• Thứ Năm, 13 tháng 12, 2018

    CHỮ “HOA / HOÁ”
     
    Bính âm hua (thanh điệu 2)
    Bính âm hua (thanh điệu 4)

    6 nét
    10 nét (*)

    A- HOA, bính âm hua với thanh điệu 2
    1- Dân tộc Trung Hoa hoặc từ gọi tắt của Trung Quốc:
              Hoa nhân 华人 / Hoa kiều 华侨 / Hoa Hạ 华夏 / Hoa ngữ 华语 / Trung Hoa 中华.
    2- Màu sắc ánh sáng:
              Hoa lệ 华丽 / hoa mĩ 华美 / hoa đăng 华灯.
    3- Phồn thịnh:
              Hoa nhi bất thực 华而不实 / phồn hoa 繁华 / vinh hoa 荣华.
    4- Xa xỉ:
              Phù hoa 浮华 / xa hoa 奢华.
    5- Tinh hoa:
              Tài hoa 才华 / anh hoa 英华.
    6- Kính từ, dùng cho những sự vật có liên quan với đối phương:
              Hoa đản 华诞 / hoa hàn 华翰 (gọi thư từ của người khác)  / hoa tông 华宗(gọi người cùng họ).

    B- HOÁ, bính âm hua với thanh điệu 4
    1- Họ:
              Hoá Đà 华佗 (**).
    2- Tên núi:
              Hoá sơn 华山.

    Thuyết giải
              Chữ , bộ, kết cấu trên dưới, thuộc chữ hình thanh. có chữ (thập), thanh phù là (hoá). đồng âm hoặc cận âm. Chữ bảo lưu đại thể hình dáng của chữ gốc. Chữ  có thể dùng làm thiên bàng giản hoá tự, như () ().
              Chữ quy về bộ (thảo).

    Phụ lục của người dịch
              Về chữ , Hán Việt tự điển của Thiều Chửu ghi rằng:
    Hoa
    1: Nước Tầu, nước Tầu tự gọi là Trung hoa 中華, người Tầu gọi là hoa nhân 華人.
    2- Mầu mỡ, rực rỡ, phàm sự vật gì hiện rõ ra đều gọi là hoa, như quang hoa 光華, vinh hoa 榮華v.v...
    3- Văn sức, cái để trang sức bề ngoài cũng gọi là hoa, như hoa lệ 華麗, hoa mỹ 華美 v.v... Xa phí cũng gọi là xa hoa 奢華, son phấn mầu mỡ gọi là duyên hoa 鉛華, nhà cửa sơn đỏ gọi là hoa ốc 華屋v.v... Chỉ vụ bề ngoài không chuộng sự thực gọi là phù hoa 浮華, phồn hoa 繁華 v.v... đều là cái nghĩa trang sức bề ngoài cả.
    4- Tinh hoa, văn từ hay gọi là hàm anh trớ hoa 含英咀華(bao hàm chất tinh hoa)
    5- Có tài nổi tiếng, như: tài hoa 才華, thanh hoa 聲華 v.v...
    6- Rực rỡ, như thiều hoa 韶華 bóng mặt trời mùa xuân; cảnh sắc bốn mùa gọi là vật hoa 物華hay tuế hoa 歲華v.v... Khen cái tuổi trẻ của người gọi là niên hoa 年華; chỗ đô hội nhiệt náo gọi là kinh hoa 京華v.v...
    7- Tóc bạc gọi là hoa phát 華髮.
    8- Cùng nghĩa với chữ .
              Một âm là hoá: núi Hoá sơn.
              ( trang 499. Nhà xuất bản Hồng Đức, 2015)

    Chú của người dịch
    *- Chữ trong Hán Việt tự điển của Thiều Chửu và trong Từ điển Hán Việt văn ngôn dẫn chứng  của Nguyễn Tôn Nhan đều thuộc về bộ (thảo) ở phần 8 nét (không tính bộ).
    **- Về tên gọi nhân vật 华佗:
              Trong Hán điển 漢典, ở âm đọc hua (thanh điệu 4) có ghi rằng:
    1- 見華山 (华山) .
    2- : 如漢代有華佗
         1- Xem điều Hoá sơn
         2- Họ: như Hoá Đà đời Hán.
              Nguồn http://www.zdic.net/z/22/js/83EF_htm
    Và trong Khoái học võng 快学网, ở âm đọc hua (thanh điệu 4) cũng ghi rằng:
              1- 山名, 华山
         2- . : 华佗; 华扁 (古代名医华, 华佗扁鹊的并称)
              1- Tên núi, Hoá sơn.
              2- Họ. Như: Hoá Đà; Hoá Biển (gọi chung Hoá Đà và Biển Thước, hai vị danh y cổ đại)
              Nguồn http://zidian.kxue.com/zi/hua4_jieshi.html
              Như vậy 華佗 (华佗) tên vị danh y thời Hán là Hoá Đà. Ta quen đọc là Hoa Đà.

                                                          Huỳnh Chương Hưng
                                                          Quy Nhơn 13/12/2018

    Nguồn
    GIẢN HOÁ TỰ, PHỒN THỂ TỰ ĐỐI CHIẾU TỰ ĐIỂN
    简化字繁体字对照字典
    Chủ biên: Giang Lam Sinh 江蓝生, Lục Tôn Ngô 陆尊梧
    Thượng Hải – Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 1998

    Dịch thuật: Chữ "hoa / hoá" (Đối chiếu tự điển)

    Đăng lúc  19:55  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    CHỮ “HOA / HOÁ”
     
    Bính âm hua (thanh điệu 2)
    Bính âm hua (thanh điệu 4)

    6 nét
    10 nét (*)

    A- HOA, bính âm hua với thanh điệu 2
    1- Dân tộc Trung Hoa hoặc từ gọi tắt của Trung Quốc:
              Hoa nhân 华人 / Hoa kiều 华侨 / Hoa Hạ 华夏 / Hoa ngữ 华语 / Trung Hoa 中华.
    2- Màu sắc ánh sáng:
              Hoa lệ 华丽 / hoa mĩ 华美 / hoa đăng 华灯.
    3- Phồn thịnh:
              Hoa nhi bất thực 华而不实 / phồn hoa 繁华 / vinh hoa 荣华.
    4- Xa xỉ:
              Phù hoa 浮华 / xa hoa 奢华.
    5- Tinh hoa:
              Tài hoa 才华 / anh hoa 英华.
    6- Kính từ, dùng cho những sự vật có liên quan với đối phương:
              Hoa đản 华诞 / hoa hàn 华翰 (gọi thư từ của người khác)  / hoa tông 华宗(gọi người cùng họ).

    B- HOÁ, bính âm hua với thanh điệu 4
    1- Họ:
              Hoá Đà 华佗 (**).
    2- Tên núi:
              Hoá sơn 华山.

    Thuyết giải
              Chữ , bộ, kết cấu trên dưới, thuộc chữ hình thanh. có chữ (thập), thanh phù là (hoá). đồng âm hoặc cận âm. Chữ bảo lưu đại thể hình dáng của chữ gốc. Chữ  có thể dùng làm thiên bàng giản hoá tự, như () ().
              Chữ quy về bộ (thảo).

    Phụ lục của người dịch
              Về chữ , Hán Việt tự điển của Thiều Chửu ghi rằng:
    Hoa
    1: Nước Tầu, nước Tầu tự gọi là Trung hoa 中華, người Tầu gọi là hoa nhân 華人.
    2- Mầu mỡ, rực rỡ, phàm sự vật gì hiện rõ ra đều gọi là hoa, như quang hoa 光華, vinh hoa 榮華v.v...
    3- Văn sức, cái để trang sức bề ngoài cũng gọi là hoa, như hoa lệ 華麗, hoa mỹ 華美 v.v... Xa phí cũng gọi là xa hoa 奢華, son phấn mầu mỡ gọi là duyên hoa 鉛華, nhà cửa sơn đỏ gọi là hoa ốc 華屋v.v... Chỉ vụ bề ngoài không chuộng sự thực gọi là phù hoa 浮華, phồn hoa 繁華 v.v... đều là cái nghĩa trang sức bề ngoài cả.
    4- Tinh hoa, văn từ hay gọi là hàm anh trớ hoa 含英咀華(bao hàm chất tinh hoa)
    5- Có tài nổi tiếng, như: tài hoa 才華, thanh hoa 聲華 v.v...
    6- Rực rỡ, như thiều hoa 韶華 bóng mặt trời mùa xuân; cảnh sắc bốn mùa gọi là vật hoa 物華hay tuế hoa 歲華v.v... Khen cái tuổi trẻ của người gọi là niên hoa 年華; chỗ đô hội nhiệt náo gọi là kinh hoa 京華v.v...
    7- Tóc bạc gọi là hoa phát 華髮.
    8- Cùng nghĩa với chữ .
              Một âm là hoá: núi Hoá sơn.
              ( trang 499. Nhà xuất bản Hồng Đức, 2015)

    Chú của người dịch
    *- Chữ trong Hán Việt tự điển của Thiều Chửu và trong Từ điển Hán Việt văn ngôn dẫn chứng  của Nguyễn Tôn Nhan đều thuộc về bộ (thảo) ở phần 8 nét (không tính bộ).
    **- Về tên gọi nhân vật 华佗:
              Trong Hán điển 漢典, ở âm đọc hua (thanh điệu 4) có ghi rằng:
    1- 見華山 (华山) .
    2- : 如漢代有華佗
         1- Xem điều Hoá sơn
         2- Họ: như Hoá Đà đời Hán.
              Nguồn http://www.zdic.net/z/22/js/83EF_htm
    Và trong Khoái học võng 快学网, ở âm đọc hua (thanh điệu 4) cũng ghi rằng:
              1- 山名, 华山
         2- . : 华佗; 华扁 (古代名医华, 华佗扁鹊的并称)
              1- Tên núi, Hoá sơn.
              2- Họ. Như: Hoá Đà; Hoá Biển (gọi chung Hoá Đà và Biển Thước, hai vị danh y cổ đại)
              Nguồn http://zidian.kxue.com/zi/hua4_jieshi.html
              Như vậy 華佗 (华佗) tên vị danh y thời Hán là Hoá Đà. Ta quen đọc là Hoa Đà.

                                                          Huỳnh Chương Hưng
                                                          Quy Nhơn 13/12/2018

    Nguồn
    GIẢN HOÁ TỰ, PHỒN THỂ TỰ ĐỐI CHIẾU TỰ ĐIỂN
    简化字繁体字对照字典
    Chủ biên: Giang Lam Sinh 江蓝生, Lục Tôn Ngô 陆尊梧
    Thượng Hải – Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 1998

    Thứ Tư, 12 tháng 12, 2018

    LƯU BANG CHÉM RẮN KHỞI NGHĨA

              Lưu Bang 刘邦 là vị hoàng đế khai quốc của triều Hán, người nước Nguỵ thời Chiến Quốc. Thời Tần, Lưu Bang đảm nhậm qua chức Đình trưởng Tứ Thuỷ 泗水, khởi nghĩa phản Tần tại huyện Bái tỉnh Giang Tô 江苏ngày nay, mọi người gọi ông là Bái Công 沛公. Sau khi triều Tần diệt vong, Lưu Bang tự phong làm Hán Vương. Năm 202 trước công nguyên sáng lập triều Hán, sử xưng là Tây Hán 西汉.

              Khi Hán Cao Tổ Lưu Bang giữ chức Đình trưởng ở huyện Bái, đã đưa một số nông dân đi xây lăng ở Li sơn 骊山. Giữa đường đa số bỏ trốn. Lưu Bang suy nghĩ, cho dù có đến Li sơn cũng sẽ bị tội chết. Thế là khi đến đầm Hạc , phía tây huyện Phong thì dừng lại, uống rượu đến say, nửa đêm thả hết số nông dân còn lại, đồng thời nói với họ rằng:
              - Các ông đi đi, ở đây ta cũng sẽ bỏ chạy.
              Trong số những nông dân ấy có khoảng hơn 10 người tình nguyện theo Lưu Bang. Lưu Bang đi về phía tây đầm trong lúc say, bảo một nông dân thăm dò đường phía trước. Người nông dân đó trở về nói rằng:
              - Phía trước có một con rắn nằm ngáng đường, hay là chúng ta quay về đi.
              Lưu Bang nhân lúc có hơi men, nói rằng:
              - Đại trượng phu một mình đi trong thiên hạ, có gì mà phải sợ!
              Thế là đi đến phía trước, rút kiếm chém đứt rắn. Từ chính giữa, thân rắn bị chia làm 2 khúc.
              Đi được mấy dặm, Lưu Bang say ngã lăn ra ngủ. Người phía sau trong đội ngũ của Lưu Bang đi đến chỗ rắn bị chém, nhìn thấy một bà lão trong đêm ngồi khóc bên đường. Hỏi bà vì sao mà đau lòng vậy. Bà lão nói rằng:
              - Con của ta bị người ta giết chết, cho nên đau lòng mà khóc.
              Hỏi con bà vì sao mà bị giết. Bà lão nói:
              - Con ta là con của Bạch Đế, biến thành rắn nằm ngang giữa đường, hiện bị con của Xích Đế chém chết rồi, cho nên ta rất đau lòng.
              Mọi người cho là bà lão nói nhảm, phát tán lời bậy, định đánh bà, đột nhiên không thấy bà lão ấy đâu nữa. Người phía sau tiến lên phía trước, Lưu Bang lúc này mới tỉnh dậy, mọi người báo cáo tình hình. Chỉ có Lưu Bang trong lòng cảm thấy vui mừng, nảy sinh lòng tự hào, những người đi theo ngày càng kính sợ Lưu Bang.
              Tần Thuỷ Hoàng từng nói:
              - Phía đông nam có khí thiên tử.
    Thế là đích thân đi về phía đông để nghiệm chứng. Lưu Bang hoài nghi Tần Thuỷ Hoàng nói về mình, bèn ẩn nấp trong rừng sâu ở núi Mang Nãng 芒砀 vắng vẻ. Lữ Trĩ 吕雉và nhiều người đi tìm Lưu Bang, tìm gặp ở nơi ít thấy dấu chân người qua lại. Lưu Bang cảm thấy kì lạ, bèn hỏi có chuyện gì. Lữ Trĩ đáp rằng:
             - Chỗ của ông trên đầu có khí mây ngưng kết, cho nên chúng tôi theo đó mà có thể tìm gặp.
              Lưu Bang nghe qua rất vui mừng, sau khi người trong huyện Bái biết được, nhiểu người đã theo quy phụ Lưu Bang.

    Phụ lục
              Trong đại quân khởi nghĩa nông dân cuối thời Tần, thực lực của hai nhóm quân khởi nghĩa Lưu Bang 刘邦 và Hạng Vũ 项羽 là mạnh nhất. Vì tranh vương ở quan trung, Lưu Bang và Hạng Vũ triển khai cuộc chiến liên tục trong 4 năm. Lưu Bang dẫn quân tiến vào thành Hàm Dương 咸阳trước, theo lí sẽ làm hoàng đế ở quan trung, nhưng Hạng Vũ thanh cao tự ngạo, muốn độc bá thiên hạ, tiến vào Hàm Dương sau, thiêu đốt, giết chóc, cướp bóc, thậm chí còn đặt “Hồng Môn yến” 鸿门宴nhằm diệt Lưu Bang. Hạng Vũ ở quan trung không được lòng dân, muốn đuổi Lưu Bang chạy đến đất Thục. Những hành vi ấy đã kích khởi mâu thuẫn giữa Lưu Bang và Hạng Vũ, giữa hai người bộc phát đại chiến, đó chính là chiến tranh Hán Sở. Cuối cùng Hạng Vũ binh bại, tự vẫn ở Ô giang 乌江, Lưu Bang trở thành vị hoàng đế khai quốc của triều Hán.

                                                            Huỳnh Chương Hưng
                                                            Quy Nhơn 12/12/2018

    Nguyên tác Trung văn
    LƯU BANG TRẢM XÀ KHỞI NGHĨA
    刘邦斩蛇起义
    Trong quyển
    TRUNG QUỐC LỊCH SỬ CỐ SỰ (tập 2)
    中国历史故事
    Biên soạn: Sơ Dương Tả Tả 初阳姐姐
    Trường Xuân: Cát Lâm văn sử xuất bản xã, 2015

    Dịch thuật: Lưu Bang chém rắn khởi nghĩa

    Đăng lúc  21:47  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    LƯU BANG CHÉM RẮN KHỞI NGHĨA

              Lưu Bang 刘邦 là vị hoàng đế khai quốc của triều Hán, người nước Nguỵ thời Chiến Quốc. Thời Tần, Lưu Bang đảm nhậm qua chức Đình trưởng Tứ Thuỷ 泗水, khởi nghĩa phản Tần tại huyện Bái tỉnh Giang Tô 江苏ngày nay, mọi người gọi ông là Bái Công 沛公. Sau khi triều Tần diệt vong, Lưu Bang tự phong làm Hán Vương. Năm 202 trước công nguyên sáng lập triều Hán, sử xưng là Tây Hán 西汉.

              Khi Hán Cao Tổ Lưu Bang giữ chức Đình trưởng ở huyện Bái, đã đưa một số nông dân đi xây lăng ở Li sơn 骊山. Giữa đường đa số bỏ trốn. Lưu Bang suy nghĩ, cho dù có đến Li sơn cũng sẽ bị tội chết. Thế là khi đến đầm Hạc , phía tây huyện Phong thì dừng lại, uống rượu đến say, nửa đêm thả hết số nông dân còn lại, đồng thời nói với họ rằng:
              - Các ông đi đi, ở đây ta cũng sẽ bỏ chạy.
              Trong số những nông dân ấy có khoảng hơn 10 người tình nguyện theo Lưu Bang. Lưu Bang đi về phía tây đầm trong lúc say, bảo một nông dân thăm dò đường phía trước. Người nông dân đó trở về nói rằng:
              - Phía trước có một con rắn nằm ngáng đường, hay là chúng ta quay về đi.
              Lưu Bang nhân lúc có hơi men, nói rằng:
              - Đại trượng phu một mình đi trong thiên hạ, có gì mà phải sợ!
              Thế là đi đến phía trước, rút kiếm chém đứt rắn. Từ chính giữa, thân rắn bị chia làm 2 khúc.
              Đi được mấy dặm, Lưu Bang say ngã lăn ra ngủ. Người phía sau trong đội ngũ của Lưu Bang đi đến chỗ rắn bị chém, nhìn thấy một bà lão trong đêm ngồi khóc bên đường. Hỏi bà vì sao mà đau lòng vậy. Bà lão nói rằng:
              - Con của ta bị người ta giết chết, cho nên đau lòng mà khóc.
              Hỏi con bà vì sao mà bị giết. Bà lão nói:
              - Con ta là con của Bạch Đế, biến thành rắn nằm ngang giữa đường, hiện bị con của Xích Đế chém chết rồi, cho nên ta rất đau lòng.
              Mọi người cho là bà lão nói nhảm, phát tán lời bậy, định đánh bà, đột nhiên không thấy bà lão ấy đâu nữa. Người phía sau tiến lên phía trước, Lưu Bang lúc này mới tỉnh dậy, mọi người báo cáo tình hình. Chỉ có Lưu Bang trong lòng cảm thấy vui mừng, nảy sinh lòng tự hào, những người đi theo ngày càng kính sợ Lưu Bang.
              Tần Thuỷ Hoàng từng nói:
              - Phía đông nam có khí thiên tử.
    Thế là đích thân đi về phía đông để nghiệm chứng. Lưu Bang hoài nghi Tần Thuỷ Hoàng nói về mình, bèn ẩn nấp trong rừng sâu ở núi Mang Nãng 芒砀 vắng vẻ. Lữ Trĩ 吕雉và nhiều người đi tìm Lưu Bang, tìm gặp ở nơi ít thấy dấu chân người qua lại. Lưu Bang cảm thấy kì lạ, bèn hỏi có chuyện gì. Lữ Trĩ đáp rằng:
             - Chỗ của ông trên đầu có khí mây ngưng kết, cho nên chúng tôi theo đó mà có thể tìm gặp.
              Lưu Bang nghe qua rất vui mừng, sau khi người trong huyện Bái biết được, nhiểu người đã theo quy phụ Lưu Bang.

    Phụ lục
              Trong đại quân khởi nghĩa nông dân cuối thời Tần, thực lực của hai nhóm quân khởi nghĩa Lưu Bang 刘邦 và Hạng Vũ 项羽 là mạnh nhất. Vì tranh vương ở quan trung, Lưu Bang và Hạng Vũ triển khai cuộc chiến liên tục trong 4 năm. Lưu Bang dẫn quân tiến vào thành Hàm Dương 咸阳trước, theo lí sẽ làm hoàng đế ở quan trung, nhưng Hạng Vũ thanh cao tự ngạo, muốn độc bá thiên hạ, tiến vào Hàm Dương sau, thiêu đốt, giết chóc, cướp bóc, thậm chí còn đặt “Hồng Môn yến” 鸿门宴nhằm diệt Lưu Bang. Hạng Vũ ở quan trung không được lòng dân, muốn đuổi Lưu Bang chạy đến đất Thục. Những hành vi ấy đã kích khởi mâu thuẫn giữa Lưu Bang và Hạng Vũ, giữa hai người bộc phát đại chiến, đó chính là chiến tranh Hán Sở. Cuối cùng Hạng Vũ binh bại, tự vẫn ở Ô giang 乌江, Lưu Bang trở thành vị hoàng đế khai quốc của triều Hán.

                                                            Huỳnh Chương Hưng
                                                            Quy Nhơn 12/12/2018

    Nguyên tác Trung văn
    LƯU BANG TRẢM XÀ KHỞI NGHĨA
    刘邦斩蛇起义
    Trong quyển
    TRUNG QUỐC LỊCH SỬ CỐ SỰ (tập 2)
    中国历史故事
    Biên soạn: Sơ Dương Tả Tả 初阳姐姐
    Trường Xuân: Cát Lâm văn sử xuất bản xã, 2015

    Thứ Ba, 11 tháng 12, 2018

    MÀU CỦA HOÀNG QUA KHÔNG VÀNG,
    SAO LẠI GỌI LÀ “HOÀNG QUA”

              Hoàng qua 黄瓜 (dưa leo) là loại củ quả thường thấy, có thể xào hoặc trộn rất tươi ngon. Hoàng qua ngoài chợ đa phần đều xanh tươi, gọi là “thanh qua” 青瓜 tựa hồ thích hợp hơn gọi “hoàng qua”; khắp cả thân nó có gai, gọi là “thích qua” 刺瓜cũng không sai, nhưng tại sao lại gọi là “hoàng qua”?
              Có một câu chuyện mà ít người biết đến. Hoàng qua không phải là thổ sản của Trung Quốc, mà đến từ Tây vực, ban đầu gọi là “hồ qua” 胡瓜. Thời Nam Bắc triều, người kiến lập chính quyền Hậu Triệu là Thạch Lặc 石勒vốn là người tộc Yết . Sau khi đăng cơ làm hoàng đế ở Tương quốc 襄国, đối với việc người trong nước xưng hô người tộc Yết là Hồ nhân, ông ta rất giận. Thạch Lặc ban bố pháp lệnh: bất luận nói hay viết, nhất luật nghiêm cấm xuất hiện chữ “hồ”, ai vi phạm sẽ bị chém chết không tha.
              Có một lần, Thạch Lặc triều kiến quan viên địa phương tại sân triều Thiền vu, bấy giờ Quận thú Tương quốc là Phàn Thản 樊坦áo quần lam lũ bước vào. Thạch Lặc nhìn thấy như thế, liền hỏi:
              - Phàn Thản, y quan của khanh không chỉnh tề sao lại đến triều kiến trẫm?
              Phàn Thản trong lúc lo sợ không biết phải như thế nào, đành thuận miệng nói:
              - Đó là trách người Hồ không có đạo nghĩa, cướp đi quần áo đồ vật của thần, hại thần đến nỗi y quan lam lũ mà đến triều.
              Vừa dứt lời, Phàn Thản lập tức ý thức được mình đã phạm vào điều cấm, liền vội khấu đầu tạ tội. Thạch Lặc thấy ông ta biết lỗi cũng không chỉ trích nữa. Sau buổi triệu kiến, “ngự tứ ngọ thiện” 御赐午膳 (ban bữa ăn trưa), Thạch Lặc lại chỉ hồ qua cố ý hỏi Phàn Thản:
              - Đây là quả gì?
              Phàn Thản biết Thạch Lặc có ý khảo mình, thế là cung kính đáp:
              - Đó là hoàng qua.
              Thạch Lặc nghe xong mới hài lòng.
              Từ đó về sau, hồ qua được gọi là hoàng qua, truyền khắp trong triều ngoài nội. Thời Đường, hoàng qua đã trở thành loại củ quả thường thấy cả nam bắc.

                                                     Huỳnh Chương Hưng
                                                     Quy Nhơn 11/12/2018

    Nguyên tác Trung văn
    Trong quyển
    THÚ VỊ VĂN HOÁ TRI THỨC ĐẠI TOÀN
    趣味文化知识大全
    Thanh Thạch 青石 biên soạn
    Trung Quốc Hoa kiều xuất bản xã, 2013

    Dịch thuật: Màu của hoàng qua không vàng, sao lại gọi là "hoàng qua"

    Đăng lúc  21:14  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    MÀU CỦA HOÀNG QUA KHÔNG VÀNG,
    SAO LẠI GỌI LÀ “HOÀNG QUA”

              Hoàng qua 黄瓜 (dưa leo) là loại củ quả thường thấy, có thể xào hoặc trộn rất tươi ngon. Hoàng qua ngoài chợ đa phần đều xanh tươi, gọi là “thanh qua” 青瓜 tựa hồ thích hợp hơn gọi “hoàng qua”; khắp cả thân nó có gai, gọi là “thích qua” 刺瓜cũng không sai, nhưng tại sao lại gọi là “hoàng qua”?
              Có một câu chuyện mà ít người biết đến. Hoàng qua không phải là thổ sản của Trung Quốc, mà đến từ Tây vực, ban đầu gọi là “hồ qua” 胡瓜. Thời Nam Bắc triều, người kiến lập chính quyền Hậu Triệu là Thạch Lặc 石勒vốn là người tộc Yết . Sau khi đăng cơ làm hoàng đế ở Tương quốc 襄国, đối với việc người trong nước xưng hô người tộc Yết là Hồ nhân, ông ta rất giận. Thạch Lặc ban bố pháp lệnh: bất luận nói hay viết, nhất luật nghiêm cấm xuất hiện chữ “hồ”, ai vi phạm sẽ bị chém chết không tha.
              Có một lần, Thạch Lặc triều kiến quan viên địa phương tại sân triều Thiền vu, bấy giờ Quận thú Tương quốc là Phàn Thản 樊坦áo quần lam lũ bước vào. Thạch Lặc nhìn thấy như thế, liền hỏi:
              - Phàn Thản, y quan của khanh không chỉnh tề sao lại đến triều kiến trẫm?
              Phàn Thản trong lúc lo sợ không biết phải như thế nào, đành thuận miệng nói:
              - Đó là trách người Hồ không có đạo nghĩa, cướp đi quần áo đồ vật của thần, hại thần đến nỗi y quan lam lũ mà đến triều.
              Vừa dứt lời, Phàn Thản lập tức ý thức được mình đã phạm vào điều cấm, liền vội khấu đầu tạ tội. Thạch Lặc thấy ông ta biết lỗi cũng không chỉ trích nữa. Sau buổi triệu kiến, “ngự tứ ngọ thiện” 御赐午膳 (ban bữa ăn trưa), Thạch Lặc lại chỉ hồ qua cố ý hỏi Phàn Thản:
              - Đây là quả gì?
              Phàn Thản biết Thạch Lặc có ý khảo mình, thế là cung kính đáp:
              - Đó là hoàng qua.
              Thạch Lặc nghe xong mới hài lòng.
              Từ đó về sau, hồ qua được gọi là hoàng qua, truyền khắp trong triều ngoài nội. Thời Đường, hoàng qua đã trở thành loại củ quả thường thấy cả nam bắc.

                                                     Huỳnh Chương Hưng
                                                     Quy Nhơn 11/12/2018

    Nguyên tác Trung văn
    Trong quyển
    THÚ VỊ VĂN HOÁ TRI THỨC ĐẠI TOÀN
    趣味文化知识大全
    Thanh Thạch 青石 biên soạn
    Trung Quốc Hoa kiều xuất bản xã, 2013

    Thứ Hai, 10 tháng 12, 2018

    LÀM NGƯỜI KHÔNG NÊN CÓ NGẠO KHÍ
    NHƯNG KHÔNG THỂ KHÔNG CÓ NGẠO CỐT

              “Nhân bất khả hữu ngạo khí, đản bất khả vô ngạo cốt” 人不可有傲气, 但不可无傲骨 (làm người không nên có ngạo khí, nhưng không thể không có ngạo cốt) là lời minh bên phải chỗ ngồi của tiên sinh Từ Bi Hồng 徐悲鸿. Tôi lúc còn học tiểu học, đọc được câu này, tuy lúc bấy giờ chưa có nhận thức về cảm tính và lí tính sâu sắc, nhưng tôi có thể cảm thụ được nhiều về câu này.
              “Sống phải có được cốt khí” chính là lí giải của tôi lúc đó. Về sau lại đọc sách vở viết về cuộc đời của Từ Bi Hồng, tôi đã cảm động sâu sắc bởi ngôn hành của một thanh niên thời đại. “Nhân bất khả hữu ngạo khí, đản bất khả vô ngạo cốt”, là sự khắc hoạ cuộc đời xán lạn của Từ Bi Hồng.
              Trước mặt người tây phương, Từ Bi Hồng không hề có sắc mặt siểm mị của kẻ nô tì. Từ Bi Hồng 20 tuổi thành danh, một người Pháp gốc Do Thái nhìn thấy, đã mời đến vẽ tranh ở “Cáp Đồng hoa viên” 哈同花园. Đối mặt với sự đãi ngộ hậu hỉ, Từ Bi Hồng khảng khái cự tuyệt, giữ được bản sắc “Giang Nam bố y” 江南布衣(kẻ áo vải ở Giang Nam). Thời gian lưu học chuyên về mĩ thuật ở Pháp, Từ Bi Hồng gặp phải sự kì thị của học sinh phương tây, bị vu là “sinh tựu đích đương vong quốc nô đích tài liệu” 生就的当亡国奴的材料 (sống chỉ là hạng người của một đất nước bị nô dịch) (1). Đối mặt với sự gây hấn, Từ Bi Hồng phản kích lại bằng những lời lẽ nghiêm nghị chính nghĩa, đồng thời dùng sự khiêm tốn hiếu học giành lấy thành tích vượt trội, khiến đối thủ phải phục, biểu hiện khí tiết dân tộc cao thượng. Sau khi về nước, Từ Bi Hồng không bị cám dỗ bởi quan cao lộc hậu, cũng không bị khuất phục bởi sự áp chế của chính trị, kiên quyết cự tuyệt vẽ tranh cho Tưởng Giới Thạch. Từ Bi Hồng kiên trì đi theo con đường của mình, dùng tài nghệ cao siêu của mình để phục vụ tổ quốc, để dân tộc Trung Hoa tranh quang với các nước. Đọc đến đây, tôi đã bị đánh động bởi hành vi đúng mực, không tự cao cũng không tự ti của Từ Bi Hồng, cảm thấy tự hào vì dân tộc Trung Hoa có một người con ưu tú như thế.
              Ngạo cốt, là không dao động trước thanh sắc, lòng trống rỗng như hang sâu bộc lộ một cách tự nhiên, rất khó để người ta nhìn thấy được, sờ mó được, là sự miêu tả chân thực cách nói “người không thể phán đoán qua tướng mạo, nước biển không thể dùng đấu để lường”.
              Ngạo khí là lấy lòng mọi người, bộc lộ thạnh khí để hiếp đáp người, cử chỉ thần thái kì lạ, đó là cách chú thích tốt nhất cho sự nghênh ngang tự kiêu tự mãn, cho mình là khác thường, cuồng vọng tự đại đến cực điểm.
              Người có ngạo cốt, chỉ biết khiến người khác cảm thấy gần gũi, cảm thấy ấm áp, cảm thấy sức mạnh và sự tôn nghiêm; còn kẻ có ngạo khí, lại khiến người khác lánh xa, khó tiếp nhận, “kính nhi viễn chi”, hoặc ẩn nấp để tránh, khiến người ta cảm thấy bị đè nén khó chịu.
              Ngạo cốt là sự tồn tại sau khi tổng hợp một loại khí chất, một loại phong độ, một loại nhân cách, một  loại tu dưỡng, một loại tri thức và đạo đức, là cảnh giới với thứ bậc rất cao của nhân tính.
              Ngạo khí là sự phản ánh sau khi tổng hợp loại thiển bạc, loại dung tục, loại phiến diện, loại tâm thái tự cao tự đại của hạng tiểu nhân bỗng phất lên giàu có, loại đường ngang ngõ tắt và kiến thức nửa vời, là bậc cấp rất thấp của nhân tính. 
              Ngạo cốt là hạng đại gia phong phạm, lên cao nhìn xa, tâm hồn cởi mở như trời cao đất rộng, có thể bao dung tất cả lại có thể nhã tục cùng thưởng thức, không phụ thanh cao, biết theo điều phải.
              Ngạo khí là hạng tiểu gia bủn xỉn, tầm nhìn như ếch ngồi đáy giếng, thấy “trời đất chỉ lớn như thế”, chỉ biết có mình, cố ý làm ra vẻ cao thâm, khó dung người khác, phụ theo phong nhã nhưng rốt cuộc không thể nhã được.
              Ngạo cốt là không hạ thấp người khác để tự nâng cao mình, chỉ là lấy đạo đức và hành vi cao thượng của mình tự làm nên khí hậu, lấy cẩn ngôn thận hành mà “nhậm bằng phong lãng khởi, ổn toạ điếu ngư đài” 任凭风浪起, 稳坐钓鱼台 (mặc cho sóng gió nổi lên, vẫn cứ vững ngồi yên nơi đài câu cá).
              Ngạo khí là nhìn người khác không khách quan, mục hạ vô nhân tuy không thể làm tổn thương người, không nhất định làm lợi cho mình, nhưng mọi thứ đều xét nét từ đầu đến chân, khua chân múa tay mà cho mình cao hơn người, như hạc đứng giữa bầy gà.
              Ngạo cốt một loại truy cầu, gánh thì nặng mà đường thì xa, có lẽ người  đến cuối đời mới có thể đạt được ý nghĩa, đạo lí chân thực.
              Ngạo khí là hạng người dốc lòng thuận tay lấy trộm, hái hoa cả lá, bản thân lọt vào hố sâu nhưng không biết cách thoát lên.
              Ngạo cốt là đến cuối đời vẫn giữ được chính trực, lương thiện và tự tin.
              Ngạo khí là tuỳ thời làm tổn hại đến hình tượng, danh dự và thân tâm của người khác.

    Chú của người dịch
    1- Trong bài Tinh thần cái chất, bất khả lưu thất 精神钙质不可流失ở mục “Nhân dân nhật báo nhân dân luận đàn” 人民日报人民论坛  cả câu như sau:
              Trung Quốc nhân ngu muội vô tri, sinh tựu đương vong quốc nô đích tài liệu, tức sử  tống đáo thiên đường thâm tạo, dã thành bất liễu tài.
    中国人愚昧无知, 生就当亡国奴的材料, 即使送到天堂深造, 也成不了才.
              (Người Trung Quốc ngu muội vô tri, sống chỉ là hạng người của một đất nước bị nô dịch, cho dù có được đưa đến thiên đường để đào tạo kĩ thì cũng không thể thành tài)
              (Ở tài liệu này không có chữ thứ nhất)

                                                                    Huỳnh Chương Hưng
                                                                    Quy Nhơn 10/12/2018

    Nguồn

    Dịch thuật: Làm người không nên có ngạo khí ...

    Đăng lúc  22:13  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    LÀM NGƯỜI KHÔNG NÊN CÓ NGẠO KHÍ
    NHƯNG KHÔNG THỂ KHÔNG CÓ NGẠO CỐT

              “Nhân bất khả hữu ngạo khí, đản bất khả vô ngạo cốt” 人不可有傲气, 但不可无傲骨 (làm người không nên có ngạo khí, nhưng không thể không có ngạo cốt) là lời minh bên phải chỗ ngồi của tiên sinh Từ Bi Hồng 徐悲鸿. Tôi lúc còn học tiểu học, đọc được câu này, tuy lúc bấy giờ chưa có nhận thức về cảm tính và lí tính sâu sắc, nhưng tôi có thể cảm thụ được nhiều về câu này.
              “Sống phải có được cốt khí” chính là lí giải của tôi lúc đó. Về sau lại đọc sách vở viết về cuộc đời của Từ Bi Hồng, tôi đã cảm động sâu sắc bởi ngôn hành của một thanh niên thời đại. “Nhân bất khả hữu ngạo khí, đản bất khả vô ngạo cốt”, là sự khắc hoạ cuộc đời xán lạn của Từ Bi Hồng.
              Trước mặt người tây phương, Từ Bi Hồng không hề có sắc mặt siểm mị của kẻ nô tì. Từ Bi Hồng 20 tuổi thành danh, một người Pháp gốc Do Thái nhìn thấy, đã mời đến vẽ tranh ở “Cáp Đồng hoa viên” 哈同花园. Đối mặt với sự đãi ngộ hậu hỉ, Từ Bi Hồng khảng khái cự tuyệt, giữ được bản sắc “Giang Nam bố y” 江南布衣(kẻ áo vải ở Giang Nam). Thời gian lưu học chuyên về mĩ thuật ở Pháp, Từ Bi Hồng gặp phải sự kì thị của học sinh phương tây, bị vu là “sinh tựu đích đương vong quốc nô đích tài liệu” 生就的当亡国奴的材料 (sống chỉ là hạng người của một đất nước bị nô dịch) (1). Đối mặt với sự gây hấn, Từ Bi Hồng phản kích lại bằng những lời lẽ nghiêm nghị chính nghĩa, đồng thời dùng sự khiêm tốn hiếu học giành lấy thành tích vượt trội, khiến đối thủ phải phục, biểu hiện khí tiết dân tộc cao thượng. Sau khi về nước, Từ Bi Hồng không bị cám dỗ bởi quan cao lộc hậu, cũng không bị khuất phục bởi sự áp chế của chính trị, kiên quyết cự tuyệt vẽ tranh cho Tưởng Giới Thạch. Từ Bi Hồng kiên trì đi theo con đường của mình, dùng tài nghệ cao siêu của mình để phục vụ tổ quốc, để dân tộc Trung Hoa tranh quang với các nước. Đọc đến đây, tôi đã bị đánh động bởi hành vi đúng mực, không tự cao cũng không tự ti của Từ Bi Hồng, cảm thấy tự hào vì dân tộc Trung Hoa có một người con ưu tú như thế.
              Ngạo cốt, là không dao động trước thanh sắc, lòng trống rỗng như hang sâu bộc lộ một cách tự nhiên, rất khó để người ta nhìn thấy được, sờ mó được, là sự miêu tả chân thực cách nói “người không thể phán đoán qua tướng mạo, nước biển không thể dùng đấu để lường”.
              Ngạo khí là lấy lòng mọi người, bộc lộ thạnh khí để hiếp đáp người, cử chỉ thần thái kì lạ, đó là cách chú thích tốt nhất cho sự nghênh ngang tự kiêu tự mãn, cho mình là khác thường, cuồng vọng tự đại đến cực điểm.
              Người có ngạo cốt, chỉ biết khiến người khác cảm thấy gần gũi, cảm thấy ấm áp, cảm thấy sức mạnh và sự tôn nghiêm; còn kẻ có ngạo khí, lại khiến người khác lánh xa, khó tiếp nhận, “kính nhi viễn chi”, hoặc ẩn nấp để tránh, khiến người ta cảm thấy bị đè nén khó chịu.
              Ngạo cốt là sự tồn tại sau khi tổng hợp một loại khí chất, một loại phong độ, một loại nhân cách, một  loại tu dưỡng, một loại tri thức và đạo đức, là cảnh giới với thứ bậc rất cao của nhân tính.
              Ngạo khí là sự phản ánh sau khi tổng hợp loại thiển bạc, loại dung tục, loại phiến diện, loại tâm thái tự cao tự đại của hạng tiểu nhân bỗng phất lên giàu có, loại đường ngang ngõ tắt và kiến thức nửa vời, là bậc cấp rất thấp của nhân tính. 
              Ngạo cốt là hạng đại gia phong phạm, lên cao nhìn xa, tâm hồn cởi mở như trời cao đất rộng, có thể bao dung tất cả lại có thể nhã tục cùng thưởng thức, không phụ thanh cao, biết theo điều phải.
              Ngạo khí là hạng tiểu gia bủn xỉn, tầm nhìn như ếch ngồi đáy giếng, thấy “trời đất chỉ lớn như thế”, chỉ biết có mình, cố ý làm ra vẻ cao thâm, khó dung người khác, phụ theo phong nhã nhưng rốt cuộc không thể nhã được.
              Ngạo cốt là không hạ thấp người khác để tự nâng cao mình, chỉ là lấy đạo đức và hành vi cao thượng của mình tự làm nên khí hậu, lấy cẩn ngôn thận hành mà “nhậm bằng phong lãng khởi, ổn toạ điếu ngư đài” 任凭风浪起, 稳坐钓鱼台 (mặc cho sóng gió nổi lên, vẫn cứ vững ngồi yên nơi đài câu cá).
              Ngạo khí là nhìn người khác không khách quan, mục hạ vô nhân tuy không thể làm tổn thương người, không nhất định làm lợi cho mình, nhưng mọi thứ đều xét nét từ đầu đến chân, khua chân múa tay mà cho mình cao hơn người, như hạc đứng giữa bầy gà.
              Ngạo cốt một loại truy cầu, gánh thì nặng mà đường thì xa, có lẽ người  đến cuối đời mới có thể đạt được ý nghĩa, đạo lí chân thực.
              Ngạo khí là hạng người dốc lòng thuận tay lấy trộm, hái hoa cả lá, bản thân lọt vào hố sâu nhưng không biết cách thoát lên.
              Ngạo cốt là đến cuối đời vẫn giữ được chính trực, lương thiện và tự tin.
              Ngạo khí là tuỳ thời làm tổn hại đến hình tượng, danh dự và thân tâm của người khác.

    Chú của người dịch
    1- Trong bài Tinh thần cái chất, bất khả lưu thất 精神钙质不可流失ở mục “Nhân dân nhật báo nhân dân luận đàn” 人民日报人民论坛  cả câu như sau:
              Trung Quốc nhân ngu muội vô tri, sinh tựu đương vong quốc nô đích tài liệu, tức sử  tống đáo thiên đường thâm tạo, dã thành bất liễu tài.
    中国人愚昧无知, 生就当亡国奴的材料, 即使送到天堂深造, 也成不了才.
              (Người Trung Quốc ngu muội vô tri, sống chỉ là hạng người của một đất nước bị nô dịch, cho dù có được đưa đến thiên đường để đào tạo kĩ thì cũng không thể thành tài)
              (Ở tài liệu này không có chữ thứ nhất)

                                                                    Huỳnh Chương Hưng
                                                                    Quy Nhơn 10/12/2018

    Nguồn

    Chủ Nhật, 9 tháng 12, 2018

    TRÀ THÁI BÌNH HẦU KHÔI

              Hoàng sơn 黄山không chỉ là khu du lịch phong cảnh nổi tiếng thế giới, mà còn là một trong những nơi sản xuất danh trà của Trung Quốc. Ở đây không chỉ có trà Hoàng Sơn Mao Phong 黄山毛峰 nổi tiếng gần xa mà còn có trà Thái Bình Hầu Khôi 太平猴魁 vang danh trên thế giới. Trà Thái Bình Hầu Khôi sản xuất tại Hầu Khanh 猴坑, Phụng Hoàng sơn 凤凰山, Sư Đồng sơn 狮彤山, Kê Công sơn 鸡公山, Kê Công Tiêm 鸡公尖ở làng Tân Minh 新明khu Hoàng Sơn 黄山 (nguyên là huyện Thái Bình 太平) thành phố Hoàng Sơn 黄山tỉnh An Huy 安徽, trong đó chất lượng trà ở Hầu Khanh 猴坑đứng đầu. Hầu Khanh ở phía đông bắc huyện Hoàng Sơn hơn 30 dặm, nơi đây quần thể núi bao bọc, sơn thanh thuỷ tú, khí hậu ôn hoà, vườn trà đa phần toạ lạc trên núi cao từ 500 đến 700 mét so với mực nước biển, do bởi lượng mưa dồi dào, ôn độ lớn, ánh nắng chiếu không lâu, chất đất phì nhiêu đã khiến cho sự sinh trưởng của cây trà Hầu Khôi có được điều kiện thiên nhiên ưu đãi.
              Việc hái và gia công trà Thái Bình Hầu Khôi rất nghiêm túc tỉ mỉ. Trà Hầu Khôi hái lúc chồi có lá, chồi trà mập khoẻ, sắc xanh, có nhiều lông tơ, tươi non, đảm bảo chất lượng thành phẩm của trà. Thời kì hái trà Hầu Khôi vào khoảng từ tiết Cốc Vũ 谷雨 đến tiết Lập Hạ 立夏. Lúc hái có yêu cầu “tứ giản bát bất thái” 四拣八不采 (4 chọn và 8 không hái).
    “Tứ giản” 四拣 là chọn núi cao không chọn núi thấp, chọn phía núi mát không chọn phía núi nắng, chọn cành mập khoẻ không chọn cành mềm yếu có bệnh, đảm bảo lá trà non tươi lớn nhỏ chỉnh tề; đối với chồi đã hái về cần theo tiêu chuẩn 1 chồi 2 lá, tiến hành chọn (cũng gọi là “giản tiêm” 拣尖 (chọn chồi nhọn).
              “Bát bất thái” 八不采tức không có chồi không hái, nhỏ không hái, lớn không hái, gầy không hái, cong mềm không hái, sâu đục lá không hái, sắc nhạt không hái, chồi đỏ tía không hái.
              Việc hái và chế biến trà Hầu Khôi nhìn chung là buổi sáng hái, buổi trưa chọn, buổi chiều chế biến. Trà Hầu Khôi tổng cộng chia làm 9 cấp: Hầu Khôi 猴魁, Khôi tiêm 魁尖, cống tiêm 贡尖, thiên tiêm 天尖, địa tiêm 地尖, nhân tiêm 人尖, hoà tiêm 和尖, nguyên tiêm 元尖, loan tiêm 弯尖, trong đó Hầu Khôi là cực phẩm, thứ đến là Khôi tiêm. Phương pháp gia công trà Thái Bình Hầu Khôi chỉ có 2 công đoạn là sao trà và sấy trà, không cần vò. Khi sao trà, dùng tay trộn trên chảo, lửa nóng khoảng 100 độ trở lên, mỗi lần sao chỉ từ 100 đến 150 gram lá tươi, sao liên tục trên chảo từ 3 đến 5 phút, toàn bộ quá trình chế biến chừng 4 đến 5 tiếng đồng hồ. Cách vô bao đóng gói trà Thái Bình Hầu Khanh cũng rất kĩ lưỡng, nhân lúc còn nóng cho vào hộp thiếc, đợi sau khi trà hơi nguội đậy kín nắp để lá trà không biến chất.
              Ngoại hình của trà Thái Bình Hầu Khôi là 2 lá bao lấy chồi, dẹt mà thẳng, dáng tự nhiên, ẩn hiện lông tơ trắng, nên có cách nói là: “Hầu Khôi lưỡng đầu tiêm, bất tán bất kiều bất quyển biên” 猴魁两头尖 , 不散不翘不卷边 (trà Hầu Khôi hai đầu nhọn, không bung không vênh không cuốn biên). Sắc của lá xanh mướt, gân xanh của lá ẩn đỏ, tục gọi là “hồng ti tuyến” 红丝线. Mùi hương của trà cao khiết, vị ngọt đằm, có “Hầu vận” 猴韵 (những đặc tính riêng có của trà Hầu Khôi) đặc biệt độc đáo. Sắc nước xanh trong, lá non tươi láng, chồi mập khoẻ.
              Khi pha trà Thái Bình Hầu Khôi, dùng “trung đầu pháp” 中投法, tức trước tiên bỏ trà vào li sứ hoặc li thuỷ tinh, chế nước sôi khoảng 90 độ chừng 1/3 li, đợi sau khi lá trà ngấm bung ra mới chế đầy nước sôi. Lúc mới bắt đầu uống, lá trà từ từ bung, hai lá bao lấy một chồi, hoặc nổi giữa chừng hoặc chìm, khiến người uống có cảm giác như “đao thương lâm lập” 刀枪林立 (đao thương tua tủa dựng lên như rừng) “long phi phụng vũ”  龙飞凤舞 (rồng bay phượng múa), khi thưởng thức, sắc nước xanh trong, mùi hương cao khiết, phảng phất có mùi hoa lan quyền rũ, vị ngọt đằm thắm ngon miệng. Trà Thái Bình Hầu Khôi dù pha đến nước thứ 3 thứ 4, hương thơm vẫn ngon miệng, dư vị kéo dài, có thể gọi là:
    Đầu phao hương cao, nhị phao vị nùng, tam phao tứ phao u hương do tồn.
              头泡香高, 二泡味浓, 三泡四泡幽香犹存.
    (Pha lần đầu mùi hương cao khiết, pha lần thứ hai vị đậm đà, pha lần thứ ba lần thứ tư, u hương hãy còn)

                                                                Huỳnh Chương Hưng
                                                                Quy Nhơn 09/12/2018

    Nguyên tác Trung văn
    THÁI BÌNH HẦU KHÔI
    太平猴魁
    Trong quyển
    TRUNG QUỐC TRÀ VĂN HOÁ
    中国茶文化
    Tác giả: Kha Thu Tiên 柯秋先
    Trung Quốc Kiện Tài công nghiệp xuất bản xã, 2006

    Dịch thuật: Trà Thái Bình Hầu Khôi

    Đăng lúc  19:59  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    TRÀ THÁI BÌNH HẦU KHÔI

              Hoàng sơn 黄山không chỉ là khu du lịch phong cảnh nổi tiếng thế giới, mà còn là một trong những nơi sản xuất danh trà của Trung Quốc. Ở đây không chỉ có trà Hoàng Sơn Mao Phong 黄山毛峰 nổi tiếng gần xa mà còn có trà Thái Bình Hầu Khôi 太平猴魁 vang danh trên thế giới. Trà Thái Bình Hầu Khôi sản xuất tại Hầu Khanh 猴坑, Phụng Hoàng sơn 凤凰山, Sư Đồng sơn 狮彤山, Kê Công sơn 鸡公山, Kê Công Tiêm 鸡公尖ở làng Tân Minh 新明khu Hoàng Sơn 黄山 (nguyên là huyện Thái Bình 太平) thành phố Hoàng Sơn 黄山tỉnh An Huy 安徽, trong đó chất lượng trà ở Hầu Khanh 猴坑đứng đầu. Hầu Khanh ở phía đông bắc huyện Hoàng Sơn hơn 30 dặm, nơi đây quần thể núi bao bọc, sơn thanh thuỷ tú, khí hậu ôn hoà, vườn trà đa phần toạ lạc trên núi cao từ 500 đến 700 mét so với mực nước biển, do bởi lượng mưa dồi dào, ôn độ lớn, ánh nắng chiếu không lâu, chất đất phì nhiêu đã khiến cho sự sinh trưởng của cây trà Hầu Khôi có được điều kiện thiên nhiên ưu đãi.
              Việc hái và gia công trà Thái Bình Hầu Khôi rất nghiêm túc tỉ mỉ. Trà Hầu Khôi hái lúc chồi có lá, chồi trà mập khoẻ, sắc xanh, có nhiều lông tơ, tươi non, đảm bảo chất lượng thành phẩm của trà. Thời kì hái trà Hầu Khôi vào khoảng từ tiết Cốc Vũ 谷雨 đến tiết Lập Hạ 立夏. Lúc hái có yêu cầu “tứ giản bát bất thái” 四拣八不采 (4 chọn và 8 không hái).
    “Tứ giản” 四拣 là chọn núi cao không chọn núi thấp, chọn phía núi mát không chọn phía núi nắng, chọn cành mập khoẻ không chọn cành mềm yếu có bệnh, đảm bảo lá trà non tươi lớn nhỏ chỉnh tề; đối với chồi đã hái về cần theo tiêu chuẩn 1 chồi 2 lá, tiến hành chọn (cũng gọi là “giản tiêm” 拣尖 (chọn chồi nhọn).
              “Bát bất thái” 八不采tức không có chồi không hái, nhỏ không hái, lớn không hái, gầy không hái, cong mềm không hái, sâu đục lá không hái, sắc nhạt không hái, chồi đỏ tía không hái.
              Việc hái và chế biến trà Hầu Khôi nhìn chung là buổi sáng hái, buổi trưa chọn, buổi chiều chế biến. Trà Hầu Khôi tổng cộng chia làm 9 cấp: Hầu Khôi 猴魁, Khôi tiêm 魁尖, cống tiêm 贡尖, thiên tiêm 天尖, địa tiêm 地尖, nhân tiêm 人尖, hoà tiêm 和尖, nguyên tiêm 元尖, loan tiêm 弯尖, trong đó Hầu Khôi là cực phẩm, thứ đến là Khôi tiêm. Phương pháp gia công trà Thái Bình Hầu Khôi chỉ có 2 công đoạn là sao trà và sấy trà, không cần vò. Khi sao trà, dùng tay trộn trên chảo, lửa nóng khoảng 100 độ trở lên, mỗi lần sao chỉ từ 100 đến 150 gram lá tươi, sao liên tục trên chảo từ 3 đến 5 phút, toàn bộ quá trình chế biến chừng 4 đến 5 tiếng đồng hồ. Cách vô bao đóng gói trà Thái Bình Hầu Khanh cũng rất kĩ lưỡng, nhân lúc còn nóng cho vào hộp thiếc, đợi sau khi trà hơi nguội đậy kín nắp để lá trà không biến chất.
              Ngoại hình của trà Thái Bình Hầu Khôi là 2 lá bao lấy chồi, dẹt mà thẳng, dáng tự nhiên, ẩn hiện lông tơ trắng, nên có cách nói là: “Hầu Khôi lưỡng đầu tiêm, bất tán bất kiều bất quyển biên” 猴魁两头尖 , 不散不翘不卷边 (trà Hầu Khôi hai đầu nhọn, không bung không vênh không cuốn biên). Sắc của lá xanh mướt, gân xanh của lá ẩn đỏ, tục gọi là “hồng ti tuyến” 红丝线. Mùi hương của trà cao khiết, vị ngọt đằm, có “Hầu vận” 猴韵 (những đặc tính riêng có của trà Hầu Khôi) đặc biệt độc đáo. Sắc nước xanh trong, lá non tươi láng, chồi mập khoẻ.
              Khi pha trà Thái Bình Hầu Khôi, dùng “trung đầu pháp” 中投法, tức trước tiên bỏ trà vào li sứ hoặc li thuỷ tinh, chế nước sôi khoảng 90 độ chừng 1/3 li, đợi sau khi lá trà ngấm bung ra mới chế đầy nước sôi. Lúc mới bắt đầu uống, lá trà từ từ bung, hai lá bao lấy một chồi, hoặc nổi giữa chừng hoặc chìm, khiến người uống có cảm giác như “đao thương lâm lập” 刀枪林立 (đao thương tua tủa dựng lên như rừng) “long phi phụng vũ”  龙飞凤舞 (rồng bay phượng múa), khi thưởng thức, sắc nước xanh trong, mùi hương cao khiết, phảng phất có mùi hoa lan quyền rũ, vị ngọt đằm thắm ngon miệng. Trà Thái Bình Hầu Khôi dù pha đến nước thứ 3 thứ 4, hương thơm vẫn ngon miệng, dư vị kéo dài, có thể gọi là:
    Đầu phao hương cao, nhị phao vị nùng, tam phao tứ phao u hương do tồn.
              头泡香高, 二泡味浓, 三泡四泡幽香犹存.
    (Pha lần đầu mùi hương cao khiết, pha lần thứ hai vị đậm đà, pha lần thứ ba lần thứ tư, u hương hãy còn)

                                                                Huỳnh Chương Hưng
                                                                Quy Nhơn 09/12/2018

    Nguyên tác Trung văn
    THÁI BÌNH HẦU KHÔI
    太平猴魁
    Trong quyển
    TRUNG QUỐC TRÀ VĂN HOÁ
    中国茶文化
    Tác giả: Kha Thu Tiên 柯秋先
    Trung Quốc Kiện Tài công nghiệp xuất bản xã, 2006

    Thứ Bảy, 8 tháng 12, 2018

    TRUYỀN THUYẾT CẦU VỌNG TIÊN

              Ngày xưa, gần Cổ Lâu 鼓楼 ở Hàng Châu 杭州có một cây cầu nhỏ bằng đá không có tên, bên cầu có một vị lang trung ngoại khoa chuyên trị vết thương lở loét nung mủ. Lang trung có vầng trán rộng, chân mày thô, mũi cao, miệng rộng, trên khuôn mặt đen đen mọc đầy râu quai nón, hai chân ông có vết loét, một chân cao một chân thấp, đi khập khiểng. Ông chống một chiếc dù vải lớn bên cầu, bày ra một thùng thuốc cũ kĩ, ban ngày ngồi dưới dù hành nghề y, ban đêm nằm trong thùng thuốc ngủ.
              Đầu tiên, mọi người thấy tướng mạo của vị lang trung như thế đều không tin ông có thể trị khỏi bệnh. Về sau, có một người chân bị loét đã 3 năm, đi trị ở khắp nơi nhưng không khỏi, muốn thử vận may bèn đến tìm ông trị bệnh. Không ngờ lang trung đưa cho anh ta một miếng thuốc dán cao da chó, dán 3 ngày 3 đêm, vết loét liền khỏi. Tin tức truyền đi, người đến nhờ ông trị bệnh dần đông lên. Vị lang trung nọ dùng một loại thuốc dán cao da chó, trị khỏi vết loét cho nhiều người. Danh tiếng của ông vang động cả thành Hàng Châu. Mọi người tặng cho ông ngoại hiệu là “Tái Hoa Đà” 赛华佗.
              Khi Tái Hoa Đà đã nổi tiếng, một số thầy thuốc ở Hàng Châu treo bảng “cao thủ danh y” làm ăn ngày càng ế ẩm. Họ nổi giận, bèn tụ tập lại thương lượng, mọi người góp được 1000 lượng bạc đưa cho Tri phủ, nhờ Tri phủ đuổi Tái Hoa Đà ra khỏi Hàng Châu.
              Tri phủ nhận hối lộ, bèn sai nha dịch đi bắt Tái Hoa Đà.
              Tri phủ cầm khúc gỗ vỗ mạnh xuống án, thét rằng:
              - Tên khốn kia! thấy bản phủ sao không chịu quỳ?
              Tái Hoa Đà lạnh lùng đáp rằng:
              - Tôi bị què, xương đầu gối cứng rồi nên trước giờ không quỳ.
              Tri phủ lại vỗ mạnh xuống án:
              - Nhà ngươi tên gì? Từ đâu tới?
              Tái Hoa Đà đáp rằng:
              - Tôi không có tên, nhưng bách tính Hàng Châu tặng tôi một ngoại hiệu, gọi tôi là “Tái Hoa Đà”. Còn từ đâu tới tôi cũng không nhớ rõ.
              Tri phủ đảo mắt cười lớn:
              - Giỏi cho Tái Hoa Đà! Nhà ngươi tự miệng nói ra. Nhà ngươi đã có bản lĩnh của Tái Hoa Đà, tại sao trước tiên không chữa trị vết loét ở chân mình?
              Lúc bấy giờ, Tri phủ cảm thấy ở chỗ xương sống dường như có con gì bò, ngứa vô cùng, liến luồn tay vào trong áo mò xem thử, nhưng mò không thấy gì. Chỉ thấy Tái Hoa Đà nhìn Tri phủ cười lớn, nói rằng:
              - Tri phủ đại nhân à! ông thông minh một đời mà hồ đồ một phút. Trên đời này các nghề chỉ lo cho người khác mà mà lo cho mình chẳng bao nhiêu. Đã xây nhà sao lại ở nhà tranh? Nuôi tằm sao lại mặc áo rách? Trồng lúa sao lại bụng đói? Quan phủ lo việc trộm cắp sao lại ngầm tham hối lộ. Những điều đó sao ông không hỏi, không đi lo?
              Tri phủ bị Tái Hoa Đà hỏi bí, trả lời không được, liền cầm khúc gỗ vỗ mạnh xuống án chấn động cả trời đất, thét lớn:
              - Hãy vả vào mồm hắn, giam hắn vào tử lao.
              Tri phủ thoái đường, cảm thấy ở lưng càng ngứa dữ tợn, cởi áo ra gọi người đến coi thử, hoá ra là có một khối u nhỏ, khối u càng đụng vào càng ngứa, càng đụng vào càng lớn. Qua một nửa canh giờ biến thành khối nhọt, đau đến nỗi tri phủ lăn lộn trên giường kêu lớn. Lão sư gia biết được, bước vào nói với Tri phủ:
              - Lão gia, tôi nghe nói Tái Hoa Đà là quả thật là người trị khỏi nhọt, gọi anh ta đến chữa trị cho ông thử, đợi chữa trị khỏi rồi khép tội anh ta cũng không muộn.
              Tri phủ quá đau, đành sai người đến nhà lao đưa Tái Hoa Đà đến. Tái Hoa Đà nhìn qua vết nhọt nơi lưng của tri phủ, liền dán lên miếng cao da chó.
              Nào ngờ qua một đêm, vết nhọt trên lưng Tri phủ không những không bớt mà còn càng sưng tấy lên, lở loét đến nỗi chảy máu chảy mủ, cách 3 ngăn cửa lớn mà hãy còn ngửi thấy mùi thối. Tri phủ giận chết được, trời chưa sáng đã sai người bắt Tái Hoa Đà đến, quát rằng:
              - Vết loét trên lưng ta đau nhức vô cùng, nhất định là do miếng thuốc dán của nhà ngươi phát ra chất độc!
              Tái Hoa Đà bảo rằng:
              - Chớ nóng vội, chớ nóng vội, để tôi xem kĩ vết loét rồi nói.
              Nói xong bèn gỡ miếng thuốc dán, nhìn kĩ qua một lượt rồi chau mày nói rằng:
              - Vết loét này miệng thì nhỏ, nhưng bên trong lại lớn, từ bên trong loét ra, gọi là “xuyên tâm lạn” 穿心烂, không thuốc nào có thể chữa được. Bởi thường ngày ông làm điều ác độc, không có lương tâm, cho nên mắc phải, không liên can gì đến thuốc dán của tôi.
              Nghe Tái Hoa Đà nói như thế, Tri phủ vừa giận vừa sốt ruột, gào lớn thét lớn:
              - Mau chặt đầu hắn ta.
              Qua một lúc sau, Tri phủ thở không nỗi nữa, chớp chớp con mắt trắng dã, phút chốc đã “ô hô ai tai”.
              Lão sư gia theo lời dặn của Tri phủ trước lúc mất, khép Tái Hoa Đà tội danh “yêu đạo hoặc chúng” 妖道惑众, đưa đến pháp trường xử trảm.
              Khi Tái Hoa Đà bị đưa ra pháp trường, đi ngang qua chiếc cầu nhỏ bằng đá, nơi ông chống chiếc dù vải và bày thùng thuốc. Bách tính thấy ông bị oan đều vây quanh bàn tán, trong chốc lát đường bị tắc. Tái Hoa Đà hướng đến mọi người nói rằng:
              - Bà con, quan phủ lão gia muốn đưa tôi về trời, tôi không đi cũng phải đi.
              Nói xong, chỉ nghe một tiếng “ bùm”, Tái Hoa Đà đã nhảy xuống nước, hoa sóng nổi đầy trên mặt nước, chỗ nước xoáy có tiếng vang ùng ục, bỗng một làn khói xanh bay lên. Tái Hoa Đà đứng trên không trung nhìn mọi người gật đầu vẫy tay, rồi theo làn khói xanh bay thẳng lên trời.
              Mọi người bảo rằng, Tái Hoa Đà là thần tiên.  Không ai có thể  quên được Tái Hoa Đà, 4 mùa 8 tiết đều luôn có người đến cây cầu nhỏ này trông ngóng ông ta trở lại trị bệnh cứu mọi người. Lâu dần, cây cầu đá nhỏ này được mọi người gọi là “Vọng Tiên kiều” 望仙桥(cầu Vọng Tiên).
             
                                                         Huỳnh Chương Hưng
                                                         Quy Nhơn 08/12/2018

    Nguyên tác Trung văn
    VỌNG TIÊN KIỀU ĐÍCH TRUYỀN THUYẾT
    望仙桥的传说
    Trong quyển
    THANH THIẾU NIÊN TỐI HỈ HOAN ĐÍCH
    THẦN THOẠI CỐ SỰ
    青少年最喜欢的
    神话故事
    Tác giả: Ngô Cảnh Minh 吴景明
    Diên Biên nhân dân xuất bản xã, 2002

    Dịch thuật: Truyền thuyết cầu Vọng Tiên

    Đăng lúc  19:52  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    TRUYỀN THUYẾT CẦU VỌNG TIÊN

              Ngày xưa, gần Cổ Lâu 鼓楼 ở Hàng Châu 杭州có một cây cầu nhỏ bằng đá không có tên, bên cầu có một vị lang trung ngoại khoa chuyên trị vết thương lở loét nung mủ. Lang trung có vầng trán rộng, chân mày thô, mũi cao, miệng rộng, trên khuôn mặt đen đen mọc đầy râu quai nón, hai chân ông có vết loét, một chân cao một chân thấp, đi khập khiểng. Ông chống một chiếc dù vải lớn bên cầu, bày ra một thùng thuốc cũ kĩ, ban ngày ngồi dưới dù hành nghề y, ban đêm nằm trong thùng thuốc ngủ.
              Đầu tiên, mọi người thấy tướng mạo của vị lang trung như thế đều không tin ông có thể trị khỏi bệnh. Về sau, có một người chân bị loét đã 3 năm, đi trị ở khắp nơi nhưng không khỏi, muốn thử vận may bèn đến tìm ông trị bệnh. Không ngờ lang trung đưa cho anh ta một miếng thuốc dán cao da chó, dán 3 ngày 3 đêm, vết loét liền khỏi. Tin tức truyền đi, người đến nhờ ông trị bệnh dần đông lên. Vị lang trung nọ dùng một loại thuốc dán cao da chó, trị khỏi vết loét cho nhiều người. Danh tiếng của ông vang động cả thành Hàng Châu. Mọi người tặng cho ông ngoại hiệu là “Tái Hoa Đà” 赛华佗.
              Khi Tái Hoa Đà đã nổi tiếng, một số thầy thuốc ở Hàng Châu treo bảng “cao thủ danh y” làm ăn ngày càng ế ẩm. Họ nổi giận, bèn tụ tập lại thương lượng, mọi người góp được 1000 lượng bạc đưa cho Tri phủ, nhờ Tri phủ đuổi Tái Hoa Đà ra khỏi Hàng Châu.
              Tri phủ nhận hối lộ, bèn sai nha dịch đi bắt Tái Hoa Đà.
              Tri phủ cầm khúc gỗ vỗ mạnh xuống án, thét rằng:
              - Tên khốn kia! thấy bản phủ sao không chịu quỳ?
              Tái Hoa Đà lạnh lùng đáp rằng:
              - Tôi bị què, xương đầu gối cứng rồi nên trước giờ không quỳ.
              Tri phủ lại vỗ mạnh xuống án:
              - Nhà ngươi tên gì? Từ đâu tới?
              Tái Hoa Đà đáp rằng:
              - Tôi không có tên, nhưng bách tính Hàng Châu tặng tôi một ngoại hiệu, gọi tôi là “Tái Hoa Đà”. Còn từ đâu tới tôi cũng không nhớ rõ.
              Tri phủ đảo mắt cười lớn:
              - Giỏi cho Tái Hoa Đà! Nhà ngươi tự miệng nói ra. Nhà ngươi đã có bản lĩnh của Tái Hoa Đà, tại sao trước tiên không chữa trị vết loét ở chân mình?
              Lúc bấy giờ, Tri phủ cảm thấy ở chỗ xương sống dường như có con gì bò, ngứa vô cùng, liến luồn tay vào trong áo mò xem thử, nhưng mò không thấy gì. Chỉ thấy Tái Hoa Đà nhìn Tri phủ cười lớn, nói rằng:
              - Tri phủ đại nhân à! ông thông minh một đời mà hồ đồ một phút. Trên đời này các nghề chỉ lo cho người khác mà mà lo cho mình chẳng bao nhiêu. Đã xây nhà sao lại ở nhà tranh? Nuôi tằm sao lại mặc áo rách? Trồng lúa sao lại bụng đói? Quan phủ lo việc trộm cắp sao lại ngầm tham hối lộ. Những điều đó sao ông không hỏi, không đi lo?
              Tri phủ bị Tái Hoa Đà hỏi bí, trả lời không được, liền cầm khúc gỗ vỗ mạnh xuống án chấn động cả trời đất, thét lớn:
              - Hãy vả vào mồm hắn, giam hắn vào tử lao.
              Tri phủ thoái đường, cảm thấy ở lưng càng ngứa dữ tợn, cởi áo ra gọi người đến coi thử, hoá ra là có một khối u nhỏ, khối u càng đụng vào càng ngứa, càng đụng vào càng lớn. Qua một nửa canh giờ biến thành khối nhọt, đau đến nỗi tri phủ lăn lộn trên giường kêu lớn. Lão sư gia biết được, bước vào nói với Tri phủ:
              - Lão gia, tôi nghe nói Tái Hoa Đà là quả thật là người trị khỏi nhọt, gọi anh ta đến chữa trị cho ông thử, đợi chữa trị khỏi rồi khép tội anh ta cũng không muộn.
              Tri phủ quá đau, đành sai người đến nhà lao đưa Tái Hoa Đà đến. Tái Hoa Đà nhìn qua vết nhọt nơi lưng của tri phủ, liền dán lên miếng cao da chó.
              Nào ngờ qua một đêm, vết nhọt trên lưng Tri phủ không những không bớt mà còn càng sưng tấy lên, lở loét đến nỗi chảy máu chảy mủ, cách 3 ngăn cửa lớn mà hãy còn ngửi thấy mùi thối. Tri phủ giận chết được, trời chưa sáng đã sai người bắt Tái Hoa Đà đến, quát rằng:
              - Vết loét trên lưng ta đau nhức vô cùng, nhất định là do miếng thuốc dán của nhà ngươi phát ra chất độc!
              Tái Hoa Đà bảo rằng:
              - Chớ nóng vội, chớ nóng vội, để tôi xem kĩ vết loét rồi nói.
              Nói xong bèn gỡ miếng thuốc dán, nhìn kĩ qua một lượt rồi chau mày nói rằng:
              - Vết loét này miệng thì nhỏ, nhưng bên trong lại lớn, từ bên trong loét ra, gọi là “xuyên tâm lạn” 穿心烂, không thuốc nào có thể chữa được. Bởi thường ngày ông làm điều ác độc, không có lương tâm, cho nên mắc phải, không liên can gì đến thuốc dán của tôi.
              Nghe Tái Hoa Đà nói như thế, Tri phủ vừa giận vừa sốt ruột, gào lớn thét lớn:
              - Mau chặt đầu hắn ta.
              Qua một lúc sau, Tri phủ thở không nỗi nữa, chớp chớp con mắt trắng dã, phút chốc đã “ô hô ai tai”.
              Lão sư gia theo lời dặn của Tri phủ trước lúc mất, khép Tái Hoa Đà tội danh “yêu đạo hoặc chúng” 妖道惑众, đưa đến pháp trường xử trảm.
              Khi Tái Hoa Đà bị đưa ra pháp trường, đi ngang qua chiếc cầu nhỏ bằng đá, nơi ông chống chiếc dù vải và bày thùng thuốc. Bách tính thấy ông bị oan đều vây quanh bàn tán, trong chốc lát đường bị tắc. Tái Hoa Đà hướng đến mọi người nói rằng:
              - Bà con, quan phủ lão gia muốn đưa tôi về trời, tôi không đi cũng phải đi.
              Nói xong, chỉ nghe một tiếng “ bùm”, Tái Hoa Đà đã nhảy xuống nước, hoa sóng nổi đầy trên mặt nước, chỗ nước xoáy có tiếng vang ùng ục, bỗng một làn khói xanh bay lên. Tái Hoa Đà đứng trên không trung nhìn mọi người gật đầu vẫy tay, rồi theo làn khói xanh bay thẳng lên trời.
              Mọi người bảo rằng, Tái Hoa Đà là thần tiên.  Không ai có thể  quên được Tái Hoa Đà, 4 mùa 8 tiết đều luôn có người đến cây cầu nhỏ này trông ngóng ông ta trở lại trị bệnh cứu mọi người. Lâu dần, cây cầu đá nhỏ này được mọi người gọi là “Vọng Tiên kiều” 望仙桥(cầu Vọng Tiên).
             
                                                         Huỳnh Chương Hưng
                                                         Quy Nhơn 08/12/2018

    Nguyên tác Trung văn
    VỌNG TIÊN KIỀU ĐÍCH TRUYỀN THUYẾT
    望仙桥的传说
    Trong quyển
    THANH THIẾU NIÊN TỐI HỈ HOAN ĐÍCH
    THẦN THOẠI CỐ SỰ
    青少年最喜欢的
    神话故事
    Tác giả: Ngô Cảnh Minh 吴景明
    Diên Biên nhân dân xuất bản xã, 2002

    Thứ Sáu, 7 tháng 12, 2018

    CÓ RÂU HAY KHÔNG CÓ RÂU
    BÀN VỀ CHỮ “VI

              Chữ (vi) trong Hán ngữ hiện đại, thường giải thích là “vi tiểu” 微小 (nhỏ bé), “ti vi” 卑微 (hèn mọn), nhưng nghĩa gốc của nó lại là “ẩn hành” 隐行 (1). Gọi là “ẩn hành” chính là hành động không công khai. Ví dụ đế vương, cao quan bí mật xuất hành để tìm hiểu tình hình, gọi là “vi hành xuất phỏng” 微行出访, Tần Thuỷ Hoàng 秦始皇 “vi hành Hàm Dương” 微行咸阳chính là chỉ việc Tần Thuỷ Hoàng cải trang đến Hàm Dương ngầm xem xét. Trong Hán thư – Thành Đế kỉ 汉书 - 成帝纪 có ghi:
    Hồng Gia nguyên niên, Thượng thuỷ vi hành xuất.
    鸿嘉元年, 上始微行出
    (Niên hiệu Hồng Gia thứ nhất, bề trên bắt đầu ra vi hành)
    Đây là nói Thành Đế vi hành kiểm tra. Có người cho rằng “vi hành” là cải trang thành người thấp hèn mà xuất hành. “Vi” có nghĩa là “vi tiện” 微贱 (thấp hèn), trong Thư kinh – Thuấn điển 书经  - 舜典 có câu:
    Ngu Thuấn trắc vi (*)
    虞舜侧微
    Chú rằng:
    Vi thứ nhân, cố vi tiện.
    为庶人, 故微贱
    (Là thứ nhân, cho nên thấp hèn)
    Nhưng “vi hành” mà giải thích là “vi tiện” e là có chỗ không chuẩn xác. Phương Bao 方苞  trong Tả Trung Nghị Công dật sự 左忠毅公逸事 có viết một đoạn như sau:
              (Tả Quang Đẩu) vi hành nhập cổ tự, vu hạ nhất sinh phục án ngoạ, văn phương thành thảo. Công duyệt tất, tức giải điêu phú sinh, (Sử Khả Pháp) vi yểm hộ.
              (左光斗) 微行入古寺, 庑下一生伏案卧, 文方成草. 公阅, 即解貂覆生, (史可法) 为掩之.
              ( (Tả Quang Đẩu) vi hành vào một ngôi chùa cổ, dưới mái nhà vu có một thư sinh đang gục đầu trên án, bài văn vừa mới xong bản thảo. Ông xem qua xong, bèn cởi áo da con điêu đắp lên người anh ta (Sử Khả Pháp) )
              Nếu nói Tả Quang Đẩu cải trang thành người thấp hèn vào chùa cổ, thế thì ông ta lấy đâu ra áo da con điêu để đắp lên người Sử Khả Pháp? Rõ ràng là mâu thuẫn. Phải là không để cho người ta biết thân phận tôn quý của mình mới cải trang xuất hành (2). Ở đây nghĩa gốc “vi tiện” (thấp hèn) đã mất.
              Chữ (vi) có nhiều nét nghĩa, trong sách cổ thường giải thích là (vô). Phạm Trọng Yêm 范仲淹trong Nhạc Dương lâu kí 岳阳楼记 có viết:
    Vi tư nhân, ngô thuỳ (**) dữ quy
    微斯人, 吾谁 (**)与归
    Ý nói là không có người như thế, tức hạng người “tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu,
    Hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc” 先天下之忧而忧, 后天下之乐而乐 (lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ), thì ta biết hướng theo ai? Và như trong Tả truyện – Hi Công tam thập niên 左传 - 僖公三十年 cũng có câu:
              Vi phù nhân chi lực, bất cập thử.
              微夫人之力, 不及此
    Ý nói không có sức mạnh của họ, chúng ta không thể có ngày nay. Còn như trong Luận ngữ - Hiến vấn 论语 - 宪问 có câu nổi tiếng, khẳng định Quản Trọng 管仲:
              Vi Quản Trọng, ngô kì phi phát tả nhẫm hĩ.
              微管仲, 吾其披发左衽矣
    Ý nói, nếu không có Quản Trọng thì chúng ta đã xoả tóc, cài áo về bên trái rồi, cũng chính là nói bị lẫn với Di Địch. Nhân vì vào thời cổ, người dân ở trung nguyên cài áo về bên phải, tóc vấn lên.
              Nói đến hai cách giải thích ở trên, có một câu chuyện. Thời cổ có một vị khảo sinh tham gia Hội thí, trên tờ khai điền về đặc trưng tướng mạo của mình, anh ta viết hai chữ 微须 (vi tu). Viên khảo quan không hiểu nghĩa cổ của chữ (vi) giải thích là “vô”, mà cho “vi tu” là có chút râu. Đến lúc vào trường thi, khảo quan không cho anh ta vào, hai bên tranh chấp mãi. Khảo sinh nói rằng “vi tu” chính là “vô tu” (không có râu). Khảo quan phản bác lại, bảo rằng “vi tu” là “vô tu”, thế thì Khổng Tử “vi phục” 微服 (***) đi qua nước Tống, há chẳng phải là nói Khổng Tử ở trần đến nước Tống sao? Khảo quan không biết nghĩa cổ, gây ra chuyện cười cho đời sau.

    Chú của nguyên tác
    1- Thuyết văn giải tự 说文解字: “Vi, ẩn hành dã.” , 隐行 Trung Hoa thư cục ảnh ấn.
    2- Từ nguyên 辞源 (nhị) trang 1087, Thương vụ ấn thư quán.

    Chú của người dịch
    *- Thư – Thuấn điển - 舜典: Ngu Thuấn trắc vi 虞舜侧微.
              Khổng Dĩnh Đạt 孔颖达 sớ rằng:
              Thử vân trắc vi, tức “Nghiêu điển” trắc lậu dã. Bất tại triều đình vị chi trắc, kì nhân bần tiện vị chi vi.
              此云侧微, 尧典侧陋也. 不在朝廷谓之侧, 其人贫贱谓之微.
             (Ở đây nói “trắc vi”, tức trong “Nghiêu điển” là “trắc lậu”. Không ở tại triều đình gọi là “trắc”, người bần tiện gọi là “vi”.
    **- Theo Cổ văn của Lưu Dự Am, Lã Cảnh Đoan (tập 3), bản dịch của Hoàng Khôi, và quyển Hán văn của Trần Trọng San, ở đây là chữ (thuỳ). Trong nguyên tác là chữ (duy). Tôi theo 2 sách này sửa là chữ “thuỳ”.
    ***- Trong Mạnh Tử - Vạn Chương thượng 孟子 - 万章上 có ghi:
              Khổng Tử bất duyệt ư Lỗ, Vệ, tao Tống Hoàn Tư mã tương yêu nhi sát chi, vi phục nhi quá Tống.
              孔子不悦於魯, , 遭宋桓司馬將要而殺之, 微服而過宋.
              (Khổng Tử tại nước Lỗ nước Vệ bất đắc chí, lại bị quan Tư mã nước Tống là Hoàn Đồi 桓魋 chặn đường đón giết, bèn cải trang thường phục mà qua nước Tống)

                                                              Huỳnh Chương Hưng
                                                              Quy Nhơn 07/12/2018

    Nguyên tác Trung văn
    HỮU TU HOÀN THỊ VÔ TU
    ĐÀM “VI
    有须还是无须
      “
    Trong quyển
    HÁN TỰ THẬP THÚ
    汉字拾趣
    Tác giả: KỶ ĐỨC DỤ (纪德裕)
    Phúc Đán Đại học xuất bản xã, 1998

    Dịch thuật: Bàn về chữ "vi"

    Đăng lúc  21:40  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    CÓ RÂU HAY KHÔNG CÓ RÂU
    BÀN VỀ CHỮ “VI

              Chữ (vi) trong Hán ngữ hiện đại, thường giải thích là “vi tiểu” 微小 (nhỏ bé), “ti vi” 卑微 (hèn mọn), nhưng nghĩa gốc của nó lại là “ẩn hành” 隐行 (1). Gọi là “ẩn hành” chính là hành động không công khai. Ví dụ đế vương, cao quan bí mật xuất hành để tìm hiểu tình hình, gọi là “vi hành xuất phỏng” 微行出访, Tần Thuỷ Hoàng 秦始皇 “vi hành Hàm Dương” 微行咸阳chính là chỉ việc Tần Thuỷ Hoàng cải trang đến Hàm Dương ngầm xem xét. Trong Hán thư – Thành Đế kỉ 汉书 - 成帝纪 có ghi:
    Hồng Gia nguyên niên, Thượng thuỷ vi hành xuất.
    鸿嘉元年, 上始微行出
    (Niên hiệu Hồng Gia thứ nhất, bề trên bắt đầu ra vi hành)
    Đây là nói Thành Đế vi hành kiểm tra. Có người cho rằng “vi hành” là cải trang thành người thấp hèn mà xuất hành. “Vi” có nghĩa là “vi tiện” 微贱 (thấp hèn), trong Thư kinh – Thuấn điển 书经  - 舜典 có câu:
    Ngu Thuấn trắc vi (*)
    虞舜侧微
    Chú rằng:
    Vi thứ nhân, cố vi tiện.
    为庶人, 故微贱
    (Là thứ nhân, cho nên thấp hèn)
    Nhưng “vi hành” mà giải thích là “vi tiện” e là có chỗ không chuẩn xác. Phương Bao 方苞  trong Tả Trung Nghị Công dật sự 左忠毅公逸事 có viết một đoạn như sau:
              (Tả Quang Đẩu) vi hành nhập cổ tự, vu hạ nhất sinh phục án ngoạ, văn phương thành thảo. Công duyệt tất, tức giải điêu phú sinh, (Sử Khả Pháp) vi yểm hộ.
              (左光斗) 微行入古寺, 庑下一生伏案卧, 文方成草. 公阅, 即解貂覆生, (史可法) 为掩之.
              ( (Tả Quang Đẩu) vi hành vào một ngôi chùa cổ, dưới mái nhà vu có một thư sinh đang gục đầu trên án, bài văn vừa mới xong bản thảo. Ông xem qua xong, bèn cởi áo da con điêu đắp lên người anh ta (Sử Khả Pháp) )
              Nếu nói Tả Quang Đẩu cải trang thành người thấp hèn vào chùa cổ, thế thì ông ta lấy đâu ra áo da con điêu để đắp lên người Sử Khả Pháp? Rõ ràng là mâu thuẫn. Phải là không để cho người ta biết thân phận tôn quý của mình mới cải trang xuất hành (2). Ở đây nghĩa gốc “vi tiện” (thấp hèn) đã mất.
              Chữ (vi) có nhiều nét nghĩa, trong sách cổ thường giải thích là (vô). Phạm Trọng Yêm 范仲淹trong Nhạc Dương lâu kí 岳阳楼记 có viết:
    Vi tư nhân, ngô thuỳ (**) dữ quy
    微斯人, 吾谁 (**)与归
    Ý nói là không có người như thế, tức hạng người “tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu,
    Hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc” 先天下之忧而忧, 后天下之乐而乐 (lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ), thì ta biết hướng theo ai? Và như trong Tả truyện – Hi Công tam thập niên 左传 - 僖公三十年 cũng có câu:
              Vi phù nhân chi lực, bất cập thử.
              微夫人之力, 不及此
    Ý nói không có sức mạnh của họ, chúng ta không thể có ngày nay. Còn như trong Luận ngữ - Hiến vấn 论语 - 宪问 có câu nổi tiếng, khẳng định Quản Trọng 管仲:
              Vi Quản Trọng, ngô kì phi phát tả nhẫm hĩ.
              微管仲, 吾其披发左衽矣
    Ý nói, nếu không có Quản Trọng thì chúng ta đã xoả tóc, cài áo về bên trái rồi, cũng chính là nói bị lẫn với Di Địch. Nhân vì vào thời cổ, người dân ở trung nguyên cài áo về bên phải, tóc vấn lên.
              Nói đến hai cách giải thích ở trên, có một câu chuyện. Thời cổ có một vị khảo sinh tham gia Hội thí, trên tờ khai điền về đặc trưng tướng mạo của mình, anh ta viết hai chữ 微须 (vi tu). Viên khảo quan không hiểu nghĩa cổ của chữ (vi) giải thích là “vô”, mà cho “vi tu” là có chút râu. Đến lúc vào trường thi, khảo quan không cho anh ta vào, hai bên tranh chấp mãi. Khảo sinh nói rằng “vi tu” chính là “vô tu” (không có râu). Khảo quan phản bác lại, bảo rằng “vi tu” là “vô tu”, thế thì Khổng Tử “vi phục” 微服 (***) đi qua nước Tống, há chẳng phải là nói Khổng Tử ở trần đến nước Tống sao? Khảo quan không biết nghĩa cổ, gây ra chuyện cười cho đời sau.

    Chú của nguyên tác
    1- Thuyết văn giải tự 说文解字: “Vi, ẩn hành dã.” , 隐行 Trung Hoa thư cục ảnh ấn.
    2- Từ nguyên 辞源 (nhị) trang 1087, Thương vụ ấn thư quán.

    Chú của người dịch
    *- Thư – Thuấn điển - 舜典: Ngu Thuấn trắc vi 虞舜侧微.
              Khổng Dĩnh Đạt 孔颖达 sớ rằng:
              Thử vân trắc vi, tức “Nghiêu điển” trắc lậu dã. Bất tại triều đình vị chi trắc, kì nhân bần tiện vị chi vi.
              此云侧微, 尧典侧陋也. 不在朝廷谓之侧, 其人贫贱谓之微.
             (Ở đây nói “trắc vi”, tức trong “Nghiêu điển” là “trắc lậu”. Không ở tại triều đình gọi là “trắc”, người bần tiện gọi là “vi”.
    **- Theo Cổ văn của Lưu Dự Am, Lã Cảnh Đoan (tập 3), bản dịch của Hoàng Khôi, và quyển Hán văn của Trần Trọng San, ở đây là chữ (thuỳ). Trong nguyên tác là chữ (duy). Tôi theo 2 sách này sửa là chữ “thuỳ”.
    ***- Trong Mạnh Tử - Vạn Chương thượng 孟子 - 万章上 có ghi:
              Khổng Tử bất duyệt ư Lỗ, Vệ, tao Tống Hoàn Tư mã tương yêu nhi sát chi, vi phục nhi quá Tống.
              孔子不悦於魯, , 遭宋桓司馬將要而殺之, 微服而過宋.
              (Khổng Tử tại nước Lỗ nước Vệ bất đắc chí, lại bị quan Tư mã nước Tống là Hoàn Đồi 桓魋 chặn đường đón giết, bèn cải trang thường phục mà qua nước Tống)

                                                              Huỳnh Chương Hưng
                                                              Quy Nhơn 07/12/2018

    Nguyên tác Trung văn
    HỮU TU HOÀN THỊ VÔ TU
    ĐÀM “VI
    有须还是无须
      “
    Trong quyển
    HÁN TỰ THẬP THÚ
    汉字拾趣
    Tác giả: KỶ ĐỨC DỤ (纪德裕)
    Phúc Đán Đại học xuất bản xã, 1998

    Thứ Năm, 6 tháng 12, 2018

    TÀO PHI RỐT CUỘC LÀ “THỤ NHƯỢNG” HAY “SOÁN HÁN”

    Trong Tam quốc diễn nghĩa 三国演义, hồi thứ 80 “Tào Phi phế đế soán Viêm Lưu” 曹丕废帝篡炎刘, thuật lại câu chuyện Hán Hiến Đế 汉献帝 kiến tạo “thụ nhượng đài” 受让台 (đài nhường ngôi), chủ động đem hoàng vị giao cho Tào Phi 曹丕. Tào Phi đôi ba lần từ chối, Hán Hiến Đế vẫn khuyên Tào Phi tiếp nhận đế vị. Thế thì, Hán Nguỵ quyền lực bên giao bên nhận, rốt cuộc là Hán Hiến Đế tự nguyện thiện nhượng, hay Tào Phi cưỡng hành soán đoạt?
              Chúng ta nhìn kĩ sự tình thử.
              Sau khi Tào Tháo 曹操 đưa Hán Hiến Đế về Hứa Đô 许都, đã “hiệp thiên tử dĩ lệnh chư hầu” 挟天子以令诸侯 (cưỡng đoạt danh nghĩa hoàng đế mà ra lệnh chư hầu). Do đó, Hán Hiến Đế mất đi quyền lực, trở thành bù nhìn. Tào Tháo lúc sinh tiền vẫn chưa có mưu tính đoạt ngôi vị thiên tử, sau khi Tào Tháo mất, cả bọn Hoa Hâm 华歆 văn võ đại thần khuyên Hán Hiến Đế học theo Đế Nghiêu thiện vị cho ông Thuấn , đem hoàng vị nhường cho Tào Phi. Hán Hiến Đế tuy nhu nhược, nhưng cũng không thể vòng tay đem gian sơn của tổ tiên nhường cho Tào Phi.
              Về sau, Hán Hiến Đế quả thực không chống lại được hai ba lần uy bức của bọn Hoa Hâm 华歆, Lí Phục 李伏, Hứa Chi 许芝, cuối cùng đồng ý “đem hoàng vị nhường cho Tào Phi”. Khi Tào Phi sắp được chiếu thiện vị của Hán Hiến Đế vô cùng vui mừng, định tiếp nhận, Tư Mã Ý 司马懿 khuyên rằng:
              - Tuy chiếu thư thiện vị đã có, nhưng không nên nóng vội tiếp nhận. Ngài nên biểu hiện sự khiêm tốn một chút,  trước tiên hãy từ chối đã, có như vậy mới bịt được miệng thiên hạ.
              Từ đó có thể thấy, gọi là “thiện nhượng”, thực tế là sự lựa chọn bất đắc dĩ của Hán Hiến Đế. Quyền lực Hán Nguỵ trao và nhận, về bản chất là Tào Phi cưỡng hành “soán đoạt”. “Thụ nhượng” là giả, “soán Hán” là thật. Tào Phi “thụ nhượng” xưng đế, đổi quốc hiệu là Đại Nguỵ 大魏, lấy niên hiệu là Hoàng Sơ 黄初, phong Hán Hiến Đế làm Sơn Dương Công 山阳公.
             
                                                      Huỳnh Chương Hưng
                                                      Quy Nhơn 06/12/2018

    Nguyên tác Trung văn
    Trong quyển
    THÚ VỊ VĂN HOÁ TRI THỨC ĐẠI TOÀN
    趣味文化知识大全
    Thanh Thạch 青石 biên soạn
    Trung Quốc Hoa kiều xuất bản xã, 2013

    Dịch thuật: Tào Phi rốt cuộc là "thụ nhượng" hay "soán Hán"

    Đăng lúc  21:36  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    TÀO PHI RỐT CUỘC LÀ “THỤ NHƯỢNG” HAY “SOÁN HÁN”

    Trong Tam quốc diễn nghĩa 三国演义, hồi thứ 80 “Tào Phi phế đế soán Viêm Lưu” 曹丕废帝篡炎刘, thuật lại câu chuyện Hán Hiến Đế 汉献帝 kiến tạo “thụ nhượng đài” 受让台 (đài nhường ngôi), chủ động đem hoàng vị giao cho Tào Phi 曹丕. Tào Phi đôi ba lần từ chối, Hán Hiến Đế vẫn khuyên Tào Phi tiếp nhận đế vị. Thế thì, Hán Nguỵ quyền lực bên giao bên nhận, rốt cuộc là Hán Hiến Đế tự nguyện thiện nhượng, hay Tào Phi cưỡng hành soán đoạt?
              Chúng ta nhìn kĩ sự tình thử.
              Sau khi Tào Tháo 曹操 đưa Hán Hiến Đế về Hứa Đô 许都, đã “hiệp thiên tử dĩ lệnh chư hầu” 挟天子以令诸侯 (cưỡng đoạt danh nghĩa hoàng đế mà ra lệnh chư hầu). Do đó, Hán Hiến Đế mất đi quyền lực, trở thành bù nhìn. Tào Tháo lúc sinh tiền vẫn chưa có mưu tính đoạt ngôi vị thiên tử, sau khi Tào Tháo mất, cả bọn Hoa Hâm 华歆 văn võ đại thần khuyên Hán Hiến Đế học theo Đế Nghiêu thiện vị cho ông Thuấn , đem hoàng vị nhường cho Tào Phi. Hán Hiến Đế tuy nhu nhược, nhưng cũng không thể vòng tay đem gian sơn của tổ tiên nhường cho Tào Phi.
              Về sau, Hán Hiến Đế quả thực không chống lại được hai ba lần uy bức của bọn Hoa Hâm 华歆, Lí Phục 李伏, Hứa Chi 许芝, cuối cùng đồng ý “đem hoàng vị nhường cho Tào Phi”. Khi Tào Phi sắp được chiếu thiện vị của Hán Hiến Đế vô cùng vui mừng, định tiếp nhận, Tư Mã Ý 司马懿 khuyên rằng:
              - Tuy chiếu thư thiện vị đã có, nhưng không nên nóng vội tiếp nhận. Ngài nên biểu hiện sự khiêm tốn một chút,  trước tiên hãy từ chối đã, có như vậy mới bịt được miệng thiên hạ.
              Từ đó có thể thấy, gọi là “thiện nhượng”, thực tế là sự lựa chọn bất đắc dĩ của Hán Hiến Đế. Quyền lực Hán Nguỵ trao và nhận, về bản chất là Tào Phi cưỡng hành “soán đoạt”. “Thụ nhượng” là giả, “soán Hán” là thật. Tào Phi “thụ nhượng” xưng đế, đổi quốc hiệu là Đại Nguỵ 大魏, lấy niên hiệu là Hoàng Sơ 黄初, phong Hán Hiến Đế làm Sơn Dương Công 山阳公.
             
                                                      Huỳnh Chương Hưng
                                                      Quy Nhơn 06/12/2018

    Nguyên tác Trung văn
    Trong quyển
    THÚ VỊ VĂN HOÁ TRI THỨC ĐẠI TOÀN
    趣味文化知识大全
    Thanh Thạch 青石 biên soạn
    Trung Quốc Hoa kiều xuất bản xã, 2013

    Mã nguồn bởi Huỳnh Chương Hưng
    Copyright © 2012 Huỳnh Chương Hưng.
    back to top