• Chủ Nhật, 3 tháng 12, 2017

    HỒ PHỤC XẠ KỊ
    (kì 1)

    Lời dẫn
              Khi Triệu Vũ Linh Vương 赵武灵王 lên ngôi, nước Triệu đang ở vào thời kì suy yếu, không ngừng bị nước lớn và các dân tộc du mục phương bắc áp bức quấy nhiễu. Triệu Vũ Linh Vương nhìn thấy người Hồ  mặc áo ngắn với ống tay chật, việc đi lại sinh hoạt và săn bắn tác chiến đều tương đối thuận tiện. Kị binh, cung tiễn mà họ dùng khi tác chiến, so với binh xa, trường mâu của trung nguyên đều có tính cơ động linh hoạt rất lớn.
              Để làm cho nước giàu binh mạnh, Triệu Vũ Linh Vương đề xuất chủ trương “mặc Hồ phục” “tập kị xạ”, quyết tâm lấy chỗ mạnh của người Hồ bổ sung cho chỗ yếu của trung nguyên. Nội dung trung tâm của việc cải cách là mặc phục trang của người Hồ, học tập phương pháp tác chiến cưỡi ngựa bắn cung của người Hồ.
              Cuộc cải cách “Hồ phục xạ kị” 胡服射骑đã khiến năng lực sản xuất và thực lực quân sự của nước Triệu được nâng cao rất nhiều, phát huy tác dụng to lớn trong cuộc đối kháng với dân tộc phương bắc và các chư hầu ở trung nguyên. Bắt đầu từ năm thứ 2 thực hiện “Hồ phục xạ kị”, quốc lực của nước Triệu dần mạnh lên, đặc biệt là lực lượng quân sự ngày càng tăng cường. Nước Triệu về phía tây đẩy lui được người Hồ, đoạt lấy Lâm Hồ 林胡, Lâu Phiền 楼烦, đồng thời thiết lập 3 khu vực hành chính là Vân Trung 云中, Nhạn Môn 雁门 và Đại quận 代郡, phạm vi quản hạt đạt đến khu vực Hà Sáo 河套ngày nay, đồng thời  mở rộng cương vực lên đến cả ngàn dặm, phía bắc diệt nước Trung Sơn 中山, trở thành một trong “Chiến Quốc thất hùng”.
              “Hồ phục xạ kị” là sự cải cách to lớn, được sử học gia các đời truyền thành giai thoại. Dưới bối cảnh chính trị vương triều trung nguyên xem dân tộc thiểu số là “dị loại”, Triệu Vũ Linh Vương đã dám lấy tinh thần trước tiên vì thiên hạ, ra sức bài bác những dị nghị của mọi người, xông phá trở ngại của thế lực thủ cựu, kiên quyết học tập Di Địch, biểu hiện phách lực và nhận thức của một nhà cải cách trong xã hội cổ đại.

              周赧王八年 (甲寅, 公元前 307 ).
              赵武灵王北略中山之地 (1), 至房子 (2), 遂至代 (3), 北至无穷 (4), 西至河 (5), 登黄华之上 (6). 与肥义谋胡服射骑以教百姓 (7), : “愚者所笑, 贤者察焉. 虽驱世以笑我 (8), 胡地, 中山, 吾必有之!” 遂胡服.

    Phiên âm
              Chu Noãn vương bát niên (Giáp Dần, công nguyên tiền 307 niên)
              Triệu Vũ Linh Vương  bắc lược Trung Sơn chi địa (1), chí Phòng Tử (2), toại chí Đại (3), bắc chí vô cùng (4), tây chí Hà (5), đăng Hoàng Hoa chi thượng (6). Dữ Phì Nghĩa mưu Hồ phục xạ kị dĩ giáo bách tính (7), viết: “Ngu giả sở tiếu, hiền giả sát yên. Tuy khu thế dĩ tiếu ngã (8), Hồ địa, Trung Sơn, ngô tất hữu chi!” Toại Hồ phục.

    Chú thích
    1- Triệu Vũ Linh Vương 赵武灵王 : tên Ung , con của Triệu Túc Hầu 赵肃侯, lên ngôi năm Chu Hiển Vương 周显王  thứ 44 (năm 325 trước công nguyên). Để tăng cường việc phòng vệ biên cương, Triệu Vũ Linh Vương năm thứ 19 (năm 307 trước công nguyên) hạ lệnh “Hồ phục xạ kị”.
              Hồ phục 胡服: phục trang của dân tộc du mục phương bắc thời Chiến Quốc, áo ngắn, ống tay áo chật, mang ủng và đai da, đầu đội mũ có gắn lông chim.
              Bắc lược 北略: hướng đến phía bắc công chiếm.
              Trung Sơn chi địa 中山之地: lãnh thổ nước Trung Sơn, nay là vùng Định Châu 定州Hà Bắc 河北. Trung Sơn là tên của một nước thời cổ.
    2- Phòng Tử 房子: một địa danh cổ, nay là Lâm Thành 临城 Hà Bắc 河北.
    3- Đại : một địa danh cổ, Đại quận 代郡, nay là vùng Đại Đồng 大同 Sơn Tây 山西.
    4- Vô cùng 无穷: từ Đại quận ra đến ngoài biên tái là mấy ngàn dặm sa mạc, cho nên gọi là “vô cùng”.
    5- : Hoàng hà 黄河.
    6- Hoàng Hoa 黄华: tên núi bên bờ Hoàng hà.
    7- Phì Nghĩa 肥义: Tướng quốc nước Triệu.
    8- Khu thế 驱世: ý nói người trên đời.

    Dịch nghĩa
              Chu Noãn Vương năm thứ 8 (Giáp Dần, năm 307 trước công nguyên)
              Triệu Vũ Linh Vương chinh phạt nước Trung Sơn phía bắc, đại quân tấn công đến thành Phòng Tử, rồi đến đất Đại, sau đó hướng về phía bắc tấn công đến vùng đại mạc, hướng về phía tây tấn công đến Hoàng hà, leo lên đỉnh Hoàng Hoa. Ông cùng đại thần Phì Nghĩa bàn bạc để bách tính mặc áo kiểu người Hồ, học tập cách cưỡi ngựa bắn cung. Triệu Vũ Linh Vương nói rằng:
              - Người ngu xuẩn sẽ cười nhạo việc làm của ta, nhưng người thông minh thì có thể lí giải được. Cho dù người trong thiên hạ chê cười ta, ta cũng phải làm việc này, ta nhất định đem lãnh địa của người Hồ phương bắc và nước Trung Sơn làm sở hữu của mình!
              Thế là Triệu Vũ Linh Vương dẫn đầu trong việc đổi sang mặc Hồ phục.


                                                                 Huỳnh Chương Hưng
                                                                 Quy Nhơn 03/12/2017

    Nguồn
    TƯ TRỊ THÔNG GIÁM
    资治通鉴
    Bắc Tống . Tư Mã Quang 司马光
    Chủ biên: Nhậm Tư Vũ 任思武
    Bắc Kinh . Trung Quốc Hoa kiều xuất bản xã, 2013

    Dịch thuật: Hồ phục xạ kị (kì 1) (Tư trị thông giám)

    Đăng lúc  09:22  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    HỒ PHỤC XẠ KỊ
    (kì 1)

    Lời dẫn
              Khi Triệu Vũ Linh Vương 赵武灵王 lên ngôi, nước Triệu đang ở vào thời kì suy yếu, không ngừng bị nước lớn và các dân tộc du mục phương bắc áp bức quấy nhiễu. Triệu Vũ Linh Vương nhìn thấy người Hồ  mặc áo ngắn với ống tay chật, việc đi lại sinh hoạt và săn bắn tác chiến đều tương đối thuận tiện. Kị binh, cung tiễn mà họ dùng khi tác chiến, so với binh xa, trường mâu của trung nguyên đều có tính cơ động linh hoạt rất lớn.
              Để làm cho nước giàu binh mạnh, Triệu Vũ Linh Vương đề xuất chủ trương “mặc Hồ phục” “tập kị xạ”, quyết tâm lấy chỗ mạnh của người Hồ bổ sung cho chỗ yếu của trung nguyên. Nội dung trung tâm của việc cải cách là mặc phục trang của người Hồ, học tập phương pháp tác chiến cưỡi ngựa bắn cung của người Hồ.
              Cuộc cải cách “Hồ phục xạ kị” 胡服射骑đã khiến năng lực sản xuất và thực lực quân sự của nước Triệu được nâng cao rất nhiều, phát huy tác dụng to lớn trong cuộc đối kháng với dân tộc phương bắc và các chư hầu ở trung nguyên. Bắt đầu từ năm thứ 2 thực hiện “Hồ phục xạ kị”, quốc lực của nước Triệu dần mạnh lên, đặc biệt là lực lượng quân sự ngày càng tăng cường. Nước Triệu về phía tây đẩy lui được người Hồ, đoạt lấy Lâm Hồ 林胡, Lâu Phiền 楼烦, đồng thời thiết lập 3 khu vực hành chính là Vân Trung 云中, Nhạn Môn 雁门 và Đại quận 代郡, phạm vi quản hạt đạt đến khu vực Hà Sáo 河套ngày nay, đồng thời  mở rộng cương vực lên đến cả ngàn dặm, phía bắc diệt nước Trung Sơn 中山, trở thành một trong “Chiến Quốc thất hùng”.
              “Hồ phục xạ kị” là sự cải cách to lớn, được sử học gia các đời truyền thành giai thoại. Dưới bối cảnh chính trị vương triều trung nguyên xem dân tộc thiểu số là “dị loại”, Triệu Vũ Linh Vương đã dám lấy tinh thần trước tiên vì thiên hạ, ra sức bài bác những dị nghị của mọi người, xông phá trở ngại của thế lực thủ cựu, kiên quyết học tập Di Địch, biểu hiện phách lực và nhận thức của một nhà cải cách trong xã hội cổ đại.

              周赧王八年 (甲寅, 公元前 307 ).
              赵武灵王北略中山之地 (1), 至房子 (2), 遂至代 (3), 北至无穷 (4), 西至河 (5), 登黄华之上 (6). 与肥义谋胡服射骑以教百姓 (7), : “愚者所笑, 贤者察焉. 虽驱世以笑我 (8), 胡地, 中山, 吾必有之!” 遂胡服.

    Phiên âm
              Chu Noãn vương bát niên (Giáp Dần, công nguyên tiền 307 niên)
              Triệu Vũ Linh Vương  bắc lược Trung Sơn chi địa (1), chí Phòng Tử (2), toại chí Đại (3), bắc chí vô cùng (4), tây chí Hà (5), đăng Hoàng Hoa chi thượng (6). Dữ Phì Nghĩa mưu Hồ phục xạ kị dĩ giáo bách tính (7), viết: “Ngu giả sở tiếu, hiền giả sát yên. Tuy khu thế dĩ tiếu ngã (8), Hồ địa, Trung Sơn, ngô tất hữu chi!” Toại Hồ phục.

    Chú thích
    1- Triệu Vũ Linh Vương 赵武灵王 : tên Ung , con của Triệu Túc Hầu 赵肃侯, lên ngôi năm Chu Hiển Vương 周显王  thứ 44 (năm 325 trước công nguyên). Để tăng cường việc phòng vệ biên cương, Triệu Vũ Linh Vương năm thứ 19 (năm 307 trước công nguyên) hạ lệnh “Hồ phục xạ kị”.
              Hồ phục 胡服: phục trang của dân tộc du mục phương bắc thời Chiến Quốc, áo ngắn, ống tay áo chật, mang ủng và đai da, đầu đội mũ có gắn lông chim.
              Bắc lược 北略: hướng đến phía bắc công chiếm.
              Trung Sơn chi địa 中山之地: lãnh thổ nước Trung Sơn, nay là vùng Định Châu 定州Hà Bắc 河北. Trung Sơn là tên của một nước thời cổ.
    2- Phòng Tử 房子: một địa danh cổ, nay là Lâm Thành 临城 Hà Bắc 河北.
    3- Đại : một địa danh cổ, Đại quận 代郡, nay là vùng Đại Đồng 大同 Sơn Tây 山西.
    4- Vô cùng 无穷: từ Đại quận ra đến ngoài biên tái là mấy ngàn dặm sa mạc, cho nên gọi là “vô cùng”.
    5- : Hoàng hà 黄河.
    6- Hoàng Hoa 黄华: tên núi bên bờ Hoàng hà.
    7- Phì Nghĩa 肥义: Tướng quốc nước Triệu.
    8- Khu thế 驱世: ý nói người trên đời.

    Dịch nghĩa
              Chu Noãn Vương năm thứ 8 (Giáp Dần, năm 307 trước công nguyên)
              Triệu Vũ Linh Vương chinh phạt nước Trung Sơn phía bắc, đại quân tấn công đến thành Phòng Tử, rồi đến đất Đại, sau đó hướng về phía bắc tấn công đến vùng đại mạc, hướng về phía tây tấn công đến Hoàng hà, leo lên đỉnh Hoàng Hoa. Ông cùng đại thần Phì Nghĩa bàn bạc để bách tính mặc áo kiểu người Hồ, học tập cách cưỡi ngựa bắn cung. Triệu Vũ Linh Vương nói rằng:
              - Người ngu xuẩn sẽ cười nhạo việc làm của ta, nhưng người thông minh thì có thể lí giải được. Cho dù người trong thiên hạ chê cười ta, ta cũng phải làm việc này, ta nhất định đem lãnh địa của người Hồ phương bắc và nước Trung Sơn làm sở hữu của mình!
              Thế là Triệu Vũ Linh Vương dẫn đầu trong việc đổi sang mặc Hồ phục.


                                                                 Huỳnh Chương Hưng
                                                                 Quy Nhơn 03/12/2017

    Nguồn
    TƯ TRỊ THÔNG GIÁM
    资治通鉴
    Bắc Tống . Tư Mã Quang 司马光
    Chủ biên: Nhậm Tư Vũ 任思武
    Bắc Kinh . Trung Quốc Hoa kiều xuất bản xã, 2013

    Thứ Bảy, 2 tháng 12, 2017

    THÀ LÀ NGỌC NÁT CÒN HƠN NGÓI LÀNH

              Bắc Nguỵ 北魏về sau này chia thành Đông Nguỵ 东魏và Tây Nguỵ 西魏. Cao Dương 高洋đoạt lấy chính quyền Đông Nguỵ, kiến lập Bắc Tề 北齐. Xuất phát từ việc muốn củng cố sự thống trị của mình, Cao Dương đã tiến hành thanh trừ đại quy mô họ Nguyên quý tộc Đông Nguỵ.
              Một ngày nọ, Cao Dương đến Tấn Dương 晋阳, rất sợ quý tộc họ Nguyên thừa cơ tạo phản, bảo đem quý tộc họ Nguyên ra tru sát. Lúc bấy giờ, viên Huyện lệnh Định Tương 定襄là Nguyên Cảnh An 元景安muốn xin được đổi sang họ Cao để khỏi chết.
              Người anh họ của Nguyên Cảnh An là Nguyên Cảnh Hạo 元景皓kiên quyết phản đối, nghiêm khắc nói rằng:
              - Làm sao có thể bỏ tổ tiên  mà đổi sang họ khác được. Đại trượng phu thà làm ngọc nát chứ không thèm làm ngói lành.
              Để lấy lòng Cao Dương, Nguyên Cảnh An đã bán đứng người anh họ của mình, Nguyên Cảnh Hạo bị Cao Dương giết chết, còn Nguyên Cảnh An được ban họ Cao, thoát khỏi cái chết.
              Về sau, người ta lấy câu “thà làm ngọc nát chứ không thèm làm ngói lành” (ninh vi ngọc toái, bất vi ngoã toàn - 宁为玉碎 - 不为瓦全) để ví với việc thà vì chính nghĩa mà chết chứ không chịu sống hèn.

    Chú của người dịch
    Bắc Nguỵ 北魏  (năm 386 – năm 534)
              Bắc Nguỵ là chính quyền phương bắc do Thác Bạt Khuê 拓跋珪  tộc Tiên Ti 鲜卑 kiến lập, và cũng là vương triều đầu tiên của thời kì Nam Bắc triều.
              Năm 386, nhân lúc Tiền Tần chia năm xẻ bảy, Thác Bạt Khuê tại Ngưu Xuyên 牛川xưng Vương, xây dựng lại nước Đại , định đô tại Thịnh Lạc 盛乐 (nay là thành phố Hô Hoà Hạo Đặc 呼和浩特 và huyện Lâm Cách Nhĩ 林格尔 của Nội Mông). Cũng trong năm đó, đổi xưng là Nguỵ Vương. Tháng 6 năm 398 đổi quốc hiệu là Nguỵ , sử gọi là Bắc Nguỵ.
              Tháng 7 năm 398, Đạo Vũ Đế Thác Bạt Khuê 道武帝拓跋珪dời đô đến Bình Thành 平城 (nay là thành phố Đại Đồng 大同 Sơn Tây 山西), xưng Đế.
              Năm 439, Thái Vũ Đế Thác Bạt Đào 太武帝拓跋焘thống nhất phương bắc.
              Năm 493, Hiếu Văn Đế Thác Bạt Hoành 孝武帝拓跋宏dời đô đến Lạc Dương 洛阳, tiến hành cải cách.
              Năm 534 phân thành Đông Nguỵ và Tây Nguỵ. Năm Vũ Định 武定thứ 8 triều Đông Nguỵ, Cao Dương 高洋 phế Hiếu Tĩnh Đế 孝静帝 thay Đông Nguỵ tự lập, kiến lập triều Bắc Tề 北齐.
              Năm Cung Đế 恭帝 thứ 3 triều Tây Nguỵ (năm 557), nhường ngôi cho Vũ Văn Giác 武文觉, kiến lập triều Bắc Chu 北周. Lịch sử Bắc Nguỵ tuyên cáo kết thúc.
              Từ năm 386 Đạo Vũ Đế Thác Bạt Khuê trùng kiến nước Đại đến năm 534 phân liệt là chấm dứt, tổng cộng trải qua 20 đế, hưởng quốc 148 năm.
              Theo http://baike.baidu.com/item

                                                                    Huỳnh Chương Hưng
                                                                 Quy Nhơn 02/12/2017

    Nguồn
    HOÀNG TRIỀU ĐIỂN CỐ KỈ VĂN
    皇朝典故纪闻
    Tác giả: Hướng Tư 向斯
    Bắc Kinh: Trung Quốc văn sử xuất bản xã, 2002

    Dịch thuật: Thà là ngọc nát còn hơn ngói lành

    Đăng lúc  23:17  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    THÀ LÀ NGỌC NÁT CÒN HƠN NGÓI LÀNH

              Bắc Nguỵ 北魏về sau này chia thành Đông Nguỵ 东魏và Tây Nguỵ 西魏. Cao Dương 高洋đoạt lấy chính quyền Đông Nguỵ, kiến lập Bắc Tề 北齐. Xuất phát từ việc muốn củng cố sự thống trị của mình, Cao Dương đã tiến hành thanh trừ đại quy mô họ Nguyên quý tộc Đông Nguỵ.
              Một ngày nọ, Cao Dương đến Tấn Dương 晋阳, rất sợ quý tộc họ Nguyên thừa cơ tạo phản, bảo đem quý tộc họ Nguyên ra tru sát. Lúc bấy giờ, viên Huyện lệnh Định Tương 定襄là Nguyên Cảnh An 元景安muốn xin được đổi sang họ Cao để khỏi chết.
              Người anh họ của Nguyên Cảnh An là Nguyên Cảnh Hạo 元景皓kiên quyết phản đối, nghiêm khắc nói rằng:
              - Làm sao có thể bỏ tổ tiên  mà đổi sang họ khác được. Đại trượng phu thà làm ngọc nát chứ không thèm làm ngói lành.
              Để lấy lòng Cao Dương, Nguyên Cảnh An đã bán đứng người anh họ của mình, Nguyên Cảnh Hạo bị Cao Dương giết chết, còn Nguyên Cảnh An được ban họ Cao, thoát khỏi cái chết.
              Về sau, người ta lấy câu “thà làm ngọc nát chứ không thèm làm ngói lành” (ninh vi ngọc toái, bất vi ngoã toàn - 宁为玉碎 - 不为瓦全) để ví với việc thà vì chính nghĩa mà chết chứ không chịu sống hèn.

    Chú của người dịch
    Bắc Nguỵ 北魏  (năm 386 – năm 534)
              Bắc Nguỵ là chính quyền phương bắc do Thác Bạt Khuê 拓跋珪  tộc Tiên Ti 鲜卑 kiến lập, và cũng là vương triều đầu tiên của thời kì Nam Bắc triều.
              Năm 386, nhân lúc Tiền Tần chia năm xẻ bảy, Thác Bạt Khuê tại Ngưu Xuyên 牛川xưng Vương, xây dựng lại nước Đại , định đô tại Thịnh Lạc 盛乐 (nay là thành phố Hô Hoà Hạo Đặc 呼和浩特 và huyện Lâm Cách Nhĩ 林格尔 của Nội Mông). Cũng trong năm đó, đổi xưng là Nguỵ Vương. Tháng 6 năm 398 đổi quốc hiệu là Nguỵ , sử gọi là Bắc Nguỵ.
              Tháng 7 năm 398, Đạo Vũ Đế Thác Bạt Khuê 道武帝拓跋珪dời đô đến Bình Thành 平城 (nay là thành phố Đại Đồng 大同 Sơn Tây 山西), xưng Đế.
              Năm 439, Thái Vũ Đế Thác Bạt Đào 太武帝拓跋焘thống nhất phương bắc.
              Năm 493, Hiếu Văn Đế Thác Bạt Hoành 孝武帝拓跋宏dời đô đến Lạc Dương 洛阳, tiến hành cải cách.
              Năm 534 phân thành Đông Nguỵ và Tây Nguỵ. Năm Vũ Định 武定thứ 8 triều Đông Nguỵ, Cao Dương 高洋 phế Hiếu Tĩnh Đế 孝静帝 thay Đông Nguỵ tự lập, kiến lập triều Bắc Tề 北齐.
              Năm Cung Đế 恭帝 thứ 3 triều Tây Nguỵ (năm 557), nhường ngôi cho Vũ Văn Giác 武文觉, kiến lập triều Bắc Chu 北周. Lịch sử Bắc Nguỵ tuyên cáo kết thúc.
              Từ năm 386 Đạo Vũ Đế Thác Bạt Khuê trùng kiến nước Đại đến năm 534 phân liệt là chấm dứt, tổng cộng trải qua 20 đế, hưởng quốc 148 năm.
              Theo http://baike.baidu.com/item

                                                                    Huỳnh Chương Hưng
                                                                 Quy Nhơn 02/12/2017

    Nguồn
    HOÀNG TRIỀU ĐIỂN CỐ KỈ VĂN
    皇朝典故纪闻
    Tác giả: Hướng Tư 向斯
    Bắc Kinh: Trung Quốc văn sử xuất bản xã, 2002

    Thứ Sáu, 1 tháng 12, 2017

    SỰ PHÁT HIỆN GIÁP CỐT VĂN

              Năm 1899 (năm Quang Tự 光绪thứ 25), Tế tửu Quốc tử giám (viên quan chủ quản trong cơ cấu giáo dục trung ương đời Thanh) là Vương Ý Vinh 王懿荣 sinh bệnh. Thái y chẩn đoán đã cho toa, sau khi lấy thuốc về, Vương Ý Vinh phát hiện vị thuốc gọi là “long cốt” 龙骨 có khắc những chữ mà không nhận ra được.
              Long cốt là những hoá thạch xương răng của loài động vật có xương sống thời cổ, chủ yếu dùng để trị các chứng bệnh như lo sợ, bị tả, ra mồ hôi trộm trong Trung y. Vào thời xa xưa, trên những thứ này tại sao lại có chữ? Vương Ý Vinh vốn có hứng thú với khảo cổ, lại là nhà Kim thạch học nổi tiếng, nên đối với việc này ông cảm thấy kì lạ.
              Vương Ý Vinh sai người thăm dò một số tiệm thuốc nổi tiếng ở Bắc Kinh, mới biết vị thuốc “long cốt” này là từ Hà Nam chuyển đến. Sau đó lại tìm được một người buôn đồ cổ, Vương Ý Vinh đã bỏ vàng ra mua hai ba trăm miếng “long cốt” có khắc chữ để nghiên cứu.
              Kì thực, “long cốt” có chữ này là phần yếm của rùa và xương thú mà chủ yếu là xương bả vai của trâu, xương đầu của hươu. Văn tự được khắc ở trên đó, hợp lại gọi là “quy giáp thú cốt văn tự” 龟甲兽骨文字, gọi tắt là “giáp cốt văn” 甲骨文. Nó là sản vật của đời Thương.
              Những giáp cốt bị chôn lấp ở thôn Tiểu Đồn 小屯 phía tây bắc huyện An Dương tỉnh Hà Nam này đã có hơn 3000 năm, mãi đến hơn 30 năm trước mới được nông dân phát hiện. Khi họ đang xới đất bắt gặp những vật này, cho chúng là vị thuốc có thể bán cho tiệm thuốc. Tiệm thuốc thu mua với giá rất thấp, một cân chỉ có mấy đồng, và không cần có chữ. Thế là, những nông dân liền cạo bỏ chữ trên bề mặt rồi đem bán; những mảnh nhỏ, chữ lại nhiều không dễ cạo bỏ, họ đem vất xuống giếng khô.
              Sự việc này khiến một số thương nhân buôn đồ cổ biết được đã đến An Dương, bất kể trên “long cốt” có chữ hay không có chữ, họ đều thu mua một số lượng lớn với giá thấp, sau đó mang đến Bắc Kinh bán lại với giá cao. Vương Ý Vinh đã mua được một số từ tay thương nhân.
              Vương Ý Vinh đoán định, long cốt có chữ này là văn vật cổ đại có giá trị, ông đã nói cho một vài người bạn biết. Nhưng ông chưa bắt tay vào nghiên cứu thì năm sau liên quân 8 nước do các liệt cường đế quốc chủ nghĩa tổ thành đã tiến vào thành Bắc Kinh. Vương Ý Vinh không chịu sự lăng nhục của người nước ngoài, ông đã tự trầm trong ao ở hoa viên của mình. Cả ngàn mảnh “long cốt” mà ông sưu tập được bó lại cất trên gác.
              Vương Ý Vinh có một người bạn tên là Lưu Ngạc 刘鹗, là một tiểu thuyết gia, người này cũng rất quan tâm đến “long cốt”. Đầu năm 1902, người con của Vương  Ý Vinh đem bán cổ vật của nhà, Lưu Ngạc đã mua lại số “long cốt” đó; tiếp đó lại nhờ người đi khắp nơi thu mua. Sau hơn một năm, Lưu Ngạc đã tích luỹ được mấy ngàn mảnh. Nhưng, Lưu Ngạc vẫn  không biết đích xác địa điểm phát hiện “long cốt”, bởi vì những thương nhân giảo hoạt trước sau không hề nói cho ông  biết.
              Bạn của Lưu Ngạc là La Chấn Ngọc 罗振玉 rất có hứng thú đối với việc nghiên cứu “long cốt”. Theo sự xúi giục của La Chấn Ngọc, năm 1903 cũng là năm mà Lưu Ngạc công bố quyển tiểu thuyết nổi tiếng Lão tàn du kí 老残游记, hơn 1000 mảnh long cốt được chụp lại in thành sách, đặt tên là Thiết Vân tàng quy铁云藏龟. Sách này tuy chưa nói đến 2 chữ “giáp cốt”, cũng không giải thích nội dung của giáp cốt văn, nhưng đã đem giáp cốt văn lần đầu tiên viết thành sách, đó là một sự kiện lớn trong lịch sử văn hoá cận đại Trung Quốc.
              Về sau, La Chấn Ngọc thu mua khắp nơi đồng thời chuyên tâm nghiên cứu “long cốt”, cũng đã biết được những long cốt này được phát hiện tại Hà Nam. Qua nhiều năm khảo chứng, tra ra được An Dương là vùng đất đô thành hậu kì đời Thương; “long cốt” xuất hiện nơi đó, không còn nghi ngờ gì nữa, văn tự trên bề mặt “long cốt” chính là văn tự đời Thương, đồng thời xác định những mảnh “long cốt” này là yếm rùa và xương thú.
              Từ năm 1910 đến năm 1916, La Chấn Ngọc biên soạn 6 bộ sách chuyên môn liên quan đến giáp cốt văn, khảo thích được khoảng hơn 500 chữ trên giáp cốt, từ đó bắt đầu nhận biết về giáp cốt văn.
              Từ trong những văn tự khảo thích được có thể biết, những yếm rùa và xương thú này chủ yếu là thứ mà thiểu số kẻ thống trị và quý tộc đời Thương dùng để “chiêm bốc” 占卜. Gọi là “chiêm bốc” chính là dùng những thứ này để suy đoán phúc hoạ cát hung. Người đời Ân rất mê tín, họ cho rằng tất cả những gì trong cuộc sống đều cần phải tin theo số mạng nơi thượng thiên quỷ thần, cho nên phàm là tế tự, nông nghiệp, săn bắn, xuất chinh, tật bệnh, mưa gió, sinh đẻ v.v... đều phải chiêm bốc. Kết quả chiêm bốc, dùng văn tự khắc lên giáp cốt, những văn tự này gọi là “giáp cốt văn”甲骨文, cũng gọi là “bốc từ” 卜辞.
              Thế thì, chiêm bốc được tiến hành như thế nào?
              Có người chuyên môn về chiêm bốc, gọi là “bốc nhân”. Nếu dùng rùa để chiêm bốc, đầu tiên giết chết rùa, lấy phần yếm, bôi lên một lớp dầu, sau đó mài phẳng. Tiếp theo, xoi một cái lỗ bên trên, sau đó đục một đường rãnh dài như cái máng trên rộng dưới hẹp. Đợi đến khi cần bói, lấy mảnh giáp cốt này hơ trên lửa.
              Sau khi hơ những mảnh giáp cốt, chung quanh chỗ đục sẽ nứt ra thành những đường vằn khác nhau. Những đường vằn này biểu thị phúc hoạ cát hung. Người chiêm bốc sẽ căn cứ theo đó mà quyết định sự kiện nào đó có nên làm hay không. Thường là một sự kiện phải bói mấy lần, cuối cùng mới đưa ra quyết định.
             Chiêm bốc xong, ghi lại kết quả. Những ghi chép này dùng một loại công cụ khắc lên giáp cốt, đó chính là giáp cốt văn. Trước tiên khắc dọc, sau đó khắc ngang. Có chữ lớn hơn nửa thốn, chữ nhỏ bằng hạt mè, có chữ mạnh mẽ, có chữ tú lệ, là nghệ thuật phẩm thư pháp sớm nhất.
              Trừ dùng vào việc ghi chép bốc từ ra, giáp cốt còn được dùng để ghi  chép sự việc, như ghi chép lại lần xuất chinh nào đó bắt được nhiều ít tù nhân, ghi chép lại lần đi săn bắn nào đó được nhiều ít thú săn, một người nào đó hiến dâng nhiều ít vật phẩm, v.v...
              Từ khoảng 15 vạn mảnh giáp cốt được phát hiện có thể biết, những điều mà giáp cốt văn phản ánh là của 9 vương triều hậu kì nhà Thương từ Vũ Đinh 武丁đến Đế Tân 帝辛 (tức Trụ Vương 纣王) cũng tức là cuộc sống xã hội từ hơn năm 1300 trước công nguyên đến hơn năm 1100 trước công nguyên. Nó là tài liệu quý giá về các phương diện để nghiên cứu về tổ  chức xã hội, tình hình kinh tế đời Thương.
              Do chịu sự hạn chế về công cụ khắc, bút tích của giáp cốt văn phần nhiều là đường thẳng, chỗ uốn cong cũng là góc cứng. Mặt trời vốn hình tròn, nhưng họ viết thành hình tứ giác hoặc lục giác. Đó là tiền thân của chữ (nhật) mà chúng ta dùng ngày nay.
              Cách thức viết của giáp cốt văn rất đặc biệt. Nói chung, nó được viết thành hàng dọc, đọc từ trên xuống. Nhưng chuyển hàng không phải hướng cố định; phía trên bên trái chuyển về bên phải, phía trên bên phải chuyển về bên trái, nhìn chung là hướng vào bên trong. Nhưng nếu gần những đường rạn gần trung tâm, thì nhất luật hướng ra bên ngoài. Nếu một mặt khắc không đủ, sẽ khắc ở phản diện.
              Thế thì, một mảnh giáp cốt có bao nhiêu chữ? Điều này rất khó nói, có mảnh chỉ có 3 đến 5 chữ, nhiều nhất là 180 chữ.
              Giáp cốt văn từ lúc phát hiện đến nay đã hơn 80 năm. Từ sau khi công khai, không chỉ tạo nên sự hứng thú của các học giả trong nước, mà còn khiến học giả nước ngoài chú ý. Một vài người trong số họ đến Trung Quốc tìm đủ mọi cách sưu tập những mảnh giáp cốt có bốc từ thời Ân. Theo thống kê, đại khái có 27000 mảnh giáp cốt lưu lạc hải ngoại, trở thành vật trân tàng của một số viện bảo tàng nổi tiếng thế giới.
              Hơn 80 năm nay, trải qua sự lao động cần cù của học giả các đời ở Trung Quốc, việc nghiên cứu giáp cốt văn đã có được những thành quả đáng mừng. Theo thống kê, năm 1915 chỉ nhận biết khoảng 500 chữ, năm 1927 đạt đến 570 chữ, 1929 là hơn 870 chữ, 1934 là 1006 chữ. Trước mắt, trong giáp cốt văn, những chữ không trùng lặp ước khoảng 4500 chữ, đã nhận biết được chừng 1500 chữ, tức chỉ chiếm 1/3. Tỉ lệ này xem ra không lớn, nhưng đó là sự nhận biết đối với văn tự của 3000 năm trước, thời đại cách quá xa, nhận biết được nhiều như thế quả là không dễ chút nào.

                                                                  Huỳnh Chương Hưng
                                                                  Quy Nhơn 01/12/2017

    Nguyên tác Trung văn
    GIÁP CỐT VĂN ĐÍCH PHÁT HIỆN
    甲骨文的发现
    Trong quyển
    VĂN HOÁ NGŨ THIÊN NIÊN
    Biên soạn: Vũ Nhân 羽人
    Thiếu niên nhi đồng xuất bản xã (không rõ năm xuất bản) 

    Dịch thuật: Sự phát hiện giáp cốt văn

    Đăng lúc  22:40  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    SỰ PHÁT HIỆN GIÁP CỐT VĂN

              Năm 1899 (năm Quang Tự 光绪thứ 25), Tế tửu Quốc tử giám (viên quan chủ quản trong cơ cấu giáo dục trung ương đời Thanh) là Vương Ý Vinh 王懿荣 sinh bệnh. Thái y chẩn đoán đã cho toa, sau khi lấy thuốc về, Vương Ý Vinh phát hiện vị thuốc gọi là “long cốt” 龙骨 có khắc những chữ mà không nhận ra được.
              Long cốt là những hoá thạch xương răng của loài động vật có xương sống thời cổ, chủ yếu dùng để trị các chứng bệnh như lo sợ, bị tả, ra mồ hôi trộm trong Trung y. Vào thời xa xưa, trên những thứ này tại sao lại có chữ? Vương Ý Vinh vốn có hứng thú với khảo cổ, lại là nhà Kim thạch học nổi tiếng, nên đối với việc này ông cảm thấy kì lạ.
              Vương Ý Vinh sai người thăm dò một số tiệm thuốc nổi tiếng ở Bắc Kinh, mới biết vị thuốc “long cốt” này là từ Hà Nam chuyển đến. Sau đó lại tìm được một người buôn đồ cổ, Vương Ý Vinh đã bỏ vàng ra mua hai ba trăm miếng “long cốt” có khắc chữ để nghiên cứu.
              Kì thực, “long cốt” có chữ này là phần yếm của rùa và xương thú mà chủ yếu là xương bả vai của trâu, xương đầu của hươu. Văn tự được khắc ở trên đó, hợp lại gọi là “quy giáp thú cốt văn tự” 龟甲兽骨文字, gọi tắt là “giáp cốt văn” 甲骨文. Nó là sản vật của đời Thương.
              Những giáp cốt bị chôn lấp ở thôn Tiểu Đồn 小屯 phía tây bắc huyện An Dương tỉnh Hà Nam này đã có hơn 3000 năm, mãi đến hơn 30 năm trước mới được nông dân phát hiện. Khi họ đang xới đất bắt gặp những vật này, cho chúng là vị thuốc có thể bán cho tiệm thuốc. Tiệm thuốc thu mua với giá rất thấp, một cân chỉ có mấy đồng, và không cần có chữ. Thế là, những nông dân liền cạo bỏ chữ trên bề mặt rồi đem bán; những mảnh nhỏ, chữ lại nhiều không dễ cạo bỏ, họ đem vất xuống giếng khô.
              Sự việc này khiến một số thương nhân buôn đồ cổ biết được đã đến An Dương, bất kể trên “long cốt” có chữ hay không có chữ, họ đều thu mua một số lượng lớn với giá thấp, sau đó mang đến Bắc Kinh bán lại với giá cao. Vương Ý Vinh đã mua được một số từ tay thương nhân.
              Vương Ý Vinh đoán định, long cốt có chữ này là văn vật cổ đại có giá trị, ông đã nói cho một vài người bạn biết. Nhưng ông chưa bắt tay vào nghiên cứu thì năm sau liên quân 8 nước do các liệt cường đế quốc chủ nghĩa tổ thành đã tiến vào thành Bắc Kinh. Vương Ý Vinh không chịu sự lăng nhục của người nước ngoài, ông đã tự trầm trong ao ở hoa viên của mình. Cả ngàn mảnh “long cốt” mà ông sưu tập được bó lại cất trên gác.
              Vương Ý Vinh có một người bạn tên là Lưu Ngạc 刘鹗, là một tiểu thuyết gia, người này cũng rất quan tâm đến “long cốt”. Đầu năm 1902, người con của Vương  Ý Vinh đem bán cổ vật của nhà, Lưu Ngạc đã mua lại số “long cốt” đó; tiếp đó lại nhờ người đi khắp nơi thu mua. Sau hơn một năm, Lưu Ngạc đã tích luỹ được mấy ngàn mảnh. Nhưng, Lưu Ngạc vẫn  không biết đích xác địa điểm phát hiện “long cốt”, bởi vì những thương nhân giảo hoạt trước sau không hề nói cho ông  biết.
              Bạn của Lưu Ngạc là La Chấn Ngọc 罗振玉 rất có hứng thú đối với việc nghiên cứu “long cốt”. Theo sự xúi giục của La Chấn Ngọc, năm 1903 cũng là năm mà Lưu Ngạc công bố quyển tiểu thuyết nổi tiếng Lão tàn du kí 老残游记, hơn 1000 mảnh long cốt được chụp lại in thành sách, đặt tên là Thiết Vân tàng quy铁云藏龟. Sách này tuy chưa nói đến 2 chữ “giáp cốt”, cũng không giải thích nội dung của giáp cốt văn, nhưng đã đem giáp cốt văn lần đầu tiên viết thành sách, đó là một sự kiện lớn trong lịch sử văn hoá cận đại Trung Quốc.
              Về sau, La Chấn Ngọc thu mua khắp nơi đồng thời chuyên tâm nghiên cứu “long cốt”, cũng đã biết được những long cốt này được phát hiện tại Hà Nam. Qua nhiều năm khảo chứng, tra ra được An Dương là vùng đất đô thành hậu kì đời Thương; “long cốt” xuất hiện nơi đó, không còn nghi ngờ gì nữa, văn tự trên bề mặt “long cốt” chính là văn tự đời Thương, đồng thời xác định những mảnh “long cốt” này là yếm rùa và xương thú.
              Từ năm 1910 đến năm 1916, La Chấn Ngọc biên soạn 6 bộ sách chuyên môn liên quan đến giáp cốt văn, khảo thích được khoảng hơn 500 chữ trên giáp cốt, từ đó bắt đầu nhận biết về giáp cốt văn.
              Từ trong những văn tự khảo thích được có thể biết, những yếm rùa và xương thú này chủ yếu là thứ mà thiểu số kẻ thống trị và quý tộc đời Thương dùng để “chiêm bốc” 占卜. Gọi là “chiêm bốc” chính là dùng những thứ này để suy đoán phúc hoạ cát hung. Người đời Ân rất mê tín, họ cho rằng tất cả những gì trong cuộc sống đều cần phải tin theo số mạng nơi thượng thiên quỷ thần, cho nên phàm là tế tự, nông nghiệp, săn bắn, xuất chinh, tật bệnh, mưa gió, sinh đẻ v.v... đều phải chiêm bốc. Kết quả chiêm bốc, dùng văn tự khắc lên giáp cốt, những văn tự này gọi là “giáp cốt văn”甲骨文, cũng gọi là “bốc từ” 卜辞.
              Thế thì, chiêm bốc được tiến hành như thế nào?
              Có người chuyên môn về chiêm bốc, gọi là “bốc nhân”. Nếu dùng rùa để chiêm bốc, đầu tiên giết chết rùa, lấy phần yếm, bôi lên một lớp dầu, sau đó mài phẳng. Tiếp theo, xoi một cái lỗ bên trên, sau đó đục một đường rãnh dài như cái máng trên rộng dưới hẹp. Đợi đến khi cần bói, lấy mảnh giáp cốt này hơ trên lửa.
              Sau khi hơ những mảnh giáp cốt, chung quanh chỗ đục sẽ nứt ra thành những đường vằn khác nhau. Những đường vằn này biểu thị phúc hoạ cát hung. Người chiêm bốc sẽ căn cứ theo đó mà quyết định sự kiện nào đó có nên làm hay không. Thường là một sự kiện phải bói mấy lần, cuối cùng mới đưa ra quyết định.
             Chiêm bốc xong, ghi lại kết quả. Những ghi chép này dùng một loại công cụ khắc lên giáp cốt, đó chính là giáp cốt văn. Trước tiên khắc dọc, sau đó khắc ngang. Có chữ lớn hơn nửa thốn, chữ nhỏ bằng hạt mè, có chữ mạnh mẽ, có chữ tú lệ, là nghệ thuật phẩm thư pháp sớm nhất.
              Trừ dùng vào việc ghi chép bốc từ ra, giáp cốt còn được dùng để ghi  chép sự việc, như ghi chép lại lần xuất chinh nào đó bắt được nhiều ít tù nhân, ghi chép lại lần đi săn bắn nào đó được nhiều ít thú săn, một người nào đó hiến dâng nhiều ít vật phẩm, v.v...
              Từ khoảng 15 vạn mảnh giáp cốt được phát hiện có thể biết, những điều mà giáp cốt văn phản ánh là của 9 vương triều hậu kì nhà Thương từ Vũ Đinh 武丁đến Đế Tân 帝辛 (tức Trụ Vương 纣王) cũng tức là cuộc sống xã hội từ hơn năm 1300 trước công nguyên đến hơn năm 1100 trước công nguyên. Nó là tài liệu quý giá về các phương diện để nghiên cứu về tổ  chức xã hội, tình hình kinh tế đời Thương.
              Do chịu sự hạn chế về công cụ khắc, bút tích của giáp cốt văn phần nhiều là đường thẳng, chỗ uốn cong cũng là góc cứng. Mặt trời vốn hình tròn, nhưng họ viết thành hình tứ giác hoặc lục giác. Đó là tiền thân của chữ (nhật) mà chúng ta dùng ngày nay.
              Cách thức viết của giáp cốt văn rất đặc biệt. Nói chung, nó được viết thành hàng dọc, đọc từ trên xuống. Nhưng chuyển hàng không phải hướng cố định; phía trên bên trái chuyển về bên phải, phía trên bên phải chuyển về bên trái, nhìn chung là hướng vào bên trong. Nhưng nếu gần những đường rạn gần trung tâm, thì nhất luật hướng ra bên ngoài. Nếu một mặt khắc không đủ, sẽ khắc ở phản diện.
              Thế thì, một mảnh giáp cốt có bao nhiêu chữ? Điều này rất khó nói, có mảnh chỉ có 3 đến 5 chữ, nhiều nhất là 180 chữ.
              Giáp cốt văn từ lúc phát hiện đến nay đã hơn 80 năm. Từ sau khi công khai, không chỉ tạo nên sự hứng thú của các học giả trong nước, mà còn khiến học giả nước ngoài chú ý. Một vài người trong số họ đến Trung Quốc tìm đủ mọi cách sưu tập những mảnh giáp cốt có bốc từ thời Ân. Theo thống kê, đại khái có 27000 mảnh giáp cốt lưu lạc hải ngoại, trở thành vật trân tàng của một số viện bảo tàng nổi tiếng thế giới.
              Hơn 80 năm nay, trải qua sự lao động cần cù của học giả các đời ở Trung Quốc, việc nghiên cứu giáp cốt văn đã có được những thành quả đáng mừng. Theo thống kê, năm 1915 chỉ nhận biết khoảng 500 chữ, năm 1927 đạt đến 570 chữ, 1929 là hơn 870 chữ, 1934 là 1006 chữ. Trước mắt, trong giáp cốt văn, những chữ không trùng lặp ước khoảng 4500 chữ, đã nhận biết được chừng 1500 chữ, tức chỉ chiếm 1/3. Tỉ lệ này xem ra không lớn, nhưng đó là sự nhận biết đối với văn tự của 3000 năm trước, thời đại cách quá xa, nhận biết được nhiều như thế quả là không dễ chút nào.

                                                                  Huỳnh Chương Hưng
                                                                  Quy Nhơn 01/12/2017

    Nguyên tác Trung văn
    GIÁP CỐT VĂN ĐÍCH PHÁT HIỆN
    甲骨文的发现
    Trong quyển
    VĂN HOÁ NGŨ THIÊN NIÊN
    Biên soạn: Vũ Nhân 羽人
    Thiếu niên nhi đồng xuất bản xã (không rõ năm xuất bản) 

    Thứ Năm, 30 tháng 11, 2017

    NGƯU ĐAO TIỂU THÍ
    牛刀小试
    THỬ QUA DAO MỔ TRÂU

    Giải thích: lần đầu làm việc đã thể hiện tài năng
    Xuất xứ: Tống . Tô Thức 苏轼: Tống Âu Dương chủ bạ  phó quan Vi Thành 送欧阳主簿赴官韦城.

              Thời Bắc Tống, văn học gia Tô Thức 苏轼từng viết không ít những bài thơ tặng bạn. Một lần nọ, người bạn họ Âu Dương 欧阳của ông đến Vi Thành 韦城làm quan, Tô Thức liền viết 4 bài Tống Âu Dương chủ bạ  phó quan Vi Thành 送欧阳主簿赴官韦城, trong thơ có câu:
    Độc biến nha tiêm tam vạn quyển
    Dục lai tiểu ấp thí ngưu đao
    读遍牙签三万卷
    欲来小邑试牛刀
    (Đọc hết ba vạn quyển sách
    Muốn đến ấp nhỏ thử qua dao mổ trâu)
              Ý của 2 câu này chỉ người bạn đó đã đọc qua rất nhiều sách (“nha tiêm” chi sách, “tam vạn quyển” là hư số, biểu thị số nhiều), tài cao tám đấu, nay đến làm quan tại một địa phương nhỏ là Vi Thành, chẳng qua chỉ là thử qua dao mổ trâu, hiển lộ sơ tài năng của bản thân.
              “Ngưu đao” ở đây ví nhân tài kiệt xuất.

                                                              Huỳnh Chương Hưng
                                                   Quy Nhơn 30/11/2017

    Nguyên tác Trung văn
    NGƯU ĐAO TIỂU THÍ
    牛刀小试
    TRUNG QUỐC THÀNH NGỮ CỐ SỰ TỔNG TẬP
    中国成语故事总集
    (tập 1)
    Chủ biên: Đường Kì 唐麒
    Trường Xuân – Thời đại văn nghệ xuất bản xã, 2004. 

    Dịch thuật: Ngưu đao tiểu thí (thành ngữ)

    Đăng lúc  19:41  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    NGƯU ĐAO TIỂU THÍ
    牛刀小试
    THỬ QUA DAO MỔ TRÂU

    Giải thích: lần đầu làm việc đã thể hiện tài năng
    Xuất xứ: Tống . Tô Thức 苏轼: Tống Âu Dương chủ bạ  phó quan Vi Thành 送欧阳主簿赴官韦城.

              Thời Bắc Tống, văn học gia Tô Thức 苏轼từng viết không ít những bài thơ tặng bạn. Một lần nọ, người bạn họ Âu Dương 欧阳của ông đến Vi Thành 韦城làm quan, Tô Thức liền viết 4 bài Tống Âu Dương chủ bạ  phó quan Vi Thành 送欧阳主簿赴官韦城, trong thơ có câu:
    Độc biến nha tiêm tam vạn quyển
    Dục lai tiểu ấp thí ngưu đao
    读遍牙签三万卷
    欲来小邑试牛刀
    (Đọc hết ba vạn quyển sách
    Muốn đến ấp nhỏ thử qua dao mổ trâu)
              Ý của 2 câu này chỉ người bạn đó đã đọc qua rất nhiều sách (“nha tiêm” chi sách, “tam vạn quyển” là hư số, biểu thị số nhiều), tài cao tám đấu, nay đến làm quan tại một địa phương nhỏ là Vi Thành, chẳng qua chỉ là thử qua dao mổ trâu, hiển lộ sơ tài năng của bản thân.
              “Ngưu đao” ở đây ví nhân tài kiệt xuất.

                                                              Huỳnh Chương Hưng
                                                   Quy Nhơn 30/11/2017

    Nguyên tác Trung văn
    NGƯU ĐAO TIỂU THÍ
    牛刀小试
    TRUNG QUỐC THÀNH NGỮ CỐ SỰ TỔNG TẬP
    中国成语故事总集
    (tập 1)
    Chủ biên: Đường Kì 唐麒
    Trường Xuân – Thời đại văn nghệ xuất bản xã, 2004. 

    Thứ Tư, 29 tháng 11, 2017

    “SƠN HẢI KINH” – BỘ SÁCH ĐỊA LÍ NỔI TIẾNG

              Người Trung Quốc trong lúc nhàn tản nói chuyện về những kì văn dật sự, thường nhắc đến Sơn hải kinh 山海经. Thế thì Sơn hải kinh là bộ sách như thế nào?
              Sơn Hải kinh là bộ trứ thư về địa lí thời cổ Trung Quốc. Nguyên sách đề là do Hạ Vũ 夏禹, Bá Ích 伯益 viết ra, nhưng nhìn từ nội dung trong sách lại là tác phẩm thời Xuân Thu Chiến Quốc, đồng thời do các Nho sinh đời Hán tăng bổ mà thành. Nhân vì toàn sách là tổ hợp của Sơn kinhHải kinh, nên được gọi là Sơn hải kinh.
              Sơn kinh chuyên thuật lại sự phân bố sơn mạch các nơi ở Trung Quốc, đồng thời giới thiệu điểm đặc sắc của các núi. Nội dung bao quát đường đi xa gần của các núi, sự phân bố giòng chảy các sông, phong tục các dân tộc, động vật thực vật, dược vật trị bệnh, tôn giáo tế tự, văn hoá giao thông, câu chuyện thần thoại cùng những kì văn dật sự v.v... Tổng cộng 5 thiên, gọi là Ngũ tang sơn kinh 五臧山经.
              Hải kinh chuyên thuật lại địa lí trong và ngoài nước cũng những kì văn dật sự. Hải ngoại kinh 海外经4 thiên, là tác phẩm của thời Xuân Thu Chiến Quốc;
    Đại hoang kinh 大荒经5 thiên, là tác phẩm đời Hán, cả hai đều là địa lí nước ngoài. Hải nội kinh 海内经4 thiên cũng là tác phẩm đời Hán, nói về giao thông trong và ngoài nước cùng sản vật, dân tục và những câu chuyện thần thoại của các nơi.
              Toàn sách ghi chép hơn 100 bang quốc, hơn 500 ngọn núi, hơn 300 giòng sông của các nơi cùng phong thổ dân tình, sản vật trọng yếu có liên quan. Thông qua sự giới thiệu về lịch sử các nơi, trong sách còn ghi chép hơn 100 nhân vật lịch sử, thuật rõ hoạt động chủ yếu và thế hệ gia tộc của họ. Ngoài ra, sách còn bảo lưu rất nhiều truyền thuyết thần thoại, đặc biệt là ở bộ phận Hải kinh, thần thoại đặc biệt nhiều, có thể nói sách là bộ thư tịch tập trung nhất về thần thoại thời thượng cổ của Trung Quốc.
             Sau đây sẽ giới thiệu 2 câu chuyện thần thoại thời thượng cổ được bảo lưu trong Sơn hải kinh.
    1- Tinh Vệ điền hải 精卫填海 (Tinh Vệ lấp biển)
              Tại huyện Trường Tử 长子ở Sơn Tây 山西, có ngọn núi Phát Cưu 发鸠. Trên núi có một loài chim, hình dạng giống quạ, nhưng trên đầu có đốm hoa, chân màu đỏ, mỏ màu trắng, tên là “Tinh Vệ” 精卫. Tại sao loài chim đó được gọi là “Tinh Vệ”? Nhân vì tiếng kêu của “tinh vệ” “tinh vệ” của nó, người ta liền lấy tiếng kêu đó để đặt tên. Liên quan đến loại chim này còn có một câu chuyện thần thoại.
              Thời cổ có một đại nhân vật chuyên dạy mọi người trồng ngũ cốc, đó là  Thần Nông thị 神农氏. Nhân vì ông có những cống hiến kiệt xuất đối với nhân dân nên mọi người tôn xưng là “Viêm Đế” 炎帝. Viêm Đế có một người con gái tên là Nữ Oa 女娃. Một lần nọ, Nữ Oa đến  tắm ở đông hải, chẳng may bị chết chìm trong biển nước, Về sau, Nữ Oa hoá thành chim Tinh Vệ, hàng ngày ngậm lấy những mẩu gỗ, và hòn sỏi ở Tây sơn bay đến thả vào đông hải, mục đích muốn lấp biển đông, để không còn có người chết chìm trong đông hải nữa.
              Chim thì nhỏ bé, những mẩu gỗ và hòn sỏi đương nhiên càng nhỏ hơn, nhưng vì điều lợi cho mọi người, chim hàng ngày không ngừng lấp biển lớn mênh mông. Câu chuyện thần thoại này đã phản ánh nhân dân Trung Quốc vì lợi ích của đại chúng mà không sợ gian nan nguy hiểm, với tinh thần lao động quên mình không hề biết mệt.
    2- Khoa Phủ trục nhật 夸父逐日 (Khoa Phủ đuổi theo mặt trời)
              Ngày xưa tại nước Bác Phụ 博父có một người khổng lồ, tên là “Khoa Phủ”. Ông chạy rất nhanh, thường trú tại núi Tải Thiên 载天 ở Thành Đô 成都. Ông trang sức cũng rất kì lạ, hai tai đeo 2 con rắn, xem đó là khuyên tai; hai tay nắm chặt 2 con đại hoàng xà, xem rất uy vũ.
              Một ngày nọ, Khoa Phủ muốn trời mở ra, tranh cùng mặt trời để xem thử ai chạy nhanh. Ông chạy như bay đuổi theo mặt trời. Cứ chạy, chạy mãi đến khát khô cả cổ, liền đến uống nước Hoàng hà và sông Vị. Nước hai sông uống sạch, lại chuẩn bị đi uống nước Bắc hải. Nhưng, chưa kịp tới Bắc Hải, Khoa Phủ đã chết vì khát. Trước khi chết, Khoa Phủ vất chiếc gậy của mình. Kết quả, chiếc gậy hoá thành một ngọn núi, đó chính là Đại biệt sơn 大别山 nằm ở giao giới Hồ Nam và Hồ Bắc, mọi người gọi nơi này là “Đặng lâm” 邓林.
              Câu chuyện thần thoại Khoa Phủ đuổi theo mặt trời, tuy có chỗ phê bình Khoa Phủ “không tự lượng sức mình”, nhưng tinh thần chủ yếu của câu chuyện là ca tụng vị anh hùng truy cầu lí tưởng tối cao. Để thực hiện lí tưởng tối cao của mình, có thể không ngại hi sinh mà phấn đấu nỗ lực.
              Sơn hải kinh là bộ sách về địa lí, chỉ là khi giới thiệu nhân tình phong tục các nơi mới phụ ghi chép ngắn gọn những truyền thuyết thần thoại. Nhưng nó đã bảo tồn cho chúng ta một số lượng lớn những thần thoại thượng cổ, trở thành điển tịch quan trọng trong văn hoá sử Trung Quốc.
              Thế thì, những núi những sông mà Sơn hải kinh giới thiệu có chính xác không? Ở đây cần phải có quan điểm lịch sử. Có nơi, ví dụ như vùng lưu vực Hoàng hà, về cơ bản là chính xác. Ví dụ như nói đến Bán Thạch sơn 半石山 ở huyện Yển Sư 偃师Nam 河南, sông chảy về phía tây đổ vào Y thuỷ 伊水, sông chảy về phia bắc đổ vào Lạc thuỷ 洛水, là chính xác. Phía đông Bán Thạch sơn 50 dặm có Thiếu Thất sơn 少室山(ngọn núi phía tây của Tung sơn 嵩山), phía đông Thiếu Thất sơn có Thái Thất sơn 泰室山 (ngọn núi chính của Tung Sơn 嵩山) v.v... cũng chính xác.
              Nhưng, khi nói đến địa lí khu vực biên viễn, đặc biệt là địa lí hải ngoại, về cơ bản đều không có căn cứ. Cho nên, nhiều người hoài nghi nó không phải là bộ sách địa lí, mà là tập thành những thần thoại và truyền thuyết, chỉ là mượn danh nghĩa sông núi mà thôi.
              Ảnh hưởng của Sơn hải kinh cực kì to lớn. Nó không chỉ gợi mở cho người đời sau tính tính cực khi khảo sát địa lí, mà còn khiến cho con người dùng trí tưởng tượng phong phú, về thực tế là một loại lí tưởng hùng vĩ của người dân thời cổ muốn chinh phục tự nhiên.
              Học giả nước ngoài nghiên cứu Sơn hải kinh rất nhiều và cũng có nhiều thành tích. Ví dụ như trong Sơn hải kinh có ghi chép liên quan đến mặt trời mọc nơi Đại hiệp cốc 大峡谷 phía đông. Đại hiệp cốc này, tại Nhật Bản, Philippines, Indonesia đều tìm không thấy cho nên có người cho Sơn hải kinh nói không chính xác. Nhưng một học giả người Mĩ lại nói, tình cảnh mà Sơn hải kinh miêu tả, giống hệt với cảnh tượng xem mặt trời mọc tại khu phong cảnh Đại hiệp cốc nước Mĩ. Điều này đã đặt ra cho chúng ta vấn đề, thời Chiến Quốc hoặc thời Tây Hán, có phải người Trung Quốc đã đến châu Mĩ? Đây là một luận đề nghiên cứu khoa học có ý nghĩa sâu xa.

                                                                  Huỳnh Chương Hưng
                                                                  Quy Nhơn 29/11/2017

    Nguyên tác
    Trung văn
    ĐỊA LÍ DANH TRỨ “SƠN HẢI KINH”
    地里名著山海经
    Trong quyển
    VĂN HOÁ NGŨ THIÊN NIÊN
    Biên soạn: Vũ Nhân 羽人
    Thiếu niên nhi đồng xuất bản xã

    Dịch thuật: "Sơn hải kinh" - bộ sách địa lí nổi tiếng

    Đăng lúc  20:13  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    “SƠN HẢI KINH” – BỘ SÁCH ĐỊA LÍ NỔI TIẾNG

              Người Trung Quốc trong lúc nhàn tản nói chuyện về những kì văn dật sự, thường nhắc đến Sơn hải kinh 山海经. Thế thì Sơn hải kinh là bộ sách như thế nào?
              Sơn Hải kinh là bộ trứ thư về địa lí thời cổ Trung Quốc. Nguyên sách đề là do Hạ Vũ 夏禹, Bá Ích 伯益 viết ra, nhưng nhìn từ nội dung trong sách lại là tác phẩm thời Xuân Thu Chiến Quốc, đồng thời do các Nho sinh đời Hán tăng bổ mà thành. Nhân vì toàn sách là tổ hợp của Sơn kinhHải kinh, nên được gọi là Sơn hải kinh.
              Sơn kinh chuyên thuật lại sự phân bố sơn mạch các nơi ở Trung Quốc, đồng thời giới thiệu điểm đặc sắc của các núi. Nội dung bao quát đường đi xa gần của các núi, sự phân bố giòng chảy các sông, phong tục các dân tộc, động vật thực vật, dược vật trị bệnh, tôn giáo tế tự, văn hoá giao thông, câu chuyện thần thoại cùng những kì văn dật sự v.v... Tổng cộng 5 thiên, gọi là Ngũ tang sơn kinh 五臧山经.
              Hải kinh chuyên thuật lại địa lí trong và ngoài nước cũng những kì văn dật sự. Hải ngoại kinh 海外经4 thiên, là tác phẩm của thời Xuân Thu Chiến Quốc;
    Đại hoang kinh 大荒经5 thiên, là tác phẩm đời Hán, cả hai đều là địa lí nước ngoài. Hải nội kinh 海内经4 thiên cũng là tác phẩm đời Hán, nói về giao thông trong và ngoài nước cùng sản vật, dân tục và những câu chuyện thần thoại của các nơi.
              Toàn sách ghi chép hơn 100 bang quốc, hơn 500 ngọn núi, hơn 300 giòng sông của các nơi cùng phong thổ dân tình, sản vật trọng yếu có liên quan. Thông qua sự giới thiệu về lịch sử các nơi, trong sách còn ghi chép hơn 100 nhân vật lịch sử, thuật rõ hoạt động chủ yếu và thế hệ gia tộc của họ. Ngoài ra, sách còn bảo lưu rất nhiều truyền thuyết thần thoại, đặc biệt là ở bộ phận Hải kinh, thần thoại đặc biệt nhiều, có thể nói sách là bộ thư tịch tập trung nhất về thần thoại thời thượng cổ của Trung Quốc.
             Sau đây sẽ giới thiệu 2 câu chuyện thần thoại thời thượng cổ được bảo lưu trong Sơn hải kinh.
    1- Tinh Vệ điền hải 精卫填海 (Tinh Vệ lấp biển)
              Tại huyện Trường Tử 长子ở Sơn Tây 山西, có ngọn núi Phát Cưu 发鸠. Trên núi có một loài chim, hình dạng giống quạ, nhưng trên đầu có đốm hoa, chân màu đỏ, mỏ màu trắng, tên là “Tinh Vệ” 精卫. Tại sao loài chim đó được gọi là “Tinh Vệ”? Nhân vì tiếng kêu của “tinh vệ” “tinh vệ” của nó, người ta liền lấy tiếng kêu đó để đặt tên. Liên quan đến loại chim này còn có một câu chuyện thần thoại.
              Thời cổ có một đại nhân vật chuyên dạy mọi người trồng ngũ cốc, đó là  Thần Nông thị 神农氏. Nhân vì ông có những cống hiến kiệt xuất đối với nhân dân nên mọi người tôn xưng là “Viêm Đế” 炎帝. Viêm Đế có một người con gái tên là Nữ Oa 女娃. Một lần nọ, Nữ Oa đến  tắm ở đông hải, chẳng may bị chết chìm trong biển nước, Về sau, Nữ Oa hoá thành chim Tinh Vệ, hàng ngày ngậm lấy những mẩu gỗ, và hòn sỏi ở Tây sơn bay đến thả vào đông hải, mục đích muốn lấp biển đông, để không còn có người chết chìm trong đông hải nữa.
              Chim thì nhỏ bé, những mẩu gỗ và hòn sỏi đương nhiên càng nhỏ hơn, nhưng vì điều lợi cho mọi người, chim hàng ngày không ngừng lấp biển lớn mênh mông. Câu chuyện thần thoại này đã phản ánh nhân dân Trung Quốc vì lợi ích của đại chúng mà không sợ gian nan nguy hiểm, với tinh thần lao động quên mình không hề biết mệt.
    2- Khoa Phủ trục nhật 夸父逐日 (Khoa Phủ đuổi theo mặt trời)
              Ngày xưa tại nước Bác Phụ 博父có một người khổng lồ, tên là “Khoa Phủ”. Ông chạy rất nhanh, thường trú tại núi Tải Thiên 载天 ở Thành Đô 成都. Ông trang sức cũng rất kì lạ, hai tai đeo 2 con rắn, xem đó là khuyên tai; hai tay nắm chặt 2 con đại hoàng xà, xem rất uy vũ.
              Một ngày nọ, Khoa Phủ muốn trời mở ra, tranh cùng mặt trời để xem thử ai chạy nhanh. Ông chạy như bay đuổi theo mặt trời. Cứ chạy, chạy mãi đến khát khô cả cổ, liền đến uống nước Hoàng hà và sông Vị. Nước hai sông uống sạch, lại chuẩn bị đi uống nước Bắc hải. Nhưng, chưa kịp tới Bắc Hải, Khoa Phủ đã chết vì khát. Trước khi chết, Khoa Phủ vất chiếc gậy của mình. Kết quả, chiếc gậy hoá thành một ngọn núi, đó chính là Đại biệt sơn 大别山 nằm ở giao giới Hồ Nam và Hồ Bắc, mọi người gọi nơi này là “Đặng lâm” 邓林.
              Câu chuyện thần thoại Khoa Phủ đuổi theo mặt trời, tuy có chỗ phê bình Khoa Phủ “không tự lượng sức mình”, nhưng tinh thần chủ yếu của câu chuyện là ca tụng vị anh hùng truy cầu lí tưởng tối cao. Để thực hiện lí tưởng tối cao của mình, có thể không ngại hi sinh mà phấn đấu nỗ lực.
              Sơn hải kinh là bộ sách về địa lí, chỉ là khi giới thiệu nhân tình phong tục các nơi mới phụ ghi chép ngắn gọn những truyền thuyết thần thoại. Nhưng nó đã bảo tồn cho chúng ta một số lượng lớn những thần thoại thượng cổ, trở thành điển tịch quan trọng trong văn hoá sử Trung Quốc.
              Thế thì, những núi những sông mà Sơn hải kinh giới thiệu có chính xác không? Ở đây cần phải có quan điểm lịch sử. Có nơi, ví dụ như vùng lưu vực Hoàng hà, về cơ bản là chính xác. Ví dụ như nói đến Bán Thạch sơn 半石山 ở huyện Yển Sư 偃师Nam 河南, sông chảy về phía tây đổ vào Y thuỷ 伊水, sông chảy về phia bắc đổ vào Lạc thuỷ 洛水, là chính xác. Phía đông Bán Thạch sơn 50 dặm có Thiếu Thất sơn 少室山(ngọn núi phía tây của Tung sơn 嵩山), phía đông Thiếu Thất sơn có Thái Thất sơn 泰室山 (ngọn núi chính của Tung Sơn 嵩山) v.v... cũng chính xác.
              Nhưng, khi nói đến địa lí khu vực biên viễn, đặc biệt là địa lí hải ngoại, về cơ bản đều không có căn cứ. Cho nên, nhiều người hoài nghi nó không phải là bộ sách địa lí, mà là tập thành những thần thoại và truyền thuyết, chỉ là mượn danh nghĩa sông núi mà thôi.
              Ảnh hưởng của Sơn hải kinh cực kì to lớn. Nó không chỉ gợi mở cho người đời sau tính tính cực khi khảo sát địa lí, mà còn khiến cho con người dùng trí tưởng tượng phong phú, về thực tế là một loại lí tưởng hùng vĩ của người dân thời cổ muốn chinh phục tự nhiên.
              Học giả nước ngoài nghiên cứu Sơn hải kinh rất nhiều và cũng có nhiều thành tích. Ví dụ như trong Sơn hải kinh có ghi chép liên quan đến mặt trời mọc nơi Đại hiệp cốc 大峡谷 phía đông. Đại hiệp cốc này, tại Nhật Bản, Philippines, Indonesia đều tìm không thấy cho nên có người cho Sơn hải kinh nói không chính xác. Nhưng một học giả người Mĩ lại nói, tình cảnh mà Sơn hải kinh miêu tả, giống hệt với cảnh tượng xem mặt trời mọc tại khu phong cảnh Đại hiệp cốc nước Mĩ. Điều này đã đặt ra cho chúng ta vấn đề, thời Chiến Quốc hoặc thời Tây Hán, có phải người Trung Quốc đã đến châu Mĩ? Đây là một luận đề nghiên cứu khoa học có ý nghĩa sâu xa.

                                                                  Huỳnh Chương Hưng
                                                                  Quy Nhơn 29/11/2017

    Nguyên tác
    Trung văn
    ĐỊA LÍ DANH TRỨ “SƠN HẢI KINH”
    地里名著山海经
    Trong quyển
    VĂN HOÁ NGŨ THIÊN NIÊN
    Biên soạn: Vũ Nhân 羽人
    Thiếu niên nhi đồng xuất bản xã

    Thứ Ba, 28 tháng 11, 2017

    HẠ KHẢI ĐOẠT THIÊN HẠ

              Hạ Khải 夏启là con của ông Vũ , cũng là vị quân vương đời thứ 2 của triều Hạ , còn được gọi là Tự Khải 姒启, Đế Khải 帝启, Hạ Hậu Khải 夏后启, Hạ Vương Khải 夏王启, phụ thân là ông Vũ, mẫu thân là con gái của Đồ Sơn thị 涂山氏. Sau khi phụ thân là ông Vũ qua đời, Hạ Khải kế vị, ông đã đổi cách tuyển chọn tiến cử thủ lĩnh mới, mà thay vào đó là theo mối quan hệ huyết thống, thủ tiêu “thiện nhượng chế” 禅让制, bắt đầu một chương mới về “thế tập chế” 世袭制
              Sau khi Đế Thuấn 帝舜già, nhường vị trí cho Đại Vũ 大武 – người có công trị thuỷ thay thế mình, trở thành vị thủ lĩnh mới của liên minh bộ lạc. Nhưng sau khi Đại Vũ già, chỉ trao danh phận cho người kế thừa có công lớn là Bá Ích 伯益 , để cho con mình là Hạ Khải thực quyền trị lí thiên hạ. Sau khi Hạ Khải tức vị đã dẫn đến sự bất mãn của Bá Ích. Bá Ích vốn là người Đông Di, liền triều tập các bộ tộc Đông Di tấn công Hạ Khải. Nhưng, Hạ Khải sớm đã phòng bị, trải qua một trận kịch chiến, đội quân Đông Di đại bại, Bá Ích cũng bị bắt.
              Để chúc mừng thắng lợi của mình, Hạ Khải đã tổ chức yến tiệc tại Quân Đài 钧台 (nay là Vũ Châu 禹州Nam 河南) mời thủ lĩnh các bộ lạc. Nhưng bộ lạc Hữu Hỗ Thị 有扈氏không những cự tuyệt không đến dự mà còn yêu cầu Hạ Khải trả ngôi vị cho Bá Ích. Đương nhiên Hạ Khải không đồng ý. Thế là Hữu Hỗ Thị lấy đó làm cớ, liên hiệp một số bộ lạc phản đối Hạ Khải, phát binh tấn công Hạ Khải.
              Hạ Khải nhận thấy địa vị thống trị của mình có nguy cơ sụp đỗ, lập tức động viên quân đội vượt qua phía tây Hoàng hà, tiến hành phản kích Hữu Hỗ Thị. Hai bên gặp nhau tại Cam Trạch 甘泽(nay là vùng huyện Hộ Thiểm Tây 陕西) triển khai quyết chiến.
              Trước ngày quyết chiến, Hạ Khải triệu khai đại hội thệ sư, động viên các tướng sĩ phụng hành mệnh lệnh của trời trừng phạt Hữu Hỗ Thị. Ông còn quy định, phàm là trong chiến tranh, ai dũng cảm chiến đấu đều được tưởng thưởng; còn ai lâm trận mà tháo lui, không chỉ bị xử tử mà người trong tộc còn bị phạt làm nô lệ. Dưới sự động viên của Hạ Khải, các tướng sĩ đều phấn chí hiên ngang liều mình. Về phía Hữu Hỗ Thị đều là đội quân lâm thời triệu tập, nên nhanh chóng bị tan rã, nhiều người bị bắt làm nô lệ.
              Từ đó, Hạ Khải têu diệt triệt để Hữu Hỗ Thị, củng cố sự thống trị của mình, trở thành vị quân chủ danh đúng với thực.
              Đợi sau khi bốn phương bình định, Hạ Khải phân định lại cửu châu, uỷ phái thân tín của mình đi quản lí, xưng là “cửu mục” 九牧. Ngoài ra, ông còn kiến lập quân đội, thiết lập các cơ cấu quản lí sự vụ quốc gia, bắt đầu trưng thu thuế khoá. Như vậy, vương triều theo chế độ nô lệ đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc là triều Hạ ra đời.

    Tư liệu bổ sung
              Triều đại đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc là triều Hạ do Hạ Khải kiến lập. Sự kiến lập triều Hạ đã đánh dấu sự diệt vong của xã hội nguyên thuỷ và sự ra đời của xã hội nô lệ. Sự xuất hiện của xã hội nô lệ đã đánh dấu chế độ tư hữu thay thế chế độ công hữu, và để bảo vệ tài sản tư hữu và quyền lực tranh đoạt cần phải kiến lập cơ cấu bạo lực để thực hiện. Sự ra đời của triều Hạ cũng tượng trưng cho sự ra đời nhà nước với công cụ thống trị giai cấp. Vì quyền lợi và tài sản của mình, Hạ Khải đánh bại Bá Ích và Hữu Hỗ Thị, yêu cầu dùng chế độ thế tập thay cho chế độ thiện nhượng, điều này cũng dẫn đến sự tranh đoạt của những người con của Hạ Khải về quyền kế thừa vương vị, khiến thủ túc tương tàn, sát hại lẫn nhau, sử gọi đó là “Vũ Quan chi loạn” 武观之乱 (1).

    Chú của người dịch
    1- Vũ Quan 武观: cũng còn gọi là “Ngũ Quan” 五观là người con thứ 5 của Hạ Khải. Hạ Khải năm thứ 15, Vũ Quan đã phản loạn.
             
                                                             Huỳnh Chương Hưng
                                                             Quy Nhơn 28/11/2017

    Nguyên tác Trung văn
    HẠ KHẢI ĐOẠT THIÊN HẠ
    夏启夺天下
    Trong quyển
    TRUNG QUỐC LỊCH SỬ CỐ SỰ
    中国历史故事
    Biên soạn: Sơ Dương Tả Tả 初阳姐姐
    Trường Xuân: Cát Lâm văn sử xuất bản xã, 2015.

    Dịch thuật: Hạ Khải đoạt thiên hạ

    Đăng lúc  22:58  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    HẠ KHẢI ĐOẠT THIÊN HẠ

              Hạ Khải 夏启là con của ông Vũ , cũng là vị quân vương đời thứ 2 của triều Hạ , còn được gọi là Tự Khải 姒启, Đế Khải 帝启, Hạ Hậu Khải 夏后启, Hạ Vương Khải 夏王启, phụ thân là ông Vũ, mẫu thân là con gái của Đồ Sơn thị 涂山氏. Sau khi phụ thân là ông Vũ qua đời, Hạ Khải kế vị, ông đã đổi cách tuyển chọn tiến cử thủ lĩnh mới, mà thay vào đó là theo mối quan hệ huyết thống, thủ tiêu “thiện nhượng chế” 禅让制, bắt đầu một chương mới về “thế tập chế” 世袭制
              Sau khi Đế Thuấn 帝舜già, nhường vị trí cho Đại Vũ 大武 – người có công trị thuỷ thay thế mình, trở thành vị thủ lĩnh mới của liên minh bộ lạc. Nhưng sau khi Đại Vũ già, chỉ trao danh phận cho người kế thừa có công lớn là Bá Ích 伯益 , để cho con mình là Hạ Khải thực quyền trị lí thiên hạ. Sau khi Hạ Khải tức vị đã dẫn đến sự bất mãn của Bá Ích. Bá Ích vốn là người Đông Di, liền triều tập các bộ tộc Đông Di tấn công Hạ Khải. Nhưng, Hạ Khải sớm đã phòng bị, trải qua một trận kịch chiến, đội quân Đông Di đại bại, Bá Ích cũng bị bắt.
              Để chúc mừng thắng lợi của mình, Hạ Khải đã tổ chức yến tiệc tại Quân Đài 钧台 (nay là Vũ Châu 禹州Nam 河南) mời thủ lĩnh các bộ lạc. Nhưng bộ lạc Hữu Hỗ Thị 有扈氏không những cự tuyệt không đến dự mà còn yêu cầu Hạ Khải trả ngôi vị cho Bá Ích. Đương nhiên Hạ Khải không đồng ý. Thế là Hữu Hỗ Thị lấy đó làm cớ, liên hiệp một số bộ lạc phản đối Hạ Khải, phát binh tấn công Hạ Khải.
              Hạ Khải nhận thấy địa vị thống trị của mình có nguy cơ sụp đỗ, lập tức động viên quân đội vượt qua phía tây Hoàng hà, tiến hành phản kích Hữu Hỗ Thị. Hai bên gặp nhau tại Cam Trạch 甘泽(nay là vùng huyện Hộ Thiểm Tây 陕西) triển khai quyết chiến.
              Trước ngày quyết chiến, Hạ Khải triệu khai đại hội thệ sư, động viên các tướng sĩ phụng hành mệnh lệnh của trời trừng phạt Hữu Hỗ Thị. Ông còn quy định, phàm là trong chiến tranh, ai dũng cảm chiến đấu đều được tưởng thưởng; còn ai lâm trận mà tháo lui, không chỉ bị xử tử mà người trong tộc còn bị phạt làm nô lệ. Dưới sự động viên của Hạ Khải, các tướng sĩ đều phấn chí hiên ngang liều mình. Về phía Hữu Hỗ Thị đều là đội quân lâm thời triệu tập, nên nhanh chóng bị tan rã, nhiều người bị bắt làm nô lệ.
              Từ đó, Hạ Khải têu diệt triệt để Hữu Hỗ Thị, củng cố sự thống trị của mình, trở thành vị quân chủ danh đúng với thực.
              Đợi sau khi bốn phương bình định, Hạ Khải phân định lại cửu châu, uỷ phái thân tín của mình đi quản lí, xưng là “cửu mục” 九牧. Ngoài ra, ông còn kiến lập quân đội, thiết lập các cơ cấu quản lí sự vụ quốc gia, bắt đầu trưng thu thuế khoá. Như vậy, vương triều theo chế độ nô lệ đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc là triều Hạ ra đời.

    Tư liệu bổ sung
              Triều đại đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc là triều Hạ do Hạ Khải kiến lập. Sự kiến lập triều Hạ đã đánh dấu sự diệt vong của xã hội nguyên thuỷ và sự ra đời của xã hội nô lệ. Sự xuất hiện của xã hội nô lệ đã đánh dấu chế độ tư hữu thay thế chế độ công hữu, và để bảo vệ tài sản tư hữu và quyền lực tranh đoạt cần phải kiến lập cơ cấu bạo lực để thực hiện. Sự ra đời của triều Hạ cũng tượng trưng cho sự ra đời nhà nước với công cụ thống trị giai cấp. Vì quyền lợi và tài sản của mình, Hạ Khải đánh bại Bá Ích và Hữu Hỗ Thị, yêu cầu dùng chế độ thế tập thay cho chế độ thiện nhượng, điều này cũng dẫn đến sự tranh đoạt của những người con của Hạ Khải về quyền kế thừa vương vị, khiến thủ túc tương tàn, sát hại lẫn nhau, sử gọi đó là “Vũ Quan chi loạn” 武观之乱 (1).

    Chú của người dịch
    1- Vũ Quan 武观: cũng còn gọi là “Ngũ Quan” 五观là người con thứ 5 của Hạ Khải. Hạ Khải năm thứ 15, Vũ Quan đã phản loạn.
             
                                                             Huỳnh Chương Hưng
                                                             Quy Nhơn 28/11/2017

    Nguyên tác Trung văn
    HẠ KHẢI ĐOẠT THIÊN HẠ
    夏启夺天下
    Trong quyển
    TRUNG QUỐC LỊCH SỬ CỐ SỰ
    中国历史故事
    Biên soạn: Sơ Dương Tả Tả 初阳姐姐
    Trường Xuân: Cát Lâm văn sử xuất bản xã, 2015.

    Thứ Hai, 27 tháng 11, 2017

     “QUAN” VÀ “MIỆN” CÓ GÌ KHU BIỆT

              Thời cổ, khi con trai đến 20 tuổi phải cử hành “quán lễ” 冠礼 (lễ đội mũ), từ lúc đó, con trai bắt đầu đội một loại trang sức trên đầu gọi là “quan” . “Quan” cũng là một loại trang sức mà con trai thành niên của giới quý tộc phải chuẩn bị. Nhìn chung, trẻ em, bình dân, tội phạm, dị tộc thì không đội quan. Cho nên, “quan” được xem như là tiêu chí phân định về địa vị đẳng cấp thời cổ. Nhưng đế vương lúc đăng cơ, thường nói là “gia miện” 加冕, mà không nói là “gia quan” 加冠, lẽ nào “miện” còn tôn quý hơn “quan”? “Quan” và “miện” có gì khu biệt?
              Theo truyền thuyết, “quan” và “miện” đều là một loại mũ. Theo ghi chép trong Hậu Hán thư 后汉书:
    Thượng cổ ý mao nhi mạo bì.
    上古衣毛而冒皮
    (Thời thượng cổ người ta mặc áo làm bằng lông thú và đội mũ làm bằng da thú)
              Người đời sau khi chú thích có nói: “mạo” chỉ “mạo tử” 帽子 (cái mũ).
    Cho nên có quan điểm cho rằng, vào thời thượng cổ đã xuất hiện “mạo tử”. Lúc bấy giờ, nó là một loại công cụ dùng để ngăn lạnh giữ ấm, che nắng che mưa. Theo sự phát triển của sức sản xuất, kiến lập chế độ đẳng cấp mới xuất hiện  sự phân loại “quan” và “miện”.
              Quan không chỉ là vật trang sức trên đầu, mà còn tượng trưng cho thân phận, lễ nghi. Quan không giống như cái mũ của chúng ta ngày nay, nó chỉ che một bộ phận nhỏ trên đỉnh đầu. Người xưa dùng quan trùm lên búi tóc trên đỉnh đầu, dùng cây kê để cố định. Có loại quan 2 bên có có 2 sợi dây, cũng dùng để cố định quan. Theo sử liệu ghi chép, từ việc có hay không có trang sức loại quan trên đỉnh đầu có thể thấy được đẳng cấp tôn quý hay thấp kém, còn có thể từ loại quan đang đội phân biệt được thân phận. Thời cổ, theo địa vị cao thấp, có thể chia “quan” ra làm “thông thiên quan” 通天冠 và “tiến đức quan” 进德冠.  Thông thường, “thông thiên quan” là loại quan của đế vương đội, “tiến đức quan” là loại quan của các trọng thần trong triều đội.
              Theo sự khảo chứng, sự xuất hiện của “miện” sớm hơn “quan”, được xem là một loại “lễ quan” tôn quý nhất. Lúc ban đầu, miện chỉ có đế vương phong kiến cùng sĩ đại phu trở lên mới có thể đội. Sau thời Nam Bắc triều, miện trở thành một loại chuyên dành cho hoàng đế. Nhìn chung, miện bên ngoài thì đen, bên trong thì đỏ, bên trên có một tấm ván mỏng hình chữ nhật, gọi là “diên” . Với miện thì trước thấp sau cao; ở 2 đầu phía trước và sau của “diên” có mấy chuỗi hạt châu, lấy ý nghĩa để mắt không nhìn tà vạy. Hai bên “miện” có 2 sợi dây tơ, lấy ý nghĩa để tai không nghe những lời sàm tấu. Có một số sử liệu ghi chép, miện của thiên tử trước và sau có những chuỗi dây gắn hạt châu, gọi là “lưu” . Nhân vì trước và sau mỗi phía có 12 lưu, nên miện của thiên tử còn được gọi là “thập nhị lưu miện” 十二旒冕. Đội lưu miện là tượng trưng cho đế vương, nên việc kế thừa hoàng vị có cách nói là “gia miện” 加冕.

                                                       Huỳnh Chương Hưng
                                                       Quy Nhơn 27/11/2017

    Nguyên tác Trung văn
    Trong quyển
    THÚ VỊ VĂN HOÁ TRI THỨC ĐẠI TOÀN
    趣味文化知识大全
    Thanh Thạch 青石 biên soạn
    Trung Quốc Hoa kiều xuất bản xã, 2013

    Dịch thuật: "Quan" và "miện" có gì khu biệt

    Đăng lúc  18:17  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

     “QUAN” VÀ “MIỆN” CÓ GÌ KHU BIỆT

              Thời cổ, khi con trai đến 20 tuổi phải cử hành “quán lễ” 冠礼 (lễ đội mũ), từ lúc đó, con trai bắt đầu đội một loại trang sức trên đầu gọi là “quan” . “Quan” cũng là một loại trang sức mà con trai thành niên của giới quý tộc phải chuẩn bị. Nhìn chung, trẻ em, bình dân, tội phạm, dị tộc thì không đội quan. Cho nên, “quan” được xem như là tiêu chí phân định về địa vị đẳng cấp thời cổ. Nhưng đế vương lúc đăng cơ, thường nói là “gia miện” 加冕, mà không nói là “gia quan” 加冠, lẽ nào “miện” còn tôn quý hơn “quan”? “Quan” và “miện” có gì khu biệt?
              Theo truyền thuyết, “quan” và “miện” đều là một loại mũ. Theo ghi chép trong Hậu Hán thư 后汉书:
    Thượng cổ ý mao nhi mạo bì.
    上古衣毛而冒皮
    (Thời thượng cổ người ta mặc áo làm bằng lông thú và đội mũ làm bằng da thú)
              Người đời sau khi chú thích có nói: “mạo” chỉ “mạo tử” 帽子 (cái mũ).
    Cho nên có quan điểm cho rằng, vào thời thượng cổ đã xuất hiện “mạo tử”. Lúc bấy giờ, nó là một loại công cụ dùng để ngăn lạnh giữ ấm, che nắng che mưa. Theo sự phát triển của sức sản xuất, kiến lập chế độ đẳng cấp mới xuất hiện  sự phân loại “quan” và “miện”.
              Quan không chỉ là vật trang sức trên đầu, mà còn tượng trưng cho thân phận, lễ nghi. Quan không giống như cái mũ của chúng ta ngày nay, nó chỉ che một bộ phận nhỏ trên đỉnh đầu. Người xưa dùng quan trùm lên búi tóc trên đỉnh đầu, dùng cây kê để cố định. Có loại quan 2 bên có có 2 sợi dây, cũng dùng để cố định quan. Theo sử liệu ghi chép, từ việc có hay không có trang sức loại quan trên đỉnh đầu có thể thấy được đẳng cấp tôn quý hay thấp kém, còn có thể từ loại quan đang đội phân biệt được thân phận. Thời cổ, theo địa vị cao thấp, có thể chia “quan” ra làm “thông thiên quan” 通天冠 và “tiến đức quan” 进德冠.  Thông thường, “thông thiên quan” là loại quan của đế vương đội, “tiến đức quan” là loại quan của các trọng thần trong triều đội.
              Theo sự khảo chứng, sự xuất hiện của “miện” sớm hơn “quan”, được xem là một loại “lễ quan” tôn quý nhất. Lúc ban đầu, miện chỉ có đế vương phong kiến cùng sĩ đại phu trở lên mới có thể đội. Sau thời Nam Bắc triều, miện trở thành một loại chuyên dành cho hoàng đế. Nhìn chung, miện bên ngoài thì đen, bên trong thì đỏ, bên trên có một tấm ván mỏng hình chữ nhật, gọi là “diên” . Với miện thì trước thấp sau cao; ở 2 đầu phía trước và sau của “diên” có mấy chuỗi hạt châu, lấy ý nghĩa để mắt không nhìn tà vạy. Hai bên “miện” có 2 sợi dây tơ, lấy ý nghĩa để tai không nghe những lời sàm tấu. Có một số sử liệu ghi chép, miện của thiên tử trước và sau có những chuỗi dây gắn hạt châu, gọi là “lưu” . Nhân vì trước và sau mỗi phía có 12 lưu, nên miện của thiên tử còn được gọi là “thập nhị lưu miện” 十二旒冕. Đội lưu miện là tượng trưng cho đế vương, nên việc kế thừa hoàng vị có cách nói là “gia miện” 加冕.

                                                       Huỳnh Chương Hưng
                                                       Quy Nhơn 27/11/2017

    Nguyên tác Trung văn
    Trong quyển
    THÚ VỊ VĂN HOÁ TRI THỨC ĐẠI TOÀN
    趣味文化知识大全
    Thanh Thạch 青石 biên soạn
    Trung Quốc Hoa kiều xuất bản xã, 2013

    Chủ Nhật, 26 tháng 11, 2017

    BẮC MÔN HỌC SĨ

              Sau thời Càn Phong 乾封 đời Đường Cao Tông, Võ Tắc Thiên 武则天 bắt đầu tìm kiếm một số tài sĩ văn học, số nhân sĩ trước sau chiêu mộ được rất đông, nổi tiếng có Lưu Huy Chi 刘褘之, Nguyên Vạn Khoảnh 元万顷, Phạm Lí Băng 范履冰, Miêu Thần Khách 苗神客, Chu Tư Mậu 周思茂, Hồ Sở Binh 胡楚兵, Vệ Kính Nghiệp 卫敬业.
              Võ Tắc Thiên triệu những văn sĩ này vào cung, để họ biên soạn các sách như Liệt nữ truyện 列女传, Cổ kim nội phạm 古今内范, Bách liêu tân giới 百僚新诫, Thần quỹ 臣轨, còn để cho họ tham dự triều chính, cùng nghị bàn quân chính đại sự, nắm giữ tấu nghị và biểu sớ của các quan, lấy đó để phân quyền Tể tướng, trở thành một trung tâm chính vụ của triều đình.
              Số văn sĩ mà Võ Tắc Thiên chiêu mộ được xem như túi trí tuệ của Võ Tắc Thiên. Những văn sĩ này đặc biệt được vào cấm trung từ cửa bắc của hoàng cung, không qua nam nha, cho nên người đương thời gọi họ là “Bắc môn học sĩ” 北门学士. Cửa bắc hoàng cung là cấm địa của hoàng gia, là cửa sau của hoàng cung, chỉ có hoàng đế, hậu phi, thái tử, chư vương mới có thể ra vào, cấm vệ quân canh giữ rất nghiêm nhặt, bất cứ thần liêu nào cũng không thể vào. Những văn sĩ này từ cửa bắc vào ra, thực tế đó là một loại đặc ân mà Võ Tắc Thiên ban cho, các văn sĩ nguyện chết vì tri kỉ của mình vô cùng cảm kích, một lòng tuân theo.
              Bắc môn học sĩ quả thực đã có công lao hãn mã giúp Võ Tắc Thiên nắm giữ thiên hạ. Họ có học thức uyên bác, thiên tư thông minh, thường ngày nêu chủ ý, dâng kiến nghị lên Võ Tắc Thiên, đồng thời tạo dư luận, Võ Tắc Thiên vô cùng hài lòng, cũng vô cùng tán thưởng. Võ Tắc Thiên đối với Bắc môn học sĩ rất quan tâm, dường như mỗi ngày đều đi thăm, nghe họ bẩm báo, và trực tiếp ra ý chỉ. Nhiều người trong số họ cũng đảm nhận những chức vụ trọng yếu, trở thành tâm phúc của Võ Tắc Thiên trong việc trị lí quốc sự, địa vị của họ cũng cao. Nhất là Lưu Huy Chi vào năm Tự Thánh 嗣圣thứ nhất khi Võ Tắc Thiên lâm triều, trong việc phế lập Trung Tông 中宗, Duệ Tông 睿宗, ông đã góp sức to lớn, nhân đó mà được đề bạt làm Tể tướng.

                                                                 Huỳnh Chương Hưng
                                                                 Quy Nhơn 26/11/2017

    Nguồn
    HOÀNG TRIỀU ĐIỂN CỐ KỈ VĂN
    皇朝典故纪闻
    Tác giả: Hướng Tư 向斯
    Bắc Kinh: Trung Quốc văn sử xuất bản xã, 2002

    Dịch thuật: Bắc Môn học sĩ

    Đăng lúc  19:45  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    BẮC MÔN HỌC SĨ

              Sau thời Càn Phong 乾封 đời Đường Cao Tông, Võ Tắc Thiên 武则天 bắt đầu tìm kiếm một số tài sĩ văn học, số nhân sĩ trước sau chiêu mộ được rất đông, nổi tiếng có Lưu Huy Chi 刘褘之, Nguyên Vạn Khoảnh 元万顷, Phạm Lí Băng 范履冰, Miêu Thần Khách 苗神客, Chu Tư Mậu 周思茂, Hồ Sở Binh 胡楚兵, Vệ Kính Nghiệp 卫敬业.
              Võ Tắc Thiên triệu những văn sĩ này vào cung, để họ biên soạn các sách như Liệt nữ truyện 列女传, Cổ kim nội phạm 古今内范, Bách liêu tân giới 百僚新诫, Thần quỹ 臣轨, còn để cho họ tham dự triều chính, cùng nghị bàn quân chính đại sự, nắm giữ tấu nghị và biểu sớ của các quan, lấy đó để phân quyền Tể tướng, trở thành một trung tâm chính vụ của triều đình.
              Số văn sĩ mà Võ Tắc Thiên chiêu mộ được xem như túi trí tuệ của Võ Tắc Thiên. Những văn sĩ này đặc biệt được vào cấm trung từ cửa bắc của hoàng cung, không qua nam nha, cho nên người đương thời gọi họ là “Bắc môn học sĩ” 北门学士. Cửa bắc hoàng cung là cấm địa của hoàng gia, là cửa sau của hoàng cung, chỉ có hoàng đế, hậu phi, thái tử, chư vương mới có thể ra vào, cấm vệ quân canh giữ rất nghiêm nhặt, bất cứ thần liêu nào cũng không thể vào. Những văn sĩ này từ cửa bắc vào ra, thực tế đó là một loại đặc ân mà Võ Tắc Thiên ban cho, các văn sĩ nguyện chết vì tri kỉ của mình vô cùng cảm kích, một lòng tuân theo.
              Bắc môn học sĩ quả thực đã có công lao hãn mã giúp Võ Tắc Thiên nắm giữ thiên hạ. Họ có học thức uyên bác, thiên tư thông minh, thường ngày nêu chủ ý, dâng kiến nghị lên Võ Tắc Thiên, đồng thời tạo dư luận, Võ Tắc Thiên vô cùng hài lòng, cũng vô cùng tán thưởng. Võ Tắc Thiên đối với Bắc môn học sĩ rất quan tâm, dường như mỗi ngày đều đi thăm, nghe họ bẩm báo, và trực tiếp ra ý chỉ. Nhiều người trong số họ cũng đảm nhận những chức vụ trọng yếu, trở thành tâm phúc của Võ Tắc Thiên trong việc trị lí quốc sự, địa vị của họ cũng cao. Nhất là Lưu Huy Chi vào năm Tự Thánh 嗣圣thứ nhất khi Võ Tắc Thiên lâm triều, trong việc phế lập Trung Tông 中宗, Duệ Tông 睿宗, ông đã góp sức to lớn, nhân đó mà được đề bạt làm Tể tướng.

                                                                 Huỳnh Chương Hưng
                                                                 Quy Nhơn 26/11/2017

    Nguồn
    HOÀNG TRIỀU ĐIỂN CỐ KỈ VĂN
    皇朝典故纪闻
    Tác giả: Hướng Tư 向斯
    Bắc Kinh: Trung Quốc văn sử xuất bản xã, 2002

    Thứ Bảy, 25 tháng 11, 2017

    MỄ PHÍ BÁI THẠCH

              Tại vùng Liên Thuỷ 涟水, mọi người đều tôn xưng Mễ Phí 米芾, gọi ông là Mễ Công 米公. Thường ngày, Mễ Phí rất yêu thích cổ vật, đặc biệt là đá. Không thấy đá lạ thì thôi, hễ thấy là không rời. Thậm chí có thể bỏ ra gấp mấy chục đến mấy trăm giá bạc để mua. Vì thế một số người gọi ông là Mễ Điên Công 米颠公.
              Khi Mễ Công làm quan ở Liên Thuỷ, có một lần đi đến nông thôn quan sát dân tình tại một thôn gần núi Kê Nga ở phía bắc thành, Mễ Phí phát hiện nơi gian nhà với bức tường cũ nát của một bà lão có một cục đá hình dạng kì lạ đang phát ra ánh sáng, liền reo lên:
              - Kì thạch! Kì thạch!
              Mễ Phí bèn hướng tới bà lão thi lễ và nói:
              - Cục đá nhà cụ có thể bán không?
              Do bởi Mễ Phí cải trang, nên bà lão không nhận ra, bèn từ từ lắc đầu, nói rằng:
              - Không bán đâu!
              Mễ Công nghe nói không bán liền bỏ đi.
              Ngày hôm sau, Mễ Công đi thăm mấy thôn, lúc đi ngang qua nhà bà lão lại nhắc bà lão việc bán cục đá. Bà lão nghĩ bụng: Cục đá đó đáng giá lắm sao? Bán nó làm gì chứ? Để trong nhà kê chân tường cũng tốt vậy. Thế là không đồng ý bán. Mễ Công đành lưu luyến rời đi về phủ.
              Sáng sớm ngày thứ ba, sau khi ăn sáng xong, Mễ Công theo lệ đi quan sát dân tình, lại đi qua nhà bà lão. Lần này Mễ Công không nói gì với bà lão, chỉ đứng từ xa đăm đăm nhìn cục đá có vẻ xuất thần. Bà lão thấy Mễ Công hai ba lần đến nhà, liền chào hỏi:
              - Học quan, ngài như đã thích cục đá cũ kĩ này thì tôi tặng cho ngài!
              Mễ Công vừa mới nghe bà lão bằng lòng, đã vui đến  phát cuồng, vội chắp tay, miệng không ngớt cám ơn. Mễ Công từ trong túi áo lấy ra 30 lượng bạc, hai tay đưa cho bà lão.
              Bà lão nhìn thấy, phút chốc hoảng kinh, liền nói:
              - Học quan, sao đáng giá số bạc lớn như thế? Cục đá này tôi tặng cho ngài, để ở nhà cũng chẳng ích gì, ngài mau thu lại số bạc đi!
              Mễ Công bảo rằng:
              - Tôi bình sinh rất ưa thích đá lạ, rất khó để cụ bán nó cho tôi. Muôn vàn cảm tạ! muôn vàn cảm tạ!
              Sau một hồi nghe Mễ Công khuyên bảo, bà lão cuối cùng nhận lấy số bạc.
              Về sau bọn gian nịnh biết được việc đó, chê cười rằng:
              - Mễ Phí ngốc nghếch như thế, quả thực là xứng với tên gọi “điên công”.
    Mễ Phí nghe được, không hề biện minh lời nào, ông luôn lấy cái điên dại ấy lo cho dân, trừ bọn gian tà, khiến lũ tham quan ô lại không thể nào thoát được.

                                                             Huỳnh Chương Hưng
                                                             Quy Nhơn 25/11/2017

    Dịch thuật: Mễ Phí bái thạch

    Đăng lúc  22:58  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    MỄ PHÍ BÁI THẠCH

              Tại vùng Liên Thuỷ 涟水, mọi người đều tôn xưng Mễ Phí 米芾, gọi ông là Mễ Công 米公. Thường ngày, Mễ Phí rất yêu thích cổ vật, đặc biệt là đá. Không thấy đá lạ thì thôi, hễ thấy là không rời. Thậm chí có thể bỏ ra gấp mấy chục đến mấy trăm giá bạc để mua. Vì thế một số người gọi ông là Mễ Điên Công 米颠公.
              Khi Mễ Công làm quan ở Liên Thuỷ, có một lần đi đến nông thôn quan sát dân tình tại một thôn gần núi Kê Nga ở phía bắc thành, Mễ Phí phát hiện nơi gian nhà với bức tường cũ nát của một bà lão có một cục đá hình dạng kì lạ đang phát ra ánh sáng, liền reo lên:
              - Kì thạch! Kì thạch!
              Mễ Phí bèn hướng tới bà lão thi lễ và nói:
              - Cục đá nhà cụ có thể bán không?
              Do bởi Mễ Phí cải trang, nên bà lão không nhận ra, bèn từ từ lắc đầu, nói rằng:
              - Không bán đâu!
              Mễ Công nghe nói không bán liền bỏ đi.
              Ngày hôm sau, Mễ Công đi thăm mấy thôn, lúc đi ngang qua nhà bà lão lại nhắc bà lão việc bán cục đá. Bà lão nghĩ bụng: Cục đá đó đáng giá lắm sao? Bán nó làm gì chứ? Để trong nhà kê chân tường cũng tốt vậy. Thế là không đồng ý bán. Mễ Công đành lưu luyến rời đi về phủ.
              Sáng sớm ngày thứ ba, sau khi ăn sáng xong, Mễ Công theo lệ đi quan sát dân tình, lại đi qua nhà bà lão. Lần này Mễ Công không nói gì với bà lão, chỉ đứng từ xa đăm đăm nhìn cục đá có vẻ xuất thần. Bà lão thấy Mễ Công hai ba lần đến nhà, liền chào hỏi:
              - Học quan, ngài như đã thích cục đá cũ kĩ này thì tôi tặng cho ngài!
              Mễ Công vừa mới nghe bà lão bằng lòng, đã vui đến  phát cuồng, vội chắp tay, miệng không ngớt cám ơn. Mễ Công từ trong túi áo lấy ra 30 lượng bạc, hai tay đưa cho bà lão.
              Bà lão nhìn thấy, phút chốc hoảng kinh, liền nói:
              - Học quan, sao đáng giá số bạc lớn như thế? Cục đá này tôi tặng cho ngài, để ở nhà cũng chẳng ích gì, ngài mau thu lại số bạc đi!
              Mễ Công bảo rằng:
              - Tôi bình sinh rất ưa thích đá lạ, rất khó để cụ bán nó cho tôi. Muôn vàn cảm tạ! muôn vàn cảm tạ!
              Sau một hồi nghe Mễ Công khuyên bảo, bà lão cuối cùng nhận lấy số bạc.
              Về sau bọn gian nịnh biết được việc đó, chê cười rằng:
              - Mễ Phí ngốc nghếch như thế, quả thực là xứng với tên gọi “điên công”.
    Mễ Phí nghe được, không hề biện minh lời nào, ông luôn lấy cái điên dại ấy lo cho dân, trừ bọn gian tà, khiến lũ tham quan ô lại không thể nào thoát được.

                                                             Huỳnh Chương Hưng
                                                             Quy Nhơn 25/11/2017

    Thứ Sáu, 24 tháng 11, 2017



    仆勾山  咸阴山  洵山 
    又东五百里, 曰仆勾之山, 其上多金玉, 其下多草木, 无鸟兽, 无水.
    又东五百里, 曰咸阴之山, 无草木, 无水.
    又东五百里, 曰洵山, 其阳多金, 其阴多玉. 有兽焉, 其状如羊而无口, 不可杀也, 其名曰 ..... (1) (*). 洵水出焉, 而南流注于阏之泽, 其中多芘赢.
                                      (山海经 - 南山经)

    BỘC CÂU SƠN   HÀM ÂM SƠN   TUÂN SƠN
              Hựu đông ngũ bách lí, viết Bộc Câu chi sơn, kì thượng đa kim ngọc, hì hạ đa thảo mộc, vô điểu thú, vô thuỷ.
              Hựu đông ngũ bách lí, viết Hàm Âm chi sơn, vô thảo mộc, vô thuỷ.
              Hựu đông ngũ bách lí, viết Tuân sơn, kì dương đa kim, kì âm đa ngọc. Hữu thú yên, kì trạng như dương nhi vô khẩu, bất khả sát, kì danh viết Hoạn (1) (*). Tuân thuỷ xuất yên, nhi nam lưu chú vu Át chi trạch, kì trung đa tỉ doanh.
                                                                            (Sơn hải kinh – Nam sơn kinh)

    BỘC CÂU SƠN, HÀM ÂM SƠN, TUÂN SƠN
              Lại hướng về phía đông 500 dặm, có Bộc Câu sơn, trên núi có nhiều kim thuộc và ngọc, dưới núi có nhiều cây cỏ, không có điểu thú, cũng không có sông.
              Lại hướng về phía đông 500 dặm, có Hàm Âm sơn, trên núi không có cây cỏ, cũng không có sông.
              Lại hướng về đông 500 dặm, có Tuân sơn, phía nam của núi có nhiều kim thuộc, phía bắc của núi có nhiều ngọc.Trong núi có một loài dã thú, hình trạng giống như dê nhưng không có miệng, không ăn mà cũng có thể sống bình thường, tên của nó là “hoạn”. Sông Tuân bắt nguồn từ núi này, sau đó chảy về hướng nam rồi đổ vào đầm Át, sông Tuân sản xuất nhiều loại ốc có sắc tím.

    Chú của nguyên tác
    1- ....... : một loài dã thú giống dê trong truyền thuyết.

    Chú của người dịch
    *- Chữ này gồm bộ bên trái và chữ bên phải.
    Khang Hi tự điển có ghi:
    Quảng vận 廣運 phiên thiết là HỘ QUAN .
    Tập vận 集運 phiên thiết là HỒ QUAN .
    đều có âm là . Trong nguyên tác, bính âm là huan (thanh 4)

                                                                              Huỳnh Chương Hưng
                                                                              Quy Nhơn 24/11/2017

    Nguyên tác
    BỘC CÂU SƠN   HÀM ÂM SƠN   TUÂN SƠN
    成山  会稽山  夷玉山
    Trong quyển
    SƠN HẢI KINH
    山海经
    Tác giả: Lưu Hướng 刘向, Lưu Hâm 刘歆 (Tây Hán)
    Cáp nhĩ Tân: Bắc phương văn nghệ xuất bản xã, 2013 

    Dịch thuật: Bộc Câu sơn, Hàm Âm sơn, Tuân sơn (Sơn hải kinh)

    Đăng lúc  20:17  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »



    仆勾山  咸阴山  洵山 
    又东五百里, 曰仆勾之山, 其上多金玉, 其下多草木, 无鸟兽, 无水.
    又东五百里, 曰咸阴之山, 无草木, 无水.
    又东五百里, 曰洵山, 其阳多金, 其阴多玉. 有兽焉, 其状如羊而无口, 不可杀也, 其名曰 ..... (1) (*). 洵水出焉, 而南流注于阏之泽, 其中多芘赢.
                                      (山海经 - 南山经)

    BỘC CÂU SƠN   HÀM ÂM SƠN   TUÂN SƠN
              Hựu đông ngũ bách lí, viết Bộc Câu chi sơn, kì thượng đa kim ngọc, hì hạ đa thảo mộc, vô điểu thú, vô thuỷ.
              Hựu đông ngũ bách lí, viết Hàm Âm chi sơn, vô thảo mộc, vô thuỷ.
              Hựu đông ngũ bách lí, viết Tuân sơn, kì dương đa kim, kì âm đa ngọc. Hữu thú yên, kì trạng như dương nhi vô khẩu, bất khả sát, kì danh viết Hoạn (1) (*). Tuân thuỷ xuất yên, nhi nam lưu chú vu Át chi trạch, kì trung đa tỉ doanh.
                                                                            (Sơn hải kinh – Nam sơn kinh)

    BỘC CÂU SƠN, HÀM ÂM SƠN, TUÂN SƠN
              Lại hướng về phía đông 500 dặm, có Bộc Câu sơn, trên núi có nhiều kim thuộc và ngọc, dưới núi có nhiều cây cỏ, không có điểu thú, cũng không có sông.
              Lại hướng về phía đông 500 dặm, có Hàm Âm sơn, trên núi không có cây cỏ, cũng không có sông.
              Lại hướng về đông 500 dặm, có Tuân sơn, phía nam của núi có nhiều kim thuộc, phía bắc của núi có nhiều ngọc.Trong núi có một loài dã thú, hình trạng giống như dê nhưng không có miệng, không ăn mà cũng có thể sống bình thường, tên của nó là “hoạn”. Sông Tuân bắt nguồn từ núi này, sau đó chảy về hướng nam rồi đổ vào đầm Át, sông Tuân sản xuất nhiều loại ốc có sắc tím.

    Chú của nguyên tác
    1- ....... : một loài dã thú giống dê trong truyền thuyết.

    Chú của người dịch
    *- Chữ này gồm bộ bên trái và chữ bên phải.
    Khang Hi tự điển có ghi:
    Quảng vận 廣運 phiên thiết là HỘ QUAN .
    Tập vận 集運 phiên thiết là HỒ QUAN .
    đều có âm là . Trong nguyên tác, bính âm là huan (thanh 4)

                                                                              Huỳnh Chương Hưng
                                                                              Quy Nhơn 24/11/2017

    Nguyên tác
    BỘC CÂU SƠN   HÀM ÂM SƠN   TUÂN SƠN
    成山  会稽山  夷玉山
    Trong quyển
    SƠN HẢI KINH
    山海经
    Tác giả: Lưu Hướng 刘向, Lưu Hâm 刘歆 (Tây Hán)
    Cáp nhĩ Tân: Bắc phương văn nghệ xuất bản xã, 2013 

    Mã nguồn bởi Huỳnh Chương Hưng
    Copyright © 2012 Huỳnh Chương Hưng.
    back to top