• Thứ Năm, 22 tháng 8, 2019

    THỨ DÂN ĐỜI CHU
    (tiếp theo)

              Thất nguyệt 七月 là bài thơ mà quý nhân dùng làm nhạc chương, đương nhiên hợp với khẩu vị của quý nhân. Nông phu trong bài thơ sao lại biết đủ để an phận sống một cuộc sống trâu ngựa. Nhưng nông phu và thứ dân khác cũng có lúc không an phận, nếu như quý nhân không để ý tới nỗi thống khổ của họ. Vị vương thứ 15 của triều Chu là Lệ Vương 厉王, do bởi bạo ngược chất chứa lâu ngày bị dân chúng đuổi ra khỏi quốc đô, mất đi vương vị. Các phong quân cùng vận mệnh như Lệ Vương, thậm chí còn bất hạnh hơn ông ta không ngừng thấy có ở những ghi chép. Ví dụ như: năm 634 trước công nguyên, khi hai nước Tấn và Sở giao tranh, Vệ quân 卫君nhân vì đắc tội với Tấn quốc muốn chuyển sang thân Sở. Nhưng nước Vệ cách nước Tấn tương đối gần, thân với Sở sẽ khiến người Tấn tức giận thảo phạt. Lúc đó, người trước tiên gặp phải tai ương chính là nhân dân, cho dù họ may mắn tránh khỏi chết vì chiến tranh, tránh khỏi bị bắt làm tù binh, nhưng khi họ về lại nhà sẽ phát hiện mùa màng bị kẻ địch cắt hết, cây cối bị chặt, nhà cửa bị phá huỷ, thậm chí giếng nước cũng bị lấp. Nhân đó chính sách thân Sở của Vệ quân xung đột với lợi ích căn bản của nhân dân nước Vệ. Người dân nghe được tin, bèn náo loạn cả lên, đuổi Vệ quân ra khỏi nước. Cũng giống với sự kiện đó, năm 553 trước công nguyên, công tử Nhiếp nước Thái nhân vì muốn quay lưng với Sở để thân Tấn đã bị dân chúng giết chết. Nước Thái gần nước Sở. Trải qua bài học của những sự kiện đó, cho nên năm 577 trước công nguyên, Trần Hầu 陈侯 đương lúc ngoại hoạn khẩn cấp đành cho mời người trong nước đến trưng cầu ý kiến để quyết định chính sách ngoại giao.
    Phong quân trực tiếp tàn ngược nhân dân, mất đi địa vị và tính mệnh, thì những trường hợp này càng nhiều. Năm 609 trước công nguyên, Cử quân 莒君nhân vì “đa hành vô lễ vu quốc” 多行无礼于国, bị thái tử của ông thống lĩnh dân chúng giết chết. Năm 561 trước công nguyên, Nguỵ Bá 魏伯của kì nội 畿内 (vùng đất do kinh thành quản lí), nhân vì hiện tại không biết sự bạo hành đến mức người dân không thể sống được, đã bị dân chúng đuổi đi. Năm 559 trước công nguyên, một Cử quân khác nhân vì thích đùa với kiếm, mỗi khi đúc xong một thanh kiếm bèn đem dân ra thử, lại nhân vì muốn bội phản nước Tề, đã bị một vị đại phu thống lĩnh dân chúng đuổi đi. Năm 550 trước công nguyên, Khánh thị 庆氏 (tộc họ Khánh) của nước Trần dựa vào thủ đô làm loạn, Trần Hầu dẫn binh đến bao vây, Khánh thị đốc thúc dân chúng tu sửa thành. Lúc bấy giờ, thành được đắp bằng đất, khi đắp dùng ván ép lại. Viên đốc công nhìn thấy 2 miếng ván bị ngã liền giết chết người lao dịch bên cạnh. Thế là người bị lao dịch bạo động giết chết tộc trưởng Thông của Khánh thị. Năm 484 trước công nguyên, một đại phu họ Trần , nhân được Trần Hầu gã con gái cho, đã thay Trần Hầu trưng thu thuế người trong nước; trưng thu quá nhiều, dùng không hết, ông ta đem số dư đúc cho mình một “đại khí”, loại như chung đỉnh. Về sau người trong nước biết được, bèn đuổi ông ta đi. Đi đến nửa đường, ông ta khát nước, có một người trong tộc cùng đi lập tức đen rượu gạo, lương khô và thịt khô dâng lên, ông ta vô cùng vui mừng, hỏi vì sao có? Người nọ đáp rằng: Khi đại khí đúc xong đã dự phòng việc này rồi.
              Trên đây là thuật lại những dân biến sau thời Lệ Vương, phát sinh vào thế kỉ thứ 6 trước công nguyên và gần đó. Những vụ bạo động thấy ở ghi chép này hoàn toàn là thành công, ảnh hưởng đến địa vị và sinh mệnh của quý nhân, những vụ thất bại mà không thấy ghi chép e là cũng có nhiều. Lúc đó dân chúng đã dần ngóc đầu dậy, nhiều khanh đại phu thông minh đã nhận thức được sự quan trọng của dân chúng, ra sức thi ân để họ giúp mình, làm mạnh tông tộc của mình mà làm suy yếu công thất, thậm chí có được quân vị. Ví dụ như khi Tống Chiêu Công 宋昭公 hôn dung vô đạo (từ năm 619 đến năm 611 trước công nguyên), em trai của ông là công tử Bảo đối với dân chúng lại đặc biệt có lễ nghĩa. Một lần nọ nước Tống bị mất mùa đói kém, công tử Bảo đã đem thóc của mình cho dân đói vay. Trong nước người từ 70 tuổi trở lên đều được tặng cho thức ăn, có khi là thức ăn trân quý. Công tử Bảo tướng mạo rất đẹp, ngay cả đích tổ mẫu là Tương phu nhân 襄夫人cũng hết mực yêu thương, ra sức giúp ông việc bố thí. Về sau Tương phu nhân mưu hại Chiêu Công, công tử Bảo bèn được lập lên làm Tống quân kế vị. Và như Cảnh Công 景公 (từ năm 547 đến năm 490 trước công nguyên) của nước Tề, khi người hầu của công thất, 2/3 lao lực là cho công thất, chỉ có 1/3 là cho việc ăn mặc của họ, họ Trần đã dùng ân huệ thu mua lòng người, đồ đong lường của nước Tề lấy 4 thăng làm 1 đậu , 4 đậu làm 1 khu , 4 khu làm 1 phủ , 10 phủ làm 1 chung . Trần gia đã đặc chế ra đồ đong lường mới, từ thăng đến phủ đều tiến lấy 5, nhưng vẫn lấy 10 phủ làm 1 chung, khi cho nhân dân mượn thóc, dùng đồ đong lường mới, nhưng khi trả thì dùng đồ đong lường cũ. Trần gia chuyên bán gỗ, trên núi và ở chợ giá như nhau; chuyên bán cá, muối, mắm, ở biển và ở chợ giá cũng như nhau. Như vậy, dân chúng cảm thấy Trần gia đáng yêu hơn công thất. Về sau họ Trần không hề tốn sức lực mà vẫn đoạt lấy được nước Tề. Ngoài ra như Quý thị 季氏 của Lỗ , Hãn thị 罕氏của Trịnh đều dùng cách như thế để lấy được chính quyền.
              Như trên đã nói, dân chúng mà tham gia phản biến và bị các nhà lợi dụng đương nhiên bao gồm các loại thứ dân, trong số đó đại bộ phận là nông nhân, kì dư có số ít thương nhân và công nhân. Sự khác biệt quan trọng giữa thứ nhân và nô lệ là thứ nhân có tài sản tư hữu, có thể tự do di chuyển. Nhưng nông nhân trên thực tế rất ít di chuyển, trừ khi gặp phải năm mất mùa đói kém, tuy tại thế kỉ thứ 6 trước công nguyên, trong kí ức của người dân đã có cổ lễ “dân bất thiên, nông bất di” 民不迁, 农不移 (dân không được dời chuyển, nông phu không được biến động). Điều này dường như không phải là hạn chế tuyệt đối, lễ rốt cuộc có sự khác biệt với pháp cấm. (hết)

                                                                   Huỳnh Chương Hưng
                                                                    Quy Nhơn 22/8/2019

    Nguyên tác
    THỨ DÂN
    庶民
    Trong quyển
     TRUNG QUỐC SỬ CƯƠNG
    中国史纲
    Tác giả: Trương Ấm Lân 张荫麟
    Bắc Kinh: Hoá học công nghiệp xuất bản xã, 2017

    Dịch thuật: Thứ dân đời Chu (tiếp theo)

    Đăng lúc  17:56  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    THỨ DÂN ĐỜI CHU
    (tiếp theo)

              Thất nguyệt 七月 là bài thơ mà quý nhân dùng làm nhạc chương, đương nhiên hợp với khẩu vị của quý nhân. Nông phu trong bài thơ sao lại biết đủ để an phận sống một cuộc sống trâu ngựa. Nhưng nông phu và thứ dân khác cũng có lúc không an phận, nếu như quý nhân không để ý tới nỗi thống khổ của họ. Vị vương thứ 15 của triều Chu là Lệ Vương 厉王, do bởi bạo ngược chất chứa lâu ngày bị dân chúng đuổi ra khỏi quốc đô, mất đi vương vị. Các phong quân cùng vận mệnh như Lệ Vương, thậm chí còn bất hạnh hơn ông ta không ngừng thấy có ở những ghi chép. Ví dụ như: năm 634 trước công nguyên, khi hai nước Tấn và Sở giao tranh, Vệ quân 卫君nhân vì đắc tội với Tấn quốc muốn chuyển sang thân Sở. Nhưng nước Vệ cách nước Tấn tương đối gần, thân với Sở sẽ khiến người Tấn tức giận thảo phạt. Lúc đó, người trước tiên gặp phải tai ương chính là nhân dân, cho dù họ may mắn tránh khỏi chết vì chiến tranh, tránh khỏi bị bắt làm tù binh, nhưng khi họ về lại nhà sẽ phát hiện mùa màng bị kẻ địch cắt hết, cây cối bị chặt, nhà cửa bị phá huỷ, thậm chí giếng nước cũng bị lấp. Nhân đó chính sách thân Sở của Vệ quân xung đột với lợi ích căn bản của nhân dân nước Vệ. Người dân nghe được tin, bèn náo loạn cả lên, đuổi Vệ quân ra khỏi nước. Cũng giống với sự kiện đó, năm 553 trước công nguyên, công tử Nhiếp nước Thái nhân vì muốn quay lưng với Sở để thân Tấn đã bị dân chúng giết chết. Nước Thái gần nước Sở. Trải qua bài học của những sự kiện đó, cho nên năm 577 trước công nguyên, Trần Hầu 陈侯 đương lúc ngoại hoạn khẩn cấp đành cho mời người trong nước đến trưng cầu ý kiến để quyết định chính sách ngoại giao.
    Phong quân trực tiếp tàn ngược nhân dân, mất đi địa vị và tính mệnh, thì những trường hợp này càng nhiều. Năm 609 trước công nguyên, Cử quân 莒君nhân vì “đa hành vô lễ vu quốc” 多行无礼于国, bị thái tử của ông thống lĩnh dân chúng giết chết. Năm 561 trước công nguyên, Nguỵ Bá 魏伯của kì nội 畿内 (vùng đất do kinh thành quản lí), nhân vì hiện tại không biết sự bạo hành đến mức người dân không thể sống được, đã bị dân chúng đuổi đi. Năm 559 trước công nguyên, một Cử quân khác nhân vì thích đùa với kiếm, mỗi khi đúc xong một thanh kiếm bèn đem dân ra thử, lại nhân vì muốn bội phản nước Tề, đã bị một vị đại phu thống lĩnh dân chúng đuổi đi. Năm 550 trước công nguyên, Khánh thị 庆氏 (tộc họ Khánh) của nước Trần dựa vào thủ đô làm loạn, Trần Hầu dẫn binh đến bao vây, Khánh thị đốc thúc dân chúng tu sửa thành. Lúc bấy giờ, thành được đắp bằng đất, khi đắp dùng ván ép lại. Viên đốc công nhìn thấy 2 miếng ván bị ngã liền giết chết người lao dịch bên cạnh. Thế là người bị lao dịch bạo động giết chết tộc trưởng Thông của Khánh thị. Năm 484 trước công nguyên, một đại phu họ Trần , nhân được Trần Hầu gã con gái cho, đã thay Trần Hầu trưng thu thuế người trong nước; trưng thu quá nhiều, dùng không hết, ông ta đem số dư đúc cho mình một “đại khí”, loại như chung đỉnh. Về sau người trong nước biết được, bèn đuổi ông ta đi. Đi đến nửa đường, ông ta khát nước, có một người trong tộc cùng đi lập tức đen rượu gạo, lương khô và thịt khô dâng lên, ông ta vô cùng vui mừng, hỏi vì sao có? Người nọ đáp rằng: Khi đại khí đúc xong đã dự phòng việc này rồi.
              Trên đây là thuật lại những dân biến sau thời Lệ Vương, phát sinh vào thế kỉ thứ 6 trước công nguyên và gần đó. Những vụ bạo động thấy ở ghi chép này hoàn toàn là thành công, ảnh hưởng đến địa vị và sinh mệnh của quý nhân, những vụ thất bại mà không thấy ghi chép e là cũng có nhiều. Lúc đó dân chúng đã dần ngóc đầu dậy, nhiều khanh đại phu thông minh đã nhận thức được sự quan trọng của dân chúng, ra sức thi ân để họ giúp mình, làm mạnh tông tộc của mình mà làm suy yếu công thất, thậm chí có được quân vị. Ví dụ như khi Tống Chiêu Công 宋昭公 hôn dung vô đạo (từ năm 619 đến năm 611 trước công nguyên), em trai của ông là công tử Bảo đối với dân chúng lại đặc biệt có lễ nghĩa. Một lần nọ nước Tống bị mất mùa đói kém, công tử Bảo đã đem thóc của mình cho dân đói vay. Trong nước người từ 70 tuổi trở lên đều được tặng cho thức ăn, có khi là thức ăn trân quý. Công tử Bảo tướng mạo rất đẹp, ngay cả đích tổ mẫu là Tương phu nhân 襄夫人cũng hết mực yêu thương, ra sức giúp ông việc bố thí. Về sau Tương phu nhân mưu hại Chiêu Công, công tử Bảo bèn được lập lên làm Tống quân kế vị. Và như Cảnh Công 景公 (từ năm 547 đến năm 490 trước công nguyên) của nước Tề, khi người hầu của công thất, 2/3 lao lực là cho công thất, chỉ có 1/3 là cho việc ăn mặc của họ, họ Trần đã dùng ân huệ thu mua lòng người, đồ đong lường của nước Tề lấy 4 thăng làm 1 đậu , 4 đậu làm 1 khu , 4 khu làm 1 phủ , 10 phủ làm 1 chung . Trần gia đã đặc chế ra đồ đong lường mới, từ thăng đến phủ đều tiến lấy 5, nhưng vẫn lấy 10 phủ làm 1 chung, khi cho nhân dân mượn thóc, dùng đồ đong lường mới, nhưng khi trả thì dùng đồ đong lường cũ. Trần gia chuyên bán gỗ, trên núi và ở chợ giá như nhau; chuyên bán cá, muối, mắm, ở biển và ở chợ giá cũng như nhau. Như vậy, dân chúng cảm thấy Trần gia đáng yêu hơn công thất. Về sau họ Trần không hề tốn sức lực mà vẫn đoạt lấy được nước Tề. Ngoài ra như Quý thị 季氏 của Lỗ , Hãn thị 罕氏của Trịnh đều dùng cách như thế để lấy được chính quyền.
              Như trên đã nói, dân chúng mà tham gia phản biến và bị các nhà lợi dụng đương nhiên bao gồm các loại thứ dân, trong số đó đại bộ phận là nông nhân, kì dư có số ít thương nhân và công nhân. Sự khác biệt quan trọng giữa thứ nhân và nô lệ là thứ nhân có tài sản tư hữu, có thể tự do di chuyển. Nhưng nông nhân trên thực tế rất ít di chuyển, trừ khi gặp phải năm mất mùa đói kém, tuy tại thế kỉ thứ 6 trước công nguyên, trong kí ức của người dân đã có cổ lễ “dân bất thiên, nông bất di” 民不迁, 农不移 (dân không được dời chuyển, nông phu không được biến động). Điều này dường như không phải là hạn chế tuyệt đối, lễ rốt cuộc có sự khác biệt với pháp cấm. (hết)

                                                                   Huỳnh Chương Hưng
                                                                    Quy Nhơn 22/8/2019

    Nguyên tác
    THỨ DÂN
    庶民
    Trong quyển
     TRUNG QUỐC SỬ CƯƠNG
    中国史纲
    Tác giả: Trương Ấm Lân 张荫麟
    Bắc Kinh: Hoá học công nghiệp xuất bản xã, 2017

    Thứ Tư, 21 tháng 8, 2019

    THỨ DÂN ĐỜI CHU

              Ở đời Chu, có một vấn đề rất quan trọng, đó là mối quan hệ giữa nô lệ với nông nghiệp như thế nào? Nói một cách khác, địa vị của đại đa số nông dân như thế nào? Về phương diện này, ghi chép rất tàn khuyết, hiện tại những gì có thể nói được thì hơn một nửa là suy luận. Chúng ta có thể tưởng tượng rằng, triều Chu mới đầu khai quốc, vô số tộc trưởng chiến thắng chia ra từng nhóm thống lĩnh con em mình đến vùng tân thực dân địa, chiếm cứ thành ấp, phân chia ruộng đất, làm Hầu, Bá, Đại phu. Trong số ruộng đất chiếm được, họ bảo lưu một bộ phận nhỏ, trực tiếp sai người quản lí, thu nhập hoàn toàn quy về họ, loại ruộng đó gọi là “công điền” 公田. Kì dư đại bộ phận ruộng đất khác, vẫn giao cho nông phu vốn ở nơi đó canh tác, nhưng buộc họ phải cung phụng thóc lúa, vải vóc và làm lao dịch; quyền canh tác vẫn có thể truyền lại cho con cháu nhưng không thể chuyển nhượng hoặc bán cho người khác. Loại ruộng đó gọi là “tư điền” 私田. Đại bộ phận công điền là do nông phu canh tác tư điền kiêm luôn nghĩa vụ canh tác công điền. Họ “công sự tất nhiên hậu cảm trị tư sự” 公事毕然后敢治私事 (việc công xong hết sau đó mới dám làm việc tư). Nhưng cũng có một bộ phận “công điền” là do nô lệ cày cấy. Cho nên trong minh văn “Đại Khắc đỉnh” 大克鼎 (1) thời Tây Chu có nói Chu Vương ban thưởng 7 khu ruộng, trong đó có 1 khu chú rõ “dĩ quyết thần thiếp” 以厥臣妾 (còn có cả nô lệ  ở đất đó) (2). Nhưng do đó có thể thấy chế độ nô lệ phụ điền ở thời Tây Chu không phổ biến lắm. Nông phu canh tác tư điền đều được gọi là “thứ nhân” 庶人. Địa vị của họ cao hơn nô lệ một chút; nhưng cuộc sống của họ không thấy khá hơn nô lệ. Việc trưng thu thóc lúa, vải vóc đương nhiên có định ngạch, nhưng không hề nhẹ; cuối đời Chu thu thuế 1/10 vẫn là lí tưởng mà khó tiếp cận. Ngoài thu thuế ra, gặp lúc nhà quý tộc có hỉ sự như cưới hỏi họ vẫn phải cung ứng đặc biệt. Còn việc lao dịch lại càng không có hạn định. Bình thường lúc nông nhàn, đại bộ phận vẫn bị quý nhân sai khiến. Nếu quý nhân xây dựng cung thất, xây dựng lầu tạ, tu sửa miếu mạo thành quách, họ có thể bị điều động làm khổ sai dưới làn roi bất cứ lúc nào; gặp lúc quý nhân đánh nhau, họ cũng phải cung ứng quân nhu, đồng thời hiến cả sinh mệnh. Gặp năm mất mùa đói kém, họ càng không giống như nô lệ là có chỗ dựa, hơn một nửa là “lão nhược chuyển hồ câu hác, tráng giả tán nhi chi tứ phương” 老弱转乎沟壑壮者散而之四方 (những người già yếu, bỏ thây nơi hốc núi, còn trai tráng thì tan tác tứ phương).
              Bài dân ca Thất nguyệt 七月 thời Tây Chu truyền lại đã miêu tả một cách tường tận cuộc sống của nông dân ở đất Bân (nay là huyện Bân Thiểm Tây 陕西). Căn cứ vào bài này, có thể hình dung cuộc sống thường ngày của nông dân như sau:
              Tháng giêng đem nông cụ ra tu sửa.
              Tháng 2 bắt đầu gieo trồng, vợ con mang cơm ra đồng cho họ ăn, viên quan đốc canh “điền tuấn” 田畯 (viên quan quản nô lệ cày cấy) cũng cười ha hả đến. Đồng thời con gái của họ cũng mang giỏ ra bờ ruộng hái lá dâu.
              Tháng 8 họ bắt đầu thu hoạch, đồng thời phụ nữ bận việc ươm tơ, ươm tơ xong đem nhuộm đen nhuộm vàng, lại còn nhuộm đỏ sáng tươi để dệt y thường cho công tử.
              Tháng 10 thu hoạch lúa, đồng thời ủ rượu để mùa xuân năm sau dâng lên mừng thọ quý nhân. Nông phu thu gom mùa màng xong, liền đến nhà quý nhân làm việc, ban ngày hái cỏ mao, ban đên bện dây thừng. Tháng này cúng tế thần, tụ tập ăn uống, giết dê lớn dê nhỏ, mọi người đến nhà quý nhân dâng rượu, chúc hô vạn tuế.
              Tháng 11 săn bắn, tìm bắt hồ li để lấy da làm áo cho quý nhân.
              Tháng 12 nông phu tụ tập lại để huấn luyện quân sự. Tháng này đem heo đã nuôi béo dâng cho quý nhân, lại đục lấy băng đem trữ cất để dự bị cho mùa xuân mùa hè năm sau quý nhân dùng. ... (còn tiếp)

    Chú của người dịch
    1- Đại Khắc đỉnh 大克鼎: còn gọi là “Thiện phu Khắc đỉnh” 膳夫克鼎, đỉnh bằng đồng do một đại quý tộc tên Khắc ở vãn kì thời Tây Chu (thời Hiếu Vương 孝王) cho đúc để tế tự tổ phụ. Đỉnh được phát hiện vào năm Quang Tự 光绪 thứ 16 (năm 1890) tại thôn Nhậm , trấn Pháp Môn 法门, huyện Phù Phong 扶风, tỉnh Thiểm Tây 陕西.
    2- Thần thiếp 臣妾: từ xưng hô đối với nô lệ thời cổ, nô lệ nam gọi là “thần” , nô lệ nữ gọi là “thiếp” . Về sau phiếm chỉ người có địa vị thấp so đối tượng đang nói.

                                                              Huỳnh Chương Hưng
                                                              Quy Nhơn 21/8/2019

    Nguyên tác
    THỨ DÂN
    Trong quyển
     TRUNG QUỐC SỬ CƯƠNG
    中国史纲
    Tác giả: Trương Ấm Lân 张荫麟
    Bắc Kinh: Hoá học công nghiệp xuất bản xã, 2017

    Dịch thuật: Thứ dân đời Chu

    Đăng lúc  21:25  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    THỨ DÂN ĐỜI CHU

              Ở đời Chu, có một vấn đề rất quan trọng, đó là mối quan hệ giữa nô lệ với nông nghiệp như thế nào? Nói một cách khác, địa vị của đại đa số nông dân như thế nào? Về phương diện này, ghi chép rất tàn khuyết, hiện tại những gì có thể nói được thì hơn một nửa là suy luận. Chúng ta có thể tưởng tượng rằng, triều Chu mới đầu khai quốc, vô số tộc trưởng chiến thắng chia ra từng nhóm thống lĩnh con em mình đến vùng tân thực dân địa, chiếm cứ thành ấp, phân chia ruộng đất, làm Hầu, Bá, Đại phu. Trong số ruộng đất chiếm được, họ bảo lưu một bộ phận nhỏ, trực tiếp sai người quản lí, thu nhập hoàn toàn quy về họ, loại ruộng đó gọi là “công điền” 公田. Kì dư đại bộ phận ruộng đất khác, vẫn giao cho nông phu vốn ở nơi đó canh tác, nhưng buộc họ phải cung phụng thóc lúa, vải vóc và làm lao dịch; quyền canh tác vẫn có thể truyền lại cho con cháu nhưng không thể chuyển nhượng hoặc bán cho người khác. Loại ruộng đó gọi là “tư điền” 私田. Đại bộ phận công điền là do nông phu canh tác tư điền kiêm luôn nghĩa vụ canh tác công điền. Họ “công sự tất nhiên hậu cảm trị tư sự” 公事毕然后敢治私事 (việc công xong hết sau đó mới dám làm việc tư). Nhưng cũng có một bộ phận “công điền” là do nô lệ cày cấy. Cho nên trong minh văn “Đại Khắc đỉnh” 大克鼎 (1) thời Tây Chu có nói Chu Vương ban thưởng 7 khu ruộng, trong đó có 1 khu chú rõ “dĩ quyết thần thiếp” 以厥臣妾 (còn có cả nô lệ  ở đất đó) (2). Nhưng do đó có thể thấy chế độ nô lệ phụ điền ở thời Tây Chu không phổ biến lắm. Nông phu canh tác tư điền đều được gọi là “thứ nhân” 庶人. Địa vị của họ cao hơn nô lệ một chút; nhưng cuộc sống của họ không thấy khá hơn nô lệ. Việc trưng thu thóc lúa, vải vóc đương nhiên có định ngạch, nhưng không hề nhẹ; cuối đời Chu thu thuế 1/10 vẫn là lí tưởng mà khó tiếp cận. Ngoài thu thuế ra, gặp lúc nhà quý tộc có hỉ sự như cưới hỏi họ vẫn phải cung ứng đặc biệt. Còn việc lao dịch lại càng không có hạn định. Bình thường lúc nông nhàn, đại bộ phận vẫn bị quý nhân sai khiến. Nếu quý nhân xây dựng cung thất, xây dựng lầu tạ, tu sửa miếu mạo thành quách, họ có thể bị điều động làm khổ sai dưới làn roi bất cứ lúc nào; gặp lúc quý nhân đánh nhau, họ cũng phải cung ứng quân nhu, đồng thời hiến cả sinh mệnh. Gặp năm mất mùa đói kém, họ càng không giống như nô lệ là có chỗ dựa, hơn một nửa là “lão nhược chuyển hồ câu hác, tráng giả tán nhi chi tứ phương” 老弱转乎沟壑壮者散而之四方 (những người già yếu, bỏ thây nơi hốc núi, còn trai tráng thì tan tác tứ phương).
              Bài dân ca Thất nguyệt 七月 thời Tây Chu truyền lại đã miêu tả một cách tường tận cuộc sống của nông dân ở đất Bân (nay là huyện Bân Thiểm Tây 陕西). Căn cứ vào bài này, có thể hình dung cuộc sống thường ngày của nông dân như sau:
              Tháng giêng đem nông cụ ra tu sửa.
              Tháng 2 bắt đầu gieo trồng, vợ con mang cơm ra đồng cho họ ăn, viên quan đốc canh “điền tuấn” 田畯 (viên quan quản nô lệ cày cấy) cũng cười ha hả đến. Đồng thời con gái của họ cũng mang giỏ ra bờ ruộng hái lá dâu.
              Tháng 8 họ bắt đầu thu hoạch, đồng thời phụ nữ bận việc ươm tơ, ươm tơ xong đem nhuộm đen nhuộm vàng, lại còn nhuộm đỏ sáng tươi để dệt y thường cho công tử.
              Tháng 10 thu hoạch lúa, đồng thời ủ rượu để mùa xuân năm sau dâng lên mừng thọ quý nhân. Nông phu thu gom mùa màng xong, liền đến nhà quý nhân làm việc, ban ngày hái cỏ mao, ban đên bện dây thừng. Tháng này cúng tế thần, tụ tập ăn uống, giết dê lớn dê nhỏ, mọi người đến nhà quý nhân dâng rượu, chúc hô vạn tuế.
              Tháng 11 săn bắn, tìm bắt hồ li để lấy da làm áo cho quý nhân.
              Tháng 12 nông phu tụ tập lại để huấn luyện quân sự. Tháng này đem heo đã nuôi béo dâng cho quý nhân, lại đục lấy băng đem trữ cất để dự bị cho mùa xuân mùa hè năm sau quý nhân dùng. ... (còn tiếp)

    Chú của người dịch
    1- Đại Khắc đỉnh 大克鼎: còn gọi là “Thiện phu Khắc đỉnh” 膳夫克鼎, đỉnh bằng đồng do một đại quý tộc tên Khắc ở vãn kì thời Tây Chu (thời Hiếu Vương 孝王) cho đúc để tế tự tổ phụ. Đỉnh được phát hiện vào năm Quang Tự 光绪 thứ 16 (năm 1890) tại thôn Nhậm , trấn Pháp Môn 法门, huyện Phù Phong 扶风, tỉnh Thiểm Tây 陕西.
    2- Thần thiếp 臣妾: từ xưng hô đối với nô lệ thời cổ, nô lệ nam gọi là “thần” , nô lệ nữ gọi là “thiếp” . Về sau phiếm chỉ người có địa vị thấp so đối tượng đang nói.

                                                              Huỳnh Chương Hưng
                                                              Quy Nhơn 21/8/2019

    Nguyên tác
    THỨ DÂN
    Trong quyển
     TRUNG QUỐC SỬ CƯƠNG
    中国史纲
    Tác giả: Trương Ấm Lân 张荫麟
    Bắc Kinh: Hoá học công nghiệp xuất bản xã, 2017

    Thứ Ba, 20 tháng 8, 2019

    TRUYỀN THUYẾT TRÀ VƯƠNG “ĐẠI HỒNG BÀO”

              Trà Vũ Di Nham 武夷岩có công năng gây hưng phấn, giải nóng, tiêu hoá, ngăn ngừa bệnh lị.
              Tương truyền trước đây rất lâu, có một vị Tú tài nghèo lên kinh ứng thí, khi đi qua núi Vũ Di 武夷, đột nhiên đổ bệnh trên đường. Lão phương trượng chùa Thiên Tâm Vĩnh Lạc 天心永乐 đang hoá duyên nhìn thấy, vội kêu 2 vị hoà thượng khiêng anh ta về chùa. Sắc mặt anh ta trắng bệch, người gầy mà bụng lại trướng to, lão phương trượng bèn bốc một nhúm trà từ trong một hộp thiếc nhỏ ra bỏ vào trong chén rồi chế nước sôi, đưa đến trước mặt vị Tú tài, nói rằng:
              - Anh uống đi! Bệnh sẽ khỏi.
              Vị Tú tài nhìn thấy lá trà trong chén đang từ từ bung ra, lá thì xanh mà hai bên mép lá có sắc đỏ, nước thì vàng pha chút hồng, màu tươi như màu hổ phách, nước trong nhìn thấy đáy, mùi hương nhẹ nhàng, hớp vào thấy có mùi thơm của hoa quế thấm nhập tâm can. Anh ta hớp mấy ngụm, cảm thấy vị trà hơi chát có chút ngọt, tiếp đó trong miệng ra nhiều nước bọt, bụng phát ra tiếng kêu rồi dần dần xẹp xuống, tinh thần cũng theo đó mà phấn chấn. Vị Tú tài lưu lại chùa mấy ngày, thân thể dần hồi phục như trước. Một hôm, vị Tú tài tìm đến lão phương trượng từ biệt, nói rằng:
              - Mấy ngày liền đội ơn cứu giúp của lão pháp sư, nếu tiểu sinh khoa này thi đỗ, nhất định sẽ trở lại tạ ơn, sửa chùa tạc tượng.
              Chẳng bao lâu, quả nhiên vị Tú tài nọ kim bảng đề danh, đỗ Tân khoa Trạng nguyên. Hoàng thượng thấy anh ta nhân phẩm xuất chúng, tài hoa hơn người, bèn chiêu nạp Tân khoa Trạng nguyên làm phò mã đông sàng. Cũng tương truyền, vị Tú tài đỗ Trạng nguyên, lại thành hoàng tế đáng lẽ phải như gió xuân đắc ý, mặt tràn hỉ sắc mới phải. Nhưng vị Trạng nguyên có công chúa xinh đẹp ngày đêm làm bạn này lại tâm sự trùng trùng, buồn bã không vui.
              Một buổi sáng sớm nọ, hoàng thượng thấy phò mã chau mày ủ đột, bèn hỏi vì sao không vui. Trạng nguyên bèn đem hết sự tình, lão phương trượng từ bi cứu giúp, nhất nhất kể lại cho hoàng thượng. Hoàng thượng thấy anh ta muốn đến núi Vũ Di để tạ ơn, bèn phong anh ta làm Khâm sai đến thị sát
              Một ngày mùa xuân ấm áp, nhóm người của Trạng nguyên rời kinh thành. Trạng nguyên cưỡi con ngựa cao lớn, tuỳ tùng tiền hô hậu ủng, vội triệu tập hoà thượng lớn nhỏ trong chùa, thắp hương đốt nến, bố trí sân chùa, cung kính chờ đón Khâm sai đại thần thân lâm. Trạng nguyên uy phong lẫm lẫm đến trước chủa Thiên Tâm ở núi Vũ Di. Lão phương trượng sớm đã dẫn các hoà thượng ra trước chùa đứng hai bên đường để dón. Vừa thấy lão hoà thượng, Trạng nguyên lập tức xuống ngựa, tiến lên chắp tay nói rằng:
              - Lão pháp sư, lâu rồi không gặp, hôm nay bổn quan đặc biệt đến cảm tạ đại ân đại đức của ngài.
              Lão phương trượng vừa sợ vừa mừng, vội chắp tay hành lễ:
              - A Di Đà Phật, Trạng nguyên công chớ làm như thế. Chỉ là chuyện nhỏ, bất tất phải để trong lòng.
    đồng thời cung kính rước Trạng nguyên vào chùa. Sau một hồi hàn huyên, Trạng nguyên hỏi đến bệnh tình năm đó, muốn đích thân đi xem cây thiền trà đã cứu mạng. Lão phương trượng gật đầu đồng ý, đưa Trạng nguyên từ chùa Thiên Tâm đi xuống phía nam, qua Tượng Tị nham 象鼻岩 đến dưới chân núi, lại đi về phía tây, tiến vào một hẽm núi thâm u. Chỉ thấy 9 ngọn nham phong như 9 con rồng vây lấy vách núi. Trong khe núi mây mù giăng đầy, nước từ trong động chảy ra, gió mát hiu hiu, từng mảng vách núi, cây trà mọc tầng tầng toả mùi thơm nơi khe. Trạng nguyên ngây ngất trước cảnh sắc thiên nhiên, hứng thú tràn trề. Bỗng Trạng nguyên nhìn thấy nơi vách núi nghiêng có một khối đá, bên trên mọc lên 3 cây trà lớn cao hơn cả trượng, cành cây cong cong, phủ đầy rêu xanh, giữa những phiến lá vừa dày vừa xanh kẹp lấy những chồi non; ánh nắng chiếu qua lớp sương mù dày, phản chiếu lá có sắc hồng tía, bên trên lá lóng lánh những giọt sương, đáng yêu biết bao. Trên vách núi còn có một khe hở, gió nhẹ mây mỏng theo khe đó thổi đến cây trà, quả thật là trời sinh đất tạo, khéo léo vô cùng. Lão phương trượng thấy Trạng nguyên kinh ngạc không cùng, liền nói:
              - Nơi đây gọi là Cửu Long Khoà 九龙窠. Cây trà này mọi người gọi là Đại Hồng Bào 大红袍 (1). Năm đó Trạng nguyên công do vì ăn thức ăn sinh lạnh, phạm phải bệnh cổ trướng, bần tăng liền lấy lá trà Đại hồng bào này pha cho Trạng nguyên công uống đấy.
              Trạng nguyên càng thêm hứng thú, thưởng thức “vương quốc trà” Cửu Long Khoà cho đến lúc mặt trời xế về tây. Về đến chùa, lại được nghe lão phương trượng kể một câu chuyện về một bà lão với 3 cây trà Đại Hồng Bào. Lão phương trượng kể vô cùng sinh động, Trạng nguyên nghe càng say sưa. Nghe xong câu chuyện, Trạng nguyên tán thán không dứt, nói với lão phương trượng rằng:
              - Trà thần này có thể trị bách bệnh, xin lão pháp sư tinh chế một hộp để bổn quan mang về kinh dâng lên hoàng thượng. Lão pháp sư thấy thế nào?
              Lão phương trượng gật gật đầu đồng ý. Khéo là vừa đương lúc mùa hái trà xuân, ngày hôm sau lão phương trượng vui mừng, long trọng khoác cà sa 42 mảnh hồng điều, thắp hương đốt nến, gõ trống đánh chuông, triệu tập các hoà thượng lớn nhỏ trong chùa, theo đẳng cấp mặc cà sa có các mảnh đỏ, vàng khác nhau. Người hầu bưng mâm trà, trên mâm đựng 6 chén món chay gồm: nấm, mộc nhĩ, kim châm, măng, đậu phụ, rau đang đúng mùa, cùng cơm, do lão phương trượng dẫn đầu, phía sau lần lượt theo thứ tự tăng chúng lớn nhỏ gồm thủ toạ 首座, củ sát 纠察, phủ tự 府寺, tri khách 知客, duy na 维那, duyệt chúng 悦众 và thanh chúng 清众. Người bưng lư hương thắp đàn hương, người bưng đồ dùng, người cầm phất trần, người xách lồng đền, sắp thành một hàng, rầm rầm rộ rộ tiến đến Cửu Long Khoà. Lão pháp sư đi đầu, trái 3 bước, phải 3 bước, lễ bái cây trà. Trong không khí đèn hương vây quanh, chúng tăng cùng đồng thanh hô vang:
              - Trà phát nha! Trà phát nha!
              - 茶发芽! 茶发芽!
    Rồi bắt đầu hái trà. Hái qua lá trà, lão phương trượng về chùa mời đến một vị trà sư giỏi nhất, dùng trà cụ tốt nhất, đem lá trà tinh chế. Sau khi chế thành cho vào một hộp thiếc nhỏ, Trạng nguyên dùng một vuông lụa cẩn thận bọc lại, rồi cất vào trong ngực.
              Sau đó, Trạng nguyên sai người tu sửa chùa Thiên Tâm Vĩnh Lạc, lại tạo một tượng kim thân Bồ Tát rồi lên đường về kinh. Trạng nguyên về đến hoàng cung, thấy cung đình hỗn loạn, hỏi thăm mới biết hoàng hậu lâm bệnh, cả ngày bụng đau và trướng to, nằm không dậy được, mời danh y khắp kinh thành, dùng hết linh đan diệu dược, thế mà bệnh không thuyên giảm, khiến hoàng thượng và các thám giám lớn nhỏ đứng ngồi không yên, cả kinh thành chấn động. Trạng nguyên thấy tình hình như thế, liền lấy trà thần Đại Hồng Bào từ núi Vũ Di mang về trình lên trước mặt hoàng thượng, tâu rằng:
              - Tiểu thần từ núi Vũ Di ở Phúc Kiến mang về một hộp trà thần Đại Hồng Bào. Trà này có thể chữa bách bệnh. Kính xin cho hoàng hậu dùng qua, đảm bảo ngọc thể sẽ khang kiện.
              Hoàng thượng nhận qua trà, trịnh trọng nói rằng:
              - Nếu quả trà này hiển linh, làm cho hoàng hậu khoẻ mạnh, quả nhân nhất định sẽ đến Cửu Long Khoà ở núi Vũ Di ban thưởng cho cây trà.
              Nói ra cũng lạ, sau khi hoàng hậu uống trà Đại Hồng Bào do đích thân hoàng thượng pha, quả nhiên bụng hết đau, tiêu trướng, ngọc thể nhanh chóng khang kiện trở lại. Hoàng thượng vô cùng vui mừng.
              Về sau hoàng thượng giữ lời hứa, đến Cửu Long Khoà ở núi Vũ Di, cử hành điển lễ ban thưởng “Đại Hồng Bào” long trọng, đích thân đại đem hồng bào đang khoác trên người, cởi ra rồi khoác lên 3 cây trà. Từ đó, danh tiếng của trà Đại Hồng Bào ở núi Vũ Di vang xa, trở thành “trà trung chi vương” 茶中之王, đồng thời cảnh đẹp non xanh nước biếc của núi Vũ Di cũng nổi tiếng khắp thiên hạ.

    Chú của người dịch:
    1- Theo ý riêng, có lẽ lúc này trà chưa có tên là Đại Hồng Bào, mà mãi sau này, khi hoàng thượng đến Cửu Long Khoà, cử hành điển lễ ban tặng cho cây trà, đích thân cởi đại hồng bào” khoác lên cho 3 cây trà, trà mới có tên là “Đại Hồng Bào”.
             
                                                         Huỳnh Chương Hưng
                                                         Quy Nhơn 20/8/2019

    Nguyên tác Trung văn
    TRÀ VƯƠNG “ĐẠI HỒNG BÀO” ĐÍCH TRUYỀN THUYẾT
    茶王大红袍的传说
    Trong quyển
    THANH THIẾU NIÊN TỐI HỈ HOAN ĐÍCH
    THẦN THOẠI CỐ SỰ
    青少年最喜欢的
    神话故事
    Tác giả: Ngô Cảnh Minh 吴景明
    Diên Biên nhân dân xuất bản xã, 2002

    Dịch thuật: Truyền thuyết trà vương "Đại Hồng Bào"

    Đăng lúc  19:02  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    TRUYỀN THUYẾT TRÀ VƯƠNG “ĐẠI HỒNG BÀO”

              Trà Vũ Di Nham 武夷岩có công năng gây hưng phấn, giải nóng, tiêu hoá, ngăn ngừa bệnh lị.
              Tương truyền trước đây rất lâu, có một vị Tú tài nghèo lên kinh ứng thí, khi đi qua núi Vũ Di 武夷, đột nhiên đổ bệnh trên đường. Lão phương trượng chùa Thiên Tâm Vĩnh Lạc 天心永乐 đang hoá duyên nhìn thấy, vội kêu 2 vị hoà thượng khiêng anh ta về chùa. Sắc mặt anh ta trắng bệch, người gầy mà bụng lại trướng to, lão phương trượng bèn bốc một nhúm trà từ trong một hộp thiếc nhỏ ra bỏ vào trong chén rồi chế nước sôi, đưa đến trước mặt vị Tú tài, nói rằng:
              - Anh uống đi! Bệnh sẽ khỏi.
              Vị Tú tài nhìn thấy lá trà trong chén đang từ từ bung ra, lá thì xanh mà hai bên mép lá có sắc đỏ, nước thì vàng pha chút hồng, màu tươi như màu hổ phách, nước trong nhìn thấy đáy, mùi hương nhẹ nhàng, hớp vào thấy có mùi thơm của hoa quế thấm nhập tâm can. Anh ta hớp mấy ngụm, cảm thấy vị trà hơi chát có chút ngọt, tiếp đó trong miệng ra nhiều nước bọt, bụng phát ra tiếng kêu rồi dần dần xẹp xuống, tinh thần cũng theo đó mà phấn chấn. Vị Tú tài lưu lại chùa mấy ngày, thân thể dần hồi phục như trước. Một hôm, vị Tú tài tìm đến lão phương trượng từ biệt, nói rằng:
              - Mấy ngày liền đội ơn cứu giúp của lão pháp sư, nếu tiểu sinh khoa này thi đỗ, nhất định sẽ trở lại tạ ơn, sửa chùa tạc tượng.
              Chẳng bao lâu, quả nhiên vị Tú tài nọ kim bảng đề danh, đỗ Tân khoa Trạng nguyên. Hoàng thượng thấy anh ta nhân phẩm xuất chúng, tài hoa hơn người, bèn chiêu nạp Tân khoa Trạng nguyên làm phò mã đông sàng. Cũng tương truyền, vị Tú tài đỗ Trạng nguyên, lại thành hoàng tế đáng lẽ phải như gió xuân đắc ý, mặt tràn hỉ sắc mới phải. Nhưng vị Trạng nguyên có công chúa xinh đẹp ngày đêm làm bạn này lại tâm sự trùng trùng, buồn bã không vui.
              Một buổi sáng sớm nọ, hoàng thượng thấy phò mã chau mày ủ đột, bèn hỏi vì sao không vui. Trạng nguyên bèn đem hết sự tình, lão phương trượng từ bi cứu giúp, nhất nhất kể lại cho hoàng thượng. Hoàng thượng thấy anh ta muốn đến núi Vũ Di để tạ ơn, bèn phong anh ta làm Khâm sai đến thị sát
              Một ngày mùa xuân ấm áp, nhóm người của Trạng nguyên rời kinh thành. Trạng nguyên cưỡi con ngựa cao lớn, tuỳ tùng tiền hô hậu ủng, vội triệu tập hoà thượng lớn nhỏ trong chùa, thắp hương đốt nến, bố trí sân chùa, cung kính chờ đón Khâm sai đại thần thân lâm. Trạng nguyên uy phong lẫm lẫm đến trước chủa Thiên Tâm ở núi Vũ Di. Lão phương trượng sớm đã dẫn các hoà thượng ra trước chùa đứng hai bên đường để dón. Vừa thấy lão hoà thượng, Trạng nguyên lập tức xuống ngựa, tiến lên chắp tay nói rằng:
              - Lão pháp sư, lâu rồi không gặp, hôm nay bổn quan đặc biệt đến cảm tạ đại ân đại đức của ngài.
              Lão phương trượng vừa sợ vừa mừng, vội chắp tay hành lễ:
              - A Di Đà Phật, Trạng nguyên công chớ làm như thế. Chỉ là chuyện nhỏ, bất tất phải để trong lòng.
    đồng thời cung kính rước Trạng nguyên vào chùa. Sau một hồi hàn huyên, Trạng nguyên hỏi đến bệnh tình năm đó, muốn đích thân đi xem cây thiền trà đã cứu mạng. Lão phương trượng gật đầu đồng ý, đưa Trạng nguyên từ chùa Thiên Tâm đi xuống phía nam, qua Tượng Tị nham 象鼻岩 đến dưới chân núi, lại đi về phía tây, tiến vào một hẽm núi thâm u. Chỉ thấy 9 ngọn nham phong như 9 con rồng vây lấy vách núi. Trong khe núi mây mù giăng đầy, nước từ trong động chảy ra, gió mát hiu hiu, từng mảng vách núi, cây trà mọc tầng tầng toả mùi thơm nơi khe. Trạng nguyên ngây ngất trước cảnh sắc thiên nhiên, hứng thú tràn trề. Bỗng Trạng nguyên nhìn thấy nơi vách núi nghiêng có một khối đá, bên trên mọc lên 3 cây trà lớn cao hơn cả trượng, cành cây cong cong, phủ đầy rêu xanh, giữa những phiến lá vừa dày vừa xanh kẹp lấy những chồi non; ánh nắng chiếu qua lớp sương mù dày, phản chiếu lá có sắc hồng tía, bên trên lá lóng lánh những giọt sương, đáng yêu biết bao. Trên vách núi còn có một khe hở, gió nhẹ mây mỏng theo khe đó thổi đến cây trà, quả thật là trời sinh đất tạo, khéo léo vô cùng. Lão phương trượng thấy Trạng nguyên kinh ngạc không cùng, liền nói:
              - Nơi đây gọi là Cửu Long Khoà 九龙窠. Cây trà này mọi người gọi là Đại Hồng Bào 大红袍 (1). Năm đó Trạng nguyên công do vì ăn thức ăn sinh lạnh, phạm phải bệnh cổ trướng, bần tăng liền lấy lá trà Đại hồng bào này pha cho Trạng nguyên công uống đấy.
              Trạng nguyên càng thêm hứng thú, thưởng thức “vương quốc trà” Cửu Long Khoà cho đến lúc mặt trời xế về tây. Về đến chùa, lại được nghe lão phương trượng kể một câu chuyện về một bà lão với 3 cây trà Đại Hồng Bào. Lão phương trượng kể vô cùng sinh động, Trạng nguyên nghe càng say sưa. Nghe xong câu chuyện, Trạng nguyên tán thán không dứt, nói với lão phương trượng rằng:
              - Trà thần này có thể trị bách bệnh, xin lão pháp sư tinh chế một hộp để bổn quan mang về kinh dâng lên hoàng thượng. Lão pháp sư thấy thế nào?
              Lão phương trượng gật gật đầu đồng ý. Khéo là vừa đương lúc mùa hái trà xuân, ngày hôm sau lão phương trượng vui mừng, long trọng khoác cà sa 42 mảnh hồng điều, thắp hương đốt nến, gõ trống đánh chuông, triệu tập các hoà thượng lớn nhỏ trong chùa, theo đẳng cấp mặc cà sa có các mảnh đỏ, vàng khác nhau. Người hầu bưng mâm trà, trên mâm đựng 6 chén món chay gồm: nấm, mộc nhĩ, kim châm, măng, đậu phụ, rau đang đúng mùa, cùng cơm, do lão phương trượng dẫn đầu, phía sau lần lượt theo thứ tự tăng chúng lớn nhỏ gồm thủ toạ 首座, củ sát 纠察, phủ tự 府寺, tri khách 知客, duy na 维那, duyệt chúng 悦众 và thanh chúng 清众. Người bưng lư hương thắp đàn hương, người bưng đồ dùng, người cầm phất trần, người xách lồng đền, sắp thành một hàng, rầm rầm rộ rộ tiến đến Cửu Long Khoà. Lão pháp sư đi đầu, trái 3 bước, phải 3 bước, lễ bái cây trà. Trong không khí đèn hương vây quanh, chúng tăng cùng đồng thanh hô vang:
              - Trà phát nha! Trà phát nha!
              - 茶发芽! 茶发芽!
    Rồi bắt đầu hái trà. Hái qua lá trà, lão phương trượng về chùa mời đến một vị trà sư giỏi nhất, dùng trà cụ tốt nhất, đem lá trà tinh chế. Sau khi chế thành cho vào một hộp thiếc nhỏ, Trạng nguyên dùng một vuông lụa cẩn thận bọc lại, rồi cất vào trong ngực.
              Sau đó, Trạng nguyên sai người tu sửa chùa Thiên Tâm Vĩnh Lạc, lại tạo một tượng kim thân Bồ Tát rồi lên đường về kinh. Trạng nguyên về đến hoàng cung, thấy cung đình hỗn loạn, hỏi thăm mới biết hoàng hậu lâm bệnh, cả ngày bụng đau và trướng to, nằm không dậy được, mời danh y khắp kinh thành, dùng hết linh đan diệu dược, thế mà bệnh không thuyên giảm, khiến hoàng thượng và các thám giám lớn nhỏ đứng ngồi không yên, cả kinh thành chấn động. Trạng nguyên thấy tình hình như thế, liền lấy trà thần Đại Hồng Bào từ núi Vũ Di mang về trình lên trước mặt hoàng thượng, tâu rằng:
              - Tiểu thần từ núi Vũ Di ở Phúc Kiến mang về một hộp trà thần Đại Hồng Bào. Trà này có thể chữa bách bệnh. Kính xin cho hoàng hậu dùng qua, đảm bảo ngọc thể sẽ khang kiện.
              Hoàng thượng nhận qua trà, trịnh trọng nói rằng:
              - Nếu quả trà này hiển linh, làm cho hoàng hậu khoẻ mạnh, quả nhân nhất định sẽ đến Cửu Long Khoà ở núi Vũ Di ban thưởng cho cây trà.
              Nói ra cũng lạ, sau khi hoàng hậu uống trà Đại Hồng Bào do đích thân hoàng thượng pha, quả nhiên bụng hết đau, tiêu trướng, ngọc thể nhanh chóng khang kiện trở lại. Hoàng thượng vô cùng vui mừng.
              Về sau hoàng thượng giữ lời hứa, đến Cửu Long Khoà ở núi Vũ Di, cử hành điển lễ ban thưởng “Đại Hồng Bào” long trọng, đích thân đại đem hồng bào đang khoác trên người, cởi ra rồi khoác lên 3 cây trà. Từ đó, danh tiếng của trà Đại Hồng Bào ở núi Vũ Di vang xa, trở thành “trà trung chi vương” 茶中之王, đồng thời cảnh đẹp non xanh nước biếc của núi Vũ Di cũng nổi tiếng khắp thiên hạ.

    Chú của người dịch:
    1- Theo ý riêng, có lẽ lúc này trà chưa có tên là Đại Hồng Bào, mà mãi sau này, khi hoàng thượng đến Cửu Long Khoà, cử hành điển lễ ban tặng cho cây trà, đích thân cởi đại hồng bào” khoác lên cho 3 cây trà, trà mới có tên là “Đại Hồng Bào”.
             
                                                         Huỳnh Chương Hưng
                                                         Quy Nhơn 20/8/2019

    Nguyên tác Trung văn
    TRÀ VƯƠNG “ĐẠI HỒNG BÀO” ĐÍCH TRUYỀN THUYẾT
    茶王大红袍的传说
    Trong quyển
    THANH THIẾU NIÊN TỐI HỈ HOAN ĐÍCH
    THẦN THOẠI CỐ SỰ
    青少年最喜欢的
    神话故事
    Tác giả: Ngô Cảnh Minh 吴景明
    Diên Biên nhân dân xuất bản xã, 2002

    Thứ Hai, 19 tháng 8, 2019

    CÔNG TÔN HẠ

              Công Tôn Hạ 公孙贺 (? – năm 91 trước công nguyên), tự Tử Thúc 子叔. Tể tướng thời Hán Vũ Đế 汉武帝 triều Tây Hán. Nhân vì bị người vu cáo mà chết trong ngục.

              Công Tôn Hạ, người Nghĩa Cừ 义渠 Bắc Địa 北地 (nay là phía tây nam Hợp Thuỷ 合水 tỉnh Cam Túc 甘肃). Mẫu thân là chị của Vệ hoàng hậu 卫皇后 của Vũ Đế, là ngoại thích. Tổ phụ ông là Công Tôn Hồn Da 公孙昆邪 (1), nhậm chức Thú ở Lũng Tây 陇西 triều Cảnh Đế 景帝, có công trong việc dẹp loạn 7 nước, được phong làm Bình Khúc Hầu 平曲侯.
              Công Tôn Hạ lúc trẻ từng làm kị sĩ, nhiều lần lập chiến công. Khi Vũ Đế còn là thái tử, ông được triệu làm Thái tử xá nhân 太子舍人. Vũ Đế lên ngôi, ông được thăng là Thái bộc 太仆. Do bởi Công Tôn Hạ là cháu gọi Hoàng hậu băng dì, được Vũ Đế tin dùng, trước sau được thăng làm Khinh kị tướng quân 轻骑将军, nhiều lần xuất chinh.
              Năm 103 trước công nguyên, Thừa tướng Thạch Khánh 石庆 bệnh và qua đời, Công Tôn Hạ được bái làm Thừa tướng. Ngày bái Tướng, ông nghĩ đến mấy vị Thừa tướng trước đó như Lí Thái 李蔡, Trang Thanh Địch 庄青翟, Triệu Chu 赵周 đều bị tru sát, Thạch Khánh tuy may mắn qua đời an lành, nhưng thời gian nhậm chức nhiều lần gặp phải sự trách cứ của Vũ Đế, thiếu chút nữa mất mạng. Cho nên, ông càng nghĩ càng sợ, cảm thấy làm bạn với vua như làm bạn với hổ nên đã dập đầu khóc lóc xin từ, không chịu tiếp nhận ấn Tướng, nói rằng:
              - Thần vốn là thảo dân nơi biên cảnh, lấy yên ngựa, kị xạ mà nhậm chức võ tướng, quả thực không đủ sức để đảm nhậm chức vụ Thừa tướng trọng yếu này.
              Vũ Đế sai tả hữu nâng ông dậy, ông dùng dằng không chịu đứng lên, nhất định đòi Vũ Đế đáp ứng không bái ông làm Tướng. Vũ Đế tức giận, phất tay áo bỏ đi, ông đành phải thu nhận ấn Tướng.
              Công Tôn Hạ vì là ngoại thích mà bái Tướng, quả thực không có tài trị quốc. Thời gian nhậm chức, ông chỉ biết mở rộng ruộng đất, mưu lợi cho con em thân thuộc. Tướng sĩ nơi biên cảnh thiếu lương thực, quân tâm bất an, ông cũng không nghĩ ra được biện pháp nào hay để giải quyết. Ông tham tang nhận hối lộ, khiến việc hối lộ chốn quan nha thành tục. Những điều này khiến Vũ Đế đối với ông ngày càng bất mãn.
              Con của Công Tôn Hạ là Công Tôn Kính Thanh 公孙敬声, được tập chức của phụ thân làm Thái bộc. Công Tôn Kính Thanh tự thị mình là hoàng thân, kiêu xa bất pháp. Năm 92 trước công nguyên, nhân vì tự ý dùng gần 2 ngàn vạn quân lương của Bắc quân, sau khi án phát ra bị bắt bỏ ngục. Đương thời, có Chu Thế An 朱世安 người ở Dương Lăng 阳陵 tại kinh thành cướp của người giàu đem cứu người nghèo, khiến cho đạt quan hiển nhân hoảng sợ bất an, mọi người gọi anh ta là đại hiệp của kinh sư. Vũ Đế mấy lần hạ chiếu đi bắt nhưng đều bắt không được. Công Tôn Hạ xin được đi bắt Chu Thế An, để chuộc tội cho con là Công Tôn Kính Thanh. Chu Thế An sau khi bị bắt, cười lớn nói với Công Tôn Hạ rằng:
              - Cả tộc của Thừa tướng sắp bị diệt rồi đấy!
    Đồng thời trong ngục dâng thư, cáo phát Công Tôn Kính Thanh tư thông với công chúa Dương Thạch 阳石 con gái của Vũ Đế, lại còn sai người giấu tượng gỗ nơi trì đạo cung Cam Tuyền 甘泉ở  Bắc sơn 北山 nơi Vũ Đế thường đến, nguyền rủa Vũ Đế chết sớm. Đương thời, Vũ Đế tuổi đã cao, rất mê tín, cho rằng dùng tượng gỗ chôn dưới đất để nguyền rủa, có thể khiến người tử vong, gọi đó là “vu cổ” 诬蛊. Vũ Đế nghe qua cả giận, chẳng phân đen trắng cho bắt Công Tôn Hạ giam vào đại lao, dùng nghiêm hình tra khảo. Năm sao, Công Tôn Hạ và Công Tôn Kính Thanh đều chết trong ngục.

    Chú của người dịch
    1- Về tên nhân vật 公孙昆邪:
              Chữ :
              Trong Khang Hi tự điển 康熙字典, chữ có mấy bính âm sau: kun (thanh 1), hun (thanh 2), hun (thanh 3).
              Với bính âm hun (thanh 2)
              Tập vận 集韵, Vận hội 韵會  đều phiên thiết là HỒ CÔN 胡昆, âm (hồn). Nhân danh. Giải thích rằng:
    Hán hữu Thuộc quốc Công Tôn Hồn Da
    汉有属国公孙昆邪
    (Đời Hán có Thuộc quốc Công Tôn Hồn Da)
    (Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 2002, trang 436 – 437)

              Chữ :
             Trong Khang Hi tự điển 康熙字典, chữ có mấy bính âm sau: xie (thanh 2), ye (thanh 2), yu (thanh 2) hoặc ya (thanh 2), she (thanh 2), zuo (thanh 3).
              Với bính âm ye (thanh 2) hoặc ya (thanh 2)
              Đường vận 唐韵 phiên thiết là DĨ GIÀ 以遮.
              Tập vận 集韵, Vận hội 韵會, Chính vận 正韻  phiên thiết là DƯ GIÀ 余遮
    Đều có âm là (da).
    Trong Thuyết văn 說文 có Lang Da 琅邪, tên quận. Có Mạc Da 莫邪, tên kiếm, do Đại phu Mạc Da莫邪 nước Ngô tạo ra nên có tên như thế.
              Có Hô Hàn Da 呼韓邪, tên của Hung Nô vương. Nhược Da 若邪 tên sông. Tư Da 胥邪 tên cây.
    (Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 2002, trang 1255)

              Với 公孙昆邪, 2 chữ 昆邪 có bính âm là公孙昆 (hún) (yé).
    Như vậy tên nhân vật đọc là Công Tôn Hồn Da.

                                                            Huỳnh Chương Hưng
                                                            Quy Nhơn 19/8/2018

    Nguyên tác Trung văn
    CÔNG TÔN HẠ
    公孙贺
    Trong quyển
    TRUNG QUỐC LỊCH ĐẠI TỂ TƯỚNG LỤC
    中国历代宰相录
    Chủ biên: Dương Kiếm Vũ 杨剑宇
    Thượng Hải văn hoá xuất bản xã, 1999

    Dịch thuật: Công Tôn Hạ (Tể tướng Trung Quốc)

    Đăng lúc  17:47  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    CÔNG TÔN HẠ

              Công Tôn Hạ 公孙贺 (? – năm 91 trước công nguyên), tự Tử Thúc 子叔. Tể tướng thời Hán Vũ Đế 汉武帝 triều Tây Hán. Nhân vì bị người vu cáo mà chết trong ngục.

              Công Tôn Hạ, người Nghĩa Cừ 义渠 Bắc Địa 北地 (nay là phía tây nam Hợp Thuỷ 合水 tỉnh Cam Túc 甘肃). Mẫu thân là chị của Vệ hoàng hậu 卫皇后 của Vũ Đế, là ngoại thích. Tổ phụ ông là Công Tôn Hồn Da 公孙昆邪 (1), nhậm chức Thú ở Lũng Tây 陇西 triều Cảnh Đế 景帝, có công trong việc dẹp loạn 7 nước, được phong làm Bình Khúc Hầu 平曲侯.
              Công Tôn Hạ lúc trẻ từng làm kị sĩ, nhiều lần lập chiến công. Khi Vũ Đế còn là thái tử, ông được triệu làm Thái tử xá nhân 太子舍人. Vũ Đế lên ngôi, ông được thăng là Thái bộc 太仆. Do bởi Công Tôn Hạ là cháu gọi Hoàng hậu băng dì, được Vũ Đế tin dùng, trước sau được thăng làm Khinh kị tướng quân 轻骑将军, nhiều lần xuất chinh.
              Năm 103 trước công nguyên, Thừa tướng Thạch Khánh 石庆 bệnh và qua đời, Công Tôn Hạ được bái làm Thừa tướng. Ngày bái Tướng, ông nghĩ đến mấy vị Thừa tướng trước đó như Lí Thái 李蔡, Trang Thanh Địch 庄青翟, Triệu Chu 赵周 đều bị tru sát, Thạch Khánh tuy may mắn qua đời an lành, nhưng thời gian nhậm chức nhiều lần gặp phải sự trách cứ của Vũ Đế, thiếu chút nữa mất mạng. Cho nên, ông càng nghĩ càng sợ, cảm thấy làm bạn với vua như làm bạn với hổ nên đã dập đầu khóc lóc xin từ, không chịu tiếp nhận ấn Tướng, nói rằng:
              - Thần vốn là thảo dân nơi biên cảnh, lấy yên ngựa, kị xạ mà nhậm chức võ tướng, quả thực không đủ sức để đảm nhậm chức vụ Thừa tướng trọng yếu này.
              Vũ Đế sai tả hữu nâng ông dậy, ông dùng dằng không chịu đứng lên, nhất định đòi Vũ Đế đáp ứng không bái ông làm Tướng. Vũ Đế tức giận, phất tay áo bỏ đi, ông đành phải thu nhận ấn Tướng.
              Công Tôn Hạ vì là ngoại thích mà bái Tướng, quả thực không có tài trị quốc. Thời gian nhậm chức, ông chỉ biết mở rộng ruộng đất, mưu lợi cho con em thân thuộc. Tướng sĩ nơi biên cảnh thiếu lương thực, quân tâm bất an, ông cũng không nghĩ ra được biện pháp nào hay để giải quyết. Ông tham tang nhận hối lộ, khiến việc hối lộ chốn quan nha thành tục. Những điều này khiến Vũ Đế đối với ông ngày càng bất mãn.
              Con của Công Tôn Hạ là Công Tôn Kính Thanh 公孙敬声, được tập chức của phụ thân làm Thái bộc. Công Tôn Kính Thanh tự thị mình là hoàng thân, kiêu xa bất pháp. Năm 92 trước công nguyên, nhân vì tự ý dùng gần 2 ngàn vạn quân lương của Bắc quân, sau khi án phát ra bị bắt bỏ ngục. Đương thời, có Chu Thế An 朱世安 người ở Dương Lăng 阳陵 tại kinh thành cướp của người giàu đem cứu người nghèo, khiến cho đạt quan hiển nhân hoảng sợ bất an, mọi người gọi anh ta là đại hiệp của kinh sư. Vũ Đế mấy lần hạ chiếu đi bắt nhưng đều bắt không được. Công Tôn Hạ xin được đi bắt Chu Thế An, để chuộc tội cho con là Công Tôn Kính Thanh. Chu Thế An sau khi bị bắt, cười lớn nói với Công Tôn Hạ rằng:
              - Cả tộc của Thừa tướng sắp bị diệt rồi đấy!
    Đồng thời trong ngục dâng thư, cáo phát Công Tôn Kính Thanh tư thông với công chúa Dương Thạch 阳石 con gái của Vũ Đế, lại còn sai người giấu tượng gỗ nơi trì đạo cung Cam Tuyền 甘泉ở  Bắc sơn 北山 nơi Vũ Đế thường đến, nguyền rủa Vũ Đế chết sớm. Đương thời, Vũ Đế tuổi đã cao, rất mê tín, cho rằng dùng tượng gỗ chôn dưới đất để nguyền rủa, có thể khiến người tử vong, gọi đó là “vu cổ” 诬蛊. Vũ Đế nghe qua cả giận, chẳng phân đen trắng cho bắt Công Tôn Hạ giam vào đại lao, dùng nghiêm hình tra khảo. Năm sao, Công Tôn Hạ và Công Tôn Kính Thanh đều chết trong ngục.

    Chú của người dịch
    1- Về tên nhân vật 公孙昆邪:
              Chữ :
              Trong Khang Hi tự điển 康熙字典, chữ có mấy bính âm sau: kun (thanh 1), hun (thanh 2), hun (thanh 3).
              Với bính âm hun (thanh 2)
              Tập vận 集韵, Vận hội 韵會  đều phiên thiết là HỒ CÔN 胡昆, âm (hồn). Nhân danh. Giải thích rằng:
    Hán hữu Thuộc quốc Công Tôn Hồn Da
    汉有属国公孙昆邪
    (Đời Hán có Thuộc quốc Công Tôn Hồn Da)
    (Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 2002, trang 436 – 437)

              Chữ :
             Trong Khang Hi tự điển 康熙字典, chữ có mấy bính âm sau: xie (thanh 2), ye (thanh 2), yu (thanh 2) hoặc ya (thanh 2), she (thanh 2), zuo (thanh 3).
              Với bính âm ye (thanh 2) hoặc ya (thanh 2)
              Đường vận 唐韵 phiên thiết là DĨ GIÀ 以遮.
              Tập vận 集韵, Vận hội 韵會, Chính vận 正韻  phiên thiết là DƯ GIÀ 余遮
    Đều có âm là (da).
    Trong Thuyết văn 說文 có Lang Da 琅邪, tên quận. Có Mạc Da 莫邪, tên kiếm, do Đại phu Mạc Da莫邪 nước Ngô tạo ra nên có tên như thế.
              Có Hô Hàn Da 呼韓邪, tên của Hung Nô vương. Nhược Da 若邪 tên sông. Tư Da 胥邪 tên cây.
    (Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 2002, trang 1255)

              Với 公孙昆邪, 2 chữ 昆邪 có bính âm là公孙昆 (hún) (yé).
    Như vậy tên nhân vật đọc là Công Tôn Hồn Da.

                                                            Huỳnh Chương Hưng
                                                            Quy Nhơn 19/8/2018

    Nguyên tác Trung văn
    CÔNG TÔN HẠ
    公孙贺
    Trong quyển
    TRUNG QUỐC LỊCH ĐẠI TỂ TƯỚNG LỤC
    中国历代宰相录
    Chủ biên: Dương Kiếm Vũ 杨剑宇
    Thượng Hải văn hoá xuất bản xã, 1999

    Chủ Nhật, 18 tháng 8, 2019

    DIỄN BIẾN VỀ TỰ NGHĨA CỦA CHỮ HÁN

        Trong lục thư, chuyển chú 转注 và giả tá 假借  diễn biến về tự nghĩa là rõ nhất. Nhân vì sự phát triển của chữ giả tá, ý nghĩa gốc của nhiều chữ Hán đã dần bị người ta quên mất, người đời sau đối với cổ văn không hiểu. Và nhân vị sự phân nhánh của phương ngôn, cùng một ý nghĩa mà sản sinh ra chữ khác nhau, nếu không có người sưu tập, chú thích qua lại, thì mọi người cũng sẽ không thể nào hiểu được. Ví dụ như nghĩa cổ của chữ (hậu) là vị quân chủ, hiện tại lại chỉ vợ của vị quân chủ; nghĩa cổ của chữ (chỉ) là 足趾 (túc chỉ = ngón chân), về sau diễn biến thành 地址 (địa chỉ), về sau nữa dẫn đến nghĩa mà hiện nay thông dụng là 静止 (tĩnh chỉ = tĩnh tại),  终止 (chung chỉ = kết thúc), 阻止 (trở chỉ = ngăn cản), 禁止 (cấm chỉ), 举止 (cử chỉ) v.v... Chữ (dịch / dị) nguyên là tên động vật, chính là con rắn mối, ý nghĩa thông dụng hiện nay 容易 (dung dị = dễ) là nghĩa giả tá; chữ cũng là một loại động vật, là loại voi to lớn, về sau mượn dùng với ý nghĩa 宽豫 (khoan dự = rộng rãi vui vẻ), 豫备 (dự bị = chuẩn bị trước), 豫乐 (dự lạc = yên tĩnh khoái lạc). Những tự nghĩa này nhân theo thời đại mà biến thiên. Còn có những tự nghĩa nhân theo địa phương mà biến thiên, thời cổ có sự phân biệt “nhã ngôn” 雅言 và “phương ngôn” 方言, nhã ngôn chính là “tiêu chuẩn ngữ” 标准语 (quan thoại 官话), từ vựng của phương ngôn dùng nhã ngôn để giải thích, như thiên Thích ngôn 释言 trong Nhĩ nhã 尔雅 có nói:
    Tư, xỉ, li dã.
    , , 离也
    (Tư và xỉ là li)
    “Tư, xỉ” là phương ngôn nước Tề nước Trần, “li” là nhã ngôn. Dương Hùng 扬雄 trong Phương ngôn 方言 có nói:
    Đảng, hiểu, triết, tri dã. Sở vị chi đảng, hoặc viết hiểu; Tề Tống chi gian vị chi triết.
              , , , 知也. 楚谓之党, 或曰晓; 齐宋之间谓之哲.
              (Đảng, hiểu, triết là tri. Nước Sở gọi là đảng hoặc gọi là hiểu; nước Tề nước Tống gọi là triết)
              Phương ngôn là nguyên nhân trọng yếu hình thành hiện tượng một nghĩa mà có nhiều chữ.
              Tự nghĩa trong sách cổ, loại khó hiểu nhất chính là hư tự. Hư tự là liên từ, giới từ, trợ từ, thán từ cho đến đại danh từ, những chữ này thuộc chữ giả tá, người xưa thường sử dụng “đồng âm thông giả” 同音通假 một cách rộng rãi, cách viết cũng không cố định, cho nên rất khó nhận biết. Ví dụ như 3 chữ (do), (do), (du) dùng chữ (dụng) giải thích; chữ (diêu), (do), (du) dùng chữ (vu) giải thích; chữ (việt), (việt) dùng 于是 (vu thị) giải thích.
              Trong Thư kinh – Vũ cống 书经 - 禹贡có câu:
    Cửu châu du đồng
    九州攸同
    Chính là ý:
    Cửu châu dụng đồng
    九州用同
    Hoặc
    Cửu châu nhân nhi thống nhất
    九州因而统一
    (Chín châu nhân đó mà thống nhất)
              Trong Đại cáo 大诰 có câu:
    Du đại cáo nhĩ đa bang
    猷大诰尔多邦
    Chính là ý:
    Đại cáo vu nhĩ đa bang
    大诰于尔多邦
    Hoặc
    Chính thức hướng nễ môn các bang tuyên ngôn
    正式向你们各邦宣言
    (Chính thức hướng đến các bang của các ngươi mà tuyên ngôn)
              Nhằm để chuyên giải thích nhưng hư tự đồng âm thông giả thời cổ, Vương Dẫn Chi 王引之 đời Thanh đã biên soạn quyển Kinh truyện thích từ 经传释词, nêu ví dụ rất tường tận, giải thích rất hợp lí, nhiều câu văn mà trước đây không thể giải thích, ý nghĩa của nó nhân đó đã được rõ ràng.

                                                                     Huỳnh Chương Hưng
                                                                     Quy Nhơn 18/8/2019

    Nguyên tác
    TỰ NGHĨA ĐÍCH DIỄN BIẾN
    字义的演变
    Trong quyển
    QUỐC HỌC THƯỜNG THỨC
    国学常识
    Tác giả: Tào Bá Hàn 曹伯韩
    Bắc Kinh: Hoá học công nghiệp xuất bản xã, 2017

    Dịch thuật: Diễn biến về tự nghĩa của chữ Hán

    Đăng lúc  19:19  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    DIỄN BIẾN VỀ TỰ NGHĨA CỦA CHỮ HÁN

        Trong lục thư, chuyển chú 转注 và giả tá 假借  diễn biến về tự nghĩa là rõ nhất. Nhân vì sự phát triển của chữ giả tá, ý nghĩa gốc của nhiều chữ Hán đã dần bị người ta quên mất, người đời sau đối với cổ văn không hiểu. Và nhân vị sự phân nhánh của phương ngôn, cùng một ý nghĩa mà sản sinh ra chữ khác nhau, nếu không có người sưu tập, chú thích qua lại, thì mọi người cũng sẽ không thể nào hiểu được. Ví dụ như nghĩa cổ của chữ (hậu) là vị quân chủ, hiện tại lại chỉ vợ của vị quân chủ; nghĩa cổ của chữ (chỉ) là 足趾 (túc chỉ = ngón chân), về sau diễn biến thành 地址 (địa chỉ), về sau nữa dẫn đến nghĩa mà hiện nay thông dụng là 静止 (tĩnh chỉ = tĩnh tại),  终止 (chung chỉ = kết thúc), 阻止 (trở chỉ = ngăn cản), 禁止 (cấm chỉ), 举止 (cử chỉ) v.v... Chữ (dịch / dị) nguyên là tên động vật, chính là con rắn mối, ý nghĩa thông dụng hiện nay 容易 (dung dị = dễ) là nghĩa giả tá; chữ cũng là một loại động vật, là loại voi to lớn, về sau mượn dùng với ý nghĩa 宽豫 (khoan dự = rộng rãi vui vẻ), 豫备 (dự bị = chuẩn bị trước), 豫乐 (dự lạc = yên tĩnh khoái lạc). Những tự nghĩa này nhân theo thời đại mà biến thiên. Còn có những tự nghĩa nhân theo địa phương mà biến thiên, thời cổ có sự phân biệt “nhã ngôn” 雅言 và “phương ngôn” 方言, nhã ngôn chính là “tiêu chuẩn ngữ” 标准语 (quan thoại 官话), từ vựng của phương ngôn dùng nhã ngôn để giải thích, như thiên Thích ngôn 释言 trong Nhĩ nhã 尔雅 có nói:
    Tư, xỉ, li dã.
    , , 离也
    (Tư và xỉ là li)
    “Tư, xỉ” là phương ngôn nước Tề nước Trần, “li” là nhã ngôn. Dương Hùng 扬雄 trong Phương ngôn 方言 có nói:
    Đảng, hiểu, triết, tri dã. Sở vị chi đảng, hoặc viết hiểu; Tề Tống chi gian vị chi triết.
              , , , 知也. 楚谓之党, 或曰晓; 齐宋之间谓之哲.
              (Đảng, hiểu, triết là tri. Nước Sở gọi là đảng hoặc gọi là hiểu; nước Tề nước Tống gọi là triết)
              Phương ngôn là nguyên nhân trọng yếu hình thành hiện tượng một nghĩa mà có nhiều chữ.
              Tự nghĩa trong sách cổ, loại khó hiểu nhất chính là hư tự. Hư tự là liên từ, giới từ, trợ từ, thán từ cho đến đại danh từ, những chữ này thuộc chữ giả tá, người xưa thường sử dụng “đồng âm thông giả” 同音通假 một cách rộng rãi, cách viết cũng không cố định, cho nên rất khó nhận biết. Ví dụ như 3 chữ (do), (do), (du) dùng chữ (dụng) giải thích; chữ (diêu), (do), (du) dùng chữ (vu) giải thích; chữ (việt), (việt) dùng 于是 (vu thị) giải thích.
              Trong Thư kinh – Vũ cống 书经 - 禹贡có câu:
    Cửu châu du đồng
    九州攸同
    Chính là ý:
    Cửu châu dụng đồng
    九州用同
    Hoặc
    Cửu châu nhân nhi thống nhất
    九州因而统一
    (Chín châu nhân đó mà thống nhất)
              Trong Đại cáo 大诰 có câu:
    Du đại cáo nhĩ đa bang
    猷大诰尔多邦
    Chính là ý:
    Đại cáo vu nhĩ đa bang
    大诰于尔多邦
    Hoặc
    Chính thức hướng nễ môn các bang tuyên ngôn
    正式向你们各邦宣言
    (Chính thức hướng đến các bang của các ngươi mà tuyên ngôn)
              Nhằm để chuyên giải thích nhưng hư tự đồng âm thông giả thời cổ, Vương Dẫn Chi 王引之 đời Thanh đã biên soạn quyển Kinh truyện thích từ 经传释词, nêu ví dụ rất tường tận, giải thích rất hợp lí, nhiều câu văn mà trước đây không thể giải thích, ý nghĩa của nó nhân đó đã được rõ ràng.

                                                                     Huỳnh Chương Hưng
                                                                     Quy Nhơn 18/8/2019

    Nguyên tác
    TỰ NGHĨA ĐÍCH DIỄN BIẾN
    字义的演变
    Trong quyển
    QUỐC HỌC THƯỜNG THỨC
    国学常识
    Tác giả: Tào Bá Hàn 曹伯韩
    Bắc Kinh: Hoá học công nghiệp xuất bản xã, 2017

    Thứ Bảy, 17 tháng 8, 2019

    THỜI CỔ, Y PHỤC CÓ SỰ PHÂN BIỆT SANG HÈN KHÔNG

              Trong cuộc sống hiện đại, đối với việc ăn mặc không có những hạn chế khuôn mẫu cứng nhắc. Thế thì vào thời cổ, mọi người có thể tuỳ ý mặc y phục không?
              Thời cổ nổi tiếng với chế độ đẳng cấp nghiêm nhặt, đương nhiên không cho phép mọi người muốn mặc gì thì mặc. Đó không chỉ là quy định của chế độ pháp luật, mà còn là yêu cầu của lễ chế phong kiến. Theo yêu cầu của lễ pháp, mọi người không chỉ chú ý đến nói năng cử chỉ, mà càng quan trọng hơn là phải “lượng thể tài y” 量体裁衣 (dựa theo thân thể mà cắt áo), mặc những y phục phù hợp với đẳng cấp về thân phận của mình. Nếu không, thậm chí có thể dẫn đến hoạ sát thân.
              Về sự phân loại đẳng cấp của y phục thời cổ, đại để có mấy loại sau:
              Chất liệu biểu hiện sang hèn. Thời cổ, bách tính bình dân không có tư cách để mặc lụa là. Thông thường, chỉ có hoàng gia tông thân, đạt quan quý nhân mới có thể mặc gấm lụa. Bách tính lê dân không có thân phận, không có địa vị chỉ có thể mặc loại vải gai thô. Nhân đó mà, bách tính bình dân thời cổ cũng được gọi là “bố y” 布衣.
              Màu sắc làm rõ địa vị. Thời thượng cổ, mọi người lấy sắc đen và sắc trắng làm chính. Vàng là quý sắc 贵色. Về sau, sắc vàng dần trở thành sắc chuyên dụng của hoàng gia, đỏ là cát sắc 吉色. Trong văn hoá phục sức, cũng có sự thể hiện. “Bạch y” 白衣, “ô y” 乌衣 mà trong sử ghi chép,chính là phục sức của những người có địa vị thân phận tương đối thấp. “Bạch y” chỉ hạng bình dân không có quan chức, cũng chỉ những người có học nhưng chưa thi đỗ, chưa có được  công danh; “Ô y”  thông thường chỉ y phục màu đen của quan lại có địa vị tương đối thấp mặc. Còn như loại “chu phất” 朱绂, “tử thụ” 紫绶, đều chỉ những người có địa vị tương đối cao. Vi Trang 韦庄, thi nhân thời vãn Đường có thơ rằng:
    Chu phất giai đại phu
    Tử thụ tất tướng quân
    朱绂皆大夫
    紫绶必将军
    (Đeo chu phất (1) đều là đại phu
    Đeo tử thụ (2) tất là tướng quân)
              Ngoài ra, trong quan trường, những người mặc quan phục màu xanh, đa phần là quan viên lục phẩm trở xuống, mặc quan phục màu tía màu đỏ, đại đa số là ngũ phẩm trở lên.
              Hoa văn phân loại đẳng cấp. Loại đẳng cấp hoa văn định tiêu chuẩn thông thường thích dụng ở chốn quan trường, nói như thế, là nhân vì hoa văn thể hiện sự phân định đẳng cấp chủ yếu trên phục sức mà quan viên mặc. Theo sử liệu ghi chép, y phục mà thiên tử mặc, cũng chính là long bào, bên trên có thêu hình nhật , nguyệt , tinh thần 星辰, sơn , long , trĩ , tông di 宗彝, thuỷ thảo 水草, hoả , phấn mễ 粉米, phủ  (hình cái búa), phất (hình chữ ), ý nghĩa là cửu ngũ chí tôn, trang trọng uy nghiêm, quang minh hiền đức. Với chư hầu, hoa văn trên phục sức thêu đồ án từ long trở xuống, sĩ tộc thì chỉ có thể dùng 2 loại đồ án là thuỷ thảo và hoả.
              Y phục dài ngắn thể hiện thân phận. “Khổng Ất Kỉ 孔乙己là anh thư sinh duy nhất mặc trường sam 长衫 (áo dài) đứng uống rượu, nói rõ người mặc trường sam có địa vị thân phận nhất định. Còn như tửu bảo hoặc những người hạ đẳng, chỉ có thể mặc đoản sam 短衫 (áo ngắn). Có thể thấy, vào thời cổ, yêu cầu về cách ăn mặc đối với mọi người mặc rất nghiêm nhặt.

    Chú của người dịch
    1- Chu phất 朱绂: dây thao màu đỏ.
              Phất là dây tơ dùng để đeo ấn chương hoặc ngọc bội.
    2- Tử thụ 紫绶 dây thao màu tía
              Thụ là dây tơ cột trên núm ấn.

                                                                  Huỳnh Chương Hưng
                                                                   Quy Nhơn 17/8/2019

    Nguyên tác Trung văn
    Trong quyển
    THÚ VỊ VĂN HOÁ TRI THỨC ĐẠI TOÀN
    趣味文化知识大全
    Thanh Thạch 青石 biên soạn
    Trung Quốc Hoa kiều xuất bản xã, 2013

    Dịch thuật: Thời cổ, y phục có sự phân biệt sang hèn không

    Đăng lúc  21:59  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    THỜI CỔ, Y PHỤC CÓ SỰ PHÂN BIỆT SANG HÈN KHÔNG

              Trong cuộc sống hiện đại, đối với việc ăn mặc không có những hạn chế khuôn mẫu cứng nhắc. Thế thì vào thời cổ, mọi người có thể tuỳ ý mặc y phục không?
              Thời cổ nổi tiếng với chế độ đẳng cấp nghiêm nhặt, đương nhiên không cho phép mọi người muốn mặc gì thì mặc. Đó không chỉ là quy định của chế độ pháp luật, mà còn là yêu cầu của lễ chế phong kiến. Theo yêu cầu của lễ pháp, mọi người không chỉ chú ý đến nói năng cử chỉ, mà càng quan trọng hơn là phải “lượng thể tài y” 量体裁衣 (dựa theo thân thể mà cắt áo), mặc những y phục phù hợp với đẳng cấp về thân phận của mình. Nếu không, thậm chí có thể dẫn đến hoạ sát thân.
              Về sự phân loại đẳng cấp của y phục thời cổ, đại để có mấy loại sau:
              Chất liệu biểu hiện sang hèn. Thời cổ, bách tính bình dân không có tư cách để mặc lụa là. Thông thường, chỉ có hoàng gia tông thân, đạt quan quý nhân mới có thể mặc gấm lụa. Bách tính lê dân không có thân phận, không có địa vị chỉ có thể mặc loại vải gai thô. Nhân đó mà, bách tính bình dân thời cổ cũng được gọi là “bố y” 布衣.
              Màu sắc làm rõ địa vị. Thời thượng cổ, mọi người lấy sắc đen và sắc trắng làm chính. Vàng là quý sắc 贵色. Về sau, sắc vàng dần trở thành sắc chuyên dụng của hoàng gia, đỏ là cát sắc 吉色. Trong văn hoá phục sức, cũng có sự thể hiện. “Bạch y” 白衣, “ô y” 乌衣 mà trong sử ghi chép,chính là phục sức của những người có địa vị thân phận tương đối thấp. “Bạch y” chỉ hạng bình dân không có quan chức, cũng chỉ những người có học nhưng chưa thi đỗ, chưa có được  công danh; “Ô y”  thông thường chỉ y phục màu đen của quan lại có địa vị tương đối thấp mặc. Còn như loại “chu phất” 朱绂, “tử thụ” 紫绶, đều chỉ những người có địa vị tương đối cao. Vi Trang 韦庄, thi nhân thời vãn Đường có thơ rằng:
    Chu phất giai đại phu
    Tử thụ tất tướng quân
    朱绂皆大夫
    紫绶必将军
    (Đeo chu phất (1) đều là đại phu
    Đeo tử thụ (2) tất là tướng quân)
              Ngoài ra, trong quan trường, những người mặc quan phục màu xanh, đa phần là quan viên lục phẩm trở xuống, mặc quan phục màu tía màu đỏ, đại đa số là ngũ phẩm trở lên.
              Hoa văn phân loại đẳng cấp. Loại đẳng cấp hoa văn định tiêu chuẩn thông thường thích dụng ở chốn quan trường, nói như thế, là nhân vì hoa văn thể hiện sự phân định đẳng cấp chủ yếu trên phục sức mà quan viên mặc. Theo sử liệu ghi chép, y phục mà thiên tử mặc, cũng chính là long bào, bên trên có thêu hình nhật , nguyệt , tinh thần 星辰, sơn , long , trĩ , tông di 宗彝, thuỷ thảo 水草, hoả , phấn mễ 粉米, phủ  (hình cái búa), phất (hình chữ ), ý nghĩa là cửu ngũ chí tôn, trang trọng uy nghiêm, quang minh hiền đức. Với chư hầu, hoa văn trên phục sức thêu đồ án từ long trở xuống, sĩ tộc thì chỉ có thể dùng 2 loại đồ án là thuỷ thảo và hoả.
              Y phục dài ngắn thể hiện thân phận. “Khổng Ất Kỉ 孔乙己là anh thư sinh duy nhất mặc trường sam 长衫 (áo dài) đứng uống rượu, nói rõ người mặc trường sam có địa vị thân phận nhất định. Còn như tửu bảo hoặc những người hạ đẳng, chỉ có thể mặc đoản sam 短衫 (áo ngắn). Có thể thấy, vào thời cổ, yêu cầu về cách ăn mặc đối với mọi người mặc rất nghiêm nhặt.

    Chú của người dịch
    1- Chu phất 朱绂: dây thao màu đỏ.
              Phất là dây tơ dùng để đeo ấn chương hoặc ngọc bội.
    2- Tử thụ 紫绶 dây thao màu tía
              Thụ là dây tơ cột trên núm ấn.

                                                                  Huỳnh Chương Hưng
                                                                   Quy Nhơn 17/8/2019

    Nguyên tác Trung văn
    Trong quyển
    THÚ VỊ VĂN HOÁ TRI THỨC ĐẠI TOÀN
    趣味文化知识大全
    Thanh Thạch 青石 biên soạn
    Trung Quốc Hoa kiều xuất bản xã, 2013

    Thứ Sáu, 16 tháng 8, 2019

    TRUNG NGUYÊN TIẾT
    (tiếp theo)

    Trung nguyên tiết tam tục hợp nhất
              Mọi người thường cho rằng, Trung nguyên tiết cũng tức là “Vu lan bồn tiết”; kì thực nhận thức này tồn tại rất nhiều sai lầm. Nói một cách chính xác, Thất nguyệt thập tứ Tế tổ tiết, Trung nguyên tiết và Vu lan bồn tiết được phân ra là tục tín dân gian, Đạo giáo và Phật giáo, cả 3 có quan hệ với nhau chứ không phải là danh xưng khác nhau của một tiết nhật. Từ sau khi Đạo giáo hưng khởi, 2 chữ “Trung nguyên” 中元 trong “tam nguyên thuyết” 三元说 vào thời trung và hậu kì nhà Đường được chính thức cố định thành tên gọi của tiết, đồng thời đem tiết kì ấn định vào ngày 15 tháng 7. Tiết nhật này là tiết nhật tam tục hợp nhất.
              Trước khi “Trung nguyên tiết” hình thành, ngày 15 tháng 7 sớm đã được Phật giáo trưng dụng. Tháng 7 theo Phật giáo, nguyên là “Phật hoan hỉ nhật” 佛欢喜日, chứ không phải “Quỷ tiết” 鬼节. Nhưng vì sao Vu lan bồn tiết của tháng 7 trở thành “Quỷ tiết”? Vu lan bồn, là dịch âm từ Phạn văn Ulambana, có nghĩa là “cứu đảo huyền” 救倒悬, tức giải cứu những hồn quỷ bị khổ nạn ở địa ngục. Vào thời Nguỵ Tấn, kinh Phật Vu lan bồn kinh 盂兰盆经 được phiên dịch truyền vào Trung Quốc, trong kinh có câu chuyện “Mục Liên cứu mẫu” 目连救母, đã ngầm hợp với quan niệm đạo hiếu vẫn tồn tại lúc bấy giờ, về sau được Lương Vũ Đế Tiêu Diễn 梁武帝萧衍thời Nam triều đề xướng “tam giáo đồng nguyên thuyết” 三教同源说, đem tiết nhật đó định thành một tiết nhật dân tục. Công năng chủ yếu lúc bấy giờ là cung phụng Phật Tổ. Đến đời Tống mới phát sinh biến hoá, phát triển thành “tiến vong độ quỷ” 荐亡度鬼. Không biết là trùng hợp hay là Đạo giáo phụ hoạ “Vu lan bồn tiết” của Phật giáo, Trung nguyên tiết và Vu lan bồn tiết đều thiết định vào ngày 15 tháng 7. Cho đến hậu thế sau này vẫn cho rằng, cả 2 là hai danh xưng của cùng một tiết nhật. Đồng thời cũng do bởi ý nghĩa và tập tục sớm đã khó phân định, tập tục của cả 2 bắt đầu dùng lẫn lộn.
    Sự phát triển lịch sử của Trung nguyên tiết
              Nhìn từ những ghi chép trong sách vở, hoạt động tế tổ vào mùa thu đã có từ thời Tiên Tần. Tập tục Thất nguyệt bán tế tổ vốn là sản vật văn hoá bản địa, tiết tục bao hàm trong đó tương đối phức tạp, vừa là thu thường tế tổ tiết của dân gian, lại là Trung nguyên tiết của Đạo gia, Vu lan bồn tiết của Phật giáo, tục Đạo Tăng tam lưu hợp nhất. Trong dân gian có truyền thống “thận chung truy viễn” 慎终追远 (1), cho nên cần tế tổ, nghi thức tế bái thường là cử hành vào trung tuần tháng 7. Như trong Phổ Ninh huyện chí 普宁县志 thời Càn Long 乾隆nhà Thanh có ghi:
              Tục vị tổ khảo hồn quy, hàm cụ thần y, tửu soạn dĩ tiến, tuy bần vô cảm khuyết.
              俗谓祖考魂归, 咸具神衣, 酒馔以荐, 虽贫无敢缺
              (Tục cho là hồn của tổ khảo trở về, chuẩn bị đầy đủ áo giấy, rượu, thức ăn để dâng lên, nhà tuy nghèo nhưng không dám thiếu)
              Trong tế phẩm, áo giấy là thứ không thể thiếu. Nhân vì tháng 7 cái nóng bắt đầu dứt, cần phải có áo để chống rét, ở nhân gian thì:
    Thất nguyệt lưu Hoả, cửu nguyệt thụ y  (2)
    七月流火, 九月授衣
    (Tháng 7 sao Đại hoả xuống thấp, tháng 9 may áo chống rét)
              Thời cổ, Trung nguyên tiết không chỉ mang ý nghĩa quan trọng về độ tín ngưỡng, mà về phương diện thế tục, cũng là tiết nhật có công năng vui chơi được quần chúng tham dự rất đông... (trích)   (hết).

    Chú của người dịch
    1- Thận chung truy viễn慎终追远:
              Câu này xuất xứ từ thiên Học nhi 学而 trong Luận ngữ 论语:
              Tăng tử viết: Thận chung truy viễn, dân đức quy hậu hĩ.
              曾子曰: 慎终追远, 民德归厚矣
              (Thận trọng trong tang lễ cha mẹ, tưởng nhớ đến tổ tiên đời trước, việc đó sẽ khiến bách tính đi đến chỗ trung hậu thành thực)
    2- Lưu Hoả 流火: Đại hoả tinh từ hướng nam cao đi dần  xuống hướng tây thấp.
              Thụ y 授衣: cắt may áo rét. Mã Thuỵ Thần 马瑞辰trong Mao thi truyện tiên thông thích 毛诗传笺通释có nói:
              “Phàm nói “thụ y” là đều giao việc làm áo. Thụ y ở đây, cũng là nói là giao việc làm áo. Tháng 9 công việc của phụ nữ đã xong, việc kéo sợi cũng đã hoàn tất, bắt đầu may áo. Không phải nói áo đông vào tháng đó đã thành mà trao áo cho người.”

                                                                Huỳnh Chương Hưng
                                                         Quy Nhơn 16/8/2019

    Nguồn

    Dịch thuật: Trung nguyên tiết (tiếp theo)

    Đăng lúc  17:39  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    TRUNG NGUYÊN TIẾT
    (tiếp theo)

    Trung nguyên tiết tam tục hợp nhất
              Mọi người thường cho rằng, Trung nguyên tiết cũng tức là “Vu lan bồn tiết”; kì thực nhận thức này tồn tại rất nhiều sai lầm. Nói một cách chính xác, Thất nguyệt thập tứ Tế tổ tiết, Trung nguyên tiết và Vu lan bồn tiết được phân ra là tục tín dân gian, Đạo giáo và Phật giáo, cả 3 có quan hệ với nhau chứ không phải là danh xưng khác nhau của một tiết nhật. Từ sau khi Đạo giáo hưng khởi, 2 chữ “Trung nguyên” 中元 trong “tam nguyên thuyết” 三元说 vào thời trung và hậu kì nhà Đường được chính thức cố định thành tên gọi của tiết, đồng thời đem tiết kì ấn định vào ngày 15 tháng 7. Tiết nhật này là tiết nhật tam tục hợp nhất.
              Trước khi “Trung nguyên tiết” hình thành, ngày 15 tháng 7 sớm đã được Phật giáo trưng dụng. Tháng 7 theo Phật giáo, nguyên là “Phật hoan hỉ nhật” 佛欢喜日, chứ không phải “Quỷ tiết” 鬼节. Nhưng vì sao Vu lan bồn tiết của tháng 7 trở thành “Quỷ tiết”? Vu lan bồn, là dịch âm từ Phạn văn Ulambana, có nghĩa là “cứu đảo huyền” 救倒悬, tức giải cứu những hồn quỷ bị khổ nạn ở địa ngục. Vào thời Nguỵ Tấn, kinh Phật Vu lan bồn kinh 盂兰盆经 được phiên dịch truyền vào Trung Quốc, trong kinh có câu chuyện “Mục Liên cứu mẫu” 目连救母, đã ngầm hợp với quan niệm đạo hiếu vẫn tồn tại lúc bấy giờ, về sau được Lương Vũ Đế Tiêu Diễn 梁武帝萧衍thời Nam triều đề xướng “tam giáo đồng nguyên thuyết” 三教同源说, đem tiết nhật đó định thành một tiết nhật dân tục. Công năng chủ yếu lúc bấy giờ là cung phụng Phật Tổ. Đến đời Tống mới phát sinh biến hoá, phát triển thành “tiến vong độ quỷ” 荐亡度鬼. Không biết là trùng hợp hay là Đạo giáo phụ hoạ “Vu lan bồn tiết” của Phật giáo, Trung nguyên tiết và Vu lan bồn tiết đều thiết định vào ngày 15 tháng 7. Cho đến hậu thế sau này vẫn cho rằng, cả 2 là hai danh xưng của cùng một tiết nhật. Đồng thời cũng do bởi ý nghĩa và tập tục sớm đã khó phân định, tập tục của cả 2 bắt đầu dùng lẫn lộn.
    Sự phát triển lịch sử của Trung nguyên tiết
              Nhìn từ những ghi chép trong sách vở, hoạt động tế tổ vào mùa thu đã có từ thời Tiên Tần. Tập tục Thất nguyệt bán tế tổ vốn là sản vật văn hoá bản địa, tiết tục bao hàm trong đó tương đối phức tạp, vừa là thu thường tế tổ tiết của dân gian, lại là Trung nguyên tiết của Đạo gia, Vu lan bồn tiết của Phật giáo, tục Đạo Tăng tam lưu hợp nhất. Trong dân gian có truyền thống “thận chung truy viễn” 慎终追远 (1), cho nên cần tế tổ, nghi thức tế bái thường là cử hành vào trung tuần tháng 7. Như trong Phổ Ninh huyện chí 普宁县志 thời Càn Long 乾隆nhà Thanh có ghi:
              Tục vị tổ khảo hồn quy, hàm cụ thần y, tửu soạn dĩ tiến, tuy bần vô cảm khuyết.
              俗谓祖考魂归, 咸具神衣, 酒馔以荐, 虽贫无敢缺
              (Tục cho là hồn của tổ khảo trở về, chuẩn bị đầy đủ áo giấy, rượu, thức ăn để dâng lên, nhà tuy nghèo nhưng không dám thiếu)
              Trong tế phẩm, áo giấy là thứ không thể thiếu. Nhân vì tháng 7 cái nóng bắt đầu dứt, cần phải có áo để chống rét, ở nhân gian thì:
    Thất nguyệt lưu Hoả, cửu nguyệt thụ y  (2)
    七月流火, 九月授衣
    (Tháng 7 sao Đại hoả xuống thấp, tháng 9 may áo chống rét)
              Thời cổ, Trung nguyên tiết không chỉ mang ý nghĩa quan trọng về độ tín ngưỡng, mà về phương diện thế tục, cũng là tiết nhật có công năng vui chơi được quần chúng tham dự rất đông... (trích)   (hết).

    Chú của người dịch
    1- Thận chung truy viễn慎终追远:
              Câu này xuất xứ từ thiên Học nhi 学而 trong Luận ngữ 论语:
              Tăng tử viết: Thận chung truy viễn, dân đức quy hậu hĩ.
              曾子曰: 慎终追远, 民德归厚矣
              (Thận trọng trong tang lễ cha mẹ, tưởng nhớ đến tổ tiên đời trước, việc đó sẽ khiến bách tính đi đến chỗ trung hậu thành thực)
    2- Lưu Hoả 流火: Đại hoả tinh từ hướng nam cao đi dần  xuống hướng tây thấp.
              Thụ y 授衣: cắt may áo rét. Mã Thuỵ Thần 马瑞辰trong Mao thi truyện tiên thông thích 毛诗传笺通释có nói:
              “Phàm nói “thụ y” là đều giao việc làm áo. Thụ y ở đây, cũng là nói là giao việc làm áo. Tháng 9 công việc của phụ nữ đã xong, việc kéo sợi cũng đã hoàn tất, bắt đầu may áo. Không phải nói áo đông vào tháng đó đã thành mà trao áo cho người.”

                                                                Huỳnh Chương Hưng
                                                         Quy Nhơn 16/8/2019

    Nguồn

    Thứ Năm, 15 tháng 8, 2019

    TRUNG NGUYÊN TIẾT

              Trung nguyên tiết 中元节 còn có biệt danh là “Thất nguyệt bán” 七月半, “Thất nguyệt thập tứ” 七月十四, “Tế tổ tiết” 祭祖节, Vu lan bồn tiết” 盂兰盆会, “Địa quan tiết” 地官节. Tập tục ngày tiết này chủ yếu có tế tổ, thả đèn trên sông, tế vong hồn, đốt vàng mã, tế tự Thổ địa ... “Trung nguyên tiết” là cách gọi theo Đạo giáo, dân gian thế tục xưng là “Thất nguyệt bán” (hoặc “Thất nguyệt thập tứ”), sự ra đời của nó có thể truy ngược lên đến việc sùng bái tổ linh thời thượng cổ cùng với những thời tế tương quan. Tiết kì của nó liên quan đến sự tuần hoàn tiêu trưởng âm dương trong văn hoá cổ, trong Dịch kinh 易经có nói “thất” là số biến hoá, là số phục sinh. Tháng 7 là tháng cát tường, tháng hiếu thân. “Thất nguyệt bán” là tiết nhật dân gian mừng được mùa, tạ ơn đất đai, một số nông sản được dân gian bày ra để tế tổ, dùng gạo mới để dâng cúng, hướng đến tổ tiên báo cáo thành quả thu được vào mùa thu. Tiết này là một lễ tết truyền thống văn hoá tưởng nhớ tổ tiên, hạt nhân văn hoá của nó chính là “kính tổ tận hiếu” 敬祖尽孝.
                Nguồn gốc của “Thất nguyệt bán” là Tế tổ tiết trong dân gian thời cổ, còn gọi là “Trung nguyên tiết” là cách nói của Đạo giáo khởi nguồn từ sau thời Đông Hán. Đạo giáo có “Tam nguyên thuyết” 三元说: “Thiên quan thượng nguyên tứ phúc 天官上元赐福, Địa quan trung nguyên xá tội 地官中元赦罪, Thuỷ quan hạ nguyên giải ách 水官下元解厄”. Tên gọi “Trung nguyên” từ đó mà ra, còn Phật giáo gọi là “Vu lan bồn tiết”. Vào thời Đường giai cấp thống trị tôn sùng Đạo giáo, Trung nguyên tiết của Đạo giáo bắt đầu hưng thịnh, từ “Trung nguyên” dần được cố định thành tên tiết, tiết kì tại ngày rằm tháng 7, rồi truyền đến ngày nay.
    Nguồn gốc sâu xa của Trung nguyên tiết
              Trong Dịch kinh có nói, “thất” là số biến hoá, là số phục sinh. “Thất” là  dương số, là thiên số, sau khi khí dương của trời đất tuyệt diệt, trải qua 7 ngày có thể phục sinh. Đó là đạo vận hành của trời đất, lí tuần hoàn tiêu trưởng của âm dương. “Thất” cũng mang theo sắc thái thần bí, như trên trời có “thất tinh” 七星 (Thất tinh cao chiếu 七星高照), tình cảm của con người có “thất tình” 七情, màu có “thất sắc” 七色, âm nhạc có “thất âm” 七音, thi ca có “thất luật” 七律, nhân thể có “thất khiếu” 七窍 v.v... “Thất” cũng là chu kì sinh mệnh của con người, 7 tuổi bắt đầu được dạy dỗ, 14 tuổi bước vào thời kì thanh xuân, 21 tuổi thân thể hoàn toàn thành thục .... Số 7 trong dân gian biểu hiện tính giai đoạn về thời gian, khi tính toán thời gian thường lấy “bảy bảy” làm chung cuộc, cuộc phục sinh. Tháng 7 là tháng cát tường, tháng hiếu thân, còn ngày 14 (nhị thất) là số chu kì của số 7. Người xưa chọn ngày 14 tháng 7 (thất nguyệt bán) tế tổ có liên quan đến số phục sinh này của số 7.
    Sự dung hợp nội hàm của Trung nguyên tiết
              Tập tục tế tổ vào giữa tháng 7 đã có từ thời cổ, vốn là “Tế tổ tiết” của dân gian, không phải là “Quỷ tiết” 鬼节 (“Quỷ tiết” là cách nói sau này, có thể là từ tư tưởng “Trung nguyên phổ độ khai Quỷ môn quan” 中元普渡开鬼门关 trong Đạo giáo diễn biến mà ra). Thất nguyệt bán tế tổ tiết được gọi là “Trung nguyên tiết”, thì bắt nguồn cách nói của Đạo giáo từ sau thời Đông Hán (khoảng thời Nguỵ Tấn). Trong chư thần của Đạo giáo có Thiên quan, Địa quan, Thuỷ quan, hợp xưng là “Tam quan đại đế”. Họ là đại biểu được Thiên đế phái xuống nhân gian, lần lượt tại “tam nguyên nhật” kiểm hiệu công tội để định ra thưởng phạt giúp Thiên đế. “Thiên quan thượng nguyên tứ phúc 天官上元赐福, Địa quan trung nguyên xá tội 地官中元赦罪, Thuỷ quan hạ nguyên giải ách 水官下元解厄”. Nơi mà Địa quan cai quản là địa phủ, trọng điểm sở nghiệm đương nhiên là chúng quỷ của các lộ. Đem Trung nguyên cùng Thượng nguyên, Hạ nguyên hợp xưng là “tam nguyên”. Theo truyền  thuyết, vào ngày Trung nguyên, địa cung mở cửa, cũng là ngày địa ngục mở cửa, chúng quỷ rời khỏi cõi u minh, bị khảo hiệu. Quỷ có chủ sẽ về nhà, quỷ không có chủ sẽ phiêu bạt chốn nhân gian, lẩn quẩn các nơi để tìm thức ăn, do đó mà ngày này cũng gọi là “Quỷ tiết”, tiến hành phổ biến hoạt động tế tự hồn quỷ, thả đèn trên sông để vong hồn quỷ theo đó mà tìm đường về nhà. Các Đạo quán cử hành đại pháp hội long trọng, lập đạo tràng cầu phúc, nội dung là siêu độ linh quỷ vong hồn.
              Tháng 7 âm lịch cũng là tháng báo ân, trong Phật giáo có “thiền thất” 禅七, “tịnh thất” 净七, đến bảy bảy bốn mươi chín biểu thị ý nghĩa vô hạn. “Thất” là số biến hoá vô cùng, bao hàm vô tận. Theo cách nói của Phật giáo, ngày rằm tháng 7 là ngày tăng đồ công đức viên mãn. Vào ngày này, đệ tử Phật môn cử hành “Vu lan bồn pháp hội” 盂兰盆法会. Theo ghi chép trong Đại tạng kinh 大藏经, Vu lan bồn là Phạn ngữ, ý nghĩa của “Vu lan” là “đảo huyền” 倒悬 (treo ngược); “bồn” (chậu) là “pháp khí”. Ý nghĩa của “Vu lan bồn” là khí vật dùng để cứu khổ nạn bị treo ngược, tức ý nói dùng “bồn” đựng đầy trăm vị ngũ quả, cúng dường Phật Đà và chư tăng, để cứu vớt chúng sinh bị khổ nạn chốn địa ngục. Nghi thức này sớm nhất là từ pháp hội Mục Liên 目连 cứu mẹ bắt đầu lưu hành.
              Từ xưa tới nay, mọi người rất coi trọng tế tự. Tiết nhật này khởi nguồn từ 3 loại văn hoá: thế tục dân gian, Đạo giáo, Phật giáo, văn hoá tế tự của nó lưu truyền lâu đời, địa vực ảnh hưởng rộng lớn. “Thất” trong chữ số Trung Quốc là một kì số: thất xảo 七巧, thất tinh 七星, thất thái 七彩, thất luật 七律. “Thất” là  dương số, là thiên số, sau khi khí dương của trời đất tuyệt diệt, trải qua 7 ngày có thể phục sinh. Đó là đạo vận hành của trời đất, lí tuần hoàn tiêu trưởng của âm dương. Nhưng  lâu dần, một số nơi ở Trung Quốc cho rằng tháng 7 là tháng quỷ, là tháng không cát tường, có lẽ là từ tư tưởng “Trung nguyên phổ độ khai Quỷ môn quan” trong Đạo giáo diễn biến mà ra, từ đó lấy ngoa truyền ngoa, thế là có một số nơi cho tháng 7 là tháng “chư sự bất nghi” 诸事不宜 (muôn việc không thích hợp), ví dụ tháng 7 không xuất hành, không khai đao, không kết hôn, không xây nhà, không dọn nhà v.v... Kì thực, tháng 7 là tháng cát tường.
              Theo thế tục dân gian, “Thất nguyệt bán” là lễ tết truyền thống văn hoá truy niệm tổ tiên, hạt nhân của nó là “kính tổ tận hiếu”, không quên nguồn gốc. Theo Phật giáo, tháng 7 lại gọi là “Song hỉ nguyệt” 双喜月, “Phật hoan hỉ nhật” 佛欢喜日, “Cát tường nguyệt” 吉祥月. Ý nghĩa về tiết nhật này ở Phật giáo và Đạo giáo có sự giải thích khác nhau, Đạo giáo cường điệu hiếu đạo, Phật giáo coi trọng việc “phổ độ” các cô hồn vô chủ được thả ra từ cõi âm. Tập tục hậu kì của “Thất nguyệt bán” có thể nói là sự dung hợp giữa Đạo giáo và Phật giáo....
                                                                                (còn tiếp)

                                                                     Huỳnh Chương Hưng
                                                                     Quy Nhơn 15/8/2019
                                                  (Trung nguyên - Rằm tháng 7 năm Kỉ Hợi)

    Nguồn


    Dịch thuật: Trung nguyên tiết

    Đăng lúc  21:49  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    TRUNG NGUYÊN TIẾT

              Trung nguyên tiết 中元节 còn có biệt danh là “Thất nguyệt bán” 七月半, “Thất nguyệt thập tứ” 七月十四, “Tế tổ tiết” 祭祖节, Vu lan bồn tiết” 盂兰盆会, “Địa quan tiết” 地官节. Tập tục ngày tiết này chủ yếu có tế tổ, thả đèn trên sông, tế vong hồn, đốt vàng mã, tế tự Thổ địa ... “Trung nguyên tiết” là cách gọi theo Đạo giáo, dân gian thế tục xưng là “Thất nguyệt bán” (hoặc “Thất nguyệt thập tứ”), sự ra đời của nó có thể truy ngược lên đến việc sùng bái tổ linh thời thượng cổ cùng với những thời tế tương quan. Tiết kì của nó liên quan đến sự tuần hoàn tiêu trưởng âm dương trong văn hoá cổ, trong Dịch kinh 易经có nói “thất” là số biến hoá, là số phục sinh. Tháng 7 là tháng cát tường, tháng hiếu thân. “Thất nguyệt bán” là tiết nhật dân gian mừng được mùa, tạ ơn đất đai, một số nông sản được dân gian bày ra để tế tổ, dùng gạo mới để dâng cúng, hướng đến tổ tiên báo cáo thành quả thu được vào mùa thu. Tiết này là một lễ tết truyền thống văn hoá tưởng nhớ tổ tiên, hạt nhân văn hoá của nó chính là “kính tổ tận hiếu” 敬祖尽孝.
                Nguồn gốc của “Thất nguyệt bán” là Tế tổ tiết trong dân gian thời cổ, còn gọi là “Trung nguyên tiết” là cách nói của Đạo giáo khởi nguồn từ sau thời Đông Hán. Đạo giáo có “Tam nguyên thuyết” 三元说: “Thiên quan thượng nguyên tứ phúc 天官上元赐福, Địa quan trung nguyên xá tội 地官中元赦罪, Thuỷ quan hạ nguyên giải ách 水官下元解厄”. Tên gọi “Trung nguyên” từ đó mà ra, còn Phật giáo gọi là “Vu lan bồn tiết”. Vào thời Đường giai cấp thống trị tôn sùng Đạo giáo, Trung nguyên tiết của Đạo giáo bắt đầu hưng thịnh, từ “Trung nguyên” dần được cố định thành tên tiết, tiết kì tại ngày rằm tháng 7, rồi truyền đến ngày nay.
    Nguồn gốc sâu xa của Trung nguyên tiết
              Trong Dịch kinh có nói, “thất” là số biến hoá, là số phục sinh. “Thất” là  dương số, là thiên số, sau khi khí dương của trời đất tuyệt diệt, trải qua 7 ngày có thể phục sinh. Đó là đạo vận hành của trời đất, lí tuần hoàn tiêu trưởng của âm dương. “Thất” cũng mang theo sắc thái thần bí, như trên trời có “thất tinh” 七星 (Thất tinh cao chiếu 七星高照), tình cảm của con người có “thất tình” 七情, màu có “thất sắc” 七色, âm nhạc có “thất âm” 七音, thi ca có “thất luật” 七律, nhân thể có “thất khiếu” 七窍 v.v... “Thất” cũng là chu kì sinh mệnh của con người, 7 tuổi bắt đầu được dạy dỗ, 14 tuổi bước vào thời kì thanh xuân, 21 tuổi thân thể hoàn toàn thành thục .... Số 7 trong dân gian biểu hiện tính giai đoạn về thời gian, khi tính toán thời gian thường lấy “bảy bảy” làm chung cuộc, cuộc phục sinh. Tháng 7 là tháng cát tường, tháng hiếu thân, còn ngày 14 (nhị thất) là số chu kì của số 7. Người xưa chọn ngày 14 tháng 7 (thất nguyệt bán) tế tổ có liên quan đến số phục sinh này của số 7.
    Sự dung hợp nội hàm của Trung nguyên tiết
              Tập tục tế tổ vào giữa tháng 7 đã có từ thời cổ, vốn là “Tế tổ tiết” của dân gian, không phải là “Quỷ tiết” 鬼节 (“Quỷ tiết” là cách nói sau này, có thể là từ tư tưởng “Trung nguyên phổ độ khai Quỷ môn quan” 中元普渡开鬼门关 trong Đạo giáo diễn biến mà ra). Thất nguyệt bán tế tổ tiết được gọi là “Trung nguyên tiết”, thì bắt nguồn cách nói của Đạo giáo từ sau thời Đông Hán (khoảng thời Nguỵ Tấn). Trong chư thần của Đạo giáo có Thiên quan, Địa quan, Thuỷ quan, hợp xưng là “Tam quan đại đế”. Họ là đại biểu được Thiên đế phái xuống nhân gian, lần lượt tại “tam nguyên nhật” kiểm hiệu công tội để định ra thưởng phạt giúp Thiên đế. “Thiên quan thượng nguyên tứ phúc 天官上元赐福, Địa quan trung nguyên xá tội 地官中元赦罪, Thuỷ quan hạ nguyên giải ách 水官下元解厄”. Nơi mà Địa quan cai quản là địa phủ, trọng điểm sở nghiệm đương nhiên là chúng quỷ của các lộ. Đem Trung nguyên cùng Thượng nguyên, Hạ nguyên hợp xưng là “tam nguyên”. Theo truyền  thuyết, vào ngày Trung nguyên, địa cung mở cửa, cũng là ngày địa ngục mở cửa, chúng quỷ rời khỏi cõi u minh, bị khảo hiệu. Quỷ có chủ sẽ về nhà, quỷ không có chủ sẽ phiêu bạt chốn nhân gian, lẩn quẩn các nơi để tìm thức ăn, do đó mà ngày này cũng gọi là “Quỷ tiết”, tiến hành phổ biến hoạt động tế tự hồn quỷ, thả đèn trên sông để vong hồn quỷ theo đó mà tìm đường về nhà. Các Đạo quán cử hành đại pháp hội long trọng, lập đạo tràng cầu phúc, nội dung là siêu độ linh quỷ vong hồn.
              Tháng 7 âm lịch cũng là tháng báo ân, trong Phật giáo có “thiền thất” 禅七, “tịnh thất” 净七, đến bảy bảy bốn mươi chín biểu thị ý nghĩa vô hạn. “Thất” là số biến hoá vô cùng, bao hàm vô tận. Theo cách nói của Phật giáo, ngày rằm tháng 7 là ngày tăng đồ công đức viên mãn. Vào ngày này, đệ tử Phật môn cử hành “Vu lan bồn pháp hội” 盂兰盆法会. Theo ghi chép trong Đại tạng kinh 大藏经, Vu lan bồn là Phạn ngữ, ý nghĩa của “Vu lan” là “đảo huyền” 倒悬 (treo ngược); “bồn” (chậu) là “pháp khí”. Ý nghĩa của “Vu lan bồn” là khí vật dùng để cứu khổ nạn bị treo ngược, tức ý nói dùng “bồn” đựng đầy trăm vị ngũ quả, cúng dường Phật Đà và chư tăng, để cứu vớt chúng sinh bị khổ nạn chốn địa ngục. Nghi thức này sớm nhất là từ pháp hội Mục Liên 目连 cứu mẹ bắt đầu lưu hành.
              Từ xưa tới nay, mọi người rất coi trọng tế tự. Tiết nhật này khởi nguồn từ 3 loại văn hoá: thế tục dân gian, Đạo giáo, Phật giáo, văn hoá tế tự của nó lưu truyền lâu đời, địa vực ảnh hưởng rộng lớn. “Thất” trong chữ số Trung Quốc là một kì số: thất xảo 七巧, thất tinh 七星, thất thái 七彩, thất luật 七律. “Thất” là  dương số, là thiên số, sau khi khí dương của trời đất tuyệt diệt, trải qua 7 ngày có thể phục sinh. Đó là đạo vận hành của trời đất, lí tuần hoàn tiêu trưởng của âm dương. Nhưng  lâu dần, một số nơi ở Trung Quốc cho rằng tháng 7 là tháng quỷ, là tháng không cát tường, có lẽ là từ tư tưởng “Trung nguyên phổ độ khai Quỷ môn quan” trong Đạo giáo diễn biến mà ra, từ đó lấy ngoa truyền ngoa, thế là có một số nơi cho tháng 7 là tháng “chư sự bất nghi” 诸事不宜 (muôn việc không thích hợp), ví dụ tháng 7 không xuất hành, không khai đao, không kết hôn, không xây nhà, không dọn nhà v.v... Kì thực, tháng 7 là tháng cát tường.
              Theo thế tục dân gian, “Thất nguyệt bán” là lễ tết truyền thống văn hoá truy niệm tổ tiên, hạt nhân của nó là “kính tổ tận hiếu”, không quên nguồn gốc. Theo Phật giáo, tháng 7 lại gọi là “Song hỉ nguyệt” 双喜月, “Phật hoan hỉ nhật” 佛欢喜日, “Cát tường nguyệt” 吉祥月. Ý nghĩa về tiết nhật này ở Phật giáo và Đạo giáo có sự giải thích khác nhau, Đạo giáo cường điệu hiếu đạo, Phật giáo coi trọng việc “phổ độ” các cô hồn vô chủ được thả ra từ cõi âm. Tập tục hậu kì của “Thất nguyệt bán” có thể nói là sự dung hợp giữa Đạo giáo và Phật giáo....
                                                                                (còn tiếp)

                                                                     Huỳnh Chương Hưng
                                                                     Quy Nhơn 15/8/2019
                                                  (Trung nguyên - Rằm tháng 7 năm Kỉ Hợi)

    Nguồn


    Mã nguồn bởi Huỳnh Chương Hưng
    Copyright © 2012 Huỳnh Chương Hưng.
    back to top