• Chủ Nhật, 18 tháng 2, 2018



    THANG VIÊN VÀ TRƯỜNG THỌ THÁI

    1- Thang viên 湯圓 (chè trôi nước)
              Thang viên có dạng hình tròn, tượng trưng cho “viên mãn”, “đoàn viên” và “mĩ mãn”, là món ăn cát tường mà người Trung Quốc rất thích. Nhiều nơi ở Trung Quốc vào ngày mồng 1 tết, người ta lấy nếp làm thành những viên tròn nấu lên để dâng cúng trời đất, Táo thần và tổ tiên, cầu mong “đoàn viên, đoàn viên”.
              Từ thời Xuân Thu Chiến Quốc cho đến nay, thang viên đã có lịch sử hơn 2000 năm. Mỗi khi vào ngày rằm tháng Giêng, mọi người đều nấu thang viên, gọi đó là “nguyên tiêu”. Ý nghĩa rất rõ ràng, tức cầu mong thang viên chốn nhân gian cũng tròn như trăng rằm trên trời, dự báo cả nhà một năm mới đoàn viên sum họp, vạn sự thuận tâm.
              Người thân bạn bè trước khi đi đâu đó, người ta cũng thường nấu thang viên, bảo người đó ăn thật nhiều. Họ cho là làm như vậy sẽ giảm thiểu nỗi khổ li biệt của đôi bên, quả thực là:
    Ngật liễu thang viên hảo đoàn viên
    吃了湯圓好團圓
    (Ăn thang viên được đoàn viên)
    2- Trường thọ thái 長壽菜 (rau cải cay)
              Tại Đài Loan gọi cải cay là “Trường thọ thái”, thân và lá của nó đặc biệt dài, hơi có vị đắng và cay. Vào ngày tết, người dân Đài Loan có tập tục là lấy bột làm thành sợi cho vào nấu chung với cải. Sợi bột tương đối dài, cải cũng tương đối dài, nhân đó mang ý nghĩa trường thọ.
              Tại Tuân Hoá 遵化ở Hà Bắc 河北, vào tháng 8 âm lịch, người ta hái rau răng ngựa (mã xỉ hiện 馬齒莧) phơi khô cất để đến tết dùng, gọi đó là “trường thọ thái”. Làm như thế cũng là để mong cát lợi trường thọ.

                                                                             Huỳnh Chương Hưng
                                                                             Quy Nhơn 18/02/2018
                                                                              Mồng 3 tết Mậu Tuất

    Nguyên tác Trung văn
    THANG VIÊN, TRƯỜNG THỌ THÁI
    湯圓, 長壽菜
    Trong quyển
    CÁT TƯỜNG ĐÍCH TRUNG QUỐC
    吉祥的中國
    Bản công ti biên tập bộ biên soạn
    Ngọc thụ đồ thư ấn loát hữu hạn công ti, năm Dân Quốc thứ 90.

    Dịch thuật: Thang viên và Trường thọ thái

    Đăng lúc  19:46  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »



    THANG VIÊN VÀ TRƯỜNG THỌ THÁI

    1- Thang viên 湯圓 (chè trôi nước)
              Thang viên có dạng hình tròn, tượng trưng cho “viên mãn”, “đoàn viên” và “mĩ mãn”, là món ăn cát tường mà người Trung Quốc rất thích. Nhiều nơi ở Trung Quốc vào ngày mồng 1 tết, người ta lấy nếp làm thành những viên tròn nấu lên để dâng cúng trời đất, Táo thần và tổ tiên, cầu mong “đoàn viên, đoàn viên”.
              Từ thời Xuân Thu Chiến Quốc cho đến nay, thang viên đã có lịch sử hơn 2000 năm. Mỗi khi vào ngày rằm tháng Giêng, mọi người đều nấu thang viên, gọi đó là “nguyên tiêu”. Ý nghĩa rất rõ ràng, tức cầu mong thang viên chốn nhân gian cũng tròn như trăng rằm trên trời, dự báo cả nhà một năm mới đoàn viên sum họp, vạn sự thuận tâm.
              Người thân bạn bè trước khi đi đâu đó, người ta cũng thường nấu thang viên, bảo người đó ăn thật nhiều. Họ cho là làm như vậy sẽ giảm thiểu nỗi khổ li biệt của đôi bên, quả thực là:
    Ngật liễu thang viên hảo đoàn viên
    吃了湯圓好團圓
    (Ăn thang viên được đoàn viên)
    2- Trường thọ thái 長壽菜 (rau cải cay)
              Tại Đài Loan gọi cải cay là “Trường thọ thái”, thân và lá của nó đặc biệt dài, hơi có vị đắng và cay. Vào ngày tết, người dân Đài Loan có tập tục là lấy bột làm thành sợi cho vào nấu chung với cải. Sợi bột tương đối dài, cải cũng tương đối dài, nhân đó mang ý nghĩa trường thọ.
              Tại Tuân Hoá 遵化ở Hà Bắc 河北, vào tháng 8 âm lịch, người ta hái rau răng ngựa (mã xỉ hiện 馬齒莧) phơi khô cất để đến tết dùng, gọi đó là “trường thọ thái”. Làm như thế cũng là để mong cát lợi trường thọ.

                                                                             Huỳnh Chương Hưng
                                                                             Quy Nhơn 18/02/2018
                                                                              Mồng 3 tết Mậu Tuất

    Nguyên tác Trung văn
    THANG VIÊN, TRƯỜNG THỌ THÁI
    湯圓, 長壽菜
    Trong quyển
    CÁT TƯỜNG ĐÍCH TRUNG QUỐC
    吉祥的中國
    Bản công ti biên tập bộ biên soạn
    Ngọc thụ đồ thư ấn loát hữu hạn công ti, năm Dân Quốc thứ 90.

    Thứ Bảy, 17 tháng 2, 2018



    THỰC VẬT CÁT TƯỜNG
    THUỶ TIÊN

              Hoa thuỷ tiên 水仙được khen tặng là “Lăng ba tiên tử” 凌波仙子, ngọc cốt băng cơ, cao khiết thoát tục, tương truyền là tiên tử trong nước hoá thành.
              Hoa thuỷ tiên nở rộ chính là vào trước sau tiết xuân, tư chất của hoa cao nhã, mùi hương thanh khiết, cho nên vào dịp năm mới người ta thường đặt hoa trên án để thưởng thức. Mọi người đa phần đều cho rằng hoa thuỷ tiên nở là tượng trưng cho vận may của một năm. Nếu hoa nở đúng vào đêm trừ tịch hoặc mồng 1 tết, thì đó là điềm báo cả nhà bước sang năm mới có nhiều may mắn.
              Nhân vì chữ “tiên” trong “thuỷ tiên” tương đồng với chữ “tiên” trong “thần  tiên”, “tiên cảnh”, cho nên hoa thuỷ tiên được khoác lên màu sắc cát lợi, được xem là có sức mạnh thần kì tị tà trừ uế, mang lại cát tường mĩ hảo cho người đời. Trong những lời cát tường hoặc những đồ án cát tường thường có hoa thuỷ tiên, đồ án cát tường vẽ mấy cây thuỷ tiên và thọ thạch 壽石(đá) gọi là “quần tiên củng thọ” 群仙拱壽; đồ án cát tường vẽ thuỷ tiên, thọ thạch và trúc mang ý nghĩa là “tiên chúc trường sinh”. Thuỷ tiên còn tượng trưng cho đôi bạn trong hôn nhân, nên người ta cũng thường đặt một chậu thuỷ tiên trong động phòng của cô dâu chú rể.

                                                                             Huỳnh Chương Hưng
                                                                             Quy Nhơn 17/02/2018
                                                                              Mồng 2 tết Mậu Tuất

    Nguyên tác Trung văn
    THUỶ TIÊN
    水仙
    Trong quyển
    CÁT TƯỜNG ĐÍCH TRUNG QUỐC
    吉祥的中國
    Bản công ti biên tập bộ biên soạn
    Ngọc thụ đồ thư ấn loát hữu hạn công ti, năm Dân Quốc thứ 90.

    Dịch thuật: Thực vật cát tường - Thuỷ tiên

    Đăng lúc  18:57  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »



    THỰC VẬT CÁT TƯỜNG
    THUỶ TIÊN

              Hoa thuỷ tiên 水仙được khen tặng là “Lăng ba tiên tử” 凌波仙子, ngọc cốt băng cơ, cao khiết thoát tục, tương truyền là tiên tử trong nước hoá thành.
              Hoa thuỷ tiên nở rộ chính là vào trước sau tiết xuân, tư chất của hoa cao nhã, mùi hương thanh khiết, cho nên vào dịp năm mới người ta thường đặt hoa trên án để thưởng thức. Mọi người đa phần đều cho rằng hoa thuỷ tiên nở là tượng trưng cho vận may của một năm. Nếu hoa nở đúng vào đêm trừ tịch hoặc mồng 1 tết, thì đó là điềm báo cả nhà bước sang năm mới có nhiều may mắn.
              Nhân vì chữ “tiên” trong “thuỷ tiên” tương đồng với chữ “tiên” trong “thần  tiên”, “tiên cảnh”, cho nên hoa thuỷ tiên được khoác lên màu sắc cát lợi, được xem là có sức mạnh thần kì tị tà trừ uế, mang lại cát tường mĩ hảo cho người đời. Trong những lời cát tường hoặc những đồ án cát tường thường có hoa thuỷ tiên, đồ án cát tường vẽ mấy cây thuỷ tiên và thọ thạch 壽石(đá) gọi là “quần tiên củng thọ” 群仙拱壽; đồ án cát tường vẽ thuỷ tiên, thọ thạch và trúc mang ý nghĩa là “tiên chúc trường sinh”. Thuỷ tiên còn tượng trưng cho đôi bạn trong hôn nhân, nên người ta cũng thường đặt một chậu thuỷ tiên trong động phòng của cô dâu chú rể.

                                                                             Huỳnh Chương Hưng
                                                                             Quy Nhơn 17/02/2018
                                                                              Mồng 2 tết Mậu Tuất

    Nguyên tác Trung văn
    THUỶ TIÊN
    水仙
    Trong quyển
    CÁT TƯỜNG ĐÍCH TRUNG QUỐC
    吉祥的中國
    Bản công ti biên tập bộ biên soạn
    Ngọc thụ đồ thư ấn loát hữu hạn công ti, năm Dân Quốc thứ 90.

    Thứ Sáu, 16 tháng 2, 2018



    ĐỘNG VẬT CÁT TƯỜNG
    CẨU

              Cẩu tức chó, là con vật trung thành, trông nhà giữ cửa, là người bạn mà nhân loại toàn thế giới công nhận. Chó có cảm tình đặc biệt với con người, nó có thể thông hiểu tính người, khắp nơi trên thế giới đều lưu truyền những câu chuyện về chó có nghĩa cứu chủ nhân.
              Chó có thể chế ngự điều hung bảo hộ gia chủ, còn có thể trừ khử yêu ma tà quái. Nhị Lang Thần 二郎神xua đuổi ma quái bảo hộ an ninh nhân thế trong truyền thuyết luôn có chó làm bạn bên cạnh. Tại phía bắc Trung Quốc, vào ngày tết Đoan Ngọ, người ta lấy giấy bó thành hình con chó rồi ném xuống nước để nó cắn ác quỷ đồng thời xua đuổi ác quỷ.
              Nếu có chó chạy theo bạn, hoặc đột nhiên chó chạy đến nhà mà đuổi nó không đi thì đó là điềm cát tường, bạn sẽ phát tài. Có câu tục ngữ “cẩu lai phúc” 狗来福 chính là ý này.
              Chó còn là một trong 12 chi, là con vật cát tường về sinh mệnh của những người cầm tinh con chó.

                                                                             Huỳnh Chương Hưng
                                                                             Quy Nhơn 16/02/2018
                                                                              Mồng 1 tết Mậu Tuất

    Nguyên tác Trung văn
    CẨU
    Trong quyển
    CÁT TƯỜNG ĐÍCH TRUNG QUỐC
    吉祥的中國
    Bản công ti biên tập bộ biên soạn
    Ngọc thụ đồ thư ấn loát hữu hạn công ti, năm Dân Quốc thứ 90.

    Dịch thuật: Động vật cát tường - Chó

    Đăng lúc  18:45  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »



    ĐỘNG VẬT CÁT TƯỜNG
    CẨU

              Cẩu tức chó, là con vật trung thành, trông nhà giữ cửa, là người bạn mà nhân loại toàn thế giới công nhận. Chó có cảm tình đặc biệt với con người, nó có thể thông hiểu tính người, khắp nơi trên thế giới đều lưu truyền những câu chuyện về chó có nghĩa cứu chủ nhân.
              Chó có thể chế ngự điều hung bảo hộ gia chủ, còn có thể trừ khử yêu ma tà quái. Nhị Lang Thần 二郎神xua đuổi ma quái bảo hộ an ninh nhân thế trong truyền thuyết luôn có chó làm bạn bên cạnh. Tại phía bắc Trung Quốc, vào ngày tết Đoan Ngọ, người ta lấy giấy bó thành hình con chó rồi ném xuống nước để nó cắn ác quỷ đồng thời xua đuổi ác quỷ.
              Nếu có chó chạy theo bạn, hoặc đột nhiên chó chạy đến nhà mà đuổi nó không đi thì đó là điềm cát tường, bạn sẽ phát tài. Có câu tục ngữ “cẩu lai phúc” 狗来福 chính là ý này.
              Chó còn là một trong 12 chi, là con vật cát tường về sinh mệnh của những người cầm tinh con chó.

                                                                             Huỳnh Chương Hưng
                                                                             Quy Nhơn 16/02/2018
                                                                              Mồng 1 tết Mậu Tuất

    Nguyên tác Trung văn
    CẨU
    Trong quyển
    CÁT TƯỜNG ĐÍCH TRUNG QUỐC
    吉祥的中國
    Bản công ti biên tập bộ biên soạn
    Ngọc thụ đồ thư ấn loát hữu hạn công ti, năm Dân Quốc thứ 90.

    Thứ Năm, 15 tháng 2, 2018

    ĐÔNG HOA ĐẾ QUÂN

              Theo Kim liên chính tông kí 金莲正宗记
              Đông Hoa Đế Quân 东华帝君vốn họ Vương , tự Huyền Phủ 玄甫, đạo hiệu Đông Hoa Tử 东华子. Đế Quân sinh ra đã khác với người thường, lúc nhỏ thích tu chân luận đạo. Bạch Vân Thượng Chân 白云上真sau khi thấy Đế Quân, cho rằng ông là phôi thai của tiên nhân, thế là thu nhận làm đồ đệ dẫn vào trong núi tu đạo, đồng thời truyền thụ Thanh phù ngọc triện kim khoa linh văn đại đan bí quyết 青符玉篆金科灵文大丹秘诀, cùng phương pháp tu đan cụ thể Chu thiên hoả hầu 周天火候, Thanh long kiếm pháp 青龙剑法. Từ đó, Đế Quân căn cứ theo bí quyết và phương pháp đó chuyên tâm tu luyện. Sau 3 năm, cuối cùng có được ảo diệu, thành tựu tiên đạo.
              Sau khi thành đạo, Đông Hoa Đế Quân đến động Yên Hà 烟霞núi Côn Luân 昆仑ẩn cư. Ông tự lợp một gian nhà cỏ, sống qua 100 năm. Trong 100 năm đó, ông lấy hư theo đạo, lấy tĩnh dưỡng thần, thao quang dưỡng hối ẩn nơi sơn lâm, sống một cuộc sống thanh tĩnh tự nhiên, không nghĩ không lo. Về sau ông lại dời đến động Tử Phủ 紫府phía nam Ngũ Đài sơn 五台山ở Đại Châu 代州để tu đạo. Tại nơi đây ông trứ thư lập thuyết, trình bày nghĩa lí tu đạo huyền diệu, chỉ rõ ý nghĩa hàm súc của đạo và phương pháp tu đạo, đồng thời làm việc thiện, cứu giúp người nghèo. Công đức của ông đã cảm động đến chân thần nơi tiên giới, cho nên được ban cho danh hiệu Đông Hoa Đế Quân 东华帝君. Ông cũng tự xưng là Tử Phủ Thiếu Dương Quân 紫府少阳君. Đông Hoa Đế Quân sống đến mấy trăm tuổi ở chốn nhân gian, nhưng người ta trước giờ chưa thấy biểu hiện suy lão ở thân thể của ông. Về sau ông lại độ hoá môn nhân đệ tử Chính Dương Chân Nhân Chung Lí Quyền 正阳真人钟离权. Chung Li Quyền kế thừa Đế Quân hoằng pháp sự nghiệp, có được nhiều vị đệ tử như Lã Động Tân 吕洞宾 ... , cho nên sau này Toàn Chân đạo tôn phụng Đông Hoa Đế Quân làm vị Tổ sư đầu tiên của phái Toàn Chân.

                                                                         Huỳnh Chương Hưng
                                                                        Quy Nhơn 15/02/2018
                                                               Ngày 30 tháng Chạp năm Đinh Dậu

    Nguyên tác Trung văn
    ĐÔNG HOA ĐẾ QUÂN
    东华帝君
    Trong quyển
    ĐẠO KINH CỐ SỰ
    道经故事
    Biên soạn: Dương Ngọc Huy 杨玉辉
    Tứ Xuyên văn nghệ xuất bản xã, 2002

    Dịch thuật: Đông Hoa Đế Quân

    Đăng lúc  22:18  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    ĐÔNG HOA ĐẾ QUÂN

              Theo Kim liên chính tông kí 金莲正宗记
              Đông Hoa Đế Quân 东华帝君vốn họ Vương , tự Huyền Phủ 玄甫, đạo hiệu Đông Hoa Tử 东华子. Đế Quân sinh ra đã khác với người thường, lúc nhỏ thích tu chân luận đạo. Bạch Vân Thượng Chân 白云上真sau khi thấy Đế Quân, cho rằng ông là phôi thai của tiên nhân, thế là thu nhận làm đồ đệ dẫn vào trong núi tu đạo, đồng thời truyền thụ Thanh phù ngọc triện kim khoa linh văn đại đan bí quyết 青符玉篆金科灵文大丹秘诀, cùng phương pháp tu đan cụ thể Chu thiên hoả hầu 周天火候, Thanh long kiếm pháp 青龙剑法. Từ đó, Đế Quân căn cứ theo bí quyết và phương pháp đó chuyên tâm tu luyện. Sau 3 năm, cuối cùng có được ảo diệu, thành tựu tiên đạo.
              Sau khi thành đạo, Đông Hoa Đế Quân đến động Yên Hà 烟霞núi Côn Luân 昆仑ẩn cư. Ông tự lợp một gian nhà cỏ, sống qua 100 năm. Trong 100 năm đó, ông lấy hư theo đạo, lấy tĩnh dưỡng thần, thao quang dưỡng hối ẩn nơi sơn lâm, sống một cuộc sống thanh tĩnh tự nhiên, không nghĩ không lo. Về sau ông lại dời đến động Tử Phủ 紫府phía nam Ngũ Đài sơn 五台山ở Đại Châu 代州để tu đạo. Tại nơi đây ông trứ thư lập thuyết, trình bày nghĩa lí tu đạo huyền diệu, chỉ rõ ý nghĩa hàm súc của đạo và phương pháp tu đạo, đồng thời làm việc thiện, cứu giúp người nghèo. Công đức của ông đã cảm động đến chân thần nơi tiên giới, cho nên được ban cho danh hiệu Đông Hoa Đế Quân 东华帝君. Ông cũng tự xưng là Tử Phủ Thiếu Dương Quân 紫府少阳君. Đông Hoa Đế Quân sống đến mấy trăm tuổi ở chốn nhân gian, nhưng người ta trước giờ chưa thấy biểu hiện suy lão ở thân thể của ông. Về sau ông lại độ hoá môn nhân đệ tử Chính Dương Chân Nhân Chung Lí Quyền 正阳真人钟离权. Chung Li Quyền kế thừa Đế Quân hoằng pháp sự nghiệp, có được nhiều vị đệ tử như Lã Động Tân 吕洞宾 ... , cho nên sau này Toàn Chân đạo tôn phụng Đông Hoa Đế Quân làm vị Tổ sư đầu tiên của phái Toàn Chân.

                                                                         Huỳnh Chương Hưng
                                                                        Quy Nhơn 15/02/2018
                                                               Ngày 30 tháng Chạp năm Đinh Dậu

    Nguyên tác Trung văn
    ĐÔNG HOA ĐẾ QUÂN
    东华帝君
    Trong quyển
    ĐẠO KINH CỐ SỰ
    道经故事
    Biên soạn: Dương Ngọc Huy 杨玉辉
    Tứ Xuyên văn nghệ xuất bản xã, 2002

    Thứ Tư, 14 tháng 2, 2018

    HỒ LI CHIA PHẦN

              Một ngày nọ, cọp cùng chó sói và hồ li ra ngoài đi săn, chúng săn được 1 con thỏ, 1 con gà rừng và 1 con dê. Khi ba con bàn bạc ăn mấy con này như thế nào, cọp nói với chó sói:
              - Nhờ ông đem mấy thứ này chia phần một chút!
              Chó sói đáp lời:
              - Vâng, thỏ là con vật nhỏ nhất để cho hồ li ăn; gà rừng tôi ăn, còn đại vương thân thể mạnh khoẻ thì ăn con dê!
              Cọp không nghe theo thì thôi, nghe qua một chút đã cảm thấy giận, liền lấy sức tát chó sói một cái, nước mắt chó sói rơi lã chã trên mặt đất.
              Cọp lại nói với hồ li:
              - Nhờ ông chia phần một chút.
              Hồ li đáp rằng:
              - Vâng, thỏ xin đại vương dùng làm buổi ăn sáng, gà rừng xin đại vương dùng làm buổi ăn trưa, dê xin đại vương dùng làm buổi ăn tối. Nếu còn thừa thì chúng tôi sẽ ăn, còn không thừa thì thôi.
              Cách chia này, cọp vô cùng hài lòng, nó nói với hồ li rằng:
              - Cách chia công bằng này, ông học từ đâu vậy?
              Hồ li không chút do dự, nói rằng:
              - Thưa đại vương, tôi học được từ bài học nước mắt của chó sói đó.

                                                              Huỳnh Chương Hưng
                                                              Quy Nhơn 14/02/2018

    Nguồn
    PHI CẦM TẨU THÚ ĐÍCH NGỤ NGÔN
    飛禽走獸的寓言
    Nhóm biên soạn
    Ngọc thụ đồ thư ấn loát hữu hạn công ti xuất bản, 2000

    Dịch thuật: Hồ li chia phần

    Đăng lúc  20:37  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    HỒ LI CHIA PHẦN

              Một ngày nọ, cọp cùng chó sói và hồ li ra ngoài đi săn, chúng săn được 1 con thỏ, 1 con gà rừng và 1 con dê. Khi ba con bàn bạc ăn mấy con này như thế nào, cọp nói với chó sói:
              - Nhờ ông đem mấy thứ này chia phần một chút!
              Chó sói đáp lời:
              - Vâng, thỏ là con vật nhỏ nhất để cho hồ li ăn; gà rừng tôi ăn, còn đại vương thân thể mạnh khoẻ thì ăn con dê!
              Cọp không nghe theo thì thôi, nghe qua một chút đã cảm thấy giận, liền lấy sức tát chó sói một cái, nước mắt chó sói rơi lã chã trên mặt đất.
              Cọp lại nói với hồ li:
              - Nhờ ông chia phần một chút.
              Hồ li đáp rằng:
              - Vâng, thỏ xin đại vương dùng làm buổi ăn sáng, gà rừng xin đại vương dùng làm buổi ăn trưa, dê xin đại vương dùng làm buổi ăn tối. Nếu còn thừa thì chúng tôi sẽ ăn, còn không thừa thì thôi.
              Cách chia này, cọp vô cùng hài lòng, nó nói với hồ li rằng:
              - Cách chia công bằng này, ông học từ đâu vậy?
              Hồ li không chút do dự, nói rằng:
              - Thưa đại vương, tôi học được từ bài học nước mắt của chó sói đó.

                                                              Huỳnh Chương Hưng
                                                              Quy Nhơn 14/02/2018

    Nguồn
    PHI CẦM TẨU THÚ ĐÍCH NGỤ NGÔN
    飛禽走獸的寓言
    Nhóm biên soạn
    Ngọc thụ đồ thư ấn loát hữu hạn công ti xuất bản, 2000

    Thứ Ba, 13 tháng 2, 2018


    CHU U VƯƠNG PHONG HOẢ HÍ CHƯ HẦU
    (tiếp theo)

              Bao Tự 褒姒tuy mặc lụa là, ăn mĩ vị, nhưng trên khuôn mặt chưa hề có nụ cười. Chu U Vương tìm mọi cách để nàng cười nhưng đều không đạt được mục đích. Cuối cùng, một ngày nọ U Vương nghĩ ra một cách để chọc cho Bao Tự cười, đó chính là diễn màn kịch “Chu U Vương phong hoả hí chư hầu” 周幽王烽火戏诸侯 (Chu U Vương nổi lửa phong hoả đài giễu chư hầu).
              Nguyên là vào thời cổ giao thông bất tiện, để kịp thời cảnh báo, nhiều phong hoả đài cao lớn được xây trên đỉnh núi, bên trên chuẩn bị nhiều phân chó sói, củi lửa, đồng thời phái binh sĩ trấn giữ trên đài. Một khi phát hiện có địch, binh sĩ trấn giữ phong hỏa đài ban ngày sẽ đốt phân chó sói, luồng khói trắng bay thẳng lên trời, từ nơi rất xa có thể nhìn thấy, cho nên thời cổ gọi ngoại địch xâm lược là “lang yên tứ khởi” 狼烟四起; ban đêm sẽ đốt lửa, từ xa có thể nhìn thấy lửa sáng một góc trời, cũng có thể biết phát sinh tình hình quân sự, đó chính là điều mà gọi là “phong hoả báo cảnh” 烽火报警. Hôm đó Chu U Vương đưa Bao Tự đến phong hoả đài, đốt lửa lên, đồng thời khua trống vang trời. Chu U Vương từng cùng với các chư hầu quốc giao ước rằng: chư hầu phải là “phên giậu của nhà Chu”. Các chư hầu nhìn thấy khói lửa bốc lên, tưởng rằng ngoại địch đến xâm phạm kinh đô nhà Chu, liền thống lĩnh binh mã đến Hạo kinh 镐京. Nhưng khi đến nơi, chỉ thấy Chu U Vương cùng Bao Tự yến ẩm vui chơi trên đài, không hề phát sinh quân tình đặc biệt gì mới biết đã bị lừa, các chư hầu giận dữ kéo binh về...
              Bao Tự trên đài cao nhìn thấy chư hầu các nước bị lừa, cảm thấy vô cùng vui, không ngăn được cười lớn lên. Chu U Vương thấy cách này cuối cùng đã khiến cho Bao Tự cười, trong lòng rất vui mừng. Để có thể làm cho Bao Tự tiếp tục cười, U Vương theo đó thực hiện qua mấy lần, kết quả, các nước chư hầu “cần vương” giảm dần. Về sau, khi U Vương đốt lửa một lần nữa, căn bản không còn ai quan tâm đến nữa.
              Để bóc lột càng nhiều tài phú nhằm hưởng lạc, U Vương còn đề bạt Quắc Thạch Phủ 虢石父, kẻ “giỏi nịnh hám lợi” làm khanh sĩ cho vương triều, từng bước tăng thêm gánh nặng cho quần chúng, điều này đã gây nên sự bất mãn của  nhân dân cả nước. Thân Hậu 申后 bị U Vương phế trừ là con gái của Thân Hầu 申侯 tính Khương . Đối với việc đó, Thân Hầu vô cùng giận, năm 771 trước công nguyên, Thân Hầu liên hiệp cùng nước Tăng hưng binh hỏi tội vương triều Chu. Thân Hầu sợ lực lượng của mình còn mỏng nên đã câu kết với tộc Khuyển Nhung cùng tấn công Chu U Vương. Chu U Vương hoảng sợ vội đốt lửa phong hoả đài để báo với các nước chư hầu. Nhưng, các nước chư hầu lúc thường bị U Vương lừa quen rồi, lần này họ cho rằng cũng đang bị giễu, nên không nước chư hầu nào phái binh đến “cần vương”. Hạo kinh dễ dàng bị liên quân của Thân, Tăng và Tây Nhung công phá, Chu U Vương dẫn Bao Tự đào thoát, đến dưới chân Li sơn (nay là Lâm Đồng Thiểm Tây 陕西) bị người Nhung đuổi theo giết chết, Bao Tự cũng bị bắt làm chiến lợi phẩm. Hạo kinh phồn hoa bị người Nhung thiêu đốt cướp bóc, trở nên tàn phá. Những báu vật châu ngọc mà vương triều Chu thu được cũng bị người Nhung lấy sạch.
              Từ Chu Vũ Vương diệt Thương đến Chu U Vương bị giết, triều Tây Chu tổng cộng được 11 đời với 12 vị vương. Vương triều Tây Chu thống trị khoảng 257 năm đã bị diệt vong như thế. (Hết)

                                                             Huỳnh Chương Hưng
                                                             Quy Nhơn 13/02/2018

    Nguyên tác Trung văn
    CHU U VƯƠNG PHONG HOẢ HÍ CHƯ HẦU
    周幽王烽火戏诸侯
    Trong quyển
     TÂY CHU SỬ THOẠI
    西周史话
    Tác giả: Vương Vũ Tín 王宇信
    Trung Quốc quốc tế quảng bá xuất bản xã, 2007

    Dịch thuật: Chu U Vương phong hoả hí chư hầu (tiếp theo)

    Đăng lúc  20:10  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »


    CHU U VƯƠNG PHONG HOẢ HÍ CHƯ HẦU
    (tiếp theo)

              Bao Tự 褒姒tuy mặc lụa là, ăn mĩ vị, nhưng trên khuôn mặt chưa hề có nụ cười. Chu U Vương tìm mọi cách để nàng cười nhưng đều không đạt được mục đích. Cuối cùng, một ngày nọ U Vương nghĩ ra một cách để chọc cho Bao Tự cười, đó chính là diễn màn kịch “Chu U Vương phong hoả hí chư hầu” 周幽王烽火戏诸侯 (Chu U Vương nổi lửa phong hoả đài giễu chư hầu).
              Nguyên là vào thời cổ giao thông bất tiện, để kịp thời cảnh báo, nhiều phong hoả đài cao lớn được xây trên đỉnh núi, bên trên chuẩn bị nhiều phân chó sói, củi lửa, đồng thời phái binh sĩ trấn giữ trên đài. Một khi phát hiện có địch, binh sĩ trấn giữ phong hỏa đài ban ngày sẽ đốt phân chó sói, luồng khói trắng bay thẳng lên trời, từ nơi rất xa có thể nhìn thấy, cho nên thời cổ gọi ngoại địch xâm lược là “lang yên tứ khởi” 狼烟四起; ban đêm sẽ đốt lửa, từ xa có thể nhìn thấy lửa sáng một góc trời, cũng có thể biết phát sinh tình hình quân sự, đó chính là điều mà gọi là “phong hoả báo cảnh” 烽火报警. Hôm đó Chu U Vương đưa Bao Tự đến phong hoả đài, đốt lửa lên, đồng thời khua trống vang trời. Chu U Vương từng cùng với các chư hầu quốc giao ước rằng: chư hầu phải là “phên giậu của nhà Chu”. Các chư hầu nhìn thấy khói lửa bốc lên, tưởng rằng ngoại địch đến xâm phạm kinh đô nhà Chu, liền thống lĩnh binh mã đến Hạo kinh 镐京. Nhưng khi đến nơi, chỉ thấy Chu U Vương cùng Bao Tự yến ẩm vui chơi trên đài, không hề phát sinh quân tình đặc biệt gì mới biết đã bị lừa, các chư hầu giận dữ kéo binh về...
              Bao Tự trên đài cao nhìn thấy chư hầu các nước bị lừa, cảm thấy vô cùng vui, không ngăn được cười lớn lên. Chu U Vương thấy cách này cuối cùng đã khiến cho Bao Tự cười, trong lòng rất vui mừng. Để có thể làm cho Bao Tự tiếp tục cười, U Vương theo đó thực hiện qua mấy lần, kết quả, các nước chư hầu “cần vương” giảm dần. Về sau, khi U Vương đốt lửa một lần nữa, căn bản không còn ai quan tâm đến nữa.
              Để bóc lột càng nhiều tài phú nhằm hưởng lạc, U Vương còn đề bạt Quắc Thạch Phủ 虢石父, kẻ “giỏi nịnh hám lợi” làm khanh sĩ cho vương triều, từng bước tăng thêm gánh nặng cho quần chúng, điều này đã gây nên sự bất mãn của  nhân dân cả nước. Thân Hậu 申后 bị U Vương phế trừ là con gái của Thân Hầu 申侯 tính Khương . Đối với việc đó, Thân Hầu vô cùng giận, năm 771 trước công nguyên, Thân Hầu liên hiệp cùng nước Tăng hưng binh hỏi tội vương triều Chu. Thân Hầu sợ lực lượng của mình còn mỏng nên đã câu kết với tộc Khuyển Nhung cùng tấn công Chu U Vương. Chu U Vương hoảng sợ vội đốt lửa phong hoả đài để báo với các nước chư hầu. Nhưng, các nước chư hầu lúc thường bị U Vương lừa quen rồi, lần này họ cho rằng cũng đang bị giễu, nên không nước chư hầu nào phái binh đến “cần vương”. Hạo kinh dễ dàng bị liên quân của Thân, Tăng và Tây Nhung công phá, Chu U Vương dẫn Bao Tự đào thoát, đến dưới chân Li sơn (nay là Lâm Đồng Thiểm Tây 陕西) bị người Nhung đuổi theo giết chết, Bao Tự cũng bị bắt làm chiến lợi phẩm. Hạo kinh phồn hoa bị người Nhung thiêu đốt cướp bóc, trở nên tàn phá. Những báu vật châu ngọc mà vương triều Chu thu được cũng bị người Nhung lấy sạch.
              Từ Chu Vũ Vương diệt Thương đến Chu U Vương bị giết, triều Tây Chu tổng cộng được 11 đời với 12 vị vương. Vương triều Tây Chu thống trị khoảng 257 năm đã bị diệt vong như thế. (Hết)

                                                             Huỳnh Chương Hưng
                                                             Quy Nhơn 13/02/2018

    Nguyên tác Trung văn
    CHU U VƯƠNG PHONG HOẢ HÍ CHƯ HẦU
    周幽王烽火戏诸侯
    Trong quyển
     TÂY CHU SỬ THOẠI
    西周史话
    Tác giả: Vương Vũ Tín 王宇信
    Trung Quốc quốc tế quảng bá xuất bản xã, 2007

    Thứ Hai, 12 tháng 2, 2018

    CHU U VƯƠNG PHONG HOẢ HÍ CHƯ HẦU

              Sau khi Chu Tuyên Vương 周宣王tại vị 49 năm qua đời, con là Cung Niết 宫涅 tức vị, đây chính là vị thiên tử cuối đời Tây Chu nổi tiếng hôn dung hủ bại – Chu U Vương 周幽王. U Vương vừa kế vị, triều Chu liên tiếp gặp phải nhưng tai hoạ trầm trọng từ thiên nhiên.
              Đầu tiên là hạn hán phát sinh vào những năm cuối thời Tuyên Vương và đầu thời U Vương, khiến sông suối ao hồ trong cả nước cạn khô thấy đáy, cây cỏ mùa màng cũng chết khô, cả nước đất trắng ngàn dặm. Dân chúng đành phải rời bỏ nhà cửa ruộng vườn phiêu bạt tứ xứ để mưu sinh, quả thật là “ai hồng biến dã” 哀鸿遍野 (1), người chết đói đầy đường.
              Đại hạn đem tới sự khó khăn trầm trọng cho vương triều Chu chưa được khắc phục, thì vào năm Chu U Vương thứ 2, thủ đô Hạo kinh 镐京và lưu vực sông Kinh , sông Vị , sông Lạc lại phát sinh động đất mạnh. Bài Thập nguyệt chi giao 十月之交 phần Tiểu nhã 小雅 trong Kinh Thi khi ghi lại quá trình tổn hại nghiêm trọng của lần động đất đó đã nói rằng:
    Diệp diệp chấn điện
    Bất ninh bất linh
    Bách xuyên phí đằng
    Sơn trủng tốt băng
    Cao ngạn vi cốc
    Thâm cốc vi lăng
    熚熚震电
    不宁不令
    百川沸腾
    山冢崒崩
    高岸为谷
    深谷为陵
    Sấm chớp sáng loà
    Là thời buổi không yên không lành
    Hàng trăm con sông nước dâng tràn vọt lên
    Đỉnh núi cao vót lại lở đổ
    Bờ cao lại sụp thành hang
    Vực sâu lại lấp đùn thành gò
    (Bản dịch của Tạ Quang Phát, Kinh thi tập 2, trang 996)
              Sử quan Bá Dương Phủ 伯阳甫của vương triều Chu đã tìm hiểu nghiên cứu về nguyên nhân của động đất, ông đã phân tích nguyên nhân phát sinh, nói rằng:
              - Trời đất có hai khí âm dương, lúc bình thường, mỗi khí ở vào vị trí của mình, mặt đất bình yên, nhưng nếu như khí dương ở dưới, khí âm đè lên, khiến khí dương bốc lên không được sẽ phát sinh động đất. Hiện lưu vực sông Kinh, sông Vị, sông Lạc đều phát sinh động đất, ấy là khí dương bị khí âm đè nên đã gây ra.
              Từ trong sự vận động mâu thuẫn tồn tại ở mặt đất mà đi tìm nguyên nhân động đất là điều đáng quý. Nhưng ông ta cũng chịu sự độc hại của tư tưởng mê tín, cho rằng đó là do trời “ghét bỏ” vương triều Chu, giáng tai hoạ động đất để cảnh cáo Chu U Vương. Ông khuyên U Vương rằng:
              - E rằng vương triều Chu sắp diệt vong. Trong lịch sử sông Y, sông Lạc từng bị khô hạn, đó là điềm trước khi vương triều Hạ diệt vong. Nước Hoàng hà cũng từng cạn, đó là điềm báo vương triều Thương diệt vong. Hiện vương triều Chu phát sinh sự việc rất giống tình hình trước lúc hai đời Hạ Thương diệt vong. Một đất nước núi sông vững chắc, lập quốc mới có thể dựa vào. Núi lở sông cạn chính là điềm vong quốc. Sông khô cạn, núi nhất định cũng lở, trời muốn bỏ chúng ta, thần thấy vương triều Chu tồn tại chẳng qua hơn 10 năm nữa là dứt.
              Quả nhiên năm đó, ba con sông (sông Kinh, sông Vị, sông Lạc) khô cạn, còn Kì sơn 岐山trên vùng đất phát tường của người Chu cũng nổ vang sụp đổ....
              Hạn hán và động đất phát sinh khiến sức sản xuất xã hội của vương triều Chu gặp phải sự tổn hại trầm trọng, trật tự xã hội cũng rơi vào sự biến động và hỗn loạn. Đối với tình hình như thế, Chu U Vương hôn dung chẳng nghe chẳng hỏi, suốt ngày chìm đắm trong cuộc sống hoa thiên tửu địa.
              Chu U Vương năm thứ 3, U Vương có được một người con gái xinh đẹp tên là Bao Tự 褒姒, U Vương vô cùng sủng ái. Sau khi Bao Tự sinh Bá Phục 伯服, U Vương càng yêu quý Bao Tự, U Vương phế bỏ thái tử Nghi Cữu 宜臼vốn do hoàng hậu Thân Hậu 申后sinh ra, lại chính thức sách phong Bao Tự làm hoàng hậu, sách lập Bá Phục làm thái tử. Hành động phế đích lập thứ của U Vương đã gây nên sự bất mãn của vị sử quan đương triều là Bá Dương. Bá Dương dẫn kinh dẫn điển khảo chứng thân thế Bao Tự, nói rằng:
              - Xem ra lần này triều Chu đã ươm mầm hoạ diệt quốc, không ai có thể cứu vãn được rồi!
              Thân thế Bao Tự xinh đẹp này như thế nào? Theo truyền thuyết, vào khoảng cuối vương triều Hạ, có 2 con thần long giáng xuống trước cung điện, mở miệng nói rằng:
              - Chúng tôi là 2 vị quân trưởng của nước Bao.
              Quân thần triều Hạ hoảng sợ, Hạ Vương vội lệnh cho quan Thái bốc lấy mai rùa và cỏ phệ, hướng đến Thượng Đế hỏi rằng:
              - Hai quái vật này nên giết hay lưu lại?
              Lần bói đó không báo điềm tốt. Tiếp đó lại tiến hành bói một lần nữa, hỏi:
              - Có phải là xin hai quái vật ấy lưu lại một ít nước dãi đem cất đi?
              Lần này hiển thị điềm báo rất tốt. Thế là Hạ Vương liền tế tự đồng thời cầu cáo với 2 con thần long thổ ra một ít nước dãi để lưu lại. Sau khi thần long bay đi, Hạ Vương liền sai người đem nước dãi của chúng cất vào trong một chiếc hộp nhỏ tinh xảo. Sau khi triều Hạ diệt vong, chiếc hộp đó truyền đến triều Ân. Sau khi triều Ân diệt vong, chiếc hộp lại truyền đến triều Chu.
              Ba đời Hạ Thương Chu kéo dài theo năm tháng, không có một vị quốc vương nào dám mở chiếc hộp đó ra xem. Nhưng đến thời Lệ Vương 厉王, vị thiên tử hoang đường này nhất định đòi mở hộp ra xem thử là vật gì. Nào ngờ sau khi hộp được mở ra, nước dãi hôi tanh chảy đầy trên mặt đất của cung điện, dùng cách gì cũng không lau sạch được. Theo truyền thuyết, Lệ Vương “lấy dơ trị dơ”, lệnh cho các cung nữ trút bỏ y phục kêu gào to lớn đối với số nước dãi đó. Bỗng nhiên nước dãi biến thành một con rùa, bò thẳng đến hậu cung của Lệ Vương, vừa lúc đụng phải một bé gái khoảng chừng 7 tuổi ở hậu cung. Nói ra cũng lạ, qua hơn 10 ngày sau đứa bé gái đó trưởng thành, bụng ngày càng lớn. Cô bé chưa kết hôn mà đã sinh ra một bé gái, vì sợ quốc vương biết được trách tội nên đã lén đem đứa bé đó vất đi. Vừa lúc có một đôi vợ chồng già bán cung bằng gỗ dâu và túi tên, trời tối đi ngang qua nơi ấy, bỗng nghe có tiếng khóc, họ cảm thấy đứa bé dễ thương liền bế lên nhắm hướng nước Bao 褒 mà đi. Đứa bé gái đó tại nước Bao ngày ngày lớn lên, trở thành một cô gái tư sắc không ai sánh bằng. Về sau do bởi vị quân chủ nước Bao phạm tội, đã chọn trúng cô gái xinh đẹp này tiến cống cho Chu thiên tử để chuộc tội. Nhân vì đến từ nước Bao nên được mọi người gọi là “Bao Tự”. (còn tiếp)

    Chú của người dịch
    1- Ai hồng biến dã 哀鸿遍野: ví cảnh tượng bi thảm của người dân bị nạn tai lưu li thất sở, than khóc đầy đường. Thành ngữ này có xuất xứ từ Thi – Tiểu nhã – Hồng nhạn - 小雅 - 鸿雁, trong đó có câu:
    Hồng nhạn vu phi
    Ai minh ngao ngao
    鸿雁于飞
    哀鸣嗷嗷
    Chim hồng chim nhạn bay đi
    Kêu bị thương ngao ngao
    (Bản dịch của Tạ Quang Phát, Kinh Thi, tập 2)

                                                            Huỳnh Chương Hưng
                                                            Quy Nhơn 12/02/2018

    Nguyên tác Trung văn
    CHU U VƯƠNG PHONG HOẢ HÍ CHƯ HẦU
    周幽王烽火戏诸侯
    Trong quyển
     TÂY CHU SỬ THOẠI
    西周史话
    Tác giả: Vương Vũ Tín 王宇信
    Trung Quốc quốc tế quảng bá xuất bản xã, 2007

    Dịch thuật: Chu U Vương phong hoả hí chư hầu

    Đăng lúc  21:17  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    CHU U VƯƠNG PHONG HOẢ HÍ CHƯ HẦU

              Sau khi Chu Tuyên Vương 周宣王tại vị 49 năm qua đời, con là Cung Niết 宫涅 tức vị, đây chính là vị thiên tử cuối đời Tây Chu nổi tiếng hôn dung hủ bại – Chu U Vương 周幽王. U Vương vừa kế vị, triều Chu liên tiếp gặp phải nhưng tai hoạ trầm trọng từ thiên nhiên.
              Đầu tiên là hạn hán phát sinh vào những năm cuối thời Tuyên Vương và đầu thời U Vương, khiến sông suối ao hồ trong cả nước cạn khô thấy đáy, cây cỏ mùa màng cũng chết khô, cả nước đất trắng ngàn dặm. Dân chúng đành phải rời bỏ nhà cửa ruộng vườn phiêu bạt tứ xứ để mưu sinh, quả thật là “ai hồng biến dã” 哀鸿遍野 (1), người chết đói đầy đường.
              Đại hạn đem tới sự khó khăn trầm trọng cho vương triều Chu chưa được khắc phục, thì vào năm Chu U Vương thứ 2, thủ đô Hạo kinh 镐京và lưu vực sông Kinh , sông Vị , sông Lạc lại phát sinh động đất mạnh. Bài Thập nguyệt chi giao 十月之交 phần Tiểu nhã 小雅 trong Kinh Thi khi ghi lại quá trình tổn hại nghiêm trọng của lần động đất đó đã nói rằng:
    Diệp diệp chấn điện
    Bất ninh bất linh
    Bách xuyên phí đằng
    Sơn trủng tốt băng
    Cao ngạn vi cốc
    Thâm cốc vi lăng
    熚熚震电
    不宁不令
    百川沸腾
    山冢崒崩
    高岸为谷
    深谷为陵
    Sấm chớp sáng loà
    Là thời buổi không yên không lành
    Hàng trăm con sông nước dâng tràn vọt lên
    Đỉnh núi cao vót lại lở đổ
    Bờ cao lại sụp thành hang
    Vực sâu lại lấp đùn thành gò
    (Bản dịch của Tạ Quang Phát, Kinh thi tập 2, trang 996)
              Sử quan Bá Dương Phủ 伯阳甫của vương triều Chu đã tìm hiểu nghiên cứu về nguyên nhân của động đất, ông đã phân tích nguyên nhân phát sinh, nói rằng:
              - Trời đất có hai khí âm dương, lúc bình thường, mỗi khí ở vào vị trí của mình, mặt đất bình yên, nhưng nếu như khí dương ở dưới, khí âm đè lên, khiến khí dương bốc lên không được sẽ phát sinh động đất. Hiện lưu vực sông Kinh, sông Vị, sông Lạc đều phát sinh động đất, ấy là khí dương bị khí âm đè nên đã gây ra.
              Từ trong sự vận động mâu thuẫn tồn tại ở mặt đất mà đi tìm nguyên nhân động đất là điều đáng quý. Nhưng ông ta cũng chịu sự độc hại của tư tưởng mê tín, cho rằng đó là do trời “ghét bỏ” vương triều Chu, giáng tai hoạ động đất để cảnh cáo Chu U Vương. Ông khuyên U Vương rằng:
              - E rằng vương triều Chu sắp diệt vong. Trong lịch sử sông Y, sông Lạc từng bị khô hạn, đó là điềm trước khi vương triều Hạ diệt vong. Nước Hoàng hà cũng từng cạn, đó là điềm báo vương triều Thương diệt vong. Hiện vương triều Chu phát sinh sự việc rất giống tình hình trước lúc hai đời Hạ Thương diệt vong. Một đất nước núi sông vững chắc, lập quốc mới có thể dựa vào. Núi lở sông cạn chính là điềm vong quốc. Sông khô cạn, núi nhất định cũng lở, trời muốn bỏ chúng ta, thần thấy vương triều Chu tồn tại chẳng qua hơn 10 năm nữa là dứt.
              Quả nhiên năm đó, ba con sông (sông Kinh, sông Vị, sông Lạc) khô cạn, còn Kì sơn 岐山trên vùng đất phát tường của người Chu cũng nổ vang sụp đổ....
              Hạn hán và động đất phát sinh khiến sức sản xuất xã hội của vương triều Chu gặp phải sự tổn hại trầm trọng, trật tự xã hội cũng rơi vào sự biến động và hỗn loạn. Đối với tình hình như thế, Chu U Vương hôn dung chẳng nghe chẳng hỏi, suốt ngày chìm đắm trong cuộc sống hoa thiên tửu địa.
              Chu U Vương năm thứ 3, U Vương có được một người con gái xinh đẹp tên là Bao Tự 褒姒, U Vương vô cùng sủng ái. Sau khi Bao Tự sinh Bá Phục 伯服, U Vương càng yêu quý Bao Tự, U Vương phế bỏ thái tử Nghi Cữu 宜臼vốn do hoàng hậu Thân Hậu 申后sinh ra, lại chính thức sách phong Bao Tự làm hoàng hậu, sách lập Bá Phục làm thái tử. Hành động phế đích lập thứ của U Vương đã gây nên sự bất mãn của vị sử quan đương triều là Bá Dương. Bá Dương dẫn kinh dẫn điển khảo chứng thân thế Bao Tự, nói rằng:
              - Xem ra lần này triều Chu đã ươm mầm hoạ diệt quốc, không ai có thể cứu vãn được rồi!
              Thân thế Bao Tự xinh đẹp này như thế nào? Theo truyền thuyết, vào khoảng cuối vương triều Hạ, có 2 con thần long giáng xuống trước cung điện, mở miệng nói rằng:
              - Chúng tôi là 2 vị quân trưởng của nước Bao.
              Quân thần triều Hạ hoảng sợ, Hạ Vương vội lệnh cho quan Thái bốc lấy mai rùa và cỏ phệ, hướng đến Thượng Đế hỏi rằng:
              - Hai quái vật này nên giết hay lưu lại?
              Lần bói đó không báo điềm tốt. Tiếp đó lại tiến hành bói một lần nữa, hỏi:
              - Có phải là xin hai quái vật ấy lưu lại một ít nước dãi đem cất đi?
              Lần này hiển thị điềm báo rất tốt. Thế là Hạ Vương liền tế tự đồng thời cầu cáo với 2 con thần long thổ ra một ít nước dãi để lưu lại. Sau khi thần long bay đi, Hạ Vương liền sai người đem nước dãi của chúng cất vào trong một chiếc hộp nhỏ tinh xảo. Sau khi triều Hạ diệt vong, chiếc hộp đó truyền đến triều Ân. Sau khi triều Ân diệt vong, chiếc hộp lại truyền đến triều Chu.
              Ba đời Hạ Thương Chu kéo dài theo năm tháng, không có một vị quốc vương nào dám mở chiếc hộp đó ra xem. Nhưng đến thời Lệ Vương 厉王, vị thiên tử hoang đường này nhất định đòi mở hộp ra xem thử là vật gì. Nào ngờ sau khi hộp được mở ra, nước dãi hôi tanh chảy đầy trên mặt đất của cung điện, dùng cách gì cũng không lau sạch được. Theo truyền thuyết, Lệ Vương “lấy dơ trị dơ”, lệnh cho các cung nữ trút bỏ y phục kêu gào to lớn đối với số nước dãi đó. Bỗng nhiên nước dãi biến thành một con rùa, bò thẳng đến hậu cung của Lệ Vương, vừa lúc đụng phải một bé gái khoảng chừng 7 tuổi ở hậu cung. Nói ra cũng lạ, qua hơn 10 ngày sau đứa bé gái đó trưởng thành, bụng ngày càng lớn. Cô bé chưa kết hôn mà đã sinh ra một bé gái, vì sợ quốc vương biết được trách tội nên đã lén đem đứa bé đó vất đi. Vừa lúc có một đôi vợ chồng già bán cung bằng gỗ dâu và túi tên, trời tối đi ngang qua nơi ấy, bỗng nghe có tiếng khóc, họ cảm thấy đứa bé dễ thương liền bế lên nhắm hướng nước Bao 褒 mà đi. Đứa bé gái đó tại nước Bao ngày ngày lớn lên, trở thành một cô gái tư sắc không ai sánh bằng. Về sau do bởi vị quân chủ nước Bao phạm tội, đã chọn trúng cô gái xinh đẹp này tiến cống cho Chu thiên tử để chuộc tội. Nhân vì đến từ nước Bao nên được mọi người gọi là “Bao Tự”. (còn tiếp)

    Chú của người dịch
    1- Ai hồng biến dã 哀鸿遍野: ví cảnh tượng bi thảm của người dân bị nạn tai lưu li thất sở, than khóc đầy đường. Thành ngữ này có xuất xứ từ Thi – Tiểu nhã – Hồng nhạn - 小雅 - 鸿雁, trong đó có câu:
    Hồng nhạn vu phi
    Ai minh ngao ngao
    鸿雁于飞
    哀鸣嗷嗷
    Chim hồng chim nhạn bay đi
    Kêu bị thương ngao ngao
    (Bản dịch của Tạ Quang Phát, Kinh Thi, tập 2)

                                                            Huỳnh Chương Hưng
                                                            Quy Nhơn 12/02/2018

    Nguyên tác Trung văn
    CHU U VƯƠNG PHONG HOẢ HÍ CHƯ HẦU
    周幽王烽火戏诸侯
    Trong quyển
     TÂY CHU SỬ THOẠI
    西周史话
    Tác giả: Vương Vũ Tín 王宇信
    Trung Quốc quốc tế quảng bá xuất bản xã, 2007

    Chủ Nhật, 11 tháng 2, 2018



    敬人即是敬己  靠己胜于靠人
    敬他人, 即是敬自己; 靠自己, 胜于靠他人.
                                                                           (围炉夜话)

    KÍNH NHÂN TỨC THỊ KÍNH KỈ 
    KHÁO KỈ THẮNG VU KHÁO NHÂN
    Kính tha nhân, tức thị kính tự kỉ; kháo tự kỉ thắng vu kháo tha nhân.
                                                                                (Vi lô dạ thoại)

    KÍNH TRỌNG NGƯỜI TỨC KÍNH TRỌNG MÌNH
    DỰA VÀO MÌNH TỐT HƠN NHỜ CẬY NGƯỜI
              Kính trọng người khác tức kính trọng bản thân mình; dựa vào chính mình tốt hơn nhờ cậy người khác.

    Phân tích và thưởng thức
         Điều mà gọi là “kính nhân giả nhân hằng kính chi” 敬人者人恒敬之kính trọng người khác thì người khác luôn kính trọng mình) , nếu anh không tôn trọng người khác thì người khác cũng sẽ không tôn trọng anh, “lễ thượng vãng lai”  礼尚往来 (lễ chuộng ở chỗ có qua có lại) mà! Tôn trọng người khác, hoàn toàn không phải là a dua bợ đỡ, mà là lấy lễ để tiếp đãi. Không thấy anh khách sáo đãi người ta, người ta sẽ phản công lại anh, trừ việc anh đắc tội trước với họ, hoặc hai bên hiểu lầm nhau, thì điều đó là ngoại lệ. Còn nếu anh ưa bàn chuyện thị phi của người khác, xoi mói chỗ riêng tư của họ, thì đối phương nhất định sẽ đáp lại. Bởi anh không tôn trọng người ta nên đồng thời anh cũng mất đi lòng tự trọng, còn ai tôn trọng anh được chứ?
              Nhờ cậy người khác chẳng bằng dựa vào chính mình, bởi nhờ vào người khác để làm việc, chính là dựa dẫm vào hơi thở của họ, ngoài ra, đã là việc của mình thì người khác sẽ không hết lòng giúp đỡ. Coi như họ không giúp, anh cũng không sao, còn như họ giúp, anh mắc nợ họ một phần tình cảm. Từ đó mà thấy, bất luận là bạn bè chí thân hay không, việc nhờ cậy cũng không hay lắm, nếu làm không tốt sẽ tổn thương đến tình cảm. Nhiều việc, trừ bất đắc dĩ, nếu tự mình có thể làm thì ra sức tự làm, một mặt có thể khắc phục khó khăn, tăng trưởng thêm năng lực, mặt khác cũng miễn được việc mình mắc nợ nhân tình. Có một câu tục ngữ rất hay:
    Kháo sơn sơn hội đảo, kháo nhân nhân hội bào, kháo tự kỉ tối hảo.
    靠山山会倒, 靠人人会跑, 靠自己最好
              (Dựa vào núi núi cũng sẽ đổ, dựa vào người khác người khác cũng sẽ bỏ chạy, chỉ dựa vào bản thân mình là tốt nhất)
    Không phải sao?

    Chú của người dịch
    Vi lô dạ thoại 围炉夜话: là một tác phẩm nổi tiếng đời Thanh, tác giả là Vương Vĩnh Bân 王永彬. Vi lô dạ thoại có 221 tắc, đề cập nhiều phương diện như đạo đức, tu thân, độc thư, an bần lạc đạo, giáo tử, trung hiếu, cần kiệm … nêu rõ hàm nghĩa sâu xa: lập đức, lập công, lập ngôn đều lấy “lập nghiệp” làm gốc.Vi lô dạ thoại 围炉夜话cùng với Thái căn đàm 菜根谭, Tiểu song u kí 小窗幽记 được gọi chung là “xử thế tam đại kì thư”.

    Vương Vĩnh Bân 王永彬:
              Vương Vĩnh Bân tự Nghi Sơn 宜山, người đời gọi ông là Nghi Sơn tiên sinh 宜山先生, con cháu đời sau của họ Vương gọi ông là Nghi Sơn công 宜山公. Cuộc đời ông trải qua 5 vương triều: Càn Long 乾隆, Gia Khánh 嘉庆, Đạo Quang 道光, Hàm Phong 咸丰, Đồng Trị 同治. Ông sinh ngày 23 tháng Giêng năm Nhâm Tí thời Càn Long, mất ngày 25 tháng Giêng năm Kỉ Tị thời Đồng Trị, hưởng thọ 78 tuổi.
              Nguồn http://baike.baidu.com/view/53686.htm

                                                                         Huỳnh Chương Hưng
                                                                        Quy Nhơn 11/02/2018

    Nguồn
    VI LÔ DẠ THOẠI
    围炉夜话
    Tác giả: Vương Vĩnh Bân 王永彬
    Thiểm Tây lữ du xuất bản xã, 2002. 

    Dịch thuật: Kính nhân tức thị kính kỉ, kháo kỉ thắng vu kháo nhân (Vi lô dạ thoại)

    Đăng lúc  20:56  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »



    敬人即是敬己  靠己胜于靠人
    敬他人, 即是敬自己; 靠自己, 胜于靠他人.
                                                                           (围炉夜话)

    KÍNH NHÂN TỨC THỊ KÍNH KỈ 
    KHÁO KỈ THẮNG VU KHÁO NHÂN
    Kính tha nhân, tức thị kính tự kỉ; kháo tự kỉ thắng vu kháo tha nhân.
                                                                                (Vi lô dạ thoại)

    KÍNH TRỌNG NGƯỜI TỨC KÍNH TRỌNG MÌNH
    DỰA VÀO MÌNH TỐT HƠN NHỜ CẬY NGƯỜI
              Kính trọng người khác tức kính trọng bản thân mình; dựa vào chính mình tốt hơn nhờ cậy người khác.

    Phân tích và thưởng thức
         Điều mà gọi là “kính nhân giả nhân hằng kính chi” 敬人者人恒敬之kính trọng người khác thì người khác luôn kính trọng mình) , nếu anh không tôn trọng người khác thì người khác cũng sẽ không tôn trọng anh, “lễ thượng vãng lai”  礼尚往来 (lễ chuộng ở chỗ có qua có lại) mà! Tôn trọng người khác, hoàn toàn không phải là a dua bợ đỡ, mà là lấy lễ để tiếp đãi. Không thấy anh khách sáo đãi người ta, người ta sẽ phản công lại anh, trừ việc anh đắc tội trước với họ, hoặc hai bên hiểu lầm nhau, thì điều đó là ngoại lệ. Còn nếu anh ưa bàn chuyện thị phi của người khác, xoi mói chỗ riêng tư của họ, thì đối phương nhất định sẽ đáp lại. Bởi anh không tôn trọng người ta nên đồng thời anh cũng mất đi lòng tự trọng, còn ai tôn trọng anh được chứ?
              Nhờ cậy người khác chẳng bằng dựa vào chính mình, bởi nhờ vào người khác để làm việc, chính là dựa dẫm vào hơi thở của họ, ngoài ra, đã là việc của mình thì người khác sẽ không hết lòng giúp đỡ. Coi như họ không giúp, anh cũng không sao, còn như họ giúp, anh mắc nợ họ một phần tình cảm. Từ đó mà thấy, bất luận là bạn bè chí thân hay không, việc nhờ cậy cũng không hay lắm, nếu làm không tốt sẽ tổn thương đến tình cảm. Nhiều việc, trừ bất đắc dĩ, nếu tự mình có thể làm thì ra sức tự làm, một mặt có thể khắc phục khó khăn, tăng trưởng thêm năng lực, mặt khác cũng miễn được việc mình mắc nợ nhân tình. Có một câu tục ngữ rất hay:
    Kháo sơn sơn hội đảo, kháo nhân nhân hội bào, kháo tự kỉ tối hảo.
    靠山山会倒, 靠人人会跑, 靠自己最好
              (Dựa vào núi núi cũng sẽ đổ, dựa vào người khác người khác cũng sẽ bỏ chạy, chỉ dựa vào bản thân mình là tốt nhất)
    Không phải sao?

    Chú của người dịch
    Vi lô dạ thoại 围炉夜话: là một tác phẩm nổi tiếng đời Thanh, tác giả là Vương Vĩnh Bân 王永彬. Vi lô dạ thoại có 221 tắc, đề cập nhiều phương diện như đạo đức, tu thân, độc thư, an bần lạc đạo, giáo tử, trung hiếu, cần kiệm … nêu rõ hàm nghĩa sâu xa: lập đức, lập công, lập ngôn đều lấy “lập nghiệp” làm gốc.Vi lô dạ thoại 围炉夜话cùng với Thái căn đàm 菜根谭, Tiểu song u kí 小窗幽记 được gọi chung là “xử thế tam đại kì thư”.

    Vương Vĩnh Bân 王永彬:
              Vương Vĩnh Bân tự Nghi Sơn 宜山, người đời gọi ông là Nghi Sơn tiên sinh 宜山先生, con cháu đời sau của họ Vương gọi ông là Nghi Sơn công 宜山公. Cuộc đời ông trải qua 5 vương triều: Càn Long 乾隆, Gia Khánh 嘉庆, Đạo Quang 道光, Hàm Phong 咸丰, Đồng Trị 同治. Ông sinh ngày 23 tháng Giêng năm Nhâm Tí thời Càn Long, mất ngày 25 tháng Giêng năm Kỉ Tị thời Đồng Trị, hưởng thọ 78 tuổi.
              Nguồn http://baike.baidu.com/view/53686.htm

                                                                         Huỳnh Chương Hưng
                                                                        Quy Nhơn 11/02/2018

    Nguồn
    VI LÔ DẠ THOẠI
    围炉夜话
    Tác giả: Vương Vĩnh Bân 王永彬
    Thiểm Tây lữ du xuất bản xã, 2002. 

    Thứ Bảy, 10 tháng 2, 2018

    LỄ THUẬN NHÂN TÌNH
    礼顺人情

    Giải thích: nhân tình qua lại với nhau hợp với tình lí, cũng cần phải tuân theo nguyên tắc.
    Xuất xứ: Nam triều . Tống . Phạm Việp范晔: Hậu Hán thư – Trác Mậu  truyện 后汉书 - 卓茂传.

              Cuối thời Tây Hán, có một người tên Trác Mậu 卓茂, làm phủ lại trong phủ Thừa tướng Khổng Quang 孔光. Một lần nọ, anh ta ngồi xe ra bên ngoài, trên đường có người chặn xe lại, chỉ vào con ngựa nói rằng:
              - Đây là con ngựa mà tôi mất tháng trước!
              Trác Mậu nghĩ bụng, con ngựa này ta dùng đã nhiều năm, sao lại là của anh ta chứ? Nhưng Trác Mậu tính tình khoan hậu, không lên tiếng cãi lại, mà đưa con
    Ngựa cho anh ta, tự mình kéo xe về. Đi được vài bước, Trác Mậu quay đầu lại nói:
              - Sau này nếu phát hiện con ngựa này không phải của anh thì xin đưa nó đến phủ Thừa tướng.
              Qua mấy ngày sau, người nọ tìm được con ngựa bị mất, liến đem con ngựa của Trác Mậu đi trả, anh ta nói với Trác Mậu rằng:
              - Thành thật xin lỗi, là tôi sai rồi.
              Về sau Trác Mậu đến một địa phương khác làm Huyện lệnh. Một ngày nọ, có người đến báo với Trác Mậu, nói rằng đình trưởng đã nhận lấy gạo thịt của mình. Trác Mậu hỏi:
              - Có phải là ông ta đòi hỏi ở ông phải không?
              Người nọ đáp là không phải.
              - Hay là ông nhờ ông ta làm việc, ông ta nhận lấy phải không?
              Người nọ đáp cũng không phải.
              - Thế rốt cuộc là chuyện gì?
              - Là tôi tặng cho ông ta.
              Trác Mậu hỏi:
              - Ông đã tự nguyện tặng, sao lại còn đi báo?
              Người nọ đáp rằng:
              - Pháp luật chẳng phải là cấm quan lại nhận đồ vật của bách tính sao?
              Trác Mậu nói rằng:
              - Con người sở dĩ cao quý hơn động vật là do bởi có lòng nhân ái, biết kính trọng lẫn nhau. Giữa người với người lấy lễ nghĩa để ràng buộc, điều mà pháp luật cấm đó là đòi hối lộ. Nay ông tặng gạo thịt cho ông ta là thuộc về lễ, lễ là hợp với nhân tình vậy (lễ thuận nhân tình).  

                                                             Huỳnh Chương Hưng
                                                   Quy Nhơn 10/02/2018

    Nguyên tác Trung văn
    LỄ THUẬN NHÂN TÌNH
    礼顺人情
    TRUNG QUỐC THÀNH NGỮ CỐ SỰ TỔNG TẬP
    中国成语故事总集
    (tập 1)
    Chủ biên: Đường Kì 唐麒
    Trường Xuân – Thời đại văn nghệ xuất bản xã, 2004.  

    Dịch thuật: Lễ thuận nhân tình

    Đăng lúc  18:49  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    LỄ THUẬN NHÂN TÌNH
    礼顺人情

    Giải thích: nhân tình qua lại với nhau hợp với tình lí, cũng cần phải tuân theo nguyên tắc.
    Xuất xứ: Nam triều . Tống . Phạm Việp范晔: Hậu Hán thư – Trác Mậu  truyện 后汉书 - 卓茂传.

              Cuối thời Tây Hán, có một người tên Trác Mậu 卓茂, làm phủ lại trong phủ Thừa tướng Khổng Quang 孔光. Một lần nọ, anh ta ngồi xe ra bên ngoài, trên đường có người chặn xe lại, chỉ vào con ngựa nói rằng:
              - Đây là con ngựa mà tôi mất tháng trước!
              Trác Mậu nghĩ bụng, con ngựa này ta dùng đã nhiều năm, sao lại là của anh ta chứ? Nhưng Trác Mậu tính tình khoan hậu, không lên tiếng cãi lại, mà đưa con
    Ngựa cho anh ta, tự mình kéo xe về. Đi được vài bước, Trác Mậu quay đầu lại nói:
              - Sau này nếu phát hiện con ngựa này không phải của anh thì xin đưa nó đến phủ Thừa tướng.
              Qua mấy ngày sau, người nọ tìm được con ngựa bị mất, liến đem con ngựa của Trác Mậu đi trả, anh ta nói với Trác Mậu rằng:
              - Thành thật xin lỗi, là tôi sai rồi.
              Về sau Trác Mậu đến một địa phương khác làm Huyện lệnh. Một ngày nọ, có người đến báo với Trác Mậu, nói rằng đình trưởng đã nhận lấy gạo thịt của mình. Trác Mậu hỏi:
              - Có phải là ông ta đòi hỏi ở ông phải không?
              Người nọ đáp là không phải.
              - Hay là ông nhờ ông ta làm việc, ông ta nhận lấy phải không?
              Người nọ đáp cũng không phải.
              - Thế rốt cuộc là chuyện gì?
              - Là tôi tặng cho ông ta.
              Trác Mậu hỏi:
              - Ông đã tự nguyện tặng, sao lại còn đi báo?
              Người nọ đáp rằng:
              - Pháp luật chẳng phải là cấm quan lại nhận đồ vật của bách tính sao?
              Trác Mậu nói rằng:
              - Con người sở dĩ cao quý hơn động vật là do bởi có lòng nhân ái, biết kính trọng lẫn nhau. Giữa người với người lấy lễ nghĩa để ràng buộc, điều mà pháp luật cấm đó là đòi hối lộ. Nay ông tặng gạo thịt cho ông ta là thuộc về lễ, lễ là hợp với nhân tình vậy (lễ thuận nhân tình).  

                                                             Huỳnh Chương Hưng
                                                   Quy Nhơn 10/02/2018

    Nguyên tác Trung văn
    LỄ THUẬN NHÂN TÌNH
    礼顺人情
    TRUNG QUỐC THÀNH NGỮ CỐ SỰ TỔNG TẬP
    中国成语故事总集
    (tập 1)
    Chủ biên: Đường Kì 唐麒
    Trường Xuân – Thời đại văn nghệ xuất bản xã, 2004.  

    Thứ Sáu, 9 tháng 2, 2018

    KHỔNG TỬ VÀ CÁC ĐỆ TỬ

              Một trong những thành tựu vĩ đại nhất của Khổng Tử 孔子đó là đã bồi dưỡng được một số học trò “sùng nhân thượng nghĩa” 崇仁尚义 (tôn trọng điều nhân, quý chuộng điều nghĩa”. Có hơn 3000 học trò được Khổng Tử chỉ dạy, trong đó có hơn 70 người đạt được thành tựu. Khổng Tử phân những học trò có thành tựu ra làm 4 loại; tức đạo đức (tu dưỡng), chính sự (tùng chính), ngôn ngữ (ngoại giao) và văn học (học thuật). Những đệ tử này giới hạn trong khoảng hậu kì thời Khổng Tử chu du các nước, phân ra tiền kì và hậu kì. Những đệ tử tiền kì theo học Khổng Tử tương đối lớn tuổi, lịch duyệt xã hội nhiều, đa số xuất thân từ con em bình dân, theo chính trị là chính, nổi bật có Nhiễm Hữu 冉有, Tử Cống 子贡 và Tử Lộ 子路; nhưng trong số đó cũng có những nhân vật đạo đức nghiêm khắc phê phán chính trị hiện thực, ví dụ như Nhan Hồi 颜回và Mẫn Tử Khiên 闵子骞. Các đệ tử hậu kì thì ngược lại, họ lấy hoạt động giáo dục và học thuật làm chính, chủ yếu có Tử Trương 子张, Tử Hạ 子夏, Tăng Tử 曾子và Tử Du 子游. Do những nỗ lực của các đệ tử hậu kì, sau khi Khổng Tử qua đời, Khổng học nhanh chóng xuất hiện cao trào đầu tiên, đồng thời đã phát dương quang đại. Nhưng do bởi họ phổ biến chú trọng học thuật, cho nên, xu hướng tư tưởng lấy việc truy cầu chính trị làm chính của Khổng Tử đã phát sinh sự chuyển hướng. Đồng thời, giữa những đệ tử kiệt xuất hậu kì cũng có sự phân kì tư tưởng. Trong việc hỗ tương biện luận, phái tu dưỡng và cường điệu tự phản nội tại mà Tăng Tử đứng đầu đã chiếm  thế thượng phong. Tư tưởng của phái này truyền đến thời đại Mạnh Tử 孟子và đã diễn hoá thành Nho học thời Chiến Quốc. Tư tưởng Nho gia tuy có thể truy ngược đến học thuyết Khổng Tử, nhưng Nho học hoàn toàn không phải là học phái do Khổng Tử khai sáng. Chẳng qua, tư tưởng học thuật Trung Quốc, bắt đầu từ Khổng Tử mới chân chính xuất hiện tư học trong học quan, tức học vấn gia chuyên môn với thân phận cá nhân, mà có tư học mới có tranh minh, sáng tân và đề cao. Từ ý nghĩa này mà nói, lịch sử tư tưởng Trung Quốc là bắt đầu từ Khổng Tử. Do bởi diện tư tưởng của Khổng Tử cùng các học trò rất rộng, ảnh hưởng trước đó chưa từng có, nên cũng có người cho rằng, bách gia thời Xuân Thu Chiến Quốc đều xuất phát từ một nhà Khổng học, tức các nhà đều là truyền nhân của học trò Khổng Tử.

                                                                    Huỳnh Chương Hưng
                                                                    Quy Nhơn 09/02/2018

    Nguyên tác Trung văn
    KHỔNG TỬ HOÀ THA ĐÍCH ĐỆ TỬ MÔN
    孔子和他的弟子们
    Trong quyển
    ĐỒ VĂN TRUNG QUỐC THÔNG SỬ
    图文中国通史
    (tập Sử tiền sử - Chiến quốc)
    Chủ biên: Triệu Hướng Tiêu 赵向标
    Tân Cương nhân dân xuất bản xã, 2002.

    Dịch thuật: Khổng Tử và các đệ tử

    Đăng lúc  20:58  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    KHỔNG TỬ VÀ CÁC ĐỆ TỬ

              Một trong những thành tựu vĩ đại nhất của Khổng Tử 孔子đó là đã bồi dưỡng được một số học trò “sùng nhân thượng nghĩa” 崇仁尚义 (tôn trọng điều nhân, quý chuộng điều nghĩa”. Có hơn 3000 học trò được Khổng Tử chỉ dạy, trong đó có hơn 70 người đạt được thành tựu. Khổng Tử phân những học trò có thành tựu ra làm 4 loại; tức đạo đức (tu dưỡng), chính sự (tùng chính), ngôn ngữ (ngoại giao) và văn học (học thuật). Những đệ tử này giới hạn trong khoảng hậu kì thời Khổng Tử chu du các nước, phân ra tiền kì và hậu kì. Những đệ tử tiền kì theo học Khổng Tử tương đối lớn tuổi, lịch duyệt xã hội nhiều, đa số xuất thân từ con em bình dân, theo chính trị là chính, nổi bật có Nhiễm Hữu 冉有, Tử Cống 子贡 và Tử Lộ 子路; nhưng trong số đó cũng có những nhân vật đạo đức nghiêm khắc phê phán chính trị hiện thực, ví dụ như Nhan Hồi 颜回và Mẫn Tử Khiên 闵子骞. Các đệ tử hậu kì thì ngược lại, họ lấy hoạt động giáo dục và học thuật làm chính, chủ yếu có Tử Trương 子张, Tử Hạ 子夏, Tăng Tử 曾子và Tử Du 子游. Do những nỗ lực của các đệ tử hậu kì, sau khi Khổng Tử qua đời, Khổng học nhanh chóng xuất hiện cao trào đầu tiên, đồng thời đã phát dương quang đại. Nhưng do bởi họ phổ biến chú trọng học thuật, cho nên, xu hướng tư tưởng lấy việc truy cầu chính trị làm chính của Khổng Tử đã phát sinh sự chuyển hướng. Đồng thời, giữa những đệ tử kiệt xuất hậu kì cũng có sự phân kì tư tưởng. Trong việc hỗ tương biện luận, phái tu dưỡng và cường điệu tự phản nội tại mà Tăng Tử đứng đầu đã chiếm  thế thượng phong. Tư tưởng của phái này truyền đến thời đại Mạnh Tử 孟子và đã diễn hoá thành Nho học thời Chiến Quốc. Tư tưởng Nho gia tuy có thể truy ngược đến học thuyết Khổng Tử, nhưng Nho học hoàn toàn không phải là học phái do Khổng Tử khai sáng. Chẳng qua, tư tưởng học thuật Trung Quốc, bắt đầu từ Khổng Tử mới chân chính xuất hiện tư học trong học quan, tức học vấn gia chuyên môn với thân phận cá nhân, mà có tư học mới có tranh minh, sáng tân và đề cao. Từ ý nghĩa này mà nói, lịch sử tư tưởng Trung Quốc là bắt đầu từ Khổng Tử. Do bởi diện tư tưởng của Khổng Tử cùng các học trò rất rộng, ảnh hưởng trước đó chưa từng có, nên cũng có người cho rằng, bách gia thời Xuân Thu Chiến Quốc đều xuất phát từ một nhà Khổng học, tức các nhà đều là truyền nhân của học trò Khổng Tử.

                                                                    Huỳnh Chương Hưng
                                                                    Quy Nhơn 09/02/2018

    Nguyên tác Trung văn
    KHỔNG TỬ HOÀ THA ĐÍCH ĐỆ TỬ MÔN
    孔子和他的弟子们
    Trong quyển
    ĐỒ VĂN TRUNG QUỐC THÔNG SỬ
    图文中国通史
    (tập Sử tiền sử - Chiến quốc)
    Chủ biên: Triệu Hướng Tiêu 赵向标
    Tân Cương nhân dân xuất bản xã, 2002.

    Thứ Năm, 8 tháng 2, 2018

    CỬU THIÊN TƯ MẠNG TÁO QUÂN THÁNH KỈ

              Tư Mạng Táo Quân 司命灶君, còn được gọi là Tư Mạng Chân Quân 司命真君, Tư Mạng Táo Thần 司命灶神, Cửu Thiên Hộ Trạch Thiên Tôn 九天護宅天尊, hoặc Cửu Nguyên Đông Trù yên Chủ 九元東廚煙主, Cửu Thiên Đông Trù Tư Mạng Định Phúc Táo Quân 九元東廚司命定福灶君, Táo Vương Công 灶王公, Táo Quân Công 灶君公, Táo Quân Gia 灶君爺, Táo Lão Gia 灶老爺, thông thường gọi tắt là Táo Thần, Táo Quân, Táo Vương Gia. Đạo giáo xưng Táo Quân là Côn Luân Lão Mẫu 崑崙老母hoặc Vân Chủng Hoả Lão Mẫu 雲種火老母, Chủng Hoả Lão Mẫu Nguyên Quân 種火老母元君.
              Kì thực, theo Đạo kinh ghi chép, Táo Thân nhân thời, nhân địa, nhân chức mà có sự khác biệt. Táo Vương kinh 灶王經có nói,
    - Đông phương Thanh Đế Táo Quân 東方青帝灶君
    - Nam phương Xích Đế Táo Quân南方赤帝灶君
    - Tây phương Bạch Đế Táo Quân西方白帝灶君
    - Bắc phương Hắc Đế Táo Quân北方黑帝灶君
    - Trung ương Hoàng Đế Táo Quân 中央黃帝灶君
    - Ngũ phương ngũ Đế Táo Quân phu nhân 五方五帝灶君夫人
    - Thiên trù linh Táo Thần Quân 天廚靈灶神君
    - Địa trù thần Táo Thần Quân 地廚神灶神君
    - Tằng Táo Tổ Táo Thần Quân 曾灶祖灶神君
    - Táo Công Táo Mẫu Thần Quân 灶公灶母神君
    - Táo phu Táo phụ Thần Quân 灶夫灶婦神君
    - Táo tử Táo tôn Thần Quân 灶子灶孫神君
    - Táo gia tỉ muội tức phụ quyến thuộc Thần Quân 灶家姊妹媳婦眷屬神君
    - Táo hạ xuy đào Thần Nữ 灶下炊濤神女
    - Vận hoả tả hữu tướng quân 運火左右將軍
    - Tiến hoả Thần Mẫu 進火神母
    - Du hoả đồng tử 遊火童子
    - Thiên Đế kiều nam 天帝嬌男
    - Địa thường kiều nữ 地常嬌女
    Thông trung đổng tử đồng nam đồng nữ 囪中童子童男童女
              Trong đó, Ngũ phương Ngũ Đế Táo Quân là Táo Quân chuyên môn, Ngũ phương du hách là Nhàn tản Táo Quân. Táo tử Táo tôn thần quân là Gia tộc Táo Quân. Xuy đào Thần Nữ, Vận hoả tướng quân, Tiến hoả Thần mẫu, Du hoả đồng tử là nha môn của Táo Quân, mỗi vị đảm nhiệm một chức trách, ống khói cũng có đồng tử tồn tại, bảo hộ công việc thường ngày.
              Chức việc của Táo Thần trước tiên là chủ quản việc bếp núc của một nhà, sau đó biến thành Thần bảo hộ hoạ phúc của một nhà. Từ đời Thương đời Chu lưu truyền đến nay, tế tự Táo Thần là một trong “ngũ tự” 五祀thời cổ. Ngũ tự tức: môn, hộ chủ về xuất nhập, lò bếp chủ về ẩm thực, trung lựu 中霤 (mái hiên nhà) chủ về nhà cửa, hành chủ về đường đi. Nhân đó Táo Thần cũng là một trong các vị thần tư mệnh.
              Táo Quân tục họ là Trương , tên huý là Đan , tượng Táo Thần đa phần có dung mạo trẻ, văn nhã, đầu đội mũ “tướng tư” 相司, thân mặc triều phục, tay cầm hốt hoặc cây như ý, diện mạo thanh tú, không có râu, thần thái tự nhiên. Ngày mồng 3 tháng 8 âm lịch là Thánh thọ Táo Quân. Táo Quân có hai vị đồng tử bên cạnh, một đồng tử bưng hộp thiện, một đồng tử bưng hộp ác,  thường ngày đem hành vi của người trong nhà ghi lại bỏ vào hộp, cuối năm tổng kết sau đó tâu lại với Ngọc Hoàng Thượng Đế.
              Táo Quân nguyên là một trong những tinh tú trên trời, nhân vì phạm lỗi bị biếm xuống trần, chuyên chức chủ quản khuyến thiện trừng ác của người dân. Ngày 24 tháng Chạp thăng thiên, về thiên đình bẩm báo lại với Ngọc Hoàng Thượng Đế những việc làm trong năm của người trong nhà, cứ theo thực mà bẩm báo, sang năm sau thượng thiên sẽ theo đó mà định hoạ phúc cát hung. Nhân sự việc liên quan đến mỗi hộ năm sau có bình an hạnh phúc hay không, nghi thức đưa tiễn Táo Thần đương nhiên là thành kính, để mong Táo Quân có thể “tâu những việc tốt đẹp, việc xấu bỏ qua một bên”, nói mấy câu tốt đẹp, nhân đó, nhà nhà đều đưa tiễn Táo Thần. Cát Hồng 葛洪trong Bão Phác Tử  - Vi chỉ 抱朴子 - 微旨 có nói:
    Thường vào ngày cuối cùng của tháng, Táo Thần cũng lên trời bẩm báo tội trạng của con người. Người nào tội nặng bị đoạt kỉ, một kỉ là 300 ngày; một toán là 3 ngày. Thời gian lên báo hoặc là ngày 30 mỗi tháng, hoặc nửa đêm mồng 1 mỗi tháng, hoặc 23 tháng Chạp, hoặc 24 tháng Chạp, hoặc là vào ngày Canh Thân (1).
              Từ đời Tống về sau, đa phần đều cho là ngày 23 tháng Chạp. Mọi người sợ Táo Thần báo những điều không tốt sẽ gặp tai ương nên ngày tế Táo (ngày 23 tháng Chạp) dùng mật đường bôi lên miệng Táo Thần, từ đó hình thành phong tục tế Táo đặc biệt của Trung Quốc. Trong Kính Táo toàn thư 敬灶全書có nói:
              Táo Quân [ thụ nhất gia hương hoả, bảo nhất gia khang thái, sát nhất gia thiện ác, tấu nhất gia công quá ]
              灶君 [受一家香火, 保一家康泰, 察一家善惡, 奏一家功過. ]
              (Táo Quân [hưởng hương hoả của một nhà, bảo hộ bình an mạnh khoẻ cho một nhà, quan sát việc thiện ác của một nhà, tâu công và tội của một nhà. ] )
              Theo truyền thuyết, phàm bị Táo Quân tâu lỗi, nếu nặng sẽ giảm thọ 300 ngày, nếu nhẹ giảm thọ 100 ngày.
              Trong xã hội nông nghiệp thời cổ, phàm nơi đặt bếp nấu nướng, tất phải thờ Táo Quân, có thể gọi là “gia hộ chi thần”. Riêng Táo Quân ở miếu ít được phụng tự. Mọi người dán hình Táo Thần trên bếp lò, hoặc trên một tấm gỗ, giấy đỏ viết “Cửu Thiên Đông Trù Tư Mệnh Táo Quân Thần Vị” 九天東廚司命灶君神位, đồng thời hai bên dán cặp đối:
    Thượng thiên ngôn hảo sự
    Hạ giới giáng cát tường
    上天言好事
    下界降吉祥
              Táo Quân không chỉ chủ quản việc ẩm thực chốn nhân gian, mà còn là vị Thần tư mệnh công tội thiện ác của mỗi nhà, có công hiệu quy phạm nhân tâm.
            (Bổn miếu trụ trì phương trượng Ngọc Khâm cư sĩ 玉欽居士kính soạn)

    Chú của người dịch
    1-Theo Táo Vương tiết灶王节, trong quyển Trung Quốc phong tục đại từ điển中国风俗大辞典, chủ biên: Thân Sĩ Nghiêu 申士垚, Phó Mĩ Lâm 傅美琳:
    Người nào tội nặng bị đoạt kỉ, một kỉ là 300 ngày; người tội nhẹ bị đoạt toán, một toán là 100 ngày
                                          (Dậu dương tạp trở 酉阳杂俎)

                                                                         Huỳnh Chương Hưng
                                                                         Quy Nhơn 08/02/2018
                                                             Ngày 23 tháng Chạp năm Đinh Dậu

    Dịch thuật: Cửu Thiên Tư Mạng Táo Quân Thánh kỉ

    Đăng lúc  22:13  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    CỬU THIÊN TƯ MẠNG TÁO QUÂN THÁNH KỈ

              Tư Mạng Táo Quân 司命灶君, còn được gọi là Tư Mạng Chân Quân 司命真君, Tư Mạng Táo Thần 司命灶神, Cửu Thiên Hộ Trạch Thiên Tôn 九天護宅天尊, hoặc Cửu Nguyên Đông Trù yên Chủ 九元東廚煙主, Cửu Thiên Đông Trù Tư Mạng Định Phúc Táo Quân 九元東廚司命定福灶君, Táo Vương Công 灶王公, Táo Quân Công 灶君公, Táo Quân Gia 灶君爺, Táo Lão Gia 灶老爺, thông thường gọi tắt là Táo Thần, Táo Quân, Táo Vương Gia. Đạo giáo xưng Táo Quân là Côn Luân Lão Mẫu 崑崙老母hoặc Vân Chủng Hoả Lão Mẫu 雲種火老母, Chủng Hoả Lão Mẫu Nguyên Quân 種火老母元君.
              Kì thực, theo Đạo kinh ghi chép, Táo Thân nhân thời, nhân địa, nhân chức mà có sự khác biệt. Táo Vương kinh 灶王經có nói,
    - Đông phương Thanh Đế Táo Quân 東方青帝灶君
    - Nam phương Xích Đế Táo Quân南方赤帝灶君
    - Tây phương Bạch Đế Táo Quân西方白帝灶君
    - Bắc phương Hắc Đế Táo Quân北方黑帝灶君
    - Trung ương Hoàng Đế Táo Quân 中央黃帝灶君
    - Ngũ phương ngũ Đế Táo Quân phu nhân 五方五帝灶君夫人
    - Thiên trù linh Táo Thần Quân 天廚靈灶神君
    - Địa trù thần Táo Thần Quân 地廚神灶神君
    - Tằng Táo Tổ Táo Thần Quân 曾灶祖灶神君
    - Táo Công Táo Mẫu Thần Quân 灶公灶母神君
    - Táo phu Táo phụ Thần Quân 灶夫灶婦神君
    - Táo tử Táo tôn Thần Quân 灶子灶孫神君
    - Táo gia tỉ muội tức phụ quyến thuộc Thần Quân 灶家姊妹媳婦眷屬神君
    - Táo hạ xuy đào Thần Nữ 灶下炊濤神女
    - Vận hoả tả hữu tướng quân 運火左右將軍
    - Tiến hoả Thần Mẫu 進火神母
    - Du hoả đồng tử 遊火童子
    - Thiên Đế kiều nam 天帝嬌男
    - Địa thường kiều nữ 地常嬌女
    Thông trung đổng tử đồng nam đồng nữ 囪中童子童男童女
              Trong đó, Ngũ phương Ngũ Đế Táo Quân là Táo Quân chuyên môn, Ngũ phương du hách là Nhàn tản Táo Quân. Táo tử Táo tôn thần quân là Gia tộc Táo Quân. Xuy đào Thần Nữ, Vận hoả tướng quân, Tiến hoả Thần mẫu, Du hoả đồng tử là nha môn của Táo Quân, mỗi vị đảm nhiệm một chức trách, ống khói cũng có đồng tử tồn tại, bảo hộ công việc thường ngày.
              Chức việc của Táo Thần trước tiên là chủ quản việc bếp núc của một nhà, sau đó biến thành Thần bảo hộ hoạ phúc của một nhà. Từ đời Thương đời Chu lưu truyền đến nay, tế tự Táo Thần là một trong “ngũ tự” 五祀thời cổ. Ngũ tự tức: môn, hộ chủ về xuất nhập, lò bếp chủ về ẩm thực, trung lựu 中霤 (mái hiên nhà) chủ về nhà cửa, hành chủ về đường đi. Nhân đó Táo Thần cũng là một trong các vị thần tư mệnh.
              Táo Quân tục họ là Trương , tên huý là Đan , tượng Táo Thần đa phần có dung mạo trẻ, văn nhã, đầu đội mũ “tướng tư” 相司, thân mặc triều phục, tay cầm hốt hoặc cây như ý, diện mạo thanh tú, không có râu, thần thái tự nhiên. Ngày mồng 3 tháng 8 âm lịch là Thánh thọ Táo Quân. Táo Quân có hai vị đồng tử bên cạnh, một đồng tử bưng hộp thiện, một đồng tử bưng hộp ác,  thường ngày đem hành vi của người trong nhà ghi lại bỏ vào hộp, cuối năm tổng kết sau đó tâu lại với Ngọc Hoàng Thượng Đế.
              Táo Quân nguyên là một trong những tinh tú trên trời, nhân vì phạm lỗi bị biếm xuống trần, chuyên chức chủ quản khuyến thiện trừng ác của người dân. Ngày 24 tháng Chạp thăng thiên, về thiên đình bẩm báo lại với Ngọc Hoàng Thượng Đế những việc làm trong năm của người trong nhà, cứ theo thực mà bẩm báo, sang năm sau thượng thiên sẽ theo đó mà định hoạ phúc cát hung. Nhân sự việc liên quan đến mỗi hộ năm sau có bình an hạnh phúc hay không, nghi thức đưa tiễn Táo Thần đương nhiên là thành kính, để mong Táo Quân có thể “tâu những việc tốt đẹp, việc xấu bỏ qua một bên”, nói mấy câu tốt đẹp, nhân đó, nhà nhà đều đưa tiễn Táo Thần. Cát Hồng 葛洪trong Bão Phác Tử  - Vi chỉ 抱朴子 - 微旨 có nói:
    Thường vào ngày cuối cùng của tháng, Táo Thần cũng lên trời bẩm báo tội trạng của con người. Người nào tội nặng bị đoạt kỉ, một kỉ là 300 ngày; một toán là 3 ngày. Thời gian lên báo hoặc là ngày 30 mỗi tháng, hoặc nửa đêm mồng 1 mỗi tháng, hoặc 23 tháng Chạp, hoặc 24 tháng Chạp, hoặc là vào ngày Canh Thân (1).
              Từ đời Tống về sau, đa phần đều cho là ngày 23 tháng Chạp. Mọi người sợ Táo Thần báo những điều không tốt sẽ gặp tai ương nên ngày tế Táo (ngày 23 tháng Chạp) dùng mật đường bôi lên miệng Táo Thần, từ đó hình thành phong tục tế Táo đặc biệt của Trung Quốc. Trong Kính Táo toàn thư 敬灶全書có nói:
              Táo Quân [ thụ nhất gia hương hoả, bảo nhất gia khang thái, sát nhất gia thiện ác, tấu nhất gia công quá ]
              灶君 [受一家香火, 保一家康泰, 察一家善惡, 奏一家功過. ]
              (Táo Quân [hưởng hương hoả của một nhà, bảo hộ bình an mạnh khoẻ cho một nhà, quan sát việc thiện ác của một nhà, tâu công và tội của một nhà. ] )
              Theo truyền thuyết, phàm bị Táo Quân tâu lỗi, nếu nặng sẽ giảm thọ 300 ngày, nếu nhẹ giảm thọ 100 ngày.
              Trong xã hội nông nghiệp thời cổ, phàm nơi đặt bếp nấu nướng, tất phải thờ Táo Quân, có thể gọi là “gia hộ chi thần”. Riêng Táo Quân ở miếu ít được phụng tự. Mọi người dán hình Táo Thần trên bếp lò, hoặc trên một tấm gỗ, giấy đỏ viết “Cửu Thiên Đông Trù Tư Mệnh Táo Quân Thần Vị” 九天東廚司命灶君神位, đồng thời hai bên dán cặp đối:
    Thượng thiên ngôn hảo sự
    Hạ giới giáng cát tường
    上天言好事
    下界降吉祥
              Táo Quân không chỉ chủ quản việc ẩm thực chốn nhân gian, mà còn là vị Thần tư mệnh công tội thiện ác của mỗi nhà, có công hiệu quy phạm nhân tâm.
            (Bổn miếu trụ trì phương trượng Ngọc Khâm cư sĩ 玉欽居士kính soạn)

    Chú của người dịch
    1-Theo Táo Vương tiết灶王节, trong quyển Trung Quốc phong tục đại từ điển中国风俗大辞典, chủ biên: Thân Sĩ Nghiêu 申士垚, Phó Mĩ Lâm 傅美琳:
    Người nào tội nặng bị đoạt kỉ, một kỉ là 300 ngày; người tội nhẹ bị đoạt toán, một toán là 100 ngày
                                          (Dậu dương tạp trở 酉阳杂俎)

                                                                         Huỳnh Chương Hưng
                                                                         Quy Nhơn 08/02/2018
                                                             Ngày 23 tháng Chạp năm Đinh Dậu

    Mã nguồn bởi Huỳnh Chương Hưng
    Copyright © 2012 Huỳnh Chương Hưng.
    back to top