• Chủ Nhật, 21 tháng 7, 2019

    NHẤT DIỆP TUỲ PHONG LẠC NGỰ CÂU

              Nước Mân có một vị đại thần tên Diệp Kiều 叶翘, bác học đa tài, trung hậu thẳng thắn, trong cung gọi ông là Quốc Ông 国公翁. Vị quân chủ nước Mân là Vương Sưởng 王昶 lấy lễ Sư phó để đãi ông.
              Vương Sưởng giết phụ thân tự lập làm hoàng đế, nhậm Diệp Kiều làm Tể tướng, nhưng sau khi lên ngôi, Vương Sưởng không màng đến chính vụ, suốt ngày chỉ biết vui chơi, xa xỉ kiêu túng.
              Ngày nọ, Diệp Kiều thay triều phục, đổi mặc Đạo bào, từ triều đường hướng đến ngoài cung mà đi ra. Vương Sưởng thấy Diệp Kiều đi, vội triệu hồi lại.
              Diệp Kiều quay về lại, nói với Vương Sưởng rằng:
              - Lão thần phò tá bệ hạ, chẳng có chút công tích gì, còn khiến cho bệ hạ từ lúc lên ngôi đến nay, không làm được một việc tốt nào. Lão thần nguyện từ quan quy Đạo.
              Lưu Sưởng vội an ủi, nói rằng:
              - Tiên đế giao trẫm cho khanh, chính lệnh có chỗ nào chưa thoả đáng, khanh cứ dâng lời nói thẳng, sao chẳng quan tâm lại nỡ bỏ trẫm mà đi.
              Diệp Kiều lập tức dâng lời:
              - Bệ hạ bạc đãi nguyên phi Lí phu nhân 李夫人, Lí phu nhân là cháu gọi tiên đế bằng cậu, dùng đại lễ cưới hỏi, sao có thể có người mới đã quên Lí phu nhân.
              Vương Sưởng nghe mấy lời đó, rất không vui, đương nhiên sẽ không nghe theo ý kiến của Diệp Kiều, cứ tự làm theo ý mình, không chịu ảnh hưởng của ai, từ đó về sau dần xa lánh Diệp Kiều.
              Chẳng bao lâu sau, Diệp Kiều lại dâng lời. Vương Sưởng bèn phê bên cạnh tấu chương:
    Nhất diệp tuỳ phong lạc ngự câu
    一叶随风落御沟
              Ý nói xem Diệp Kiều như chiếc lá, theo gió bay đi,chính là để cho Diệp Kiều về lại quê nhà.

    Chú của người dịch
    Mân quốc 闽国 (năm 909 – năm 945): một trong Ngũ đại thập quốc, do Mân Thái Tổ Vương Thẩm Tri 王审知 kiến lập vào năm 909.
              Nước Mân trước sau trải qua 6 vị quân chủ thống trị, hưởng nước được 37 năm. Nhưng nếu tính bắt đầu từ lúc Vương Triều 王潮công chiếm Phúc Châu 福州 lên làm Tiết độ sứ, hoàng tộc Mân Vương thống thị Phúc Châu được 55 năm.
    Các vị quân chủ nước Mân
    - Mân Thái Tổ Vương Thẩm Tri 闽太祖王审知
    - Mân Tự Vương Vương Diên Hàn 闽嗣王王延翰
    - Mân Huệ Tông Vương Diên Quân 闽惠宗王延钧
    - Mân Khang Tông Vương Sưởng 闽康宗王昶
    - Mân Cảnh Tông Vương Diên Hi 闽景宗王延曦
    - Phú Sa Vương Vương Diên Chính富沙王王延政

                                                                 Huỳnh Chương Hưng
                                                                Quy Nhơn 21/7/2019

    Nguồn
    HOÀNG TRIỀU ĐIỂN CỐ KỈ VĂN
    皇朝典故纪闻
    Tác giả: Hướng Tư 向斯
    Bắc Kinh: Trung Quốc văn sử xuất bản xã, 2002

    Dịch thuật: Nhất diệp tuỳ phong lạc ngự câu

    Đăng lúc  21:04  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    NHẤT DIỆP TUỲ PHONG LẠC NGỰ CÂU

              Nước Mân có một vị đại thần tên Diệp Kiều 叶翘, bác học đa tài, trung hậu thẳng thắn, trong cung gọi ông là Quốc Ông 国公翁. Vị quân chủ nước Mân là Vương Sưởng 王昶 lấy lễ Sư phó để đãi ông.
              Vương Sưởng giết phụ thân tự lập làm hoàng đế, nhậm Diệp Kiều làm Tể tướng, nhưng sau khi lên ngôi, Vương Sưởng không màng đến chính vụ, suốt ngày chỉ biết vui chơi, xa xỉ kiêu túng.
              Ngày nọ, Diệp Kiều thay triều phục, đổi mặc Đạo bào, từ triều đường hướng đến ngoài cung mà đi ra. Vương Sưởng thấy Diệp Kiều đi, vội triệu hồi lại.
              Diệp Kiều quay về lại, nói với Vương Sưởng rằng:
              - Lão thần phò tá bệ hạ, chẳng có chút công tích gì, còn khiến cho bệ hạ từ lúc lên ngôi đến nay, không làm được một việc tốt nào. Lão thần nguyện từ quan quy Đạo.
              Lưu Sưởng vội an ủi, nói rằng:
              - Tiên đế giao trẫm cho khanh, chính lệnh có chỗ nào chưa thoả đáng, khanh cứ dâng lời nói thẳng, sao chẳng quan tâm lại nỡ bỏ trẫm mà đi.
              Diệp Kiều lập tức dâng lời:
              - Bệ hạ bạc đãi nguyên phi Lí phu nhân 李夫人, Lí phu nhân là cháu gọi tiên đế bằng cậu, dùng đại lễ cưới hỏi, sao có thể có người mới đã quên Lí phu nhân.
              Vương Sưởng nghe mấy lời đó, rất không vui, đương nhiên sẽ không nghe theo ý kiến của Diệp Kiều, cứ tự làm theo ý mình, không chịu ảnh hưởng của ai, từ đó về sau dần xa lánh Diệp Kiều.
              Chẳng bao lâu sau, Diệp Kiều lại dâng lời. Vương Sưởng bèn phê bên cạnh tấu chương:
    Nhất diệp tuỳ phong lạc ngự câu
    一叶随风落御沟
              Ý nói xem Diệp Kiều như chiếc lá, theo gió bay đi,chính là để cho Diệp Kiều về lại quê nhà.

    Chú của người dịch
    Mân quốc 闽国 (năm 909 – năm 945): một trong Ngũ đại thập quốc, do Mân Thái Tổ Vương Thẩm Tri 王审知 kiến lập vào năm 909.
              Nước Mân trước sau trải qua 6 vị quân chủ thống trị, hưởng nước được 37 năm. Nhưng nếu tính bắt đầu từ lúc Vương Triều 王潮công chiếm Phúc Châu 福州 lên làm Tiết độ sứ, hoàng tộc Mân Vương thống thị Phúc Châu được 55 năm.
    Các vị quân chủ nước Mân
    - Mân Thái Tổ Vương Thẩm Tri 闽太祖王审知
    - Mân Tự Vương Vương Diên Hàn 闽嗣王王延翰
    - Mân Huệ Tông Vương Diên Quân 闽惠宗王延钧
    - Mân Khang Tông Vương Sưởng 闽康宗王昶
    - Mân Cảnh Tông Vương Diên Hi 闽景宗王延曦
    - Phú Sa Vương Vương Diên Chính富沙王王延政

                                                                 Huỳnh Chương Hưng
                                                                Quy Nhơn 21/7/2019

    Nguồn
    HOÀNG TRIỀU ĐIỂN CỐ KỈ VĂN
    皇朝典故纪闻
    Tác giả: Hướng Tư 向斯
    Bắc Kinh: Trung Quốc văn sử xuất bản xã, 2002

    Thứ Bảy, 20 tháng 7, 2019



    符禺山  石脆山
         又西八十里, 曰符禺之山. 其阳多铜, 其阴多铁. 其上有木焉, 名曰文茎, 其实如枣, 可以已聋. 其草多条, 其状如葵, 而赤华黄实, 如婴儿舌, 食之使人不惑. 符禺之水出焉, 而北流注于渭. 其兽多葱聋, 其状如羊而赤鬣. 其鸟多 ..... (1) (*), 其状如翠而赤喙, 可以御火.
        又西六十里, 曰石脆之山. 其木多棕, , 其草多条, 其状如韭, 而白华黑实, 食之已疥. 其阳多 ..... (**) 琈之玉, 其阴多铜. 灌水出焉, 而北流注于禺水. 其中有流 (***), 以涂牛马无病.
                                (山海经 - 西山经)

    PHÙ NGU  SƠN    THẠCH THUÝ SƠN
              Hựu tây bát thập lí, viết Phù Ngu chi sơn. Kì dương đa đồng, kì âm đa thiết. Kì thượng hữu mộc yên, danh viết Văn Hành, kì thực như tảo, khả dĩ dĩ lung. Kì thảo đa điều, kì trạng như quỳ, nhi xích hoa hoàng thực, như anh nhi thiệt, thực chi sử nhân bất hoặc. Phù Ngu chi thuỷ xuất yên, nhi bắc lưu chú vu Vị. Kì thú đa thông lung, kì trạng như dương nhi xích liệp. Kì điểu đa mân (1)(*), kì trạng như thuý nhi xích huế, khả dĩ ngự hoả.
              Hựu tây lục thập lí, viết Thạch Thuý chi sơn. Kì mộc đa tông, nam, kì thảo đa điều, kì trạng như cửu, nhi bạch hoa hắc thực, thực chi dĩ giới. Kì dương đa xư (**) phù chi ngọc, kì âm đa đồng. Quán thuỷ xuất yên, nhi bắc lưu chú vu Ngu thuỷ. Kì trung hữu lưu giả (***), dĩ đồ ngưu mã vô bệnh.
                                                                            (Sơn hải kinh – Tây sơn kinh)

    PHÙ NGU SƠN     THẠCH THUÝ SƠN
              Lại hướng phía tây 80 dặm, có Phù Ngu sơn, phía nam núi này có nhiều đồng, phía bắc núi này có nhiều thiết. Trên núi có loại cây tên Văn Hành, trái của nó như trái táo, có thể trị chứng điếc. Trong núi có cỏ cộng dài là chính, hình trạng của loại cỏ này giống như rau quỳ, hoa nở có màu đỏ, trái màu vàng, trái của nó hình trạng giống lưỡi em bé, ăn vào không bị mê hoặc. Sông Phù Ngu phát nguyên từ núi này, sau đó chảy về phía bắc rồi đổ vào sông Vị. Trong núi về loài thú có nhiều thông lung. Loại thú này hình trạng giống dê, bờm có màu đỏ. Về chim có nhiều chim mân. Hình dáng loài chim này như loài thuý điểu, mỏ màu đỏ, nuôi nó bên cạnh có thể phòng ngừa hoả tai.
              Lại hướng về phía tây 60 dặm, có Thạch Thuý sơn, trên núi có nhiều cây tông, cây nam, cũng có thể thấy cỏ cộng dài ở khắp nơi, hình dáng loại cỏ này giống rau hẹ, hoa nở có màu trắng, trái màu đen, ăn vào có thể trị chứng ghẻ ngứa. Phía nam của núi có nhiều ngọc xư phù, phía bắc của nói có nhiều đồng. Sông Quán phát nguyên từ núi này, sau đó chảy về phía bắc rồi đổ vào sông Ngu, trong sông có nhiều lưu giả (***), đem nó bôi lên trâu ngựa, có thể phòng tật bệnh.

    Chú của nguyên tác
    1- Mân (bính âm mín): tên một loại chim cổ.

    Chú của người dịch
    *- Về chữ “mân”, trong nguyên tác gồm chữ (dân) bên trái và chữ (điểu) bên phải. Ở phần chú của nguyên tác, chữ này còn được viết là chữ (hôn) bên trái và chữ (điểu) bên phải.
    **- Chữ “xư” gồm bộ (ngọc) bên trái và chữ (vu) bên phải.
    ***- Chữ (giả), theo Hán Việt tự điển của Thiều Chửu là một loại đất đỏ. “Lưu giả” có lẽ là một thứ đất đỏ trôi trong giòng nước chăng?

                                                                           Huỳnh Chương Hưng
                                                                           Quy Nhơn 20/7/2019

    Nguyên tác
    PHÙ NGU SƠN   THẠCH THUÝ SƠN
    符禺山 石脆山
    Trong quyển
    SƠN HẢI KINH
    山海经
    Tác giả: Lưu Hướng 刘向, Lưu Hâm 刘歆 (Tây Hán)
    Cáp nhĩ Tân: Bắc phương văn nghệ xuất bản xã, 2013 

    Dịch thuật: Phù Ngu sơn Thạch Thuý sơn (Sơn hải kinh)

    Đăng lúc  23:12  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »



    符禺山  石脆山
         又西八十里, 曰符禺之山. 其阳多铜, 其阴多铁. 其上有木焉, 名曰文茎, 其实如枣, 可以已聋. 其草多条, 其状如葵, 而赤华黄实, 如婴儿舌, 食之使人不惑. 符禺之水出焉, 而北流注于渭. 其兽多葱聋, 其状如羊而赤鬣. 其鸟多 ..... (1) (*), 其状如翠而赤喙, 可以御火.
        又西六十里, 曰石脆之山. 其木多棕, , 其草多条, 其状如韭, 而白华黑实, 食之已疥. 其阳多 ..... (**) 琈之玉, 其阴多铜. 灌水出焉, 而北流注于禺水. 其中有流 (***), 以涂牛马无病.
                                (山海经 - 西山经)

    PHÙ NGU  SƠN    THẠCH THUÝ SƠN
              Hựu tây bát thập lí, viết Phù Ngu chi sơn. Kì dương đa đồng, kì âm đa thiết. Kì thượng hữu mộc yên, danh viết Văn Hành, kì thực như tảo, khả dĩ dĩ lung. Kì thảo đa điều, kì trạng như quỳ, nhi xích hoa hoàng thực, như anh nhi thiệt, thực chi sử nhân bất hoặc. Phù Ngu chi thuỷ xuất yên, nhi bắc lưu chú vu Vị. Kì thú đa thông lung, kì trạng như dương nhi xích liệp. Kì điểu đa mân (1)(*), kì trạng như thuý nhi xích huế, khả dĩ ngự hoả.
              Hựu tây lục thập lí, viết Thạch Thuý chi sơn. Kì mộc đa tông, nam, kì thảo đa điều, kì trạng như cửu, nhi bạch hoa hắc thực, thực chi dĩ giới. Kì dương đa xư (**) phù chi ngọc, kì âm đa đồng. Quán thuỷ xuất yên, nhi bắc lưu chú vu Ngu thuỷ. Kì trung hữu lưu giả (***), dĩ đồ ngưu mã vô bệnh.
                                                                            (Sơn hải kinh – Tây sơn kinh)

    PHÙ NGU SƠN     THẠCH THUÝ SƠN
              Lại hướng phía tây 80 dặm, có Phù Ngu sơn, phía nam núi này có nhiều đồng, phía bắc núi này có nhiều thiết. Trên núi có loại cây tên Văn Hành, trái của nó như trái táo, có thể trị chứng điếc. Trong núi có cỏ cộng dài là chính, hình trạng của loại cỏ này giống như rau quỳ, hoa nở có màu đỏ, trái màu vàng, trái của nó hình trạng giống lưỡi em bé, ăn vào không bị mê hoặc. Sông Phù Ngu phát nguyên từ núi này, sau đó chảy về phía bắc rồi đổ vào sông Vị. Trong núi về loài thú có nhiều thông lung. Loại thú này hình trạng giống dê, bờm có màu đỏ. Về chim có nhiều chim mân. Hình dáng loài chim này như loài thuý điểu, mỏ màu đỏ, nuôi nó bên cạnh có thể phòng ngừa hoả tai.
              Lại hướng về phía tây 60 dặm, có Thạch Thuý sơn, trên núi có nhiều cây tông, cây nam, cũng có thể thấy cỏ cộng dài ở khắp nơi, hình dáng loại cỏ này giống rau hẹ, hoa nở có màu trắng, trái màu đen, ăn vào có thể trị chứng ghẻ ngứa. Phía nam của núi có nhiều ngọc xư phù, phía bắc của nói có nhiều đồng. Sông Quán phát nguyên từ núi này, sau đó chảy về phía bắc rồi đổ vào sông Ngu, trong sông có nhiều lưu giả (***), đem nó bôi lên trâu ngựa, có thể phòng tật bệnh.

    Chú của nguyên tác
    1- Mân (bính âm mín): tên một loại chim cổ.

    Chú của người dịch
    *- Về chữ “mân”, trong nguyên tác gồm chữ (dân) bên trái và chữ (điểu) bên phải. Ở phần chú của nguyên tác, chữ này còn được viết là chữ (hôn) bên trái và chữ (điểu) bên phải.
    **- Chữ “xư” gồm bộ (ngọc) bên trái và chữ (vu) bên phải.
    ***- Chữ (giả), theo Hán Việt tự điển của Thiều Chửu là một loại đất đỏ. “Lưu giả” có lẽ là một thứ đất đỏ trôi trong giòng nước chăng?

                                                                           Huỳnh Chương Hưng
                                                                           Quy Nhơn 20/7/2019

    Nguyên tác
    PHÙ NGU SƠN   THẠCH THUÝ SƠN
    符禺山 石脆山
    Trong quyển
    SƠN HẢI KINH
    山海经
    Tác giả: Lưu Hướng 刘向, Lưu Hâm 刘歆 (Tây Hán)
    Cáp nhĩ Tân: Bắc phương văn nghệ xuất bản xã, 2013 

    Thứ Sáu, 19 tháng 7, 2019

    CẶP ĐỐI TUYỆT DIỆU

              Dân tộc Trung Quốc là một dân tộc rất chú trọng thi học, mấy ngàn năm nay, người Trung Quốc dùng cách ngâm thơ, làm câu đối để triển hiện học vấn uyên bác của mình. Cho nên tại các danh lam thắng cảnh khắp nơi ở Trung Quốc, chúng ta thường thấy được những thi từ mà tiền nhân lưu lại. Dưới đây là một câu chuyện lưu truyền lại về một anh chàng tú tài cực yêu thích làm thơ, làm câu đối.
              Có một anh chàng tú tài cho rằng mình đọc sách tuy nhiều nhưng “đọc vạn quyển chẳng bằng đi vạn dặm”, thế là một ngày nọ, anh ta chuẩn bị hành trang, từ biệt người nhà lên đường đi xa.
              Trên đường, anh ta trông thấy những điều mà trước giờ chưa từng biết, nên rất vui mừng. Một hôm anh ta đến dưới chân một ngọn núi, nhìn thấy ngọn núi cô phong độc lập trong khoảng trời đất, không có núi nào bên cạnh, trong lòng cảm thấy kì lạ. Thế là một cách hiếu kì, anh ta leo lên ngọn cô phong, kết quả phát hiện trên đỉnh có một ngôi miếu.
              Ngôi miếu rất nhỏ, chỉ thờ một tượng thần be bé. Tượng thần tay cầm một thanh đại đao, nhìn rất là thần khí.
              Anh chàng tú tài bất giác nổi cơn ghiền làm câu đối, bèn cao hứng ngâm:
    Cô sơn độc miếu tướng quân thất mã đơn đao
    孤山獨廟將軍匹馬單刀
              Chà! Tuyệt cú, ý nghĩa chữ “nhất” trong câu đều bỏ ra ngoài, anh ta cảm thấy vô cùng đắc ý. Còn câu dưới thì sao đây? Nghĩ mãi cũng chẳng ra.
              Anh ta phát rầu, mãi cho đến lúc chết cùng không thể nào nghĩ ra được.
              Anh chàng tú tài tuy chết đi làm quỷ, nhưng thành quỷ rồi vẫn tiếp tục nghĩ đến vế đối đối lại. Bởi anh ta cảm thấy đã làm được vế đối trên mà nghĩ không ra vế đối dưới là rất mất mặt.
              Và thế là hồn phách của anh ta phiêu bạt khắp nơi để tìm linh cảm.
              Một buổi chiều tối nọ, hồn phách anh ta phiêu bạt đến một giòng sông ở miền quê, nơi đó phong cảnh mê người, bốn bề u tĩnh, chỉ có hai ông lão đầu bạc đang ngồi trên bờ câu cá.
              Hồn phách anh chàng tú tài nhìn cảnh nọ rất lâu, đột nhiên lớn tiếng cười ha hả, nói rằng:
              Rốt cuộc ta cũng đã nghĩ ra được.
    Cô sơn độc miếu tướng quân thất mã đơn đao
    Đối hà lưỡng ngạn ngư ông song thuỳ tịnh điếu (1)
    孤山獨廟將軍匹馬單刀
    對河兩岸漁翁雙垂並釣
              Trong vế đối dưới, hàm nghĩa của chữ “nhị” trong câu anh ta cũng bỏ đi, đối cũng rất chỉnh tề, cho nên cũng có thể xem là câu đối tuyệt diệu.
              Ta cuối cùng cũng đã hoàn thành cặp đối.
              Hồn phách của anh chàng tú tài nọ có thể không phiêu bạt nữa, thế là anh ta vui mừng uống một bát canh Mạnh Bà (Mạnh Bà thang 孟婆湯) (2), đi đầu thai kiếp mới.

    Chú của người dịch
    1- Những chữ “cô , độc , thất , đơn ” đều hàm nghĩa là một, là đơn độc.
        Những chữ “đối , lưỡng , song , tịnh ” đều hàm nghĩa là đôi, cặp.
    2- Canh Mạnh Bà: có tư liệu cho là “trà Mạnh Bà”.
    Truyền thuyết cổ xưa có kể, con người sau khi chết, 3 hồn 6 phách sẽ xuống địa phủ. Trước khi xuống địa phủ, phải đi qua cầu Nại Hà 奈河, đầu cầu nại hà có một quán trà, đứng quầy là Mạnh Bà 孟婆, mỗi hồn phách đều uống qua bát trà Mạnh Bà. Sau khi uống xong, sẽ quên hết mọi việc, rửa sạch bụi trần, có thể đi đầu thai.

                                                             Huỳnh Chương Hưng
                                                             Quy Nhơn 19/7/2019

    Nguồn
    TRUNG QUỐC ĐỒNG THOẠI ĐÍCH XỬ THẾ TRÍ TUỆ
    中國童話的處世智慧
    Tác giả: Lâm Huệ Văn 林惠文
    Đài Bắc huyện Trung Hoà thị: Hoa văn cương
    Năm 2002 (Dân Quốc năm thứ 91) 

    Dịch thuật: Cặp đối tuyệt diệu

    Đăng lúc  21:40  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    CẶP ĐỐI TUYỆT DIỆU

              Dân tộc Trung Quốc là một dân tộc rất chú trọng thi học, mấy ngàn năm nay, người Trung Quốc dùng cách ngâm thơ, làm câu đối để triển hiện học vấn uyên bác của mình. Cho nên tại các danh lam thắng cảnh khắp nơi ở Trung Quốc, chúng ta thường thấy được những thi từ mà tiền nhân lưu lại. Dưới đây là một câu chuyện lưu truyền lại về một anh chàng tú tài cực yêu thích làm thơ, làm câu đối.
              Có một anh chàng tú tài cho rằng mình đọc sách tuy nhiều nhưng “đọc vạn quyển chẳng bằng đi vạn dặm”, thế là một ngày nọ, anh ta chuẩn bị hành trang, từ biệt người nhà lên đường đi xa.
              Trên đường, anh ta trông thấy những điều mà trước giờ chưa từng biết, nên rất vui mừng. Một hôm anh ta đến dưới chân một ngọn núi, nhìn thấy ngọn núi cô phong độc lập trong khoảng trời đất, không có núi nào bên cạnh, trong lòng cảm thấy kì lạ. Thế là một cách hiếu kì, anh ta leo lên ngọn cô phong, kết quả phát hiện trên đỉnh có một ngôi miếu.
              Ngôi miếu rất nhỏ, chỉ thờ một tượng thần be bé. Tượng thần tay cầm một thanh đại đao, nhìn rất là thần khí.
              Anh chàng tú tài bất giác nổi cơn ghiền làm câu đối, bèn cao hứng ngâm:
    Cô sơn độc miếu tướng quân thất mã đơn đao
    孤山獨廟將軍匹馬單刀
              Chà! Tuyệt cú, ý nghĩa chữ “nhất” trong câu đều bỏ ra ngoài, anh ta cảm thấy vô cùng đắc ý. Còn câu dưới thì sao đây? Nghĩ mãi cũng chẳng ra.
              Anh ta phát rầu, mãi cho đến lúc chết cùng không thể nào nghĩ ra được.
              Anh chàng tú tài tuy chết đi làm quỷ, nhưng thành quỷ rồi vẫn tiếp tục nghĩ đến vế đối đối lại. Bởi anh ta cảm thấy đã làm được vế đối trên mà nghĩ không ra vế đối dưới là rất mất mặt.
              Và thế là hồn phách của anh ta phiêu bạt khắp nơi để tìm linh cảm.
              Một buổi chiều tối nọ, hồn phách anh ta phiêu bạt đến một giòng sông ở miền quê, nơi đó phong cảnh mê người, bốn bề u tĩnh, chỉ có hai ông lão đầu bạc đang ngồi trên bờ câu cá.
              Hồn phách anh chàng tú tài nhìn cảnh nọ rất lâu, đột nhiên lớn tiếng cười ha hả, nói rằng:
              Rốt cuộc ta cũng đã nghĩ ra được.
    Cô sơn độc miếu tướng quân thất mã đơn đao
    Đối hà lưỡng ngạn ngư ông song thuỳ tịnh điếu (1)
    孤山獨廟將軍匹馬單刀
    對河兩岸漁翁雙垂並釣
              Trong vế đối dưới, hàm nghĩa của chữ “nhị” trong câu anh ta cũng bỏ đi, đối cũng rất chỉnh tề, cho nên cũng có thể xem là câu đối tuyệt diệu.
              Ta cuối cùng cũng đã hoàn thành cặp đối.
              Hồn phách của anh chàng tú tài nọ có thể không phiêu bạt nữa, thế là anh ta vui mừng uống một bát canh Mạnh Bà (Mạnh Bà thang 孟婆湯) (2), đi đầu thai kiếp mới.

    Chú của người dịch
    1- Những chữ “cô , độc , thất , đơn ” đều hàm nghĩa là một, là đơn độc.
        Những chữ “đối , lưỡng , song , tịnh ” đều hàm nghĩa là đôi, cặp.
    2- Canh Mạnh Bà: có tư liệu cho là “trà Mạnh Bà”.
    Truyền thuyết cổ xưa có kể, con người sau khi chết, 3 hồn 6 phách sẽ xuống địa phủ. Trước khi xuống địa phủ, phải đi qua cầu Nại Hà 奈河, đầu cầu nại hà có một quán trà, đứng quầy là Mạnh Bà 孟婆, mỗi hồn phách đều uống qua bát trà Mạnh Bà. Sau khi uống xong, sẽ quên hết mọi việc, rửa sạch bụi trần, có thể đi đầu thai.

                                                             Huỳnh Chương Hưng
                                                             Quy Nhơn 19/7/2019

    Nguồn
    TRUNG QUỐC ĐỒNG THOẠI ĐÍCH XỬ THẾ TRÍ TUỆ
    中國童話的處世智慧
    Tác giả: Lâm Huệ Văn 林惠文
    Đài Bắc huyện Trung Hoà thị: Hoa văn cương
    Năm 2002 (Dân Quốc năm thứ 91) 

    Thứ Năm, 18 tháng 7, 2019

    CHỈ HƯƠU NÓI NGỰA

              Tần Nhị Thế 秦二世 là người con thứ 18 của Tần Thuỷ Hoàng 秦始皇, vốn tên là Doanh Hồ Hợi 嬴胡亥, là em trai của công tử Phù Tô 扶苏lúc bấy giờ. Ông là vị hoàng đế thứ 2 của triều Tần, thời gian tại vị của Tần Nhị Thế là từ năm 210 đến năm 207 trước công nguyên, làm hoàng đế chưa đầy 4 năm. Tần Nhị Thế là vị bạo quân nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc.

              Sau khi Triệu Cao 赵高và Lí Tư 李斯 giúp Tần Nhị Thế lên ngôi, mâu thuẫn giữa hai người ngày càng gia tăng kịch liệt. Tần Nhị Thế trưng phát dao dịch, tu sửa cung A Bàng 阿房, khiến bách tính than oán đầy đường. Bọn Lí Tư dâng thư lên Tần Nhị Thế, không ngờ Tần Nhị Thế bắt bọn họ bỏ ngục. Trong ngục, Lí Tư nhiều lần dâng thư, đều bị Triệu Cao giữ lại. Về sau, Triệu Cao lập kế giết chết Lí Tư, được nhậm mệnh làm Thừa tướng, nắm giữ chính sự triều đình. Dần dần, dã tâm truy cầu quyền lực của Triệu Cao ngày càng lớn, nhưng đại thần trong triều có người nghe theo, có người phản đối, Triệu Cao trong lòng không yên. Thế là Triệu Cao nghĩ ra một cách, chuẩn bị thử thái độ của các đại thần đối với mình.
              Ngày nọ lúc lên triều, Triệu Cao sai người dẫn đến một con hươu, nói với Tần Nhị Thế:
              - Bệ hạ, thần dâng bệ hạ một con ngựa hay.
              Tần Nhị Thế nhìn qua, cười bảo rằng:
              - Thừa tướng nhầm rồi, đó là một con hươu, sao khanh lại nói là ngựa?
              Triệu Cao kiên quyết nói đó là con thiên lí mã. Tần Nhị Thế nửa tin nửa ngờ nói:
              - Trên đầu ngựa sao lại có sừng?
              Triệu Cao quay người lại , chỉ vào các đại thần, lớn tiếng nói rằng:
              - Nếu bệ hạ không tin, có thể hỏi các đại thần.
              Các đại thần bị Triệu Cao làm cho hồ đồ. Một số nhát gan cúi đầu không nói, có vài đại thần chính trực kiên quyết nói đó là hươu, còn có một số đại thần lúc bình thường nịnh hót Triệu Cao nói đó là một con ngựa quý. Tần Nhị Thế thấy đại đa số đều nói là ngựa, cho rằng mình bị hoa mắt.
              Sau sự việc đó, Triệu Cao thông qua các thủ đoạn, giết chết những ai không thuận tùng theo mình. Từ đó, các đại thần đều không dám phản đối Triệu Cao nữa, Triệu Cao tại triều càng không kiêng sợ.
              Khi các nơi vừa mới nổi lên phản Tần, Triệu Cao luôn an ủi Tần Nhị Thế, nói rằng, bọn chúng chẳng làm nên trò trống gì, bảo Tần Nhị Thế yên tâm. Thế là Tần Nhị Thế chìm đắm trong tửu sắc, quan lại từ Hàm Cốc quan 函谷关cho đến một khu vực rộng lớn phía đông sớm đã phản Tần, hưởng ứng quân khởi nghĩa. Tháng 8 năm 207 trước công nguyên, Lưu Bang 刘邦 thống lĩnh đại quân tấn công Vũ Quan 武关, tiêu diệt toàn thành. Sau khi tin tức truyền đi, Triệu Cao sợ Tần Nhị Thế truy cứu việc ẩn giấu quân tình không báo, vờ xưng bệnh không dám lên triều.
              Tần Nhị Thế thấy Triệu Cao đã lâu không lộ mặt, liền phái người đi trách cứ việc Triệu Cao ẩn giấu quân tình. Triệu Cao sợ Tần Nhị Thế giáng tội, bèn ngầm cùng với rể của mình là Diêm Lạc 阎乐 và em là Triệu Thành 赵成, bức Tần Nhị Thế tự sát.

                                                           Huỳnh Chương Hưng
                                                            Quy Nhơn 18/7/2019

    Nguyên tác Trung văn
    CHỈ LỘC VI MÃ
    指鹿为马
    Trong quyển
    TRUNG QUỐC LỊCH SỬ CỐ SỰ (tập 2)
    中国历史故事
    Biên soạn: Sơ Dương Tả Tả 初阳姐姐
    Trường Xuân: Cát Lâm văn sử xuất bản xã, 2015

    Dịch thuật: Chỉ hươu nói ngựa

    Đăng lúc  20:06  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    CHỈ HƯƠU NÓI NGỰA

              Tần Nhị Thế 秦二世 là người con thứ 18 của Tần Thuỷ Hoàng 秦始皇, vốn tên là Doanh Hồ Hợi 嬴胡亥, là em trai của công tử Phù Tô 扶苏lúc bấy giờ. Ông là vị hoàng đế thứ 2 của triều Tần, thời gian tại vị của Tần Nhị Thế là từ năm 210 đến năm 207 trước công nguyên, làm hoàng đế chưa đầy 4 năm. Tần Nhị Thế là vị bạo quân nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc.

              Sau khi Triệu Cao 赵高và Lí Tư 李斯 giúp Tần Nhị Thế lên ngôi, mâu thuẫn giữa hai người ngày càng gia tăng kịch liệt. Tần Nhị Thế trưng phát dao dịch, tu sửa cung A Bàng 阿房, khiến bách tính than oán đầy đường. Bọn Lí Tư dâng thư lên Tần Nhị Thế, không ngờ Tần Nhị Thế bắt bọn họ bỏ ngục. Trong ngục, Lí Tư nhiều lần dâng thư, đều bị Triệu Cao giữ lại. Về sau, Triệu Cao lập kế giết chết Lí Tư, được nhậm mệnh làm Thừa tướng, nắm giữ chính sự triều đình. Dần dần, dã tâm truy cầu quyền lực của Triệu Cao ngày càng lớn, nhưng đại thần trong triều có người nghe theo, có người phản đối, Triệu Cao trong lòng không yên. Thế là Triệu Cao nghĩ ra một cách, chuẩn bị thử thái độ của các đại thần đối với mình.
              Ngày nọ lúc lên triều, Triệu Cao sai người dẫn đến một con hươu, nói với Tần Nhị Thế:
              - Bệ hạ, thần dâng bệ hạ một con ngựa hay.
              Tần Nhị Thế nhìn qua, cười bảo rằng:
              - Thừa tướng nhầm rồi, đó là một con hươu, sao khanh lại nói là ngựa?
              Triệu Cao kiên quyết nói đó là con thiên lí mã. Tần Nhị Thế nửa tin nửa ngờ nói:
              - Trên đầu ngựa sao lại có sừng?
              Triệu Cao quay người lại , chỉ vào các đại thần, lớn tiếng nói rằng:
              - Nếu bệ hạ không tin, có thể hỏi các đại thần.
              Các đại thần bị Triệu Cao làm cho hồ đồ. Một số nhát gan cúi đầu không nói, có vài đại thần chính trực kiên quyết nói đó là hươu, còn có một số đại thần lúc bình thường nịnh hót Triệu Cao nói đó là một con ngựa quý. Tần Nhị Thế thấy đại đa số đều nói là ngựa, cho rằng mình bị hoa mắt.
              Sau sự việc đó, Triệu Cao thông qua các thủ đoạn, giết chết những ai không thuận tùng theo mình. Từ đó, các đại thần đều không dám phản đối Triệu Cao nữa, Triệu Cao tại triều càng không kiêng sợ.
              Khi các nơi vừa mới nổi lên phản Tần, Triệu Cao luôn an ủi Tần Nhị Thế, nói rằng, bọn chúng chẳng làm nên trò trống gì, bảo Tần Nhị Thế yên tâm. Thế là Tần Nhị Thế chìm đắm trong tửu sắc, quan lại từ Hàm Cốc quan 函谷关cho đến một khu vực rộng lớn phía đông sớm đã phản Tần, hưởng ứng quân khởi nghĩa. Tháng 8 năm 207 trước công nguyên, Lưu Bang 刘邦 thống lĩnh đại quân tấn công Vũ Quan 武关, tiêu diệt toàn thành. Sau khi tin tức truyền đi, Triệu Cao sợ Tần Nhị Thế truy cứu việc ẩn giấu quân tình không báo, vờ xưng bệnh không dám lên triều.
              Tần Nhị Thế thấy Triệu Cao đã lâu không lộ mặt, liền phái người đi trách cứ việc Triệu Cao ẩn giấu quân tình. Triệu Cao sợ Tần Nhị Thế giáng tội, bèn ngầm cùng với rể của mình là Diêm Lạc 阎乐 và em là Triệu Thành 赵成, bức Tần Nhị Thế tự sát.

                                                           Huỳnh Chương Hưng
                                                            Quy Nhơn 18/7/2019

    Nguyên tác Trung văn
    CHỈ LỘC VI MÃ
    指鹿为马
    Trong quyển
    TRUNG QUỐC LỊCH SỬ CỐ SỰ (tập 2)
    中国历史故事
    Biên soạn: Sơ Dương Tả Tả 初阳姐姐
    Trường Xuân: Cát Lâm văn sử xuất bản xã, 2015

    Thứ Tư, 17 tháng 7, 2019

    NGUỴ BÁ DƯƠNG GIẢ CHẾT THỬ ĐỆ TỬ

              Theo Lịch thế chân tiên thể đạo thông giám历世真仙体道通鉴:
              Nguỵ Bá Dương 魏伯阳 là nhà luyện đan nổi tiếng thời Đông Hán, ông xuất thân từ danh gia vọng tộc, nhưng đối với việc làm quan không cảm thấy hứng thú, mà chỉ thích dưỡng tính tu đạo, một đời chuyên luyện đan thuật và nghiên cứu đạo pháp. Nguỵ Bá Dương đem tư tưởng Dịch học của Chu Dịch 周易 và Hoàng Lão mà từ đời Hán trở đi chủ trương dưỡng sinh cùng với phương pháp luyện đan của thần tiên gia kết hợp lại, sáng lập ra học thuyết đan đạo đặc biệt của mình, đồng thời viết Chu Dịch tham đồng khế 周易参同契, trứ tác này được hậu thế xưng là “vạn cổ đan kinh vương”万古丹经王.
              Thời đại Nguỵ Bá Dương sinh sống, tuy nhiều người đang tìm thần đan trường sinh bất lão (cũng gọi là kim đan), nhưng chỉ có số ít người luyện chế loại đan dược này nơi thâm sơn cùng cốc. Nguỵ Bá Dương cũng cùng đệ tử tại núi sâu luyện đan. Nhưng người ngoài không biết Nguỵ Bá Dương rốt cuộc đang làm gì, bản thân ông cũng chỉ nói với mọi người là đang luyện tập phương pháp tu hành dưỡng sinh mà thôi. Nguỵ Bá Dương dẫn theo ba đệ tử, trải quan một thời gian khảo sát, ông phát hiện có hai đệ tử không có lòng tin đối với sự thành công của việc luyện đan, chỉ có một đệ tử họ Ngu là thành tâm nhất. Nguỵ Bá Dương quyết định khảo nghiệm hai đệ tử kia xem thử.
              Ngày nọ, đương lúc Nguỵ Bá Dương và mấy đệ tử luyện một số đan dược thành công, ông nói với mấy đệ tử rằng:
              - Kim đan tuy luyện thành, nhưng không biết nó có tác dụng hay không? uống vào có bị trúng độc hay không? Trước tiên chúng ta thử với con chó , nếu chó nuốt vào mà có thể bay, chứng tỏ đan dược luyện đã thành công, chúng ta cũng có thể uống được; nếu chó nuốt vào xuất hiện trúng độc hoặc bị chết, chứng tỏ đan dược này có độc, chúng ta cũng không thể dùng.
              Thế là Nguỵ Bá Dương đem đan dược đã luyện xong cho con chó trắng ăn. Kết quả sau khi chó ăn qua đan dược chẳng mấy chốc bắt đầu xuất hiện phản ứng trúng độc, mắt trợn ngược, bốn chân run rẩy, ngã lăn ra đất chết. Nguỵ Bá Dương sau khi thấy tình huống đó nói rằng:
              - Đan dược mà chúng ta luyện e là có vấn đề, đan luyện xong chó ăn bị chết, có thể là chúng ta vẫn chưa tìm ra bí quyết, nếu chúng ta dùng đan dược này e cũng giống như chó không tránh khỏi chết, các con nói thử giờ phải làm sao?
              Một đệ tử trong số đó hỏi Nguỵ Bá Dương:
              - Có phải thầy muốn uống đan dược này?
              Nguỵ Bá Dương nói rằng:
              - Thầy đã làm trái với nguyện vọng của người nhà và bạn bè là muốn thấy đi trên con đường làm quan, thế mà thầy đến núi này luyện chế đan được trường sinh bất lão, nếu không thể luyện thành tiên đan, khi về sẽ bị mọi người chê cười. Hiện cũng không thể quản được nhiều, dù sao việc sinh tử đã như vậy, thành hay không thành thầy cũng phải uống thử đan dược này.
              Nói xong, Nguỵ Bá Dương đem đan dược bỏ vào miệng rồi nuốt. Đan được lập tức xuất hiện phản ứng độc tính, sắc mặt ông ta biến sang trắng bệch, môi tím tái, tay chân run rẩy, hai mắt trợn ngược, ngã lăn ra đất chết. Mấy đệ tử thấy tình hình đó, nhìn nhau, một đệ tử nói rằng:
              - Sở dĩ chúng ta đến núi này luyện chế đan dược là vì để trường sinh bất lão, hiện dùng nó lại bị chết, phải làm sao đây?
              Đệ tử họ Ngu thành tâm nhất nghĩ rằng:
              Thầy hoàn toàn không phải là người bình thường, tại sao uống đan dược liền bị chết; hơn nữa thầy cũng nhìn thấy chó sau khi ăn vào bị chết, tại sao lại còn dùng? Nhất định trong đó có vấn đề, hay là thầy cố ý làm?
              Nghĩ tới đó, thế là đệ tử nọ cũng đem đan dược ra nuốt, kết quả nuốt xong cũng chết. Hai đệ tử kia thấy thầy và sư huynh đệ cả hai đều chết, trong lòng thầm nghĩ:
              Luyện đan là để cầu trường sinh, nếu dùng đan dược đó mà bị chết liền, chẳng bằng không dùng, còn có thể sống mấy chục năm trên đời.
              Hai đệ tử nọ không uống đan dược, cùng nhau xuống núi. Họ nhanh chóng đi tìm quan tài để an táng thầy và sư huynh đệ.
              Hai hai đệ tử đi khỏi, Nguỵ Bá Dương liền uống thuốc giải rồi đúng dậy, sau đó đem thuốc giải bỏ vào miệng của đệ tử và con chó đang nằm trên mặt đất. Một lát sau đệ tử và chó tỉnh lại. Nguỵ Bá Dương lập tức dẫn đệ tử và chó rời khỏi nơi luyện đan, chỉ để lại một phong thư cho hai đệ tử kia, nói rõ nguyên uỷ sự tình. Hai đệ tử sau khi đọc thư vô cùng hối hận.
              Hoá ra khi luyện chế đan dược, nếu thời thần của đan dược không đủ, độc tính của nó sẽ khó mà tiêu trừ. Uống loại đan dược đó không chỉ không thành tiên, mà ngược lại còn bị trúng độc, xuất hiện tử vong tạm thời. Đan dược mà Nguỵ Bá Dương uống là loại đan được có độc tính, cho nên xuất hiện tình huống chết giả. Nhưng loại đan dược đó nếu trải qua luyện chế một thời gian nhất định thì nghe nói có thể luyện thành thần đan, trường sinh bất tử. Nguỵ Bá Dương cũng đang dùng phương pháp này để khảo nghiệm đệ tử của mình, khiến hai đệ tử không thành tâm đi mất, chỉ lưu lại đệ tử thành tâm cùng với ông tiếp tục luyện. Sau đó chẳng bao lâu luyện thành thần đan, hai người đều thành thần tiên.                

                                                                Huỳnh Chương Hưng
                                                                Quy Nhơn 17/7/2019

    Nguyên tác Trung văn
              NGUỴ BÁ DƯƠNG GIẢ TỬ THÍ ĐỆ TỬ
    魏伯阳假死试弟子
    Trong quyển
    ĐẠO KINH CỐ SỰ
    道经故事
    Biên soạn: Dương Ngọc Huy 杨玉辉
    Tứ Xuyên văn nghệ xuất bản xã, 2002

    Dịch thuật: Nguỵ Bá Dương giả chết thử đệ tử

    Đăng lúc  21:22  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    NGUỴ BÁ DƯƠNG GIẢ CHẾT THỬ ĐỆ TỬ

              Theo Lịch thế chân tiên thể đạo thông giám历世真仙体道通鉴:
              Nguỵ Bá Dương 魏伯阳 là nhà luyện đan nổi tiếng thời Đông Hán, ông xuất thân từ danh gia vọng tộc, nhưng đối với việc làm quan không cảm thấy hứng thú, mà chỉ thích dưỡng tính tu đạo, một đời chuyên luyện đan thuật và nghiên cứu đạo pháp. Nguỵ Bá Dương đem tư tưởng Dịch học của Chu Dịch 周易 và Hoàng Lão mà từ đời Hán trở đi chủ trương dưỡng sinh cùng với phương pháp luyện đan của thần tiên gia kết hợp lại, sáng lập ra học thuyết đan đạo đặc biệt của mình, đồng thời viết Chu Dịch tham đồng khế 周易参同契, trứ tác này được hậu thế xưng là “vạn cổ đan kinh vương”万古丹经王.
              Thời đại Nguỵ Bá Dương sinh sống, tuy nhiều người đang tìm thần đan trường sinh bất lão (cũng gọi là kim đan), nhưng chỉ có số ít người luyện chế loại đan dược này nơi thâm sơn cùng cốc. Nguỵ Bá Dương cũng cùng đệ tử tại núi sâu luyện đan. Nhưng người ngoài không biết Nguỵ Bá Dương rốt cuộc đang làm gì, bản thân ông cũng chỉ nói với mọi người là đang luyện tập phương pháp tu hành dưỡng sinh mà thôi. Nguỵ Bá Dương dẫn theo ba đệ tử, trải quan một thời gian khảo sát, ông phát hiện có hai đệ tử không có lòng tin đối với sự thành công của việc luyện đan, chỉ có một đệ tử họ Ngu là thành tâm nhất. Nguỵ Bá Dương quyết định khảo nghiệm hai đệ tử kia xem thử.
              Ngày nọ, đương lúc Nguỵ Bá Dương và mấy đệ tử luyện một số đan dược thành công, ông nói với mấy đệ tử rằng:
              - Kim đan tuy luyện thành, nhưng không biết nó có tác dụng hay không? uống vào có bị trúng độc hay không? Trước tiên chúng ta thử với con chó , nếu chó nuốt vào mà có thể bay, chứng tỏ đan dược luyện đã thành công, chúng ta cũng có thể uống được; nếu chó nuốt vào xuất hiện trúng độc hoặc bị chết, chứng tỏ đan dược này có độc, chúng ta cũng không thể dùng.
              Thế là Nguỵ Bá Dương đem đan dược đã luyện xong cho con chó trắng ăn. Kết quả sau khi chó ăn qua đan dược chẳng mấy chốc bắt đầu xuất hiện phản ứng trúng độc, mắt trợn ngược, bốn chân run rẩy, ngã lăn ra đất chết. Nguỵ Bá Dương sau khi thấy tình huống đó nói rằng:
              - Đan dược mà chúng ta luyện e là có vấn đề, đan luyện xong chó ăn bị chết, có thể là chúng ta vẫn chưa tìm ra bí quyết, nếu chúng ta dùng đan dược này e cũng giống như chó không tránh khỏi chết, các con nói thử giờ phải làm sao?
              Một đệ tử trong số đó hỏi Nguỵ Bá Dương:
              - Có phải thầy muốn uống đan dược này?
              Nguỵ Bá Dương nói rằng:
              - Thầy đã làm trái với nguyện vọng của người nhà và bạn bè là muốn thấy đi trên con đường làm quan, thế mà thầy đến núi này luyện chế đan được trường sinh bất lão, nếu không thể luyện thành tiên đan, khi về sẽ bị mọi người chê cười. Hiện cũng không thể quản được nhiều, dù sao việc sinh tử đã như vậy, thành hay không thành thầy cũng phải uống thử đan dược này.
              Nói xong, Nguỵ Bá Dương đem đan dược bỏ vào miệng rồi nuốt. Đan được lập tức xuất hiện phản ứng độc tính, sắc mặt ông ta biến sang trắng bệch, môi tím tái, tay chân run rẩy, hai mắt trợn ngược, ngã lăn ra đất chết. Mấy đệ tử thấy tình hình đó, nhìn nhau, một đệ tử nói rằng:
              - Sở dĩ chúng ta đến núi này luyện chế đan dược là vì để trường sinh bất lão, hiện dùng nó lại bị chết, phải làm sao đây?
              Đệ tử họ Ngu thành tâm nhất nghĩ rằng:
              Thầy hoàn toàn không phải là người bình thường, tại sao uống đan dược liền bị chết; hơn nữa thầy cũng nhìn thấy chó sau khi ăn vào bị chết, tại sao lại còn dùng? Nhất định trong đó có vấn đề, hay là thầy cố ý làm?
              Nghĩ tới đó, thế là đệ tử nọ cũng đem đan dược ra nuốt, kết quả nuốt xong cũng chết. Hai đệ tử kia thấy thầy và sư huynh đệ cả hai đều chết, trong lòng thầm nghĩ:
              Luyện đan là để cầu trường sinh, nếu dùng đan dược đó mà bị chết liền, chẳng bằng không dùng, còn có thể sống mấy chục năm trên đời.
              Hai đệ tử nọ không uống đan dược, cùng nhau xuống núi. Họ nhanh chóng đi tìm quan tài để an táng thầy và sư huynh đệ.
              Hai hai đệ tử đi khỏi, Nguỵ Bá Dương liền uống thuốc giải rồi đúng dậy, sau đó đem thuốc giải bỏ vào miệng của đệ tử và con chó đang nằm trên mặt đất. Một lát sau đệ tử và chó tỉnh lại. Nguỵ Bá Dương lập tức dẫn đệ tử và chó rời khỏi nơi luyện đan, chỉ để lại một phong thư cho hai đệ tử kia, nói rõ nguyên uỷ sự tình. Hai đệ tử sau khi đọc thư vô cùng hối hận.
              Hoá ra khi luyện chế đan dược, nếu thời thần của đan dược không đủ, độc tính của nó sẽ khó mà tiêu trừ. Uống loại đan dược đó không chỉ không thành tiên, mà ngược lại còn bị trúng độc, xuất hiện tử vong tạm thời. Đan dược mà Nguỵ Bá Dương uống là loại đan được có độc tính, cho nên xuất hiện tình huống chết giả. Nhưng loại đan dược đó nếu trải qua luyện chế một thời gian nhất định thì nghe nói có thể luyện thành thần đan, trường sinh bất tử. Nguỵ Bá Dương cũng đang dùng phương pháp này để khảo nghiệm đệ tử của mình, khiến hai đệ tử không thành tâm đi mất, chỉ lưu lại đệ tử thành tâm cùng với ông tiếp tục luyện. Sau đó chẳng bao lâu luyện thành thần đan, hai người đều thành thần tiên.                

                                                                Huỳnh Chương Hưng
                                                                Quy Nhơn 17/7/2019

    Nguyên tác Trung văn
              NGUỴ BÁ DƯƠNG GIẢ TỬ THÍ ĐỆ TỬ
    魏伯阳假死试弟子
    Trong quyển
    ĐẠO KINH CỐ SỰ
    道经故事
    Biên soạn: Dương Ngọc Huy 杨玉辉
    Tứ Xuyên văn nghệ xuất bản xã, 2002

    Thứ Ba, 16 tháng 7, 2019



    CHỮ TRONG HÁN NGỮ CỔ

    1- : bính âm chéng (âm Hán Việt là “thình” – ND).
    Lúa thử lúa tắc đựng trong đồ vật, dùng để tế tự. Thường dùng liền 2 chữ “粢盛(tư thình). Trong Mạnh Tử - Đằng Văn Công hạ 孟子 - 滕文公下có câu:
    Chư hầu canh trợ dĩ cung tư thình
    諸侯耕助以供粢盛
    (Chư hầu đích thân cày cấy dùng để cung cấp tế phẩm)
              Trong Ung Hoà thi 雍和詩 của Nguỵ Trưng 魏徵 có câu:
    Tư thình hàm khiết
    粢盛咸潔
    (Tế phẩm đều tinh khiết)
              Dẫn đến ý nghĩa đựng vật phẩm vào khí cụ. Trong Trang Tử - Tiêu dao du 莊子 - 逍遙遊 có câu:
    Dĩ thình thuỷ tương
    以盛水漿
    (Lấy để đựng nước)

    2- : bính âm shèng (âm Hán Việt là “thịnh / thạnh” – ND)
              Hưng vượng, vượng thịnh, đối lập với  (suy). Trong Mạnh Tử - Công Tôn Sửu thượng 孟子 - 公孫丑上 có câu:
    Hạ Hậu Ân Chu chi thịnh, địa vị hữu quá thiên lí giả dã.
    夏后殷周之盛, 地未有過千里者也
    (Sự hưng thịnh của nhà Hạ Hậu, nhà Ân, nhà Chu, đất đai chưa quá ngàn dặm vậy).
              Hàn Dũ 韓愈 trong Tống Mạnh Đông Dã tự 送孟東野序 có viết:
    Ức bất tri thiên tương hoà kì thanh nhi sử minh quốc gia chi thịnh da?
    抑不知天將和其聲而使鳴國家之盛邪?
              (Không biết có phải trời muốn cho thanh âm của họ hài hoà, khiến họ vì sự hưng thịnh của đất nước mà phát ra thanh âm chăng?)
              Và trong Tống Lí Nguyện quy Bàn Cốc tự 送李愿歸盤谷序:
    Đạo cổ kim nhi dự thịnh đức
    道古今而譽盛德
    (Nói xưa bàn nay mà khen ngợi đức sáng)
              Dẫn đến nghĩa tươi tốt. Trong Trang Tử - Sơn thuỷ 莊子 - 山水 có câu:
    Kiến đại mộc chi diệp thịnh mậu.
    見大木枝葉盛茂
    (Thấy cây lớn cành lá tươi tốt)
    Thịnh phục 盛服
    - Ăn mặc chỉnh tề.
              Trong Tả truyện – Tuyên Công nhị niên 左傳 - 宣公二年 có ghi:
    Thịnh phục tương triều
    盛服將朝
    (Ăn mặc chỉnh tề chuẩn bị nhập triều)
    - Phục sức long trọng
              Trong Hán thư – Hoắc Quang truyện 漢書 - 霍光傳có ghi:
    Thái hậu bị châu nhu, thịnh phục toạ vũ trướng trung.
    太后被珠襦, 盛服坐武帳中
    (Thái hậu khoác châu nhu, phục sức long trọng ngồi trong trướng võ)
    (Châu nhu 珠襦: một loại áo ngắn đính hạt châu mà đế, hậu thời cổ mặc – ND)
    Thịnh khí 盛氣
              - Khí thế hừng hực.
              Trong Chiến quốc sách – Triệu sách tứ 戰國策 - 趙策四có ghi:
    Thái hậu thịnh khí nhi ấp chi
    太后盛氣而揖之
    (Thái hậu nộ khí hừng hực đợi ông ta đến)
              Nay có thành ngữ “thịnh khí lăng nhân” 盛氣凌人 (khí thế kiêu ngạo bức hiếp người khác)

    Phụ lục của người dịch
              Về chữ , Hán Việt tự điển của Thiều Chửu ghi rằng:
              Thịnh: Thịnh, đầy đủ, đông đúc chỉ thấy thêm không thấy kém đều gọi là thịnh. Một âm là thình. 1: Đựng, đựng xôi vào bát để cúng tế gọi là tư thình 粢盛. Vì thế nên xôi gọi là tư thình. 2: Cái đồ để đựng đồ. 3: Chịu, nhận, 4: Chỉnh đốn.
              (Nhà xuất bản Hồng Đức, 2015, trang 378)

                                                           Huỳnh Chương Hưng
                                                           Quy Nhơn 16/7/2019

    Nguyên tác Trung văn trong
    CỔ ĐẠI HÁN NGỮ
    古代漢語
    (tập 4)
    Chủ biên: Vương Lực 王力
    Trung Hoa thư cục, 1998.

    Dịch thuật: Chữ "thình / thịnh" trong Hán ngữ cổ

    Đăng lúc  21:19  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »



    CHỮ TRONG HÁN NGỮ CỔ

    1- : bính âm chéng (âm Hán Việt là “thình” – ND).
    Lúa thử lúa tắc đựng trong đồ vật, dùng để tế tự. Thường dùng liền 2 chữ “粢盛(tư thình). Trong Mạnh Tử - Đằng Văn Công hạ 孟子 - 滕文公下có câu:
    Chư hầu canh trợ dĩ cung tư thình
    諸侯耕助以供粢盛
    (Chư hầu đích thân cày cấy dùng để cung cấp tế phẩm)
              Trong Ung Hoà thi 雍和詩 của Nguỵ Trưng 魏徵 có câu:
    Tư thình hàm khiết
    粢盛咸潔
    (Tế phẩm đều tinh khiết)
              Dẫn đến ý nghĩa đựng vật phẩm vào khí cụ. Trong Trang Tử - Tiêu dao du 莊子 - 逍遙遊 có câu:
    Dĩ thình thuỷ tương
    以盛水漿
    (Lấy để đựng nước)

    2- : bính âm shèng (âm Hán Việt là “thịnh / thạnh” – ND)
              Hưng vượng, vượng thịnh, đối lập với  (suy). Trong Mạnh Tử - Công Tôn Sửu thượng 孟子 - 公孫丑上 có câu:
    Hạ Hậu Ân Chu chi thịnh, địa vị hữu quá thiên lí giả dã.
    夏后殷周之盛, 地未有過千里者也
    (Sự hưng thịnh của nhà Hạ Hậu, nhà Ân, nhà Chu, đất đai chưa quá ngàn dặm vậy).
              Hàn Dũ 韓愈 trong Tống Mạnh Đông Dã tự 送孟東野序 có viết:
    Ức bất tri thiên tương hoà kì thanh nhi sử minh quốc gia chi thịnh da?
    抑不知天將和其聲而使鳴國家之盛邪?
              (Không biết có phải trời muốn cho thanh âm của họ hài hoà, khiến họ vì sự hưng thịnh của đất nước mà phát ra thanh âm chăng?)
              Và trong Tống Lí Nguyện quy Bàn Cốc tự 送李愿歸盤谷序:
    Đạo cổ kim nhi dự thịnh đức
    道古今而譽盛德
    (Nói xưa bàn nay mà khen ngợi đức sáng)
              Dẫn đến nghĩa tươi tốt. Trong Trang Tử - Sơn thuỷ 莊子 - 山水 có câu:
    Kiến đại mộc chi diệp thịnh mậu.
    見大木枝葉盛茂
    (Thấy cây lớn cành lá tươi tốt)
    Thịnh phục 盛服
    - Ăn mặc chỉnh tề.
              Trong Tả truyện – Tuyên Công nhị niên 左傳 - 宣公二年 có ghi:
    Thịnh phục tương triều
    盛服將朝
    (Ăn mặc chỉnh tề chuẩn bị nhập triều)
    - Phục sức long trọng
              Trong Hán thư – Hoắc Quang truyện 漢書 - 霍光傳có ghi:
    Thái hậu bị châu nhu, thịnh phục toạ vũ trướng trung.
    太后被珠襦, 盛服坐武帳中
    (Thái hậu khoác châu nhu, phục sức long trọng ngồi trong trướng võ)
    (Châu nhu 珠襦: một loại áo ngắn đính hạt châu mà đế, hậu thời cổ mặc – ND)
    Thịnh khí 盛氣
              - Khí thế hừng hực.
              Trong Chiến quốc sách – Triệu sách tứ 戰國策 - 趙策四có ghi:
    Thái hậu thịnh khí nhi ấp chi
    太后盛氣而揖之
    (Thái hậu nộ khí hừng hực đợi ông ta đến)
              Nay có thành ngữ “thịnh khí lăng nhân” 盛氣凌人 (khí thế kiêu ngạo bức hiếp người khác)

    Phụ lục của người dịch
              Về chữ , Hán Việt tự điển của Thiều Chửu ghi rằng:
              Thịnh: Thịnh, đầy đủ, đông đúc chỉ thấy thêm không thấy kém đều gọi là thịnh. Một âm là thình. 1: Đựng, đựng xôi vào bát để cúng tế gọi là tư thình 粢盛. Vì thế nên xôi gọi là tư thình. 2: Cái đồ để đựng đồ. 3: Chịu, nhận, 4: Chỉnh đốn.
              (Nhà xuất bản Hồng Đức, 2015, trang 378)

                                                           Huỳnh Chương Hưng
                                                           Quy Nhơn 16/7/2019

    Nguyên tác Trung văn trong
    CỔ ĐẠI HÁN NGỮ
    古代漢語
    (tập 4)
    Chủ biên: Vương Lực 王力
    Trung Hoa thư cục, 1998.

    Thứ Hai, 15 tháng 7, 2019




    财要善用   禄要无愧
        财不患其不得, 患财得, 而不能善用其财; 禄不患其不来, 患禄来, 而不能无愧其禄.
                                                                             (围炉夜话)

    TÀI YẾU THIỆN DỤNG   LỘC YẾU VÔ QUÝ
              Tài bất hoạn kì bất đắc, hoạn tài đắc, nhi bất năng thiện dụng kì tài; Lộc bất hoạn kì bất lai, hoạn lộc lai, nhi bất năng vô quý kì lộc.
                                                                                        (Vi lô dạ thoại)

    TÀI CẦN KHÉO DÙNG, LỘC KHÔNG HỔ THẸN
              Với tiền tài đừng lo không có, chỉ lo khi có, mà ta không biết dùng tiền tài cho khéo; Với lộc quan đừng sợ không đến, chỉ sợ khi nó đến, mà ta lại hổ thẹn với lộc quan.

    Phân tích và thưởng thức
              Một người chỉ cần chăm chỉ làm việc, khơi nguồn kiệm nước, thì tiền tài không thể không có, chỉ sợ bản thân lười nhác, xài tiền phung phí, như thế mà vọng tưởng có tiền thì quả thực là nằm mơ giữa ban ngày. Càng đáng sợ hơn là khi có được tiền mà không khéo dùng, nếu chẳng phải là kẻ nô lệ của tiền tài, thì cũng là kẻ hoa thiên tửu địa, xa xỉ lãng phí. Thế thì, tiền tài trở thành thứ hại người, không chỉ hại bản thân nhà tan mạng mất, mà còn nguy hại cho xã hội. Kì thực, với tiền tài nếu biết dùng nó một cách chính đáng, là một sức mạnh để vui làm việc thiện có ích cho dân sinh, thì đó mới đúng là chân chính phát huy diệu dụng của tiền tài. Điều mà gọi là “thiên yếu nễ phú mạc thái xa” 天要你富莫太奢 (trời sẽ cho anh giàu nếu anh đừng quá xa xỉ), “vi phú đương nhân” 为富当仁 (làm giàu nên gánh vác việc nhân), chính là nói cho chúng ta biết phải dùng cho khéo kim tiền.
              Người đời đều khát vọng lộc quan và phúc phận, nhưng rốt cuộc có được mấy người? Nếu không do con đường chính đáng nhìn thấy, hoặc đã có được, nhưng lại làm những việc tổn phúc, có lỗi với lương tâm của bản thân thì có ích gì?  bởi, do vì những phúc lộc ngoại tại không trường cửu, mà đã vứt bỏ nhân cách của mình. Kì thực, phúc lộc vốn không có định số, hà tất phải quá chấp trước? chẳng bằng cầu phúc lộc ở nội tâm của mình, không siểm nịnh không a dua đó là tâm của quan, không ghen ghét không cầu xin đó là tâm của phúc, bất cứ ai cũng không có thể đoạt được.

    Chú của người dịch
    Vi lô dạ thoại 围炉夜话: là một tác phẩm nổi tiếng đời Thanh, tác giả là Vương Vĩnh Bân 王永彬. Vi lô dạ thoại có 221 tắc, đề cập nhiều phương diện như đạo đức, tu thân, độc thư, an bần lạc đạo, giáo tử, trung hiếu, cần kiệm … nêu rõ hàm nghĩa sâu xa: lập đức, lập công, lập ngôn đều lấy “lập nghiệp” làm gốc.Vi lô dạ thoại 围炉夜话cùng với Thái căn đàm 菜根谭, Tiểu song u kí 小窗幽记 được gọi chung là “xử thế tam đại kì thư”.

    Vương Vĩnh Bân 王永彬:
              Vương Vĩnh Bân tự Nghi Sơn 宜山, người đời gọi ông là Nghi Sơn tiên sinh 宜山先生, con cháu đời sau của họ Vương gọi ông là Nghi Sơn công 宜山公. Cuộc đời ông trải qua 5 vương triều: Càn Long 乾隆, Gia Khánh 嘉庆, Đạo Quang 道光, Hàm Phong 咸丰, Đồng Trị 同治. Ông sinh ngày 23 tháng Giêng năm Nhâm Tí thời Càn Long, mất ngày 25 tháng Giêng năm Kỉ Tị thời Đồng Trị, hưởng thọ 78 tuổi.
              Nguồn http://baike.baidu.com/view/53686.htm

                                                                         Huỳnh Chương Hưng
                                                                         Quy Nhơn 15/7/2019

    Nguồn
    VI LÔ DẠ THOẠI
    围炉夜话
    Tác giả: Vương Vĩnh Bân 王永彬
    Thiểm Tây lữ du xuất bản xã, 2002. 

    Dịch thuật: Tài yếu thiện dụng, lộc yếu vô quý (Vi lô dạ thoại)

    Đăng lúc  21:41  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »




    财要善用   禄要无愧
        财不患其不得, 患财得, 而不能善用其财; 禄不患其不来, 患禄来, 而不能无愧其禄.
                                                                             (围炉夜话)

    TÀI YẾU THIỆN DỤNG   LỘC YẾU VÔ QUÝ
              Tài bất hoạn kì bất đắc, hoạn tài đắc, nhi bất năng thiện dụng kì tài; Lộc bất hoạn kì bất lai, hoạn lộc lai, nhi bất năng vô quý kì lộc.
                                                                                        (Vi lô dạ thoại)

    TÀI CẦN KHÉO DÙNG, LỘC KHÔNG HỔ THẸN
              Với tiền tài đừng lo không có, chỉ lo khi có, mà ta không biết dùng tiền tài cho khéo; Với lộc quan đừng sợ không đến, chỉ sợ khi nó đến, mà ta lại hổ thẹn với lộc quan.

    Phân tích và thưởng thức
              Một người chỉ cần chăm chỉ làm việc, khơi nguồn kiệm nước, thì tiền tài không thể không có, chỉ sợ bản thân lười nhác, xài tiền phung phí, như thế mà vọng tưởng có tiền thì quả thực là nằm mơ giữa ban ngày. Càng đáng sợ hơn là khi có được tiền mà không khéo dùng, nếu chẳng phải là kẻ nô lệ của tiền tài, thì cũng là kẻ hoa thiên tửu địa, xa xỉ lãng phí. Thế thì, tiền tài trở thành thứ hại người, không chỉ hại bản thân nhà tan mạng mất, mà còn nguy hại cho xã hội. Kì thực, với tiền tài nếu biết dùng nó một cách chính đáng, là một sức mạnh để vui làm việc thiện có ích cho dân sinh, thì đó mới đúng là chân chính phát huy diệu dụng của tiền tài. Điều mà gọi là “thiên yếu nễ phú mạc thái xa” 天要你富莫太奢 (trời sẽ cho anh giàu nếu anh đừng quá xa xỉ), “vi phú đương nhân” 为富当仁 (làm giàu nên gánh vác việc nhân), chính là nói cho chúng ta biết phải dùng cho khéo kim tiền.
              Người đời đều khát vọng lộc quan và phúc phận, nhưng rốt cuộc có được mấy người? Nếu không do con đường chính đáng nhìn thấy, hoặc đã có được, nhưng lại làm những việc tổn phúc, có lỗi với lương tâm của bản thân thì có ích gì?  bởi, do vì những phúc lộc ngoại tại không trường cửu, mà đã vứt bỏ nhân cách của mình. Kì thực, phúc lộc vốn không có định số, hà tất phải quá chấp trước? chẳng bằng cầu phúc lộc ở nội tâm của mình, không siểm nịnh không a dua đó là tâm của quan, không ghen ghét không cầu xin đó là tâm của phúc, bất cứ ai cũng không có thể đoạt được.

    Chú của người dịch
    Vi lô dạ thoại 围炉夜话: là một tác phẩm nổi tiếng đời Thanh, tác giả là Vương Vĩnh Bân 王永彬. Vi lô dạ thoại có 221 tắc, đề cập nhiều phương diện như đạo đức, tu thân, độc thư, an bần lạc đạo, giáo tử, trung hiếu, cần kiệm … nêu rõ hàm nghĩa sâu xa: lập đức, lập công, lập ngôn đều lấy “lập nghiệp” làm gốc.Vi lô dạ thoại 围炉夜话cùng với Thái căn đàm 菜根谭, Tiểu song u kí 小窗幽记 được gọi chung là “xử thế tam đại kì thư”.

    Vương Vĩnh Bân 王永彬:
              Vương Vĩnh Bân tự Nghi Sơn 宜山, người đời gọi ông là Nghi Sơn tiên sinh 宜山先生, con cháu đời sau của họ Vương gọi ông là Nghi Sơn công 宜山公. Cuộc đời ông trải qua 5 vương triều: Càn Long 乾隆, Gia Khánh 嘉庆, Đạo Quang 道光, Hàm Phong 咸丰, Đồng Trị 同治. Ông sinh ngày 23 tháng Giêng năm Nhâm Tí thời Càn Long, mất ngày 25 tháng Giêng năm Kỉ Tị thời Đồng Trị, hưởng thọ 78 tuổi.
              Nguồn http://baike.baidu.com/view/53686.htm

                                                                         Huỳnh Chương Hưng
                                                                         Quy Nhơn 15/7/2019

    Nguồn
    VI LÔ DẠ THOẠI
    围炉夜话
    Tác giả: Vương Vĩnh Bân 王永彬
    Thiểm Tây lữ du xuất bản xã, 2002. 

    Chủ Nhật, 14 tháng 7, 2019

    BÍ ẨN VỀ TẤM  BIA KHÔNG CHỮ CỦA VÕ TẮC THIÊN

              Trên Lương sơn 梁山 phía tây bắc huyện Càn tỉnh Thiểm Tây 陕西, có một lăng mộ hoàng gia vô cùng khí thế hùng vĩ, đó là Càn Lăng 乾陵. Càn Lăng là mộ hợp táng Đường Cao Tông Lí Trị 唐高宗李治 cùng với hoàng hậu tức nhất đại nữ hoàng Võ Tắc Thiên 武则天hai bên đông tây của Càn Lăng dựng 2 tấm bia mỗi tấm cao khoảng 6m, phía tây là “Thuật Thánh bi” 述圣碑, bi văn do Võ Tắc Thiên soạn, ca tụng công tích lúc sinh tiền của Đường Cao Tông, còn phía đông chính là tấm bia không chữ (vô tự bi 无字碑) nổi tiếng. 
              Võ Tắc Thiên là vị nữ hoàng đế duy nhất của Trung Quốc cổ đại. Quách Mạt Nhược gọi bà là “kì nữ tử” 奇女子. Nhưng vị nữ tử từng hô mưa gọi gió trong lịch sử Trung Quốc này, sau khi mất lại không theo lệ cũ dựng bia trước lăng mộ để biểu chương công tích lúc sinh tiền. Tại sao lúc sống rất oanh liệt, nhưng sau khi mất lại tự cam chịu trầm mặc?
              Có người cho rằng, Võ Tắc Thiên từ nhỏ đã thông minh, trí tuệ hơn người, lập tấm bia không chữ chính là biểu hiện một ý định đặc biệt. Bà cho rằng, công đức của mình vô lượng, không thể dùng văn tự để biểu thuật, lấy ý từ một câu trong Luận ngữ 论语:
    Dân vô đức nhi danh yên (1)
    民无德而名焉
    cho nên lập bia không chữ.
              Cũng có người cho rằng, Võ Tắc Thiên lập bia không chữ hoàn toàn không phải là để khoe bản thân mình, mà ngược lại, lúc về già bà đã nhanh chóng tỉnh ngộ, cảm thấy tội chướng nặng nề, không mặt mũi nào để thuật lại. Khi còn là Chiêu Nghi 昭仪, bà mưu hại Vương hoàng hậu 王皇后  và Tiêu thục phi 萧淑妃, cuối cùng giết chết hai người. Sau khi lên làm hoàng hậu, bà lại thi triển thủ đoạn chính trị cay độc, bồi dưỡng vây cánh, tiêu diệt những ai khác với mình, ngay cả Trưởng Tôn Vô Kị 长孙无忌 cũng bị bà bức phải tự sát; sau khi lên ngôi đế, thực hành chính sách càng “sắt máu” hơn, nhậm dụng khốc lại, lạm dụng hình phạt, trấn áp một cách tàn khốc thế lực phản đối, sát hại một loạt đại thần. Đặc biệt, bà đã đổi Lí Đường 李唐 sang Đại Chu 大周, đại nghịch bất đạo, hổ thẹn với liệt tổ liệt tông.
              Còn có một thuyết chiết trung, đó là Võ tắc Thiên tự tri, biết người đương thời đối với bà có cái nhìn bất nhất, nghị luận cũng nhiều, thế nên lưu lại tấm bia không chữ, “đúng sai công tội, để người đời sau bình luận”.
              Gần đây, đối với tấm bia không chữ của Võ Tắc thiên có một thuyết mới, cho rằng, bi văn (bài văn bia) của tấm bia đó có khả năng đã bị chôn dưới địa cung. Nhân vì bề mặt của tấm bia không chữ đã có những ô kẻ chỉnh tề, dường như là đã chuẩn bị kĩ cho việc chạm khắc bi văn.
              Ai đúng ai sai, đến nay hãy còn là một bí ẩn.

    Chú của người dịch
    1- Ở thiên Quý thị 季氏  trong Luận ngữ 论语  có đoạn:          
              Tề Cảnh Công hữu mã thiên tứ, tử chi nhật, dân vô đức nhi xưng yên. Bá Di, Thúc Tề ngạ vu Thú dương chi hạ, dân đáo vu kim xưng chi.
              齐景公有马千驷, 死之日, 民无德而称焉. 伯夷. 叔齐饿于首阳之下,民到于今称之.
              (Tề Cảnh Công có một ngàn cỗ xe, nhưng khi chết, dân cho là không có công đức gì đáng để khen ngợi. Nhưng Bá Di, Thúc Tề chết đói ở núi Thú Dương, đến nay dân vẫn còn khen ngợi họ.)
              Theo Vương Lực 王力 trong Trung Quốc cổ đại văn hoá thường thức 中国古代文化常识 cho rằng: với câu “Tề Cảnh Công hữu mã thiên tứ” 齐景公有马千驷, ở đây không phải nói là Tề Cảnh Công có 4000 con ngựa, mà là nói có 1000 cỗ xe.
              (Trang 96, Trung Quốc nhân dân đại học xuất bản xã, 2015)
              Như trong nguyên tác nói rằng, lấy ý theo câu “dân vô đức nhi xưng yên” ở Luận ngữ, xét thấy không hợp với nội dung.
              “Vô đức nhi xưng” 无德而称có 2 nghĩa:
              - Không có công đức gì để có thể khen ngợi.
              - Công đức to lớn không thể dùng lời để nói.
    Câu “dân vô đức nhi xưng yên” ở đây chính là ý nói công đức của Võ Tắc Thiên to lớn không gì sánh bằng, không thể dùng lời để nói.
              Trong Hậu Hán thư – Hoàng Hiến truyện luận 后汉书 -黄宪传论 có đoạn:
              Sĩ quân tử kiến chi giả, mị bất phục thâm viễn, khứ tì lận. Tương dĩ đạo chu tính toàn, vô đức nhi xưng hồ?
              士君子见之者, 靡不服深远, 去玼吝. 将以道周性全, 无德而称?
              (Sĩ quân tử khi gặp được ông ta (Hoàng Hiến), không ai là không bội phục
    sâu xa, từ bỏ khuyết điểm của mình, nhân vì ở ông, với đạo thì chu đáo hoàn bị, với tính thì toàn nhất, không có đức tháo danh xưng nào thích hợp để khen ngợi.)
              Lí Hiền 李贤 chú rằng:
              Đạo chu bị, tính toàn nhất. Vô đức nhi xưng, ngôn kì đức đại vô năng danh yên.
              道周备, 性全一. 无德而称,言其德大无能名焉.
              (Với đạo thì chu đáo hoàn bị, với tính thì toàn nhất. “Vô đức nhi xưng”, ý nói đức lớn không thể gọi tên được.)
                Như vậy, câu “dân vô đức nhi xưng yên” ở đây phải là lấy ý từ Hậu Hán thư – Hoàng Hiến truyện luận mới đúng.
              Trong nguyên tác ghi là “dân vô đức nhi danh yên” 民无德而名焉

                                                           Huỳnh Chương Hưng
                                                           Quy Nhơn 14/7/2019

    Nguyên tác Trung văn
    VÕ TẮC THIÊN VÔ TỰ BI CHI MÊ
    武则天无字碑之谜
    Trong quyển
    TRUNG QUỐC VỊ GIẢI CHI MÊ
    中国未解之谜
    Tác giả: Hải Tử 海子
    Trung Quốc Hoa Kiều xuất bản xã, 2013 

    Dịch thuật: Bí ẩn về tấm bia không chữ của Võ Tắc Thiên

    Đăng lúc  21:01  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    BÍ ẨN VỀ TẤM  BIA KHÔNG CHỮ CỦA VÕ TẮC THIÊN

              Trên Lương sơn 梁山 phía tây bắc huyện Càn tỉnh Thiểm Tây 陕西, có một lăng mộ hoàng gia vô cùng khí thế hùng vĩ, đó là Càn Lăng 乾陵. Càn Lăng là mộ hợp táng Đường Cao Tông Lí Trị 唐高宗李治 cùng với hoàng hậu tức nhất đại nữ hoàng Võ Tắc Thiên 武则天hai bên đông tây của Càn Lăng dựng 2 tấm bia mỗi tấm cao khoảng 6m, phía tây là “Thuật Thánh bi” 述圣碑, bi văn do Võ Tắc Thiên soạn, ca tụng công tích lúc sinh tiền của Đường Cao Tông, còn phía đông chính là tấm bia không chữ (vô tự bi 无字碑) nổi tiếng. 
              Võ Tắc Thiên là vị nữ hoàng đế duy nhất của Trung Quốc cổ đại. Quách Mạt Nhược gọi bà là “kì nữ tử” 奇女子. Nhưng vị nữ tử từng hô mưa gọi gió trong lịch sử Trung Quốc này, sau khi mất lại không theo lệ cũ dựng bia trước lăng mộ để biểu chương công tích lúc sinh tiền. Tại sao lúc sống rất oanh liệt, nhưng sau khi mất lại tự cam chịu trầm mặc?
              Có người cho rằng, Võ Tắc Thiên từ nhỏ đã thông minh, trí tuệ hơn người, lập tấm bia không chữ chính là biểu hiện một ý định đặc biệt. Bà cho rằng, công đức của mình vô lượng, không thể dùng văn tự để biểu thuật, lấy ý từ một câu trong Luận ngữ 论语:
    Dân vô đức nhi danh yên (1)
    民无德而名焉
    cho nên lập bia không chữ.
              Cũng có người cho rằng, Võ Tắc Thiên lập bia không chữ hoàn toàn không phải là để khoe bản thân mình, mà ngược lại, lúc về già bà đã nhanh chóng tỉnh ngộ, cảm thấy tội chướng nặng nề, không mặt mũi nào để thuật lại. Khi còn là Chiêu Nghi 昭仪, bà mưu hại Vương hoàng hậu 王皇后  và Tiêu thục phi 萧淑妃, cuối cùng giết chết hai người. Sau khi lên làm hoàng hậu, bà lại thi triển thủ đoạn chính trị cay độc, bồi dưỡng vây cánh, tiêu diệt những ai khác với mình, ngay cả Trưởng Tôn Vô Kị 长孙无忌 cũng bị bà bức phải tự sát; sau khi lên ngôi đế, thực hành chính sách càng “sắt máu” hơn, nhậm dụng khốc lại, lạm dụng hình phạt, trấn áp một cách tàn khốc thế lực phản đối, sát hại một loạt đại thần. Đặc biệt, bà đã đổi Lí Đường 李唐 sang Đại Chu 大周, đại nghịch bất đạo, hổ thẹn với liệt tổ liệt tông.
              Còn có một thuyết chiết trung, đó là Võ tắc Thiên tự tri, biết người đương thời đối với bà có cái nhìn bất nhất, nghị luận cũng nhiều, thế nên lưu lại tấm bia không chữ, “đúng sai công tội, để người đời sau bình luận”.
              Gần đây, đối với tấm bia không chữ của Võ Tắc thiên có một thuyết mới, cho rằng, bi văn (bài văn bia) của tấm bia đó có khả năng đã bị chôn dưới địa cung. Nhân vì bề mặt của tấm bia không chữ đã có những ô kẻ chỉnh tề, dường như là đã chuẩn bị kĩ cho việc chạm khắc bi văn.
              Ai đúng ai sai, đến nay hãy còn là một bí ẩn.

    Chú của người dịch
    1- Ở thiên Quý thị 季氏  trong Luận ngữ 论语  có đoạn:          
              Tề Cảnh Công hữu mã thiên tứ, tử chi nhật, dân vô đức nhi xưng yên. Bá Di, Thúc Tề ngạ vu Thú dương chi hạ, dân đáo vu kim xưng chi.
              齐景公有马千驷, 死之日, 民无德而称焉. 伯夷. 叔齐饿于首阳之下,民到于今称之.
              (Tề Cảnh Công có một ngàn cỗ xe, nhưng khi chết, dân cho là không có công đức gì đáng để khen ngợi. Nhưng Bá Di, Thúc Tề chết đói ở núi Thú Dương, đến nay dân vẫn còn khen ngợi họ.)
              Theo Vương Lực 王力 trong Trung Quốc cổ đại văn hoá thường thức 中国古代文化常识 cho rằng: với câu “Tề Cảnh Công hữu mã thiên tứ” 齐景公有马千驷, ở đây không phải nói là Tề Cảnh Công có 4000 con ngựa, mà là nói có 1000 cỗ xe.
              (Trang 96, Trung Quốc nhân dân đại học xuất bản xã, 2015)
              Như trong nguyên tác nói rằng, lấy ý theo câu “dân vô đức nhi xưng yên” ở Luận ngữ, xét thấy không hợp với nội dung.
              “Vô đức nhi xưng” 无德而称có 2 nghĩa:
              - Không có công đức gì để có thể khen ngợi.
              - Công đức to lớn không thể dùng lời để nói.
    Câu “dân vô đức nhi xưng yên” ở đây chính là ý nói công đức của Võ Tắc Thiên to lớn không gì sánh bằng, không thể dùng lời để nói.
              Trong Hậu Hán thư – Hoàng Hiến truyện luận 后汉书 -黄宪传论 có đoạn:
              Sĩ quân tử kiến chi giả, mị bất phục thâm viễn, khứ tì lận. Tương dĩ đạo chu tính toàn, vô đức nhi xưng hồ?
              士君子见之者, 靡不服深远, 去玼吝. 将以道周性全, 无德而称?
              (Sĩ quân tử khi gặp được ông ta (Hoàng Hiến), không ai là không bội phục
    sâu xa, từ bỏ khuyết điểm của mình, nhân vì ở ông, với đạo thì chu đáo hoàn bị, với tính thì toàn nhất, không có đức tháo danh xưng nào thích hợp để khen ngợi.)
              Lí Hiền 李贤 chú rằng:
              Đạo chu bị, tính toàn nhất. Vô đức nhi xưng, ngôn kì đức đại vô năng danh yên.
              道周备, 性全一. 无德而称,言其德大无能名焉.
              (Với đạo thì chu đáo hoàn bị, với tính thì toàn nhất. “Vô đức nhi xưng”, ý nói đức lớn không thể gọi tên được.)
                Như vậy, câu “dân vô đức nhi xưng yên” ở đây phải là lấy ý từ Hậu Hán thư – Hoàng Hiến truyện luận mới đúng.
              Trong nguyên tác ghi là “dân vô đức nhi danh yên” 民无德而名焉

                                                           Huỳnh Chương Hưng
                                                           Quy Nhơn 14/7/2019

    Nguyên tác Trung văn
    VÕ TẮC THIÊN VÔ TỰ BI CHI MÊ
    武则天无字碑之谜
    Trong quyển
    TRUNG QUỐC VỊ GIẢI CHI MÊ
    中国未解之谜
    Tác giả: Hải Tử 海子
    Trung Quốc Hoa Kiều xuất bản xã, 2013 

    Mã nguồn bởi Huỳnh Chương Hưng
    Copyright © 2012 Huỳnh Chương Hưng.
    back to top