• Thứ Tư, 22 tháng 11, 2017



    HAI ĐỨA TRẺ TRANH LUẬN VỀ MẶT TRỜI

              Theo Xung hư chí đức chân kinh 冲虚至德真经
              Khổng Tử 孔子 đi chơi về phía đông, tại một nơi nọ gặp hai đứa trẻ đang tranh luận kịch liệt, không ai chịu nhường cho ai. Khổng Tử tiến đến hỏi hai đứa trẻ tranh luận việc gì. Một đứa nói rằng:
              - Tôi cho rằng lúc mặt trời mới mọc cách chúng ta gần, đến trưa cách chúng ta xa. Nhưng nó lại nói mặt trời lúc mới mọc thì ở xa, đến trưa thì gần. Lúc mặt trời mới mọc nó lớn giống như nắp vung, đến giữa trưa thì nó nhỏ bằng cái dĩa, đó chẳng phải là ở xa thì nhỏ mà ở gần thì to sao?
              Đứa kia phản bác lại rằng:
              - Mặt trời lúc mới mọc chiếu trên người chúng ta hãy còn mát, đến giữa trưa, ánh nắng nóng hừng hực, giống như thân thể ngâm trong nước nóng, đó chẳng phải là ở gần thì nóng mà ở xa thì mát sao?
              Khổng Tử nghe qua cảm thấy cả hai nói đều có lí, nhưng rốt cuộc, đứa nào nói chính xác thì Khổng Tử không có cách gì phán đoán. Hai đứa trẻ thấy Khổng Tử nói không được, thế là chúng cười nói với Khổng Tử:
              - Ngay cả vấn đề như thế mà không trả lời được, vậy mà nói ông là người tri thức uyên bác sao?

                                                                         Huỳnh Chương Hưng
                                                                         Quy Nhơn 22/11/2017

    Nguyên tác Trung văn
    LƯỠNG TIỂU NHI BIỆN NHẬT
    两小儿辩日
    Trong quyển
    ĐẠO KINH CỐ SỰ
    道经故事
    Biên soạn: Dương Ngọc Huy 杨玉辉
    Tứ Xuyên văn nghệ xuất bản xã, 2002

    Dịch thuật: Hai đứa trẻ tranh luận về mặt trời (Đạo kinh cố sự)

    Đăng lúc  20:18  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »



    HAI ĐỨA TRẺ TRANH LUẬN VỀ MẶT TRỜI

              Theo Xung hư chí đức chân kinh 冲虚至德真经
              Khổng Tử 孔子 đi chơi về phía đông, tại một nơi nọ gặp hai đứa trẻ đang tranh luận kịch liệt, không ai chịu nhường cho ai. Khổng Tử tiến đến hỏi hai đứa trẻ tranh luận việc gì. Một đứa nói rằng:
              - Tôi cho rằng lúc mặt trời mới mọc cách chúng ta gần, đến trưa cách chúng ta xa. Nhưng nó lại nói mặt trời lúc mới mọc thì ở xa, đến trưa thì gần. Lúc mặt trời mới mọc nó lớn giống như nắp vung, đến giữa trưa thì nó nhỏ bằng cái dĩa, đó chẳng phải là ở xa thì nhỏ mà ở gần thì to sao?
              Đứa kia phản bác lại rằng:
              - Mặt trời lúc mới mọc chiếu trên người chúng ta hãy còn mát, đến giữa trưa, ánh nắng nóng hừng hực, giống như thân thể ngâm trong nước nóng, đó chẳng phải là ở gần thì nóng mà ở xa thì mát sao?
              Khổng Tử nghe qua cảm thấy cả hai nói đều có lí, nhưng rốt cuộc, đứa nào nói chính xác thì Khổng Tử không có cách gì phán đoán. Hai đứa trẻ thấy Khổng Tử nói không được, thế là chúng cười nói với Khổng Tử:
              - Ngay cả vấn đề như thế mà không trả lời được, vậy mà nói ông là người tri thức uyên bác sao?

                                                                         Huỳnh Chương Hưng
                                                                         Quy Nhơn 22/11/2017

    Nguyên tác Trung văn
    LƯỠNG TIỂU NHI BIỆN NHẬT
    两小儿辩日
    Trong quyển
    ĐẠO KINH CỐ SỰ
    道经故事
    Biên soạn: Dương Ngọc Huy 杨玉辉
    Tứ Xuyên văn nghệ xuất bản xã, 2002

    Thứ Ba, 21 tháng 11, 2017

    BÍ ẨN VỀ CÁI CHẾT CỦA LÍ LIÊN ANH

              Lí Liên Anh 李莲英là thái giám nổi tiếng cuối đời Thanh, người phủ Hà Gian 河间Trực Lệ 直隶. Từ nhỏ cha mẹ đã qua đời, 10 tuổi được một người họ  Thẩm  tiến cử vào cung làm thái giám, chuyên chải tóc cho Ý quý phi 懿贵妃. Nhân vì giỏi a dua nên quan vị của Lí Liên Anh luôn thẳng tiến, cuối cùng lên đến chức Tổng quản thái giám, quyền hành nhất thời khuynh loát triều đình, lo việc riêng thu nạp hối lộ. Bởi Lí Liên Anh nhìn theo gió mà bẻ lái, từng lấy lòng hoàng hậu Long Dụ, sau khi Từ Hi qua đời thì cũng hết được sủng ái. Theo cách nói truyền thống, Lí Liên Anh bệnh và qua đời vào ngày mồng 4 tháng 2 âm lịch năm Tuyên Thống 宣统 thứ 3 (năm 1911) tại Nam hoa viên 南花园phố Nam Trường 南长 bên ngoài Tây Hoa môn  西华门của Cố cung, hưởng niên 64 tuổi, được an táng tại nghĩa trang Ân Tế 恩济 .
              Năm 1966, “tạo phản phái” đã đập phá phần mộ Lí Liên Anh, khi mở quan tài ra, điều khiến mọi người kinh ngạc là, trong quan tài chỉ có ngoài một chiếc đầu lâu và bím tóc dài 3m ra, không có bộ xương toàn thân của Lí Liên Anh. Phát hiện này đã khiến mọi người hứng thú tìm kiếm bí ẩn về cái chết của Lí Liên Anh. Về nguyên nhân cái chết của Lí Liên Anh, trước giờ luôn có nhiều thuyết, tất cả đều mơ hồ không rõ, đại để có mấy thuyết sau:
              1- Lí Liên Anh bị giết chết ở Thăng Bình thự 升平署 (Nam Hoa  viên 南花园). Lí Liên Anh một đời nhận hối lộ của các quan viên trong triều rất nhiều. Theo truyền thuyết, trong hoàng cung có 3 gian lớn chất đến mấy trăm vạn lượng bạc trắng của Lí Liên Anh, do vì sợ khối tài sản khổng lồ mà rước hoạ nên sau khi Từ Hi qua đời, trước khi rời khỏi hoàng cung, Lí Liên Anh đã quyên toàn  bộ cho triều đình, nhưng Lí Liên Anh vẫn còn một khối tài sản lớn bên ngoài hoàng cung. Trong và ngoài cung, bọn tham tài rất nhiều, sớm đã để ý đến tài sản của Lí Liên Anh, muốn đoạt lấy về cho mình. Lí Liên Anh đột ngột qua đời, có phải là do tham tài mà hại mạng?
              2- Lí Liên Anh thọ chung nơi tẩm thất. Những người theo quan điểm này cho rằng sở dĩ trong quan tài chỉ có đầu lâu, hoàn toàn không phải do đột tử. Tuy Lí Liên Anh sống một cuộc sống xa xỉ nhưng thân nhân của Lí Liên Anh cho rằng gia đình có một người bị hoạn là sự việc làm điếm nhục tổ tông. Có người suy đoán, có phải là sau khi Lí Liên Anh chết, gia đình đã lấy đi thân tàn khuyết của ông? Theo cháu gái của Lí Liên Anh là Lí Lạc Chính 李乐正, “Tổ phụ tôi chết một cách an lành, hưởng niên 64 tuổi.” “Tổ phụ tôi do vì bị bệnh lị cấp tính, chữa trị không khỏi nên qua đời, từ lúc bị bệnh cho đến lúc mất chỉ có 4 ngày.” Trong Thanh bại loại sao – Yêm tự loại  清稗类钞 - 阉寺类  (1) có nói: “Sau khi Hiếu Khâm hậu 孝钦后 (Từ Hi) qua đời, được Long Dụ hậu 隆裕后 che chở.” “Khi bị bệnh mất”, Long Dụ hậu “đặc thưởng 2000 lượng bạc”. Trong Lí Liên Anh mộ táng bi văn 李莲英墓葬碑文 có viết:
              Thái thượng Hiếu Khâm hoàng hậu thăng hà, công chi thoái chí quyết hĩ. Thoái cư chi thời, niên dĩ suy lão. Công vẫn vu Tuyên Thống tam niên nhị nguyệt sơ tứ nhật.
              太上孝钦皇后升遐, 公之退志决矣. 退居之时, 年已衰老. 公殒于宣统三年二月初四日.
              (Thái thượng Hiếu Khâm hoàng hậu thăng hà, ông đã quyết chí lui về. Lúc về ẩn cư, tuổi đã già yếu. Ông mất vào ngày mồng 4 tháng 2 năm Tuyên Thống thứ 3)
              Lời trên văn bia tuy không rõ ràng, nhưng cũng đã cho thấy Lí Liên Anh vì già mà qua đời.  
              Lại còn có người cho rằng, Lí Liên Anh sau khi về ẩn cư ở Nam Hoa viên, suốt ngày luôn nhớ đến thời gian theo Từ Hi, quyền thế hiển hách, thế là đã lén ra khỏi kinh thành đến Tuân Hoá 遵化 bái yết lăng mộ Từ Hi. Lúc quay về kinh thành, nửa đường bị cừu thù sát hại.
              3- Thuyết bị ám sát. Theo ghi chép trên bia nơi mộ Lí Liên Anh, ông mất ngày mồng 4 tháng 3 năm 1911 (2). Đương thời chính là lúc đêm trước của cuộc cách mạnh Tân Hợi nổ ra. Vương triều Thanh lúc bấy giờ càng hủ bại, các cuộc khởi nghĩa vũ trang trong cả nước lần lượt nổi lên, phong trào ám sát cũng theo đó mà trổi dậy. Để tiêu diệt sự thống trị phong kiến, đánh đổ thế lực phong kiến, Lí Liên Anh có thể trở thành đối tượng bị ám sát? Ở ngoại ô Bắc Kinh có một ông lão, cha con 2 đời thay nhau trông coi phần mộ Lí Liên Anh. Có người từng hỏi qua nguyên nhân cái chết của Lí Liên Anh, nhưng ông lão không hề thổ lộ.
              Đến nay về cái chết của Lí Liên Anh vẫn còn là một bí ẩn.

    Chú của người dịch
    1- Trong nguyên tác ghi nhầm là Thanh bại loại tiêu 清稗类销 .
              Thanh bại loại sao 清稗类钞 là tập bút kí tiểu thuyết của Từ Kha 徐珂 (1869 – 1926) người cuối đời Thanh biên soạn. Từ những văn tập, bút kí, trát kí, chương báo của người đời Thanh và người thời cận đại, tác giả đã sưu tập những chuyện cũ, mô phỏng theo thể lệ của Tống bại loại 宋稗类钞 sao của Phan Vĩnh Nhân 潘永因biên soạn mà thành. Ghi chép sự việc trên bắt đầu từ thời Thuận Trị, Khang Hi, dưới đến đời Quan Tự, Tuyên Thống. Toàn sách phân làm 92 loại với hơn 13.500 điều. Nội dung cực kì rộng lớn, phàm quốc quân đại sự, điển chương chế độ, xã hộ kinh tế, học thuật văn hoá, danh thần thạc nho, tật bệnh tai hại, đạo tặc lưu manh, dân tình phong tục, cổ tích danh thắng, cơ hồ như không gì không có.
              Theo https://baike.baidu.com/item.
    2- Ở trên là ngày mồng 4 tháng 2 năm Tuyên Thống thứ 3 tức năm 1911.

                                                                              Huỳnh Chương Hưng
                                                                              Quy Nhơn 21/11/2017

    Nguyên tác Trung văn
    LÍ LIÊN ANH TỬ VONG CHI MÊ
    李莲英死亡之谜
    Tác giả: (Lưu Cật 刘劼, Lưu Kiến Đại 刘建岱)
    Trong quyển
    TRUNG QUỐC LỊCH SỬ CHI MÊ
    中国历史之谜
    Chủ biên: Lí Quảng Sinh 李广生
    Thiên Tân: Bách hoa văn nghệ xuất bản xã, 2001

    Dịch thuật: Bí ẩn về cái chết của Lí Liên Anh

    Đăng lúc  19:45  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    BÍ ẨN VỀ CÁI CHẾT CỦA LÍ LIÊN ANH

              Lí Liên Anh 李莲英là thái giám nổi tiếng cuối đời Thanh, người phủ Hà Gian 河间Trực Lệ 直隶. Từ nhỏ cha mẹ đã qua đời, 10 tuổi được một người họ  Thẩm  tiến cử vào cung làm thái giám, chuyên chải tóc cho Ý quý phi 懿贵妃. Nhân vì giỏi a dua nên quan vị của Lí Liên Anh luôn thẳng tiến, cuối cùng lên đến chức Tổng quản thái giám, quyền hành nhất thời khuynh loát triều đình, lo việc riêng thu nạp hối lộ. Bởi Lí Liên Anh nhìn theo gió mà bẻ lái, từng lấy lòng hoàng hậu Long Dụ, sau khi Từ Hi qua đời thì cũng hết được sủng ái. Theo cách nói truyền thống, Lí Liên Anh bệnh và qua đời vào ngày mồng 4 tháng 2 âm lịch năm Tuyên Thống 宣统 thứ 3 (năm 1911) tại Nam hoa viên 南花园phố Nam Trường 南长 bên ngoài Tây Hoa môn  西华门của Cố cung, hưởng niên 64 tuổi, được an táng tại nghĩa trang Ân Tế 恩济 .
              Năm 1966, “tạo phản phái” đã đập phá phần mộ Lí Liên Anh, khi mở quan tài ra, điều khiến mọi người kinh ngạc là, trong quan tài chỉ có ngoài một chiếc đầu lâu và bím tóc dài 3m ra, không có bộ xương toàn thân của Lí Liên Anh. Phát hiện này đã khiến mọi người hứng thú tìm kiếm bí ẩn về cái chết của Lí Liên Anh. Về nguyên nhân cái chết của Lí Liên Anh, trước giờ luôn có nhiều thuyết, tất cả đều mơ hồ không rõ, đại để có mấy thuyết sau:
              1- Lí Liên Anh bị giết chết ở Thăng Bình thự 升平署 (Nam Hoa  viên 南花园). Lí Liên Anh một đời nhận hối lộ của các quan viên trong triều rất nhiều. Theo truyền thuyết, trong hoàng cung có 3 gian lớn chất đến mấy trăm vạn lượng bạc trắng của Lí Liên Anh, do vì sợ khối tài sản khổng lồ mà rước hoạ nên sau khi Từ Hi qua đời, trước khi rời khỏi hoàng cung, Lí Liên Anh đã quyên toàn  bộ cho triều đình, nhưng Lí Liên Anh vẫn còn một khối tài sản lớn bên ngoài hoàng cung. Trong và ngoài cung, bọn tham tài rất nhiều, sớm đã để ý đến tài sản của Lí Liên Anh, muốn đoạt lấy về cho mình. Lí Liên Anh đột ngột qua đời, có phải là do tham tài mà hại mạng?
              2- Lí Liên Anh thọ chung nơi tẩm thất. Những người theo quan điểm này cho rằng sở dĩ trong quan tài chỉ có đầu lâu, hoàn toàn không phải do đột tử. Tuy Lí Liên Anh sống một cuộc sống xa xỉ nhưng thân nhân của Lí Liên Anh cho rằng gia đình có một người bị hoạn là sự việc làm điếm nhục tổ tông. Có người suy đoán, có phải là sau khi Lí Liên Anh chết, gia đình đã lấy đi thân tàn khuyết của ông? Theo cháu gái của Lí Liên Anh là Lí Lạc Chính 李乐正, “Tổ phụ tôi chết một cách an lành, hưởng niên 64 tuổi.” “Tổ phụ tôi do vì bị bệnh lị cấp tính, chữa trị không khỏi nên qua đời, từ lúc bị bệnh cho đến lúc mất chỉ có 4 ngày.” Trong Thanh bại loại sao – Yêm tự loại  清稗类钞 - 阉寺类  (1) có nói: “Sau khi Hiếu Khâm hậu 孝钦后 (Từ Hi) qua đời, được Long Dụ hậu 隆裕后 che chở.” “Khi bị bệnh mất”, Long Dụ hậu “đặc thưởng 2000 lượng bạc”. Trong Lí Liên Anh mộ táng bi văn 李莲英墓葬碑文 có viết:
              Thái thượng Hiếu Khâm hoàng hậu thăng hà, công chi thoái chí quyết hĩ. Thoái cư chi thời, niên dĩ suy lão. Công vẫn vu Tuyên Thống tam niên nhị nguyệt sơ tứ nhật.
              太上孝钦皇后升遐, 公之退志决矣. 退居之时, 年已衰老. 公殒于宣统三年二月初四日.
              (Thái thượng Hiếu Khâm hoàng hậu thăng hà, ông đã quyết chí lui về. Lúc về ẩn cư, tuổi đã già yếu. Ông mất vào ngày mồng 4 tháng 2 năm Tuyên Thống thứ 3)
              Lời trên văn bia tuy không rõ ràng, nhưng cũng đã cho thấy Lí Liên Anh vì già mà qua đời.  
              Lại còn có người cho rằng, Lí Liên Anh sau khi về ẩn cư ở Nam Hoa viên, suốt ngày luôn nhớ đến thời gian theo Từ Hi, quyền thế hiển hách, thế là đã lén ra khỏi kinh thành đến Tuân Hoá 遵化 bái yết lăng mộ Từ Hi. Lúc quay về kinh thành, nửa đường bị cừu thù sát hại.
              3- Thuyết bị ám sát. Theo ghi chép trên bia nơi mộ Lí Liên Anh, ông mất ngày mồng 4 tháng 3 năm 1911 (2). Đương thời chính là lúc đêm trước của cuộc cách mạnh Tân Hợi nổ ra. Vương triều Thanh lúc bấy giờ càng hủ bại, các cuộc khởi nghĩa vũ trang trong cả nước lần lượt nổi lên, phong trào ám sát cũng theo đó mà trổi dậy. Để tiêu diệt sự thống trị phong kiến, đánh đổ thế lực phong kiến, Lí Liên Anh có thể trở thành đối tượng bị ám sát? Ở ngoại ô Bắc Kinh có một ông lão, cha con 2 đời thay nhau trông coi phần mộ Lí Liên Anh. Có người từng hỏi qua nguyên nhân cái chết của Lí Liên Anh, nhưng ông lão không hề thổ lộ.
              Đến nay về cái chết của Lí Liên Anh vẫn còn là một bí ẩn.

    Chú của người dịch
    1- Trong nguyên tác ghi nhầm là Thanh bại loại tiêu 清稗类销 .
              Thanh bại loại sao 清稗类钞 là tập bút kí tiểu thuyết của Từ Kha 徐珂 (1869 – 1926) người cuối đời Thanh biên soạn. Từ những văn tập, bút kí, trát kí, chương báo của người đời Thanh và người thời cận đại, tác giả đã sưu tập những chuyện cũ, mô phỏng theo thể lệ của Tống bại loại 宋稗类钞 sao của Phan Vĩnh Nhân 潘永因biên soạn mà thành. Ghi chép sự việc trên bắt đầu từ thời Thuận Trị, Khang Hi, dưới đến đời Quan Tự, Tuyên Thống. Toàn sách phân làm 92 loại với hơn 13.500 điều. Nội dung cực kì rộng lớn, phàm quốc quân đại sự, điển chương chế độ, xã hộ kinh tế, học thuật văn hoá, danh thần thạc nho, tật bệnh tai hại, đạo tặc lưu manh, dân tình phong tục, cổ tích danh thắng, cơ hồ như không gì không có.
              Theo https://baike.baidu.com/item.
    2- Ở trên là ngày mồng 4 tháng 2 năm Tuyên Thống thứ 3 tức năm 1911.

                                                                              Huỳnh Chương Hưng
                                                                              Quy Nhơn 21/11/2017

    Nguyên tác Trung văn
    LÍ LIÊN ANH TỬ VONG CHI MÊ
    李莲英死亡之谜
    Tác giả: (Lưu Cật 刘劼, Lưu Kiến Đại 刘建岱)
    Trong quyển
    TRUNG QUỐC LỊCH SỬ CHI MÊ
    中国历史之谜
    Chủ biên: Lí Quảng Sinh 李广生
    Thiên Tân: Bách hoa văn nghệ xuất bản xã, 2001

    Thứ Hai, 20 tháng 11, 2017



    老学究
        爱堂先生言: 闻有老学究夜行, 忽遇其亡友. 学究素刚直, 亦不怖畏, 君何往?
    : “吾为冥吏, 至南村有所勾摄, 适同路耳.”
    因并行. 至一破屋, 鬼曰: “此文士庐也.”
    : “何以知之?”
    : “凡人白昼营营, 性灵汨没. 唯睡时一念不生, 元神朗澈. 胸中所读之书, 字字皆吐光芒, 自百窍而出. 其状缥缈缤纷, 烂如锦绣. 学如郑, , 文如屈, , , 马者, 上烛霄汉, 与星月争辉. 次者数丈, 次者数尺, 以渐而差. 极下者亦荧荧如一灯, 照映户牖, 人不能见, 唯鬼神见之耳. 此室上光芒高七八尺, 以是而知.”
    学究问: “我读书一生, 睡中光芒当几许?”
    鬼嗫嚅良久曰: “昨过君塾, 君方昼寝. 见君胸中高头讲章一部, 墨卷五六百篇, 经文七八十篇, 策略三四十篇, 字字化为黑烟, 笼罩屋上. 诸生诵读之声, 如在浓云密雾中, 实未见光芒, 不敢妄语.
    学究怒叱之. 鬼大笑而去.
                                  (纪昀 - 阅微草堂笔记)

    Phiên âm
    LÃO HỌC CỨU
              Ái Đường tiên sinh ngôn: Văn hữu lão học cứu dạ hành, hốt ngộ kì vong hữu. Học cứu tố cương trực, diệc bất bố uý, vấn: “Quân hà vãng?”
              Viết: “Ngô vi minh lại, chí nam thôn hữu sở câu nhiếp, thích đồng lộ nhĩ.”
              Nhân tịnh hành. Chí nhất phá ốc, quỷ viết: “Thử văn sĩ lư dã.”
              Vấn: “Hà dĩ tri chi?”
              Viết: “Phàm  nhân bạch trú doanh doanh, tính linh mịch một. Duy thuỵ thời nhất niệm bất sinh, nguyên thần lãng triệt. Hung trung sở độc chi thư, tự tự giai thổ quang mang, tự bách khiếu nhi xuất. Kì trạng phiếu miểu tân phân, lạn như cẩm tú. Học như Trịnh, Khổng; văn như Khuất, Tống, Ban, Mã giả, thượng chúc tiêu hán, dữ tinh nguyệt tranh huy. Thứ giả sổ trượng, thứ giả sổ xích, dĩ tiệm nhi si. Cực hạ giả diệc huỳnh huỳnh như nhất đăng, chiếu ánh hộ dũ, nhân bất năng kiến, duy quỷ thần kiến chi nhĩ. Thử thất thượng quang mang cao thất bát xích, dĩ thị nhi tri.”
              Học cứu vấn: “Ngã độc thư nhất sinh, thuỵ trung quang mang đương kỉ hứa?”
              Quỷ nhiếp nhu lương cửu, viết: “Tạc quá quân thục, quân phương trú tẩm. Kiến quân hung trung cao đầu giảng chương nhất bộ, Mặc quyển ngũ lục bách thiên, kinh văn thất bát thập thiên, sách lược tam tứ thập thiên, tự tự hoá vi hắc yên, lung tráo ốc thượng. Chư sinh tụng độc chi thanh, như tại nùng vân mật vụ trung, thực vị kiến quang mang, bất cảm vọng ngữ.”
              Học cứu nộ sất chi. Quỷ đại tiếu nhi khứ.
                                                          (Kỉ Vân – Duyệt Vi Thảo Đường bút kí)

    Dịch nghĩa
    LÃO HỌC CỨU (1)
              Ái Đường tiên sinh kể rằng: Có vị lão học cứu đi đường vào ban đêm, bỗng nhiên gặp phải người bạn đã mất. Lão học cứu này tính cách vốn cương trực, cũng không biết sợ, liền hỏi người bạn đó đi đâu?
    Người bạn đã mất trả lời rằng: “Tôi hiện là sai dịch chốn âm ti, đến thôn phía nam để bắt hồn người vừa mới mất, đúng lúc gặp anh trên đường.”
    Thế là hai người cùng đi. Đi đến một gian nhà cũ nát phía trước, bạn quỷ nói rằng: “Đó là nhà của văn sĩ.”
    Lão học cứu hỏi: “Sao anh biết?”
    Bạn quỷ đáp rằng: “Người bình thường ban ngày bận rộn vì sinh kế, đến nỗi khiến tính cách bị che lấp, chỉ có lúc ban đêm đi ngủ, việc gì cũng không nghĩ tới, bản tính mới có thể trong sáng, cho nên những sách vở mà họ đã đọc qua, từng chữ từng chữ trong lòng phát ra ánh sáng, thông qua các khiếu mà toả ra, hình trạng lúc ẩn lúc hiện, đẹp lóng lánh như gấm thêu. Người có học vấn cao  như Trịnh Huyền, Khổng Dĩnh Đạt, người có tài văn chương như Khuất Nguyên, Tống Ngọc, Ban Siêu, Tư Mã Thiên, ánh sáng toả ra có thể xông thẳng lên tới chín tầng trời, tranh sáng cùng trăng sao; những người tài không bằng họ thì ánh sáng chỉ lên cao mấy trượng, thứ nữa là lên cao mấy xích, và thứ nữa thì giảm dần. Loại cuối cùng cũng có một chút ánh sáng, nhưng lập loè như ánh đèn, chỉ đủ soi rọi nơi cửa sổ nhà mình. Ánh sáng đó, con người không thể nhìn thấy được, chỉ có quỷ thần mới có thể nhìn thấy. Ánh sáng trên nóc nhà của gian nhà cũ nát đó cao khoảng 7, 8 xích, cho nên tôi mới có thể biết được.”
    Lão học cứu lại hỏi: “Kinh sách tôi đọc qua một đời, khi ngủ ánh sáng cao bao nhiêu?”
    Bạn quỷ trầm ngâm giây lát rồi nói: “Hôm qua tôi đi ngang qua trường anh, vừa lúc anh ngủ ngày, thấy trong người anh, một bộ cao đầu giảng chương, năm sáu trăm thiên Mặc Tử, bảy tám chục thiên kinh văn, ba bốn chục thiên sách lược, từng chữ từng chữ hoá thành đám khói đen, phủ trùm kín nóc trường của anh; còn tiếng đọc sách các học trò như chìm vào trong đám mây mù dày đặc, quả thực không thấy chút ánh sáng nào, bởi vậy tôi không dám nói càn.”
              Lão học cứu nghe qua, nổi giận quát tháo bạn quỷ, bạn quỷ cười lớn rồi bỏ đi mất.

    Chú của người dịch
    1- Lão học cứu 老学究: từ “học cứu” 学究 nguyên là danh xưng chuyên môn xuất phát từ chế độ khoa cử thời Đường, về sau “học cứu” là mĩ xưng chỉ thư sinh được sử dụng rộng rãi trong dân gian. Theo sự biến thiên về ý nghĩa của từ, “học cứu” cũng dần sản sinh ý nghĩa chê bai, mọi người bắt đầu gọi những người đọc sách cổ mà không “tiêu hoá” là “lão học cứu”, cũng chỉ những người có học mà hủ lậu thiển cận thích khoe khoang.
              (Theo https://baike.baidu.com/item...)
    Kỉ Vân 纪昀 (1724 – 1805): tự Hiểu Lam 晓岚, một tự khác là Xuân Phàm 春帆, về già có hiệu là Thạch Vân 石云, đạo hiệu Quán Dịch Đạo Nhân 观弈道人, người huyện Hiến Trực Lệ 直隶 (nay là thành phố Thương Châu 沧州 Hà Bắc 河北).
    Kỉ Vân là chính trị gia, văn học gia đời Thanh, quan viên thời Càn Long 郓隆, giữ qua các chức Tả đô ngự sử, Binh bộ Thượng thư, Lễ bộ Thượng thư, Hiện biện Đại học sĩ gia Thái tử Thái bảo, từng nhậm chức Tổng toản tu biên soạn bộ Tứ khố toàn thư 四库全书.
    Kỉ Vân học rộng biết nhiều, bác lãm quân thư, giỏi thơ cùng biền văn, đặc biệt sở trường về khảo chứng huấn hỗ. Lúc trẻ tài hoa dồi dào, huyết khí phương cương, về già thế giới nội tâm của ông ngày càng khép lại. Duyệt Vi Thảo Đường bút kí là sản vật của tâm cảnh đó. Thơ văn của ông được môn nhân sưu tập, biên thành bộ Kỉ Văn Đạt Công di tập 纪文达公遗集.
    Tháng 2 năm Gia Khánh 嘉庆 thứ 10 (năm 1805), Kỉ Vân bệnh và qua đời. Nhân 2 câu trong “Gia Khánh đế ngự tứ bi văn” 嘉庆帝御赐碑文
    Mẫn nhi hiếu học khả vi văn
    Thụ chi dĩ chính vô bất đạt
    敏而好学可为文
    授之以政无不达
    (Siêng năng ham học có thể làm văn
    Giao cho chính sự không việc gì là không đạt)
    nên khi mất, ông có tên thuỵ là Văn Đạt 文达.

    Duyệt Vi Thảo Đường bút kí 阅为草堂笔记 : tổng cộng hơn 38 vạn chữ, 24 quyển, toàn sách chi là 5 mục lớn, gồm:
              - Loan Dương tiêu hạ lục 滦阳消夏录 6 quyển
              - Như thị ngã văn 如是我闻 4 quyển
              - Hoè Tây tạp chí 槐西杂志 4 quyển
              - Cô vọng thính chi 姑妄听之 4 quyển
              - Loan Dương tục lục 滦阳续录 6 quyển
    biên soạn liên tục từ năm Càn Long thứ 54 (năm 1789) đến năm Gia Khánh thứ 3 (năm 1798) mới hoàn thành. Năm Gia Khánh thứ 5 (1800) môn nhân của ông là Thịnh Tài Ngạn 盛财彦 tập hợp san khắc ấn hành.
              Toàn sách chủ yếu ghi chép những chuyện liên quan đến hồ li thần quỷ, mục đích ở chỗ khuyến thiện trừng ác. Tuy không thiếu những giáo thuyết nhân quả báo ứng, nhưng thông qua miêu tả, đã phản ánh được sự hủ bại và hắc ám của xã hội phong kiến.
              Theo http://baike.baidu.com/item

                                                                   Huỳnh Chương Hưng
                                                                   Quy Nhơn 20/11/2017

    Nguồn
    DUYỆT VI THẢO ĐƯỜNG BÚT KÍ
    阅为草堂笔记
    (Thanh) Kỉ Vân 纪昀biên soạn
    Phương Hiểu 方晓 chú dịch
    Vũ Hán . Sùng Văn thư cục xuất bản, 2007

    Dịch thuật: Lão học cứu (Duyệt Vi Thảo Đường bút kí)

    Đăng lúc  19:45  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »



    老学究
        爱堂先生言: 闻有老学究夜行, 忽遇其亡友. 学究素刚直, 亦不怖畏, 君何往?
    : “吾为冥吏, 至南村有所勾摄, 适同路耳.”
    因并行. 至一破屋, 鬼曰: “此文士庐也.”
    : “何以知之?”
    : “凡人白昼营营, 性灵汨没. 唯睡时一念不生, 元神朗澈. 胸中所读之书, 字字皆吐光芒, 自百窍而出. 其状缥缈缤纷, 烂如锦绣. 学如郑, , 文如屈, , , 马者, 上烛霄汉, 与星月争辉. 次者数丈, 次者数尺, 以渐而差. 极下者亦荧荧如一灯, 照映户牖, 人不能见, 唯鬼神见之耳. 此室上光芒高七八尺, 以是而知.”
    学究问: “我读书一生, 睡中光芒当几许?”
    鬼嗫嚅良久曰: “昨过君塾, 君方昼寝. 见君胸中高头讲章一部, 墨卷五六百篇, 经文七八十篇, 策略三四十篇, 字字化为黑烟, 笼罩屋上. 诸生诵读之声, 如在浓云密雾中, 实未见光芒, 不敢妄语.
    学究怒叱之. 鬼大笑而去.
                                  (纪昀 - 阅微草堂笔记)

    Phiên âm
    LÃO HỌC CỨU
              Ái Đường tiên sinh ngôn: Văn hữu lão học cứu dạ hành, hốt ngộ kì vong hữu. Học cứu tố cương trực, diệc bất bố uý, vấn: “Quân hà vãng?”
              Viết: “Ngô vi minh lại, chí nam thôn hữu sở câu nhiếp, thích đồng lộ nhĩ.”
              Nhân tịnh hành. Chí nhất phá ốc, quỷ viết: “Thử văn sĩ lư dã.”
              Vấn: “Hà dĩ tri chi?”
              Viết: “Phàm  nhân bạch trú doanh doanh, tính linh mịch một. Duy thuỵ thời nhất niệm bất sinh, nguyên thần lãng triệt. Hung trung sở độc chi thư, tự tự giai thổ quang mang, tự bách khiếu nhi xuất. Kì trạng phiếu miểu tân phân, lạn như cẩm tú. Học như Trịnh, Khổng; văn như Khuất, Tống, Ban, Mã giả, thượng chúc tiêu hán, dữ tinh nguyệt tranh huy. Thứ giả sổ trượng, thứ giả sổ xích, dĩ tiệm nhi si. Cực hạ giả diệc huỳnh huỳnh như nhất đăng, chiếu ánh hộ dũ, nhân bất năng kiến, duy quỷ thần kiến chi nhĩ. Thử thất thượng quang mang cao thất bát xích, dĩ thị nhi tri.”
              Học cứu vấn: “Ngã độc thư nhất sinh, thuỵ trung quang mang đương kỉ hứa?”
              Quỷ nhiếp nhu lương cửu, viết: “Tạc quá quân thục, quân phương trú tẩm. Kiến quân hung trung cao đầu giảng chương nhất bộ, Mặc quyển ngũ lục bách thiên, kinh văn thất bát thập thiên, sách lược tam tứ thập thiên, tự tự hoá vi hắc yên, lung tráo ốc thượng. Chư sinh tụng độc chi thanh, như tại nùng vân mật vụ trung, thực vị kiến quang mang, bất cảm vọng ngữ.”
              Học cứu nộ sất chi. Quỷ đại tiếu nhi khứ.
                                                          (Kỉ Vân – Duyệt Vi Thảo Đường bút kí)

    Dịch nghĩa
    LÃO HỌC CỨU (1)
              Ái Đường tiên sinh kể rằng: Có vị lão học cứu đi đường vào ban đêm, bỗng nhiên gặp phải người bạn đã mất. Lão học cứu này tính cách vốn cương trực, cũng không biết sợ, liền hỏi người bạn đó đi đâu?
    Người bạn đã mất trả lời rằng: “Tôi hiện là sai dịch chốn âm ti, đến thôn phía nam để bắt hồn người vừa mới mất, đúng lúc gặp anh trên đường.”
    Thế là hai người cùng đi. Đi đến một gian nhà cũ nát phía trước, bạn quỷ nói rằng: “Đó là nhà của văn sĩ.”
    Lão học cứu hỏi: “Sao anh biết?”
    Bạn quỷ đáp rằng: “Người bình thường ban ngày bận rộn vì sinh kế, đến nỗi khiến tính cách bị che lấp, chỉ có lúc ban đêm đi ngủ, việc gì cũng không nghĩ tới, bản tính mới có thể trong sáng, cho nên những sách vở mà họ đã đọc qua, từng chữ từng chữ trong lòng phát ra ánh sáng, thông qua các khiếu mà toả ra, hình trạng lúc ẩn lúc hiện, đẹp lóng lánh như gấm thêu. Người có học vấn cao  như Trịnh Huyền, Khổng Dĩnh Đạt, người có tài văn chương như Khuất Nguyên, Tống Ngọc, Ban Siêu, Tư Mã Thiên, ánh sáng toả ra có thể xông thẳng lên tới chín tầng trời, tranh sáng cùng trăng sao; những người tài không bằng họ thì ánh sáng chỉ lên cao mấy trượng, thứ nữa là lên cao mấy xích, và thứ nữa thì giảm dần. Loại cuối cùng cũng có một chút ánh sáng, nhưng lập loè như ánh đèn, chỉ đủ soi rọi nơi cửa sổ nhà mình. Ánh sáng đó, con người không thể nhìn thấy được, chỉ có quỷ thần mới có thể nhìn thấy. Ánh sáng trên nóc nhà của gian nhà cũ nát đó cao khoảng 7, 8 xích, cho nên tôi mới có thể biết được.”
    Lão học cứu lại hỏi: “Kinh sách tôi đọc qua một đời, khi ngủ ánh sáng cao bao nhiêu?”
    Bạn quỷ trầm ngâm giây lát rồi nói: “Hôm qua tôi đi ngang qua trường anh, vừa lúc anh ngủ ngày, thấy trong người anh, một bộ cao đầu giảng chương, năm sáu trăm thiên Mặc Tử, bảy tám chục thiên kinh văn, ba bốn chục thiên sách lược, từng chữ từng chữ hoá thành đám khói đen, phủ trùm kín nóc trường của anh; còn tiếng đọc sách các học trò như chìm vào trong đám mây mù dày đặc, quả thực không thấy chút ánh sáng nào, bởi vậy tôi không dám nói càn.”
              Lão học cứu nghe qua, nổi giận quát tháo bạn quỷ, bạn quỷ cười lớn rồi bỏ đi mất.

    Chú của người dịch
    1- Lão học cứu 老学究: từ “học cứu” 学究 nguyên là danh xưng chuyên môn xuất phát từ chế độ khoa cử thời Đường, về sau “học cứu” là mĩ xưng chỉ thư sinh được sử dụng rộng rãi trong dân gian. Theo sự biến thiên về ý nghĩa của từ, “học cứu” cũng dần sản sinh ý nghĩa chê bai, mọi người bắt đầu gọi những người đọc sách cổ mà không “tiêu hoá” là “lão học cứu”, cũng chỉ những người có học mà hủ lậu thiển cận thích khoe khoang.
              (Theo https://baike.baidu.com/item...)
    Kỉ Vân 纪昀 (1724 – 1805): tự Hiểu Lam 晓岚, một tự khác là Xuân Phàm 春帆, về già có hiệu là Thạch Vân 石云, đạo hiệu Quán Dịch Đạo Nhân 观弈道人, người huyện Hiến Trực Lệ 直隶 (nay là thành phố Thương Châu 沧州 Hà Bắc 河北).
    Kỉ Vân là chính trị gia, văn học gia đời Thanh, quan viên thời Càn Long 郓隆, giữ qua các chức Tả đô ngự sử, Binh bộ Thượng thư, Lễ bộ Thượng thư, Hiện biện Đại học sĩ gia Thái tử Thái bảo, từng nhậm chức Tổng toản tu biên soạn bộ Tứ khố toàn thư 四库全书.
    Kỉ Vân học rộng biết nhiều, bác lãm quân thư, giỏi thơ cùng biền văn, đặc biệt sở trường về khảo chứng huấn hỗ. Lúc trẻ tài hoa dồi dào, huyết khí phương cương, về già thế giới nội tâm của ông ngày càng khép lại. Duyệt Vi Thảo Đường bút kí là sản vật của tâm cảnh đó. Thơ văn của ông được môn nhân sưu tập, biên thành bộ Kỉ Văn Đạt Công di tập 纪文达公遗集.
    Tháng 2 năm Gia Khánh 嘉庆 thứ 10 (năm 1805), Kỉ Vân bệnh và qua đời. Nhân 2 câu trong “Gia Khánh đế ngự tứ bi văn” 嘉庆帝御赐碑文
    Mẫn nhi hiếu học khả vi văn
    Thụ chi dĩ chính vô bất đạt
    敏而好学可为文
    授之以政无不达
    (Siêng năng ham học có thể làm văn
    Giao cho chính sự không việc gì là không đạt)
    nên khi mất, ông có tên thuỵ là Văn Đạt 文达.

    Duyệt Vi Thảo Đường bút kí 阅为草堂笔记 : tổng cộng hơn 38 vạn chữ, 24 quyển, toàn sách chi là 5 mục lớn, gồm:
              - Loan Dương tiêu hạ lục 滦阳消夏录 6 quyển
              - Như thị ngã văn 如是我闻 4 quyển
              - Hoè Tây tạp chí 槐西杂志 4 quyển
              - Cô vọng thính chi 姑妄听之 4 quyển
              - Loan Dương tục lục 滦阳续录 6 quyển
    biên soạn liên tục từ năm Càn Long thứ 54 (năm 1789) đến năm Gia Khánh thứ 3 (năm 1798) mới hoàn thành. Năm Gia Khánh thứ 5 (1800) môn nhân của ông là Thịnh Tài Ngạn 盛财彦 tập hợp san khắc ấn hành.
              Toàn sách chủ yếu ghi chép những chuyện liên quan đến hồ li thần quỷ, mục đích ở chỗ khuyến thiện trừng ác. Tuy không thiếu những giáo thuyết nhân quả báo ứng, nhưng thông qua miêu tả, đã phản ánh được sự hủ bại và hắc ám của xã hội phong kiến.
              Theo http://baike.baidu.com/item

                                                                   Huỳnh Chương Hưng
                                                                   Quy Nhơn 20/11/2017

    Nguồn
    DUYỆT VI THẢO ĐƯỜNG BÚT KÍ
    阅为草堂笔记
    (Thanh) Kỉ Vân 纪昀biên soạn
    Phương Hiểu 方晓 chú dịch
    Vũ Hán . Sùng Văn thư cục xuất bản, 2007

    Chủ Nhật, 19 tháng 11, 2017

    CHỮ “PHẦN” TRONG HÁN NGỮ CỔ

    1- Đê lớn
              Thi kinh – Chu Nam – Nhữ phần 詩經 - 周南 - 汝墳 :
    Tuân bỉ Nhữ phần
    遵彼汝墳
    (Thuận theo bờ đê sông Nhữ kia)
    (Bản dịch của Tạ Quang Phát, Kinh Thi tập 1 trang 72)
    2- Vùng đất cao ở giữa nước
              Sở từ - Cửu chương – Ai Dĩnh 楚辭 - 九章 - 哀郢:
    Đăng đại phần dĩ viễn vọng hề
    登大墳以遠望兮
    (Lên gò lớn để nhìn ra xa)
    3- Phần mộ (nghĩa hậu khởi)
              Trương Hành 張衡 Tư huyền phú 思玄賦:
    Đổ Hữu Lê chi bĩ phần
    覩有黎之圮墳
    (Nhìn thấy phần mộ bị huỷ hoại của Hữu Lê)
    (Hữu Lê 有黎tức Chúc Dung thị 祝融氏. Bĩ phần 圮墳 : phần mộ bị huỷ hoại.)
              Đỗ Phủ杜甫 - Biệt Phòng Thái uý mộ別房太尉墓:
    Trú mã biệt cô phần
    駐馬別孤墳
    (Dừng ngựa từ biệt nấm mộ lẻ loi của Phòng Thái Uý)
    5- Kinh điển, sách vở thời cổ.
              Tương truyền sách cổ nhất là “tam phần ngũ điển”
              Tả truyện – Chiêu Công thập nhị niên 左傳 - 昭公十二年 :
    Thị năng độc tam phần ngũ điển bát sách cửu khâu (1).
    是能讀三墳五典八索九丘.
    (Có thể đọc tam phần ngũ điển bát sách cửu khâu)
              Cho nên thư tịch thời viễn cổ còn được gọi là “điển phần” 典墳, hoặc “phần tịch” 墳籍 .
              Lục Cơ陸機Văn phú文賦 :
    Di tình chí ư điển phần
    頤情志於典墳
    (Lấy điển phần nuôi dưỡng tính tình và chí hướng)
              (Di tức “dưỡng” .)
              Tiêu Thống 蕭統  - Văn tuyển tự 文選序:
    Khái kiến điển phần, bàng xuất tử sử.
    概見典墳, 旁出子史.
    (Đại khái đều đã thấy ở điển phần, hoặc từ chư tử và các trứ tác lịch sử)
    Phân biệt “khâu”  “mộ” “phần” “trủng” :
              Về ý nghĩa phần mộ, 4 chữ này đồng nghĩa. “Khâu” và “mộ” thông dụng và thường đi với nhau. Điều cần phân biệt là, bằng phẳng là mộ, vun cao là khâu. “Phần” cũng là mộ, nhưng là nghĩa hậu khởi. Sự phân biệt giữa “phần” và “mộ” cũng là cao và bằng phẳng, cho nên trong Lễ Kí -  Đàn Cung 禮記 - 檀弓 có nói:
    Cổ giả mộ nhi bất phần
    古者墓而不墳
    (Thời cổ đắp mộ nhưng không vun cao).
              “Trủng” là đại phần. Bài Khúc Giang 曲江 của Đỗ Phủ  杜甫 có câu:
    Uyển biên cao trủng ngoạ kì lân
    苑邊高冢臥麒麟
    (Trước ngôi mộ cao bên vườn, kì lân đá hãy còn nằm)
              “Khâu” là đại trủng, cho nên mộ của Triệu Vũ Linh Vương 趙武靈王 gọi là “Linh khâu” 靈丘, mộ của Ngô Vương Hạp Lư 吳王闔閭 gọi là “Hổ khâu” 虎丘 .

    Chú của người dịch
    1- Tam phần ngũ điển bát sách cửu khâu 三墳五典八索九丘:
              Đỗ Dự 杜預 chú rằng:
    Giai cổ thư danh
    皆古书名
    (Đều là tên các sách cổ)
              Và trong Thượng thư tự 尚书序 có nói:
              Phục Hi, Thần Nông, Hoàng Đế chi thư, vị chi “tam phần”, ngôn đại đạo dã. Thiếu Hạo, Chuyên Húc, Cao Tân (Khốc), Đường Nghiêu, Ngu Thuấn chi thư vị chi “ngũ điển”.
              伏羲, 神农, 黄帝之书谓之三坟, 言大道也. 少昊, 顓頊, 高辛 ()唐尧, 虞舜之书谓之 五典.
              (Sách của Phục Hi, Thần Nông, Hoàng Đế gọi là “tam phần”, ý nói đạo lớn. Sách của Thiếu Hạo, Chuyên Húc, Cao Tân (Khốc), Đường Nghiêu, Ngu Thuấn gọi là “ngũ điển”.
              Trịnh Huyền 郑玄  nói rằng:
              Tam phần ngũ điển chính là “sách của Tam Hoàng Ngũ Đế”, nhân đó, “tam phần” chính là “sách của Tam Hoàng”, “ngũ điển” là nói sách của Ngũ Đế. Còn như “bát sách” và “cửu khâu” là chỉ “bát quái” và “cửu châu chi chí”, có thuyết cho là “hà đồ” “lạc thư”.
              Theo https://baike.baidu.com/item

                                                           Huỳnh Chương Hưng
                                                           Quy Nhơn 19/11/2017

    Nguyên tác Trung văn trong
    CỔ ĐẠI HÁN NGỮ
    古代漢語
    (tập 4)
    Chủ biên: Vương Lực 王力
    Trung Hoa thư cục, 1998.

    Dịch thuật: Chữ "phần" trong Hán ngữ cổ

    Đăng lúc  23:08  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    CHỮ “PHẦN” TRONG HÁN NGỮ CỔ

    1- Đê lớn
              Thi kinh – Chu Nam – Nhữ phần 詩經 - 周南 - 汝墳 :
    Tuân bỉ Nhữ phần
    遵彼汝墳
    (Thuận theo bờ đê sông Nhữ kia)
    (Bản dịch của Tạ Quang Phát, Kinh Thi tập 1 trang 72)
    2- Vùng đất cao ở giữa nước
              Sở từ - Cửu chương – Ai Dĩnh 楚辭 - 九章 - 哀郢:
    Đăng đại phần dĩ viễn vọng hề
    登大墳以遠望兮
    (Lên gò lớn để nhìn ra xa)
    3- Phần mộ (nghĩa hậu khởi)
              Trương Hành 張衡 Tư huyền phú 思玄賦:
    Đổ Hữu Lê chi bĩ phần
    覩有黎之圮墳
    (Nhìn thấy phần mộ bị huỷ hoại của Hữu Lê)
    (Hữu Lê 有黎tức Chúc Dung thị 祝融氏. Bĩ phần 圮墳 : phần mộ bị huỷ hoại.)
              Đỗ Phủ杜甫 - Biệt Phòng Thái uý mộ別房太尉墓:
    Trú mã biệt cô phần
    駐馬別孤墳
    (Dừng ngựa từ biệt nấm mộ lẻ loi của Phòng Thái Uý)
    5- Kinh điển, sách vở thời cổ.
              Tương truyền sách cổ nhất là “tam phần ngũ điển”
              Tả truyện – Chiêu Công thập nhị niên 左傳 - 昭公十二年 :
    Thị năng độc tam phần ngũ điển bát sách cửu khâu (1).
    是能讀三墳五典八索九丘.
    (Có thể đọc tam phần ngũ điển bát sách cửu khâu)
              Cho nên thư tịch thời viễn cổ còn được gọi là “điển phần” 典墳, hoặc “phần tịch” 墳籍 .
              Lục Cơ陸機Văn phú文賦 :
    Di tình chí ư điển phần
    頤情志於典墳
    (Lấy điển phần nuôi dưỡng tính tình và chí hướng)
              (Di tức “dưỡng” .)
              Tiêu Thống 蕭統  - Văn tuyển tự 文選序:
    Khái kiến điển phần, bàng xuất tử sử.
    概見典墳, 旁出子史.
    (Đại khái đều đã thấy ở điển phần, hoặc từ chư tử và các trứ tác lịch sử)
    Phân biệt “khâu”  “mộ” “phần” “trủng” :
              Về ý nghĩa phần mộ, 4 chữ này đồng nghĩa. “Khâu” và “mộ” thông dụng và thường đi với nhau. Điều cần phân biệt là, bằng phẳng là mộ, vun cao là khâu. “Phần” cũng là mộ, nhưng là nghĩa hậu khởi. Sự phân biệt giữa “phần” và “mộ” cũng là cao và bằng phẳng, cho nên trong Lễ Kí -  Đàn Cung 禮記 - 檀弓 có nói:
    Cổ giả mộ nhi bất phần
    古者墓而不墳
    (Thời cổ đắp mộ nhưng không vun cao).
              “Trủng” là đại phần. Bài Khúc Giang 曲江 của Đỗ Phủ  杜甫 có câu:
    Uyển biên cao trủng ngoạ kì lân
    苑邊高冢臥麒麟
    (Trước ngôi mộ cao bên vườn, kì lân đá hãy còn nằm)
              “Khâu” là đại trủng, cho nên mộ của Triệu Vũ Linh Vương 趙武靈王 gọi là “Linh khâu” 靈丘, mộ của Ngô Vương Hạp Lư 吳王闔閭 gọi là “Hổ khâu” 虎丘 .

    Chú của người dịch
    1- Tam phần ngũ điển bát sách cửu khâu 三墳五典八索九丘:
              Đỗ Dự 杜預 chú rằng:
    Giai cổ thư danh
    皆古书名
    (Đều là tên các sách cổ)
              Và trong Thượng thư tự 尚书序 có nói:
              Phục Hi, Thần Nông, Hoàng Đế chi thư, vị chi “tam phần”, ngôn đại đạo dã. Thiếu Hạo, Chuyên Húc, Cao Tân (Khốc), Đường Nghiêu, Ngu Thuấn chi thư vị chi “ngũ điển”.
              伏羲, 神农, 黄帝之书谓之三坟, 言大道也. 少昊, 顓頊, 高辛 ()唐尧, 虞舜之书谓之 五典.
              (Sách của Phục Hi, Thần Nông, Hoàng Đế gọi là “tam phần”, ý nói đạo lớn. Sách của Thiếu Hạo, Chuyên Húc, Cao Tân (Khốc), Đường Nghiêu, Ngu Thuấn gọi là “ngũ điển”.
              Trịnh Huyền 郑玄  nói rằng:
              Tam phần ngũ điển chính là “sách của Tam Hoàng Ngũ Đế”, nhân đó, “tam phần” chính là “sách của Tam Hoàng”, “ngũ điển” là nói sách của Ngũ Đế. Còn như “bát sách” và “cửu khâu” là chỉ “bát quái” và “cửu châu chi chí”, có thuyết cho là “hà đồ” “lạc thư”.
              Theo https://baike.baidu.com/item

                                                           Huỳnh Chương Hưng
                                                           Quy Nhơn 19/11/2017

    Nguyên tác Trung văn trong
    CỔ ĐẠI HÁN NGỮ
    古代漢語
    (tập 4)
    Chủ biên: Vương Lực 王力
    Trung Hoa thư cục, 1998.

    Thứ Bảy, 18 tháng 11, 2017

    SINH HOA DIỆU BÚT
    生花妙笔

    Giải thích: chỉ văn chương viết ra hay, dùng để ví với tài năng sáng tác.
    Xuất xứ: Ngũ Đại . Hậu Chu . Vương Nhân Dụ 王仁裕:Khai Nguyên Thiên Bảo di sự - Mộng bút đầu sinh hoa 开元天宝遗事 - 梦笔头生花.

              Truyền thuyết kể rằng, Lí Bạch 李白 lúc còn trẻ từng có một giấc mộng kì lạ. Lí Bạch mơ thấy phần đầu của cây bút mình dùng nở ra hoa, từng trang giấy trắng tự động bay đến trước mặt. Lí Bạch vô cùng vui mừng liền cầm lấy cây bút kì diệu đó nhanh chóng viết, càng lạ hơn, trên giấy là những bông hoa tươi đẹp (sinh hoa diệu bút 生花妙笔).
              Về sau, Lí Bạch chuyên cần đọc sách, thâm nhập cuộc sống xã hội, đi du lịch khắp danh sơn đại xuyên của tổ quốc, sáng tác ra một số lượng lớn những bài thơ bất hủ. Lí Bạch nhiệt tình ca ngợi sự hùng vĩ, tráng lệ của tổ quốc, đồng thời ở một trình độ nhất định, những sáng tác của ông đã vạch trần xã hội phong kiến hắc ám hủ bại. Rất nhiều bài thơ nổi tiếng của Lí Bạch lưu truyền thiên cổ, đến nay vẫn còn được độc giả ngâm vịnh.

                                                              Huỳnh Chương Hưng
                                                   Quy Nhơn 18/11/2017

    Nguyên tác Trung văn
    SINH HOA DIỆU BÚT
    生花妙笔
    TRUNG QUỐC THÀNH NGỮ CỐ SỰ TỔNG TẬP
    中国成语故事总集
    (tập 1)
    Chủ biên: Đường Kì 唐麒
    Trường Xuân – Thời đại văn nghệ xuất bản xã, 2004. 

    Dịch thuật: Sinh hoa diệu bút (thành ngữ)

    Đăng lúc  20:16  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    SINH HOA DIỆU BÚT
    生花妙笔

    Giải thích: chỉ văn chương viết ra hay, dùng để ví với tài năng sáng tác.
    Xuất xứ: Ngũ Đại . Hậu Chu . Vương Nhân Dụ 王仁裕:Khai Nguyên Thiên Bảo di sự - Mộng bút đầu sinh hoa 开元天宝遗事 - 梦笔头生花.

              Truyền thuyết kể rằng, Lí Bạch 李白 lúc còn trẻ từng có một giấc mộng kì lạ. Lí Bạch mơ thấy phần đầu của cây bút mình dùng nở ra hoa, từng trang giấy trắng tự động bay đến trước mặt. Lí Bạch vô cùng vui mừng liền cầm lấy cây bút kì diệu đó nhanh chóng viết, càng lạ hơn, trên giấy là những bông hoa tươi đẹp (sinh hoa diệu bút 生花妙笔).
              Về sau, Lí Bạch chuyên cần đọc sách, thâm nhập cuộc sống xã hội, đi du lịch khắp danh sơn đại xuyên của tổ quốc, sáng tác ra một số lượng lớn những bài thơ bất hủ. Lí Bạch nhiệt tình ca ngợi sự hùng vĩ, tráng lệ của tổ quốc, đồng thời ở một trình độ nhất định, những sáng tác của ông đã vạch trần xã hội phong kiến hắc ám hủ bại. Rất nhiều bài thơ nổi tiếng của Lí Bạch lưu truyền thiên cổ, đến nay vẫn còn được độc giả ngâm vịnh.

                                                              Huỳnh Chương Hưng
                                                   Quy Nhơn 18/11/2017

    Nguyên tác Trung văn
    SINH HOA DIỆU BÚT
    生花妙笔
    TRUNG QUỐC THÀNH NGỮ CỐ SỰ TỔNG TẬP
    中国成语故事总集
    (tập 1)
    Chủ biên: Đường Kì 唐麒
    Trường Xuân – Thời đại văn nghệ xuất bản xã, 2004. 

    Thứ Sáu, 17 tháng 11, 2017

    LAI LỊCH TỰ XƯNG “PHA ÔNG” CỦA TÔ THỨC

              Tô Thức 苏轼 là vị tài tử trên văn đàn cổ đại Trung Quốc. Năm 1057, Tô Thức và em là Tô Triệt 苏辙cùng lên kinh tham dự kì thi, kết quả cả hai đều kim bảng đề danh, chấn động một thời. Từ đó, cha con nhà họ Tô nổi danh trong thiên hạ, người đời gọi là “Tam Tô”. Lĩnh tụ văn đàn lúc bấy giờ là Âu Dương Tu 欧阳修 rất tán thưởng văn chương của Tô Thức, nói rằng:
              Đọc sách của Tô Thức, bất giác xuất mồ hôi, sướng thay! Lão phu nên tránh đường để anh ta có thể vượt lên.
              Danh và tự của hai anh em họ Tô là do phụ thân là Tô Tuân 苏洵đặt cho, chữ dùng rất tinh xảo, ngụ ý lại sâu xa.
             Tô Thức danh là Thức , tự là Tử Chiêm 子瞻; người em danh là Triệt , tự là Tử Do 子由. “Thức” là thanh gỗ ngang đặt ở phía trước xe dùng để vịn. Xe không có “thức” thì không thể phát huy tác dụng “bằng thức nhi quan” 凭轼而观(vịn thức mà quan sát); còn “chiêm” có nghĩa là nhìn. “Thức” và “Tử Chiêm” kết hợp lại, chính là “lên xe vịn vào thức mà nhìn”. “Triệt” là dấu vết bánh xe khi đi qua lưu lại, “do” có hàm ý là dựa vào đó mà theo. “Triệt” và “Tử Do” kết hợp lại, chính là “xuống xe theo vết xe mà đi”. Tô Tuân đặt danh và tự cho hai người con như thế là hi vọng họ trở thành người có ích cho xã hội, là nhân tài trung thành với chức trách. Hai anh em đã không phụ lòng kì vọng của phụ thân, họ đều có được thành tựu trong sự nghiệp.
              Tô Thức từ nhỏ đã đa tài, thành tựu về phương diện văn học rất nổi bật, nhưng về chính trị thì lại trắc trở. Lúc Vương An Thạch 王安石 biến pháp, nhân vì có một số chính kiến không hợp với Vương An Thạch nên Tô Thức bị biếm chức. Sau khi Tư Mã Quang 司马光nắm lại quyền hành, Tô Thức do vì phản đối họ không phân biệt thị phi phế bỏ toàn diện tân pháp nên gặp phải sự đả kích
              Lúc ở tại Hồ Châu 湖州, do vì Tô Thức bất mãn đám quan lại cường hào địa phương hoành hành bá đạo đã viết một số bài thơ phúng thích, bị người khác gièm pha vu cho tội huỷ báng triều đình nên bị bắt giam vào ngục, suýt chút nữa mất đầu. Sau khi được phóng thích, Tô Thức lại bị biếm đến Hoàng Châu 黄州 làm một chức quan nhỏ. Tại Hoàng Châu, Tô Thức nhờ bạn bè giúp đỡ có được một khoảnh đất, ông tự cày ruộng, đồng thời cất một gian nhà tranh bên sườn núi phía đông. Nhân vì nơi đó gọi là “Đông Pha” 东坡, thế là Tô Thức tự đặt cho mình hiệu “Đông Pha Cư Sĩ” 东坡居士, cũng gọi là “Pha Ông” 坡翁.
              Còn có một thuyết khác, Tô Thức lấy hiệu “Đông Pha” là bởi vì ông kính trọng đại thi nhân triều Đường Bạch Cư Dị 白居易cùng cuộc sống của ông tại Đông Pha ở Trung Châu 忠州. Khi Bạch Cư Dị từ chức Tư mã Giang Châu chuyển đến làm Thứ sử Trung Châu, từng tại Đông Pha ở ngoại thành trồng rất nhiều cây, viết rất nhiều câu thơ có liên quan đến Đông Pha, cuộc sống rất vui vẻ nhàn tản. Sau khi Tô Thức bị biếm đến Hoàng Châu, cảnh ngộ cũng tương tự như thế, ông cảm khái mình và Bạch Cư Dị đều là “lúc đầu vì văn chương mà được nổi danh, cuối cùng cũng vì văn chương mà đắc tội”. Cũng trùng hợp với nơi mà Tô Thức cất nhà cũng gọi là Đông Pha, thế là liền tự đặt hiệu là “Đông Pha Cư Sĩ”.
              Tô Thức rất thích hiệu “Đông Pha Cư Sĩ” này, nhưng ông thích tự xưng là “Pha Ông” hơn, Con của ông cũng nhân đó mà được người đời gọi là “Tiểu Pha” 小坡. Từ những bút tích mà Tô Thức để lại, người ta có thể nhìn thấy, có lúc ông dùng “Đông Pha Cư Sĩ”, có lúc ông dùng “Pha Ông”.
              Tô Thức thích đội nón lá, mang guốc gỗ, chống gậy, cho nên còn có nhã hiệu là “Lạp Kĩ Ông” 笠屐翁. Có người đã vẽ cho ông bức hoạ “Đông Pha lạp kĩ đồ” 东坡笠屐图.
              Trừ những hiệu do mình đặt ra, Tô Thức còn có nhiều nhã hiệu do người đời tặng.  Như ông thích kết giao với những hoà thượng đạo sĩ có văn tài, đồng thời ông cũng rất am hiểu về Phật giáo, Đạo giáo, Phật gia bèn đặt cho Tô Thức nhã hiệu “Diệu Hỉ Lão Nhân” 妙喜老人. Người ta còn căn cứ vào quê quán, ngoại mạo, trang phục của Tô Thức, đặt cho ông nhã hiệu như “Mi Sơn Công” 眉山公, “Trường Mạo Ông” 长帽翁, Ngốc Mấn Ông” 秃鬓翁.

                                                         Huỳnh Chương Hưng
                                                         Quy Nhơn 17/11/2017

    Nguyên tác Trung văn
    Trong quyển
    TRUNG QUỐC NHÂN DANH ĐÍCH CỐ SỰ
    中国人名的故事
    Tác giả:  Trương Tráng Niên  张壮年
                   Trương Dĩnh Chấn  张颖震
    Sơn Đông hoạ báo xuất bản xã, tháng 9-2005

    Dịch thuật: Lai lịch tự xưng "Pha Ông" của Tô Thức

    Đăng lúc  19:32  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    LAI LỊCH TỰ XƯNG “PHA ÔNG” CỦA TÔ THỨC

              Tô Thức 苏轼 là vị tài tử trên văn đàn cổ đại Trung Quốc. Năm 1057, Tô Thức và em là Tô Triệt 苏辙cùng lên kinh tham dự kì thi, kết quả cả hai đều kim bảng đề danh, chấn động một thời. Từ đó, cha con nhà họ Tô nổi danh trong thiên hạ, người đời gọi là “Tam Tô”. Lĩnh tụ văn đàn lúc bấy giờ là Âu Dương Tu 欧阳修 rất tán thưởng văn chương của Tô Thức, nói rằng:
              Đọc sách của Tô Thức, bất giác xuất mồ hôi, sướng thay! Lão phu nên tránh đường để anh ta có thể vượt lên.
              Danh và tự của hai anh em họ Tô là do phụ thân là Tô Tuân 苏洵đặt cho, chữ dùng rất tinh xảo, ngụ ý lại sâu xa.
             Tô Thức danh là Thức , tự là Tử Chiêm 子瞻; người em danh là Triệt , tự là Tử Do 子由. “Thức” là thanh gỗ ngang đặt ở phía trước xe dùng để vịn. Xe không có “thức” thì không thể phát huy tác dụng “bằng thức nhi quan” 凭轼而观(vịn thức mà quan sát); còn “chiêm” có nghĩa là nhìn. “Thức” và “Tử Chiêm” kết hợp lại, chính là “lên xe vịn vào thức mà nhìn”. “Triệt” là dấu vết bánh xe khi đi qua lưu lại, “do” có hàm ý là dựa vào đó mà theo. “Triệt” và “Tử Do” kết hợp lại, chính là “xuống xe theo vết xe mà đi”. Tô Tuân đặt danh và tự cho hai người con như thế là hi vọng họ trở thành người có ích cho xã hội, là nhân tài trung thành với chức trách. Hai anh em đã không phụ lòng kì vọng của phụ thân, họ đều có được thành tựu trong sự nghiệp.
              Tô Thức từ nhỏ đã đa tài, thành tựu về phương diện văn học rất nổi bật, nhưng về chính trị thì lại trắc trở. Lúc Vương An Thạch 王安石 biến pháp, nhân vì có một số chính kiến không hợp với Vương An Thạch nên Tô Thức bị biếm chức. Sau khi Tư Mã Quang 司马光nắm lại quyền hành, Tô Thức do vì phản đối họ không phân biệt thị phi phế bỏ toàn diện tân pháp nên gặp phải sự đả kích
              Lúc ở tại Hồ Châu 湖州, do vì Tô Thức bất mãn đám quan lại cường hào địa phương hoành hành bá đạo đã viết một số bài thơ phúng thích, bị người khác gièm pha vu cho tội huỷ báng triều đình nên bị bắt giam vào ngục, suýt chút nữa mất đầu. Sau khi được phóng thích, Tô Thức lại bị biếm đến Hoàng Châu 黄州 làm một chức quan nhỏ. Tại Hoàng Châu, Tô Thức nhờ bạn bè giúp đỡ có được một khoảnh đất, ông tự cày ruộng, đồng thời cất một gian nhà tranh bên sườn núi phía đông. Nhân vì nơi đó gọi là “Đông Pha” 东坡, thế là Tô Thức tự đặt cho mình hiệu “Đông Pha Cư Sĩ” 东坡居士, cũng gọi là “Pha Ông” 坡翁.
              Còn có một thuyết khác, Tô Thức lấy hiệu “Đông Pha” là bởi vì ông kính trọng đại thi nhân triều Đường Bạch Cư Dị 白居易cùng cuộc sống của ông tại Đông Pha ở Trung Châu 忠州. Khi Bạch Cư Dị từ chức Tư mã Giang Châu chuyển đến làm Thứ sử Trung Châu, từng tại Đông Pha ở ngoại thành trồng rất nhiều cây, viết rất nhiều câu thơ có liên quan đến Đông Pha, cuộc sống rất vui vẻ nhàn tản. Sau khi Tô Thức bị biếm đến Hoàng Châu, cảnh ngộ cũng tương tự như thế, ông cảm khái mình và Bạch Cư Dị đều là “lúc đầu vì văn chương mà được nổi danh, cuối cùng cũng vì văn chương mà đắc tội”. Cũng trùng hợp với nơi mà Tô Thức cất nhà cũng gọi là Đông Pha, thế là liền tự đặt hiệu là “Đông Pha Cư Sĩ”.
              Tô Thức rất thích hiệu “Đông Pha Cư Sĩ” này, nhưng ông thích tự xưng là “Pha Ông” hơn, Con của ông cũng nhân đó mà được người đời gọi là “Tiểu Pha” 小坡. Từ những bút tích mà Tô Thức để lại, người ta có thể nhìn thấy, có lúc ông dùng “Đông Pha Cư Sĩ”, có lúc ông dùng “Pha Ông”.
              Tô Thức thích đội nón lá, mang guốc gỗ, chống gậy, cho nên còn có nhã hiệu là “Lạp Kĩ Ông” 笠屐翁. Có người đã vẽ cho ông bức hoạ “Đông Pha lạp kĩ đồ” 东坡笠屐图.
              Trừ những hiệu do mình đặt ra, Tô Thức còn có nhiều nhã hiệu do người đời tặng.  Như ông thích kết giao với những hoà thượng đạo sĩ có văn tài, đồng thời ông cũng rất am hiểu về Phật giáo, Đạo giáo, Phật gia bèn đặt cho Tô Thức nhã hiệu “Diệu Hỉ Lão Nhân” 妙喜老人. Người ta còn căn cứ vào quê quán, ngoại mạo, trang phục của Tô Thức, đặt cho ông nhã hiệu như “Mi Sơn Công” 眉山公, “Trường Mạo Ông” 长帽翁, Ngốc Mấn Ông” 秃鬓翁.

                                                         Huỳnh Chương Hưng
                                                         Quy Nhơn 17/11/2017

    Nguyên tác Trung văn
    Trong quyển
    TRUNG QUỐC NHÂN DANH ĐÍCH CỐ SỰ
    中国人名的故事
    Tác giả:  Trương Tráng Niên  张壮年
                   Trương Dĩnh Chấn  张颖震
    Sơn Đông hoạ báo xuất bản xã, tháng 9-2005

    Thứ Năm, 16 tháng 11, 2017



    景公病久不愈欲诛祝史以谢
    晏子谏
    (其三)
        命会谴毋治齐国之政, 梁丘据毋治宾客之事 (1), 兼属之乎晏子. 晏子辞, 不得命 (2), . 相退, 把政 (3). 改月 (4), 而君病悛 (5).
              公曰: “昔吾先君桓公以管仲为有功, 邑狐与谷 (6), 以共宗庙之鲜 (7). 赐其忠臣, 则是多忠臣者. 子今忠臣也, 寡人请赐子州款 (8).”
             辞曰: “管子有一美, 婴不如也; 有一恶, 婴不忍为也, 其宗庙之养鲜也.” 终辞而不受.
                                                                                       (晏子春秋)

    CẢNH CÔNG BỆNH CỬU BẤT DŨ DỤC TRU CHÚC SỬ DĨ TẠ
    ÁN TỬ GIÁN
    (kì tam)
              Mệnh Hội Khiển vô trị Tề quốc chi chính, Lương Khâu Cứ vô trị tân khách chi sự (1), kiêm thuộc chi hồ Án Tử. Án Tử từ, bất đắc mệnh (2), thụ. Tương thoái, bả chính (4), nhi quân bệnh thuân (5).
              Công viết: “Tích ngô tiên quân Hoàn Công dĩ Quản Trọng vi hữu công, ấp Hồ dữ Cốc (6), dĩ cung tông miếu chi tiên (7). Tứ kì trung thần, tắc thị đa trung thần dã. Tử kim trung thần dã, quả nhân thỉnh tứ Châu Khoản (8).”
              Từ viết: “Quản Tử hữu nhất mĩ, Anh bất như dã; hữu nhất ác, Anh bất nhẫn vi dã, kì tông miếu chi dưỡng tiên dã.” Chung từ nhi bất thụ.
                                                                                     (Hết)
                                                                           (Án Tử Xuân Thu)

    Chú thích
    1- Tân khách chi sự 宾客之事: chỉ việc tiếp đãi sứ thần chư hầu.
    2- Bất đắc mệnh 不得命: không được chấp thuận.
    3- Bả chính: 把政: nắm chính sự.
    4- Cải nguyệt 改月: chỉ 1 tháng qua đi.
    5- Thuân : dừng, ngừng, chỉ  khỏi bệnh.
    6- Hồ , Cốc : tên 2 ấp, tức ấp Hồ và ấp Cốc.
    7- Tiên : thịt điểu thú mới giết.
    8- Châu Khoản 州款: tên ấp.

    CẢNH CÔNG BỊ BỆNH LÂU NGÀY KHÔNG BỚT, MUỐN GIẾT
    QUAN CHÚC QUAN SỬ ĐỂ TẠ VỚI TRỜI.
    ÁN TỬ CAN GIÁN
    (kì 3)
              Cảnh Công hạ lệnh Hội Khiển không trị lí chính sự nước Tề nữa, Lương Khâu Cứ không xử lí sự vụ tiếp đãi tân khách chư hầu nữa, những việc đó giao cho Án Tử. Án Tử từ chối, nhưng không được chấp thuận nên tiếp nhận. Hội Khiển, Lương Khâu Cứ rời khỏi chức vụ, Án Tử nắm giữ quốc chính. Một tháng trôi qua, bệnh của Cảnh Công đã khỏi.
              Cảnh Công nói rằng:
              - Trước đây tiên quân của ta là Hoàn Công cho Quản Trọng là có công, nên ban cho ông ta ấp Hồ và ấp Cốc làm thực ấp cùng vùng đất săn bắn, theo lệ cung cấp dã thú để tế tự tông miếu. Ban thưởng cho trung thần đó chính là khen ngợi trung thần. Nay khanh là trung thần, để ta ban tặng ấp Châu Khoản cho khanh để làm thực ấp.
              Án Tử từ chối, nói rằng:
              - Quản Tử có một ưu điểm, thần không bằng ông ấy, thần có một khuyết điểm, thần không nhẫn tâm, ông ấy vì tông miếu mà nuôi dưỡng cầm thú giết để dâng tế.
              Cuối cùng tạ tuyệt không nhận.
                                                                       (Hết)

    Huỳnh Chương Hưng
                                                                    Quy Nhơn 16/11/2017

    Nguồn 
    ÁN TỬ XUÂN THU
    晏子春秋
    Dịch chú: Trần Đào 陈涛
    Trung Hoa thư cục, 2007.

    Dịch thuật: Cảnh Công bệnh cửu bất dũ dục tru Chúc Sử... (kì 3)

    Đăng lúc  22:12  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »



    景公病久不愈欲诛祝史以谢
    晏子谏
    (其三)
        命会谴毋治齐国之政, 梁丘据毋治宾客之事 (1), 兼属之乎晏子. 晏子辞, 不得命 (2), . 相退, 把政 (3). 改月 (4), 而君病悛 (5).
              公曰: “昔吾先君桓公以管仲为有功, 邑狐与谷 (6), 以共宗庙之鲜 (7). 赐其忠臣, 则是多忠臣者. 子今忠臣也, 寡人请赐子州款 (8).”
             辞曰: “管子有一美, 婴不如也; 有一恶, 婴不忍为也, 其宗庙之养鲜也.” 终辞而不受.
                                                                                       (晏子春秋)

    CẢNH CÔNG BỆNH CỬU BẤT DŨ DỤC TRU CHÚC SỬ DĨ TẠ
    ÁN TỬ GIÁN
    (kì tam)
              Mệnh Hội Khiển vô trị Tề quốc chi chính, Lương Khâu Cứ vô trị tân khách chi sự (1), kiêm thuộc chi hồ Án Tử. Án Tử từ, bất đắc mệnh (2), thụ. Tương thoái, bả chính (4), nhi quân bệnh thuân (5).
              Công viết: “Tích ngô tiên quân Hoàn Công dĩ Quản Trọng vi hữu công, ấp Hồ dữ Cốc (6), dĩ cung tông miếu chi tiên (7). Tứ kì trung thần, tắc thị đa trung thần dã. Tử kim trung thần dã, quả nhân thỉnh tứ Châu Khoản (8).”
              Từ viết: “Quản Tử hữu nhất mĩ, Anh bất như dã; hữu nhất ác, Anh bất nhẫn vi dã, kì tông miếu chi dưỡng tiên dã.” Chung từ nhi bất thụ.
                                                                                     (Hết)
                                                                           (Án Tử Xuân Thu)

    Chú thích
    1- Tân khách chi sự 宾客之事: chỉ việc tiếp đãi sứ thần chư hầu.
    2- Bất đắc mệnh 不得命: không được chấp thuận.
    3- Bả chính: 把政: nắm chính sự.
    4- Cải nguyệt 改月: chỉ 1 tháng qua đi.
    5- Thuân : dừng, ngừng, chỉ  khỏi bệnh.
    6- Hồ , Cốc : tên 2 ấp, tức ấp Hồ và ấp Cốc.
    7- Tiên : thịt điểu thú mới giết.
    8- Châu Khoản 州款: tên ấp.

    CẢNH CÔNG BỊ BỆNH LÂU NGÀY KHÔNG BỚT, MUỐN GIẾT
    QUAN CHÚC QUAN SỬ ĐỂ TẠ VỚI TRỜI.
    ÁN TỬ CAN GIÁN
    (kì 3)
              Cảnh Công hạ lệnh Hội Khiển không trị lí chính sự nước Tề nữa, Lương Khâu Cứ không xử lí sự vụ tiếp đãi tân khách chư hầu nữa, những việc đó giao cho Án Tử. Án Tử từ chối, nhưng không được chấp thuận nên tiếp nhận. Hội Khiển, Lương Khâu Cứ rời khỏi chức vụ, Án Tử nắm giữ quốc chính. Một tháng trôi qua, bệnh của Cảnh Công đã khỏi.
              Cảnh Công nói rằng:
              - Trước đây tiên quân của ta là Hoàn Công cho Quản Trọng là có công, nên ban cho ông ta ấp Hồ và ấp Cốc làm thực ấp cùng vùng đất săn bắn, theo lệ cung cấp dã thú để tế tự tông miếu. Ban thưởng cho trung thần đó chính là khen ngợi trung thần. Nay khanh là trung thần, để ta ban tặng ấp Châu Khoản cho khanh để làm thực ấp.
              Án Tử từ chối, nói rằng:
              - Quản Tử có một ưu điểm, thần không bằng ông ấy, thần có một khuyết điểm, thần không nhẫn tâm, ông ấy vì tông miếu mà nuôi dưỡng cầm thú giết để dâng tế.
              Cuối cùng tạ tuyệt không nhận.
                                                                       (Hết)

    Huỳnh Chương Hưng
                                                                    Quy Nhơn 16/11/2017

    Nguồn 
    ÁN TỬ XUÂN THU
    晏子春秋
    Dịch chú: Trần Đào 陈涛
    Trung Hoa thư cục, 2007.

    Mã nguồn bởi Huỳnh Chương Hưng
    Copyright © 2012 Huỳnh Chương Hưng.
    back to top