• Thứ Hai, 25 tháng 5, 2020

    LÍ HỌC ĐẠI SƯ –  CHU HI
    (tiếp theo)

    HÀM NGHĨA CHÂN CHÍNH CỦA “TỒN THIÊN LÍ, DIỆT NHÂN DỤC”
              Trên cơ sở “thiên lí” 天理, Chu Hi đề xuất quan điểm bị đời sau chỉ trích: “tồn thiên lí, diệt nhân dục” 存天理灭人欲 bị quở trách là “ách sát nhân tính” 扼杀人性 (bóp nghẹt nhân tính). Có đúng như thế không? Có người từng hỏi Chu Hi:
    - Trong việc ăn uống làm sao phân biệt được thiên tính và nhân dục?
    Chu Hi đáp rằng:
              - Ăn uống là nhu cầu của con người, hợp với thiên lí, nhưng nếu truy cầu mĩ vị thì đó là nhân dục.
              Có thể thấy Chu Hi không hoàn toàn phản đối dục vọng của con người, ông cho rằng việc ăn uống bình thường là thiên lí, nhưng phung phí sơn hào hải vị thì đó là nhân dục. Ông nói rằng:
              - Như ‘miệng đối với vị, mắt đối với sắc, tai đối với thanh, mũi đối với mùi, tứ chi đối với nhàn hạ’, thánh nhân và thường nhân đều như thế, là đồng hành vậy. Nhưng tình của thánh nhân không chìm đắm vào trong đó, cho nên khác với thường nhân.
              Chu Hi cho rằng, “nhân dục” hợp lí với chính thường đó là “thiên lí”, tham lam quá mức là “nhân dục” của tội ác chính là “nhân dục” cần bị “diệt”.
              Nhưng Chu Hi đem “thiên lí” đối lập với “nhân dục”, hi vọng lấy “lí” ước thúc “dục”, về điểm này bị kẻ thống trị đời sau lợi dụng. Họ phú cho “thiên lí” các loại quy định, để ước thúc “nhân dục”, yêu cầu bách tính tuân thủ lễ tiết phong kiến, trở thành gông cùm tinh thần bóp nghẹt nhân tính. Theo số liệu thống kê về trinh tiết liệt nữ cổ đại, có thể thấy tính tàn khốc của nó:
              Trong Hậu Hán thư 后汉书  ghi chép 7 người.
              Trong Tấn thư 晋书 15 người.
              Trong Nguỵ thư 魏书 Nam sử 南史 10 người.
              Trong Tuỳ thư 隋书 7 người.
              Trong Tân Cựu Đường 新旧唐书 thư 20 người.
              Đến Tống sử 宋史 ghi chép tăng đến 37 người, vẫn chưa phải là nhiều. Nhưng Nguyên sử 元史 tăng mạnh đến 174 người, Minh sử 明史 càng tăng mạnh lên đến hơn 300 người, Thanh sử cảo 清史稿 thì tăng đến hơn 500 người. Những trinh tiết liệt nữ này được tập đoàn thống trị đương thời ca ngợi, hi sinh  tuổi hoa thanh xuân của mình, giữ thân cô quả cho đến chết. Trong Minh sử 明史 có chép, Vưu thị 尤氏sau khi chồng mất, bọn thanh niên ác bá nói nàng có đôi mắt đẹp, nàng bèn dùng vôi dụi vào mắt, tự ải nhưng chưa chết lại đập đầu vào đá mà chết. Trong Thanh sử cảo 清史稿 có chép một cô gái nhân vì lúc ngủ rèm mở, nghi bị người ta nhìn trộm, thế là tự sát. Từ đó có thể thấy lễ giáo độc hại con người ghê gớm.

    CÁCH VẬT TRÍ TRI
              Một ảnh hưởng lớn khác của Chu Hi đối với hậu thế chính là đề xuất nhận thức quan “cách vật trí tri” 格物致知. Cách vật trí tri là một khái niệm quan trọng trong tử tưởng Nho gia cổ đại ở Trung Quốc, bắt nguồn từ Lễ kí – Đại học 礼记 - 大学:
    Dục thành kì ý giả, tiên trí kì tri; trí tri tại cách vật.
    欲诚其意者, 先致其知, 致知在格物
    (Muốn cho ý niệm chân thành, trước tiên phải có được tri thức, để có được tri thức thì phải nghiên cứ lí lẽ của sự vật)
    Đồng thời đề xuất đạo tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ đều lấy “cách vật trí tri” làm tiền đề, nhưng chưa có giải thích nào về nó, cũng chưa có sách vở thời Tiên Tần nào sử dụng qua hai từ “cách vật” và “trí tri” này để tham chiếu hàm nghĩa, khiến hàm nghĩa chân chính của “cách vật trí tri” trở thành câu đố nan giải của tư tưởng Nho học. Từ chú giải sớm nhất của Trịnh Huyền 郑玄thời Đông Hán, mãi đến các học giả Nho học hiện nay, đã tranh luận hơn ngàn năm, đến nay vẫn chưa định luận. Sự giải thích “cách vật trí tri” hiện đang lưu hành trong xã hội là đến từ quan điểm của Chu Hi.
              Chu Hi cho rằng, “cách vật trí tri” chính là nghiên cứu đến tận cùng đạo lí của sự vật, khiến sự hiểu biết thông đạt đến cùng. Chúng ta biết rằng, từ một sự vật cụ thể mà nói, có hình thể của nó, nhưng từ quy luật thông thường của sự vật mà nói thì lại không có hình thể, nhìn không thấy, sờ không được, chỉ có thể thông qua sự vận động của sự vật cụ thể có hình dạng mà thể hiện ra. Nhân đó Chu Hi cho rằng cần phải thông qua tiếp xúc sự vật cụ thể mà nhận thức được quy luật của sự vật, cũng chính là cần “trí tri”. Nhưng “cách vật” hoàn toàn không nhất định có thể nhận thức quy luật của sự vật, cũng chính là “trí tri”. Chu Hi cho rằng, muốn đạt đến cảnh giới “trí tri”, tất cần phải “chí cực” 至极, tức đem lí của sự vật đẩy lên đến cùng cực. Ông dùng việc ăn trái cây làm ví dụ, trước tiên gọt vỏ, sau đó ăn phần thịt của trái, còn cần phải cắn hạt bên trong, mới xem như là nghiên cứu đến chỗ tột cùng của trái cây. Chu Hi cho rằng, nghiên cứu kĩ sự vật không thể thoả mãn việc thu hoạch từng chút một, mà cần phải như ăn trái cây từ ngoài vào trong, thâm nhập từng bước, cuối cùng đạt đến cảnh giới  trong ngoài của sự vật không chỗ nào là không biết. Ông còn nói rằng, ngày nay cách một vật, ngày mai  cách một vật, liên hệ suy nghĩ qua lại, bất giác đạt đến cảnh giới nhất định. Nhận thức này là sâu sắc, phản ánh ông ta ở một trình độ nhất định đã nhìn thấy được mối quan hệ biện chứng giữa thông thường và cá biệt.  (hết)

                                                                    Huỳnh Chương Hưng
                                                                    Quy Nhơn 25/5/2020

    Nguyên tác Trung văn
    LÍ HỌC ĐẠI SƯ – CHU HI
    理学大师 - 朱熹
    Trong quyển
    NHẤT BẢN THƯ ĐỘC ĐỔNG
    TRUNG QUỐC TRUYỀN THUYẾT VĂN HOÁ
    (quyển 1)
    一本书读懂中国传说文化
    Tác giả: Thạch Khai Hàng 石开航
    Bắc Kinh: Trung Hoa Hoa kiều xuất bản xã, 2012, tái bản 2019 

    Dịch thuật: Lí học đại sư - Chu Hi (tiếp theo)

    Đăng lúc  17:24  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    LÍ HỌC ĐẠI SƯ –  CHU HI
    (tiếp theo)

    HÀM NGHĨA CHÂN CHÍNH CỦA “TỒN THIÊN LÍ, DIỆT NHÂN DỤC”
              Trên cơ sở “thiên lí” 天理, Chu Hi đề xuất quan điểm bị đời sau chỉ trích: “tồn thiên lí, diệt nhân dục” 存天理灭人欲 bị quở trách là “ách sát nhân tính” 扼杀人性 (bóp nghẹt nhân tính). Có đúng như thế không? Có người từng hỏi Chu Hi:
    - Trong việc ăn uống làm sao phân biệt được thiên tính và nhân dục?
    Chu Hi đáp rằng:
              - Ăn uống là nhu cầu của con người, hợp với thiên lí, nhưng nếu truy cầu mĩ vị thì đó là nhân dục.
              Có thể thấy Chu Hi không hoàn toàn phản đối dục vọng của con người, ông cho rằng việc ăn uống bình thường là thiên lí, nhưng phung phí sơn hào hải vị thì đó là nhân dục. Ông nói rằng:
              - Như ‘miệng đối với vị, mắt đối với sắc, tai đối với thanh, mũi đối với mùi, tứ chi đối với nhàn hạ’, thánh nhân và thường nhân đều như thế, là đồng hành vậy. Nhưng tình của thánh nhân không chìm đắm vào trong đó, cho nên khác với thường nhân.
              Chu Hi cho rằng, “nhân dục” hợp lí với chính thường đó là “thiên lí”, tham lam quá mức là “nhân dục” của tội ác chính là “nhân dục” cần bị “diệt”.
              Nhưng Chu Hi đem “thiên lí” đối lập với “nhân dục”, hi vọng lấy “lí” ước thúc “dục”, về điểm này bị kẻ thống trị đời sau lợi dụng. Họ phú cho “thiên lí” các loại quy định, để ước thúc “nhân dục”, yêu cầu bách tính tuân thủ lễ tiết phong kiến, trở thành gông cùm tinh thần bóp nghẹt nhân tính. Theo số liệu thống kê về trinh tiết liệt nữ cổ đại, có thể thấy tính tàn khốc của nó:
              Trong Hậu Hán thư 后汉书  ghi chép 7 người.
              Trong Tấn thư 晋书 15 người.
              Trong Nguỵ thư 魏书 Nam sử 南史 10 người.
              Trong Tuỳ thư 隋书 7 người.
              Trong Tân Cựu Đường 新旧唐书 thư 20 người.
              Đến Tống sử 宋史 ghi chép tăng đến 37 người, vẫn chưa phải là nhiều. Nhưng Nguyên sử 元史 tăng mạnh đến 174 người, Minh sử 明史 càng tăng mạnh lên đến hơn 300 người, Thanh sử cảo 清史稿 thì tăng đến hơn 500 người. Những trinh tiết liệt nữ này được tập đoàn thống trị đương thời ca ngợi, hi sinh  tuổi hoa thanh xuân của mình, giữ thân cô quả cho đến chết. Trong Minh sử 明史 có chép, Vưu thị 尤氏sau khi chồng mất, bọn thanh niên ác bá nói nàng có đôi mắt đẹp, nàng bèn dùng vôi dụi vào mắt, tự ải nhưng chưa chết lại đập đầu vào đá mà chết. Trong Thanh sử cảo 清史稿 có chép một cô gái nhân vì lúc ngủ rèm mở, nghi bị người ta nhìn trộm, thế là tự sát. Từ đó có thể thấy lễ giáo độc hại con người ghê gớm.

    CÁCH VẬT TRÍ TRI
              Một ảnh hưởng lớn khác của Chu Hi đối với hậu thế chính là đề xuất nhận thức quan “cách vật trí tri” 格物致知. Cách vật trí tri là một khái niệm quan trọng trong tử tưởng Nho gia cổ đại ở Trung Quốc, bắt nguồn từ Lễ kí – Đại học 礼记 - 大学:
    Dục thành kì ý giả, tiên trí kì tri; trí tri tại cách vật.
    欲诚其意者, 先致其知, 致知在格物
    (Muốn cho ý niệm chân thành, trước tiên phải có được tri thức, để có được tri thức thì phải nghiên cứ lí lẽ của sự vật)
    Đồng thời đề xuất đạo tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ đều lấy “cách vật trí tri” làm tiền đề, nhưng chưa có giải thích nào về nó, cũng chưa có sách vở thời Tiên Tần nào sử dụng qua hai từ “cách vật” và “trí tri” này để tham chiếu hàm nghĩa, khiến hàm nghĩa chân chính của “cách vật trí tri” trở thành câu đố nan giải của tư tưởng Nho học. Từ chú giải sớm nhất của Trịnh Huyền 郑玄thời Đông Hán, mãi đến các học giả Nho học hiện nay, đã tranh luận hơn ngàn năm, đến nay vẫn chưa định luận. Sự giải thích “cách vật trí tri” hiện đang lưu hành trong xã hội là đến từ quan điểm của Chu Hi.
              Chu Hi cho rằng, “cách vật trí tri” chính là nghiên cứu đến tận cùng đạo lí của sự vật, khiến sự hiểu biết thông đạt đến cùng. Chúng ta biết rằng, từ một sự vật cụ thể mà nói, có hình thể của nó, nhưng từ quy luật thông thường của sự vật mà nói thì lại không có hình thể, nhìn không thấy, sờ không được, chỉ có thể thông qua sự vận động của sự vật cụ thể có hình dạng mà thể hiện ra. Nhân đó Chu Hi cho rằng cần phải thông qua tiếp xúc sự vật cụ thể mà nhận thức được quy luật của sự vật, cũng chính là cần “trí tri”. Nhưng “cách vật” hoàn toàn không nhất định có thể nhận thức quy luật của sự vật, cũng chính là “trí tri”. Chu Hi cho rằng, muốn đạt đến cảnh giới “trí tri”, tất cần phải “chí cực” 至极, tức đem lí của sự vật đẩy lên đến cùng cực. Ông dùng việc ăn trái cây làm ví dụ, trước tiên gọt vỏ, sau đó ăn phần thịt của trái, còn cần phải cắn hạt bên trong, mới xem như là nghiên cứu đến chỗ tột cùng của trái cây. Chu Hi cho rằng, nghiên cứu kĩ sự vật không thể thoả mãn việc thu hoạch từng chút một, mà cần phải như ăn trái cây từ ngoài vào trong, thâm nhập từng bước, cuối cùng đạt đến cảnh giới  trong ngoài của sự vật không chỗ nào là không biết. Ông còn nói rằng, ngày nay cách một vật, ngày mai  cách một vật, liên hệ suy nghĩ qua lại, bất giác đạt đến cảnh giới nhất định. Nhận thức này là sâu sắc, phản ánh ông ta ở một trình độ nhất định đã nhìn thấy được mối quan hệ biện chứng giữa thông thường và cá biệt.  (hết)

                                                                    Huỳnh Chương Hưng
                                                                    Quy Nhơn 25/5/2020

    Nguyên tác Trung văn
    LÍ HỌC ĐẠI SƯ – CHU HI
    理学大师 - 朱熹
    Trong quyển
    NHẤT BẢN THƯ ĐỘC ĐỔNG
    TRUNG QUỐC TRUYỀN THUYẾT VĂN HOÁ
    (quyển 1)
    一本书读懂中国传说文化
    Tác giả: Thạch Khai Hàng 石开航
    Bắc Kinh: Trung Hoa Hoa kiều xuất bản xã, 2012, tái bản 2019 

    Chủ Nhật, 24 tháng 5, 2020

    LÍ HỌC ĐẠI SƯ –  CHU HI

              Chu Hi 朱熹 (1130 – 1200), tự Nguyên Hối 元晦, hiệu Hối Am 晦庵, Hối Ông 晦翁, Khảo Đình Tiên Sinh 考亭先生, Vân Cốc Lão Nhân 云谷老人, Thương Châu Bệnh Tẩu 沧州病叟, Nghịch Ông 逆翁, người đời gọi ông là Chu Tử 朱子, thi nhân thời Nam Tống, triết học gia, giáo dục gia, tập đại thành của Lí học đời Tống, là vị đại sư hoằng dương Nho học kiệt xuất nhất từ Khổng Tử 孔子, Mạnh Tử 孟子 trở về sau.

    THỰC HÀNH RỘNG RÃI LÍ HỌC GẶP PHẢI SỰ VU HẠI
              Chu Hi thọ giáo nơi phụ thân, thông minh hơn người. Lúc 4 tuổi, phụ thân chỉ trời nói rằng: “Đó là trời”, Chu Hi liền hỏi: “Trên trời có vật gì?” Phụ thân thất kinh. Năm 1148, Chu Hi thi đỗ Tiến sĩ, ba năm sau được phái đi nhậm chức chủ bạ huyện Đồng An 同安 Tuyền Châu 泉州, từ đó bắt đầu cuộc sống sĩ đồ. Một đời sĩ đồ của Chu Hi hoàn toàn không thuận lợi thông suốt. Ông 24 tuổi bắt đầu làm quan, đến 71 tuổi qua đời, tổng cộng được trao chức quan hơn 20 lần, do bởi quyền thần ngáng đường, nhiều lần ông bị gạt bỏ, hoặc từ chức không đến, chân chính làm quan tại địa phương tổng cộng không quá 10 năm, làm quan tại triều 40 ngày. Kì dư đại bộ phận thời gian ông đọc sách, dạy học và chú thích sách vở của Nho gia, trứ tác hơn 70 bộ sách, hơn 1700 vạn chữ. Ông theo học với Lí Đồng 李侗, đệ tử tái truyền của Trình Di 程颐, trên cơ sở tư tưởng của Chu Đôn Di 周敦颐 và Nhị Trình (Trình Hạo 程颢, Trình Di程颐), kiêm thu nạp tư tưởng của Thích, Đạo, ông trở thành tập đại thành của Lí học đời Tống.
              Năm 1195, Chu Hi đề tỉnh Tống Ninh Tông 宋宁宗 phòng ngừa tả hữu  đại thần trộm quyền, nên dẫn đến sự ghen ghét của Hàn Thác Trụ 韩侂胄người mà tự tiện trong việc triều chính, vu lí học của Chu Hi là “nguỵ học”伪学. Đại thần triều đình sợ dư luận xã hội, không dám khiển trách Chu Hi quá mức. Thân tín của Hàn Thác Trụ đã bịa đặt “tội trạng” của Chu Hi – cậy quyền thế chiếm đoạt gia tài của người bạn đã mất, quyến dụ hai ni cô làm tiểu thiếp của mình, khiến thanh danh của Chu Hi sa sút. Từ đó về sau, sự công kích Chu Hi trên đàn chính tị ngày càng nhiều, thậm chí có người công nhiên dâng thư yêu cầu hoàng đế xử tử Chu Hi.
              Dưới sức ép chính trị nặng nề như thế, Chu Hi không thể không trái với lòng mình nhận tội với hoàng đế, thừa nhận càng gia tăng tội trạng. Để thể hiện sự thành khẩn của thái độ nhận tội, ông thậm chí đã nói “ thâm tỉnh tạc phi, tế tầm kim thị” 深省昨非, 细寻今是 (tỉnh ngộ triệt để cái sai của ngày hôm qua, tìm cặn kẽ cái đúng của ngày hôm nay) triệt để phủ định quá khứ của mình.
              Năm 1200, Chu Hi cô độc thê lương trên giường bệnh từ biệt thế gian. Chín năm sau, triều đình khôi phục lại danh dự cho Chu Hi, học thuyết của ông không phải là “nguỵ học” nữa, trứ tác đại biểu của ông là Tứ thư chương cú tập chú 四书章句集注 cũng được định làm quốc học. Ba triều đại Nguyên, Minh, Thanh sau đó đều lấy lí học của ông làm tư tưởng thống trị quan phương, cho đến năm 1905 trước khi phế bỏ khoa cử. Lí học của Chu Tử đã ảnh hưởng Trung Quốc gần 700 năm một cách sâu sắc.

    “THIÊN LÍ” - KHÁI NIỆM HẠT NHÂN CỦA CHU HỌC
              Muốn hiểu lí học của Chu Hi thì không thể không hiểu “thiên lí” 天理, nó là khái niệm hạt nhân của tư tưởng Chu Hi.
              Chu Hi cho rằng, siêu hiện thực, siêu xã hội tồn tại một loại tiêu chuẩn, nó là tiêu chuẩn của mọi hành vi của con người, tức thiên lí. Thiên lí là vĩnh hằng bất biến, tự sinh thành, thống lĩnh vạn vật, là căn bản của vạn sự vạn vật. Trước tiên có “lí” sau đó mới có vạn sự vạn vật.
              Đồng thời cụ thể “lí” này đến các các sự vật, thì các vật đều có các “lí”. Như giới tự nhiên bốn mùa biến hoá, “cho nên là xuân hạ, cho nên là thu đông” có “lí”; ở giới động vật “loài nào thai, loài nào trứng” có “lí”; ở giới thực vật “ma, mạch, đạo, lương lúc nào trồng, lúc nào thu hoạch” có “lí”; “đất màu mỡ cằn cỗi, dày mỏng, thích hợp trồng loại nào” cũng đều có “lí”. Tuy hình thức biểu hiện của những lí này không như nhau, nhưng phía sau nó đều có một lí chung có tác dụng, tức “lí nhất phân thù” 理一分殊 (lí một mà phân thành nhiều loại). Chu Hi mượn  câu “nguyệt ấn vạn xuyên” 月印万川 trong Phật giáo để giải thích “lí nhất phân thù”: thiên lí thống nhiếp vạn vật, là bản nguyên, nó có thể quán triệt mọi lãnh vực, nhưng phân chia ra, lí của mỗi vật là sự khác nhau giữa cái này cái kia, như trăng chỉ là một, nó có thể tán ra thành vạn trăng trên giang hồ hà hải; nhưng một phương diện khác, vạn lí quy về một lí, giống như vạn trăng tán ra trên giang hồ hà hải, gốc của nó là một trăng ở trên trời.
              Điều mà “Lí nhất phân thù” cần giải quyết là mối quan hệ giữa vũ trụ với vạn vật, việc đề xuất vấn đề có ý nghĩa, nhưng khi nó lấp đầy đạo đức luân lí phong kiến, thì đã có nội dung xã hội đặc định. Theo cách nhìn của Chu Hi, “lí” không chỉ là bản nguyên của vũ trụ, mà cũng là suối nguồn của quy phạm đạo đức xã hội. Mọi nguyên tắc của đạo đức phong kiến, quy định cùng nghi tiết đều là sự triển hiện của lí tại xã hội. Ông nói rằng:
              Vị hữu quân thần, tiên hữu quân thần chi lí; vị hữu phụ tử, tiên hữu phụ tử chi lí.
              未有君臣, 先有君臣之理; 未有父子, 先有父子之理.
              (Chưa có vua tôi, trước tiên đã có lí vua tôi; chưa có cha con, trước tiên đã có lí cha con)
              Thiên phận tức thiên lí dã, phụ an kì phụ chi phận, tử an kì tử chi vị, quân an kì quân chi phận.
              天分即天理也父安其父之分子安其子之位君安其君之分
              (Phận trời tức thiên lí, cha yên với phận làm cha, con yên với địa vị làm con, vua yên với phận làm vua)
             Chỉ cần mọi người yên với vị trí của mình là đã thể hiện nguyên tắc “thiên lí” tối cao. Như vậy, lí học của Chu Hi là đem đạo đức luân lí phong kiến nâng cao đến cao độ của bản thể vũ trụ, nhân đó mà được những kẻ thống trị các đời Nguyên, Minh, Thanh tôn sùng, giúp làm nên tư tưởng quan phương, trở thành công cụ thống trị nhân dân.    (còn tiếp)

                                                                    Huỳnh Chương Hưng
                                                                    Quy Nhơn 24/5/2020

    Nguyên tác Trung văn
    LÍ HỌC ĐẠI SƯ – CHU HI
    理学大师 - 朱熹
    Trong quyển
    NHẤT BẢN THƯ ĐỘC ĐỔNG
    TRUNG QUỐC TRUYỀN THUYẾT VĂN HOÁ
    (quyển 1)
    一本书读懂中国传说文化
    Tác giả: Thạch Khai Hàng 石开航
    Bắc Kinh: Trung Hoa Hoa kiều xuất bản xã, 2012, tái bản 2019 

    Dịch thuật: Lí học đại sư - Chu Hi

    Đăng lúc  18:55  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    LÍ HỌC ĐẠI SƯ –  CHU HI

              Chu Hi 朱熹 (1130 – 1200), tự Nguyên Hối 元晦, hiệu Hối Am 晦庵, Hối Ông 晦翁, Khảo Đình Tiên Sinh 考亭先生, Vân Cốc Lão Nhân 云谷老人, Thương Châu Bệnh Tẩu 沧州病叟, Nghịch Ông 逆翁, người đời gọi ông là Chu Tử 朱子, thi nhân thời Nam Tống, triết học gia, giáo dục gia, tập đại thành của Lí học đời Tống, là vị đại sư hoằng dương Nho học kiệt xuất nhất từ Khổng Tử 孔子, Mạnh Tử 孟子 trở về sau.

    THỰC HÀNH RỘNG RÃI LÍ HỌC GẶP PHẢI SỰ VU HẠI
              Chu Hi thọ giáo nơi phụ thân, thông minh hơn người. Lúc 4 tuổi, phụ thân chỉ trời nói rằng: “Đó là trời”, Chu Hi liền hỏi: “Trên trời có vật gì?” Phụ thân thất kinh. Năm 1148, Chu Hi thi đỗ Tiến sĩ, ba năm sau được phái đi nhậm chức chủ bạ huyện Đồng An 同安 Tuyền Châu 泉州, từ đó bắt đầu cuộc sống sĩ đồ. Một đời sĩ đồ của Chu Hi hoàn toàn không thuận lợi thông suốt. Ông 24 tuổi bắt đầu làm quan, đến 71 tuổi qua đời, tổng cộng được trao chức quan hơn 20 lần, do bởi quyền thần ngáng đường, nhiều lần ông bị gạt bỏ, hoặc từ chức không đến, chân chính làm quan tại địa phương tổng cộng không quá 10 năm, làm quan tại triều 40 ngày. Kì dư đại bộ phận thời gian ông đọc sách, dạy học và chú thích sách vở của Nho gia, trứ tác hơn 70 bộ sách, hơn 1700 vạn chữ. Ông theo học với Lí Đồng 李侗, đệ tử tái truyền của Trình Di 程颐, trên cơ sở tư tưởng của Chu Đôn Di 周敦颐 và Nhị Trình (Trình Hạo 程颢, Trình Di程颐), kiêm thu nạp tư tưởng của Thích, Đạo, ông trở thành tập đại thành của Lí học đời Tống.
              Năm 1195, Chu Hi đề tỉnh Tống Ninh Tông 宋宁宗 phòng ngừa tả hữu  đại thần trộm quyền, nên dẫn đến sự ghen ghét của Hàn Thác Trụ 韩侂胄người mà tự tiện trong việc triều chính, vu lí học của Chu Hi là “nguỵ học”伪学. Đại thần triều đình sợ dư luận xã hội, không dám khiển trách Chu Hi quá mức. Thân tín của Hàn Thác Trụ đã bịa đặt “tội trạng” của Chu Hi – cậy quyền thế chiếm đoạt gia tài của người bạn đã mất, quyến dụ hai ni cô làm tiểu thiếp của mình, khiến thanh danh của Chu Hi sa sút. Từ đó về sau, sự công kích Chu Hi trên đàn chính tị ngày càng nhiều, thậm chí có người công nhiên dâng thư yêu cầu hoàng đế xử tử Chu Hi.
              Dưới sức ép chính trị nặng nề như thế, Chu Hi không thể không trái với lòng mình nhận tội với hoàng đế, thừa nhận càng gia tăng tội trạng. Để thể hiện sự thành khẩn của thái độ nhận tội, ông thậm chí đã nói “ thâm tỉnh tạc phi, tế tầm kim thị” 深省昨非, 细寻今是 (tỉnh ngộ triệt để cái sai của ngày hôm qua, tìm cặn kẽ cái đúng của ngày hôm nay) triệt để phủ định quá khứ của mình.
              Năm 1200, Chu Hi cô độc thê lương trên giường bệnh từ biệt thế gian. Chín năm sau, triều đình khôi phục lại danh dự cho Chu Hi, học thuyết của ông không phải là “nguỵ học” nữa, trứ tác đại biểu của ông là Tứ thư chương cú tập chú 四书章句集注 cũng được định làm quốc học. Ba triều đại Nguyên, Minh, Thanh sau đó đều lấy lí học của ông làm tư tưởng thống trị quan phương, cho đến năm 1905 trước khi phế bỏ khoa cử. Lí học của Chu Tử đã ảnh hưởng Trung Quốc gần 700 năm một cách sâu sắc.

    “THIÊN LÍ” - KHÁI NIỆM HẠT NHÂN CỦA CHU HỌC
              Muốn hiểu lí học của Chu Hi thì không thể không hiểu “thiên lí” 天理, nó là khái niệm hạt nhân của tư tưởng Chu Hi.
              Chu Hi cho rằng, siêu hiện thực, siêu xã hội tồn tại một loại tiêu chuẩn, nó là tiêu chuẩn của mọi hành vi của con người, tức thiên lí. Thiên lí là vĩnh hằng bất biến, tự sinh thành, thống lĩnh vạn vật, là căn bản của vạn sự vạn vật. Trước tiên có “lí” sau đó mới có vạn sự vạn vật.
              Đồng thời cụ thể “lí” này đến các các sự vật, thì các vật đều có các “lí”. Như giới tự nhiên bốn mùa biến hoá, “cho nên là xuân hạ, cho nên là thu đông” có “lí”; ở giới động vật “loài nào thai, loài nào trứng” có “lí”; ở giới thực vật “ma, mạch, đạo, lương lúc nào trồng, lúc nào thu hoạch” có “lí”; “đất màu mỡ cằn cỗi, dày mỏng, thích hợp trồng loại nào” cũng đều có “lí”. Tuy hình thức biểu hiện của những lí này không như nhau, nhưng phía sau nó đều có một lí chung có tác dụng, tức “lí nhất phân thù” 理一分殊 (lí một mà phân thành nhiều loại). Chu Hi mượn  câu “nguyệt ấn vạn xuyên” 月印万川 trong Phật giáo để giải thích “lí nhất phân thù”: thiên lí thống nhiếp vạn vật, là bản nguyên, nó có thể quán triệt mọi lãnh vực, nhưng phân chia ra, lí của mỗi vật là sự khác nhau giữa cái này cái kia, như trăng chỉ là một, nó có thể tán ra thành vạn trăng trên giang hồ hà hải; nhưng một phương diện khác, vạn lí quy về một lí, giống như vạn trăng tán ra trên giang hồ hà hải, gốc của nó là một trăng ở trên trời.
              Điều mà “Lí nhất phân thù” cần giải quyết là mối quan hệ giữa vũ trụ với vạn vật, việc đề xuất vấn đề có ý nghĩa, nhưng khi nó lấp đầy đạo đức luân lí phong kiến, thì đã có nội dung xã hội đặc định. Theo cách nhìn của Chu Hi, “lí” không chỉ là bản nguyên của vũ trụ, mà cũng là suối nguồn của quy phạm đạo đức xã hội. Mọi nguyên tắc của đạo đức phong kiến, quy định cùng nghi tiết đều là sự triển hiện của lí tại xã hội. Ông nói rằng:
              Vị hữu quân thần, tiên hữu quân thần chi lí; vị hữu phụ tử, tiên hữu phụ tử chi lí.
              未有君臣, 先有君臣之理; 未有父子, 先有父子之理.
              (Chưa có vua tôi, trước tiên đã có lí vua tôi; chưa có cha con, trước tiên đã có lí cha con)
              Thiên phận tức thiên lí dã, phụ an kì phụ chi phận, tử an kì tử chi vị, quân an kì quân chi phận.
              天分即天理也父安其父之分子安其子之位君安其君之分
              (Phận trời tức thiên lí, cha yên với phận làm cha, con yên với địa vị làm con, vua yên với phận làm vua)
             Chỉ cần mọi người yên với vị trí của mình là đã thể hiện nguyên tắc “thiên lí” tối cao. Như vậy, lí học của Chu Hi là đem đạo đức luân lí phong kiến nâng cao đến cao độ của bản thể vũ trụ, nhân đó mà được những kẻ thống trị các đời Nguyên, Minh, Thanh tôn sùng, giúp làm nên tư tưởng quan phương, trở thành công cụ thống trị nhân dân.    (còn tiếp)

                                                                    Huỳnh Chương Hưng
                                                                    Quy Nhơn 24/5/2020

    Nguyên tác Trung văn
    LÍ HỌC ĐẠI SƯ – CHU HI
    理学大师 - 朱熹
    Trong quyển
    NHẤT BẢN THƯ ĐỘC ĐỔNG
    TRUNG QUỐC TRUYỀN THUYẾT VĂN HOÁ
    (quyển 1)
    一本书读懂中国传说文化
    Tác giả: Thạch Khai Hàng 石开航
    Bắc Kinh: Trung Hoa Hoa kiều xuất bản xã, 2012, tái bản 2019 


    XÓT TÌNH MÁU MỦ, THAY LỜI NƯỚC NON (732)
                Lời nước non: tức “thệ hải minh sơn” 誓海盟山 thề non hẹn biển. Cũng có thể nói “hải thệ sơn minh”, ví nam nữ yêu nhau, cùng thề tình yêu vĩnh hằng như núi cao như biển lớn. “Lời non sông” đôi khi được dùng với ý nghĩa như “lời non nước”, cũng chính là từ “thệ hải minh sơn” mà ra.
              Điển xuất từ bài từ Cát tịch 吉席 theo điệu Mãn đình phương 满庭芳  của Hồ Hạo Nhiên 胡浩然 đời Tống:
    Hoan ngu đương thử tế
    Hải thệ sơn minh
    Địa cửu thiên trường
    欢娱当此际
    海誓山盟
    地久天长
    (Vui vầy lúc này
    Hẹn biển thề non
    Cùng với trời đất dài lâu)
    (“Thành ngữ đại từ điển” 成语大词典, Bắc Kinh: Thương vụ ấn thư quán, Quốc Tế hữu hạn công ti, 2004)

    Ngày xuân em hãy còn dài
    Xót tình máu mủ, thay lời nước non
    (“Truyện Kiều” 731 – 732)
    Dặm khuya, ngắt tạnh mù khơi
    Thấy trăng mà thẹn những lời non sông
    (“Truyện Kiều” 915 – 916)
    Tóc thề đã chấm ngang vai
    Nào lời non nước nào lời sắt son
    (“Truyện Kiều” 1631 – 1632)
    Lời nước non: Như Lời non nước. Lời thề giữ vững mối tình vững như núi, dài như sông.
    (Đào Duy Anh: “Từ điển Truyện Kiều”, nxb Khoa học xã hội, Hà Nội – 1989)

    Xét: Trong “Tư liệu Truyện Kiều  - Bản Duy Minh Thị 1872” do GS Nguyễn Tài Cẩn phiên Nôm, câu 1631 là:
    Tóc thề đã chấm QUANH vai
                                                         (Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2002)

                                                                Huỳnh Chương Hưng
                                                                Quy Nhơn 24/5/2020

    Dịch thuật: Xót tình máu mủ, thay lời nước non (732) ("Truyện Kiều")

    Đăng lúc  10:12  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »


    XÓT TÌNH MÁU MỦ, THAY LỜI NƯỚC NON (732)
                Lời nước non: tức “thệ hải minh sơn” 誓海盟山 thề non hẹn biển. Cũng có thể nói “hải thệ sơn minh”, ví nam nữ yêu nhau, cùng thề tình yêu vĩnh hằng như núi cao như biển lớn. “Lời non sông” đôi khi được dùng với ý nghĩa như “lời non nước”, cũng chính là từ “thệ hải minh sơn” mà ra.
              Điển xuất từ bài từ Cát tịch 吉席 theo điệu Mãn đình phương 满庭芳  của Hồ Hạo Nhiên 胡浩然 đời Tống:
    Hoan ngu đương thử tế
    Hải thệ sơn minh
    Địa cửu thiên trường
    欢娱当此际
    海誓山盟
    地久天长
    (Vui vầy lúc này
    Hẹn biển thề non
    Cùng với trời đất dài lâu)
    (“Thành ngữ đại từ điển” 成语大词典, Bắc Kinh: Thương vụ ấn thư quán, Quốc Tế hữu hạn công ti, 2004)

    Ngày xuân em hãy còn dài
    Xót tình máu mủ, thay lời nước non
    (“Truyện Kiều” 731 – 732)
    Dặm khuya, ngắt tạnh mù khơi
    Thấy trăng mà thẹn những lời non sông
    (“Truyện Kiều” 915 – 916)
    Tóc thề đã chấm ngang vai
    Nào lời non nước nào lời sắt son
    (“Truyện Kiều” 1631 – 1632)
    Lời nước non: Như Lời non nước. Lời thề giữ vững mối tình vững như núi, dài như sông.
    (Đào Duy Anh: “Từ điển Truyện Kiều”, nxb Khoa học xã hội, Hà Nội – 1989)

    Xét: Trong “Tư liệu Truyện Kiều  - Bản Duy Minh Thị 1872” do GS Nguyễn Tài Cẩn phiên Nôm, câu 1631 là:
    Tóc thề đã chấm QUANH vai
                                                         (Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2002)

                                                                Huỳnh Chương Hưng
                                                                Quy Nhơn 24/5/2020

    Thứ Bảy, 23 tháng 5, 2020


    CHỮ “HẬU”
     
    Bính âm “hòu”

    6 nét
    9 nét

    1- Phía sau lưng, chỉ không gian, đối lập với “tiền” .
              Hậu môn 后门 / hậu diện 后面 / bộ nhân hậu trần 步人后尘 / tiền hậu chiếu ứng 前后照应.
    2- Thuộc vị lai, tương đối muộn, chỉ thời gian, đối lập với “tiền” hoặc “tiên” .
              Hậu thiên 后天 / hậu nhân 后人 / hậu kì 后期 / kim hậu 今后 / thử hậu 此后.
    3- Thuộc thứ tự gần chót.
              Hậu bài 后排 / hậu Hán 后汉 / tranh tiên khủng hậu 争先恐后.
    4- Chỉ con cháu đời sau
              Lưu Bị thị Hán Trung Sơn Tĩnh Vương chi hậu 刘备是汉中山王之后 / vô hậu 无后.

    Thuyết giải
              Chữ bộ 丿 hoặc bộ , kết cấu bao một nửa ở trên bên trái, thuộc chữ hội ý. Chữ và chữ đồng âm, dùng chữ làm chữ giản hoá cho chữ là đồng âm thay thế. Trong Tạp kịch 杂剧 bản san khắc đời Nguyên, trong Thích Ách truyện 释厄传, Kiều Hồng kí 娇红记, Bạch bào kí 白袍记 bản san khắc đời Minh, trong Mục Liên kí 目莲记. Kim Bình Mai 金瓶梅, Dật sự 逸事 bản san khắc đời Thanh đều thấy.
              *- Chữ vốn chỉ:
              - Thê tử của quân vương: hậu phi 后妃, hoàng hậu 皇后.
              - Từ gọi vị quân chủ thời cổ: Thương chi tiên hậu 商之先后.
              Hai nghĩa này thời cổ chỉ dùng chữ , không thể dùng chữ .
              **- Chữ thuộc bộ .

                                                          Huỳnh Chương Hưng
                                                          Quy Nhơn 23/5/2020

    Nguồn
    GIẢN HOÁ TỰ, PHỒN THỂ TỰ ĐỐI CHIẾU TỰ ĐIỂN
    简化字繁体字对照字典
    Chủ biên: Giang Lam Sinh 江蓝生, Lục Tôn Ngô 陆尊梧
    Thượng Hải – Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 1998

    Dịch thuật: Chữ "hậu" (Đối chiếu tự điển)

    Đăng lúc  17:12  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »


    CHỮ “HẬU”
     
    Bính âm “hòu”

    6 nét
    9 nét

    1- Phía sau lưng, chỉ không gian, đối lập với “tiền” .
              Hậu môn 后门 / hậu diện 后面 / bộ nhân hậu trần 步人后尘 / tiền hậu chiếu ứng 前后照应.
    2- Thuộc vị lai, tương đối muộn, chỉ thời gian, đối lập với “tiền” hoặc “tiên” .
              Hậu thiên 后天 / hậu nhân 后人 / hậu kì 后期 / kim hậu 今后 / thử hậu 此后.
    3- Thuộc thứ tự gần chót.
              Hậu bài 后排 / hậu Hán 后汉 / tranh tiên khủng hậu 争先恐后.
    4- Chỉ con cháu đời sau
              Lưu Bị thị Hán Trung Sơn Tĩnh Vương chi hậu 刘备是汉中山王之后 / vô hậu 无后.

    Thuyết giải
              Chữ bộ 丿 hoặc bộ , kết cấu bao một nửa ở trên bên trái, thuộc chữ hội ý. Chữ và chữ đồng âm, dùng chữ làm chữ giản hoá cho chữ là đồng âm thay thế. Trong Tạp kịch 杂剧 bản san khắc đời Nguyên, trong Thích Ách truyện 释厄传, Kiều Hồng kí 娇红记, Bạch bào kí 白袍记 bản san khắc đời Minh, trong Mục Liên kí 目莲记. Kim Bình Mai 金瓶梅, Dật sự 逸事 bản san khắc đời Thanh đều thấy.
              *- Chữ vốn chỉ:
              - Thê tử của quân vương: hậu phi 后妃, hoàng hậu 皇后.
              - Từ gọi vị quân chủ thời cổ: Thương chi tiên hậu 商之先后.
              Hai nghĩa này thời cổ chỉ dùng chữ , không thể dùng chữ .
              **- Chữ thuộc bộ .

                                                          Huỳnh Chương Hưng
                                                          Quy Nhơn 23/5/2020

    Nguồn
    GIẢN HOÁ TỰ, PHỒN THỂ TỰ ĐỐI CHIẾU TỰ ĐIỂN
    简化字繁体字对照字典
    Chủ biên: Giang Lam Sinh 江蓝生, Lục Tôn Ngô 陆尊梧
    Thượng Hải – Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 1998


    KEO LOAN CHẮP MỐI TƠ THỪA, MẶC EM (726)
              Keo loan: tức “loan giao”. Theo thần thoại Trung Quốc, tương truyền trên biển có châu Phụng Lân 凤麟, tiên nhân trên châu dùng mỏ chim phụng và sừng kì lân nấu thành một loại keo. Loại keo này có thể nối dính dây cung hoặc dây đàn bị đứt, khiến dây trở lại như xưa. Người ta gọi loại keo này là “tục huyền giao” 续弦胶 hoặc “loan giao” 鸾胶.
              Trong Hán Vũ Đế ngoại truyện 汉武帝外传có chép:
              Tây hải hiến loan giao, Vũ Đế huyền đoạn, dĩ giao tục chi, huyền lưỡng đoan toại lưỡng trước. Chung nhật xạ, bất đoạn. Đế đại duyệt.
              西海献鸾胶, 武帝弦断, 以胶续之, 弦两端遂两著. 终日射, 不断. 帝大悦.
              (Vùng Tây hải dâng keo loan, dây cung Vũ Đế bị đứt, Vũ Đế dùng keo nối lại, hai dầu dây bèn bám chặt. Bắn cả ngày cũng không đứt nữa. Đế cả mừng.)
              “Loan giao” hoặc “keo loan” về sau được dùng để ví người đàn ông tục hôn. Thành ngữ “loan giao tái tục” 鸾胶再续, “loan giao phụng ti” 鸾胶凤丝  cũng dùng với ý này.

    Giữa đường đứt gánh tương tư
    Keo loan chắp mối to thừa, mặc em
    (“Truyện Kiều” 725 – 726)
    Keo loan: Tây Vương Mẫu cho Hán Vũ Đế một thứ keo làm bằng huyết chim loan, hễ dây cung đứt thì lấy thứ keo ấy nối lại là liền ngay.
    (Đào Duy Anh: “Từ điển Truyện Kiều”, nxb Khoa học xã hội, Hà Nội – 1989)
    Trong “Kim Vân Kiều” (Đoạn trường tân thanh) do Bùi Khánh Diễn chú thích, ghi rằng:
              Đào Cốc tặng Tần nhược Lan từ: Đãi đắc giao loan tục, đoạn huyền thị hà niên.
              陶穀贈秦若蘭詞: 待得膠鸞續, 斷弦是何年
              (Tờ của ông Đào Cốc tặng ngươi Tần nhược Lan rằng: Đợi được gắn phím loan, không biết dây đứt từ bao giờ)
    (Sài Gòn: nxb Sống Mới, 1960)

    Xét: Đào Cốc 陶谷 người thời Hậu Chu có bài từ theo điệu Hảo phong quang 好风光:
              Hảo nhân duyên. Ác nhân duyên. Chỉ đắc bưu đình nhất dạ miên. Biệt thần tiên. Tì bà bạt tận Tương tư điệu. tri âm thiểu. Đãi đắc loan giao tục đoạn huyền, thị hà niên?
              好姻缘. 恶姻缘. 只得邮亭一夜眠. 别神仙. 琵琶拔尽相思调. 知音少. 待得胶鸾胶续断弦, 是何年?
              (Nhân duyên tốt. Nhân duyên xấu. Được ngủ một đêm ở bưu đình. Khác nào thần tiên. Tì bà đàn hết điệu Tương tư. Tri âm ít. Đợi được keo loan nối dây đàn đã đứt. Là năm nào đây?)
    Bản“Kim Vân Kiều” (Đoạn trường tân thanh) do Bùi Khánh Diễn chú thích, câu 726 là:
    GIAO loan chắp mối tơ thừa mặc em

                                                                          Huỳnh Chương Hưng
                                                                          Quy Nhơn 23/5/2020


    Dịch thuật: Keo loan chắp mối tơ thừa, mặc em (726) ("Truyện Kiều")

    Đăng lúc  09:46  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »


    KEO LOAN CHẮP MỐI TƠ THỪA, MẶC EM (726)
              Keo loan: tức “loan giao”. Theo thần thoại Trung Quốc, tương truyền trên biển có châu Phụng Lân 凤麟, tiên nhân trên châu dùng mỏ chim phụng và sừng kì lân nấu thành một loại keo. Loại keo này có thể nối dính dây cung hoặc dây đàn bị đứt, khiến dây trở lại như xưa. Người ta gọi loại keo này là “tục huyền giao” 续弦胶 hoặc “loan giao” 鸾胶.
              Trong Hán Vũ Đế ngoại truyện 汉武帝外传có chép:
              Tây hải hiến loan giao, Vũ Đế huyền đoạn, dĩ giao tục chi, huyền lưỡng đoan toại lưỡng trước. Chung nhật xạ, bất đoạn. Đế đại duyệt.
              西海献鸾胶, 武帝弦断, 以胶续之, 弦两端遂两著. 终日射, 不断. 帝大悦.
              (Vùng Tây hải dâng keo loan, dây cung Vũ Đế bị đứt, Vũ Đế dùng keo nối lại, hai dầu dây bèn bám chặt. Bắn cả ngày cũng không đứt nữa. Đế cả mừng.)
              “Loan giao” hoặc “keo loan” về sau được dùng để ví người đàn ông tục hôn. Thành ngữ “loan giao tái tục” 鸾胶再续, “loan giao phụng ti” 鸾胶凤丝  cũng dùng với ý này.

    Giữa đường đứt gánh tương tư
    Keo loan chắp mối to thừa, mặc em
    (“Truyện Kiều” 725 – 726)
    Keo loan: Tây Vương Mẫu cho Hán Vũ Đế một thứ keo làm bằng huyết chim loan, hễ dây cung đứt thì lấy thứ keo ấy nối lại là liền ngay.
    (Đào Duy Anh: “Từ điển Truyện Kiều”, nxb Khoa học xã hội, Hà Nội – 1989)
    Trong “Kim Vân Kiều” (Đoạn trường tân thanh) do Bùi Khánh Diễn chú thích, ghi rằng:
              Đào Cốc tặng Tần nhược Lan từ: Đãi đắc giao loan tục, đoạn huyền thị hà niên.
              陶穀贈秦若蘭詞: 待得膠鸞續, 斷弦是何年
              (Tờ của ông Đào Cốc tặng ngươi Tần nhược Lan rằng: Đợi được gắn phím loan, không biết dây đứt từ bao giờ)
    (Sài Gòn: nxb Sống Mới, 1960)

    Xét: Đào Cốc 陶谷 người thời Hậu Chu có bài từ theo điệu Hảo phong quang 好风光:
              Hảo nhân duyên. Ác nhân duyên. Chỉ đắc bưu đình nhất dạ miên. Biệt thần tiên. Tì bà bạt tận Tương tư điệu. tri âm thiểu. Đãi đắc loan giao tục đoạn huyền, thị hà niên?
              好姻缘. 恶姻缘. 只得邮亭一夜眠. 别神仙. 琵琶拔尽相思调. 知音少. 待得胶鸾胶续断弦, 是何年?
              (Nhân duyên tốt. Nhân duyên xấu. Được ngủ một đêm ở bưu đình. Khác nào thần tiên. Tì bà đàn hết điệu Tương tư. Tri âm ít. Đợi được keo loan nối dây đàn đã đứt. Là năm nào đây?)
    Bản“Kim Vân Kiều” (Đoạn trường tân thanh) do Bùi Khánh Diễn chú thích, câu 726 là:
    GIAO loan chắp mối tơ thừa mặc em

                                                                          Huỳnh Chương Hưng
                                                                          Quy Nhơn 23/5/2020


    Thứ Sáu, 22 tháng 5, 2020

    HÌNH DANH PHÁP LUẬT
    (kì 3 – hết)

    Thất xuất七出
              Cũng gọi là “thất khứ” 七去, “thất khí” 七弃. Bảy lí do mà chồng để vợ đồng thời kết thúc mối quan hệ hôn nhân. Theo lời sớ ở thiên Nghi lễ – Biểu phục 仪礼 - 表服 của Giả Công Ngạn 贾公彦 đời Đường: Thất xuất gồm:
              - Không sinh con
              - Dâm đãng thích an dật
              - Không hiếu kính cha mẹ chồng
              - Lắm lời hay cãi
              - Trộm cắp đồ đạc trong nhà
              - Đố kị ghen tuông
              - Mắc bệnh hiểm nghèo
              Đối với thê của thiên tử, chư hầu mà nói, không sinh được con, có thể “bất xuất”, trên thực tế là “lục xuất”.
              Trong Đại Đới lễ kí – Bản mệnh 大戴礼记 - 本命 và trong Khổng Tử gia ngữ - Bản mệnh 孔子家语 - 本命 nêu “thất xuất” là:
              - Không nghe theo lời cha mẹ (nghịch đức)
              - Không sinh con (tuyệt tự)
              - Dâm dật (loạn tộc)
              - Đố kị ghen tuông (loạn gia)
              - Mắc bệnh hiểm nghèo (không thể cúng tế)
              - Lắm lời (li gián thân tộc)
              - Trộm cắp (phản nghĩa)
    Tam bất khứ 三不去
              Cũng gọi là “tam bất xuất” 三不出, chỉ 3 tình huống mà không thể để vợ. Trong Đại Đới lễ kí – Bản mệnh 大戴礼记 - 本命  có nói:
              - Nhà cha mẹ ruột không ai, về không được, không thể để vợ.
              - Từng chịu tang 3 năm cho cha mẹ chồng, không thể để vợ.
              - Lúc kết hôn, chồng nghèo hèn, sau khi kết hôn, chồng giàu sang, không thể để vợ.
              Trần Thế Mĩ 陈世美 trong hí khúc Trát Mĩ án 铡美案 là nhân vật điển hình đã phạm vào điều thứ 3. Đường luật 唐律 quy định: có một trong ba tình huống “tam bất khứ” mà để vợ, người chồng bị xử đánh 100 trượng, phải đưa vợ về lại. Nếu người vợ bị mắc bệnh hiểm nghèo và phạm tội gian dâm thì không thích hợp dùng luật này.
    Phí hình 剕刑
              Một trong ngũ hình. Chặt chân tội phạm. Trước đời Chu gọi là “tẫn” , sau đổi gọi là “ngoạt” , thời Chu Mục Vương 周穆王 lại đổi  gọi là “phí” . Có một cách nói khác: loại bỏ xương đầu gối gọi là “tẫn” , chặt ngón chân gọi là “phí” , lấy gân bàn chân gọi là “ngoạt” . Thời Hán Văn Đế 汉文帝 phế bỏ nhục hình, đã thủ tiêu phí hình.
    Đình trượng 廷杖
              Hình phạt mà hoàng đế tại triều đình ra lệnh dùng trượng trách phạt thần hạ. Được xem là hình phạt mà hoàng đế trừng phạt thần hạ thường dùng là bắt đầu từ đời Minh. Lúc chấp hành đình trượng sẽ do Tư lễ giám 司礼监 giám sát, cẩm y vệ đánh trượng. Vào niên hiệu Hồng Vũ 洪武 thứ 6 (năm 1373) đời Minh Thái Tổ 明太祖, đánh roi chết tại triều danh tướng khai quốc, cha con vĩnh Gia Hầu Chu Lượng Tổ 永嘉侯朱亮祖, đánh trượng chết Chu Văn Chính 朱文正, Công bộ Thượng thư Hạ Tường 夏祥. Niên hiệu Chính Đức 正德thứ 14 (năm 1519) đời Minh Vũ Tông 明武宗, nhân quần thần ngăn cản nam tuần, đánh trượng tại triều đình nhóm của Thư Phân 舒芬dâng lời đến 146 người, chết 11 người. Đình trượng là một trong những tệ chính đời Minh. Triều Thanh phế bỏ.
    Yêu trảm 腰斩
              Một hình phạt thời cổ. dùng phủ việt hoặc đao chém đứt phần eo của tội phạm, khiến thi thể phân làm hai khúc trên dưới. Thời Tần Hán rất thịnh hành, thời Nguỵ, Tấn, Bắc Nguỵ tiếp tục áp dụng. Bắc Nguỵ, Bắc chu, Nam Triều cùng các triều đại sau ít khi sử dụng, không chính thức trong ngũ hình.
    Tứ tử 赐死
              Một cách xử tử hoàng tộc, phi tần, đại thần khi phạm tử tội. Hoàng đế xuống chiếu mệnh cho tội phạm tự sát. Đời Tần đã có loại hình phạt này. Thời Hán Văn Đế 汉文帝 gọi là “tự tận” 自尽 hoặc “tự tài” 自裁. Pháp luật đời Đường quy định: quan viên từ ngũ phẩm trở lên bị phán tử hình, chỉ cần không phạm tội mưu phản, đại nghịch bất đạo, đều có thể để cho tự sát tại nhà.
    Lục thi 戮尸
              Khốc hình thời cổ. Trảm lục thi thể người đã chết. Dùng để hành hình phạm nhân trọng tội đã chết trước đó. Như phạm nhân bị phán giảo hình, thì treo thi thể lên để thị chúng; bị phán trảm hình thì cắt đầu thị chúng. Cuối đời Hán, lãnh tụ quân khởi nghĩa Hoàng Cân 黄巾 là Trương Giác 张角 sau khi chết, bị quan quân Hoàng Phủ Tung 皇甫嵩, chém đầu, lục thi. Đời Minh, niên hiệu Vạn Lịch 万历 thứ 16 (năm 1588), chế định Lục thi điều lệ 戮尸条例, đem phạm vi hạn chế ở hung phạm mưu sát ông bà, cha mẹ. Đời Thanh mở rộng phạm vi chấp hành, bao gồm cướp đoạt trộm cắp; ngoài ra tội phạm bị xử trảm, kiêu thủ mà chết trong ngục cũng bị lục thi. Cuối đời Thanh phế bỏ hình phạt này.
    Tước tịch 削籍
              Một hình thức xử phạt thời cổ, cách chức gạch tên đối với tội phạm là quan lại. Đời Minh, khi đại hoạn quan Nguỵ Trung Hiền 魏忠贤 nắm quyền, các danh thần như Dương Thượng Liên 杨上连 đều bị tước chức sung quân.
    Tịch một 籍没
              Cũng gọi là “tịch” , “tịch môn” 籍门. Gạch bỏ hộ tịch đồng thời tịch thu toàn bộ gia khẩu và tài sản của tội phạm. Từ thời Tiên Tần áp dụng cho đến thời Minh Thanh; một cách xử lí khác là đem người nhà của tội phạm giáng xuống làm nô lệ, hoặc cấm chỉ con cháu của họ làm quan.
    Liên toạ 连坐
              Cũng gọi là “tương toạ” 相坐, “duyên toạ” 缘坐. Một chế độ hình phạt thời cổ. Nhân một người phạm tội mà liên luỵ đến thân thuộc, hàng xóm, đồng ngũ (dùng cho quân nhân) cho đến những người khác có liên quan đều phải gánh chịu tội. Bắt đầu từ thời Tiên Tần, cho đến cuối đời Thanh mới phế trừ.
    Chất cốc
              Loại hình cụ bằng gỗ thời cổ dùng để cùm phạm nhân, tức thông thường mà nói là loại cùm chân và còng tay. Cùm 2 chân gọi là “chất” , còng 2 tay gọi là “cốc” . Trong Chu lễ - Thu quan – Chưởng tù 周礼 - 秋官 - 掌囚 có nói: tất cả tội phạm bị tù cấm, người bị tội nặng thì mang “cốc” , “củng” (cái cùm cùm hai tay) và “chất” ; tội nhẹ hơn chút thì mang “chất” , “cốc” ; tội nhẹ thì mang “cốc” .  (hết)

                                                                     Huỳnh Chương Hưng
                                                                     Quy Nhơn 22/5/2020

    Nguồn
    TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI VĂN HOÁ THƯỜNG THỨC
    中国古代文化常识
    Biên soạn: Thiệu Sĩ Mai 邵士梅
                      Đào Tịch Giai 陶夕佳
                      Tưởng Tiểu Ba 蒋筱波
    Tam Xuân xuất bản xã, 2008


    Dịch thuật: Hình danh pháp luật (kì 3 - hết)

    Đăng lúc  18:44  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    HÌNH DANH PHÁP LUẬT
    (kì 3 – hết)

    Thất xuất七出
              Cũng gọi là “thất khứ” 七去, “thất khí” 七弃. Bảy lí do mà chồng để vợ đồng thời kết thúc mối quan hệ hôn nhân. Theo lời sớ ở thiên Nghi lễ – Biểu phục 仪礼 - 表服 của Giả Công Ngạn 贾公彦 đời Đường: Thất xuất gồm:
              - Không sinh con
              - Dâm đãng thích an dật
              - Không hiếu kính cha mẹ chồng
              - Lắm lời hay cãi
              - Trộm cắp đồ đạc trong nhà
              - Đố kị ghen tuông
              - Mắc bệnh hiểm nghèo
              Đối với thê của thiên tử, chư hầu mà nói, không sinh được con, có thể “bất xuất”, trên thực tế là “lục xuất”.
              Trong Đại Đới lễ kí – Bản mệnh 大戴礼记 - 本命 và trong Khổng Tử gia ngữ - Bản mệnh 孔子家语 - 本命 nêu “thất xuất” là:
              - Không nghe theo lời cha mẹ (nghịch đức)
              - Không sinh con (tuyệt tự)
              - Dâm dật (loạn tộc)
              - Đố kị ghen tuông (loạn gia)
              - Mắc bệnh hiểm nghèo (không thể cúng tế)
              - Lắm lời (li gián thân tộc)
              - Trộm cắp (phản nghĩa)
    Tam bất khứ 三不去
              Cũng gọi là “tam bất xuất” 三不出, chỉ 3 tình huống mà không thể để vợ. Trong Đại Đới lễ kí – Bản mệnh 大戴礼记 - 本命  có nói:
              - Nhà cha mẹ ruột không ai, về không được, không thể để vợ.
              - Từng chịu tang 3 năm cho cha mẹ chồng, không thể để vợ.
              - Lúc kết hôn, chồng nghèo hèn, sau khi kết hôn, chồng giàu sang, không thể để vợ.
              Trần Thế Mĩ 陈世美 trong hí khúc Trát Mĩ án 铡美案 là nhân vật điển hình đã phạm vào điều thứ 3. Đường luật 唐律 quy định: có một trong ba tình huống “tam bất khứ” mà để vợ, người chồng bị xử đánh 100 trượng, phải đưa vợ về lại. Nếu người vợ bị mắc bệnh hiểm nghèo và phạm tội gian dâm thì không thích hợp dùng luật này.
    Phí hình 剕刑
              Một trong ngũ hình. Chặt chân tội phạm. Trước đời Chu gọi là “tẫn” , sau đổi gọi là “ngoạt” , thời Chu Mục Vương 周穆王 lại đổi  gọi là “phí” . Có một cách nói khác: loại bỏ xương đầu gối gọi là “tẫn” , chặt ngón chân gọi là “phí” , lấy gân bàn chân gọi là “ngoạt” . Thời Hán Văn Đế 汉文帝 phế bỏ nhục hình, đã thủ tiêu phí hình.
    Đình trượng 廷杖
              Hình phạt mà hoàng đế tại triều đình ra lệnh dùng trượng trách phạt thần hạ. Được xem là hình phạt mà hoàng đế trừng phạt thần hạ thường dùng là bắt đầu từ đời Minh. Lúc chấp hành đình trượng sẽ do Tư lễ giám 司礼监 giám sát, cẩm y vệ đánh trượng. Vào niên hiệu Hồng Vũ 洪武 thứ 6 (năm 1373) đời Minh Thái Tổ 明太祖, đánh roi chết tại triều danh tướng khai quốc, cha con vĩnh Gia Hầu Chu Lượng Tổ 永嘉侯朱亮祖, đánh trượng chết Chu Văn Chính 朱文正, Công bộ Thượng thư Hạ Tường 夏祥. Niên hiệu Chính Đức 正德thứ 14 (năm 1519) đời Minh Vũ Tông 明武宗, nhân quần thần ngăn cản nam tuần, đánh trượng tại triều đình nhóm của Thư Phân 舒芬dâng lời đến 146 người, chết 11 người. Đình trượng là một trong những tệ chính đời Minh. Triều Thanh phế bỏ.
    Yêu trảm 腰斩
              Một hình phạt thời cổ. dùng phủ việt hoặc đao chém đứt phần eo của tội phạm, khiến thi thể phân làm hai khúc trên dưới. Thời Tần Hán rất thịnh hành, thời Nguỵ, Tấn, Bắc Nguỵ tiếp tục áp dụng. Bắc Nguỵ, Bắc chu, Nam Triều cùng các triều đại sau ít khi sử dụng, không chính thức trong ngũ hình.
    Tứ tử 赐死
              Một cách xử tử hoàng tộc, phi tần, đại thần khi phạm tử tội. Hoàng đế xuống chiếu mệnh cho tội phạm tự sát. Đời Tần đã có loại hình phạt này. Thời Hán Văn Đế 汉文帝 gọi là “tự tận” 自尽 hoặc “tự tài” 自裁. Pháp luật đời Đường quy định: quan viên từ ngũ phẩm trở lên bị phán tử hình, chỉ cần không phạm tội mưu phản, đại nghịch bất đạo, đều có thể để cho tự sát tại nhà.
    Lục thi 戮尸
              Khốc hình thời cổ. Trảm lục thi thể người đã chết. Dùng để hành hình phạm nhân trọng tội đã chết trước đó. Như phạm nhân bị phán giảo hình, thì treo thi thể lên để thị chúng; bị phán trảm hình thì cắt đầu thị chúng. Cuối đời Hán, lãnh tụ quân khởi nghĩa Hoàng Cân 黄巾 là Trương Giác 张角 sau khi chết, bị quan quân Hoàng Phủ Tung 皇甫嵩, chém đầu, lục thi. Đời Minh, niên hiệu Vạn Lịch 万历 thứ 16 (năm 1588), chế định Lục thi điều lệ 戮尸条例, đem phạm vi hạn chế ở hung phạm mưu sát ông bà, cha mẹ. Đời Thanh mở rộng phạm vi chấp hành, bao gồm cướp đoạt trộm cắp; ngoài ra tội phạm bị xử trảm, kiêu thủ mà chết trong ngục cũng bị lục thi. Cuối đời Thanh phế bỏ hình phạt này.
    Tước tịch 削籍
              Một hình thức xử phạt thời cổ, cách chức gạch tên đối với tội phạm là quan lại. Đời Minh, khi đại hoạn quan Nguỵ Trung Hiền 魏忠贤 nắm quyền, các danh thần như Dương Thượng Liên 杨上连 đều bị tước chức sung quân.
    Tịch một 籍没
              Cũng gọi là “tịch” , “tịch môn” 籍门. Gạch bỏ hộ tịch đồng thời tịch thu toàn bộ gia khẩu và tài sản của tội phạm. Từ thời Tiên Tần áp dụng cho đến thời Minh Thanh; một cách xử lí khác là đem người nhà của tội phạm giáng xuống làm nô lệ, hoặc cấm chỉ con cháu của họ làm quan.
    Liên toạ 连坐
              Cũng gọi là “tương toạ” 相坐, “duyên toạ” 缘坐. Một chế độ hình phạt thời cổ. Nhân một người phạm tội mà liên luỵ đến thân thuộc, hàng xóm, đồng ngũ (dùng cho quân nhân) cho đến những người khác có liên quan đều phải gánh chịu tội. Bắt đầu từ thời Tiên Tần, cho đến cuối đời Thanh mới phế trừ.
    Chất cốc
              Loại hình cụ bằng gỗ thời cổ dùng để cùm phạm nhân, tức thông thường mà nói là loại cùm chân và còng tay. Cùm 2 chân gọi là “chất” , còng 2 tay gọi là “cốc” . Trong Chu lễ - Thu quan – Chưởng tù 周礼 - 秋官 - 掌囚 có nói: tất cả tội phạm bị tù cấm, người bị tội nặng thì mang “cốc” , “củng” (cái cùm cùm hai tay) và “chất” ; tội nhẹ hơn chút thì mang “chất” , “cốc” ; tội nhẹ thì mang “cốc” .  (hết)

                                                                     Huỳnh Chương Hưng
                                                                     Quy Nhơn 22/5/2020

    Nguồn
    TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI VĂN HOÁ THƯỜNG THỨC
    中国古代文化常识
    Biên soạn: Thiệu Sĩ Mai 邵士梅
                      Đào Tịch Giai 陶夕佳
                      Tưởng Tiểu Ba 蒋筱波
    Tam Xuân xuất bản xã, 2008


    Thứ Năm, 21 tháng 5, 2020

    HÌNH DANH PHÁP LUẬT
    (kì 2)

    Chu liên 株连
              Cũng gọi là “khiên liên” 牵连, “liên luỵ” 连累, chỉ một người có tội, liên luỵ đến người khác. Trong Ngũ nhân mộ bi kí 五人墓碑记 có ghi:
              Tốt dĩ ngô quận chi phát phẫn nhất kích, bất cảm phục hữu chu trị.
              卒以吾郡之发愤一击, 不敢复有株治
              (Cuối cùng do bởi sự nhân dân trong quận phát phẫn kháng kích khiến cho yêm đảng không dám trị tội chu liên nữa)
              “Chu trị” 株治 chính là trị tội liên luỵ.
    Trư hải 菹醢
              Một loại khốc hình, đem con người bằm nát ra. Trong Thiệp giang 涉江  có câu:
    Ngũ Tử phùng ương hề, Tỉ Can trư hải.
    伍子逢殃兮, 比干菹醢
    (Ngũ Tử gặp phải tai ương, Tỉ Can bị bằm nát)
    Nhục hình 肉刑
              Hình phạt tàn hại hình thể nạn nhân. Thời cổ Trung Quốc, các hình phạt như mặc , tị , phí , cung cùng với si , trượng đều là nhục hình.
    Phát phối 发配
              Tức sung quân. Một loại hình phạt thời cổ, chỉ đưa tội phạm bị tử hình mà được giảm hoặc những trọng phạm khác áp giải đến vùng biên viễn để phục dịch.
    Lưu hình 流刑
              Loại hình phạt đưa tội phạm đến vùng xa phục vụ lao dịch, cũng gọi là “lưu phóng” 流放, “sung quân” 充军. Thời Tần Hán đã có hình phạt này. Thời Nam Bắc triều bắt đầu thành hình phạt được chế định. Thời Bắc Chu chia lưu hình ra làm: vệ , yếu , hoang , trấn , phiên ngũ phục 蕃五服, lấy cách hoàng đô từ 2500 dặm đến 4500 dặm phân làm 5 bậc. Đời Tuỳ định làm một trong ngũ hình. Trong Khai Hoàng luật 开皇律của đời Tuỳ, lưu hình có 3 loại: 100 dặm, 1500 dặm, 2000 dặm. Đường luật phân lưu hình ra làm 3 bậc: 2000 dặm, 2500 dặm, 3000 dặm. Lưu hình được dùng cho đến đời Thanh.
    Tạt chỉ 拶指
              Một loại khốc hình thời cổ, nói tắt là “tạt” . Dùng dây thừng xỏ xuyên qua 5 khúc gỗ nhỏ, tròng vào tay người, dùng sức vặn chặt. Hình cụ được dùng gọi là “tạt” hoặc “tạt tử” 拶子.
    Đại xá 大赦
              Chỉ biện pháp nhà nước xá miễn hoặc giảm nhẹ hình phạt cho người phạm tội. Từ cơ quan quan quyền lực tối cao hoặc nguyên thủ quốc gia phát bố thi hành lệnh đại xá. Phương Bao 方苞 trong Ngục trung tạp kí 狱中杂记 có nói: Có người họ Lí ở Sơn Âm 山阴 “dĩ sát nhân hệ ngục” 以杀人系狱 (vì giết người mà bị giam vào ngục), nhân vì “dữ tư tốt biểu lí” 与胥卒表里  (1) (cùng với ngục quan và ngục tốt câu kết với nhau) mà “mỗi tuế trí sổ bách kim” 每岁致数百金 (mỗi năm kiếm được cả mấy trăm lượng bạc), “Khang Hi tứ thập bát niên, dĩ xá xuất”  康熙四十八年, 以赦出 (đến năm Khang Hi thứ 48 được đại xá ra khỏi ngục)
    Kiêu thủ 枭首
              Kiêu thủ là một loại tử hình thời cổ, là chặt đầu phạm nhân, sau đó đem treo cao trên cọc gỗ. “Kiêu” là một loài chim. Theo truyền thuyết: chim kiêu cũng như những loài chim bình thường khác, chim kiêu mẹ mớm cho chim con ăn, nhưng khi chim kiêu già đi, sức cạn mắt mờ, không thể mớm cho con ăn được nữa. Lúc bấy giờ chim kiêu con bèn mổ lấy thịt chim mẹ ăn cho khỏi đói. Chim kiêu mẹ dùng mỏ ngậm chặt cành cây, chim kiêu con mổ sạch thịt chim mẹ , chỉ còn lại cái đầu treo trên cành cây. Từ “kiêu thủ” 枭首 trong hình pháp chính là căn cứ vào đặc điểm đầu chim sau khi chết treo trên cành cây mà đặt tên. Theo ghi chép trong lịch sử: sơ kì đời Thương đã có hình phạt kiêu thủ, từ đời Tần bắt đầu hình thành chế độ.
    Lập già 立枷
              Hình cụ thời cổ. Đời Minh dùng thanh gỗ làm thành, bên trên có lỗ tròn, tròng vào cổ, khiến người đứng thẳng trong đó, cả ngày đêm chỉ có thể đứng, cho đến lúc mệt quá mức mà chết; hoặc kê một vật dưới chân, sau khi lấy ra, khiến người bị treo trong khoảng không mà chết.
    Ngũ hình 五刑
              Thời cổ từ đời Tuỳ trở về trước, ngũ hình gồm mặc , tị , phí , cung , đại tịch 大辟. Từ đời Tuỳ trở về sau, ngũ hình gồm si , trượng , đồ , lưu , tử . Mặc hình 墨刑cũng gọi là “kình hình” 黥刑, “thích tự” 刺字, tức thích chữ lên trán phạm nhân, đồng thời bôi mực để làm tiêu chí; tị tức xẻo mũi phạm nhân; phí hình 剕刑 cũng gọi là “ngoạt hình” 刖刑, tức chặt chân phạm nhân; cung hình 宫刑, tức cắt bỏ “cao hoàn” 睾丸 của nam, phá hoại cơ quan sinh thực khí của nữ; đại tịch 大辟, tức tử hình; si dùng roi hoặc gậy trúc đánh; trượng dùng côn đánh; đồ tức đồ hình, tước đoạt tự do của phạm nhân; lưu tức lưu phóng.
    Cung hình 宫刑
              Cung hình” 宫刑cũng gọi là “hủ hình” 腐刑, “âm hình” 阴刑, “tàm thất” 蚕室  hoặc “trác hình” 椓刑, một trong ngũ hình thời cổ. Nó là loại nhục hình cắt bỏ sinh thực khí của nam, phá hoại cơ quan sinh thực khí của nữ. Lúc ban đầu của cung hình là để trừng phạt mối quan hệ lưỡng tính không chính đáng giữa nam và nữ, từ Tần Hán về sau, phạm vi của cung hình dần mở rộng, trở thành thủ đoạn tàn khốc của kẻ thống trị đối phó với những kẻ phản kháng, nổi tiếng có Tư Mã Thiên 司马迁 đã bị qua cung hình. Niên hiệu Khai Hoàng 开皇 triều Tuỳ, trong hình pháp chính thức phế bỏ cung hình, hình chế của các đời sau cũng không thấy có cung hình, nhưng đến thời Minh Thanh lại thấy có những trường hợp bị cung hình.       (còn tiếp)

    Chú của người dịch
    1- Theo 2 tài liệu:
    Đoạn này là:
              Gian dân cửu vi ngục, dữ tư tốt biểu lí, phả hữu ki tiện. Sơn Âm Lí tính dĩ sát nhân hệ ngục, mỗi tuế trí sổ bách kim, Khang Hi tứ thập bát niên, dĩ xá xuất.
              奸民久为狱, 与胥卒表里, 颇有奇羡. 山阴李姓以杀人系狱, 每岁致数百金, 康熙四十八年, 以赦出.
              (Một số kẻ xấu bị giam lâu trong ngục, cùng với ngục quan và ngục tốt câu kết với nhau, ăn rất nhiều. Có người họ Lí ở Sơn Âm vì giết người mà bị giam vào ngục, mỗi năm kiếm được cả trăm lượng bạc, đến năm Khang Hi thứ 48 được đại xá ra khỏi ngục)
    Cụm “dữ tư tốt biểu lí” 与胥表里trong nguyên tác là:
    Dữ tư suất tương biểu lí
    与胥率相表里
         Tôi theo 2 tài liệu trên sửa lại.

                                                                    Huỳnh Chương Hưng
                                                                     Quy Nhơn 21/5/2020

    Nguồn
    TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI VĂN HOÁ THƯỜNG THỨC
    中国古代文化常识
    Biên soạn: Thiệu Sĩ Mai 邵士梅
                      Đào Tịch Giai 陶夕佳
                      Tưởng Tiểu Ba 蒋筱波
    Tam Xuân xuất bản xã, 2008

    Dịch thuật: Hình danh pháp luật (kì 2)

    Đăng lúc  17:23  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    HÌNH DANH PHÁP LUẬT
    (kì 2)

    Chu liên 株连
              Cũng gọi là “khiên liên” 牵连, “liên luỵ” 连累, chỉ một người có tội, liên luỵ đến người khác. Trong Ngũ nhân mộ bi kí 五人墓碑记 có ghi:
              Tốt dĩ ngô quận chi phát phẫn nhất kích, bất cảm phục hữu chu trị.
              卒以吾郡之发愤一击, 不敢复有株治
              (Cuối cùng do bởi sự nhân dân trong quận phát phẫn kháng kích khiến cho yêm đảng không dám trị tội chu liên nữa)
              “Chu trị” 株治 chính là trị tội liên luỵ.
    Trư hải 菹醢
              Một loại khốc hình, đem con người bằm nát ra. Trong Thiệp giang 涉江  có câu:
    Ngũ Tử phùng ương hề, Tỉ Can trư hải.
    伍子逢殃兮, 比干菹醢
    (Ngũ Tử gặp phải tai ương, Tỉ Can bị bằm nát)
    Nhục hình 肉刑
              Hình phạt tàn hại hình thể nạn nhân. Thời cổ Trung Quốc, các hình phạt như mặc , tị , phí , cung cùng với si , trượng đều là nhục hình.
    Phát phối 发配
              Tức sung quân. Một loại hình phạt thời cổ, chỉ đưa tội phạm bị tử hình mà được giảm hoặc những trọng phạm khác áp giải đến vùng biên viễn để phục dịch.
    Lưu hình 流刑
              Loại hình phạt đưa tội phạm đến vùng xa phục vụ lao dịch, cũng gọi là “lưu phóng” 流放, “sung quân” 充军. Thời Tần Hán đã có hình phạt này. Thời Nam Bắc triều bắt đầu thành hình phạt được chế định. Thời Bắc Chu chia lưu hình ra làm: vệ , yếu , hoang , trấn , phiên ngũ phục 蕃五服, lấy cách hoàng đô từ 2500 dặm đến 4500 dặm phân làm 5 bậc. Đời Tuỳ định làm một trong ngũ hình. Trong Khai Hoàng luật 开皇律của đời Tuỳ, lưu hình có 3 loại: 100 dặm, 1500 dặm, 2000 dặm. Đường luật phân lưu hình ra làm 3 bậc: 2000 dặm, 2500 dặm, 3000 dặm. Lưu hình được dùng cho đến đời Thanh.
    Tạt chỉ 拶指
              Một loại khốc hình thời cổ, nói tắt là “tạt” . Dùng dây thừng xỏ xuyên qua 5 khúc gỗ nhỏ, tròng vào tay người, dùng sức vặn chặt. Hình cụ được dùng gọi là “tạt” hoặc “tạt tử” 拶子.
    Đại xá 大赦
              Chỉ biện pháp nhà nước xá miễn hoặc giảm nhẹ hình phạt cho người phạm tội. Từ cơ quan quan quyền lực tối cao hoặc nguyên thủ quốc gia phát bố thi hành lệnh đại xá. Phương Bao 方苞 trong Ngục trung tạp kí 狱中杂记 có nói: Có người họ Lí ở Sơn Âm 山阴 “dĩ sát nhân hệ ngục” 以杀人系狱 (vì giết người mà bị giam vào ngục), nhân vì “dữ tư tốt biểu lí” 与胥卒表里  (1) (cùng với ngục quan và ngục tốt câu kết với nhau) mà “mỗi tuế trí sổ bách kim” 每岁致数百金 (mỗi năm kiếm được cả mấy trăm lượng bạc), “Khang Hi tứ thập bát niên, dĩ xá xuất”  康熙四十八年, 以赦出 (đến năm Khang Hi thứ 48 được đại xá ra khỏi ngục)
    Kiêu thủ 枭首
              Kiêu thủ là một loại tử hình thời cổ, là chặt đầu phạm nhân, sau đó đem treo cao trên cọc gỗ. “Kiêu” là một loài chim. Theo truyền thuyết: chim kiêu cũng như những loài chim bình thường khác, chim kiêu mẹ mớm cho chim con ăn, nhưng khi chim kiêu già đi, sức cạn mắt mờ, không thể mớm cho con ăn được nữa. Lúc bấy giờ chim kiêu con bèn mổ lấy thịt chim mẹ ăn cho khỏi đói. Chim kiêu mẹ dùng mỏ ngậm chặt cành cây, chim kiêu con mổ sạch thịt chim mẹ , chỉ còn lại cái đầu treo trên cành cây. Từ “kiêu thủ” 枭首 trong hình pháp chính là căn cứ vào đặc điểm đầu chim sau khi chết treo trên cành cây mà đặt tên. Theo ghi chép trong lịch sử: sơ kì đời Thương đã có hình phạt kiêu thủ, từ đời Tần bắt đầu hình thành chế độ.
    Lập già 立枷
              Hình cụ thời cổ. Đời Minh dùng thanh gỗ làm thành, bên trên có lỗ tròn, tròng vào cổ, khiến người đứng thẳng trong đó, cả ngày đêm chỉ có thể đứng, cho đến lúc mệt quá mức mà chết; hoặc kê một vật dưới chân, sau khi lấy ra, khiến người bị treo trong khoảng không mà chết.
    Ngũ hình 五刑
              Thời cổ từ đời Tuỳ trở về trước, ngũ hình gồm mặc , tị , phí , cung , đại tịch 大辟. Từ đời Tuỳ trở về sau, ngũ hình gồm si , trượng , đồ , lưu , tử . Mặc hình 墨刑cũng gọi là “kình hình” 黥刑, “thích tự” 刺字, tức thích chữ lên trán phạm nhân, đồng thời bôi mực để làm tiêu chí; tị tức xẻo mũi phạm nhân; phí hình 剕刑 cũng gọi là “ngoạt hình” 刖刑, tức chặt chân phạm nhân; cung hình 宫刑, tức cắt bỏ “cao hoàn” 睾丸 của nam, phá hoại cơ quan sinh thực khí của nữ; đại tịch 大辟, tức tử hình; si dùng roi hoặc gậy trúc đánh; trượng dùng côn đánh; đồ tức đồ hình, tước đoạt tự do của phạm nhân; lưu tức lưu phóng.
    Cung hình 宫刑
              Cung hình” 宫刑cũng gọi là “hủ hình” 腐刑, “âm hình” 阴刑, “tàm thất” 蚕室  hoặc “trác hình” 椓刑, một trong ngũ hình thời cổ. Nó là loại nhục hình cắt bỏ sinh thực khí của nam, phá hoại cơ quan sinh thực khí của nữ. Lúc ban đầu của cung hình là để trừng phạt mối quan hệ lưỡng tính không chính đáng giữa nam và nữ, từ Tần Hán về sau, phạm vi của cung hình dần mở rộng, trở thành thủ đoạn tàn khốc của kẻ thống trị đối phó với những kẻ phản kháng, nổi tiếng có Tư Mã Thiên 司马迁 đã bị qua cung hình. Niên hiệu Khai Hoàng 开皇 triều Tuỳ, trong hình pháp chính thức phế bỏ cung hình, hình chế của các đời sau cũng không thấy có cung hình, nhưng đến thời Minh Thanh lại thấy có những trường hợp bị cung hình.       (còn tiếp)

    Chú của người dịch
    1- Theo 2 tài liệu:
    Đoạn này là:
              Gian dân cửu vi ngục, dữ tư tốt biểu lí, phả hữu ki tiện. Sơn Âm Lí tính dĩ sát nhân hệ ngục, mỗi tuế trí sổ bách kim, Khang Hi tứ thập bát niên, dĩ xá xuất.
              奸民久为狱, 与胥卒表里, 颇有奇羡. 山阴李姓以杀人系狱, 每岁致数百金, 康熙四十八年, 以赦出.
              (Một số kẻ xấu bị giam lâu trong ngục, cùng với ngục quan và ngục tốt câu kết với nhau, ăn rất nhiều. Có người họ Lí ở Sơn Âm vì giết người mà bị giam vào ngục, mỗi năm kiếm được cả trăm lượng bạc, đến năm Khang Hi thứ 48 được đại xá ra khỏi ngục)
    Cụm “dữ tư tốt biểu lí” 与胥表里trong nguyên tác là:
    Dữ tư suất tương biểu lí
    与胥率相表里
         Tôi theo 2 tài liệu trên sửa lại.

                                                                    Huỳnh Chương Hưng
                                                                     Quy Nhơn 21/5/2020

    Nguồn
    TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI VĂN HOÁ THƯỜNG THỨC
    中国古代文化常识
    Biên soạn: Thiệu Sĩ Mai 邵士梅
                      Đào Tịch Giai 陶夕佳
                      Tưởng Tiểu Ba 蒋筱波
    Tam Xuân xuất bản xã, 2008


    KHỐI TÌNH MANG XUỐNG TUYỀN ĐÀI CHỬA TAN (710)
    - Khối tình:
    Bản“Kim Vân Kiều” (Đoạn trường tân thanh) do Bùi Khánh Diễn chú thích, ghi rằng:
              Tích hữu nữ duyệt nhất thương giả, ký nhi bất chí, nữ uất tử, hậu gia nhân cải táng kiến tâm trung kết thành nhất khối, chàng chi bất phá, chiếu chi trung hữu thương nhân trạng, hậu thương lai cầu quan, lệ hạ thử khối tán nhi vi huyết.
              昔有女悅一商者既而不至女鬱死後家人改喪見心中結成一塊撞之不破炤之中有商人狀後商來求觀淚下此塊散而為血
              (Xưa có người con gái phải lòng người lái buôn mà chàng ta không đến, người con gái uất chết, sau người nhà cải táng thấy trong bụng kết thành một khối đập không vỡ, soi trong có hình người lái buôn, sau chàng ấy lại xem, khóc nước mắt rỏ vào khối ấy tan biến ra huyết)
    (Sài Gòn: nxb Sống Mới, 1960)

    Nợ tình chưa trả cho ai
    Khối tình mang xuống Tuyền đài chửa tan
    (“Truyện Kiều” 709 – 710)
    Khối tình: Cục tình, mối tình. Tình sử chép có người con gái nghe tiếng hát của một người lái thuyền chèo thuyền quan trước nhà mà phải lòng, sau ốm tương tư mà chết. Đem hoả táng, xương thịt đều cháy, chỉ có mỗi cục không sao cháy được. Người lái thuyền biết tin đến thăm khóc, nước mắt rơi xuống cục ấy, thì nó vỡ tan ra thành huyết, người ta gọi đó là khối tình.
    (Đào Duy Anh: “Từ điển Truyện Kiều”, nxb Khoa học xã hội, Hà Nội – 1989)

    - Tuyền  đài:  tức “hoàng tuyền” 黄泉, cũng gọi là “suối vàng” “cửu tuyền” “chín suối”. Tục tín cho rằng, suối vàng là nơi ở của người đã mất, cũng chỉ âm tào địa phủ. Trong Tả truyện - Ẩn Công nguyên niên 左传 - 隐公元年 chép rằng:
              Xưa, Trịnh Vũ Công 郑武公 cưới thê tử ở nước Thân, tên là Vũ Khương 武姜. Vũ Khương sinh ra Trang Công 庄公và Cung Thúc Đoạn 共叔段. Do vì Trang Công sinh ngược, khiến Vũ Khương kinh sợ, vì thế mà có tên là “Ngộ Sinh” 寤生. Vũ Khương ghét Ngộ Sinh, chỉ yêu quý Cung Thúc Đoạn, muốn lập Thúc Đoạn làm thế tử, nhiều lần thỉnh cầu Trịnh Vũ Công, nhưng Vũ Công không bằng lòng. Đến khi Trang Công lên ngôi, Vũ Khương ngầm cùng Cung Thúc Đoạn xin được phân phong ở ấp Chế . Trang Công bảo rằng: “Ấp Chế là nơi hiểm yếu, trước đây Quắc Thúc 虢叔đã chết nơi đó, nếu những thành ấp khác thì có thể”. Vũ Khương bèn xin phân phong ấp Kinh . Trang Công bằng lòng, phong Cung Thúc Đoạn nơi đó, gọi ông ta là Kinh Thành Thái Thúc 京城太叔. Đại phu Sái Trọng 祭仲nói rằng: “Đô thành phân phong nếu vượt quá một phần ba quốc đô, thì đó là hoạ hại của đất nước. Chế độ của tiên vương có quy định: thành ấp lớn nhất trong nước, không được vượt quá một phần ba quốc đô, loại trung không được vượt quá một phần năm, loại nhỏ không được vượt qua một phần chín. Nay ấp Chế không hợp với quy định, đó không phải là chế độ của tiên vương, như vậy ngài sẽ không khống chế được”. Trang Công bảo rằng: “Khương thị muốn như vậy, ta làm sao tránh được hoạ này đây?” Sái Trọng đáp rằng: “Làm sao có thể thoả mãn lòng tham của Khương Thị, chi bằng sớm xử trí, đừng để rễ của cái hoạ mọc lan ra, một khi nó đã lan ra thì khó mà trừ được, huống hồ là đứa em được sủng ái của ngài”. Trang Công bảo rằng: “Làm nhiều điều bất nghĩa, tất tự mình hại mình. Khanh cứ chờ xem”.
              ...............................
              Về sau, Thái Thúc tu sửa thành quách, tụ tập bách tính, chuẩn bị vũ khí định đánh lén nước Trịnh, Vũ Khương sẽ mở cổng thành làm nội ứng. Trang Công hay tin bèn nói rằng: “Có thể xuất kích được rồi đấy”, lệnh cho Tử Phong 子封 đem 200 cỗ xe đi thảo phạt ấp Kinh. Dân ấp Kinh bội phản Cung Thúc Đoạn, Cung Thúc Đoạn chạy đến thành Yển , Trang Công đuổi theo thảo phạt. Cung Thúc Đoạn chạy đến nước Cung .
              Trang Công an trí Vũ Khương tại Thành Dĩnh 城颖, thề rằng: “Bất cập hoàng tuyền, vô tương kiến dã” 不及黄泉, 无相见也 (không xuống đến hoàng tuyền thì sẽ không gặp mặt). Qua một thời gian, Trang Công hối hận. Vị quan quản lí cương giới ở Dĩnh Cốc 颖谷 là Dĩnh Khảo Thúc 颖考叔 nghe được chuyện đó, bèn đem cống phẩm dâng lên Trang Công, Trang Công đãi tiệc, trong lúc ăn, Dĩnh Khảo Thúc cất lại một miếng thịt, Trang Công hỏi lí do, Dĩnh Khảo Thúc đáp rằng: “Tiểu nhân còn mẹ già, thường ăn thức ăn của tiểu nhân, nhưng chưa từng được ăn món canh thịt của ngài.”Trang Công nói rằng: “Khanh có mẹ già để hiếu thuận, còn ta lại không!” Dĩnh Khảo Thúc hỏi duyên cớ, Trang Công thuật lại sự việc, đồng thời tỏ ý hối hận. Dĩnh Khảo Thúc nói rằng: “Ngài chớ có lo. Chỉ cần đào một đường hầm, đào đến suối, hai người gặp nhau nơi đó, ai bảo rằng ngài làm trái lời thề?” Trang Công theo lời, lần theo địa đạo đi gặp Vũ Khương. Từ đó hai người trở lại mối quan hệ mẹ con như xưa.

    Tuyền đài: tức là chỗ hoàng tuyền, suối vàng, hay cửu tuyền, chín suối. 
    (Đào Duy Anh: “Từ điển Truyện Kiều”, nxb Khoa học xã hội, Hà Nội – 1989)
    Trong “Kim Vân Kiều” (Đoạn trường tân thanh) do Bùi Khánh Diễn chú thích, ghi rằng:
              Tả truyện: bất cập hoàng tuyền, vô tương kiến dã.
              左傳: 不及黃泉無相見也
              (Sách Tả truyện: chưa xuống suối vàng, không sao gặp nhau được)
    (Sài Gòn: nxb Sống Mới, 1960)

                                                                         Huỳnh Chương Hưng
                                                                         Quy Nhơn 21/5/2020

    Dịch thuật: Khối tình mang xuống Tuyền đài chửa tan (710) ("Truyện Kiều")

    Đăng lúc  10:52  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »


    KHỐI TÌNH MANG XUỐNG TUYỀN ĐÀI CHỬA TAN (710)
    - Khối tình:
    Bản“Kim Vân Kiều” (Đoạn trường tân thanh) do Bùi Khánh Diễn chú thích, ghi rằng:
              Tích hữu nữ duyệt nhất thương giả, ký nhi bất chí, nữ uất tử, hậu gia nhân cải táng kiến tâm trung kết thành nhất khối, chàng chi bất phá, chiếu chi trung hữu thương nhân trạng, hậu thương lai cầu quan, lệ hạ thử khối tán nhi vi huyết.
              昔有女悅一商者既而不至女鬱死後家人改喪見心中結成一塊撞之不破炤之中有商人狀後商來求觀淚下此塊散而為血
              (Xưa có người con gái phải lòng người lái buôn mà chàng ta không đến, người con gái uất chết, sau người nhà cải táng thấy trong bụng kết thành một khối đập không vỡ, soi trong có hình người lái buôn, sau chàng ấy lại xem, khóc nước mắt rỏ vào khối ấy tan biến ra huyết)
    (Sài Gòn: nxb Sống Mới, 1960)

    Nợ tình chưa trả cho ai
    Khối tình mang xuống Tuyền đài chửa tan
    (“Truyện Kiều” 709 – 710)
    Khối tình: Cục tình, mối tình. Tình sử chép có người con gái nghe tiếng hát của một người lái thuyền chèo thuyền quan trước nhà mà phải lòng, sau ốm tương tư mà chết. Đem hoả táng, xương thịt đều cháy, chỉ có mỗi cục không sao cháy được. Người lái thuyền biết tin đến thăm khóc, nước mắt rơi xuống cục ấy, thì nó vỡ tan ra thành huyết, người ta gọi đó là khối tình.
    (Đào Duy Anh: “Từ điển Truyện Kiều”, nxb Khoa học xã hội, Hà Nội – 1989)

    - Tuyền  đài:  tức “hoàng tuyền” 黄泉, cũng gọi là “suối vàng” “cửu tuyền” “chín suối”. Tục tín cho rằng, suối vàng là nơi ở của người đã mất, cũng chỉ âm tào địa phủ. Trong Tả truyện - Ẩn Công nguyên niên 左传 - 隐公元年 chép rằng:
              Xưa, Trịnh Vũ Công 郑武公 cưới thê tử ở nước Thân, tên là Vũ Khương 武姜. Vũ Khương sinh ra Trang Công 庄公và Cung Thúc Đoạn 共叔段. Do vì Trang Công sinh ngược, khiến Vũ Khương kinh sợ, vì thế mà có tên là “Ngộ Sinh” 寤生. Vũ Khương ghét Ngộ Sinh, chỉ yêu quý Cung Thúc Đoạn, muốn lập Thúc Đoạn làm thế tử, nhiều lần thỉnh cầu Trịnh Vũ Công, nhưng Vũ Công không bằng lòng. Đến khi Trang Công lên ngôi, Vũ Khương ngầm cùng Cung Thúc Đoạn xin được phân phong ở ấp Chế . Trang Công bảo rằng: “Ấp Chế là nơi hiểm yếu, trước đây Quắc Thúc 虢叔đã chết nơi đó, nếu những thành ấp khác thì có thể”. Vũ Khương bèn xin phân phong ấp Kinh . Trang Công bằng lòng, phong Cung Thúc Đoạn nơi đó, gọi ông ta là Kinh Thành Thái Thúc 京城太叔. Đại phu Sái Trọng 祭仲nói rằng: “Đô thành phân phong nếu vượt quá một phần ba quốc đô, thì đó là hoạ hại của đất nước. Chế độ của tiên vương có quy định: thành ấp lớn nhất trong nước, không được vượt quá một phần ba quốc đô, loại trung không được vượt quá một phần năm, loại nhỏ không được vượt qua một phần chín. Nay ấp Chế không hợp với quy định, đó không phải là chế độ của tiên vương, như vậy ngài sẽ không khống chế được”. Trang Công bảo rằng: “Khương thị muốn như vậy, ta làm sao tránh được hoạ này đây?” Sái Trọng đáp rằng: “Làm sao có thể thoả mãn lòng tham của Khương Thị, chi bằng sớm xử trí, đừng để rễ của cái hoạ mọc lan ra, một khi nó đã lan ra thì khó mà trừ được, huống hồ là đứa em được sủng ái của ngài”. Trang Công bảo rằng: “Làm nhiều điều bất nghĩa, tất tự mình hại mình. Khanh cứ chờ xem”.
              ...............................
              Về sau, Thái Thúc tu sửa thành quách, tụ tập bách tính, chuẩn bị vũ khí định đánh lén nước Trịnh, Vũ Khương sẽ mở cổng thành làm nội ứng. Trang Công hay tin bèn nói rằng: “Có thể xuất kích được rồi đấy”, lệnh cho Tử Phong 子封 đem 200 cỗ xe đi thảo phạt ấp Kinh. Dân ấp Kinh bội phản Cung Thúc Đoạn, Cung Thúc Đoạn chạy đến thành Yển , Trang Công đuổi theo thảo phạt. Cung Thúc Đoạn chạy đến nước Cung .
              Trang Công an trí Vũ Khương tại Thành Dĩnh 城颖, thề rằng: “Bất cập hoàng tuyền, vô tương kiến dã” 不及黄泉, 无相见也 (không xuống đến hoàng tuyền thì sẽ không gặp mặt). Qua một thời gian, Trang Công hối hận. Vị quan quản lí cương giới ở Dĩnh Cốc 颖谷 là Dĩnh Khảo Thúc 颖考叔 nghe được chuyện đó, bèn đem cống phẩm dâng lên Trang Công, Trang Công đãi tiệc, trong lúc ăn, Dĩnh Khảo Thúc cất lại một miếng thịt, Trang Công hỏi lí do, Dĩnh Khảo Thúc đáp rằng: “Tiểu nhân còn mẹ già, thường ăn thức ăn của tiểu nhân, nhưng chưa từng được ăn món canh thịt của ngài.”Trang Công nói rằng: “Khanh có mẹ già để hiếu thuận, còn ta lại không!” Dĩnh Khảo Thúc hỏi duyên cớ, Trang Công thuật lại sự việc, đồng thời tỏ ý hối hận. Dĩnh Khảo Thúc nói rằng: “Ngài chớ có lo. Chỉ cần đào một đường hầm, đào đến suối, hai người gặp nhau nơi đó, ai bảo rằng ngài làm trái lời thề?” Trang Công theo lời, lần theo địa đạo đi gặp Vũ Khương. Từ đó hai người trở lại mối quan hệ mẹ con như xưa.

    Tuyền đài: tức là chỗ hoàng tuyền, suối vàng, hay cửu tuyền, chín suối. 
    (Đào Duy Anh: “Từ điển Truyện Kiều”, nxb Khoa học xã hội, Hà Nội – 1989)
    Trong “Kim Vân Kiều” (Đoạn trường tân thanh) do Bùi Khánh Diễn chú thích, ghi rằng:
              Tả truyện: bất cập hoàng tuyền, vô tương kiến dã.
              左傳: 不及黃泉無相見也
              (Sách Tả truyện: chưa xuống suối vàng, không sao gặp nhau được)
    (Sài Gòn: nxb Sống Mới, 1960)

                                                                         Huỳnh Chương Hưng
                                                                         Quy Nhơn 21/5/2020

    Mã nguồn bởi Huỳnh Chương Hưng
    Copyright © 2012 Huỳnh Chương Hưng.
    back to top