• Chủ Nhật, 20 tháng 5, 2018



    HỒ PHỤC XẠ KỊ
    (kì 4)

              五月戊申, 大朝东宫, 传国于何 (1). 王庙见礼毕, 出临朝, 大夫悉为臣. 肥义为相国, 并傅王. 武灵王自号 主父”. 主父欲使子治国, 身胡服, 将士大夫西北略胡地. 将自云中, 九原南袭咸阳, 于是诈自为使者, 入秦, 欲以观秦地形及秦王之为人. 秦王不知, 已而怪其状甚伟, 非人臣之度, 使人逐之; 主父行以脱关矣, 审问之, 乃主父也. 秦人大惊.

    Phiên âm
              Ngũ nguyệt Mậu Thân, đại triều đông cung, truyền quốc vu Hà (1). Vương miếu kiến lễ tất, xuất lâm triều, đại phu tất vi thần. Phì Nghĩa vi Tướng quốc, tịnh phó vương. Vũ Linh Vương tự hiệu “chủ phụ”. Chủ phụ dục sử tử trị quốc, thân Hồ phục, tướng sĩ đại phu tây bắc lược Hồ địa. Tương tự Vân Trung, Cửu Nguyên nam tập Hàm Dương, vu thị trá tự vi sứ giả, nhập Tần, dục dĩ quan Tần địa hình cập Tần vương chi vi nhân. Tần vương bất tri, dĩ nhi quái kì trạng thậm vĩ, phi nhân thần chi độ, sử nhân trục chi; chủ phụ hành dĩ thoát quan hĩ, thẩm vấn chi, nãi chủ phụ dã. Tần nhân đại kinh.

    Chú thích
    1- : Triệu Hà 赵何, tức Triệu Huệ Văn Vương 赵惠文王.

    Dịch nghĩa
              Ngày Mậu Thân tháng 5 (ngày 26), Triệu Vũ Linh Vương cử hành đại triều hội tại đông cung, đem ngôi vị quốc quân truyền cho Triệu Hà. Triệu Hà hoàn tất lễ nghi tế tự tông miếu, lên triều xử lí chính sự, đại phu dưới tay ông đều trở thành đại thần của triều đình. Triệu Hà lại phong Phì Nghĩa làm Tướng quốc, đồng thời tôn xưng là thầy của quốc quân. Triệu Vũ Linh Vương tự xưng là “chủ phụ”. Triệu chủ phụ muốn để cho con chủ trì sự việc trong nước, riêng bản thân ông chuẩn bị mặc Hồ phục dẫn văn võ đại thần đi đánh lãnh địa của người Hồ phía tây bắc. Theo kế hoạch từ Vân Trung, Cửu Nguyên hướng về phía nam tập kích đô thành Hàm Dương của Tần, thế là ông tự giả trang thành sứ giả, đến Tần, muốn nhân cơ hội đó khảo sát địa hình nước Tần cùng con người Tần vương. Tần vương không biết, sau sự việc, cảm thấy người đó tướng mạo cao lớn khác thường, có phong độ mà bề tôi không thể có được, vội sai người đuổi theo; chủ phụ lúc bấy giờ đã ra khỏi biên giới nước Tần. Trải qua điều tra, người nước Tần mới biết người đó chính là Triệu chủ phụ, người nước Tần đều kinh hãi thất sắc.

                                                                 Huỳnh Chương Hưng
                                                                 Quy Nhơn 20/5/2018

    Nguồn
    TƯ TRỊ THÔNG GIÁM
    资治通鉴
    Bắc Tống . Tư Mã Quang 司马光
    Chủ biên: Nhậm Tư Vũ 任思武
    Bắc Kinh . Trung Quốc Hoa kiều xuất bản xã, 2013

    Dịch thuật: Hồ phục xạ kị (kì 4) (Tư trị thông giám)

    Đăng lúc  22:27  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »



    HỒ PHỤC XẠ KỊ
    (kì 4)

              五月戊申, 大朝东宫, 传国于何 (1). 王庙见礼毕, 出临朝, 大夫悉为臣. 肥义为相国, 并傅王. 武灵王自号 主父”. 主父欲使子治国, 身胡服, 将士大夫西北略胡地. 将自云中, 九原南袭咸阳, 于是诈自为使者, 入秦, 欲以观秦地形及秦王之为人. 秦王不知, 已而怪其状甚伟, 非人臣之度, 使人逐之; 主父行以脱关矣, 审问之, 乃主父也. 秦人大惊.

    Phiên âm
              Ngũ nguyệt Mậu Thân, đại triều đông cung, truyền quốc vu Hà (1). Vương miếu kiến lễ tất, xuất lâm triều, đại phu tất vi thần. Phì Nghĩa vi Tướng quốc, tịnh phó vương. Vũ Linh Vương tự hiệu “chủ phụ”. Chủ phụ dục sử tử trị quốc, thân Hồ phục, tướng sĩ đại phu tây bắc lược Hồ địa. Tương tự Vân Trung, Cửu Nguyên nam tập Hàm Dương, vu thị trá tự vi sứ giả, nhập Tần, dục dĩ quan Tần địa hình cập Tần vương chi vi nhân. Tần vương bất tri, dĩ nhi quái kì trạng thậm vĩ, phi nhân thần chi độ, sử nhân trục chi; chủ phụ hành dĩ thoát quan hĩ, thẩm vấn chi, nãi chủ phụ dã. Tần nhân đại kinh.

    Chú thích
    1- : Triệu Hà 赵何, tức Triệu Huệ Văn Vương 赵惠文王.

    Dịch nghĩa
              Ngày Mậu Thân tháng 5 (ngày 26), Triệu Vũ Linh Vương cử hành đại triều hội tại đông cung, đem ngôi vị quốc quân truyền cho Triệu Hà. Triệu Hà hoàn tất lễ nghi tế tự tông miếu, lên triều xử lí chính sự, đại phu dưới tay ông đều trở thành đại thần của triều đình. Triệu Hà lại phong Phì Nghĩa làm Tướng quốc, đồng thời tôn xưng là thầy của quốc quân. Triệu Vũ Linh Vương tự xưng là “chủ phụ”. Triệu chủ phụ muốn để cho con chủ trì sự việc trong nước, riêng bản thân ông chuẩn bị mặc Hồ phục dẫn văn võ đại thần đi đánh lãnh địa của người Hồ phía tây bắc. Theo kế hoạch từ Vân Trung, Cửu Nguyên hướng về phía nam tập kích đô thành Hàm Dương của Tần, thế là ông tự giả trang thành sứ giả, đến Tần, muốn nhân cơ hội đó khảo sát địa hình nước Tần cùng con người Tần vương. Tần vương không biết, sau sự việc, cảm thấy người đó tướng mạo cao lớn khác thường, có phong độ mà bề tôi không thể có được, vội sai người đuổi theo; chủ phụ lúc bấy giờ đã ra khỏi biên giới nước Tần. Trải qua điều tra, người nước Tần mới biết người đó chính là Triệu chủ phụ, người nước Tần đều kinh hãi thất sắc.

                                                                 Huỳnh Chương Hưng
                                                                 Quy Nhơn 20/5/2018

    Nguồn
    TƯ TRỊ THÔNG GIÁM
    资治通鉴
    Bắc Tống . Tư Mã Quang 司马光
    Chủ biên: Nhậm Tư Vũ 任思武
    Bắc Kinh . Trung Quốc Hoa kiều xuất bản xã, 2013

    Thứ Bảy, 19 tháng 5, 2018

    NGUỒN GỐC HỌ TƯỞNG

              Nguồn gốc họ  Tưởng tương đối đơn nhất, chủ yếu xuất phát từ tính Cơ , lấy tên nước làm tính.
              Đầu thời Tây Chu, người con thứ 3 của Chu Công Đán 周公旦tên là Bá Linh 伯龄, được phong tại đất Tưởng , kiến lập nên nước Tưởng, là một nước nhỏ của triều Chu. Về sau nước Tưởng bị nước Sở diệt, con cháu đời sau của Bá Linh lấy tên nước cũ làm thị xưng là Tưởng thị 蒋氏.
              Họ Tưởng ước chiếm 0,47% nhân khẩu của dân tộc Hán trong cả nước, chiếm vị trí thứ 43, là tính thị phương nam tương đối điển hình, các tỉnh như Tứ Xuyên, Giang Tô, Hồ Nam, Triết Giang có nhiều họ Tưởng.

    Danh nhân các đời
              Thời Tam Quốc, Thục Hán có Đại tướng quân Tưởng Uyển 蒋琬. Bắc Nguỵ có mĩ thuật gia Tưởng Thiếu Du 蒋少游. Đời Đường có Tể tướng Tưởng Thân 蒋伸. Đời Tống có thi nhân, thư pháp gia Tưởng Xán 蒋璨, từ nhân Tưởng Tiệp 蒋捷. Đời Minh có hoạ gia Tưởng Thời Hành 蒋时行. Đời Thanh có Đại học sĩ, Hoạ gia Tưởng Đình Tích 蒋廷锡, văn học gia Tưởng Sĩ Thuyên 蒋士铨. Hiện đại có Tổng tài Quốc Dân đảng, chủ tịch chính phủ Quốc Dân đảng Tưởng Giới Thạch 蒋介石.

                                                             Huỳnh Chương Hưng
                                                             Quy Nhơn 19/5/2018

    Nguyên tác Trung văn
     TƯỞNG TÍNH UYÊN NGUYÊN
    蒋姓渊源
    Trong quyển
    BÁCH GIA TÍNH
    百家姓
    Biên soạn: Triệu Dương 赵阳
    Cát Lâm Đại học xuất bản xã, 2005 

    Dịch thuật: Nguồn gốc họ Tưởng (Bách gia tính)

    Đăng lúc  22:41  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    NGUỒN GỐC HỌ TƯỞNG

              Nguồn gốc họ  Tưởng tương đối đơn nhất, chủ yếu xuất phát từ tính Cơ , lấy tên nước làm tính.
              Đầu thời Tây Chu, người con thứ 3 của Chu Công Đán 周公旦tên là Bá Linh 伯龄, được phong tại đất Tưởng , kiến lập nên nước Tưởng, là một nước nhỏ của triều Chu. Về sau nước Tưởng bị nước Sở diệt, con cháu đời sau của Bá Linh lấy tên nước cũ làm thị xưng là Tưởng thị 蒋氏.
              Họ Tưởng ước chiếm 0,47% nhân khẩu của dân tộc Hán trong cả nước, chiếm vị trí thứ 43, là tính thị phương nam tương đối điển hình, các tỉnh như Tứ Xuyên, Giang Tô, Hồ Nam, Triết Giang có nhiều họ Tưởng.

    Danh nhân các đời
              Thời Tam Quốc, Thục Hán có Đại tướng quân Tưởng Uyển 蒋琬. Bắc Nguỵ có mĩ thuật gia Tưởng Thiếu Du 蒋少游. Đời Đường có Tể tướng Tưởng Thân 蒋伸. Đời Tống có thi nhân, thư pháp gia Tưởng Xán 蒋璨, từ nhân Tưởng Tiệp 蒋捷. Đời Minh có hoạ gia Tưởng Thời Hành 蒋时行. Đời Thanh có Đại học sĩ, Hoạ gia Tưởng Đình Tích 蒋廷锡, văn học gia Tưởng Sĩ Thuyên 蒋士铨. Hiện đại có Tổng tài Quốc Dân đảng, chủ tịch chính phủ Quốc Dân đảng Tưởng Giới Thạch 蒋介石.

                                                             Huỳnh Chương Hưng
                                                             Quy Nhơn 19/5/2018

    Nguyên tác Trung văn
     TƯỞNG TÍNH UYÊN NGUYÊN
    蒋姓渊源
    Trong quyển
    BÁCH GIA TÍNH
    百家姓
    Biên soạn: Triệu Dương 赵阳
    Cát Lâm Đại học xuất bản xã, 2005 

    Thứ Sáu, 18 tháng 5, 2018



    蝶恋花
    黄菊开时伤聚散
    曾记花前
    共说深深愿
    重见金英人未见
    相思一夜天涯远
    罗袖同心闲结遍
    带易成双
    人恨成双晚
    欲写彩笺书别怨
    泪痕早已先书满
                                                                                (晏几道)

    ĐIỆP LUYẾN HOA
    Hoàng cúc khai thời thương tụ tán,
    Tằng ký hoa tiền,
    Cộng thuyết thâm thâm nguyện.
    Trùng kiến kim anh nhân vị kiến,
    Tương tư nhất dạ thiên nhai viễn.
    La tụ đồng tâm nhàn kết biến,
    Đới dị thành song,
    Nhân hận thành song vãn.
    Dục tả thái tiên thư biệt oán
    Lệ ngân tảo dĩ tiên thư mãn
                                                                         (Yến Cơ Đạo)

    ĐIỆP LUYẾN HOA
    Cúc vàng đua nở buồn tan hợp
    Nhớ lúc trước hoa
    Cùng thốt lời hẹn ước
    Lại thấy hoa vàng người chẳng thấy
    Trọn đêm thương nhớ nơi xa ấy
    Hai chữ “Đồng tâm” đầy tay áo
    Dãi áo dễ thành đôi
    Người hận thành đôi muộn
    Muốn viết dòng thư ghi nỗi oán
    Lệ đà sớm đẫm giấy hoa tiên

    Chú của người dịch
    Yến Cơ Đạo 晏几道 (1030? – 1106?): tự Thúc Nguyên 叔原, hiệu Tiểu Sơn 小山, người Lâm Xuyên 临川 (nay là Phủ Châu 抚州 Giang Tây 江西), con của Yến Thù 晏殊, từng giữ các chức như Hứa Điền trấn giám phủ Dĩnh Xương 颖昌, Thôi quan phủ Khai Phong 开封. Một đời sĩ đồ thất ý, về già gia đạo sa sút. Ông giỏi về từ, từ phong của ông uyển chuyển, đa phần là những tác phẩm nhớ về những niềm vui ngày trước.  Yến Cơ Đạo là một trong những đại biểu của phái từ Uyển ước. Tác phẩm có Tiểu Sơn từ 小山词
    Theo Tống từ tam bách thủ từ điển宋词三百首辞典
    Biên soạn: Lâm Thân Thanh 林申清
    Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 1999.

                                                                                  Huỳnh Chương Hưng
                                                                                  Quy Nhơn 18/5/2018

    Nguồn
    TRUNG QUỐC VĂN HỌC PHÁT TRIỂN SỬ
    中国文学发展史
    Tác giả: Lưu Đại Kiệt 刘大杰
    Thiên Tân: Bách hoa văn nghệ xuấ bản xã, 2007

    Dịch thuật: Điệp luyến hoa (Yến Cơ Đạo)

    Đăng lúc  21:58  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »



    蝶恋花
    黄菊开时伤聚散
    曾记花前
    共说深深愿
    重见金英人未见
    相思一夜天涯远
    罗袖同心闲结遍
    带易成双
    人恨成双晚
    欲写彩笺书别怨
    泪痕早已先书满
                                                                                (晏几道)

    ĐIỆP LUYẾN HOA
    Hoàng cúc khai thời thương tụ tán,
    Tằng ký hoa tiền,
    Cộng thuyết thâm thâm nguyện.
    Trùng kiến kim anh nhân vị kiến,
    Tương tư nhất dạ thiên nhai viễn.
    La tụ đồng tâm nhàn kết biến,
    Đới dị thành song,
    Nhân hận thành song vãn.
    Dục tả thái tiên thư biệt oán
    Lệ ngân tảo dĩ tiên thư mãn
                                                                         (Yến Cơ Đạo)

    ĐIỆP LUYẾN HOA
    Cúc vàng đua nở buồn tan hợp
    Nhớ lúc trước hoa
    Cùng thốt lời hẹn ước
    Lại thấy hoa vàng người chẳng thấy
    Trọn đêm thương nhớ nơi xa ấy
    Hai chữ “Đồng tâm” đầy tay áo
    Dãi áo dễ thành đôi
    Người hận thành đôi muộn
    Muốn viết dòng thư ghi nỗi oán
    Lệ đà sớm đẫm giấy hoa tiên

    Chú của người dịch
    Yến Cơ Đạo 晏几道 (1030? – 1106?): tự Thúc Nguyên 叔原, hiệu Tiểu Sơn 小山, người Lâm Xuyên 临川 (nay là Phủ Châu 抚州 Giang Tây 江西), con của Yến Thù 晏殊, từng giữ các chức như Hứa Điền trấn giám phủ Dĩnh Xương 颖昌, Thôi quan phủ Khai Phong 开封. Một đời sĩ đồ thất ý, về già gia đạo sa sút. Ông giỏi về từ, từ phong của ông uyển chuyển, đa phần là những tác phẩm nhớ về những niềm vui ngày trước.  Yến Cơ Đạo là một trong những đại biểu của phái từ Uyển ước. Tác phẩm có Tiểu Sơn từ 小山词
    Theo Tống từ tam bách thủ từ điển宋词三百首辞典
    Biên soạn: Lâm Thân Thanh 林申清
    Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 1999.

                                                                                  Huỳnh Chương Hưng
                                                                                  Quy Nhơn 18/5/2018

    Nguồn
    TRUNG QUỐC VĂN HỌC PHÁT TRIỂN SỬ
    中国文学发展史
    Tác giả: Lưu Đại Kiệt 刘大杰
    Thiên Tân: Bách hoa văn nghệ xuấ bản xã, 2007

    Thứ Năm, 17 tháng 5, 2018

    TÔN TẪN
    (tiếp theo kì 2)

              Nguỵ Huệ Vương nhìn thấy bức thư do đích thân Tôn Tẫn viết, rất giận dữ.
              Bàng Quyên nói rằng:
              - Tổ phụ Tôn Tẫn là Tôn Vũ từng là Đại tướng  nước Ngô, về sau vẫn không thiên về nước Tề sao. Ai lại bằng lòng phản bội tổ quốc của mình chứ?  Đại vương trọng dụng Tôn Tẫn, cũng bằng với việc nuôi hổ gây hoạ. Nếu Tôn Tẫn được nước Tề trọng dụng, tất sẽ cùng Nguỵ tranh bá. Chi bằng đại vương giết Tôn Tẫn đi để tuyệt hậu hoạn.
              Nguỵ Huệ Vương bảo rằng:
              - Tôn Tẫn theo lời mời mà tới, nếu ta giết Tôn Tẫn, e rằng không có ai dám đến với ta.
              Bàng Quyên nói rằng:
              - Thần có một kế, có thể khảo nghiệm.
              Nguỵ Huệ Vương bảo:
              - Có cao kiến gì?
              Bàng Quyên đáp:
              - Thần đi khuyên Tôn Tẫn, nếu chịu ở lại nước Nguỵ, đại vương phong thưởng cho ông ta, nếu không chịu ở lại, đại vương giao cho thần xử trí.
              Nguỵ Huệ Vương đồng ý.
              Bàng Quyên đến phủ Tôn Tẫn, hỏi có phải là nước Tề cho người tới không? Tôn Tẫn cứ theo sự thực mà trả lời. Bàng Quyên hướng đến Tôn Tẫn biểu  thị vui mừng, đồng thời khuyên Tôn Tẫn giả xin về quên thăm người thân. Hiện giờ không có chiến tranh, Tôn Tẫn động lòng hồi hương.
              Buổi triều sớm ngày hôm sau, Tôn Tẫn dâng biểu xin giả hồi hương thăm người thân và tảo mộ. Nguỵ Huệ Vương đại nộ, ghép tội tư thông với địch, ra lệnh bắt lại giao cho Bàng Quyên hỏi tội. Bàng Quyên thấy Tôn Tẫn, vờ thất kinh, nói rằng sẽ đi đến chỗ Nguỵ Huệ Vương cầu xin. Tôn Tẫn nói rằng:
              - Hết thảy nhờ hiền đệ cứu giúp.
              Bàng Quyên vào cung nói với Nguỵ Huệ Vương:
              - Theo ngu kiến của thần, chi bằng xử “nguyệt hình” 刖刑  để thành
    người tàn phế. Như vậy đại vương sẽ không bị tiếng ác giết hiền tài, há chẳng phải là diệu kế sao?
              Nguỵ Huệ Vương đồng ý.
              Bàng Quyên lui về nói với Tôn Tẫn:
              - Đại vương muốn giết anh, em thỉnh cầu một lần nữa, mới đổi “tử hình” sang “nguyệt hình”. Anh đừng trách em, em đã làm hết sức mình!
              Nói xong, Bàng Quyên khóc rơi nước mắt lộ vẻ đau buồn. Tôn Tẫn cảm kích ơn cứu mạng của Bàng Quyên. Bàng Quyên hạ lệnh hành hình, ra lệnh xong liền đi tránh.
              Người chấp hành hình phạt khoét xương 2 đầu gối của Tôn Tẫn. Tôn Tẫn đau đến mức ngất đi, trên mặt còn thích 4 chữ “tư thông ngoại quốc”, dùng mực đồ lên. Bàng Quyên ôm lấy Tôn Tẫn khóc lớn, lại còn tận tính chăm sóc, bôi thuốc, đưa cơm đưa nước Tôn Tẫn.
              Hai tháng sau, vết thương của Tôn Tẫn giảm dần, nhưng suốt đời còn lại thành tàn phế. Tôn Tẫn tuy thành tàn phế, nhưng cảm kích Bàng Quyên vạn phần. Bàng Quyên thỉnh cầu Tôn Tẫn trao bộ Tôn Tử binh pháp cũng những chú giải. Tôn Tẫn không nỡ cự tuyệt. Từ đó, Tôn Tẫn dựa vào trí nhớ khắc lại dần từng chương.
              Bàng Quyên sai Thành Nhi 诚儿hầu hạ và giám sát Tôn Tẫn. Hàng ngày Thành Nhi đều bẩm báo với Bàng Quyên về những ngôn hành của Tôn Tẫn. Con người Tôn Tẫn hoà khí, trước giờ chưa từng giận với Thành Nhi, mà còn chịu khó dạy cho binh pháp, xem Thành Nhi như là anh em. Ngày nọ, gia nô Từ Giáp 徐甲 trong lúc vô ý lỡ miệng nói:
              - Đợi Tôn Tẫn khắc xong “Tôn Tử bính pháp” chúa công sẽ cho ông ta chết đói.
              Thành Nhi cảm thấy rất giận, lén nói lại với Tôn Tẫn. Tôn Tẫn nghe qua suốt đêm không ngủ, tìm kế thoát thân. Lúc bấy giờ, Tôn Tẫn mới nhớ đến túi gấm mà sư phụ trao cho, liền mở ra xem, bên trong là một bức lụa vàng, viết 3 chữ “trá phong ma”  诈疯魔 (giả điên).
              Sáng sớm hôm sau, Thành Nhi đem đến rất nhiều rượu và thức ăn, Tôn Tẫn đem rượu và thức ăn vung trên mặt đất, lại đem những trúc giản chưa khắc xong đốt đi, miệng không ngừng chửi rủa, lời lẽ không đầu đuôi thứ tự gì cả.
              Hành động bất thường của Tôn Tẫn khiến Bàng Quyên cảnh giác, Bàng Quyên đích thân đến xem xét. Tôn Tẫn đầu tóc rối bời, hai mắt nhìn thẳng Bàng Quyên rồi hét lớn:
              - Sư phụ! sư phụ mau đến cứu đệ tử!
              Bàng Quyên nói rằng:
              - Em là Bàng Quyên, không phải sư phụ.
              Tôn Tẫn nói:
              - Đừng gạt con, con có thiên binh thiên tướng, Nguỵ Vương muốn giết con, thật là ác độc, đừng gạt con!
              Tôn Tẫn lăn lộn trên mặt đất, miệng nói lảm nhảm.
              Bàng Quyên phái một số mĩ nữ đến hầu hạ Tôn Tẫn. Ngày kia, có một mĩ nữ lén nói với Tôn Tẫn:
             - Em rất đồng tình với cảnh ngộ của tiên sinh. Em muốn cứu tiên sinh, tiên sinh mau ăn đi, em giúp tiên sinh bỏ trốn.
              Tôn Tẫn phun vào mặt cô ta một bãi đờm, nói rằng:
              - Nàng là yêu quái, ta không ăn thuốc độc! ở chỗ của ta có thức ăn ngon!
              Cô ta sau khi về đã báo lại với Bàng Quyên.  
              Bàng Quyên sai Thành Nhi kéo Tôn Tẫn đến chuồng heo. Trong chuồng, Tôn Tẫn nằm nghiêng không chịu đi, lại còn bốc từng nắm lớn phân heo nhét vào miệng, nói lảm nhảm rồi bò tới bò lui.
              Một ngày nọ, Bàng Quyên ngầm sai người đưa rượu và thức ăn. Người nọ nói là lén đem đến, tỏ ý thương xót Tôn Tẫn bị khoét đầu gối . Tôn Tẫn mắng rằng:
              - Ngươi đến bỏ độc ta chăng?
              Bèn đem rượu và thức ăn quăng đi. Người nọ thuận tay nhặt lấy phân heo đưa cho Tôn Tẫn. Tôn Tẫn không do dự ăn liền. Người nọ báo lại Bàng Quyên như thực.
              Bàng Quyên than rằng:
              - Hắn điên thật rồi! Ta vĩnh viễn không có được bộ “Tôn Tử binh pháp”!
              Một tháng sau, Tôn Tẫn gầy ốm chỉ còn da bọc xương, lúc nằm ngủ trông giống thây ma. Bàng Quyên vẫn sai Thành Nhi hàng ngày bẩm báo lại tình hình. Tôn Tẫn hành tung vô định, sáng sớm ra đi chiều tối mới trở về, lấy chuồng heo làm nhà, có khi suốt đêm không về, ngủ ở bên đường.
              Ngày nọ, Mặc Tử vân du đến nước Tề, ở nhờ nhà đại thần Điền Kị 田忌. Chẳng bao lâu, đệ tử Cầm Hoạt 禽滑 từ nước Nguỵ trở về, Mặc Địch hỏi:
              - Tôn Tẫn ở nước Nguỵ có tốt không?
              Cầm Hoạt kể lại sự việc Tôn Tẫn bị khoét đầu gối. Mặc Địch than rằng:
              - Ta vốn muốn giúp Tôn Tẫn, nào ngờ lại hại Tôn Tẫn.
              Mặc Địch đem chuyện của Tôn Tẫn nói lại với Điền Kị, Điền Kị rất đồng cảm, vội dâng tấu lên Tề Uy Vương. Tề Uy Vương bảo rằng:
              - Không ngờ nước Tề có bậc kì tài như thế, sao lại để cho ông ấy chết ở tha hương? Quả nhân tức khắc phát binh đón Tôn Tẫn về nước.
              Điền Kị khuyên rằng:
              - Nước Nguỵ làm sao lại thả Tôn Tẫn về lại nước Tề? Đại vương chỉ có thể dùng mưu trí, không thể cướp lấy.
              Tề Uy Vương lệnh cho khách khanh Thuần Vu Khôn 淳于髡làm sứ giả, Cầm Hoạt làm tuỳ tùng, mượn cớ dâng trà đến nước Nguỵ để cứu Tôn Tẫn.
              Thuần Vu Khôn đến nước Nguỵ bái qua Nguỵ Huệ Vương, dâng lên mấy thùng trà nổi tiếng. Nguỵ Huệ Vương rất vui mừng, chuẩn bị khách quán cho Thuần Vu Khôn. Tuỳ tùng Cầm Hoạt lén ra ngoài tìm Tôn Tẫn.
              Một buổi tối nọ, Cầm Hoạt trông thấy Tôn Tẫn đang ngồi bên lan can giếng, liền bước tới nói nhỏ:
              - Tôi là Cầm Hoạt, học trò của Mặc Tử, ông còn nhớ tôi không?  Ân sư đã đem sự việc của ông bẩm báo lên Tề Uy Vương, Tề Uy Vương phái chúng tôi
    đến cứu ông đây. Ông chớ nên nghi ngờ tôi.
              Tôn Tẫn không nói tiếng nào, qua một lúc lâu, Tôn Tẫn nói:
              - Bàng Quyên tâm địa độc ác, e rằng tôi thoát không được! 
              Cầm Hoạt bảo rằng:
              - Ông yên tâm, chúng tôi có cách.
             Tôn Tẫn cho rằng, đây có thể là cơ hội trốn thoát duy nhất của mình liền gật đầu. Một lúc sau, hai người hẹn địa điểm và thời gian ngày hôm sau chạy trốn.
              Ngày hôm sau, Thuần Vu Khôn khởi trình về nước. Nguỵ Hệ Vương đích thân mang rượu đưa tiễn, Bàng Quyên cũng mang rượu đưa tiễn. Cầm Hoạt sớm đã giấu Tôn Tẫn trong xe, sai tuỳ tùng Vương Nghĩa 王义mặc quần áo của Tôn Tẫn, để tóc rối bù, dùng bùn đen bôi lên mặt, giả trang thành Tôn Tẫn.
              Đến lúc khởi hành, Cầm Hoạt đánh xe chạy nhanh, Thuần Vu Khôn kèm phía sau, cuối cùng đến được biên giới nước Tề.
              Hai ngày sau, Thành Nhi mới bẩm báo với Bàng Quyên: bên cạnh giếng sâu để lại một chiếc giày của Tôn Tẫn, nói rằng Tôn Tẫn đã nhảy xuống giếng, Bàng Quyên tin cho là thật.  (còn tiếp)

                                                                    Huỳnh Chương Hưng
                                                                    Quy Nhơn 17/5/2018

    Nguyên tác
    TÔN TẪN
    孙膑
    Trong quyển
    HỔ CHI UY
    虎之威
    Tác giả: Hàn Tố Văn 韩素文
    Bắc Kinh: Trung Quốc Trường An xuất bản xã, 2006.

    Dịch thuật: Tôn Tẫn (tiếp theo kì 2)

    Đăng lúc  22:48  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    TÔN TẪN
    (tiếp theo kì 2)

              Nguỵ Huệ Vương nhìn thấy bức thư do đích thân Tôn Tẫn viết, rất giận dữ.
              Bàng Quyên nói rằng:
              - Tổ phụ Tôn Tẫn là Tôn Vũ từng là Đại tướng  nước Ngô, về sau vẫn không thiên về nước Tề sao. Ai lại bằng lòng phản bội tổ quốc của mình chứ?  Đại vương trọng dụng Tôn Tẫn, cũng bằng với việc nuôi hổ gây hoạ. Nếu Tôn Tẫn được nước Tề trọng dụng, tất sẽ cùng Nguỵ tranh bá. Chi bằng đại vương giết Tôn Tẫn đi để tuyệt hậu hoạn.
              Nguỵ Huệ Vương bảo rằng:
              - Tôn Tẫn theo lời mời mà tới, nếu ta giết Tôn Tẫn, e rằng không có ai dám đến với ta.
              Bàng Quyên nói rằng:
              - Thần có một kế, có thể khảo nghiệm.
              Nguỵ Huệ Vương bảo:
              - Có cao kiến gì?
              Bàng Quyên đáp:
              - Thần đi khuyên Tôn Tẫn, nếu chịu ở lại nước Nguỵ, đại vương phong thưởng cho ông ta, nếu không chịu ở lại, đại vương giao cho thần xử trí.
              Nguỵ Huệ Vương đồng ý.
              Bàng Quyên đến phủ Tôn Tẫn, hỏi có phải là nước Tề cho người tới không? Tôn Tẫn cứ theo sự thực mà trả lời. Bàng Quyên hướng đến Tôn Tẫn biểu  thị vui mừng, đồng thời khuyên Tôn Tẫn giả xin về quên thăm người thân. Hiện giờ không có chiến tranh, Tôn Tẫn động lòng hồi hương.
              Buổi triều sớm ngày hôm sau, Tôn Tẫn dâng biểu xin giả hồi hương thăm người thân và tảo mộ. Nguỵ Huệ Vương đại nộ, ghép tội tư thông với địch, ra lệnh bắt lại giao cho Bàng Quyên hỏi tội. Bàng Quyên thấy Tôn Tẫn, vờ thất kinh, nói rằng sẽ đi đến chỗ Nguỵ Huệ Vương cầu xin. Tôn Tẫn nói rằng:
              - Hết thảy nhờ hiền đệ cứu giúp.
              Bàng Quyên vào cung nói với Nguỵ Huệ Vương:
              - Theo ngu kiến của thần, chi bằng xử “nguyệt hình” 刖刑  để thành
    người tàn phế. Như vậy đại vương sẽ không bị tiếng ác giết hiền tài, há chẳng phải là diệu kế sao?
              Nguỵ Huệ Vương đồng ý.
              Bàng Quyên lui về nói với Tôn Tẫn:
              - Đại vương muốn giết anh, em thỉnh cầu một lần nữa, mới đổi “tử hình” sang “nguyệt hình”. Anh đừng trách em, em đã làm hết sức mình!
              Nói xong, Bàng Quyên khóc rơi nước mắt lộ vẻ đau buồn. Tôn Tẫn cảm kích ơn cứu mạng của Bàng Quyên. Bàng Quyên hạ lệnh hành hình, ra lệnh xong liền đi tránh.
              Người chấp hành hình phạt khoét xương 2 đầu gối của Tôn Tẫn. Tôn Tẫn đau đến mức ngất đi, trên mặt còn thích 4 chữ “tư thông ngoại quốc”, dùng mực đồ lên. Bàng Quyên ôm lấy Tôn Tẫn khóc lớn, lại còn tận tính chăm sóc, bôi thuốc, đưa cơm đưa nước Tôn Tẫn.
              Hai tháng sau, vết thương của Tôn Tẫn giảm dần, nhưng suốt đời còn lại thành tàn phế. Tôn Tẫn tuy thành tàn phế, nhưng cảm kích Bàng Quyên vạn phần. Bàng Quyên thỉnh cầu Tôn Tẫn trao bộ Tôn Tử binh pháp cũng những chú giải. Tôn Tẫn không nỡ cự tuyệt. Từ đó, Tôn Tẫn dựa vào trí nhớ khắc lại dần từng chương.
              Bàng Quyên sai Thành Nhi 诚儿hầu hạ và giám sát Tôn Tẫn. Hàng ngày Thành Nhi đều bẩm báo với Bàng Quyên về những ngôn hành của Tôn Tẫn. Con người Tôn Tẫn hoà khí, trước giờ chưa từng giận với Thành Nhi, mà còn chịu khó dạy cho binh pháp, xem Thành Nhi như là anh em. Ngày nọ, gia nô Từ Giáp 徐甲 trong lúc vô ý lỡ miệng nói:
              - Đợi Tôn Tẫn khắc xong “Tôn Tử bính pháp” chúa công sẽ cho ông ta chết đói.
              Thành Nhi cảm thấy rất giận, lén nói lại với Tôn Tẫn. Tôn Tẫn nghe qua suốt đêm không ngủ, tìm kế thoát thân. Lúc bấy giờ, Tôn Tẫn mới nhớ đến túi gấm mà sư phụ trao cho, liền mở ra xem, bên trong là một bức lụa vàng, viết 3 chữ “trá phong ma”  诈疯魔 (giả điên).
              Sáng sớm hôm sau, Thành Nhi đem đến rất nhiều rượu và thức ăn, Tôn Tẫn đem rượu và thức ăn vung trên mặt đất, lại đem những trúc giản chưa khắc xong đốt đi, miệng không ngừng chửi rủa, lời lẽ không đầu đuôi thứ tự gì cả.
              Hành động bất thường của Tôn Tẫn khiến Bàng Quyên cảnh giác, Bàng Quyên đích thân đến xem xét. Tôn Tẫn đầu tóc rối bời, hai mắt nhìn thẳng Bàng Quyên rồi hét lớn:
              - Sư phụ! sư phụ mau đến cứu đệ tử!
              Bàng Quyên nói rằng:
              - Em là Bàng Quyên, không phải sư phụ.
              Tôn Tẫn nói:
              - Đừng gạt con, con có thiên binh thiên tướng, Nguỵ Vương muốn giết con, thật là ác độc, đừng gạt con!
              Tôn Tẫn lăn lộn trên mặt đất, miệng nói lảm nhảm.
              Bàng Quyên phái một số mĩ nữ đến hầu hạ Tôn Tẫn. Ngày kia, có một mĩ nữ lén nói với Tôn Tẫn:
             - Em rất đồng tình với cảnh ngộ của tiên sinh. Em muốn cứu tiên sinh, tiên sinh mau ăn đi, em giúp tiên sinh bỏ trốn.
              Tôn Tẫn phun vào mặt cô ta một bãi đờm, nói rằng:
              - Nàng là yêu quái, ta không ăn thuốc độc! ở chỗ của ta có thức ăn ngon!
              Cô ta sau khi về đã báo lại với Bàng Quyên.  
              Bàng Quyên sai Thành Nhi kéo Tôn Tẫn đến chuồng heo. Trong chuồng, Tôn Tẫn nằm nghiêng không chịu đi, lại còn bốc từng nắm lớn phân heo nhét vào miệng, nói lảm nhảm rồi bò tới bò lui.
              Một ngày nọ, Bàng Quyên ngầm sai người đưa rượu và thức ăn. Người nọ nói là lén đem đến, tỏ ý thương xót Tôn Tẫn bị khoét đầu gối . Tôn Tẫn mắng rằng:
              - Ngươi đến bỏ độc ta chăng?
              Bèn đem rượu và thức ăn quăng đi. Người nọ thuận tay nhặt lấy phân heo đưa cho Tôn Tẫn. Tôn Tẫn không do dự ăn liền. Người nọ báo lại Bàng Quyên như thực.
              Bàng Quyên than rằng:
              - Hắn điên thật rồi! Ta vĩnh viễn không có được bộ “Tôn Tử binh pháp”!
              Một tháng sau, Tôn Tẫn gầy ốm chỉ còn da bọc xương, lúc nằm ngủ trông giống thây ma. Bàng Quyên vẫn sai Thành Nhi hàng ngày bẩm báo lại tình hình. Tôn Tẫn hành tung vô định, sáng sớm ra đi chiều tối mới trở về, lấy chuồng heo làm nhà, có khi suốt đêm không về, ngủ ở bên đường.
              Ngày nọ, Mặc Tử vân du đến nước Tề, ở nhờ nhà đại thần Điền Kị 田忌. Chẳng bao lâu, đệ tử Cầm Hoạt 禽滑 từ nước Nguỵ trở về, Mặc Địch hỏi:
              - Tôn Tẫn ở nước Nguỵ có tốt không?
              Cầm Hoạt kể lại sự việc Tôn Tẫn bị khoét đầu gối. Mặc Địch than rằng:
              - Ta vốn muốn giúp Tôn Tẫn, nào ngờ lại hại Tôn Tẫn.
              Mặc Địch đem chuyện của Tôn Tẫn nói lại với Điền Kị, Điền Kị rất đồng cảm, vội dâng tấu lên Tề Uy Vương. Tề Uy Vương bảo rằng:
              - Không ngờ nước Tề có bậc kì tài như thế, sao lại để cho ông ấy chết ở tha hương? Quả nhân tức khắc phát binh đón Tôn Tẫn về nước.
              Điền Kị khuyên rằng:
              - Nước Nguỵ làm sao lại thả Tôn Tẫn về lại nước Tề? Đại vương chỉ có thể dùng mưu trí, không thể cướp lấy.
              Tề Uy Vương lệnh cho khách khanh Thuần Vu Khôn 淳于髡làm sứ giả, Cầm Hoạt làm tuỳ tùng, mượn cớ dâng trà đến nước Nguỵ để cứu Tôn Tẫn.
              Thuần Vu Khôn đến nước Nguỵ bái qua Nguỵ Huệ Vương, dâng lên mấy thùng trà nổi tiếng. Nguỵ Huệ Vương rất vui mừng, chuẩn bị khách quán cho Thuần Vu Khôn. Tuỳ tùng Cầm Hoạt lén ra ngoài tìm Tôn Tẫn.
              Một buổi tối nọ, Cầm Hoạt trông thấy Tôn Tẫn đang ngồi bên lan can giếng, liền bước tới nói nhỏ:
              - Tôi là Cầm Hoạt, học trò của Mặc Tử, ông còn nhớ tôi không?  Ân sư đã đem sự việc của ông bẩm báo lên Tề Uy Vương, Tề Uy Vương phái chúng tôi
    đến cứu ông đây. Ông chớ nên nghi ngờ tôi.
              Tôn Tẫn không nói tiếng nào, qua một lúc lâu, Tôn Tẫn nói:
              - Bàng Quyên tâm địa độc ác, e rằng tôi thoát không được! 
              Cầm Hoạt bảo rằng:
              - Ông yên tâm, chúng tôi có cách.
             Tôn Tẫn cho rằng, đây có thể là cơ hội trốn thoát duy nhất của mình liền gật đầu. Một lúc sau, hai người hẹn địa điểm và thời gian ngày hôm sau chạy trốn.
              Ngày hôm sau, Thuần Vu Khôn khởi trình về nước. Nguỵ Hệ Vương đích thân mang rượu đưa tiễn, Bàng Quyên cũng mang rượu đưa tiễn. Cầm Hoạt sớm đã giấu Tôn Tẫn trong xe, sai tuỳ tùng Vương Nghĩa 王义mặc quần áo của Tôn Tẫn, để tóc rối bù, dùng bùn đen bôi lên mặt, giả trang thành Tôn Tẫn.
              Đến lúc khởi hành, Cầm Hoạt đánh xe chạy nhanh, Thuần Vu Khôn kèm phía sau, cuối cùng đến được biên giới nước Tề.
              Hai ngày sau, Thành Nhi mới bẩm báo với Bàng Quyên: bên cạnh giếng sâu để lại một chiếc giày của Tôn Tẫn, nói rằng Tôn Tẫn đã nhảy xuống giếng, Bàng Quyên tin cho là thật.  (còn tiếp)

                                                                    Huỳnh Chương Hưng
                                                                    Quy Nhơn 17/5/2018

    Nguyên tác
    TÔN TẪN
    孙膑
    Trong quyển
    HỔ CHI UY
    虎之威
    Tác giả: Hàn Tố Văn 韩素文
    Bắc Kinh: Trung Quốc Trường An xuất bản xã, 2006.

    Thứ Tư, 16 tháng 5, 2018

    TÔN TẪN
    (kì 2)

    GẶP PHẢI HÌNH PHẠT TÀN KHỐC,
    GIẢ VỜ ĐIÊN DẠI ĐỂ THOÁT KHỎI MIỆNG CỌP

             Bàng Quyên 庞涓về lại quê nhà ở nước Nguỵ được vài ngày, lại chuyển đến Đại Lương 大梁, tìm người giúp mình tiến cử bái kiến Nguỵ Huệ Vương 魏惠王. Nguỵ Huệ Vương thấy Bàng Quyên có vẻ như một nhân tài, tinh thông binh pháp, lại là cao đồ của Quỷ Cốc Tử uy chấn thiên hạ, liền coi trọng.
              Từ đó, Bàng Quyên thường đến cung cùng Nguỵ Huệ Vương bàn luận thiên hạ đại sự, rất được Nguỵ Huệ Vương sủng tín. Nguỵ Huệ Vương bái Bàng Quyên làm Thượng tướng. Con Bàng Quyên là Bàng Anh 庞英, cháu là Bàng Thông 庞葱, Bàng Mao 庞茅 cũng đều được bái làm tướng quân.
              Sau khi Bàng Quyên nắm giữ binh quyền đã chế định một kế hoạch quân sự to lớn, Nguỵ Huệ Vương nhanh chóng phê chuẩn. Bàng Quyên huấn luyện được một đội quân lớn mạnh. Một ngày nọ, Nguỵ Huệ Vương lệnh cho ông xuất chinh, quân Nguỵ tiến vào nước Vệ và nước Tống, công hạ nhiều thành trì, mở rộng cương thổ.
             Chẳng bao lâu, Bàng Quyên lại đem quân đánh lui sự xâm nhập của quân Tề, uy chấn thiên hạ. Bàng Quyên đắc ý, quên mất Tôn Tẫn đang ở tại Quỷ cốc.
              Lúc bấy giờ, Tôn Tẫn vẫn tại Quỷ cốc vùi đầu nghiên cứu bộ Tôn Tử binh pháp 孙子兵法. Quỷ cốc ở vào nơi hẻo lánh, người ít vào ra, bặt tăm tin tức. Ngày nọ, Mặc Tử 墨子vân du đến Quỷ cốc, bàn luận sự việc trong thiên hạ cùng Quỷ Cốc Tử. Tôn Tẫn cung kính bái kiến Mặc Tử, Mặc Tử hỏi rằng:
              - Anh vì sao mà chưa xuống núi?
              Tôn Tẫn đáp:
              - Lúc Bàng Quyên xuống núi có nói, sau khi Bàng Quyên làm quan ở nước Nguỵ, nhất định sẽ tiến cử tôi.
              Mặc Tử cười bảo rằng:
             - Hiện tại Bàng Quyên đã là Thượng tướng của nước Nguỵ, anh ta đã quên anh từ lâu rồi.
              Tôn Tẫn nói rằng:
              - Có lẽ Bàng Quyên quá bận, không có thời gian!
              Mặc Tử bảo rằng:
              - Qua mấy ngày nữa ta sẽ đi đến nước Nguỵ có chút việc, gặp Bàng Quyên sẽ hỏi giúp anh!
              Chẳng bao lâu, Mặc Tử vân du đến nước Nguỵ, gặp được Bàng Quyên, nói rằng Tôn Tẫn vẫn đang ở Quỷ cốc đợi Bàng Quyên tiến cử. Bàng Quyên sợ Tôn Tẫn được trọng dụng, cướp mất địa vị của mình, không muốn tiến cử Tôn Tẫn, nên lời nói không có chút thành ý nào.
              Mặc Tử bèn trực tiếp hướng đến Nguỵ Huệ Vương tiến cử Tôn Tẫn. Nguỵ Huệ Vương hỏi Mặc Tử:
              - Tài năng giữa Tôn Tẫn và Bàng Quyên ai cao ai thấp?
              Mặc Tử đáp:
              - Tôn Tẫn là cháu của Tôn Vũ, nghe nói đã được chân truyền của tổ phụ. Tôi xem tài năng của anh ta có thể trên cả Bàng Quyên.
              Nguỵ Huệ Vương triệu kiến Bàng Quyên, nói rằng:
              - Cô vương nghe nói khanh có một bạn học tên là Tôn Tẫn, khanh hãy vì quả nhân viết một phong thư mời anh ta đến.
              Bàng Quyên nghe qua ngầm chửi Mặc Tử nhiều chuyện.
              Bàng Quyên nói rằng:
              - Tôn Tẫn có tài hoa, nhưng anh ta là người nước Tề, e rằng không thể trung với nước Nguỵ, nên thần không dám tiến cử.
              Nguỵ Huệ Vương cười bảo rằng:
              - Nếu quả nhân có được Tôn Tẫn, tất nhiên trọng dụng. Anh ta sẽ cảm đội ơn đức, một lòng một dạ ra sức vì nước Nguỵ.
              Chẳng bao lâu, Tôn Tẫn nhận được thư của Bàng Quyên và lời mời từ sứ thần của Nguỵ Huệ Vương. Quỷ Cốc Tử tinh thông bốc thuật, bói cho Tôn Tẫn một quẻ, được biết Tôn Tẫn có nạn, nhưng thiên cơ không thể tiết lộ, đành trao cho Tôn Tẫn một cái túi gấm, dặn rằng lúc gặp hiểm nguy mới mở ra xem.
              Tôn Tẫn vô cùng cảm động, bái biệt Quỷ Cốc Tử, theo sứ giả xuống núi đến nước Nguỵ.
              Tôn Tẫn trước tiên đi gặp Bàng Quyên để cảm tạ.
              Bàng Quyên nói rằng:
              - Chúng ta là anh em, anh không nên khách sáo. Anh đến, em rất vui mừng.
              Ngày hôm sau, Tôn Tẫn vào cung yết kiến Nguỵ Huệ Vương. Nguỵ Huệ Vương hỏi Tôn Tẫn, Tôn Tẫn trả lời trôi chảy. Nguỵ Huệ Vương nói với Bàng Quyên bên cạnh:
              - Cô vương muốn bái Tôn Tẫn làm Phó nguyên soái, để giúp khanh chỉ huy tác chiến, khanh thấy thế nào?
              Bàng Quyên đáp rằng:
              - Thần và Tôn Tẫn là anh em kết nghĩa. Tôn Tẫn là anh, thần là em, sao có thể để cho anh ở chức Phó được?. Theo thần, chi bằng tạm thời bái Tôn Tẫn làm khách khanh, đợi Tôn Tẫn lập được đại công, thần nhất định sẽ nhường cho Tôn Tẫn.
              Nguỵ Huệ Vương đồng ý, bái Tôn Tẫn làm khách khanh, ban cho phủ đệ, nô bộc và tài vật.
              Mấy ngày sau, Nguỵ Huệ Vương muốn biết tài năng giữa Tôn Tẫn và Bàng Quyên rốt cuộc ai cao hơn, liền điều tập vệ đội ra giáo trường, lệnh cho Tôn Tẫn, Bàng Quyên diễn tập binh pháp. Trận của Bàng Quyên bày ra, Tôn Tẫn đều nghĩ ra được đối sách. Nhưng Tôn Tẫn cố ý làm ra vẻ yếu kém. Nguỵ Huệ Vương thấy tài năng của Bàng Quyên cao hơn Tôn Tẫn nên càng sủng tín Bàng Quyên.
              Diễn trận hoàn tất, Bàng Quyên về phủ, nghĩ bụng: “Tài học của Tôn Tẫn vượt qua mình. Hôm nay tuy cố ý nhường mình, nhưng một núi khó tồn tại hai cọp!” Bàng Quyên vẫn nhiệt tình qua lại với Tôn Tẫn, nhưng ngầm sai người trước mặt Nguỵ Huệ Vương tìm cách li gián, Nguỵ Huệ Vương không dễ dàng tin tưởng.
              Ngày nọ, Bàng Quyên mang nhiều lễ vật đến Tôn phủ. Trong bữa tiệc, Bàng Quyên nói rằng:
              - Đại ca nay đã là quan của nước Nguỵ, tại sao không đưa thân thuộc đến để cùng hưởng phú quý?
    Tôn Tẫn nước mắt lưng tròng nói rằng:
              - Hiền đệ, anh là một đứa bé mồ côi. 4 tuổi mất cha, 9 tuổi mất mẹ, dựa vào sự nuôi dưỡng của thúc phụ. Sau khi thúc phụ qua đời, người anh họ là Tôn Bình 孙平, Tôn Trác 孙卓đối với anh ân tình như biển. Nghĩ đến năm đó, mấy anh em phiêu bạt khắp nơi, sau li tán tại Lạc Dương đến nay không biết ở đâu.
              Bàng Quyên nói rằng:
              - Nỗi bất hạnh của huynh trưởng cũng chính là nỗi bất hạnh của lão đệ.
              Tôn Tẫn nói:
              - Việc đã như thế, hiền đệ không nên nhắc nữa để tránh Nguỵ Vương có lòng nghi ngờ.
              Ba tháng sau, một thương nhân nước Tề là Đinh Ất 丁乙đến Tôn phủ bái kiến Tôn Tẫn, y từ trong ngực lấy ra một bức thư. Tôn Tẫn nhận ra thư do anh họ là Tôn Trác đích thân viết. Trong thư nói rằng: “Các anh hiện đã trở về quê nhà, do bởi việc buôn bán thuận lợi, cuộc sống hiện tại đã khá. Nghe nói tiểu đệ cầu học tại Quỷ cốc, nên đặc biệt nhờ người bạn là Đinh Ất đưa tin. Tiểu đệ sau khi thấy được thư này nên nhanh chóng về quê đoàn tụ, cúng tế phần mộ tổ tiên.”
              Tôn Tẫn xem xong, buồn vui lẫn lộn, hướng đến Đinh Ất đáp tạ.
              Tôn Tẫn thịnh tình khoản đãi Đinh Ất, lại nhờ anh ta đưa thư lại. Trong thư giới thiệu về tình hình của mình, còn nói rằng đợi mình sau khi kiến công lập nghiệp sẽ trở về quê nhà.
              Đinh Ất mang thư và vàng do Tôn Tẫn tặng ra khỏi thành, bị trảo nha của Bàng Quyên bắt lại. Bàng Quyên có được thư của Tôn Tẫn, sai người mô phỏng bút tích của Tôn Tẫn sửa bức thư ấy, nguỵ tạo là chờ thời cơ bỏ Nguỵ đầu Tề. 
                                                                                               (còn tiếp)

                                                                    Huỳnh Chương Hưng
                                                                    Quy Nhơn 16/5/2018

    Nguyên tác
    TÔN TẪN
    孙膑
    Trong quyển
    HỔ CHI UY
    虎之威
    Tác giả: Hàn Tố Văn 韩素文
    Bắc Kinh: Trung Quốc Trường An xuất bản xã, 2006.

    Dịch thuật: Tôn Tẫn (kì 2)

    Đăng lúc  18:01  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    TÔN TẪN
    (kì 2)

    GẶP PHẢI HÌNH PHẠT TÀN KHỐC,
    GIẢ VỜ ĐIÊN DẠI ĐỂ THOÁT KHỎI MIỆNG CỌP

             Bàng Quyên 庞涓về lại quê nhà ở nước Nguỵ được vài ngày, lại chuyển đến Đại Lương 大梁, tìm người giúp mình tiến cử bái kiến Nguỵ Huệ Vương 魏惠王. Nguỵ Huệ Vương thấy Bàng Quyên có vẻ như một nhân tài, tinh thông binh pháp, lại là cao đồ của Quỷ Cốc Tử uy chấn thiên hạ, liền coi trọng.
              Từ đó, Bàng Quyên thường đến cung cùng Nguỵ Huệ Vương bàn luận thiên hạ đại sự, rất được Nguỵ Huệ Vương sủng tín. Nguỵ Huệ Vương bái Bàng Quyên làm Thượng tướng. Con Bàng Quyên là Bàng Anh 庞英, cháu là Bàng Thông 庞葱, Bàng Mao 庞茅 cũng đều được bái làm tướng quân.
              Sau khi Bàng Quyên nắm giữ binh quyền đã chế định một kế hoạch quân sự to lớn, Nguỵ Huệ Vương nhanh chóng phê chuẩn. Bàng Quyên huấn luyện được một đội quân lớn mạnh. Một ngày nọ, Nguỵ Huệ Vương lệnh cho ông xuất chinh, quân Nguỵ tiến vào nước Vệ và nước Tống, công hạ nhiều thành trì, mở rộng cương thổ.
             Chẳng bao lâu, Bàng Quyên lại đem quân đánh lui sự xâm nhập của quân Tề, uy chấn thiên hạ. Bàng Quyên đắc ý, quên mất Tôn Tẫn đang ở tại Quỷ cốc.
              Lúc bấy giờ, Tôn Tẫn vẫn tại Quỷ cốc vùi đầu nghiên cứu bộ Tôn Tử binh pháp 孙子兵法. Quỷ cốc ở vào nơi hẻo lánh, người ít vào ra, bặt tăm tin tức. Ngày nọ, Mặc Tử 墨子vân du đến Quỷ cốc, bàn luận sự việc trong thiên hạ cùng Quỷ Cốc Tử. Tôn Tẫn cung kính bái kiến Mặc Tử, Mặc Tử hỏi rằng:
              - Anh vì sao mà chưa xuống núi?
              Tôn Tẫn đáp:
              - Lúc Bàng Quyên xuống núi có nói, sau khi Bàng Quyên làm quan ở nước Nguỵ, nhất định sẽ tiến cử tôi.
              Mặc Tử cười bảo rằng:
             - Hiện tại Bàng Quyên đã là Thượng tướng của nước Nguỵ, anh ta đã quên anh từ lâu rồi.
              Tôn Tẫn nói rằng:
              - Có lẽ Bàng Quyên quá bận, không có thời gian!
              Mặc Tử bảo rằng:
              - Qua mấy ngày nữa ta sẽ đi đến nước Nguỵ có chút việc, gặp Bàng Quyên sẽ hỏi giúp anh!
              Chẳng bao lâu, Mặc Tử vân du đến nước Nguỵ, gặp được Bàng Quyên, nói rằng Tôn Tẫn vẫn đang ở Quỷ cốc đợi Bàng Quyên tiến cử. Bàng Quyên sợ Tôn Tẫn được trọng dụng, cướp mất địa vị của mình, không muốn tiến cử Tôn Tẫn, nên lời nói không có chút thành ý nào.
              Mặc Tử bèn trực tiếp hướng đến Nguỵ Huệ Vương tiến cử Tôn Tẫn. Nguỵ Huệ Vương hỏi Mặc Tử:
              - Tài năng giữa Tôn Tẫn và Bàng Quyên ai cao ai thấp?
              Mặc Tử đáp:
              - Tôn Tẫn là cháu của Tôn Vũ, nghe nói đã được chân truyền của tổ phụ. Tôi xem tài năng của anh ta có thể trên cả Bàng Quyên.
              Nguỵ Huệ Vương triệu kiến Bàng Quyên, nói rằng:
              - Cô vương nghe nói khanh có một bạn học tên là Tôn Tẫn, khanh hãy vì quả nhân viết một phong thư mời anh ta đến.
              Bàng Quyên nghe qua ngầm chửi Mặc Tử nhiều chuyện.
              Bàng Quyên nói rằng:
              - Tôn Tẫn có tài hoa, nhưng anh ta là người nước Tề, e rằng không thể trung với nước Nguỵ, nên thần không dám tiến cử.
              Nguỵ Huệ Vương cười bảo rằng:
              - Nếu quả nhân có được Tôn Tẫn, tất nhiên trọng dụng. Anh ta sẽ cảm đội ơn đức, một lòng một dạ ra sức vì nước Nguỵ.
              Chẳng bao lâu, Tôn Tẫn nhận được thư của Bàng Quyên và lời mời từ sứ thần của Nguỵ Huệ Vương. Quỷ Cốc Tử tinh thông bốc thuật, bói cho Tôn Tẫn một quẻ, được biết Tôn Tẫn có nạn, nhưng thiên cơ không thể tiết lộ, đành trao cho Tôn Tẫn một cái túi gấm, dặn rằng lúc gặp hiểm nguy mới mở ra xem.
              Tôn Tẫn vô cùng cảm động, bái biệt Quỷ Cốc Tử, theo sứ giả xuống núi đến nước Nguỵ.
              Tôn Tẫn trước tiên đi gặp Bàng Quyên để cảm tạ.
              Bàng Quyên nói rằng:
              - Chúng ta là anh em, anh không nên khách sáo. Anh đến, em rất vui mừng.
              Ngày hôm sau, Tôn Tẫn vào cung yết kiến Nguỵ Huệ Vương. Nguỵ Huệ Vương hỏi Tôn Tẫn, Tôn Tẫn trả lời trôi chảy. Nguỵ Huệ Vương nói với Bàng Quyên bên cạnh:
              - Cô vương muốn bái Tôn Tẫn làm Phó nguyên soái, để giúp khanh chỉ huy tác chiến, khanh thấy thế nào?
              Bàng Quyên đáp rằng:
              - Thần và Tôn Tẫn là anh em kết nghĩa. Tôn Tẫn là anh, thần là em, sao có thể để cho anh ở chức Phó được?. Theo thần, chi bằng tạm thời bái Tôn Tẫn làm khách khanh, đợi Tôn Tẫn lập được đại công, thần nhất định sẽ nhường cho Tôn Tẫn.
              Nguỵ Huệ Vương đồng ý, bái Tôn Tẫn làm khách khanh, ban cho phủ đệ, nô bộc và tài vật.
              Mấy ngày sau, Nguỵ Huệ Vương muốn biết tài năng giữa Tôn Tẫn và Bàng Quyên rốt cuộc ai cao hơn, liền điều tập vệ đội ra giáo trường, lệnh cho Tôn Tẫn, Bàng Quyên diễn tập binh pháp. Trận của Bàng Quyên bày ra, Tôn Tẫn đều nghĩ ra được đối sách. Nhưng Tôn Tẫn cố ý làm ra vẻ yếu kém. Nguỵ Huệ Vương thấy tài năng của Bàng Quyên cao hơn Tôn Tẫn nên càng sủng tín Bàng Quyên.
              Diễn trận hoàn tất, Bàng Quyên về phủ, nghĩ bụng: “Tài học của Tôn Tẫn vượt qua mình. Hôm nay tuy cố ý nhường mình, nhưng một núi khó tồn tại hai cọp!” Bàng Quyên vẫn nhiệt tình qua lại với Tôn Tẫn, nhưng ngầm sai người trước mặt Nguỵ Huệ Vương tìm cách li gián, Nguỵ Huệ Vương không dễ dàng tin tưởng.
              Ngày nọ, Bàng Quyên mang nhiều lễ vật đến Tôn phủ. Trong bữa tiệc, Bàng Quyên nói rằng:
              - Đại ca nay đã là quan của nước Nguỵ, tại sao không đưa thân thuộc đến để cùng hưởng phú quý?
    Tôn Tẫn nước mắt lưng tròng nói rằng:
              - Hiền đệ, anh là một đứa bé mồ côi. 4 tuổi mất cha, 9 tuổi mất mẹ, dựa vào sự nuôi dưỡng của thúc phụ. Sau khi thúc phụ qua đời, người anh họ là Tôn Bình 孙平, Tôn Trác 孙卓đối với anh ân tình như biển. Nghĩ đến năm đó, mấy anh em phiêu bạt khắp nơi, sau li tán tại Lạc Dương đến nay không biết ở đâu.
              Bàng Quyên nói rằng:
              - Nỗi bất hạnh của huynh trưởng cũng chính là nỗi bất hạnh của lão đệ.
              Tôn Tẫn nói:
              - Việc đã như thế, hiền đệ không nên nhắc nữa để tránh Nguỵ Vương có lòng nghi ngờ.
              Ba tháng sau, một thương nhân nước Tề là Đinh Ất 丁乙đến Tôn phủ bái kiến Tôn Tẫn, y từ trong ngực lấy ra một bức thư. Tôn Tẫn nhận ra thư do anh họ là Tôn Trác đích thân viết. Trong thư nói rằng: “Các anh hiện đã trở về quê nhà, do bởi việc buôn bán thuận lợi, cuộc sống hiện tại đã khá. Nghe nói tiểu đệ cầu học tại Quỷ cốc, nên đặc biệt nhờ người bạn là Đinh Ất đưa tin. Tiểu đệ sau khi thấy được thư này nên nhanh chóng về quê đoàn tụ, cúng tế phần mộ tổ tiên.”
              Tôn Tẫn xem xong, buồn vui lẫn lộn, hướng đến Đinh Ất đáp tạ.
              Tôn Tẫn thịnh tình khoản đãi Đinh Ất, lại nhờ anh ta đưa thư lại. Trong thư giới thiệu về tình hình của mình, còn nói rằng đợi mình sau khi kiến công lập nghiệp sẽ trở về quê nhà.
              Đinh Ất mang thư và vàng do Tôn Tẫn tặng ra khỏi thành, bị trảo nha của Bàng Quyên bắt lại. Bàng Quyên có được thư của Tôn Tẫn, sai người mô phỏng bút tích của Tôn Tẫn sửa bức thư ấy, nguỵ tạo là chờ thời cơ bỏ Nguỵ đầu Tề. 
                                                                                               (còn tiếp)

                                                                    Huỳnh Chương Hưng
                                                                    Quy Nhơn 16/5/2018

    Nguyên tác
    TÔN TẪN
    孙膑
    Trong quyển
    HỔ CHI UY
    虎之威
    Tác giả: Hàn Tố Văn 韩素文
    Bắc Kinh: Trung Quốc Trường An xuất bản xã, 2006.

    Thứ Ba, 15 tháng 5, 2018

    THẦN MỘC HIỂN LINH

              Theo Đạo giáo linh nghiệm kí 道教灵验记
              Khoảng niên hiệu Trung Hoà 中和 đời Đường, hoàng đế hạ lệnh tiến hành duy tu cung Thanh Dương 青羊. Lúc bấy giờ phía ngoài cung điện có một nơi phòng ốc bị lửa huỷ hoại. Gian phòng bị thiêu rụi còn sót lại một thanh xà nhà, thanh xà nhà này phải đến 10 người mới khiêng nổi.
              Một ngày nọ, có một người tên là Quan Kiện 官健nói rằng, một mình ông ta có thể khiêng nổi. Mọi người thấy ông ta chẳng khác gì người thường, cho rằng ông ta đang nói khoác, thế là chê cười ông ta. Nhưng người nọ không hề tranh luận, ông ta gọi mấy người đến trước tiên tháo dỡ thanh xà ra. Khi bắt đầu tháo, thấy từ trong góc xà có một con rắn lớn bò ra, Quan Kiện trông thấy, bèn nắm rắn kéo ra rồi giết chết. Kết quả, khi kéo rắn và tháo thanh xà, tượng Thần công đức trong điện cũng bị huỷ hoại. Quan Kiện cũng chẳng nghĩ nhiều, thấy thanh xà đã tháo ra liền vác chạy.
              Chạy vào trong thành, có người hỏi Quan Kiện vác thanh xà đi làm gì. Quan Kiện bảo rằng vác đi làm củi cho mọi người đốt. Lúc bấy giờ có một đi buôn nói với Quan Kiện rằng, thanh xà đó hãy còn tốt, đem làm củi thì tiếc quá, ông ta bằng lòng mua tặng cho Nghiêm Chân quán 严真观观. Quan Kiện bảo rằng,
    - Tặng cho Đạo sĩ có ích gì cho ông? Để tôi đem nó làm củi đốt.
              Thế là trước mặt mọi người, Quan Kiện dem rìu tới chuẩn bị bửa thanh xà. Nhưng khi ông ta vung rìu nhắm thanh xà bổ xuống, đột nhiên cảm thấy cánh tay phát đau, chiếc rìu từ trong tay rơi xuống đất, ông ta cũng ngã lăn ra đất chết.
              Mọi người chung quanh đều nhìn thấy tình hình đó, Quan Kiện kì quái như thế cũng đã chết, khẳng định là chúng thần của điện Lão Quân 老君 ở cung Thanh Dương 青羊hiển linh, vì ông ấy mạo phạm thần linh nên bị báo ứng.
    Quan Kiện ỷ vào khí lực tuổi trẻ, cho rằng không có ai có thể làm được như minh, kết quả gặp phải sự chế tài của thần linh. Về sau thanh xà đó được người ta dùng trong việc duy tu cung Thanh Dương, nhiều năm về sau nó đã phát huy tác dụng nơi đó.

                                                                Huỳnh Chương Hưng
                                                                Quy Nhơn 15/5/2018


    Nguyên tác Trung văn
    THẦN MỘC HIỂN LINH
    神木显灵
    Trong quyển
    ĐẠO KINH CỐ SỰ
    道经故事
    Biên soạn: Dương Ngọc Huy 杨玉辉
    Tứ Xuyên văn nghệ xuất bản xã, 2002

    Dịch thuật: Thần mộc hiển linh

    Đăng lúc  22:58  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    THẦN MỘC HIỂN LINH

              Theo Đạo giáo linh nghiệm kí 道教灵验记
              Khoảng niên hiệu Trung Hoà 中和 đời Đường, hoàng đế hạ lệnh tiến hành duy tu cung Thanh Dương 青羊. Lúc bấy giờ phía ngoài cung điện có một nơi phòng ốc bị lửa huỷ hoại. Gian phòng bị thiêu rụi còn sót lại một thanh xà nhà, thanh xà nhà này phải đến 10 người mới khiêng nổi.
              Một ngày nọ, có một người tên là Quan Kiện 官健nói rằng, một mình ông ta có thể khiêng nổi. Mọi người thấy ông ta chẳng khác gì người thường, cho rằng ông ta đang nói khoác, thế là chê cười ông ta. Nhưng người nọ không hề tranh luận, ông ta gọi mấy người đến trước tiên tháo dỡ thanh xà ra. Khi bắt đầu tháo, thấy từ trong góc xà có một con rắn lớn bò ra, Quan Kiện trông thấy, bèn nắm rắn kéo ra rồi giết chết. Kết quả, khi kéo rắn và tháo thanh xà, tượng Thần công đức trong điện cũng bị huỷ hoại. Quan Kiện cũng chẳng nghĩ nhiều, thấy thanh xà đã tháo ra liền vác chạy.
              Chạy vào trong thành, có người hỏi Quan Kiện vác thanh xà đi làm gì. Quan Kiện bảo rằng vác đi làm củi cho mọi người đốt. Lúc bấy giờ có một đi buôn nói với Quan Kiện rằng, thanh xà đó hãy còn tốt, đem làm củi thì tiếc quá, ông ta bằng lòng mua tặng cho Nghiêm Chân quán 严真观观. Quan Kiện bảo rằng,
    - Tặng cho Đạo sĩ có ích gì cho ông? Để tôi đem nó làm củi đốt.
              Thế là trước mặt mọi người, Quan Kiện dem rìu tới chuẩn bị bửa thanh xà. Nhưng khi ông ta vung rìu nhắm thanh xà bổ xuống, đột nhiên cảm thấy cánh tay phát đau, chiếc rìu từ trong tay rơi xuống đất, ông ta cũng ngã lăn ra đất chết.
              Mọi người chung quanh đều nhìn thấy tình hình đó, Quan Kiện kì quái như thế cũng đã chết, khẳng định là chúng thần của điện Lão Quân 老君 ở cung Thanh Dương 青羊hiển linh, vì ông ấy mạo phạm thần linh nên bị báo ứng.
    Quan Kiện ỷ vào khí lực tuổi trẻ, cho rằng không có ai có thể làm được như minh, kết quả gặp phải sự chế tài của thần linh. Về sau thanh xà đó được người ta dùng trong việc duy tu cung Thanh Dương, nhiều năm về sau nó đã phát huy tác dụng nơi đó.

                                                                Huỳnh Chương Hưng
                                                                Quy Nhơn 15/5/2018


    Nguyên tác Trung văn
    THẦN MỘC HIỂN LINH
    神木显灵
    Trong quyển
    ĐẠO KINH CỐ SỰ
    道经故事
    Biên soạn: Dương Ngọc Huy 杨玉辉
    Tứ Xuyên văn nghệ xuất bản xã, 2002

    Thứ Hai, 14 tháng 5, 2018

    TRƯỜNG HOẰNG BÍCH HUYẾT HOÁ CHÂU

              Đà giang 沱江 là một chi lưu rất lớn của Trường giang 长江, trong địa phận Tứ Xuyên 四川, đoạn chảy qua huyện Tư Trung 资中, lai lịch được gọi là “Châu giang” 珠江. Tên gọi “Châu giang” này đến từ đâu? ở đây có liên quan đến một câu chuyện.
              Truyền thuyết kể rằng, cách đây hơn 2500 năm vào thời Đông Chu, vùng Tư Trung xuất hiện một dị nhân tên là Trường Hoằng 苌弘. Bách tính thân thiết gọi ông là Trường thúc 苌叔. Học vấn của Trường Hoằng rất rộng, trên thông thiên văn, dưới hiểu địa lí, lại còn biết đàn hát, tinh thông âm nhạc. Về sau Trường Hoằng rời quê hương đến kinh thành Đông Chu 东周, chính là Lạc Dương 洛阳hiện nay, bái kiến Chu thiên tử. Chu thiên tử phong ông là Đại phu. Khổng Tử 孔子 từng đến Lạc Dương hướng đến ông thỉnh giáo qua âm nhạc.
              Trường Hoằng tại Đông Chu rất mực trung thành, giúp Chu thiên tử trị lí quốc gia đại sự, muốn vực dậy Chu vương thất đang suy nhược. Nhưng thế lực  các chư hầu lúc bấy giờ rất mạnh, tranh đấu lẫn nhau không dứt, xem Trường Hoằng như cái gai trong mắt. Họ ép Chu thiên tử phải trừ bỏ Trường Hoằng. Chu thiên tử lúc bấy giờ rất đáng thương, tự mình chống không lại, đành phải đuổi Trường Hoằng về lại quê nhà.
              Sau khi Trường Hoằng về quê, viết sách dạy học, chỉ muốn sống bình an những năm về già, nhưng một số chư hầu hiểm ác không chịu buông tha, liên tiếp sai người đến giết. Trường Hoằng đành lưu lạc bên bờ Đà giang, ẩn thân trong huyệt động bên sông. Trường Hoằng gian khổ đến mức thân thể gầy gò như que củi, lại thêm bệnh tật trong người, ông tự biết mình khó tránh khỏi cái hoạ sát thân.
              Một ngày nọ, Trường Hoằng nói với một lão bộc từng theo ông nhiều năm rằng:
              - Sau khi ta chết đi, ông đem máu huyết của ta giấu đi, sau 3 năm mới lấy ra xem. Hãy nhớ kĩ!
              Lão bộc khuyên Trường Hoằng nên xa chạy cao bay, ông lắc đầu nói rằng:
              - Con người cuối cùng rồi sẽ chết, ai mà tránh được cái chết đâu. Ông nghe và làm theo lời của ta là được.
              Lão bộc rơi nước mắt nghe theo.
              Ba ngày sau trong lúc đêm khuya, dưới vách núi bên phải sông, lão bộc bị tiếng kêu thảm thiết của Trường Hoằng làm cho tỉnh giấc. Lão bộc ngồi dậy đi xem thử, thấy Trường Hoằng bị người ta giết chết, hung thủ đã bỏ chạy. Máu tươi từ cổ Trường Hoằng phun ra. Lão bộc nhớ đến lời dặn của Trường Hoằng liền lấy chiếc vò đựng nước bên cạnh hứng lấy, sau đó đạy kín miệng vò đem chôn xuống đất.
              Sau 3 năm, lão bộc lấy vò lên và mở nắp ra xem, chỉ thấy máu trong vò đã ngưng đọng thành hạt châu xanh biếc. Lão bộc lấy hạt châu ra định xem kĩ, nào ngờ hạt châu từ trong tay ông rơi xuống đất, theo tiếng róc rách của tiếng sóng lăn đi, phút chốc lăn vào giữa Đà giang.
              Lão bộc nhìn thấy xuất thần, đột nhiên “ầm” một tiếng, nơi mà hạt châu rơi xuống, một vầng sáng cầu vồng từ trong sóng nước nổi lên, trong cầu vồng, thấy có một người đội mũ cao, mặc áo dài bay lên trên không.
              Về sau lão bộc đem sự việc nhìn thấy nói với mọi người. Mọi người đều cho rằng Trường Hoằng là người tốt sẽ không bao giờ chết, ông ấy lên trời làm thần tiên. Ttheo truyền thuyết trong khúc sông này thường có ánh sáng từ dưới nước chiếu lên, đó chính là hạt châu do máu của Trường Hoằng hoá thành đang toả sáng.

    Tư liệu bổ sung
              Trường Hoằng chân thực trong lịch sử
              Sử kí 史记có ghi, năm 518 trước công nguyên, Khổng Tử đi đến Đông Chu thăm Lão Tử thỉnh giáo về lễ chế, trong thời gian đó cũng đã đến thăm Trường Hoằng, hướng đến Trường Hoằng thỉnh giáo tri thức về “nhạc”, có thể thấy học thức của Trường Hoằng rất uyên bác.
              Hiện tại có các thành ngữ như “Trường Hoằng hoá bích” 苌弘化碧, “Trường Hoằng bích huyết” 苌弘碧血đều từ truyền thuyết này mà ra.

                                                            Huỳnh Chương Hưng
                                                            Quy Nhơn 14/5/2018


    Dịch thuật: Trường Hoằng bích huyết hoá châu

    Đăng lúc  21:00  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    TRƯỜNG HOẰNG BÍCH HUYẾT HOÁ CHÂU

              Đà giang 沱江 là một chi lưu rất lớn của Trường giang 长江, trong địa phận Tứ Xuyên 四川, đoạn chảy qua huyện Tư Trung 资中, lai lịch được gọi là “Châu giang” 珠江. Tên gọi “Châu giang” này đến từ đâu? ở đây có liên quan đến một câu chuyện.
              Truyền thuyết kể rằng, cách đây hơn 2500 năm vào thời Đông Chu, vùng Tư Trung xuất hiện một dị nhân tên là Trường Hoằng 苌弘. Bách tính thân thiết gọi ông là Trường thúc 苌叔. Học vấn của Trường Hoằng rất rộng, trên thông thiên văn, dưới hiểu địa lí, lại còn biết đàn hát, tinh thông âm nhạc. Về sau Trường Hoằng rời quê hương đến kinh thành Đông Chu 东周, chính là Lạc Dương 洛阳hiện nay, bái kiến Chu thiên tử. Chu thiên tử phong ông là Đại phu. Khổng Tử 孔子 từng đến Lạc Dương hướng đến ông thỉnh giáo qua âm nhạc.
              Trường Hoằng tại Đông Chu rất mực trung thành, giúp Chu thiên tử trị lí quốc gia đại sự, muốn vực dậy Chu vương thất đang suy nhược. Nhưng thế lực  các chư hầu lúc bấy giờ rất mạnh, tranh đấu lẫn nhau không dứt, xem Trường Hoằng như cái gai trong mắt. Họ ép Chu thiên tử phải trừ bỏ Trường Hoằng. Chu thiên tử lúc bấy giờ rất đáng thương, tự mình chống không lại, đành phải đuổi Trường Hoằng về lại quê nhà.
              Sau khi Trường Hoằng về quê, viết sách dạy học, chỉ muốn sống bình an những năm về già, nhưng một số chư hầu hiểm ác không chịu buông tha, liên tiếp sai người đến giết. Trường Hoằng đành lưu lạc bên bờ Đà giang, ẩn thân trong huyệt động bên sông. Trường Hoằng gian khổ đến mức thân thể gầy gò như que củi, lại thêm bệnh tật trong người, ông tự biết mình khó tránh khỏi cái hoạ sát thân.
              Một ngày nọ, Trường Hoằng nói với một lão bộc từng theo ông nhiều năm rằng:
              - Sau khi ta chết đi, ông đem máu huyết của ta giấu đi, sau 3 năm mới lấy ra xem. Hãy nhớ kĩ!
              Lão bộc khuyên Trường Hoằng nên xa chạy cao bay, ông lắc đầu nói rằng:
              - Con người cuối cùng rồi sẽ chết, ai mà tránh được cái chết đâu. Ông nghe và làm theo lời của ta là được.
              Lão bộc rơi nước mắt nghe theo.
              Ba ngày sau trong lúc đêm khuya, dưới vách núi bên phải sông, lão bộc bị tiếng kêu thảm thiết của Trường Hoằng làm cho tỉnh giấc. Lão bộc ngồi dậy đi xem thử, thấy Trường Hoằng bị người ta giết chết, hung thủ đã bỏ chạy. Máu tươi từ cổ Trường Hoằng phun ra. Lão bộc nhớ đến lời dặn của Trường Hoằng liền lấy chiếc vò đựng nước bên cạnh hứng lấy, sau đó đạy kín miệng vò đem chôn xuống đất.
              Sau 3 năm, lão bộc lấy vò lên và mở nắp ra xem, chỉ thấy máu trong vò đã ngưng đọng thành hạt châu xanh biếc. Lão bộc lấy hạt châu ra định xem kĩ, nào ngờ hạt châu từ trong tay ông rơi xuống đất, theo tiếng róc rách của tiếng sóng lăn đi, phút chốc lăn vào giữa Đà giang.
              Lão bộc nhìn thấy xuất thần, đột nhiên “ầm” một tiếng, nơi mà hạt châu rơi xuống, một vầng sáng cầu vồng từ trong sóng nước nổi lên, trong cầu vồng, thấy có một người đội mũ cao, mặc áo dài bay lên trên không.
              Về sau lão bộc đem sự việc nhìn thấy nói với mọi người. Mọi người đều cho rằng Trường Hoằng là người tốt sẽ không bao giờ chết, ông ấy lên trời làm thần tiên. Ttheo truyền thuyết trong khúc sông này thường có ánh sáng từ dưới nước chiếu lên, đó chính là hạt châu do máu của Trường Hoằng hoá thành đang toả sáng.

    Tư liệu bổ sung
              Trường Hoằng chân thực trong lịch sử
              Sử kí 史记có ghi, năm 518 trước công nguyên, Khổng Tử đi đến Đông Chu thăm Lão Tử thỉnh giáo về lễ chế, trong thời gian đó cũng đã đến thăm Trường Hoằng, hướng đến Trường Hoằng thỉnh giáo tri thức về “nhạc”, có thể thấy học thức của Trường Hoằng rất uyên bác.
              Hiện tại có các thành ngữ như “Trường Hoằng hoá bích” 苌弘化碧, “Trường Hoằng bích huyết” 苌弘碧血đều từ truyền thuyết này mà ra.

                                                            Huỳnh Chương Hưng
                                                            Quy Nhơn 14/5/2018


    Chủ Nhật, 13 tháng 5, 2018

    BÁCH ĐIỂU TRIỀU PHỤNG

              Ngày xưa, phụng hoàng chỉ là một loài chim nhỏ không đẹp, bộ lông vũ của nó rất bình thường, còn những lông nhỏ trên thân cũng không đẹp rực rỡ như trong truyền thuyết. Nhưng phụng hoàng có một ưu điểm: đó là rất cần cù siêng năng, không như những loài chim khác ăn rồi chỉ biết chơi đùa. Phụng hoàng từ sáng đến tối luôn bận rộn, nó nhặt những hạt những quả mà các loài chim khác vứt đi, đem cất vào trong hang.
              Điều đó có nghĩa gì? Đó chẳng phải là kẻ tham đồ vật, một kẻ ngu ngốc sao? Nhưng chớ xem thường hành vi tàng trữ thực vật này, đến một lúc nào đó, nó có thể phát huy tác dụng to lớn.
              Quả nhiên, một năm nọ, cả rừng bị hạn, các loài chim tìm không thấy thức ăn, tất cả đều đói hoa cả mắt, không thể chống cự lại. Lúc bấy giờ, phụng hoàng liền mở cửa hang, đem những hạt những quả mà nó đã nhiều năm cất giữ chia cho các loài chim, muôn chim cùng vượt qua nạn ách.
              Sau khi hạn hán qua đi, để cám ơn sự cứu mạng của phụng hoàng, các loài chim từ trên thân của mình chọn lấy một cộng lông vũ đẹp nhất nhổ ra kết thành một chiếc áo đẹp rực rỡ tặng cho phụng hoàng, đồng thời tôn phụng hoàng làm điểu vương.
              Từ đó, mỗi khi sinh nhật phụng hoàng, các loài chim từ bốn phương tám hướng đều bay đến chúc mừng phụng hoàng, đó chính là “bách điểu triều phụng”.
               
                                                         Huỳnh Chương Hưng
                                                         Quy Nhơn 13/5/2018

    Nguyên tác Trung văn
    BÁCH ĐIỂU TRIỀU PHỤNG
    百鸟朝凤
    Trong quyển
    THANH THIẾU NIÊN TỐI HỈ HOAN ĐÍCH
    THẦN THOẠI CỐ SỰ
    青少年最喜欢的
    神话故事
    Tác giả: Ngô Cảnh Minh 吴景明
    Diên Biên nhân dân xuất bản xã, 2002

    Dịch thuật: Bách điểu triều phụng

    Đăng lúc  21:34  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    BÁCH ĐIỂU TRIỀU PHỤNG

              Ngày xưa, phụng hoàng chỉ là một loài chim nhỏ không đẹp, bộ lông vũ của nó rất bình thường, còn những lông nhỏ trên thân cũng không đẹp rực rỡ như trong truyền thuyết. Nhưng phụng hoàng có một ưu điểm: đó là rất cần cù siêng năng, không như những loài chim khác ăn rồi chỉ biết chơi đùa. Phụng hoàng từ sáng đến tối luôn bận rộn, nó nhặt những hạt những quả mà các loài chim khác vứt đi, đem cất vào trong hang.
              Điều đó có nghĩa gì? Đó chẳng phải là kẻ tham đồ vật, một kẻ ngu ngốc sao? Nhưng chớ xem thường hành vi tàng trữ thực vật này, đến một lúc nào đó, nó có thể phát huy tác dụng to lớn.
              Quả nhiên, một năm nọ, cả rừng bị hạn, các loài chim tìm không thấy thức ăn, tất cả đều đói hoa cả mắt, không thể chống cự lại. Lúc bấy giờ, phụng hoàng liền mở cửa hang, đem những hạt những quả mà nó đã nhiều năm cất giữ chia cho các loài chim, muôn chim cùng vượt qua nạn ách.
              Sau khi hạn hán qua đi, để cám ơn sự cứu mạng của phụng hoàng, các loài chim từ trên thân của mình chọn lấy một cộng lông vũ đẹp nhất nhổ ra kết thành một chiếc áo đẹp rực rỡ tặng cho phụng hoàng, đồng thời tôn phụng hoàng làm điểu vương.
              Từ đó, mỗi khi sinh nhật phụng hoàng, các loài chim từ bốn phương tám hướng đều bay đến chúc mừng phụng hoàng, đó chính là “bách điểu triều phụng”.
               
                                                         Huỳnh Chương Hưng
                                                         Quy Nhơn 13/5/2018

    Nguyên tác Trung văn
    BÁCH ĐIỂU TRIỀU PHỤNG
    百鸟朝凤
    Trong quyển
    THANH THIẾU NIÊN TỐI HỈ HOAN ĐÍCH
    THẦN THOẠI CỐ SỰ
    青少年最喜欢的
    神话故事
    Tác giả: Ngô Cảnh Minh 吴景明
    Diên Biên nhân dân xuất bản xã, 2002

    Thứ Bảy, 12 tháng 5, 2018

    “THIÊN TRI, ĐỊA TRI, NỄ TRI, NGÃ TRI”
     ĐIỂN NÀY XUẤT PHÁT TỪ ĐÂU

              Hàm nghĩa của câu “thiên tri, địa tri, nễ tri, ngã tri” 天知, 地知, 你知, 我知 (trời biết, đất biết, ông biết, tôi biết) là không có người khác biết, hiện một số người giao dịch mua bán ngầm với nhau thường dùng câu này. Ý nói là việc giao dịch giữa hai chúng ta trừ trời đất biết ra, chỉ còn lại ông và tôi, ngoài đó ra không còn ai biết nữa. Nghĩa gốc của nó là không phải là không ai biết, mà là có người biết. Điển này xuất xứ từ câu chuyện “Dương Chấn cự kim” 杨震拒金
              Dương Chấn 杨震, tự là Bá Khởi 伯起, người Hoa Âm 华阴 Hoằng Nông 弘农(nay thuộc Thiểm Tây 陕西) thời Đông Hán. Lúc trẻ ông đã chuyên cần ham học, “đọc nhiều biết rộng, không gì là không nghiên cứu”, là Nho sĩ học nhiều biết nhiều lúc bấy giờ, mọi người xưng là “Quan Tây Phu tử Dương Bá Khởi” 关西夫子杨伯起. Lúc 50 tuổi, Dương Chấn tiếp nhận sự tiến cử của Đại tướng quân Đặng Giá 邓驾, bước vào quan trường, lần lượt nhậm các chức Kinh Châu Thứ sử 荆州刺史, Đông Lai Thái thú 东莱太守, sau lại làm Trác Quận Thái thú 涿郡太守. Năm Nguyên Sơ 元初thứ 4 đến triều nhậm chức Thái bộc 太仆, Thái thường 太常. Năm Vĩnh Ninh 永宁 thứ 1 Dương Chấn làm quan tới chức Tư đồ 司徒.
              Tương truyền, trên đường đi nhậm chức Đông Lai Thái thú, Dương Chân nghỉ qua một đêm tại Cự Dã 巨野 Sơn Đông 山东. Huyện lệnh nơi đó là Vương Mật 王密từng do được Dương Chấn tiến cử làm quan, để bày tỏ lòng cảm tạ, Vương Mật mang theo bên mình 10 cân vàng đang đêm đến thăm Dương Chấn. Hai người sau khi tương kiến, chuyện trò vui vẻ, lúc chia tay, Vương Mật lấy 10 cân vàng ra làm lễ vật, đặt ở trên bàn. Dương Chấn trông thấy, nghiêm sắc mặt nói rằng:
              - Trước đây tôi tiến cử ông, là do bởi nhận biết tài năng của ông. Tôi hiểu ông, sao ông lại không hiểu tôi?
              Vương Mật vội đáp rằng:
              - Nay là ngoại lệ, chỉ bày tỏ chút tâm ý mà thôi. Hơn nữa, nửa đêm nửa hôm, không có ai biết đâu!
              Dương Chấn nghe qua, nghiêm nghị bảo rằng:
              - Trời biết, đất biết, ông biết, tôi biết, sao lại nói là không có ai biết?
              Vương Mật cảm thấy xấu hổ, đành lấy vàng lại và cáo từ.
              Nguyên ý của câu nói đó là: làm những việc không chính đáng, sao lại không có người biết? Cho dù người khác không biết, thì hãy còn có trời đất, ông và tôi biết! Ý răn mọi người nên khắc kỉ phụng công, liêm khiết tháo thủ. Nhưng người đời sau lại làm ngược lại, mượn đó để biểu đạt ý người khác không thể biết được.

                                                     Huỳnh Chương Hưng
                                                      Quy Nhơn 12/5/2018

    Nguyên tác Trung văn
    Trong quyển
    THÚ VỊ VĂN HOÁ TRI THỨC ĐẠI TOÀN
    趣味文化知识大全
    Thanh Thạch 青石 biên soạn
    Trung Quốc Hoa kiều xuất bản xã, 2013

    Dịch thuật: "Thiên tri, địa tri, nễ tri, ngã tri" điển này xuất phát từ đâu

    Đăng lúc  20:52  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    “THIÊN TRI, ĐỊA TRI, NỄ TRI, NGÃ TRI”
     ĐIỂN NÀY XUẤT PHÁT TỪ ĐÂU

              Hàm nghĩa của câu “thiên tri, địa tri, nễ tri, ngã tri” 天知, 地知, 你知, 我知 (trời biết, đất biết, ông biết, tôi biết) là không có người khác biết, hiện một số người giao dịch mua bán ngầm với nhau thường dùng câu này. Ý nói là việc giao dịch giữa hai chúng ta trừ trời đất biết ra, chỉ còn lại ông và tôi, ngoài đó ra không còn ai biết nữa. Nghĩa gốc của nó là không phải là không ai biết, mà là có người biết. Điển này xuất xứ từ câu chuyện “Dương Chấn cự kim” 杨震拒金
              Dương Chấn 杨震, tự là Bá Khởi 伯起, người Hoa Âm 华阴 Hoằng Nông 弘农(nay thuộc Thiểm Tây 陕西) thời Đông Hán. Lúc trẻ ông đã chuyên cần ham học, “đọc nhiều biết rộng, không gì là không nghiên cứu”, là Nho sĩ học nhiều biết nhiều lúc bấy giờ, mọi người xưng là “Quan Tây Phu tử Dương Bá Khởi” 关西夫子杨伯起. Lúc 50 tuổi, Dương Chấn tiếp nhận sự tiến cử của Đại tướng quân Đặng Giá 邓驾, bước vào quan trường, lần lượt nhậm các chức Kinh Châu Thứ sử 荆州刺史, Đông Lai Thái thú 东莱太守, sau lại làm Trác Quận Thái thú 涿郡太守. Năm Nguyên Sơ 元初thứ 4 đến triều nhậm chức Thái bộc 太仆, Thái thường 太常. Năm Vĩnh Ninh 永宁 thứ 1 Dương Chấn làm quan tới chức Tư đồ 司徒.
              Tương truyền, trên đường đi nhậm chức Đông Lai Thái thú, Dương Chân nghỉ qua một đêm tại Cự Dã 巨野 Sơn Đông 山东. Huyện lệnh nơi đó là Vương Mật 王密từng do được Dương Chấn tiến cử làm quan, để bày tỏ lòng cảm tạ, Vương Mật mang theo bên mình 10 cân vàng đang đêm đến thăm Dương Chấn. Hai người sau khi tương kiến, chuyện trò vui vẻ, lúc chia tay, Vương Mật lấy 10 cân vàng ra làm lễ vật, đặt ở trên bàn. Dương Chấn trông thấy, nghiêm sắc mặt nói rằng:
              - Trước đây tôi tiến cử ông, là do bởi nhận biết tài năng của ông. Tôi hiểu ông, sao ông lại không hiểu tôi?
              Vương Mật vội đáp rằng:
              - Nay là ngoại lệ, chỉ bày tỏ chút tâm ý mà thôi. Hơn nữa, nửa đêm nửa hôm, không có ai biết đâu!
              Dương Chấn nghe qua, nghiêm nghị bảo rằng:
              - Trời biết, đất biết, ông biết, tôi biết, sao lại nói là không có ai biết?
              Vương Mật cảm thấy xấu hổ, đành lấy vàng lại và cáo từ.
              Nguyên ý của câu nói đó là: làm những việc không chính đáng, sao lại không có người biết? Cho dù người khác không biết, thì hãy còn có trời đất, ông và tôi biết! Ý răn mọi người nên khắc kỉ phụng công, liêm khiết tháo thủ. Nhưng người đời sau lại làm ngược lại, mượn đó để biểu đạt ý người khác không thể biết được.

                                                     Huỳnh Chương Hưng
                                                      Quy Nhơn 12/5/2018

    Nguyên tác Trung văn
    Trong quyển
    THÚ VỊ VĂN HOÁ TRI THỨC ĐẠI TOÀN
    趣味文化知识大全
    Thanh Thạch 青石 biên soạn
    Trung Quốc Hoa kiều xuất bản xã, 2013

    Mã nguồn bởi Huỳnh Chương Hưng
    Copyright © 2012 Huỳnh Chương Hưng.
    back to top