• Thứ Bảy, 23 tháng 6, 2018

    THIÊN TRÌ VÀ THẤT TIÊN NỮ

              Ngày xưa, Đông hải Long vương xuất cung tuần du, ngày nọ tuần du đến hồ Viên Tâm 圆心, phát hiện bên hồ có rất nhiều thuỷ châu toả ánh sánh lấp lánh, Long vương bèn sai tuỳ tùng mang đến, bỏ vào lòng bàn tay, thuỷ châu nhìn giống như trân châu. Long vương yêu thích ngắm nhìn mãi rồi nếm qua, vị của nó ngọt, mùi thơm dịu. Từ đó, Long vương bèn gọi thuỷ châu này là “trân châu thuỷ” 珍珠水.
              Long vương về lại long cung, một lòng muốn tìm nguồn nước trân châu này, bèn hạ lệnh sai binh tôm tướng cá đi tìm trong bốn biển. Binh tôm tướng cá chạy khắp ngũ hồ tứ hải cũng tìm không thấy, liền về hồi báo lại Long vương, nhưng Long vương vẫn không cam lòng, lại ra lệnh cho binh tôm tướng cá tiếp tục đi tìm. Cuối cùng, binh tôm tướng cá của Long vương tìm thấy Trường Bạch sơn 长白山 -  một ngọn núi lớn cao cao ở một nơi vắng vẻ góc đông bắc. Nhìn từ xa, trên đỉnh núi có hồ nước trong xanh, nước trân châu chính là từ trong một hang sâu ở ngọn núi này chảy ra. Long vương biết được nước trân châu từ đâu chảy ra, liền dâng thư lên Ngọc Hoàng Đại Đế. Ngọc Hoàng Đại Đế vô cùng vui mừng, bèn phong cho hồ nước trên đỉnh Trường Bạch sơn là Thiên trì 天池. Tin trong Thiên trì có nước trân châu nhanh chóng lan truyền khắp thiên cung. Sáng sớm ngày nọ, Nam thiên môn 南天门vang lên một tiếng, cửa Nam thiên môn mở toang, từ bên trong, 7 cô tiên mặc trang phục rực rỡ chạy ra, họ cưỡi mây màu bay đến Thiên trì ở Trường Bạch sơn.
              Trên mặt nước Thiên trì trong xanh, in rõ 7 cô tiên xinh đẹp. Họ nhìn phong cảnh tươi đẹp chung quanh Thiên trì, liền cởi bỏ trang phục xuống tắm. Các tiên nữ vui vẻ bơi lội trong thiên trì, đột nhiên có một cô do không cẩn thận đã uống phải một ngụm nước Thiên trì. Cô cảm thấy nước này quả thật là thơm ngọt, nghĩ rằng: nếu cho nước này chảy xuống để người trên thế gian đều uống được nước Thiên trì thì hay biết bao! Cô ta liền nói với các chị ý nghĩ này, mọi người đều tán đồng. Thế là, 7 cô tiên xinh đẹp liền dùng 7 chiếc gáo gỗ múc nước Thiên trì đổ về phía bắc, nước đó chảy qua Long môn 龙门đổ thẳng vào vách núi, biến thành thác nước, cong cong uốn khúc chảy đến rừng tùng. Mùa xuân hoa cây tùng rơi trên mặt nước, rồi thuận theo dòng nước trôi xuống dưới núi, về sau mọi người đặt cho nó một cái tên, gọi là Tùng Hoa giang 松花江. Các tiên nữ lại múc nước đổ về phía đông, nước vừa chảy xuống thì bị đỉnh núi thẳng đứng ngăn đường, dòng nước bèn chuyển hướng thuận theo khe đá mà chảy xuống, chảy mãi, chảy mãi, chảy một đoạn đường rất dài rồi mới từ trong hang núi phun lên mặt đất, tiếp tục chảy về phía đông. Mọi người đặt tên cho con sông này là Đồ Môn giang 图门江. Các tiên nữ lại múc nước đổ về phía tây nam, nước chảy thẳng một mạch ra biển, mọi người đặt tên cho nó là Áp Lục giang 鸭绿江.
              Từ đó trở đi, Thiên trì ở Trường Bạch sơn sản sinh ra 3 con sông lớn: Tùng Hoa giang, Đồ Môn giang và Áp Lục giang. Ba con sông lớn này tuôn chảy về 3 hướng là bắc, đông, tây, trải qua biết bao năm 3 con sông đó đã làm cho vùng đất nơi này phì nhiêu tươi tốt, nuôi sống cả ngàn vạn người trên mảnh đất đó.

                                                         Huỳnh Chương Hưng
                                                         Quy Nhơn 23/6/2018

    Nguyên tác Trung văn
    THIÊN TRÌ HOÀ THẤT TIÊN NỮ
    天池和七仙女
    Trong quyển
    THANH THIẾU NIÊN TỐI HỈ HOAN ĐÍCH
    THẦN THOẠI CỐ SỰ
    青少年最喜欢的
    神话故事
    Tác giả: Ngô Cảnh Minh 吴景明
    Diên Biên nhân dân xuất bản xã, 2002


    Dịch thuật: Thiên trì và thất tiên nữ

    Đăng lúc  19:06  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    THIÊN TRÌ VÀ THẤT TIÊN NỮ

              Ngày xưa, Đông hải Long vương xuất cung tuần du, ngày nọ tuần du đến hồ Viên Tâm 圆心, phát hiện bên hồ có rất nhiều thuỷ châu toả ánh sánh lấp lánh, Long vương bèn sai tuỳ tùng mang đến, bỏ vào lòng bàn tay, thuỷ châu nhìn giống như trân châu. Long vương yêu thích ngắm nhìn mãi rồi nếm qua, vị của nó ngọt, mùi thơm dịu. Từ đó, Long vương bèn gọi thuỷ châu này là “trân châu thuỷ” 珍珠水.
              Long vương về lại long cung, một lòng muốn tìm nguồn nước trân châu này, bèn hạ lệnh sai binh tôm tướng cá đi tìm trong bốn biển. Binh tôm tướng cá chạy khắp ngũ hồ tứ hải cũng tìm không thấy, liền về hồi báo lại Long vương, nhưng Long vương vẫn không cam lòng, lại ra lệnh cho binh tôm tướng cá tiếp tục đi tìm. Cuối cùng, binh tôm tướng cá của Long vương tìm thấy Trường Bạch sơn 长白山 -  một ngọn núi lớn cao cao ở một nơi vắng vẻ góc đông bắc. Nhìn từ xa, trên đỉnh núi có hồ nước trong xanh, nước trân châu chính là từ trong một hang sâu ở ngọn núi này chảy ra. Long vương biết được nước trân châu từ đâu chảy ra, liền dâng thư lên Ngọc Hoàng Đại Đế. Ngọc Hoàng Đại Đế vô cùng vui mừng, bèn phong cho hồ nước trên đỉnh Trường Bạch sơn là Thiên trì 天池. Tin trong Thiên trì có nước trân châu nhanh chóng lan truyền khắp thiên cung. Sáng sớm ngày nọ, Nam thiên môn 南天门vang lên một tiếng, cửa Nam thiên môn mở toang, từ bên trong, 7 cô tiên mặc trang phục rực rỡ chạy ra, họ cưỡi mây màu bay đến Thiên trì ở Trường Bạch sơn.
              Trên mặt nước Thiên trì trong xanh, in rõ 7 cô tiên xinh đẹp. Họ nhìn phong cảnh tươi đẹp chung quanh Thiên trì, liền cởi bỏ trang phục xuống tắm. Các tiên nữ vui vẻ bơi lội trong thiên trì, đột nhiên có một cô do không cẩn thận đã uống phải một ngụm nước Thiên trì. Cô cảm thấy nước này quả thật là thơm ngọt, nghĩ rằng: nếu cho nước này chảy xuống để người trên thế gian đều uống được nước Thiên trì thì hay biết bao! Cô ta liền nói với các chị ý nghĩ này, mọi người đều tán đồng. Thế là, 7 cô tiên xinh đẹp liền dùng 7 chiếc gáo gỗ múc nước Thiên trì đổ về phía bắc, nước đó chảy qua Long môn 龙门đổ thẳng vào vách núi, biến thành thác nước, cong cong uốn khúc chảy đến rừng tùng. Mùa xuân hoa cây tùng rơi trên mặt nước, rồi thuận theo dòng nước trôi xuống dưới núi, về sau mọi người đặt cho nó một cái tên, gọi là Tùng Hoa giang 松花江. Các tiên nữ lại múc nước đổ về phía đông, nước vừa chảy xuống thì bị đỉnh núi thẳng đứng ngăn đường, dòng nước bèn chuyển hướng thuận theo khe đá mà chảy xuống, chảy mãi, chảy mãi, chảy một đoạn đường rất dài rồi mới từ trong hang núi phun lên mặt đất, tiếp tục chảy về phía đông. Mọi người đặt tên cho con sông này là Đồ Môn giang 图门江. Các tiên nữ lại múc nước đổ về phía tây nam, nước chảy thẳng một mạch ra biển, mọi người đặt tên cho nó là Áp Lục giang 鸭绿江.
              Từ đó trở đi, Thiên trì ở Trường Bạch sơn sản sinh ra 3 con sông lớn: Tùng Hoa giang, Đồ Môn giang và Áp Lục giang. Ba con sông lớn này tuôn chảy về 3 hướng là bắc, đông, tây, trải qua biết bao năm 3 con sông đó đã làm cho vùng đất nơi này phì nhiêu tươi tốt, nuôi sống cả ngàn vạn người trên mảnh đất đó.

                                                         Huỳnh Chương Hưng
                                                         Quy Nhơn 23/6/2018

    Nguyên tác Trung văn
    THIÊN TRÌ HOÀ THẤT TIÊN NỮ
    天池和七仙女
    Trong quyển
    THANH THIẾU NIÊN TỐI HỈ HOAN ĐÍCH
    THẦN THOẠI CỐ SỰ
    青少年最喜欢的
    神话故事
    Tác giả: Ngô Cảnh Minh 吴景明
    Diên Biên nhân dân xuất bản xã, 2002


    Thứ Sáu, 22 tháng 6, 2018



    TỨC MẶC CHI CHIẾN
    (kì 1)

              燕师乘胜长驱 (1), 齐城皆望风奔溃. 乐毅修整燕军 (2), 禁止侵掠, 求齐之逸民 (3), 显而礼之 (4). 宽其赋敛, 除其暴令, 修其旧政, 齐民喜悦. 乃遣左军渡胶东, 东菜; 前军循泰山以东至海, 略琅邪 (5); 右军循河, , 屯阿, 鄄以连魏师; 后军旁北海以镇抚千乘 (6); 中军据临淄而镇齐都. 祀桓公, 管仲于郊, 表贤者之闾, 封王蠋之墓. 齐人食邑于燕者二十馀君,有爵位于蓟者百有馀人. 六月之间, 下齐七十馀城, 皆为郡县.

    Phiên âm
              Yên sư thừa thắng trường khu (1), Tề thành giai vọng phong bôn hội. Nhạc Nghị tu chỉnh Yên quân (2), cấm chỉ xâm lược, cầu Tề chi dật dân (3), hiển nhi lễ chi (4). Khoan kì phú liễm, trừ kì bạo lệnh, tu kì cựu chính, Tề dân hỉ duyệt. Nãi khiển tả quân độ Giao Đông, Đông Thái; tiền quân tuần Thái sơn dĩ đông chí hải, lược Lang Nha (5); hữu quân tuần Hà, Tế, đồn A, Quyên dĩ liên Nguỵ sư; hậu quân bàng Bắc Hải dĩ trấn phủ thiên thặng (6); trung quân cứ Lâm Tri nhi trấn Tề đô. Tự Hoàn Công, Quản Trọng vu giao, biểu hiền giả chi lư, phong Vương Trục chi mộ. Tề nhân thực ấp vu Yên giả nhị thập dư quân, hữu tước vị vu Kế giả bách hữu dư nhân. Lục nguyệt chi gian, hạ Tề thất thập dư thành, giai vi quận huyện.

    Chú thích
    1- Yên sư thừa thắng trường khu燕师乘胜长驱: Yên Chiêu Vương năm thứ 28 (năm 284 trước công nguyên), Yên Chiêu Vương bái Nhạc Nghị làm Thượng tướng quân, liên hợp với 4 nước Tần, Hàn, Triệu, Nguỵ cùng phạt Tề, kịch chiến tại Tế tây, đánh bại quân Tề. Nhạc Nghị dẫn quân Yên thừa thắng đánh chiếm luôn 72 thành của Tề, tiến thẳng vào đô thành Lâm Tri.
    2- Nhạc Nghị 乐毅: quân sự gia kiệt xuất hậu kì thời Chiến Quốc, được bái làm Thượng tướng quân nước Yên, thụ phong Xương Quốc quân 昌国君, phò tá Yên Chiêu Vương chấn hưng nước Yên, trả mối thù nước Tề đánh nước Yên. Nhạc Nghị thống lĩnh liên quân 5 nước đánh Tề, sáng tạo ra trận chiến nổi tiếng lấy yếu thắng mạnh trong lịch sử chiến tranh cổ đại của Trung Quốc.
              Tu chỉnh 修整: cùng nghĩa với “hưu chỉnh” 休整.
    3- Dật dân 逸民: thời cổ gọi những người có tiết hạnh siêu dật, ẩn cư tránh đời.
    4- Hiển : lộ xuất ra.
    5- Lược : tấn công.
    6- Bàng : dựa bên cạnh.
              Trấn phủ 镇抚: an phủ.
              Bắc Hải 北海: nay là vùng duyên hải phía đông bắc Lâm Tri tỉnh Sơn Đông.
              Thiên thặng 千乘: nay là phía tây Bác Hưng 博兴tỉnh Sơn Đông 山东. Trong Tề kí 齐记ghi rằng: thành Thiên Thặng, tại tây bắc Tề thành 150 dặm, nam bắc có 2 thành, cách nhau hơn 20 dặm, một thành là huyện trị, một thành là Thái thú trị. Quận Thiên Thặng, sở trị của nó tại huyện Thiên Thặng, Cao Đế 高帝 thiết lập, Vương Mãng 王莽đổi gọi là Kiến Tín 建信, thuộc Thanh Châu 青州.

    Dịch nghĩa
              Quân Yên thừa thắng tiến thẳng, các thành trì lớn nhỏ của nước Tề theo đó mà sụp đổ. Nhạc Nghị chỉnh đốn kỉ luật quân Yên, nghiêm cấm cướp bóc, cho tìm những cao nhân ẩn sĩ của nước Tề, lấy lễ đối đãi một cách vinh dự. Lại nới lỏng thuế khoá cho dân, bãi bỏ pháp lệnh hà khắc, khôi phục truyền thống tốt đẹp trị lí đất nước trước đây của nước Tề. Nhân dân nước Tề vô cùng hoan hỉ. Thế là Nhạc Nghị điều tả quân đến Giao Đông, Đông Thái vượt qua Giao thuỷ; tiền quân men theo chân Thái sơn tiến về phía đông đến Bột Hải, tấn công Lang Nha; hữu quân thuận theo Hoàng hà, Tế thuỷ đi xuống, đồn binh tại Đông A, Quyên thành, tiếp cận với quân đội nước Nguỵ; hậu quân dựa vào Bắc Hải, vỗ yên Thiên Thặng; trung quân chiếm cứ Lâm Tri, trấn thủ quốc đô nước Tề. Nhạc Nghị còn đích thân ra ngoài thành tế Tề Hoàn Công, Quản Trọng, biểu dương hiền lương nhân tài của nước Tề nơi cổng làng, tứ phong lăng mộ Vương Trục. Kinh qua việc thu phục nhân tâm, người dân nước Tề tiếp thụ phong hiệu của nước Yên, có hơn 20 người nhận lãnh bổng lộc, hơn 100 người tiếp nhận tước vị của nước Yên. Trong 6 tháng, quân Yên công hạ hơn 70 thành trì của nước Tề, tất cả đều được thiết lập quận huyện để cai trị.

                                                                 Huỳnh Chương Hưng
                                                                 Quy Nhơn 22/6/2018

    Nguồn
    TƯ TRỊ THÔNG GIÁM
    资治通鉴
    Bắc Tống . Tư Mã Quang 司马光
    Chủ biên: Nhậm Tư Vũ 任思武
    Bắc Kinh . Trung Quốc Hoa kiều xuất bản xã, 2013

    Dịch thuật: Tức Mặc chi chiến (kì 1) (Tư trị thông giám)

    Đăng lúc  21:47  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »



    TỨC MẶC CHI CHIẾN
    (kì 1)

              燕师乘胜长驱 (1), 齐城皆望风奔溃. 乐毅修整燕军 (2), 禁止侵掠, 求齐之逸民 (3), 显而礼之 (4). 宽其赋敛, 除其暴令, 修其旧政, 齐民喜悦. 乃遣左军渡胶东, 东菜; 前军循泰山以东至海, 略琅邪 (5); 右军循河, , 屯阿, 鄄以连魏师; 后军旁北海以镇抚千乘 (6); 中军据临淄而镇齐都. 祀桓公, 管仲于郊, 表贤者之闾, 封王蠋之墓. 齐人食邑于燕者二十馀君,有爵位于蓟者百有馀人. 六月之间, 下齐七十馀城, 皆为郡县.

    Phiên âm
              Yên sư thừa thắng trường khu (1), Tề thành giai vọng phong bôn hội. Nhạc Nghị tu chỉnh Yên quân (2), cấm chỉ xâm lược, cầu Tề chi dật dân (3), hiển nhi lễ chi (4). Khoan kì phú liễm, trừ kì bạo lệnh, tu kì cựu chính, Tề dân hỉ duyệt. Nãi khiển tả quân độ Giao Đông, Đông Thái; tiền quân tuần Thái sơn dĩ đông chí hải, lược Lang Nha (5); hữu quân tuần Hà, Tế, đồn A, Quyên dĩ liên Nguỵ sư; hậu quân bàng Bắc Hải dĩ trấn phủ thiên thặng (6); trung quân cứ Lâm Tri nhi trấn Tề đô. Tự Hoàn Công, Quản Trọng vu giao, biểu hiền giả chi lư, phong Vương Trục chi mộ. Tề nhân thực ấp vu Yên giả nhị thập dư quân, hữu tước vị vu Kế giả bách hữu dư nhân. Lục nguyệt chi gian, hạ Tề thất thập dư thành, giai vi quận huyện.

    Chú thích
    1- Yên sư thừa thắng trường khu燕师乘胜长驱: Yên Chiêu Vương năm thứ 28 (năm 284 trước công nguyên), Yên Chiêu Vương bái Nhạc Nghị làm Thượng tướng quân, liên hợp với 4 nước Tần, Hàn, Triệu, Nguỵ cùng phạt Tề, kịch chiến tại Tế tây, đánh bại quân Tề. Nhạc Nghị dẫn quân Yên thừa thắng đánh chiếm luôn 72 thành của Tề, tiến thẳng vào đô thành Lâm Tri.
    2- Nhạc Nghị 乐毅: quân sự gia kiệt xuất hậu kì thời Chiến Quốc, được bái làm Thượng tướng quân nước Yên, thụ phong Xương Quốc quân 昌国君, phò tá Yên Chiêu Vương chấn hưng nước Yên, trả mối thù nước Tề đánh nước Yên. Nhạc Nghị thống lĩnh liên quân 5 nước đánh Tề, sáng tạo ra trận chiến nổi tiếng lấy yếu thắng mạnh trong lịch sử chiến tranh cổ đại của Trung Quốc.
              Tu chỉnh 修整: cùng nghĩa với “hưu chỉnh” 休整.
    3- Dật dân 逸民: thời cổ gọi những người có tiết hạnh siêu dật, ẩn cư tránh đời.
    4- Hiển : lộ xuất ra.
    5- Lược : tấn công.
    6- Bàng : dựa bên cạnh.
              Trấn phủ 镇抚: an phủ.
              Bắc Hải 北海: nay là vùng duyên hải phía đông bắc Lâm Tri tỉnh Sơn Đông.
              Thiên thặng 千乘: nay là phía tây Bác Hưng 博兴tỉnh Sơn Đông 山东. Trong Tề kí 齐记ghi rằng: thành Thiên Thặng, tại tây bắc Tề thành 150 dặm, nam bắc có 2 thành, cách nhau hơn 20 dặm, một thành là huyện trị, một thành là Thái thú trị. Quận Thiên Thặng, sở trị của nó tại huyện Thiên Thặng, Cao Đế 高帝 thiết lập, Vương Mãng 王莽đổi gọi là Kiến Tín 建信, thuộc Thanh Châu 青州.

    Dịch nghĩa
              Quân Yên thừa thắng tiến thẳng, các thành trì lớn nhỏ của nước Tề theo đó mà sụp đổ. Nhạc Nghị chỉnh đốn kỉ luật quân Yên, nghiêm cấm cướp bóc, cho tìm những cao nhân ẩn sĩ của nước Tề, lấy lễ đối đãi một cách vinh dự. Lại nới lỏng thuế khoá cho dân, bãi bỏ pháp lệnh hà khắc, khôi phục truyền thống tốt đẹp trị lí đất nước trước đây của nước Tề. Nhân dân nước Tề vô cùng hoan hỉ. Thế là Nhạc Nghị điều tả quân đến Giao Đông, Đông Thái vượt qua Giao thuỷ; tiền quân men theo chân Thái sơn tiến về phía đông đến Bột Hải, tấn công Lang Nha; hữu quân thuận theo Hoàng hà, Tế thuỷ đi xuống, đồn binh tại Đông A, Quyên thành, tiếp cận với quân đội nước Nguỵ; hậu quân dựa vào Bắc Hải, vỗ yên Thiên Thặng; trung quân chiếm cứ Lâm Tri, trấn thủ quốc đô nước Tề. Nhạc Nghị còn đích thân ra ngoài thành tế Tề Hoàn Công, Quản Trọng, biểu dương hiền lương nhân tài của nước Tề nơi cổng làng, tứ phong lăng mộ Vương Trục. Kinh qua việc thu phục nhân tâm, người dân nước Tề tiếp thụ phong hiệu của nước Yên, có hơn 20 người nhận lãnh bổng lộc, hơn 100 người tiếp nhận tước vị của nước Yên. Trong 6 tháng, quân Yên công hạ hơn 70 thành trì của nước Tề, tất cả đều được thiết lập quận huyện để cai trị.

                                                                 Huỳnh Chương Hưng
                                                                 Quy Nhơn 22/6/2018

    Nguồn
    TƯ TRỊ THÔNG GIÁM
    资治通鉴
    Bắc Tống . Tư Mã Quang 司马光
    Chủ biên: Nhậm Tư Vũ 任思武
    Bắc Kinh . Trung Quốc Hoa kiều xuất bản xã, 2013

    Thứ Năm, 21 tháng 6, 2018

    TỨC MẶC CHI CHIẾN

    Lời dẫn
              Năm 284 trước công nguyên, Yên Chiêu Vương 燕昭王phong Nhạc Nghị 乐毅làm Thượng tướng quân, thống lĩnh đội quân 5 nước Yên, Tần, Hàn, Triệu, Nguỵ đánh Tề. Tề Mẫn Vương 齐湣王kiêu ngạo tự thị, lúc đầu hoàn toàn không ngờ nước Yên lại liên hợp chư hầu đánh Tề, đến khi phát hiện liên quân đã xâm nhập nước Tề, mới vội phong Xúc Tử 触子làm tướng. Xúc Tử dẫn quân vượt qua Tế thuỷ 济水, tiến về phía tây cự địch.
              Hai bên triển khai quyết chiến tại phía tây Tế thuỷ, sử gọi là “Tế tây chi chiến” 济西之战.
              Quân Tề do bởi nhiều năm liên tiếp chinh chiến, sĩ khí xuống thấp. Để bức ép các tướng sĩ tử chiến, Tề Mẫn Vương cho đào mộ tổ tiên của họ, thực hành pháp lệnh tàn khốc để uy hiếp, khiến tướng sĩ không đồng lòng, tiêu tan ý chí chiến đấu. Kết quả , khi liên quân tấn công, quân Tề vừa mới giáp trận đã gặp phải thảm bại. Xúc Tử bỏ trốn, không rõ tung tích, phó tướng Đạt Tử 达子thu thập tàn binh, lui về giữ đô thành Lâm Tri 临淄.
              Sau khi chủ lực quân Tề bị tiêu diệt, quân Tần và quân Hàn rút lui. Nhạc Nguỵ phái quân Nguỵ phía nam đánh Tống, lệnh cho quân Triệu phía bắc lấy Hà Gian 河间, đích thân Nhạc Nghị thống lĩnh quân Yên hướng đến Lâm Tri thực thi chiến lược truy kích, tiếp tục truy sát quân Tề, đồng thời công chiếm quốc đô Lâm Tri của nước Tề.
              Tề Mẫn Vương bị bức phải tháo chạy, về sau bị tướng nước Sở là Náo Xỉ 淖齿 giết chết.
              Nhạc Nghị sau khi công chiếm Lâm Tri, thực thi đức chính để thu phục dân tâm. Nhạc Nghị làm rõ kĩ cương quân đội, nghiêm cấm cướp bóc, phế bỏ pháp lệnh tàn bạo và tạp thuế hà khắc. Sau đó chia binh làm 5 lộ để tiêu diệt quân Tề một cách triệt để, chiếm lĩnh toàn cảnh nước Tề. Chỉ trong 6 tháng, quân Yên đã lấy được hơn 70 thành của nước Tề, chỉ còn lại 2 thành là Cử và Tức Mặc  即墨 (nay là phía đông nam Bình Độ 平度Sơn Đông 山东) là chưa bị công chiếm.
              Nhạc Nghị lại điều chỉnh lực lượng, tập trung hữu quân và tiền quân đánh thành Cử, tả quân và hậu quân đánh Tức Mặc. Quân dân Tức Mặc quyết chiến, tiến cử Điền Đan 田单, người thuộc tôn thất nước Tề làm tướng, kiên thủ chống Yên. Cử và Tức Mặc trở thành thành luỹ kiên cường kháng Yên của nước Tề lúc bấy giờ. Quân Yên bao vây thành Cử và Tức Mặc một năm nhưng chưa bị công hạ, Nhạc Nghị bèn đổi sang công tâm, lệnh cho quân Yên rút lui đến một nơi cách hai thành 9 dặm dựng thành luỹ. Đồng thời hạ lệnh phàm cư dân trong thành ra vào không bị bắt, có khó khăn sẽ giúp đỡ để tranh thủ dân tâm. Và như thế kéo dài 3 năm, hai thành vẫn chưa bị công hạ. Trận chiến đó được gọi là “Tức Mặc bảo vệ chiến” 即墨保卫战  hoặc “Tức Mặc chi chiến” 即墨之战.
              Điền Đan mưu trí hơn người, biết người biết ta, lúc đất nước bị tàn phá, thành luỹ bị bao vây, hình thế lực lượng hai bên chênh lệch, vẫn kiên thủ cô thành, làm tê liệt quân Yên. Đồng thời lợi dụng mâu thuẫn và điểm yếu của quân địch, tích cực sáng tạo điều kiện phản công. Khi thời cơ đã chín mùi, Điền Đan hạ lệnh “hoả ngưu trận” đang đêm tiến hành đột kích, ra tay lúc quân địch không ngờ tới, tấn công lúc quân địch không phòng bị, cuối cùng chiến thắng được quân Yên.
              “Tức Mặc chi chiến” là một trong những chiến dịch nổi tiếng thời kì Chiến Quốc, và cũng là trận chiến điển hình lấy yếu thắng mạnh trong lịch sử chiến tranh Trung Quốc.

                                                                 Huỳnh Chương Hưng
                                                                 Quy Nhơn 21/6/2018

    Nguồn
    TƯ TRỊ THÔNG GIÁM
    资治通鉴
    Bắc Tống . Tư Mã Quang 司马光
    Chủ biên: Nhậm Tư Vũ 任思武
    Bắc Kinh . Trung Quốc Hoa kiều xuất bản xã, 2013

    Dịch thuật: Tức Mặc chi chiến (Lời dẫn) (Tư trị thông giám)

    Đăng lúc  20:20  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    TỨC MẶC CHI CHIẾN

    Lời dẫn
              Năm 284 trước công nguyên, Yên Chiêu Vương 燕昭王phong Nhạc Nghị 乐毅làm Thượng tướng quân, thống lĩnh đội quân 5 nước Yên, Tần, Hàn, Triệu, Nguỵ đánh Tề. Tề Mẫn Vương 齐湣王kiêu ngạo tự thị, lúc đầu hoàn toàn không ngờ nước Yên lại liên hợp chư hầu đánh Tề, đến khi phát hiện liên quân đã xâm nhập nước Tề, mới vội phong Xúc Tử 触子làm tướng. Xúc Tử dẫn quân vượt qua Tế thuỷ 济水, tiến về phía tây cự địch.
              Hai bên triển khai quyết chiến tại phía tây Tế thuỷ, sử gọi là “Tế tây chi chiến” 济西之战.
              Quân Tề do bởi nhiều năm liên tiếp chinh chiến, sĩ khí xuống thấp. Để bức ép các tướng sĩ tử chiến, Tề Mẫn Vương cho đào mộ tổ tiên của họ, thực hành pháp lệnh tàn khốc để uy hiếp, khiến tướng sĩ không đồng lòng, tiêu tan ý chí chiến đấu. Kết quả , khi liên quân tấn công, quân Tề vừa mới giáp trận đã gặp phải thảm bại. Xúc Tử bỏ trốn, không rõ tung tích, phó tướng Đạt Tử 达子thu thập tàn binh, lui về giữ đô thành Lâm Tri 临淄.
              Sau khi chủ lực quân Tề bị tiêu diệt, quân Tần và quân Hàn rút lui. Nhạc Nguỵ phái quân Nguỵ phía nam đánh Tống, lệnh cho quân Triệu phía bắc lấy Hà Gian 河间, đích thân Nhạc Nghị thống lĩnh quân Yên hướng đến Lâm Tri thực thi chiến lược truy kích, tiếp tục truy sát quân Tề, đồng thời công chiếm quốc đô Lâm Tri của nước Tề.
              Tề Mẫn Vương bị bức phải tháo chạy, về sau bị tướng nước Sở là Náo Xỉ 淖齿 giết chết.
              Nhạc Nghị sau khi công chiếm Lâm Tri, thực thi đức chính để thu phục dân tâm. Nhạc Nghị làm rõ kĩ cương quân đội, nghiêm cấm cướp bóc, phế bỏ pháp lệnh tàn bạo và tạp thuế hà khắc. Sau đó chia binh làm 5 lộ để tiêu diệt quân Tề một cách triệt để, chiếm lĩnh toàn cảnh nước Tề. Chỉ trong 6 tháng, quân Yên đã lấy được hơn 70 thành của nước Tề, chỉ còn lại 2 thành là Cử và Tức Mặc  即墨 (nay là phía đông nam Bình Độ 平度Sơn Đông 山东) là chưa bị công chiếm.
              Nhạc Nghị lại điều chỉnh lực lượng, tập trung hữu quân và tiền quân đánh thành Cử, tả quân và hậu quân đánh Tức Mặc. Quân dân Tức Mặc quyết chiến, tiến cử Điền Đan 田单, người thuộc tôn thất nước Tề làm tướng, kiên thủ chống Yên. Cử và Tức Mặc trở thành thành luỹ kiên cường kháng Yên của nước Tề lúc bấy giờ. Quân Yên bao vây thành Cử và Tức Mặc một năm nhưng chưa bị công hạ, Nhạc Nghị bèn đổi sang công tâm, lệnh cho quân Yên rút lui đến một nơi cách hai thành 9 dặm dựng thành luỹ. Đồng thời hạ lệnh phàm cư dân trong thành ra vào không bị bắt, có khó khăn sẽ giúp đỡ để tranh thủ dân tâm. Và như thế kéo dài 3 năm, hai thành vẫn chưa bị công hạ. Trận chiến đó được gọi là “Tức Mặc bảo vệ chiến” 即墨保卫战  hoặc “Tức Mặc chi chiến” 即墨之战.
              Điền Đan mưu trí hơn người, biết người biết ta, lúc đất nước bị tàn phá, thành luỹ bị bao vây, hình thế lực lượng hai bên chênh lệch, vẫn kiên thủ cô thành, làm tê liệt quân Yên. Đồng thời lợi dụng mâu thuẫn và điểm yếu của quân địch, tích cực sáng tạo điều kiện phản công. Khi thời cơ đã chín mùi, Điền Đan hạ lệnh “hoả ngưu trận” đang đêm tiến hành đột kích, ra tay lúc quân địch không ngờ tới, tấn công lúc quân địch không phòng bị, cuối cùng chiến thắng được quân Yên.
              “Tức Mặc chi chiến” là một trong những chiến dịch nổi tiếng thời kì Chiến Quốc, và cũng là trận chiến điển hình lấy yếu thắng mạnh trong lịch sử chiến tranh Trung Quốc.

                                                                 Huỳnh Chương Hưng
                                                                 Quy Nhơn 21/6/2018

    Nguồn
    TƯ TRỊ THÔNG GIÁM
    资治通鉴
    Bắc Tống . Tư Mã Quang 司马光
    Chủ biên: Nhậm Tư Vũ 任思武
    Bắc Kinh . Trung Quốc Hoa kiều xuất bản xã, 2013

    Thứ Tư, 20 tháng 6, 2018

    THỤC VƯƠNG TƯ MĨ ĐÀI

              Thời xưa, Thục Vương 蜀王và Tần Vương 秦王đều muốn chiếm thiên hạ làm hoàng đế. Họ đều có chủ ý của mình, muốn nuốt đối phương. Một lần nọ, để xem thử thực hư và con đường tấn công, cả hai không hẹn mà gặp đều mượn cớ ra biên giới nơi tiếp giáp giữa hai nước để săn bắn.
              Thục Vương là vị quân vương dũng mãnh, khi đánh trận, phía trước có hoả ngưu xung trận, tả hữu có 5 đại tướng hộ vệ, đám quân sĩ luôn miệng hét lớn. Trận đó, chưa đánh chỉ nghe họ hét mà đã tối tăm mặt mũi.
              Tần Vương là kẻ giảo quyệt quỷ quái. Lần đó, cả hai gặp nhau tại một nơi gọi là Cốc Trung 谷中. Thục Vương dựa vào sự dũng mãnh của mình, rất coi thường Tần Vương, liền dùng một mảnh lụa trắng gói một nắm đất làm lễ vật tặng cho Tần Vương, ý nói là Tần Vương thấp hèn như nắm đất, ông ta sẽ dùng đất mai táng Tần Vương. Tần Vương nhìn thấy lễ vật của Thục Vương liền nổi giận, muốn điểm binh giết chết Thục Vương ngay lập tức. Mưu thần của Tần Vương thấy Thục Vương sát khí đằng đằng, lại thấy trong nước Thục khắp nơi đều là núi cao như răng sói, có lợi cho ngưu quân của Thục, mà lại bất lợi cho mã quân của Tần, liền cười nói với Tần Vương:
              - Quân Vương làm gì có đạo lí dễ dàng đem đất tặng cho nước khác? Đó là điềm báo Thục Vương muốn tặng quốc thổ cho nước Tần chúng ta. Nghe nói phi tử Vũ Đô 武都 của Thục Vương mới mất không lâu, ông ta lại là người tham luyến tài sắc, chúng ta tặng cho ông ta mĩ nữ đi.
              Tần Vương nghe lời của mưu thần, liền nói muốn dâng 5 cô gái đẹp nổi tiếng nhất của nước Tần. Thục Vương vừa nhìn thấy bộ dạng Tần Vương , liền cho rằng Tần Vương quy thuận mình, lại nghe nói có 5 cô gái đẹp tư sắc khác nhau, liền quên ngay chuyện đánh nhau.
              Tần Vương nói rằng nếu Thục Vương thích, thì sẽ khai thông con đường giữa 2 nước để tiện dâng tặng mĩ nữ.
              Thục Vương đương nhiên là vui mừng. Về đến quốc đô, nóng lòng muốn nước Tần dâng mĩ nữ, liền sai 5 vị đại lực sĩ có thể dời núi lấp sông đi khai thông đường. Năm vị đại lực sĩ nhận mệnh mở đường, lại đến nước Tần tiếp nhận mĩ nữ và kim ngưu. Khi họ một đoàn đến Vu sơn 巫山, thần nữ Vu sơn biết được kế mưu của Tần Vương, liền ngăn lại.
              Năm vị đại lực sĩ đánh nhau 3 ngày 3 đêm với thần nữ Vu sơn, đánh đến nỗi trời đất tối sầm, không thấy ánh sáng của mặt trời mặt trăng, núi lở đất sụp, 5 cô gái đẹp của nước Tần đưa đến bị đè dưới chân núi, còn kim ngưu bị nhấn chìm trong nước không còn thấy nữa.
              Thục Vương luôn nghĩ đến mĩ nữ của nước Tần, sau khi nghe tin đó, vội đến dưới chân núi nọ, đắp một đài tế, đau buồn truy điệu 7 ngày 7 đêm, đồng thời gọi nơi đó là “Thục Vương tư mĩ đài” 蜀王思美台 (Đài tế Thục Vương tưởng nhớ người đẹp).
              Đương lúc Thục Vương u sầu tưởng nhớ mĩ nữ, Tần Vương dẫn binh mã thuận theo con đường mà 5 vị đại lực sĩ đã khai thông lén đến “Thục Vương tư mĩ đài”, không phí một chút công sức đã bắt được Thục Vương tham luyến nữ sắc.

                                                            Huỳnh Chương Hưng
                                                            Quy Nhơn 20/6/2018

    Dịch thuật: Thục Vương tư mĩ đài

    Đăng lúc  20:15  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    THỤC VƯƠNG TƯ MĨ ĐÀI

              Thời xưa, Thục Vương 蜀王và Tần Vương 秦王đều muốn chiếm thiên hạ làm hoàng đế. Họ đều có chủ ý của mình, muốn nuốt đối phương. Một lần nọ, để xem thử thực hư và con đường tấn công, cả hai không hẹn mà gặp đều mượn cớ ra biên giới nơi tiếp giáp giữa hai nước để săn bắn.
              Thục Vương là vị quân vương dũng mãnh, khi đánh trận, phía trước có hoả ngưu xung trận, tả hữu có 5 đại tướng hộ vệ, đám quân sĩ luôn miệng hét lớn. Trận đó, chưa đánh chỉ nghe họ hét mà đã tối tăm mặt mũi.
              Tần Vương là kẻ giảo quyệt quỷ quái. Lần đó, cả hai gặp nhau tại một nơi gọi là Cốc Trung 谷中. Thục Vương dựa vào sự dũng mãnh của mình, rất coi thường Tần Vương, liền dùng một mảnh lụa trắng gói một nắm đất làm lễ vật tặng cho Tần Vương, ý nói là Tần Vương thấp hèn như nắm đất, ông ta sẽ dùng đất mai táng Tần Vương. Tần Vương nhìn thấy lễ vật của Thục Vương liền nổi giận, muốn điểm binh giết chết Thục Vương ngay lập tức. Mưu thần của Tần Vương thấy Thục Vương sát khí đằng đằng, lại thấy trong nước Thục khắp nơi đều là núi cao như răng sói, có lợi cho ngưu quân của Thục, mà lại bất lợi cho mã quân của Tần, liền cười nói với Tần Vương:
              - Quân Vương làm gì có đạo lí dễ dàng đem đất tặng cho nước khác? Đó là điềm báo Thục Vương muốn tặng quốc thổ cho nước Tần chúng ta. Nghe nói phi tử Vũ Đô 武都 của Thục Vương mới mất không lâu, ông ta lại là người tham luyến tài sắc, chúng ta tặng cho ông ta mĩ nữ đi.
              Tần Vương nghe lời của mưu thần, liền nói muốn dâng 5 cô gái đẹp nổi tiếng nhất của nước Tần. Thục Vương vừa nhìn thấy bộ dạng Tần Vương , liền cho rằng Tần Vương quy thuận mình, lại nghe nói có 5 cô gái đẹp tư sắc khác nhau, liền quên ngay chuyện đánh nhau.
              Tần Vương nói rằng nếu Thục Vương thích, thì sẽ khai thông con đường giữa 2 nước để tiện dâng tặng mĩ nữ.
              Thục Vương đương nhiên là vui mừng. Về đến quốc đô, nóng lòng muốn nước Tần dâng mĩ nữ, liền sai 5 vị đại lực sĩ có thể dời núi lấp sông đi khai thông đường. Năm vị đại lực sĩ nhận mệnh mở đường, lại đến nước Tần tiếp nhận mĩ nữ và kim ngưu. Khi họ một đoàn đến Vu sơn 巫山, thần nữ Vu sơn biết được kế mưu của Tần Vương, liền ngăn lại.
              Năm vị đại lực sĩ đánh nhau 3 ngày 3 đêm với thần nữ Vu sơn, đánh đến nỗi trời đất tối sầm, không thấy ánh sáng của mặt trời mặt trăng, núi lở đất sụp, 5 cô gái đẹp của nước Tần đưa đến bị đè dưới chân núi, còn kim ngưu bị nhấn chìm trong nước không còn thấy nữa.
              Thục Vương luôn nghĩ đến mĩ nữ của nước Tần, sau khi nghe tin đó, vội đến dưới chân núi nọ, đắp một đài tế, đau buồn truy điệu 7 ngày 7 đêm, đồng thời gọi nơi đó là “Thục Vương tư mĩ đài” 蜀王思美台 (Đài tế Thục Vương tưởng nhớ người đẹp).
              Đương lúc Thục Vương u sầu tưởng nhớ mĩ nữ, Tần Vương dẫn binh mã thuận theo con đường mà 5 vị đại lực sĩ đã khai thông lén đến “Thục Vương tư mĩ đài”, không phí một chút công sức đã bắt được Thục Vương tham luyến nữ sắc.

                                                            Huỳnh Chương Hưng
                                                            Quy Nhơn 20/6/2018

    Thứ Ba, 19 tháng 6, 2018

    ĐẠI CÔNG VÔ TƯ
    大公无私

    Giải thích: suy nghĩ vì việc công, không hề có chút lòng riêng.
    Xuất xứ: Hán . Lưu Hướng 刘向: Thuyết uyển – Chí công thiên 说苑 - 至公篇.

              Thời Xuân thu, Tấn Bình Công 晋平公 hỏi Kì Hoàng Dương 祁黄羊 rằng:
              - Huyện Nam Dương 南阳 khuyết một huyện trưởng, theo ý khanh, nên phái người nào đi thì tương đối thích hợp?
              Kì Hoàng Dương đáp rằng:
              - Phái Giải Hồ 解狐 đi, ông ta nhất định sẽ làm tốt nhiệm vụ.
              Bình Công ngạc nhiên hỏi rằng:
              - Chẳng phải Giải Hồ là kẻ thù của khanh sao? Sao khanh lại tiến cử ông ta?
              Kì Hoàng Dương đáp rằng:
              - Ngài chỉ hỏi thần người nào có thể làm tốt nhiệm vụ, chứ ngài không hề hỏi thần Giải Hồ có phải là kẻ thù của thần không.
              Sau khi Giải Hồ đến nhận nhiệm vụ, quả nhiên làm tròn chức trách.
              Qua mấy ngày sau, Bình Công lại hỏi Kì Hoàng Dương rằng:
              - Hiện tại triều đình đang khuyết một pháp quan. Theo khanh, ai có thể đảm nhiệm chức vụ đó?
              Kì Hoàng Dương đáp rằng:
              - Kì Ngọ 祁午có thể đảm nhiệm được.
              Bình Công lại ngạc nhiên, hỏi rằng:
              - Kì Ngọ chẳng phải là con của khanh sao. Khanh tiến cử con của mình không sợ người ta đàm tiếu à?
              Kì Hoàng Dương đáp rằng:
              - Ngài chỉ hỏi thần ai có thể làm pháp quan, cho nên thần tiến cử nó; ngài không hề hỏi thần Kì Ngọ có phải là con của thần không.
              Kì Ngọ đảm nhiệm chức pháp quan, quả nhiên làm rất tốt.
              Khổng Tử 孔子 nghe được hai chuyện đó, khen Kì Hoàng Dương rằng:
              - Kì Hoàng Dương nói rất đúng. Ông ta tiến cử người, hoàn toàn lấy tài năng làm tiêu chuẩn, không nhân vì là kẻ thù của mình mà có lòng thiên kiến không tiến  cử; cũng không nhân vì là con của mình, sợ người ta nghị luận mà không tiến cử. Người giống như Kì Hoàng Dương mới có thể gọi là “đại công vô tư” vậy.

                                                           Huỳnh Chương Hưng
                                                 Quy Nhơn 19/6/2018

    Nguyên tác Trung văn
    ĐẠI CÔNG VÔ TƯ
    大公无私
    TRUNG QUỐC THÀNH NGỮ CỐ SỰ TỔNG TẬP
    中国成语故事总集
    (tập 1)
    Chủ biên: Đường Kì 唐麒
    Trường Xuân – Thời đại văn nghệ xuất bản xã, 2004. 

    Dịch thuật: Đại công vô tư (thành ngữ)

    Đăng lúc  22:36  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    ĐẠI CÔNG VÔ TƯ
    大公无私

    Giải thích: suy nghĩ vì việc công, không hề có chút lòng riêng.
    Xuất xứ: Hán . Lưu Hướng 刘向: Thuyết uyển – Chí công thiên 说苑 - 至公篇.

              Thời Xuân thu, Tấn Bình Công 晋平公 hỏi Kì Hoàng Dương 祁黄羊 rằng:
              - Huyện Nam Dương 南阳 khuyết một huyện trưởng, theo ý khanh, nên phái người nào đi thì tương đối thích hợp?
              Kì Hoàng Dương đáp rằng:
              - Phái Giải Hồ 解狐 đi, ông ta nhất định sẽ làm tốt nhiệm vụ.
              Bình Công ngạc nhiên hỏi rằng:
              - Chẳng phải Giải Hồ là kẻ thù của khanh sao? Sao khanh lại tiến cử ông ta?
              Kì Hoàng Dương đáp rằng:
              - Ngài chỉ hỏi thần người nào có thể làm tốt nhiệm vụ, chứ ngài không hề hỏi thần Giải Hồ có phải là kẻ thù của thần không.
              Sau khi Giải Hồ đến nhận nhiệm vụ, quả nhiên làm tròn chức trách.
              Qua mấy ngày sau, Bình Công lại hỏi Kì Hoàng Dương rằng:
              - Hiện tại triều đình đang khuyết một pháp quan. Theo khanh, ai có thể đảm nhiệm chức vụ đó?
              Kì Hoàng Dương đáp rằng:
              - Kì Ngọ 祁午có thể đảm nhiệm được.
              Bình Công lại ngạc nhiên, hỏi rằng:
              - Kì Ngọ chẳng phải là con của khanh sao. Khanh tiến cử con của mình không sợ người ta đàm tiếu à?
              Kì Hoàng Dương đáp rằng:
              - Ngài chỉ hỏi thần ai có thể làm pháp quan, cho nên thần tiến cử nó; ngài không hề hỏi thần Kì Ngọ có phải là con của thần không.
              Kì Ngọ đảm nhiệm chức pháp quan, quả nhiên làm rất tốt.
              Khổng Tử 孔子 nghe được hai chuyện đó, khen Kì Hoàng Dương rằng:
              - Kì Hoàng Dương nói rất đúng. Ông ta tiến cử người, hoàn toàn lấy tài năng làm tiêu chuẩn, không nhân vì là kẻ thù của mình mà có lòng thiên kiến không tiến  cử; cũng không nhân vì là con của mình, sợ người ta nghị luận mà không tiến cử. Người giống như Kì Hoàng Dương mới có thể gọi là “đại công vô tư” vậy.

                                                           Huỳnh Chương Hưng
                                                 Quy Nhơn 19/6/2018

    Nguyên tác Trung văn
    ĐẠI CÔNG VÔ TƯ
    大公无私
    TRUNG QUỐC THÀNH NGỮ CỐ SỰ TỔNG TẬP
    中国成语故事总集
    (tập 1)
    Chủ biên: Đường Kì 唐麒
    Trường Xuân – Thời đại văn nghệ xuất bản xã, 2004. 

    Thứ Hai, 18 tháng 6, 2018

    CHẾ ĐỘ “BÁT KÌ” CỦA TRIỀU THANH

              Triều Thanh là thời đại cuối cùng của xã hội phong kiến Trung Quốc, từ lúc Nỗ Nhĩ Cáp Xích 努尔哈赤vào năm Vạn Lịch 万历 thứ 29 của triều Minh (năm 1601) chính thức sáng lập, đến năm 1912 khi Trung Hoa Dân Quốc 中华民国 thành lập thì tan vỡ, trước sau tồn tại một khoảng thời gian hơn 300 năm, trải qua bao cuộc hưng suy. Có thể nói cả lịch sử triều Thanh cũng chính là lịch sử của “bát kì tử đệ” 八旗子弟 triều Thanh từ hưng khởi, phồn vinh, lạc hậu cuối cùng là đi đến chỗ suy vong.
              Tộc Mãn là hậu duệ của người Nữ Chân 女真, thời kì đầu chủ yếu sinh sống bằng cách săn bắn hái lượm, dựa vào huyết thống và sự hình thành khu vực, lấy thị tộc hoặc thôn trại làm bộ lạc đơn vị. Phương thức tổ chức tập thể bộ lạc gọi là “Ngưu lục chế” 牛录制, vị tổng lãnh gọi là Ngưu lục ngạch chân 牛录额真. “Ngạch chân” cũng xưng là “Ách chân” 厄真, có nghĩa là “chủ”. Sau khi Nỗ Nhĩ Cáp Xích thống nhất các bộ Nữ Chân, kiến lập nên 4 kì: hoàng kì 黄旗, bạch kì 白旗, hồng kì 红旗, lam kì 蓝旗. Về sau do bởi người theo về đông, đã đem 4 kì vốn có đổi làm 4 kì: chánh hoàng 正黄, chánh bạch 正白, chánh hồng 正红, chánh lam 正蓝, đồng thời tăng thêm 4 kì khác là tương hoàng 镶黄, tương bạch 镶白, tương hồng 镶红, tương lam 镶蓝, tổng xưng là “bát kì”八旗, đó là sự hình thành chế độ bát kì. Dưới bát kì mỗi 300 người là 1 ngưu lục, đặt Ngưu lục ngạch chân 1 người, 5 ngưu lục là 1 giáp lạt 甲喇, đặt Giáp lạt ngạch chân 1 người, 5 giáp lạt là 1 cố sơn 固山, đặt Cố sơn ngạch chân 1 người, phó chức 1 người, xưng là Tả hữu Mai lặc ngạch chân 左右梅勒额真.
              Thời Hoàng Thái Cực 皇太极, để mở rộng nguồn đại binh, trên cơ sở Mãn Châu bát kì lại kiến lập Mông Cổ bát kì và Hán quân bát kì, biên chế hoàn toàn tương đồng với Mãn Châu bát kì. Mãn, Mông, Hán bát kì tổng cộng 24 kì cấu thành chỉnh thể chế độ bát kì đời Thanh. Sau khi nhà Thanh vào trung nguyên, bát kì quân lại phân thành Cấm lữ bát kì 禁旅八旗và Trú phòng bát kì 驻防八旗.
              Trong bát kì thì chánh hoàng, tương hoàng và chánh bạch kì là thượng tam kì. 3 kì này do hoàng đế đích thân chỉ huy, binh là thân binh của hoàng đế, thị vệ hoàng cung cũng được chọn từ trong 3 kì này. Hạ ngũ kì bao gồm chánh hồng kì, tương hồng kì, tương bạch kì, chánh lam kì, tương lam kì, do chư vương, bối lặc và bối tử chia nhau thống lĩnh. Lúc ban đầu kiến lập bát kì, binh dân hợp nhất, toàn dân đều là binh, phàm là thành viên Mãn Châu đều thuộc Mãn Châu bát kì. Tổ chức của bát kì có chức năng nhiều phương diện như quân sự, hành chính và sản xuất. Trước khi vào trung nguyên, binh đinh bát kì thời bình là lao động sản xuất, thời chiến vác giáo tùng chinh, tự lo liệu quân giới lương thảo. Sau khi vào trung nguyên, kiến lập binh chế thường bị và chế độ binh lương. Từ đó binh bát kì trở thành chức nghiệp binh.
              Chế độ bát kì là trụ cột quân sự trọng yếu cho vương triều Thanh thống trị toàn quốc. Để củng cố và phát triển một quốc gia thống nhất đa dân tộc, bảo vệ biên cương và đề phòng ngoại lai xâm lược, chế độ bát kì đã có nhiều cống hiến quan trọng. Nhưng theo sự phát triển của lịch sử, mặt lạc hậu trong chế độ bát kì cũng ngày càng hiện rõ, sức chiến đấu cũng dần suy giảm, hậu kì triều Thanh nhiều lần chiến đấu nhiều lần thất bại, không thể không dựa vào một số vũ trang địa chủ Hán tộc.

                                                     Huỳnh Chương Hưng
                                                      Quy Nhơn 18/6/2018

    Nguyên tác Trung văn
    Trong quyển
    THÚ VỊ VĂN HOÁ TRI THỨC ĐẠI TOÀN
    趣味文化知识大全
    Thanh Thạch 青石 biên soạn
    Trung Quốc Hoa kiều xuất bản xã, 2013

    Dịch thuật: Chế độ "bát kì" của triều Thanh

    Đăng lúc  20:15  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    CHẾ ĐỘ “BÁT KÌ” CỦA TRIỀU THANH

              Triều Thanh là thời đại cuối cùng của xã hội phong kiến Trung Quốc, từ lúc Nỗ Nhĩ Cáp Xích 努尔哈赤vào năm Vạn Lịch 万历 thứ 29 của triều Minh (năm 1601) chính thức sáng lập, đến năm 1912 khi Trung Hoa Dân Quốc 中华民国 thành lập thì tan vỡ, trước sau tồn tại một khoảng thời gian hơn 300 năm, trải qua bao cuộc hưng suy. Có thể nói cả lịch sử triều Thanh cũng chính là lịch sử của “bát kì tử đệ” 八旗子弟 triều Thanh từ hưng khởi, phồn vinh, lạc hậu cuối cùng là đi đến chỗ suy vong.
              Tộc Mãn là hậu duệ của người Nữ Chân 女真, thời kì đầu chủ yếu sinh sống bằng cách săn bắn hái lượm, dựa vào huyết thống và sự hình thành khu vực, lấy thị tộc hoặc thôn trại làm bộ lạc đơn vị. Phương thức tổ chức tập thể bộ lạc gọi là “Ngưu lục chế” 牛录制, vị tổng lãnh gọi là Ngưu lục ngạch chân 牛录额真. “Ngạch chân” cũng xưng là “Ách chân” 厄真, có nghĩa là “chủ”. Sau khi Nỗ Nhĩ Cáp Xích thống nhất các bộ Nữ Chân, kiến lập nên 4 kì: hoàng kì 黄旗, bạch kì 白旗, hồng kì 红旗, lam kì 蓝旗. Về sau do bởi người theo về đông, đã đem 4 kì vốn có đổi làm 4 kì: chánh hoàng 正黄, chánh bạch 正白, chánh hồng 正红, chánh lam 正蓝, đồng thời tăng thêm 4 kì khác là tương hoàng 镶黄, tương bạch 镶白, tương hồng 镶红, tương lam 镶蓝, tổng xưng là “bát kì”八旗, đó là sự hình thành chế độ bát kì. Dưới bát kì mỗi 300 người là 1 ngưu lục, đặt Ngưu lục ngạch chân 1 người, 5 ngưu lục là 1 giáp lạt 甲喇, đặt Giáp lạt ngạch chân 1 người, 5 giáp lạt là 1 cố sơn 固山, đặt Cố sơn ngạch chân 1 người, phó chức 1 người, xưng là Tả hữu Mai lặc ngạch chân 左右梅勒额真.
              Thời Hoàng Thái Cực 皇太极, để mở rộng nguồn đại binh, trên cơ sở Mãn Châu bát kì lại kiến lập Mông Cổ bát kì và Hán quân bát kì, biên chế hoàn toàn tương đồng với Mãn Châu bát kì. Mãn, Mông, Hán bát kì tổng cộng 24 kì cấu thành chỉnh thể chế độ bát kì đời Thanh. Sau khi nhà Thanh vào trung nguyên, bát kì quân lại phân thành Cấm lữ bát kì 禁旅八旗và Trú phòng bát kì 驻防八旗.
              Trong bát kì thì chánh hoàng, tương hoàng và chánh bạch kì là thượng tam kì. 3 kì này do hoàng đế đích thân chỉ huy, binh là thân binh của hoàng đế, thị vệ hoàng cung cũng được chọn từ trong 3 kì này. Hạ ngũ kì bao gồm chánh hồng kì, tương hồng kì, tương bạch kì, chánh lam kì, tương lam kì, do chư vương, bối lặc và bối tử chia nhau thống lĩnh. Lúc ban đầu kiến lập bát kì, binh dân hợp nhất, toàn dân đều là binh, phàm là thành viên Mãn Châu đều thuộc Mãn Châu bát kì. Tổ chức của bát kì có chức năng nhiều phương diện như quân sự, hành chính và sản xuất. Trước khi vào trung nguyên, binh đinh bát kì thời bình là lao động sản xuất, thời chiến vác giáo tùng chinh, tự lo liệu quân giới lương thảo. Sau khi vào trung nguyên, kiến lập binh chế thường bị và chế độ binh lương. Từ đó binh bát kì trở thành chức nghiệp binh.
              Chế độ bát kì là trụ cột quân sự trọng yếu cho vương triều Thanh thống trị toàn quốc. Để củng cố và phát triển một quốc gia thống nhất đa dân tộc, bảo vệ biên cương và đề phòng ngoại lai xâm lược, chế độ bát kì đã có nhiều cống hiến quan trọng. Nhưng theo sự phát triển của lịch sử, mặt lạc hậu trong chế độ bát kì cũng ngày càng hiện rõ, sức chiến đấu cũng dần suy giảm, hậu kì triều Thanh nhiều lần chiến đấu nhiều lần thất bại, không thể không dựa vào một số vũ trang địa chủ Hán tộc.

                                                     Huỳnh Chương Hưng
                                                      Quy Nhơn 18/6/2018

    Nguyên tác Trung văn
    Trong quyển
    THÚ VỊ VĂN HOÁ TRI THỨC ĐẠI TOÀN
    趣味文化知识大全
    Thanh Thạch 青石 biên soạn
    Trung Quốc Hoa kiều xuất bản xã, 2013

    Chủ Nhật, 17 tháng 6, 2018

    HAI CÂU SẤM ẨN DỤ HỌ TÊN

              Thời Nguỵ Tấn, sấm vĩ thần học từng một thời thịnh hành. Sấm vĩ thần học là mượn thần phù 神符sấm ngôn 谶言để dự báo tương lai, đồng thời xem đó là sự khải thị của trời. Đây vốn là một học thuyết mê tín, nhưng có lúc lại trùng hợp với lịch sử, tựa hồ sấm ngôn có được sự nghiệm chứng. Trong lịch sử Trung Quốc từng lưu lại nhiều câu chuyện thú vị.
              Thời Nguỵ Tấn, lưu truyền 2 câu sấm: “tam mã đồng tào” 三马同槽 và “ngưu kế mã hậu” 牛继马后. Hai câu sấm này đều ẩn dụ họ tên người trong đó, dự báo sự thay đổi chính quyền trong tương lai.
             Với câu “tam mã đồng tào” 三马同槽 nhìn từ mặt chữ, chỉ 3 con ngựa cùng ăn một máng cỏ, nhưng trên thực tế, “tam mã” 三马 là chỉ quyền thần Tư Mã Ý 司马懿, Tư Mã Sư 司马师và Tư Mã Chiêu 司马昭thời Tào Nguỵ. Còn “tào” ám chỉ chính quyền họ Tào của Tào Tháo 曹操 kiến lập. “Tam mã đồng tào” ám chỉ 3 Tư Mã giết và phế trừ con cháu họ Tào, khống chế chính quyền họ Tào.
              Theo sử sách, Tào Tháo khi còn tại thế đã có lòng đề phòng Tư Mã Ý. Tào Tháo nghe nói đầu của Tư Mã Ý có thể quay ra sau 180 độ như chó sói, bèn cho triệu đến xem thử, quả nhiên mặt ông ấy có thể quay ra sau mà không cần xoay chuyển thân. Về sau Tào Tháo lại nằm mơ thấy 3 con ngựa cùng ăn một máng cỏ, cho nên rất ghét Tư Mã Ý. Tào Tháo từng nói với thái tử Tào Phi 曹丕 rằng:
    - Tư Mã Ý phi nhân thần dã, tất dự nhữ gia sự.
    司马懿非人臣也, 必预汝家事
              (Tư Mã Ý không phải là hạng người cam chịu làm bề tôi đâu, nhất định sẽ can dự vào việc nhà của con đấy)
              Nhưng thái tử lại có quan hệ tốt với Tư Mã Ý, lúc nào cũng bảo vệ ông ta, lại thêm Tư Mã Ý hết lòng biểu hiện, nên tránh được bị Tào Tháo hại.
              Về sau, Tào Tháo và Tào Phi lần lượt qua đời, quyền thế của Tư Mã Ý ngày càng lớn, ông ta cùng Tào Sảng 曹爽tiếp nhận di chiếu phụ chính. Tư Mã Ý cho rằng thời cơ đã đến, bèn giả bệnh qua mặt Tào Sảng. Tào Sảng quả nhiên trúng kế, chẳng bao lâu bị Tư Mã Ý diệt. Con cháu họ Tào và những người trung thành với chính quyền họ Tào cũng bị sát hại. Chính quyền họ Tào rơi vào tay họ Tư Mã. Mọi người gọi đó là “nhất mã phiên tào” 一马翻槽 (một ngựa lật máng).
              Sau khi Tư Mã Ý qua đời, con là Tư Mã Sư lại giết chết hoàng đế Tào Phương 曹芳người mà không cam chịu làm bù nhìn, chính quyền họ Tào đến đây chỉ là “danh tồn thực vong”. Mọi người gọi đó là “nhị mã phiên tào”.
              Sau khi Tư Mã Sư qua đời, Tư Mã Chiêu nắm lấy chính quyền, hoàng đế bù nhìn Tào Mao 曹髦không cam chịu nhục, đã thống lĩnh nhóm đồng bộc công kích Tư Mã Chiêu, kết quả bị Tư Mã Chiêu giết chết. Mọi người gọi đó là “tam mã phiên tào”.
              Sau này người ta đem 3 sự kiện này liên hệ với câu sấm “tam mã đồng tào”, nó được phủ lên một sắc thái thần bí.
              Còn câu sấm “ngưu kế mã hậu” 牛继马后chỉ việc sau khi Tư Mã Ý soán quyền, sợ người ta bắt chước mình, bèn đề phòng “ngưu” . Đương thời có một vị đại tướng tên là Ngưu Kim 牛金, kiêu dũng dị thường, chiến công hiển hách, rất có ảnh hưởng trong quân đội. Tư Mã Ý cho rằng người này là “ngưu” mà trong sấm ngữ ám dụ, nên trong một lần yến tiệc đã dùng rượu độc giết chết. Nhưng “ngưu kế mã hậu” hoàn toàn không phải đến đó là rõ ràng. Cháu Tư Mã Ý là Tư Mã Viêm 司马炎phế Nguỵ tự lập, trở thành Tấn Vũ Đế 晋武帝. Tấn Vũ Đế phong cho huynh đệ của mình là Tư Mã Cận 司马觐làm Cung Vương 恭王. Cung Vương có nàng phi tử tên là Hạ Hầu Quang Cơ 夏侯光姬, Hạ Hầu Quang Cơ tư thông với tên tiểu lại họ Ngưu, sinh ra được một bé trai. Điều khiến mọi người kinh ngạc đó là đứa bé này trong lúc thiên hạ đại loạn vào cuối thời Tây Tấn đã lên ngôi hoàng đế, trở thành hoàng đế Tư Mã Duệ 司马睿 - vị hoàng đế khai quốc thời Đông Tấn. Sự kiện này trong Tấn thư – Nguyên Đế kỉ 晋书 - 元帝纪có ghi chép rõ ràng. Như vậy chính quyền Đông Tấn bề ngoài là chính quyền họ tư Mã, nhưng trên thực tế lại là chính quyền họ “Ngưu”.
              Nói như thế, câu sấm “ngưu kế mã hậu” đã có được sự chứng nghiệm. Đôi lúc, lịch sử có những điều thú vị như thế.

                                                         Huỳnh Chương Hưng
                                                         Quy Nhơn 17/6/2018

    Nguyên tác Trung văn
    Trong quyển
    TRUNG QUỐC NHÂN DANH ĐÍCH CỐ SỰ
    中国人名的故事
    Tác giả:  Trương Tráng Niên  张壮年
                   Trương Dĩnh Chấn  张颖震
    Sơn Đông hoạ báo xuất bản xã, tháng 9-2005

    Dịch thuật: Hai câu sấm ẩn dụ họ tên

    Đăng lúc  21:18  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    HAI CÂU SẤM ẨN DỤ HỌ TÊN

              Thời Nguỵ Tấn, sấm vĩ thần học từng một thời thịnh hành. Sấm vĩ thần học là mượn thần phù 神符sấm ngôn 谶言để dự báo tương lai, đồng thời xem đó là sự khải thị của trời. Đây vốn là một học thuyết mê tín, nhưng có lúc lại trùng hợp với lịch sử, tựa hồ sấm ngôn có được sự nghiệm chứng. Trong lịch sử Trung Quốc từng lưu lại nhiều câu chuyện thú vị.
              Thời Nguỵ Tấn, lưu truyền 2 câu sấm: “tam mã đồng tào” 三马同槽 và “ngưu kế mã hậu” 牛继马后. Hai câu sấm này đều ẩn dụ họ tên người trong đó, dự báo sự thay đổi chính quyền trong tương lai.
             Với câu “tam mã đồng tào” 三马同槽 nhìn từ mặt chữ, chỉ 3 con ngựa cùng ăn một máng cỏ, nhưng trên thực tế, “tam mã” 三马 là chỉ quyền thần Tư Mã Ý 司马懿, Tư Mã Sư 司马师và Tư Mã Chiêu 司马昭thời Tào Nguỵ. Còn “tào” ám chỉ chính quyền họ Tào của Tào Tháo 曹操 kiến lập. “Tam mã đồng tào” ám chỉ 3 Tư Mã giết và phế trừ con cháu họ Tào, khống chế chính quyền họ Tào.
              Theo sử sách, Tào Tháo khi còn tại thế đã có lòng đề phòng Tư Mã Ý. Tào Tháo nghe nói đầu của Tư Mã Ý có thể quay ra sau 180 độ như chó sói, bèn cho triệu đến xem thử, quả nhiên mặt ông ấy có thể quay ra sau mà không cần xoay chuyển thân. Về sau Tào Tháo lại nằm mơ thấy 3 con ngựa cùng ăn một máng cỏ, cho nên rất ghét Tư Mã Ý. Tào Tháo từng nói với thái tử Tào Phi 曹丕 rằng:
    - Tư Mã Ý phi nhân thần dã, tất dự nhữ gia sự.
    司马懿非人臣也, 必预汝家事
              (Tư Mã Ý không phải là hạng người cam chịu làm bề tôi đâu, nhất định sẽ can dự vào việc nhà của con đấy)
              Nhưng thái tử lại có quan hệ tốt với Tư Mã Ý, lúc nào cũng bảo vệ ông ta, lại thêm Tư Mã Ý hết lòng biểu hiện, nên tránh được bị Tào Tháo hại.
              Về sau, Tào Tháo và Tào Phi lần lượt qua đời, quyền thế của Tư Mã Ý ngày càng lớn, ông ta cùng Tào Sảng 曹爽tiếp nhận di chiếu phụ chính. Tư Mã Ý cho rằng thời cơ đã đến, bèn giả bệnh qua mặt Tào Sảng. Tào Sảng quả nhiên trúng kế, chẳng bao lâu bị Tư Mã Ý diệt. Con cháu họ Tào và những người trung thành với chính quyền họ Tào cũng bị sát hại. Chính quyền họ Tào rơi vào tay họ Tư Mã. Mọi người gọi đó là “nhất mã phiên tào” 一马翻槽 (một ngựa lật máng).
              Sau khi Tư Mã Ý qua đời, con là Tư Mã Sư lại giết chết hoàng đế Tào Phương 曹芳người mà không cam chịu làm bù nhìn, chính quyền họ Tào đến đây chỉ là “danh tồn thực vong”. Mọi người gọi đó là “nhị mã phiên tào”.
              Sau khi Tư Mã Sư qua đời, Tư Mã Chiêu nắm lấy chính quyền, hoàng đế bù nhìn Tào Mao 曹髦không cam chịu nhục, đã thống lĩnh nhóm đồng bộc công kích Tư Mã Chiêu, kết quả bị Tư Mã Chiêu giết chết. Mọi người gọi đó là “tam mã phiên tào”.
              Sau này người ta đem 3 sự kiện này liên hệ với câu sấm “tam mã đồng tào”, nó được phủ lên một sắc thái thần bí.
              Còn câu sấm “ngưu kế mã hậu” 牛继马后chỉ việc sau khi Tư Mã Ý soán quyền, sợ người ta bắt chước mình, bèn đề phòng “ngưu” . Đương thời có một vị đại tướng tên là Ngưu Kim 牛金, kiêu dũng dị thường, chiến công hiển hách, rất có ảnh hưởng trong quân đội. Tư Mã Ý cho rằng người này là “ngưu” mà trong sấm ngữ ám dụ, nên trong một lần yến tiệc đã dùng rượu độc giết chết. Nhưng “ngưu kế mã hậu” hoàn toàn không phải đến đó là rõ ràng. Cháu Tư Mã Ý là Tư Mã Viêm 司马炎phế Nguỵ tự lập, trở thành Tấn Vũ Đế 晋武帝. Tấn Vũ Đế phong cho huynh đệ của mình là Tư Mã Cận 司马觐làm Cung Vương 恭王. Cung Vương có nàng phi tử tên là Hạ Hầu Quang Cơ 夏侯光姬, Hạ Hầu Quang Cơ tư thông với tên tiểu lại họ Ngưu, sinh ra được một bé trai. Điều khiến mọi người kinh ngạc đó là đứa bé này trong lúc thiên hạ đại loạn vào cuối thời Tây Tấn đã lên ngôi hoàng đế, trở thành hoàng đế Tư Mã Duệ 司马睿 - vị hoàng đế khai quốc thời Đông Tấn. Sự kiện này trong Tấn thư – Nguyên Đế kỉ 晋书 - 元帝纪có ghi chép rõ ràng. Như vậy chính quyền Đông Tấn bề ngoài là chính quyền họ tư Mã, nhưng trên thực tế lại là chính quyền họ “Ngưu”.
              Nói như thế, câu sấm “ngưu kế mã hậu” đã có được sự chứng nghiệm. Đôi lúc, lịch sử có những điều thú vị như thế.

                                                         Huỳnh Chương Hưng
                                                         Quy Nhơn 17/6/2018

    Nguyên tác Trung văn
    Trong quyển
    TRUNG QUỐC NHÂN DANH ĐÍCH CỐ SỰ
    中国人名的故事
    Tác giả:  Trương Tráng Niên  张壮年
                   Trương Dĩnh Chấn  张颖震
    Sơn Đông hoạ báo xuất bản xã, tháng 9-2005

    Thứ Tư, 13 tháng 6, 2018



    旄山   非山   阳夹山
        又东四百里, 至于旄山之尾. 其南有谷, 曰育遗, 多怪鸟, 凯风 (1)自是出.
        又东四百里, 至于非山之首, 其上多金, , 无水, 其下多蝮虫.
        又东五百里, 曰阳夹之山, 无草木, 多水.
                                    (山海经 - 南山经)

    MAO SƠN   PHI SƠN   DƯƠNG GIÁP SƠN
              Hựu đông tứ bách lí, chí vu Mao sơn chi vĩ. Kì nam hữu cốc, viết Dục Di, đa quái điểu, khải phong (1) tự thị xuất.
              Hựu đông tứ bách lí, chí vu Phi sơn chi thủ, kì thượng đa kim, ngọc, vô thuỷ, kì hạ đa phúc trùng.
              Hựu đông ngũ bách lí, viết Dương Giáp chi sơn, vô thảo mộc, đa thuỷ.
                                                                         (Sơn hải kinh – Nam sơn kinh)

    MAO SƠN   PHI SƠN   DƯƠNG GIÁP SƠN
              Lại hướng về phía đông 400 dặm, là đến phần cuối của Mao sơn, phía nam của núi có một sơn cốc, tên là Dục Di, trong sơn cốc có nhiều chim lạ, khải phong từ đây thổi ra.
              Lại hướng về phía đông 400 dặm, đến đầu của Phi sơn, trên núi có nhiều khoáng vật kim thuộc và ngọc thạch, không có nước, dưới núi có nhiều phúc trùng (*).
              Lại hướng về phía đông 500 dặm, có Dương Giáp sơn, trên núi không có cây cỏ, nhiều nước.

    Chú của nguyên tác
    1-     Khải phong : tức nam phong, phiếm chỉ gió mát.  

    Chú của người dịch
    *- Ở Đường Đình sơn 堂庭山, Viên Dực sơn 猨翼山 trong Sơn hải kinh – Nam sơn kinh山海经 - 南山经 có chú về “phúc trùng” như sau:
              Phúc trùng蝮虫: cũng gọi là “phản tị trùng” 反鼻虫, một loại rắn độc thời cổ.

                                                                            Huỳnh Chương Hưng
                                                                            Quy Nhơn 13/6/2018

    Nguyên tác
    MAO SƠN   PHI SƠN  DƯƠNG GIÁP SƠN
    旄山     阳夹山
    Trong quyển
    SƠN HẢI KINH
    山海经
    Tác giả: Lưu Hướng 刘向, Lưu Hâm 刘歆 (Tây Hán)
    Cáp nhĩ Tân: Bắc phương văn nghệ xuất bản xã, 2013 

    Dịch thuật: Mao sơn, Phi sơn, Dương Giáp sơn (Sơn hải kinh)

    Đăng lúc  11:31  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »



    旄山   非山   阳夹山
        又东四百里, 至于旄山之尾. 其南有谷, 曰育遗, 多怪鸟, 凯风 (1)自是出.
        又东四百里, 至于非山之首, 其上多金, , 无水, 其下多蝮虫.
        又东五百里, 曰阳夹之山, 无草木, 多水.
                                    (山海经 - 南山经)

    MAO SƠN   PHI SƠN   DƯƠNG GIÁP SƠN
              Hựu đông tứ bách lí, chí vu Mao sơn chi vĩ. Kì nam hữu cốc, viết Dục Di, đa quái điểu, khải phong (1) tự thị xuất.
              Hựu đông tứ bách lí, chí vu Phi sơn chi thủ, kì thượng đa kim, ngọc, vô thuỷ, kì hạ đa phúc trùng.
              Hựu đông ngũ bách lí, viết Dương Giáp chi sơn, vô thảo mộc, đa thuỷ.
                                                                         (Sơn hải kinh – Nam sơn kinh)

    MAO SƠN   PHI SƠN   DƯƠNG GIÁP SƠN
              Lại hướng về phía đông 400 dặm, là đến phần cuối của Mao sơn, phía nam của núi có một sơn cốc, tên là Dục Di, trong sơn cốc có nhiều chim lạ, khải phong từ đây thổi ra.
              Lại hướng về phía đông 400 dặm, đến đầu của Phi sơn, trên núi có nhiều khoáng vật kim thuộc và ngọc thạch, không có nước, dưới núi có nhiều phúc trùng (*).
              Lại hướng về phía đông 500 dặm, có Dương Giáp sơn, trên núi không có cây cỏ, nhiều nước.

    Chú của nguyên tác
    1-     Khải phong : tức nam phong, phiếm chỉ gió mát.  

    Chú của người dịch
    *- Ở Đường Đình sơn 堂庭山, Viên Dực sơn 猨翼山 trong Sơn hải kinh – Nam sơn kinh山海经 - 南山经 có chú về “phúc trùng” như sau:
              Phúc trùng蝮虫: cũng gọi là “phản tị trùng” 反鼻虫, một loại rắn độc thời cổ.

                                                                            Huỳnh Chương Hưng
                                                                            Quy Nhơn 13/6/2018

    Nguyên tác
    MAO SƠN   PHI SƠN  DƯƠNG GIÁP SƠN
    旄山     阳夹山
    Trong quyển
    SƠN HẢI KINH
    山海经
    Tác giả: Lưu Hướng 刘向, Lưu Hâm 刘歆 (Tây Hán)
    Cáp nhĩ Tân: Bắc phương văn nghệ xuất bản xã, 2013 

    Thứ Ba, 12 tháng 6, 2018

    LỄ TỤC
    (kì 2)

    QUÁN LỄ

              Theo nghiên cứu gần đây, nam nữ thanh niên trong xã hộ thị tộc sau khi đến thời kì trưởng thành, phải tham gia “thành đinh lễ” 成丁礼mới có thể trở thành thành viên chính thức của công xã thị tộc, mới có thể hưởng thụ quyền lợi vốn có và thực hiện mọi nghĩa vụ. “Quán lễ” 冠礼đời Chu (nghi thức “gia quan” 加冠 tức đội mũ) chính là từ “thành đinh lễ” biến hoá mà ra.
              Đời Chu, con trai quý tộc khi đến 20 tuổi sẽ do phụ thân chủ trì quán lễ tại tông miếu. Trước khi hành lễ phải “phệ nhật” 筮日(chọn ngày gia quan), “phệ tân” 筮宾 (chọn khách gia quan). Khi hành lễ, khách sẽ gia quan cho người con trai 3 lần: trước tiên là gia “tri bố quan” 缁布冠, biểu thị từ lúc này có đặc quyền làm người; thứ đến gia “bì biền” 皮弁, biểu thị từ lúc này phải phục vụ binh dịch; cuối cùng gia “tước biền” 爵弁, biểu thị từ lúc này có quyền tham gia tế tự (1). Sau khi khách mời rượu, người con trai sẽ đi yết kiến mẫu thân, và khách sẽ đặt cho tên “tự” , sau đó đi gặp cô dì anh em, cuối cùng đội mũ lễ, mặc lễ phục, mang lễ vật đi yết kiến quốc quân khanh đại phu và thầy. Sau khi chủ nhân mời rượu tặng lễ vật cho khách xong là lễ thành.  
              Con trai quý tộc đến 20 tuổi sau khi kết phát gia quan có thể lấy vợ, con gái quý tộc lên 15 tuổi được hứa gả, sau khi cử hành “kê lễ” 笄礼 (lễ cài trâm) sẽ kết phát gia kê. Gọi là “kết phát” 结发chính là vấn tóc thành búi trên đỉnh đầu (khu biệt với kiểu tóc của trẻ nhỏ), biểu thị đã đến tuổi “thành nhân”, có thể kết hôn. Ở Văn tuyển 文选quyển 29 trong bài thơ của Tô Vũ 苏武có câu:
    Kết phát vi phu thê
    Ân ái lưỡng bất nghi
    结发为夫妻
    恩爱两不疑
    (Vấn tóc cùng nhau kết làm vợ chồng
    Cả hai yêu thương không nghi ngờ gì)
    Có thể thấy phong tục này lưu truyền từ rất lâu.
                                                                                     (còn tiếp) 

    Chú của nguyên tác
    1- Tri bố quan 缁布冠: loại mũ được làm bằng vải gai màu đen.
              Bì biền 皮弁: loại mũ được làm bằng da hươu trắng.
              Tước biền 爵弁: loại mũ đỉnh bằng màu đỏ pha đen, dùng để đội trong lúc tế lễ.

                                                                   Huỳnh Chương Hưng
                                                                   Quy Nhơn 12/6/2018

    Nguồn
    TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI VĂN HOÁ THƯỜNG THỨC
    中国古代文化常识
    Chủ biên: Vương Lực 王力
    Bắc Kinh: Trung Quốc Nhân dân Đại học học xuất bản xã, 2012

    Dịch thuật: Lễ tục (kì 2 - Quán lễ)

    Đăng lúc  19:02  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    LỄ TỤC
    (kì 2)

    QUÁN LỄ

              Theo nghiên cứu gần đây, nam nữ thanh niên trong xã hộ thị tộc sau khi đến thời kì trưởng thành, phải tham gia “thành đinh lễ” 成丁礼mới có thể trở thành thành viên chính thức của công xã thị tộc, mới có thể hưởng thụ quyền lợi vốn có và thực hiện mọi nghĩa vụ. “Quán lễ” 冠礼đời Chu (nghi thức “gia quan” 加冠 tức đội mũ) chính là từ “thành đinh lễ” biến hoá mà ra.
              Đời Chu, con trai quý tộc khi đến 20 tuổi sẽ do phụ thân chủ trì quán lễ tại tông miếu. Trước khi hành lễ phải “phệ nhật” 筮日(chọn ngày gia quan), “phệ tân” 筮宾 (chọn khách gia quan). Khi hành lễ, khách sẽ gia quan cho người con trai 3 lần: trước tiên là gia “tri bố quan” 缁布冠, biểu thị từ lúc này có đặc quyền làm người; thứ đến gia “bì biền” 皮弁, biểu thị từ lúc này phải phục vụ binh dịch; cuối cùng gia “tước biền” 爵弁, biểu thị từ lúc này có quyền tham gia tế tự (1). Sau khi khách mời rượu, người con trai sẽ đi yết kiến mẫu thân, và khách sẽ đặt cho tên “tự” , sau đó đi gặp cô dì anh em, cuối cùng đội mũ lễ, mặc lễ phục, mang lễ vật đi yết kiến quốc quân khanh đại phu và thầy. Sau khi chủ nhân mời rượu tặng lễ vật cho khách xong là lễ thành.  
              Con trai quý tộc đến 20 tuổi sau khi kết phát gia quan có thể lấy vợ, con gái quý tộc lên 15 tuổi được hứa gả, sau khi cử hành “kê lễ” 笄礼 (lễ cài trâm) sẽ kết phát gia kê. Gọi là “kết phát” 结发chính là vấn tóc thành búi trên đỉnh đầu (khu biệt với kiểu tóc của trẻ nhỏ), biểu thị đã đến tuổi “thành nhân”, có thể kết hôn. Ở Văn tuyển 文选quyển 29 trong bài thơ của Tô Vũ 苏武có câu:
    Kết phát vi phu thê
    Ân ái lưỡng bất nghi
    结发为夫妻
    恩爱两不疑
    (Vấn tóc cùng nhau kết làm vợ chồng
    Cả hai yêu thương không nghi ngờ gì)
    Có thể thấy phong tục này lưu truyền từ rất lâu.
                                                                                     (còn tiếp) 

    Chú của nguyên tác
    1- Tri bố quan 缁布冠: loại mũ được làm bằng vải gai màu đen.
              Bì biền 皮弁: loại mũ được làm bằng da hươu trắng.
              Tước biền 爵弁: loại mũ đỉnh bằng màu đỏ pha đen, dùng để đội trong lúc tế lễ.

                                                                   Huỳnh Chương Hưng
                                                                   Quy Nhơn 12/6/2018

    Nguồn
    TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI VĂN HOÁ THƯỜNG THỨC
    中国古代文化常识
    Chủ biên: Vương Lực 王力
    Bắc Kinh: Trung Quốc Nhân dân Đại học học xuất bản xã, 2012

    Thứ Hai, 11 tháng 6, 2018

    SỬ THƯ THỜI XUÂN THU CHIẾN QUỐC
    (tiếp theo)

              Trang Công biết được thời gian họ nội ứng ngoại hợp, vui mừng nói rằng:
              - Lần này có thể ra tay được rồi!
              Trang Công liền hạ lệnh công tử Lữ thống lĩnh 200 chiến xa đi đến kinh thành công phạt. Bách tính ở kinh thành lần lượt quay lưng với Thúc Đoạn, Thúc Đoạn tháo chạy đến Yển thành 鄢城. Đội quân của Trang Công đuổi theo đến Yển thành, Thúc Đoạn bất đắc dĩ chạy đến nước Cộng .
              Sau khi Trang Công bức Thúc Đoạn tháo chạy, liền bắt giam Khương thị, đồng thời thề rằng:
               - Không đến suối vàng, quyết không gặp mặt.
              Nhưng chẳng bao lâu, lại hối hận đã làm như thế.
              Khảo Thúc 考叔biết được sự việc đó, nhân lúc hiến dâng cống phẩm đến gặp Trang Công. Khi Trang Công khoản đãi, Khảo Thúc cố ý để thịt qua một bên. Trang Công hỏi vì sao lại làm như thế. Khảo Thúc đáp rằng:
              - Tiểu nhân còn mẹ già, những thứ ở nhà bà đều đã ăn qua, chỉ chưa nếm được những món ngon của quốc quân. Nay xin quốc quân cho phép tiểu nhân đem những miếng thịt này về nhà cho mẹ.
              Trang Công nghe qua, cảm khái than rằng:
              - Ôi! Khanh hãy còn có mẹ, ta thì không!
              Khảo Thúc cố ý hỏi:
              - Xin hỏi đại vương, những lời đó có ý gì?
              Trang Công thuật lại sự việc mình đã thề không gặp Khương thị, đồng thời nói rằng rất hối hận về việc đó.
              Khảo Thúc nói rằng:
              - Điều đó có gì là khó đâu? Chỉ cần đào một đường hầm, đào đến lúc gặp nước suối, đại vương cùng lão phu nhân gặp mặt nơi đó, sẽ không có ai nói đại vương phản lại lời thề đâu.
              Trang Công cảm thấy rất có lí, bèn làm theo. Từ đó, Trang Công và Khương thị khôi phục lại mối quan hệ mẹ con.
              Tác phẩm Trịnh Bá khắc Đoạn vu Yển không chỉ ghi chép lại lịch sử, mà còn dùng giọng văn đĩnh đạc khắc hoạ một cách sinh động tính cách nguỵ thiện âm hiểm của Trịnh Trang Công, tính tự tư của Khương thị , sự ngu xuẩn và lòng tham quyền thế của Thúc Đoạn. Thông qua câu chuyện lịch sử này, tác giả đã vạch trần và phê bình nội bộ tập đoàn thống trị quý tộc vì tranh quyền đoạt lợi mà gây ra tình huống cốt nhục tương tàn.
    Trong sử liệu mà sử quan các nước thời Xuân Thu ghi chép, còn có một tác phẩm khác tương đối nổi tiếng, đó là Quốc ngữ 国语. Có người cho rằng tác phẩm đó do Tả Khâu Minh 左丘明biên soạn. Nhân vì nó không phải viết lời truyện cho Xuân Thu, cho nên cũng gọi là Xuân Thu ngoại truyện 春秋外传. Kì thực, bộ sách này là do người thời Chiến Quốc tập trung sử liệu của các nước biên soạn mà thành. Thể lệ của nó là lấy “quốc” làm đơn vị để thuật lại lịch sử, nội dung chủ yếu là những ngôn luận trọng yếu của quý tộc, cho nên gọi là “Quốc ngữ”. Còn như sự khu biệt giữa Quốc ngữTả truyện, chỉ là sự khác nhau giữa “phân quốc kỉ sự” 分国纪事và “biên niên kỉ sự” 编年纪事 mà thôi.
    Nhìn từ phương diện văn học, Quốc ngữ không như Tả truyện, nhưng ở một số thiên cũng có những đoạn miêu tả rất hay. Nhân vì Quốc ngữ chủ yếu ghi chép ngôn luận, nên về phương diện miêu tả đối thoại đa phần tương đối thành công. Thiệu Công gián nhị báng 召公谏弭谤  trong Quốc ngữ chính là một thiên như thế.
              Năm 849 trước công nguyên, Chu Lệ Vương 周厉王nghe theo mưu kế của Vinh Di Công 荣夷公 một kẻ giỏi vơ vét tiền tài, đã thực hành chính sách chuyên lợi, trực tiếp khống chế đối với sản vật tự nhiên của núi rừng sông hồ,  không cho bách tính dựa vào đó để mưu sinh, đồng thời áp chế một cách hung bạo, dẫn đến sự phản đối của bách tính, bách tính lũ lượt chỉ trích Lệ Vương. Nhưng, Lệ Vương cố chấp, ra sức sát hại những người phản đối, cấm chỉ mọi người nói năng.
              Thiệu Công 召公 rất bất mãn cách làm của Lệ Vương, khuyên ông ta rằng:
              - Bách tính chịu không nỗi chính lệnh bạo ngược của ngài.
              Chu Lệ Vương không những không nghe lời khuyên, mà ngược lại còn tìm một vu chúc (người cầu thần vấn quỷ) của nước Vệ, lệnh cho ông ta đi giám sát những người phản đối và chỉ trích mình. Chỉ cần vu chúc báo cáo ai phản đối, Lệ Vương liền giết chết. Như thế, bách tính không có ai còn dám nói những lời phản đối; gặp người quen trên đường, lúc chào nhau cũng chỉ đành dùng mắt ra hiệu.
              Lệ Vương vô cùng vui mừng, nói với Thiệu Công:
              - Ta có biện pháp “nhị báng” 弭谤 rồi (ngăn chặn sự phỉ báng), hiện tại ai cũng không dám phỉ báng ta nữa!
              Thiệu Công nghe Lệ Vương nói như thế, liền giảng một đoạn rất dài:
              - Ngài chẳng qua chỉ là bịt được miệng người. Bịt miệng bách tính, hậu quả của nó đáng sợ hơn ngăn chặn dòng nước. Người trị thuỷ luôn khơi thông đường nước, để nước có thể chảy dễ dàng; người quản lí dân chính, phải mở đường cho bách tính, để họ phát biểu ý kiến. Làm một bậc thiên tử phải thu nạp dư luận, khiến đại thần dâng ca dao dân ca, khiến sử quan dâng những bài giáo huấn lịch sử, khiến nhạc công diễn xướng những ca từ hoà thiện với người. Nên để cho những lời của bách tính có thể đến được bên tai, nên để cho thần tử mạnh dạn nói hết những lời can gián, nên để cho quan thái sử quản về lễ tiết chỉ dạy mọi việc tuân theo quy củ, nên để cho bậc trưởng bối có trí mưu, đức hạnh chỉ dạy mọi việc phải cẩn thận. Có như vậy, những việc mà thiên tử làm sẽ không bao giờ ngược với tình lí, không có nguyện vọng nào mà không phù hợp với bách tính.
              Thiệu Công thấy Lệ Vương có nghe nhưng không để trong lòng, liền tăng thêm ngữ khí, nói rằng:
              - Bách tính có miệng để nghị luận, cũng như trên mặt đất có núi cao sông lớn, có núi cao sông lớn mới sản sinh ra tài vật châu báu; cũng như trên mặt đất có bình nguyên, nơi thấp và ruộng đồng màu mỡ, có những nơi đó mới có y phục lương thực. Miệng của bách tính một khi được nói, việc tốt việc xấu đều phân biệt rõ ràng. Ngài nên làm nhiều những việc mà bách tính cho là tốt, ngăn ngừa những việc mà bách tính cho là xấu, như thế ngài sẽ có được tài nguyên dồi dào, y phục lương thực đầy đủ. Lời của bách tính là những lời mà họ đã nghĩ đi nghĩ lại trong lòng mới nói ra, kềm nén không được nên mới tuôn ra, làm sao có thể bịt lại được? Bịt chặt miệng mọi người thì còn được bao nhiêu người ủng hộ ngài?
              Cho dù Thiệu Công hết lời khuyên bảo, Lệ Vương vẫn không nghe. Và như vậy, bách tính một câu cũng không dám nói. Qua 3 năm, bách tính đã hành động, cuối cùng đuổi Lệ Vương bỏ chạy.
              Tính cách của hai nhân vật Thiệu Công và Lệ Vương trong Thiệu Công gián nhị báng召公谏弭谤 chủ yếu là dùng đối thoại để biểu hiện. Đặc biệt là lời của Thiệu Công, có tình có lí, dễ nghe, biểu hiện kĩ xảo miêu tả cao siêu của tác giả.
              Thời Chiến Quốc xuất hiện nhiều mưu sĩ thuyết khách. Họ thông qua ngôn từ du thuyết để triển khai hoạt động chính trị, từ đó xuất hiện những ghi chép có liên quan các loại ngôn luận và hoạt động của những nhân vật này. Đến triều Tần hoặc đầu thời Tây Hán, có người đem những ghi chép đó chỉnh lí lại thành sách, đó chính là Chiến quốc sách 战国策. Trên thực tế Chiến quốc sách là tập sách ghi chép những sách lược và truyền thuyết thời Chiến Quốc.
              Chiến quốc sách tuy cũng lấy việc ghi chép ngôn luận làm chính, nhưng về phương diện khắc hoạ nhân vật và miêu tả sự kiện lịch sử một cách hình tượng hoá, đều tiến một bước so với Quốc ngữ. Nó thuyết lí rõ ràng, lại giỏi ở chỗ vận dụng tỉ dụ và câu chuyện ngụ ngôn dân gian, do đó hình tượng càng sinh động. Tân Trang khuyến thuyết Sở Tương Vương 辛庄劝说楚襄王 có thể nói là một trong những tác phẩm đại biểu.
              Sau khi Sở Hoài Vương 楚怀王bị Tần Vương lừa gạt chết ở nước Tần, Sở Tương Vương 楚襄王kế vị, ông không những không nghĩ cách chấn hưng nước Sở, mà còn nghe theo bọn tiểu nhân, chìm đắm trong tửu sắc. Đại thần Tân Trang 辛庄 khuyên nên quyết tâm vươn lên, đồng thời cảnh cáo rằng nếu không thì nước Sở sẽ không còn.
              Tương Vương căn bản nghe không lọt tai những lời của Tân Trang, trách mắng ông ta đầu óc u tối. Trong tình hình đó, Tân Trang đến nước Triệu lánh thân một thời gian.
              Tân Trang đến nước Triệu chưa được nửa năm, quả nhiên nước Tần công hạ nhiều nơi trọng yếu của nước Sở. Tương Vương chạy đến Thành Dương 城阳mới nghĩ đến những dự ngôn lúc ban đầu của Tân Trang, liền sai người đón ông ta về nước.
              Tương Vương thấy Tân Trang, xấu hổ nói rằng:
              - Ta lúc đầu không nghe lời khuyên của tiên sinh, đến nỗi ngày nay đến nước này. Hiện ta phải làm sao đây?
              Tân Trang đáp rằng:
              - Lời tục có nói: ‘Nhìn thỏ rồi mới thả chó săn, đó không cho là muộn; mất bò mới lo làm chuồng, đó cũng không cho là chậm.’ Thương Thang và Chu Vũ Vương thời cổ, lúc đầu đất đai chẳng qua chỉ có mấy trăm dặm, về sau có được thiên hạ. Còn Hạ Kiệt và Thương Trụ, vốn có thiên hạ, nhưng cuối cùng bị diệt vong. Nay địa bàn nước Sở so với trước tuy nhỏ hơn, nhưng vẫn còn lớn đến mấy ngàn dặm. Chỉ cần ngài chăm chỉ sửa sai, thi hành đức chính giống Thương Thang, Chu Vũ Vương, nước Sở nhất định cường thịnh trở lại.
              Tiếp đó, Tân Trang dùng nhiều tỉ dụ, nói đi nói lại đạo lí đó.
              - Ngài lẽ nào chưa thấy qua chuồn chuồn sao? Nó chỉ có 6 chân với 4 mảnh cánh mỏng, bay thấp ăn muỗi, ngẩng đầu uống giọt sương, tự cho rằng không lo không lắng. Không ngờ thằng bé nghịch ngợm lấy nước đường bôi trên đầu sợi dây nhỏ, rồi nhắm đến nó mà ra tay. Rốt cuộc chuồn chuồn rơi xuống đất làm  mồi cho lũ kiến.
              Chuồn chuồn cho là nhỏ sao, thế thì chim sẻ cũng như vậy, bay thấp mổ thóc, bay cao dừng lại đậu trên cây, tự cho mình không lo không lắng, không ngờ bị trúng đạn, trở thành món mồi trong bữa rượu của con người.
              Chim sẽ vẫn cho là nhỏ sao, thế thì thiên nga cũng như thế. Nó bơi giữa sông biển, nghỉ bên cạnh hồ lớn, tự cho mình không lo không lắng. Không ngờ bị cung tên bắn trúng, trở thành món ngon thơm phức trong nồi.
              Sau khi vận dụng nhiều tỉ dụ, Tân Trang lại nói đến Tương Vương:
              - Tình hình của ngài cũng như thế. Cơm mà ngài ăn là gạo trắng, đồ trang sức trên xe toàn là vàng bạc, cả ngày cùng bọn tiểu nhân giong ngựa trên thảo nguyên, chẳng nghĩ đại sự trong thiên hạ. Không ngờ đại tướng của Tần Vương tiếp nhận mệnh lệnh, thống lĩnh đại quân đánh  Sở, chiếm lĩnh vùng đất rộng lớn, đuổi ngài chạy xa. Nếu hiện ngài vẫn chưa tỉnh ngộ, thì chỉ sợ nhanh chóng sẽ mất nước.
              Tương Vương nghe qua những lời ấy, sợ đến nỗi sắc mặt trắng bệch, toàn thân run rẩy, vội phong Tân Trang làm Dương Lăng Quân 阳陵君, về sau Tương Vương dùng mưu kế của Tân Trang mới thu phục được quốc thổ.
              Các bộ sử thư Xuân Thu, Tả truyện, Quốc ngữ, Chiến quốc sách đã bảo lưu cho người đời sau nhiều tư liệu lịch sử thời Xuân Thu Chiến Quốc. Mọi người đã dựa vào những bộ sử thư này, từ văn tự mới hiểu được tình hình chính trị, kinh tế, quân sự, tư tưởng. Giá trị văn hoá của những bộ sử thư này là vô cùng, không có cách gì đánh giá được. (hết)

                                                                 Huỳnh Chương Hưng
                                                                 Quy Nhơn 11/6/2018

    Nguyên tác Trung văn
    XUÂN THU CHIẾN QUỐC ĐÍCH SỬ THƯ
    春秋战国的史书
    Trong quyển
    VĂN HOÁ NGŨ THIÊN NIÊN
    Biên soạn: Vũ Nhân 羽人
    Thiếu niên nhi đồng xuất bản xã (không rõ năm xuất bản) 

    Dịch thuật: Sử thư thời Xuân Thu Chiến Quốc (tiếp theo)

    Đăng lúc  19:02  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    SỬ THƯ THỜI XUÂN THU CHIẾN QUỐC
    (tiếp theo)

              Trang Công biết được thời gian họ nội ứng ngoại hợp, vui mừng nói rằng:
              - Lần này có thể ra tay được rồi!
              Trang Công liền hạ lệnh công tử Lữ thống lĩnh 200 chiến xa đi đến kinh thành công phạt. Bách tính ở kinh thành lần lượt quay lưng với Thúc Đoạn, Thúc Đoạn tháo chạy đến Yển thành 鄢城. Đội quân của Trang Công đuổi theo đến Yển thành, Thúc Đoạn bất đắc dĩ chạy đến nước Cộng .
              Sau khi Trang Công bức Thúc Đoạn tháo chạy, liền bắt giam Khương thị, đồng thời thề rằng:
               - Không đến suối vàng, quyết không gặp mặt.
              Nhưng chẳng bao lâu, lại hối hận đã làm như thế.
              Khảo Thúc 考叔biết được sự việc đó, nhân lúc hiến dâng cống phẩm đến gặp Trang Công. Khi Trang Công khoản đãi, Khảo Thúc cố ý để thịt qua một bên. Trang Công hỏi vì sao lại làm như thế. Khảo Thúc đáp rằng:
              - Tiểu nhân còn mẹ già, những thứ ở nhà bà đều đã ăn qua, chỉ chưa nếm được những món ngon của quốc quân. Nay xin quốc quân cho phép tiểu nhân đem những miếng thịt này về nhà cho mẹ.
              Trang Công nghe qua, cảm khái than rằng:
              - Ôi! Khanh hãy còn có mẹ, ta thì không!
              Khảo Thúc cố ý hỏi:
              - Xin hỏi đại vương, những lời đó có ý gì?
              Trang Công thuật lại sự việc mình đã thề không gặp Khương thị, đồng thời nói rằng rất hối hận về việc đó.
              Khảo Thúc nói rằng:
              - Điều đó có gì là khó đâu? Chỉ cần đào một đường hầm, đào đến lúc gặp nước suối, đại vương cùng lão phu nhân gặp mặt nơi đó, sẽ không có ai nói đại vương phản lại lời thề đâu.
              Trang Công cảm thấy rất có lí, bèn làm theo. Từ đó, Trang Công và Khương thị khôi phục lại mối quan hệ mẹ con.
              Tác phẩm Trịnh Bá khắc Đoạn vu Yển không chỉ ghi chép lại lịch sử, mà còn dùng giọng văn đĩnh đạc khắc hoạ một cách sinh động tính cách nguỵ thiện âm hiểm của Trịnh Trang Công, tính tự tư của Khương thị , sự ngu xuẩn và lòng tham quyền thế của Thúc Đoạn. Thông qua câu chuyện lịch sử này, tác giả đã vạch trần và phê bình nội bộ tập đoàn thống trị quý tộc vì tranh quyền đoạt lợi mà gây ra tình huống cốt nhục tương tàn.
    Trong sử liệu mà sử quan các nước thời Xuân Thu ghi chép, còn có một tác phẩm khác tương đối nổi tiếng, đó là Quốc ngữ 国语. Có người cho rằng tác phẩm đó do Tả Khâu Minh 左丘明biên soạn. Nhân vì nó không phải viết lời truyện cho Xuân Thu, cho nên cũng gọi là Xuân Thu ngoại truyện 春秋外传. Kì thực, bộ sách này là do người thời Chiến Quốc tập trung sử liệu của các nước biên soạn mà thành. Thể lệ của nó là lấy “quốc” làm đơn vị để thuật lại lịch sử, nội dung chủ yếu là những ngôn luận trọng yếu của quý tộc, cho nên gọi là “Quốc ngữ”. Còn như sự khu biệt giữa Quốc ngữTả truyện, chỉ là sự khác nhau giữa “phân quốc kỉ sự” 分国纪事và “biên niên kỉ sự” 编年纪事 mà thôi.
    Nhìn từ phương diện văn học, Quốc ngữ không như Tả truyện, nhưng ở một số thiên cũng có những đoạn miêu tả rất hay. Nhân vì Quốc ngữ chủ yếu ghi chép ngôn luận, nên về phương diện miêu tả đối thoại đa phần tương đối thành công. Thiệu Công gián nhị báng 召公谏弭谤  trong Quốc ngữ chính là một thiên như thế.
              Năm 849 trước công nguyên, Chu Lệ Vương 周厉王nghe theo mưu kế của Vinh Di Công 荣夷公 một kẻ giỏi vơ vét tiền tài, đã thực hành chính sách chuyên lợi, trực tiếp khống chế đối với sản vật tự nhiên của núi rừng sông hồ,  không cho bách tính dựa vào đó để mưu sinh, đồng thời áp chế một cách hung bạo, dẫn đến sự phản đối của bách tính, bách tính lũ lượt chỉ trích Lệ Vương. Nhưng, Lệ Vương cố chấp, ra sức sát hại những người phản đối, cấm chỉ mọi người nói năng.
              Thiệu Công 召公 rất bất mãn cách làm của Lệ Vương, khuyên ông ta rằng:
              - Bách tính chịu không nỗi chính lệnh bạo ngược của ngài.
              Chu Lệ Vương không những không nghe lời khuyên, mà ngược lại còn tìm một vu chúc (người cầu thần vấn quỷ) của nước Vệ, lệnh cho ông ta đi giám sát những người phản đối và chỉ trích mình. Chỉ cần vu chúc báo cáo ai phản đối, Lệ Vương liền giết chết. Như thế, bách tính không có ai còn dám nói những lời phản đối; gặp người quen trên đường, lúc chào nhau cũng chỉ đành dùng mắt ra hiệu.
              Lệ Vương vô cùng vui mừng, nói với Thiệu Công:
              - Ta có biện pháp “nhị báng” 弭谤 rồi (ngăn chặn sự phỉ báng), hiện tại ai cũng không dám phỉ báng ta nữa!
              Thiệu Công nghe Lệ Vương nói như thế, liền giảng một đoạn rất dài:
              - Ngài chẳng qua chỉ là bịt được miệng người. Bịt miệng bách tính, hậu quả của nó đáng sợ hơn ngăn chặn dòng nước. Người trị thuỷ luôn khơi thông đường nước, để nước có thể chảy dễ dàng; người quản lí dân chính, phải mở đường cho bách tính, để họ phát biểu ý kiến. Làm một bậc thiên tử phải thu nạp dư luận, khiến đại thần dâng ca dao dân ca, khiến sử quan dâng những bài giáo huấn lịch sử, khiến nhạc công diễn xướng những ca từ hoà thiện với người. Nên để cho những lời của bách tính có thể đến được bên tai, nên để cho thần tử mạnh dạn nói hết những lời can gián, nên để cho quan thái sử quản về lễ tiết chỉ dạy mọi việc tuân theo quy củ, nên để cho bậc trưởng bối có trí mưu, đức hạnh chỉ dạy mọi việc phải cẩn thận. Có như vậy, những việc mà thiên tử làm sẽ không bao giờ ngược với tình lí, không có nguyện vọng nào mà không phù hợp với bách tính.
              Thiệu Công thấy Lệ Vương có nghe nhưng không để trong lòng, liền tăng thêm ngữ khí, nói rằng:
              - Bách tính có miệng để nghị luận, cũng như trên mặt đất có núi cao sông lớn, có núi cao sông lớn mới sản sinh ra tài vật châu báu; cũng như trên mặt đất có bình nguyên, nơi thấp và ruộng đồng màu mỡ, có những nơi đó mới có y phục lương thực. Miệng của bách tính một khi được nói, việc tốt việc xấu đều phân biệt rõ ràng. Ngài nên làm nhiều những việc mà bách tính cho là tốt, ngăn ngừa những việc mà bách tính cho là xấu, như thế ngài sẽ có được tài nguyên dồi dào, y phục lương thực đầy đủ. Lời của bách tính là những lời mà họ đã nghĩ đi nghĩ lại trong lòng mới nói ra, kềm nén không được nên mới tuôn ra, làm sao có thể bịt lại được? Bịt chặt miệng mọi người thì còn được bao nhiêu người ủng hộ ngài?
              Cho dù Thiệu Công hết lời khuyên bảo, Lệ Vương vẫn không nghe. Và như vậy, bách tính một câu cũng không dám nói. Qua 3 năm, bách tính đã hành động, cuối cùng đuổi Lệ Vương bỏ chạy.
              Tính cách của hai nhân vật Thiệu Công và Lệ Vương trong Thiệu Công gián nhị báng召公谏弭谤 chủ yếu là dùng đối thoại để biểu hiện. Đặc biệt là lời của Thiệu Công, có tình có lí, dễ nghe, biểu hiện kĩ xảo miêu tả cao siêu của tác giả.
              Thời Chiến Quốc xuất hiện nhiều mưu sĩ thuyết khách. Họ thông qua ngôn từ du thuyết để triển khai hoạt động chính trị, từ đó xuất hiện những ghi chép có liên quan các loại ngôn luận và hoạt động của những nhân vật này. Đến triều Tần hoặc đầu thời Tây Hán, có người đem những ghi chép đó chỉnh lí lại thành sách, đó chính là Chiến quốc sách 战国策. Trên thực tế Chiến quốc sách là tập sách ghi chép những sách lược và truyền thuyết thời Chiến Quốc.
              Chiến quốc sách tuy cũng lấy việc ghi chép ngôn luận làm chính, nhưng về phương diện khắc hoạ nhân vật và miêu tả sự kiện lịch sử một cách hình tượng hoá, đều tiến một bước so với Quốc ngữ. Nó thuyết lí rõ ràng, lại giỏi ở chỗ vận dụng tỉ dụ và câu chuyện ngụ ngôn dân gian, do đó hình tượng càng sinh động. Tân Trang khuyến thuyết Sở Tương Vương 辛庄劝说楚襄王 có thể nói là một trong những tác phẩm đại biểu.
              Sau khi Sở Hoài Vương 楚怀王bị Tần Vương lừa gạt chết ở nước Tần, Sở Tương Vương 楚襄王kế vị, ông không những không nghĩ cách chấn hưng nước Sở, mà còn nghe theo bọn tiểu nhân, chìm đắm trong tửu sắc. Đại thần Tân Trang 辛庄 khuyên nên quyết tâm vươn lên, đồng thời cảnh cáo rằng nếu không thì nước Sở sẽ không còn.
              Tương Vương căn bản nghe không lọt tai những lời của Tân Trang, trách mắng ông ta đầu óc u tối. Trong tình hình đó, Tân Trang đến nước Triệu lánh thân một thời gian.
              Tân Trang đến nước Triệu chưa được nửa năm, quả nhiên nước Tần công hạ nhiều nơi trọng yếu của nước Sở. Tương Vương chạy đến Thành Dương 城阳mới nghĩ đến những dự ngôn lúc ban đầu của Tân Trang, liền sai người đón ông ta về nước.
              Tương Vương thấy Tân Trang, xấu hổ nói rằng:
              - Ta lúc đầu không nghe lời khuyên của tiên sinh, đến nỗi ngày nay đến nước này. Hiện ta phải làm sao đây?
              Tân Trang đáp rằng:
              - Lời tục có nói: ‘Nhìn thỏ rồi mới thả chó săn, đó không cho là muộn; mất bò mới lo làm chuồng, đó cũng không cho là chậm.’ Thương Thang và Chu Vũ Vương thời cổ, lúc đầu đất đai chẳng qua chỉ có mấy trăm dặm, về sau có được thiên hạ. Còn Hạ Kiệt và Thương Trụ, vốn có thiên hạ, nhưng cuối cùng bị diệt vong. Nay địa bàn nước Sở so với trước tuy nhỏ hơn, nhưng vẫn còn lớn đến mấy ngàn dặm. Chỉ cần ngài chăm chỉ sửa sai, thi hành đức chính giống Thương Thang, Chu Vũ Vương, nước Sở nhất định cường thịnh trở lại.
              Tiếp đó, Tân Trang dùng nhiều tỉ dụ, nói đi nói lại đạo lí đó.
              - Ngài lẽ nào chưa thấy qua chuồn chuồn sao? Nó chỉ có 6 chân với 4 mảnh cánh mỏng, bay thấp ăn muỗi, ngẩng đầu uống giọt sương, tự cho rằng không lo không lắng. Không ngờ thằng bé nghịch ngợm lấy nước đường bôi trên đầu sợi dây nhỏ, rồi nhắm đến nó mà ra tay. Rốt cuộc chuồn chuồn rơi xuống đất làm  mồi cho lũ kiến.
              Chuồn chuồn cho là nhỏ sao, thế thì chim sẻ cũng như vậy, bay thấp mổ thóc, bay cao dừng lại đậu trên cây, tự cho mình không lo không lắng, không ngờ bị trúng đạn, trở thành món mồi trong bữa rượu của con người.
              Chim sẽ vẫn cho là nhỏ sao, thế thì thiên nga cũng như thế. Nó bơi giữa sông biển, nghỉ bên cạnh hồ lớn, tự cho mình không lo không lắng. Không ngờ bị cung tên bắn trúng, trở thành món ngon thơm phức trong nồi.
              Sau khi vận dụng nhiều tỉ dụ, Tân Trang lại nói đến Tương Vương:
              - Tình hình của ngài cũng như thế. Cơm mà ngài ăn là gạo trắng, đồ trang sức trên xe toàn là vàng bạc, cả ngày cùng bọn tiểu nhân giong ngựa trên thảo nguyên, chẳng nghĩ đại sự trong thiên hạ. Không ngờ đại tướng của Tần Vương tiếp nhận mệnh lệnh, thống lĩnh đại quân đánh  Sở, chiếm lĩnh vùng đất rộng lớn, đuổi ngài chạy xa. Nếu hiện ngài vẫn chưa tỉnh ngộ, thì chỉ sợ nhanh chóng sẽ mất nước.
              Tương Vương nghe qua những lời ấy, sợ đến nỗi sắc mặt trắng bệch, toàn thân run rẩy, vội phong Tân Trang làm Dương Lăng Quân 阳陵君, về sau Tương Vương dùng mưu kế của Tân Trang mới thu phục được quốc thổ.
              Các bộ sử thư Xuân Thu, Tả truyện, Quốc ngữ, Chiến quốc sách đã bảo lưu cho người đời sau nhiều tư liệu lịch sử thời Xuân Thu Chiến Quốc. Mọi người đã dựa vào những bộ sử thư này, từ văn tự mới hiểu được tình hình chính trị, kinh tế, quân sự, tư tưởng. Giá trị văn hoá của những bộ sử thư này là vô cùng, không có cách gì đánh giá được. (hết)

                                                                 Huỳnh Chương Hưng
                                                                 Quy Nhơn 11/6/2018

    Nguyên tác Trung văn
    XUÂN THU CHIẾN QUỐC ĐÍCH SỬ THƯ
    春秋战国的史书
    Trong quyển
    VĂN HOÁ NGŨ THIÊN NIÊN
    Biên soạn: Vũ Nhân 羽人
    Thiếu niên nhi đồng xuất bản xã (không rõ năm xuất bản) 

    Mã nguồn bởi Huỳnh Chương Hưng
    Copyright © 2012 Huỳnh Chương Hưng.
    back to top