lớn đột nhiên kêu lên “ồ”, rồi từ trong đất lấy ra một cây cuốc đen bóng và một thanh bảo kiếm sáng loáng. A Lập theo lời ông lão, giơ cao bảo kiếm, kêu lên một tiếng “chém”, quả nhiên một trận thanh âm to lớn vang lên, nhiều cổ thụ ngã lăn ra đất, khiến mọi người phát hoảng. Ổ Mạch giơ cao cuốc la lên một tiếng “cuốc”, quả nhiên mảnh đất hoang biến thành mảnh ruộng tốt, cả nhà vui mừng cười vang. Từ đó, cuộc sống của họ rất hạnh phúc. Cũng có kẻ xấu ganh tị muốn chiếm lấy mảnh đất của họ, nhưng bởi họ có thanh bảo kiếm nên không dám xâm phạm.
              Qua nhiều năm, khi người cha già yếu sắp mất, gọi 5 người con đến trước mặt, dặn dò phải quản kĩ mảnh ruộng màu mỡ đó. Dặn xong, ông nhắm mắt ra đi. Sau khi phụ thân mất, 5 người con theo di chúc, và nghe theo lời mẫu thân, lúc mai táng phụ thân đã đem thanh bảo kiếm chôn theo. Tin người cha chết lọt đến tai kẻ xấu Á Vĩ 亚尾, hắn lén đi tố cáo với bọn hải tặc, bảo bọn chúng sai mấy trăm người đến bao vây mấy mẹ con, về sau bọn chúng giết chết người mẹ, 5 người con thì bị bắt.
              Tên Á Vĩ xấu xa dùng dây xích khoá 5 người con lại, tra khảo suốt 10 ngày 10 đêm, bức họ phải giao thanh bảo kiếm. Nhưng bất luận như thế nào đi nữa, 5 người con đều không chịu nói thanh bảo kiếm ở đâu. Á Vĩ phát giận, dùng lửa nướng họ. Nước mắt của 5 người chảy ra, tạo thành 5 con suối trên bình nguyên. Sau khi 5 người con qua đời, gấu, beo, mối, ong đọc, ác điểu từ bốn phương tám hướng kết bầy tụ lại giết chết A Vĩ và bọn hải tặc, đồng thời mang bùn đất, đá tảng mai táng 5 thi thể, chất thành 5 ngọn núi cao.
              Từ đó để kỉ niệm 5 người con này, người ta bèn gọi đó là Ngũ Tử sơn 五子山. Về sau, lại nhân vì Ngũ Tử sơn có dáng dựng đứng nhìn giống như 5 ngón tay, nên người ta đổi gọi là Ngũ Chỉ sơn. 

                                                         Huỳnh Chương Hưng
                                                         Quy Nhơn 10/11/2018

    Nguyên tác Trung văn
    NGŨ CHỈ SƠN ĐÍCH TRUYỀN THUYẾT
    五指山的传说
    Trong quyển
    THANH THIẾU NIÊN TỐI HỈ HOAN ĐÍCH
    THẦN THOẠI CỐ SỰ
    青少年最喜欢的
    神话故事
    Tác giả: Ngô Cảnh Minh 吴景明
    Diên Biên nhân dân xuất bản xã, 2002

    Dịch thuật: Truyền thuyết Ngũ Chỉ sơn

    Đăng lúc  21:01  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    TRUYỀN THUYẾT NGŨ CHỈ SƠN

              Ngày xưa trên đảo Hải Nam 海南không có Ngũ Chỉ sơn 五指山, nơi đó là một vùng bình nguyên. Thế thì, Ngũ Chỉ sơn từ đâu mà đến?
              Truyền thuyết kể rằng, ngày xửa ngày xưa trên vùng đất bình nguyên này có một đôi vợ chồng sinh sống, chồng tên A Lập 阿立, vợ tên Ổ Mạch 邬麦. Họ sinh được 5 người con. Cả nhà 7 người sống chung với nhau, làm việc bất kể ngày đêm. Lúc bấy giờ, công cụ gì cũng không có, họ lấy cây gỗ làm cuốc, lấy đá làm rìu, dùng hạt giống lúa trời trên bình nguyên để gieo trồng.
              Bảy người họ cả ngày lao động, mà chỉ có thể khai khẩn nửa mẫu đất hoang. Một đêm nọ, cả nhà nghỉ ngơi trong gian nhà cỏ, Ổ Mạch và mấy người con đều đã ngủ, chỉ có A Lập vì mảnh đất hoang mà cứ trăn qua trở lại ngủ không được. Đến nửa đêm, lúc anh ta chìm sâu trong giấc ngủ, bỗng mộng thấy một ông lão râu trắng đứng trước mặt, nói với anh ta rằng:
              - Các con hãy đem sức lực ra khai khẩn mảnh đất màu mỡ này. Cạnh nhà các con có chôn một cây cuốc và một thanh bảo kiếm, các con hãy đào lấy lên mà sử dụng. Chỉ cần các con giơ cao cuốc, la lên một tiếng “cuốc”, mảnh đất hoang đó lập tức sẽ biến thành ruộng tốt; chỉ cần các con vung bảo kiếm chặt xuống, kêu lên một tiếng “chém”, cây cối sẽ theo lời mà đổ rạp; nếu có kẻ xấu đến xâm phạm, chỉ cần hét lên một tiếng “giết”, kẻ xấu sẽ bị rơi đầu.
              Sáng sớm ngày hôm sau, A Lập đem câu chuyện trong giấc mộng kể cho người nhà nghe. Họ cảm thấy rất phấn chấn, bèn ra sức đào chung quanh nhà. Họ đào, đào mãi đến trưa, người con lớn đột nhiên kêu lên “ồ”, rồi từ trong đất lấy ra một cây cuốc đen bóng và một thanh bảo kiếm sáng loáng. A Lập theo lời ông lão, giơ cao bảo kiếm, kêu lên một tiếng “chém”, quả nhiên một trận thanh âm to lớn vang lên, nhiều cổ thụ ngã lăn ra đất, khiến mọi người phát hoảng. Ổ Mạch giơ cao cuốc la lên một tiếng “cuốc”, quả nhiên mảnh đất hoang biến thành mảnh ruộng tốt, cả nhà vui mừng cười vang. Từ đó, cuộc sống của họ rất hạnh phúc. Cũng có kẻ xấu ganh tị muốn chiếm lấy mảnh đất của họ, nhưng bởi họ có thanh bảo kiếm nên không dám xâm phạm.
              Qua nhiều năm, khi người cha già yếu sắp mất, gọi 5 người con đến trước mặt, dặn dò phải quản kĩ mảnh ruộng màu mỡ đó. Dặn xong, ông nhắm mắt ra đi. Sau khi phụ thân mất, 5 người con theo di chúc, và nghe theo lời mẫu thân, lúc mai táng phụ thân đã đem thanh bảo kiếm chôn theo. Tin người cha chết lọt đến tai kẻ xấu Á Vĩ 亚尾, hắn lén đi tố cáo với bọn hải tặc, bảo bọn chúng sai mấy trăm người đến bao vây mấy mẹ con, về sau bọn chúng giết chết người mẹ, 5 người con thì bị bắt.
              Tên Á Vĩ xấu xa dùng dây xích khoá 5 người con lại, tra khảo suốt 10 ngày 10 đêm, bức họ phải giao thanh bảo kiếm. Nhưng bất luận như thế nào đi nữa, 5 người con đều không chịu nói thanh bảo kiếm ở đâu. Á Vĩ phát giận, dùng lửa nướng họ. Nước mắt của 5 người chảy ra, tạo thành 5 con suối trên bình nguyên. Sau khi 5 người con qua đời, gấu, beo, mối, ong đọc, ác điểu từ bốn phương tám hướng kết bầy tụ lại giết chết A Vĩ và bọn hải tặc, đồng thời mang bùn đất, đá tảng mai táng 5 thi thể, chất thành 5 ngọn núi cao.
              Từ đó để kỉ niệm 5 người con này, người ta bèn gọi đó là Ngũ Tử sơn 五子山. Về sau, lại nhân vì Ngũ Tử sơn có dáng dựng đứng nhìn giống như 5 ngón tay, nên người ta đổi gọi là Ngũ Chỉ sơn. 

                                                         Huỳnh Chương Hưng
                                                         Quy Nhơn 10/11/2018

    Nguyên tác Trung văn
    NGŨ CHỈ SƠN ĐÍCH TRUYỀN THUYẾT
    五指山的传说
    Trong quyển
    THANH THIẾU NIÊN TỐI HỈ HOAN ĐÍCH
    THẦN THOẠI CỐ SỰ
    青少年最喜欢的
    神话故事
    Tác giả: Ngô Cảnh Minh 吴景明
    Diên Biên nhân dân xuất bản xã, 2002

    Thứ Sáu, 9 tháng 11, 2018



    望包荒
        贫士素好铺张, 偷儿夜袭之, 空如也, 唾骂而去. 贫士摸床头数钱, 追赠之, 嘱曰: 君此来, 虽极怠慢, 然在人前尚望包荒.
                                     (笑林广记)

    VỌNG BAO HOANG
              Bần sĩ tố hiếu phô trương, thâu nhi tập chi, không như dã, thoá mạ nhi khứ. Bần sĩ mạc sàng đầu số tiền, truy tặng chi, chúc viết: “Quân thử lai, tuy cực đãi mạn, nhiên tại nhân tiền thượng vọng bao hoang.”
                                                                              (Tiếu lâm quảng kí)

    MONG ĐƯỢC CHE GIẤU
              Có một anh nhà nghèo nhưng luôn thích phô trương, ban đêm tên trộm vào nhà lấy trộm, thấy nhà trống không, tên trộm chửi rồi bỏ đi. Anh nhà nghèo mò lấy nơi đầu giường một ít tiền, chạy theo tặng cho tên trộm. và dặn rằng: “Ông lần này đến nhà, tuy tôi tiếp đãi không được chu đáo, nhưng mong ông trước mặt người khác che giấu giúp cho, chớ có nói nhà tôi rất nghèo.”  

    Chú của người dịch
    TIẾU LÂM QUẢNG KÍ笑林广记:tập truyện cười do Du hí chủ nhân 游戏主人 đời Thanh thu thập biên soạn thành. Toàn sách chia làm 12 bộ, gồm:
    - Cổ diễm bộ 古艳部        - Hủ lưu bộ 腐流部         - Thuật nghiệp bộ 术业部
    - Hình thể bộ 形体部        - Thù bẩm bộ 殊禀部      - Khuê phong bộ 闺风部
    - Thế huý bộ 世讳部        - Tăng đạo bộ 僧道部      - Tham lận bộ 贪吝部
    - Bần cũ bộ 贫窭部          - Cơ thích bộ 讥剌部       - Mậu ngộ bộ 谬误部      
              Những truyện cười trong Tiếu lâm quảng kí đa phần là của hai đời Minh Thanh, hình thức chủ yếu là những đoạn văn ngắn.
              Truyện vọng bao hoang Bần cũ bộ.

                                                                         Huỳnh Chương Hưng
                                                                         Quy Nhơn 09/11/2018

    TIẾU LÂM QUẢNG KÍ
    笑林广记
    (Thanh) Du Hí chủ nhân 游戏主人 biên soạn
    Tang Thánh Đồng 桑圣彤 chú dịch
    Sùng Văn thư cục, 2007

    Dịch thuật: Vọng bao hoang (Tiếu lâm quảng kí)

    Đăng lúc  21:49  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »



    望包荒
        贫士素好铺张, 偷儿夜袭之, 空如也, 唾骂而去. 贫士摸床头数钱, 追赠之, 嘱曰: 君此来, 虽极怠慢, 然在人前尚望包荒.
                                     (笑林广记)

    VỌNG BAO HOANG
              Bần sĩ tố hiếu phô trương, thâu nhi tập chi, không như dã, thoá mạ nhi khứ. Bần sĩ mạc sàng đầu số tiền, truy tặng chi, chúc viết: “Quân thử lai, tuy cực đãi mạn, nhiên tại nhân tiền thượng vọng bao hoang.”
                                                                              (Tiếu lâm quảng kí)

    MONG ĐƯỢC CHE GIẤU
              Có một anh nhà nghèo nhưng luôn thích phô trương, ban đêm tên trộm vào nhà lấy trộm, thấy nhà trống không, tên trộm chửi rồi bỏ đi. Anh nhà nghèo mò lấy nơi đầu giường một ít tiền, chạy theo tặng cho tên trộm. và dặn rằng: “Ông lần này đến nhà, tuy tôi tiếp đãi không được chu đáo, nhưng mong ông trước mặt người khác che giấu giúp cho, chớ có nói nhà tôi rất nghèo.”  

    Chú của người dịch
    TIẾU LÂM QUẢNG KÍ笑林广记:tập truyện cười do Du hí chủ nhân 游戏主人 đời Thanh thu thập biên soạn thành. Toàn sách chia làm 12 bộ, gồm:
    - Cổ diễm bộ 古艳部        - Hủ lưu bộ 腐流部         - Thuật nghiệp bộ 术业部
    - Hình thể bộ 形体部        - Thù bẩm bộ 殊禀部      - Khuê phong bộ 闺风部
    - Thế huý bộ 世讳部        - Tăng đạo bộ 僧道部      - Tham lận bộ 贪吝部
    - Bần cũ bộ 贫窭部          - Cơ thích bộ 讥剌部       - Mậu ngộ bộ 谬误部      
              Những truyện cười trong Tiếu lâm quảng kí đa phần là của hai đời Minh Thanh, hình thức chủ yếu là những đoạn văn ngắn.
              Truyện vọng bao hoang Bần cũ bộ.

                                                                         Huỳnh Chương Hưng
                                                                         Quy Nhơn 09/11/2018

    TIẾU LÂM QUẢNG KÍ
    笑林广记
    (Thanh) Du Hí chủ nhân 游戏主人 biên soạn
    Tang Thánh Đồng 桑圣彤 chú dịch
    Sùng Văn thư cục, 2007

    Thứ Năm, 8 tháng 11, 2018

    NHẤT THẾ LONG MÔN
    一世龙门

    Giải thích: Ví quan ở địa vị cao hiển hách.
    Xuất xứ: Nam triều . Tống . Phạm Việp 范晔: Hậu Hán thư – Lí Ưng liệt truyện 后汉书 - 李膺列传.
             
              Thời Đông Hán, triều chính rối loạn, kỉ cương lỏng lẻo, lúc bấy giờ chỉ có Tư lệ hiệu uý LÍ Ưng 李膺chấp pháp công minh, không sợ kẻ quyền quý. Đương thời, em trai của Trung thường thị Trương Nhượng 张让là Dã Vương Huyện lệnh 野王县令 Trương Sóc 张朔, tham tàn vô đạo, ngược sát người vô tội, nghe tiếng Lí Ưng nghiêm khắc, sợ tội nên trốn về kinh sư, ẩn náu tại nhà Trương Nhượng. Lí Ưng biết tội trạng của Trương Sóc, cho bắt ông ta, áp giải đến ngục Lạc Dương 洛阳, lập tức đem giết. Từ đó, các hoạn quan sợ Lí Ưng, không dám làm bậy. Nhân đó mà danh tiếng của Lí Ưng ngày càng cao, người ta gọi ông là “Long Môn” 龙门. Phàm kẻ sĩ được ông tiếp nhận, gọi là “đăng Long Môn” 登龙门
             Long Môn, tức Hà Tân 河津, thế nước nguy hiểm không thông, loài tôm cá không thể tiến lên được. Nếu con nào tiến lên được thì hoá thành rồng.

                                                           Huỳnh Chương Hưng
                                                 Quy Nhơn 08/11/2018

    Nguyên tác Trung văn
    NHẤT THẾ LONG MÔN
    一世龙门
    TRUNG QUỐC THÀNH NGỮ CỐ SỰ TỔNG TẬP
    中国成语故事总集
    (tập 1)
    Chủ biên: Đường Kì 唐麒
    Trường Xuân – Thời đại văn nghệ xuất bản xã, 2004

    Dịch thuật: Nhất thế Long Môn (thành ngữ)

    Đăng lúc  19:58  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    NHẤT THẾ LONG MÔN
    一世龙门

    Giải thích: Ví quan ở địa vị cao hiển hách.
    Xuất xứ: Nam triều . Tống . Phạm Việp 范晔: Hậu Hán thư – Lí Ưng liệt truyện 后汉书 - 李膺列传.
             
              Thời Đông Hán, triều chính rối loạn, kỉ cương lỏng lẻo, lúc bấy giờ chỉ có Tư lệ hiệu uý LÍ Ưng 李膺chấp pháp công minh, không sợ kẻ quyền quý. Đương thời, em trai của Trung thường thị Trương Nhượng 张让là Dã Vương Huyện lệnh 野王县令 Trương Sóc 张朔, tham tàn vô đạo, ngược sát người vô tội, nghe tiếng Lí Ưng nghiêm khắc, sợ tội nên trốn về kinh sư, ẩn náu tại nhà Trương Nhượng. Lí Ưng biết tội trạng của Trương Sóc, cho bắt ông ta, áp giải đến ngục Lạc Dương 洛阳, lập tức đem giết. Từ đó, các hoạn quan sợ Lí Ưng, không dám làm bậy. Nhân đó mà danh tiếng của Lí Ưng ngày càng cao, người ta gọi ông là “Long Môn” 龙门. Phàm kẻ sĩ được ông tiếp nhận, gọi là “đăng Long Môn” 登龙门
             Long Môn, tức Hà Tân 河津, thế nước nguy hiểm không thông, loài tôm cá không thể tiến lên được. Nếu con nào tiến lên được thì hoá thành rồng.

                                                           Huỳnh Chương Hưng
                                                 Quy Nhơn 08/11/2018

    Nguyên tác Trung văn
    NHẤT THẾ LONG MÔN
    一世龙门
    TRUNG QUỐC THÀNH NGỮ CỐ SỰ TỔNG TẬP
    中国成语故事总集
    (tập 1)
    Chủ biên: Đường Kì 唐麒
    Trường Xuân – Thời đại văn nghệ xuất bản xã, 2004

    Thứ Tư, 7 tháng 11, 2018



    TỨC MẶC CHI CHIẾN
    (tiếp theo kì 2)

             昭王于是置酒大会, 引言者而让之曰 (1): “先王举国以礼贤者, 非贪土地以遗子孙也. 遭所传德薄, 不能堪命, 国人不顺. 齐为无道, 乘孤国之乱以害先王. 寡人统位, 痛之入骨, 故广延群臣, 外招宾客, 以求报雠 (2); 其有成功者, 尚欲与之同共燕国. 今乐君亲为寡人破齐, 夷其宗庙, 报塞先仇, 齐国固乐君所有, 非燕之所得也. 乐君若能有齐, 与燕并为列国, 结欢同好, 以抗诸侯之难, 燕国之福, 寡人之愿也. 汝何敢言若此!乃斩之. 赐乐毅妻以后服, 赐其子以公子之服; 辂车乘马, 后属百两, 遣国相奉而致之乐毅, 立乐毅为齐王. 乐毅惶恐不受, 拜书, 以死自誓. 由是齐人服其义, 诸侯畏其信, 莫敢服有谋者.

    Phiên âm
              Chiêu Vương vu thị trí tửu đại hội, dẫn ngôn giả nhi nhượng chi viết (1): “Tiên vương cử quốc dĩ lễ hiền giả, phi tham thổ địa dĩ di tử tôn dã. Tao sở truyền đức bạc, bất năng kham mệnh, quốc nhân bất thuận. Tề vi vô đạo, thừa cô quốc chi loạn dĩ hại tiên vương. Quả nhân thống vị, thống chi nhập cốt, cố quảng diên quần thần, ngoại chiêu tân khách, dĩ cầu báo thù (2); kì hữu thành công giả, thượng dục dữ chi đồng cộng Yên quốc. Kim Nhạc quân thân vị quả nhân phá Tề, di kì tông miếu, báo tắc tiên cừu, Tề quốc cố Nhạc quân sở hữu, phi Yên chi sở đắc dã. Nhạc quân nhược năng hữu Tề, dữ Yên tịnh vi liệt quốc, kết hoan đồng hảo, dĩ kháng chư hầu chi nạn, Yên quốc chi phúc, quả nhân chi nguyện dã. Nhữ hà cảm ngôn nhược thử!” Nãi trảm chi. Tứ Nhạc Nghị thê dĩ hậu phục, tứ kì tử dĩ công tử chi phục; lộ xa thừa mã, hậu thuộc bách lạng, khiển quốc tướng phụng nhi trí chi Nhạc Nghị, lập Nhạc Nghị vi Tề Vương. Nhạc Nghị hoàng khủng bất thụ, bái thư, dĩ tử tự thệ. Do thị Tề nhân phục kì nghĩa,chư hầu uý kì tín, mạc cảm phục hữu mưu giả.

    Chú thích
    1- Dẫn : ở đây có nghĩa là “ lôi, kéo”
    2- Thù : cũng như chữ (cừu)

    Dịch nghĩa
              Yên Chiêu vương nghe xong, hạ lệnh tổ chức đại tiệc, lôi người nói ra trách rằng: “Tiên vương đề xướng lấy lễ tiếp đãi người hiền trong cả nước, không phải vì tham nhiều đất đai để lưu lại cho con cháu. Vì không may gặp phải người kế thừa thiếu đức hạnh, không thể hoàn thành nghiệp lớn, khiến dân trong nước oán trách không theo. Nước Tề vô đạo thừa lúc nước ta động loạn đã tàn hại tiên vương. Sau khi ta lên ngôi, rất đau lòng về việc này, cho nên mới mời rộng rãi quần thần, bên ngoài lại chiêu mộ tân khách để mong báo thù. Người nào mà có thể khiến cho ta thành công, ta bằng lòng cho người đó hưởng đại quyền nước Yên. Hiện Nhạc Nghị đích thân chinh chiến, vì ta mà đại phá nước Tề, san bằng tông miếu nước Tề, trả được thù trước. Nước Tề vốn phải là của Nhạc Nghị, không phải nước Yên sở hữu. Nếu Nhạc Nghị có nước Tề, sẽ cùng với nước Yên trở thành chư hầu của nhà Chu, hai nước kết giao, cùng chống lại sự xâm phạm của các nước chư hầu khác. Đó chính là phúc của nước Yên, là tâm nguyện của ta. Thế mà ngươi dám nói những lời đó!” Bèn xử trảm người đó. Lại thưởng cho thê tử của Nhạc Nghị được phục sức theo cách của vương hậu, thưởng cho con của Nhạc Nghị được phục sức theo cách của công tử, phối kèm xe đi ngựa cưỡi, cùng cả trăm chiếc thuộc xa (*), phái Tể tướng đưa đến chỗ Nhạc Nghị, lập Nhạc Nghị làm Tề Vương. Nhạc Nghị vô cùng sợ, không dám tiếp nhận. Viết thư bái tạ từ chối, đồng thời thề lấy cái chết để tỏ lòng trung thành với Yên Vương. Từ đó người nước Tề kính phục đức nghĩa của Nhạc Nghị, chư hầu kính sợ tín nghĩa của Nhạc Nghị, không ai dám tính toán hại Nhạc Nghị nữa. (hết kì 2)

    Chú của người dịch
    *- Thuộc xa: tức xe của Thị tụng đi theo mỗi khi hoàng đế xuất hành.

                                                                Huỳnh Chương Hưng
                                                                 Quy Nhơn 07/11/2018

    Nguồn
    TƯ TRỊ THÔNG GIÁM
    资治通鉴
    Bắc Tống . Tư Mã Quang 司马光
    Chủ biên: Nhậm Tư Vũ 任思武
    Bắc Kinh . Trung Quốc Hoa kiều xuất bản xã, 2013

    Dịch thuật: Tức Mặc chi chiến (tiếp theo kì 2) (Tư trị thông giám)

    Đăng lúc  21:31  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »



    TỨC MẶC CHI CHIẾN
    (tiếp theo kì 2)

             昭王于是置酒大会, 引言者而让之曰 (1): “先王举国以礼贤者, 非贪土地以遗子孙也. 遭所传德薄, 不能堪命, 国人不顺. 齐为无道, 乘孤国之乱以害先王. 寡人统位, 痛之入骨, 故广延群臣, 外招宾客, 以求报雠 (2); 其有成功者, 尚欲与之同共燕国. 今乐君亲为寡人破齐, 夷其宗庙, 报塞先仇, 齐国固乐君所有, 非燕之所得也. 乐君若能有齐, 与燕并为列国, 结欢同好, 以抗诸侯之难, 燕国之福, 寡人之愿也. 汝何敢言若此!乃斩之. 赐乐毅妻以后服, 赐其子以公子之服; 辂车乘马, 后属百两, 遣国相奉而致之乐毅, 立乐毅为齐王. 乐毅惶恐不受, 拜书, 以死自誓. 由是齐人服其义, 诸侯畏其信, 莫敢服有谋者.

    Phiên âm
              Chiêu Vương vu thị trí tửu đại hội, dẫn ngôn giả nhi nhượng chi viết (1): “Tiên vương cử quốc dĩ lễ hiền giả, phi tham thổ địa dĩ di tử tôn dã. Tao sở truyền đức bạc, bất năng kham mệnh, quốc nhân bất thuận. Tề vi vô đạo, thừa cô quốc chi loạn dĩ hại tiên vương. Quả nhân thống vị, thống chi nhập cốt, cố quảng diên quần thần, ngoại chiêu tân khách, dĩ cầu báo thù (2); kì hữu thành công giả, thượng dục dữ chi đồng cộng Yên quốc. Kim Nhạc quân thân vị quả nhân phá Tề, di kì tông miếu, báo tắc tiên cừu, Tề quốc cố Nhạc quân sở hữu, phi Yên chi sở đắc dã. Nhạc quân nhược năng hữu Tề, dữ Yên tịnh vi liệt quốc, kết hoan đồng hảo, dĩ kháng chư hầu chi nạn, Yên quốc chi phúc, quả nhân chi nguyện dã. Nhữ hà cảm ngôn nhược thử!” Nãi trảm chi. Tứ Nhạc Nghị thê dĩ hậu phục, tứ kì tử dĩ công tử chi phục; lộ xa thừa mã, hậu thuộc bách lạng, khiển quốc tướng phụng nhi trí chi Nhạc Nghị, lập Nhạc Nghị vi Tề Vương. Nhạc Nghị hoàng khủng bất thụ, bái thư, dĩ tử tự thệ. Do thị Tề nhân phục kì nghĩa,chư hầu uý kì tín, mạc cảm phục hữu mưu giả.

    Chú thích
    1- Dẫn : ở đây có nghĩa là “ lôi, kéo”
    2- Thù : cũng như chữ (cừu)

    Dịch nghĩa
              Yên Chiêu vương nghe xong, hạ lệnh tổ chức đại tiệc, lôi người nói ra trách rằng: “Tiên vương đề xướng lấy lễ tiếp đãi người hiền trong cả nước, không phải vì tham nhiều đất đai để lưu lại cho con cháu. Vì không may gặp phải người kế thừa thiếu đức hạnh, không thể hoàn thành nghiệp lớn, khiến dân trong nước oán trách không theo. Nước Tề vô đạo thừa lúc nước ta động loạn đã tàn hại tiên vương. Sau khi ta lên ngôi, rất đau lòng về việc này, cho nên mới mời rộng rãi quần thần, bên ngoài lại chiêu mộ tân khách để mong báo thù. Người nào mà có thể khiến cho ta thành công, ta bằng lòng cho người đó hưởng đại quyền nước Yên. Hiện Nhạc Nghị đích thân chinh chiến, vì ta mà đại phá nước Tề, san bằng tông miếu nước Tề, trả được thù trước. Nước Tề vốn phải là của Nhạc Nghị, không phải nước Yên sở hữu. Nếu Nhạc Nghị có nước Tề, sẽ cùng với nước Yên trở thành chư hầu của nhà Chu, hai nước kết giao, cùng chống lại sự xâm phạm của các nước chư hầu khác. Đó chính là phúc của nước Yên, là tâm nguyện của ta. Thế mà ngươi dám nói những lời đó!” Bèn xử trảm người đó. Lại thưởng cho thê tử của Nhạc Nghị được phục sức theo cách của vương hậu, thưởng cho con của Nhạc Nghị được phục sức theo cách của công tử, phối kèm xe đi ngựa cưỡi, cùng cả trăm chiếc thuộc xa (*), phái Tể tướng đưa đến chỗ Nhạc Nghị, lập Nhạc Nghị làm Tề Vương. Nhạc Nghị vô cùng sợ, không dám tiếp nhận. Viết thư bái tạ từ chối, đồng thời thề lấy cái chết để tỏ lòng trung thành với Yên Vương. Từ đó người nước Tề kính phục đức nghĩa của Nhạc Nghị, chư hầu kính sợ tín nghĩa của Nhạc Nghị, không ai dám tính toán hại Nhạc Nghị nữa. (hết kì 2)

    Chú của người dịch
    *- Thuộc xa: tức xe của Thị tụng đi theo mỗi khi hoàng đế xuất hành.

                                                                Huỳnh Chương Hưng
                                                                 Quy Nhơn 07/11/2018

    Nguồn
    TƯ TRỊ THÔNG GIÁM
    资治通鉴
    Bắc Tống . Tư Mã Quang 司马光
    Chủ biên: Nhậm Tư Vũ 任思武
    Bắc Kinh . Trung Quốc Hoa kiều xuất bản xã, 2013

    Mã nguồn bởi Huỳnh Chương Hưng
    Copyright © 2012 Huỳnh Chương Hưng.
    back to top