• Thứ Ba, 21 tháng 2, 2017

    QUA ĐIỀN LÍ HẠ
    瓜田李下
     ĐI QUA RUỘNG DƯA, ĐI DƯỚI CÂY LÍ

    Giải thích: khi đi qua ruộng dưa, không nên khom người xuống sửa dép; khi đi dưới cây lí, không nên giơ tay sửa mũ, để tránh bị nghi ngờ bẻ dưa hái lí. Ví với việc bị hiềm nghi.
    Xuất xứ: Đường . Lí Diên Thọ 李延寿 Bắc sử - Viên Phiên truyện 北史 - 袁翻传

              Viên Vi Tu 袁韦修 người Bắc Tề thời Nam Bắc triều, thời niên thiếu đã từng trải, tính cách trầm tĩnh và rất có kiến thức. Năm 18 tuổi ông giữ chức Trung Chính ở châu của mình. Sau được thăng làm Thái thú ở Bác Lăng 博陵. Chính tích của ông nổi trội, rất có thanh vọng, trở thành nhân vật xa gần đều biết tiếng.
              Vi Viên Tu làm quan thanh liêm, không nhận hối lộ, mọi người tặng cho nhã hiệu là “Thanh lang” 清郎. Có một lần, Vi Viên Tu ra bên ngoài kiểm tra quan lại địa phương, trên đường đi qua Duyện Châu 兖州, người bạn cũ của ông là Hình Thiệu 邢邵 đang làm Thứ sử Duyện Châu, Hình Thiệu lấy ra một tấm lụa trắng tặng ông để làm kỉ niệm. Vi Viên Tu từ chối, nói rằng:
              - Tôi lần này đi ngang qua đây khác với thường ngày. Đi qua ruộng, đi dưới cây lí là điều mà người xưa rất thận trọng. Lẽ nào ông quên lời người xưa khi đi qua ruộng dưa không nên khom người sửa dép, đi dưới cây lí không giơ tay sửa mũ sao? Đó là để tránh sự hiềm nghi! Tôi xin nhận lãnh tâm ý của ông, còn vật thì xin không nhận, không thể để lại lời dị nghị!
              Hình Thiệu rất hiểu tâm ý của Viên Vi Tu nên không ép.

                                                               Huỳnh Chương Hưng
                                                     Quy Nhơn 21/02/2017

    Nguyên tác Trung văn
    QUA ĐIỀN LÍ HẠ
    瓜田李下
    TRUNG QUỐC THÀNH NGỮ CỐ SỰ TỔNG TẬP
    中国成语故事总集
    (tập 1)
    Chủ biên: Đường Kì 唐麒
    Trường Xuân – Thời đại văn nghệ xuất bản xã, 2004.

    Dịch thuật: Qua điền lí hạ (thành ngữ)

    Đăng lúc  19:50  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    QUA ĐIỀN LÍ HẠ
    瓜田李下
     ĐI QUA RUỘNG DƯA, ĐI DƯỚI CÂY LÍ

    Giải thích: khi đi qua ruộng dưa, không nên khom người xuống sửa dép; khi đi dưới cây lí, không nên giơ tay sửa mũ, để tránh bị nghi ngờ bẻ dưa hái lí. Ví với việc bị hiềm nghi.
    Xuất xứ: Đường . Lí Diên Thọ 李延寿 Bắc sử - Viên Phiên truyện 北史 - 袁翻传

              Viên Vi Tu 袁韦修 người Bắc Tề thời Nam Bắc triều, thời niên thiếu đã từng trải, tính cách trầm tĩnh và rất có kiến thức. Năm 18 tuổi ông giữ chức Trung Chính ở châu của mình. Sau được thăng làm Thái thú ở Bác Lăng 博陵. Chính tích của ông nổi trội, rất có thanh vọng, trở thành nhân vật xa gần đều biết tiếng.
              Vi Viên Tu làm quan thanh liêm, không nhận hối lộ, mọi người tặng cho nhã hiệu là “Thanh lang” 清郎. Có một lần, Vi Viên Tu ra bên ngoài kiểm tra quan lại địa phương, trên đường đi qua Duyện Châu 兖州, người bạn cũ của ông là Hình Thiệu 邢邵 đang làm Thứ sử Duyện Châu, Hình Thiệu lấy ra một tấm lụa trắng tặng ông để làm kỉ niệm. Vi Viên Tu từ chối, nói rằng:
              - Tôi lần này đi ngang qua đây khác với thường ngày. Đi qua ruộng, đi dưới cây lí là điều mà người xưa rất thận trọng. Lẽ nào ông quên lời người xưa khi đi qua ruộng dưa không nên khom người sửa dép, đi dưới cây lí không giơ tay sửa mũ sao? Đó là để tránh sự hiềm nghi! Tôi xin nhận lãnh tâm ý của ông, còn vật thì xin không nhận, không thể để lại lời dị nghị!
              Hình Thiệu rất hiểu tâm ý của Viên Vi Tu nên không ép.

                                                               Huỳnh Chương Hưng
                                                     Quy Nhơn 21/02/2017

    Nguyên tác Trung văn
    QUA ĐIỀN LÍ HẠ
    瓜田李下
    TRUNG QUỐC THÀNH NGỮ CỐ SỰ TỔNG TẬP
    中国成语故事总集
    (tập 1)
    Chủ biên: Đường Kì 唐麒
    Trường Xuân – Thời đại văn nghệ xuất bản xã, 2004.

    Thứ Hai, 20 tháng 2, 2017

    PHONG THIỆN

              Phong Thiện 封禅 là điển lễ đế vương nhận mệnh từ trời. Nghi thức này khởi nguồn từ thời Xuân Thu Chiến Quốc. Đương thời, các nho sĩ nước Tề nước  Lỗ cho rằng Thái sơn 泰山 là núi cao nhất trong thiên hạ, đế vương tối cao chốn nhân gian phải đến ngọn núi cao nhất này để tế thần linh chí cao vô thượng, mà Thái sơn lại là phân giới giữa Tề và Lỗ. Về sau, nghi thức tế tự Thái sơn được mở rộng thành tế vọng thống nhất đế quốc, đồng thời định danh là “Phong Thiện”. Trong hai chữ “Phong Thiện”, “Phong” ý nghĩa là tế Thiên, “Thiện” ý nghĩa là tế Địa. Lễ Phong Thiện, được thấy sớm nhất ở  thiên Phong Thiện 封禅 trong Quản Tử 管子, nhưng thiên này đã thất truyền. Theo lời của Quản Trọng 管仲 luận về Phong Thiện được chép trong Sử kí – Phong Thiện thư 史记 - 封禅书: thời cổ, đế vương Phong Thái sơn 泰山, Thiện Lương Phụ 梁父 có 72 đời, Quản Trọng nhớ được 12 đời. Từ Vô Hoài thị 无怀氏 đến Chu Thành Vương 周成王, đều cử hành điển lễ sau khi thụ mệnh. Đế vương thụ mệnh phải có 15 điềm lành không triệu mà đến thể hiện ra, như vậy mới có thể cử hành điển lễ. Bộ Quản Tử xuất xứ từ học phái ở Tắc Hạ 稷下 nước Tề thời Chiến Quốc, vì thế có lẽ nó đại biểu cho cách nhìn của các Âm Dương gia đối với Phong Thiện.
              Người đầu tiên chân chính cử hành Phong Thiện là Tần Thuỷ Hoàng. Năm Thuỷ Hoàng thứ 3, tuần thú quận huyện đã cùng với các nho sĩ thảo luận điển lễ Phong Thiện. Các Bác sĩ nghị luận sôi nổi, nhưng không đưa ra trình từ lễ nghi cụ thể. Tần Thuỷ Hoàng bèn mượn dùng nghi điển tế Thượng Đế vốn có của nước Tần, trước tiên đến Thái sơn cử hành Phong lễ, sau đó đến Lương Phụ cử hành Thiện lễ. Đầu thời Hán, kinh tế sa sút, năm Hán Văn Đế thứ 13 (năm 167 trước công nguyên), tuy có thảo luận qua Phong Thiện, nhưng vì không có điều kiện kinh tế nên không làm. Thời Vũ Đế kinh tế phục hồi, vì thế sai Triệu Oản 赵绾, Vương Tang 王臧 “thảo tuần thú, Phong Thiện, cải đổi lịch, phục sắc”. Nhưng do Đậu Thái hậu cực lực phản đối nên thôi. Năm Nguyên Phong 元封 thứ 1 (năm 110 trước công nguyên), Vũ Đế mới cử hành Phong Thiện. Nhưng lần Phong Thiện đó, không những nghi thức cụ thể chủ yếu do phương sĩ đảm nhiệm, mà việc cử hành cũng thần bí, sử quan cũng không biết tường tận. Phong ở Thái sơn 泰山, Thiện ở Túc Nhiên sơn 肃然山 (đông bắc Thái sơn), đồng thời cải nguyên là Nguyên Phong 元封. Từ đó về sau, cứ cách 5 năm tổ chức một lần. Trước sau tổng cộng cử hành qua 5 lần. Năm Kiến Vũ 建武 thứ 30 thời Đông Hán (năm 54), đại thần Trương Thuần 张纯 tấu thỉnh Hán Quang Vũ Đế Phong Thiện, nhưng ông cho mình không có đức nên không đồng ý. Hai năm sau, ông tin sấm văn “Xích Lưu chi cửu, hội mệnh Đại Tông” 赤刘之九, 会命岱宗 (9 đời của triều Hán, thụ mệnh ở Đại Tông) (1), sai Lương Tùng 梁松 tìm chế điển Phong Thiện của 9 đời, sau đó đi tuần về phía đông, Phong ở Thái sơn, Thiện ở Lương Âm 梁阴, đồng thời cải nguyên là Trung Nguyên 中元 nguyên niên (năm 56).
              Sau này, trong lịch sử Trung Quốc, Đường Cao Tông, Tống Chân Tông có cử hành qua Phong Thiện.

    Chú của người dịch
    1- Xích Lưu 赤刘: thời cổ, các nhà sấm vĩ cho triều Hán là “dĩ hoả đức vi vương” 以火德为王”, hoả sắc đỏ, còn triều Hán họ Lưu , cho nên nhân đó dùng “Xích Lưu” để chỉ triều Hán.
              Đại tông 岱宗: từ tôn xưng Thái sơn. Thái sơn còn được gọi là Đại sơn 岱山, Đại nhạc 岱岳, Đông nhạc 东岳, đứng đầu danh sơn toàn quốc, được xưng tụng là “thiên hạ đệ nhất sơn” 天下第一山.
              “Thái” có nghĩa là cực lớn, là thông  sướng, an ninh.
              “Tông” có nghĩa là trưởng, là đứng đầu
              Thái sơn là “ngũ nhạc chi trưởng”, cũng là “quần nhạc chi trưởng”. Ngũ nhạc gồm:
              Đông nhạc Thái sơn 东岳泰山
              Tây nhạc Hoá sơn 西岳华山
              Nam nhạc Hành sơn 南岳恒山
              Bắc nhạc Hằng sơn 北岳恒山
              Trung nhạc Tung sơn 中岳嵩山

                                                                     Huỳnh Chương Hưng
                                                                     Quy Nhơn 20/02/2017


    Dịch thuật: Phong Thiện

    Đăng lúc  18:18  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    PHONG THIỆN

              Phong Thiện 封禅 là điển lễ đế vương nhận mệnh từ trời. Nghi thức này khởi nguồn từ thời Xuân Thu Chiến Quốc. Đương thời, các nho sĩ nước Tề nước  Lỗ cho rằng Thái sơn 泰山 là núi cao nhất trong thiên hạ, đế vương tối cao chốn nhân gian phải đến ngọn núi cao nhất này để tế thần linh chí cao vô thượng, mà Thái sơn lại là phân giới giữa Tề và Lỗ. Về sau, nghi thức tế tự Thái sơn được mở rộng thành tế vọng thống nhất đế quốc, đồng thời định danh là “Phong Thiện”. Trong hai chữ “Phong Thiện”, “Phong” ý nghĩa là tế Thiên, “Thiện” ý nghĩa là tế Địa. Lễ Phong Thiện, được thấy sớm nhất ở  thiên Phong Thiện 封禅 trong Quản Tử 管子, nhưng thiên này đã thất truyền. Theo lời của Quản Trọng 管仲 luận về Phong Thiện được chép trong Sử kí – Phong Thiện thư 史记 - 封禅书: thời cổ, đế vương Phong Thái sơn 泰山, Thiện Lương Phụ 梁父 có 72 đời, Quản Trọng nhớ được 12 đời. Từ Vô Hoài thị 无怀氏 đến Chu Thành Vương 周成王, đều cử hành điển lễ sau khi thụ mệnh. Đế vương thụ mệnh phải có 15 điềm lành không triệu mà đến thể hiện ra, như vậy mới có thể cử hành điển lễ. Bộ Quản Tử xuất xứ từ học phái ở Tắc Hạ 稷下 nước Tề thời Chiến Quốc, vì thế có lẽ nó đại biểu cho cách nhìn của các Âm Dương gia đối với Phong Thiện.
              Người đầu tiên chân chính cử hành Phong Thiện là Tần Thuỷ Hoàng. Năm Thuỷ Hoàng thứ 3, tuần thú quận huyện đã cùng với các nho sĩ thảo luận điển lễ Phong Thiện. Các Bác sĩ nghị luận sôi nổi, nhưng không đưa ra trình từ lễ nghi cụ thể. Tần Thuỷ Hoàng bèn mượn dùng nghi điển tế Thượng Đế vốn có của nước Tần, trước tiên đến Thái sơn cử hành Phong lễ, sau đó đến Lương Phụ cử hành Thiện lễ. Đầu thời Hán, kinh tế sa sút, năm Hán Văn Đế thứ 13 (năm 167 trước công nguyên), tuy có thảo luận qua Phong Thiện, nhưng vì không có điều kiện kinh tế nên không làm. Thời Vũ Đế kinh tế phục hồi, vì thế sai Triệu Oản 赵绾, Vương Tang 王臧 “thảo tuần thú, Phong Thiện, cải đổi lịch, phục sắc”. Nhưng do Đậu Thái hậu cực lực phản đối nên thôi. Năm Nguyên Phong 元封 thứ 1 (năm 110 trước công nguyên), Vũ Đế mới cử hành Phong Thiện. Nhưng lần Phong Thiện đó, không những nghi thức cụ thể chủ yếu do phương sĩ đảm nhiệm, mà việc cử hành cũng thần bí, sử quan cũng không biết tường tận. Phong ở Thái sơn 泰山, Thiện ở Túc Nhiên sơn 肃然山 (đông bắc Thái sơn), đồng thời cải nguyên là Nguyên Phong 元封. Từ đó về sau, cứ cách 5 năm tổ chức một lần. Trước sau tổng cộng cử hành qua 5 lần. Năm Kiến Vũ 建武 thứ 30 thời Đông Hán (năm 54), đại thần Trương Thuần 张纯 tấu thỉnh Hán Quang Vũ Đế Phong Thiện, nhưng ông cho mình không có đức nên không đồng ý. Hai năm sau, ông tin sấm văn “Xích Lưu chi cửu, hội mệnh Đại Tông” 赤刘之九, 会命岱宗 (9 đời của triều Hán, thụ mệnh ở Đại Tông) (1), sai Lương Tùng 梁松 tìm chế điển Phong Thiện của 9 đời, sau đó đi tuần về phía đông, Phong ở Thái sơn, Thiện ở Lương Âm 梁阴, đồng thời cải nguyên là Trung Nguyên 中元 nguyên niên (năm 56).
              Sau này, trong lịch sử Trung Quốc, Đường Cao Tông, Tống Chân Tông có cử hành qua Phong Thiện.

    Chú của người dịch
    1- Xích Lưu 赤刘: thời cổ, các nhà sấm vĩ cho triều Hán là “dĩ hoả đức vi vương” 以火德为王”, hoả sắc đỏ, còn triều Hán họ Lưu , cho nên nhân đó dùng “Xích Lưu” để chỉ triều Hán.
              Đại tông 岱宗: từ tôn xưng Thái sơn. Thái sơn còn được gọi là Đại sơn 岱山, Đại nhạc 岱岳, Đông nhạc 东岳, đứng đầu danh sơn toàn quốc, được xưng tụng là “thiên hạ đệ nhất sơn” 天下第一山.
              “Thái” có nghĩa là cực lớn, là thông  sướng, an ninh.
              “Tông” có nghĩa là trưởng, là đứng đầu
              Thái sơn là “ngũ nhạc chi trưởng”, cũng là “quần nhạc chi trưởng”. Ngũ nhạc gồm:
              Đông nhạc Thái sơn 东岳泰山
              Tây nhạc Hoá sơn 西岳华山
              Nam nhạc Hành sơn 南岳恒山
              Bắc nhạc Hằng sơn 北岳恒山
              Trung nhạc Tung sơn 中岳嵩山

                                                                     Huỳnh Chương Hưng
                                                                     Quy Nhơn 20/02/2017


    Chủ Nhật, 19 tháng 2, 2017

    TẦN THUỶ HOÀNG HUỶ HOẠI THÀNH QUÁCH

              Thời Chiến Quốc, chinh chiến liên miên, chiến tranh kiêm tính lục quốc ở Sơn Đông đã lãng phí thời gian lâu dài. Để ngăn mũi nhọn thiết kị của nước Tần, các nước lớn đều xây dựng thành trì dọc theo quan tái hi vọng kéo dài được hơi thở đã suy tàn. Lúc bấy giờ, nước Sở xây Phương thành; thậm chí các nước như Tề, Triệu, Yên cho xây trường thành ở trong lãnh thổ của mình. Biên giới phía tây nước Nguỵ tiếp giáp với nước Tần, như đang giáp địch, kinh sợ như ve sầu gặp lạnh, không chỉ vùng đất rộng lớn tiếp giáp với Tần, “phía nam từ huyện Trịnh của Hoa Châu 华州, tây bắc qua sông Vị , bờ đông sông Tân Lạc 滨洛, hướng bắc có Thượng Quận 上郡, Lộc Châu 漉州” đều xây trường thành để phòng bị cường Tần, những ải trọng yếu nội địa cũng xây dựng thành trì. Lấy đại đô nước Nguỵ là Đại Lương 大梁 mà nói, tường thành chắc chắn, giọt nước cũng không rò rỉ, thậm chí quân Tần cho dẫn nước sông chảy vào làm ngập thành trì, cũng phải mất 3 tháng mới công phá được Đại Lương. Các nước chư hầu còn đắp đê ở những con sông vùng ven, thay đổi bố cục tự nhiên của dòng chảy, tạo thành thuỷ hoạn không hợp lí.
              Sau khi thống nhất cả nước, để tiêu diệt mối hoạ tiềm ẩn mà cựu quý tộc 6 nước dựa vào đê sông thành quách phản Tần, Tần Thuỷ Hoàng hạ lệnh “phá huỷ thành quách, khơi thông đê phòng, dẹp bỏ hiểm trở”. Cách làm này không chỉ quét sạch cơ sở quân sự của thế lực phong kiến cát cứ, mà còn lợi cho các vùng giao thông qua lại cùng sự giao lưu kinh tế văn hoá, thúc đẩy sự phát triển sự nghiệp thuỷ lợi và sản xuất nông nghiệp.
              Triều Tần áp dụng những cách nói trên thu được hiệu quả nhất định, nhưng thế lực phản Tần của 6 nước về cơ bản vẫn chưa bị tiêu diệt hết, khi triều Tần động loạn, quần hùng nổi lên như ong, thậm chí có người giương ngọn cờ phục quốc để lung lạc mọi người, như chú cháu Hạng Lương 项梁 khi khởi binh phản Tần đã giương ngọn cờ Sở Hoài vương. Những nhân tố tiêu trừ cát cứ phong kiến, hoàn toàn không phải chỉ trong một thời gian ngắn có thể làm được.

                                                               Huỳnh Chương Hưng
                                                              Quy Nhơn 19/02/2017

    Nguyên tác Trung văn
    HUỶ HOẠI THÀNH QUÁCH
    毁坏城郭
    Trong quyển
    THỐNG NHẤT VƯƠNG TRIỀU ĐÍCH ĐẢN SINH – TẦN
    统一王朝的诞生 -
    Chủ biên: “Đồ thuyết Trung Quốc lịch sử”
    Trường Xuân - Cát Lâm xuất bản tập đoàn hữu hạn trách nhiệm công ti, 2006

    Dịch thuật: Tần Thuỷ Hoàng huỷ hoại thành quách

    Đăng lúc  17:45  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    TẦN THUỶ HOÀNG HUỶ HOẠI THÀNH QUÁCH

              Thời Chiến Quốc, chinh chiến liên miên, chiến tranh kiêm tính lục quốc ở Sơn Đông đã lãng phí thời gian lâu dài. Để ngăn mũi nhọn thiết kị của nước Tần, các nước lớn đều xây dựng thành trì dọc theo quan tái hi vọng kéo dài được hơi thở đã suy tàn. Lúc bấy giờ, nước Sở xây Phương thành; thậm chí các nước như Tề, Triệu, Yên cho xây trường thành ở trong lãnh thổ của mình. Biên giới phía tây nước Nguỵ tiếp giáp với nước Tần, như đang giáp địch, kinh sợ như ve sầu gặp lạnh, không chỉ vùng đất rộng lớn tiếp giáp với Tần, “phía nam từ huyện Trịnh của Hoa Châu 华州, tây bắc qua sông Vị , bờ đông sông Tân Lạc 滨洛, hướng bắc có Thượng Quận 上郡, Lộc Châu 漉州” đều xây trường thành để phòng bị cường Tần, những ải trọng yếu nội địa cũng xây dựng thành trì. Lấy đại đô nước Nguỵ là Đại Lương 大梁 mà nói, tường thành chắc chắn, giọt nước cũng không rò rỉ, thậm chí quân Tần cho dẫn nước sông chảy vào làm ngập thành trì, cũng phải mất 3 tháng mới công phá được Đại Lương. Các nước chư hầu còn đắp đê ở những con sông vùng ven, thay đổi bố cục tự nhiên của dòng chảy, tạo thành thuỷ hoạn không hợp lí.
              Sau khi thống nhất cả nước, để tiêu diệt mối hoạ tiềm ẩn mà cựu quý tộc 6 nước dựa vào đê sông thành quách phản Tần, Tần Thuỷ Hoàng hạ lệnh “phá huỷ thành quách, khơi thông đê phòng, dẹp bỏ hiểm trở”. Cách làm này không chỉ quét sạch cơ sở quân sự của thế lực phong kiến cát cứ, mà còn lợi cho các vùng giao thông qua lại cùng sự giao lưu kinh tế văn hoá, thúc đẩy sự phát triển sự nghiệp thuỷ lợi và sản xuất nông nghiệp.
              Triều Tần áp dụng những cách nói trên thu được hiệu quả nhất định, nhưng thế lực phản Tần của 6 nước về cơ bản vẫn chưa bị tiêu diệt hết, khi triều Tần động loạn, quần hùng nổi lên như ong, thậm chí có người giương ngọn cờ phục quốc để lung lạc mọi người, như chú cháu Hạng Lương 项梁 khi khởi binh phản Tần đã giương ngọn cờ Sở Hoài vương. Những nhân tố tiêu trừ cát cứ phong kiến, hoàn toàn không phải chỉ trong một thời gian ngắn có thể làm được.

                                                               Huỳnh Chương Hưng
                                                              Quy Nhơn 19/02/2017

    Nguyên tác Trung văn
    HUỶ HOẠI THÀNH QUÁCH
    毁坏城郭
    Trong quyển
    THỐNG NHẤT VƯƠNG TRIỀU ĐÍCH ĐẢN SINH – TẦN
    统一王朝的诞生 -
    Chủ biên: “Đồ thuyết Trung Quốc lịch sử”
    Trường Xuân - Cát Lâm xuất bản tập đoàn hữu hạn trách nhiệm công ti, 2006

    Thứ Bảy, 18 tháng 2, 2017


    名利不可贪, 学业在德行
        名利之不宜得者竟得之, 福终为祸; 困穷之最难耐者能耐之, 若定回甘. 生资之高在忠信, 非关机巧; 学业之美在德行, 不仅文章.
                                                                              (围炉夜话)

    DANH LỢI BẤT KHẢ THAM, HỌC NGHIỆP TẠI ĐỨC HẠNH
              Danh lợi chi bất nghi đắc cánh đắc chi, phúc chung vi hoạ; khốn cùng chi tối nan nại giả năng nại chi, nhược định hồi cam. Sinh tư chi cao tại trung tín, phi quan cơ xảo; học nghiệp chi mĩ tại đức hạnh, bất cận văn chương.
                                                                                   (Vi Lô Dạ Thoại)

    DANH LỢI KHÔNG THỂ THAM,
    HỌC NGHIỆP Ở CHỖ ĐỨC HẠNH
              Có được danh lợi mà vốn không đáng có, ban đầu là phúc nhưng cuối cùng trở thành hoạ; ở vào cảnh khốn cùng khó chịu đựng nhất mà có thể chịu đựng được, cuối cùng sung sướng tất sẽ trở về. Tư chất cao thấp của con người ở chỗ có lòng trung tín hay không, không phải ở chỗ khéo dùng cơ xảo; người có học vấn tốt là ở đức hạnh cao thấp, không phải chỉ ở văn chương.

    Phân tích và thưởng thức
              Một người có thể thành danh, nhất định phải có chỗ hơn người, nếu không thì cũng có sở trường nhân đó mà được danh. Một người có thể có được lợi, tất nhiên đã từng nỗ lực, đổ mồ hôi và công sức, nếu không thì dựa vào đâu mà có được lợi? Điều mà gọi là “danh chi bất nghi đắc” 名之不宜得, chính là bản thân mình không có sở trường và ưu điểm tương đương, không đủ để mà có được danh ấy; còn “lợi chi bất nghi đắc giả” 利之不宜得者,  tức bản thân mình không hề bỏ ra một chút công sức nào, không đủ để có được cái lợi ấy. Nhưng, cứ an nhiên hưởng thụ, hoặc dùng những thủ đoạn không chính đáng để có được, thế thì, danh và lợi ấy, nhìn từ bề ngoài như là phúc, nhưng cuối cùng sẽ thành hoạ. Vì sao vậy? bởi cổ nhân có nói danh và thực không phù hợp nhau, bản thân sẽ thành hoạ. Vì sao vậy? bởi cổ nhân có nói danh và thực phải phù hợp nhau, bản thân không có ưu điểm tương đương với danh đó, lâu ngày bị người khác thấy được. Nguyên cho là thiên tài, cuối cùng là cái bọc mủ; nguyên cho là kẻ sĩ tài giỏi, cuối cùng chỉ là kẻ lừa gạt. Đến lúc đó, mĩ danh biến thành xú danh, há chẳng phải là “phúc chung vi hoạ” sao? Lợi ích không đáng có mà lại đi tranh đoạt, bỏ ra nhiều tâm huyết tất nhiên không dễ dàng, hoặc giả báo thù riêng, hoặc giả công khai tố tụng. Cho dù không như thế, thì “lấy một phân, cũng trả một lượng”. Quan hệ nhân quả không phải là không có đạo lí.
              Người ở vào cảnh khốn cùng, cố nhiên là khó chịu đựng được, nhưng nguyên nhân các vĩ nhân xưa nay lúc ban đầu ở vào cảnh khốn cùng cuối cùng có thể phát đạt, đa phần vì có thể nhẫn nại vượt qua những tháng ngày khó  khăn đó. Nhân vì lúc khốn cùng, chí tiết của con người là có thể mài giũa nhất. Điều mà gọi là:
              Lao kì cân cốt, ngạ kì thể phu, không phạp kì thân,  hành phất loạn kì sở vi, sở dĩ động tâm nhẫn tính, tăng ích kì sở bất năng.
              劳其筋骨, 饿其体肤, 空乏其身, 行拂乱其所为, 所以动心忍性, 增益其所不能.
              (Làm cho gân cốt mệt mỏi, cơ thể đói khát, thân thể tiều tuỵ, hành vi rối loạn, luôn không được như ý; thông qua những điều đó để cảnh tỉnh trong lòng, rèn tính nhẫn nại, tăng thêm tài năng mà chưa có đủ)
              Người mà có thể chịu đựng được khốn khổ, đủ thấy tâm chí kiên cường. Trong Dịch kinh 易经 có nói “bĩ cực thái lai” 否极泰来, cũng chính là “khổ tận cam lai” 苦尽甘来.
              Tư chất thiên tính của con người khác nhau, người cơ trí xảo diệu không nhất thiết thiên tư cao. Bởi người cơ trí xảo diệu nếu như tâm không tốt, sẽ trở thành hoạ hại của xã hội, như thế thì có ích gì? Chẳng bằng người tuy có ngu một chút nhưng trung hậu thực thà, những người đó nhiều ít cũng có lợi cho xã hội. Nhìn từ điểm này, tư chất của những người đó tương đối cao hơn hạng người trước. Cũng như vậy, người có học vấn tốt, chưa hẳn là người viết văn chương hay, bởi vì đọc sách là đạo lí học làm người, có người văn chương tuy hay nhưng phẩm đức rất kém, làm sao có thể cho là người có học vấn? chẳng bằng những sách đó tuy đọc không nhiều, nhưng thông hiểu nhân tình sự lí. Đương nhiên, nếu cả hai có đủ, thì đó là điều tốt nhất.

                                                                         Huỳnh Chương Hưng
                                                                        Quy Nhơn 18/02/2017

    Nguồn
    VI LÔ DẠ THOẠI
    围炉夜话
    Tác giả: Vương Vĩnh Bân 王永彬
    Thiểm Tây lữ du xuất bản xã, 2002. 

    Dịch thuật: Danh lợi bất khả tham, học nghiệp tại đức hạnh

    Đăng lúc  20:34  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »


    名利不可贪, 学业在德行
        名利之不宜得者竟得之, 福终为祸; 困穷之最难耐者能耐之, 若定回甘. 生资之高在忠信, 非关机巧; 学业之美在德行, 不仅文章.
                                                                              (围炉夜话)

    DANH LỢI BẤT KHẢ THAM, HỌC NGHIỆP TẠI ĐỨC HẠNH
              Danh lợi chi bất nghi đắc cánh đắc chi, phúc chung vi hoạ; khốn cùng chi tối nan nại giả năng nại chi, nhược định hồi cam. Sinh tư chi cao tại trung tín, phi quan cơ xảo; học nghiệp chi mĩ tại đức hạnh, bất cận văn chương.
                                                                                   (Vi Lô Dạ Thoại)

    DANH LỢI KHÔNG THỂ THAM,
    HỌC NGHIỆP Ở CHỖ ĐỨC HẠNH
              Có được danh lợi mà vốn không đáng có, ban đầu là phúc nhưng cuối cùng trở thành hoạ; ở vào cảnh khốn cùng khó chịu đựng nhất mà có thể chịu đựng được, cuối cùng sung sướng tất sẽ trở về. Tư chất cao thấp của con người ở chỗ có lòng trung tín hay không, không phải ở chỗ khéo dùng cơ xảo; người có học vấn tốt là ở đức hạnh cao thấp, không phải chỉ ở văn chương.

    Phân tích và thưởng thức
              Một người có thể thành danh, nhất định phải có chỗ hơn người, nếu không thì cũng có sở trường nhân đó mà được danh. Một người có thể có được lợi, tất nhiên đã từng nỗ lực, đổ mồ hôi và công sức, nếu không thì dựa vào đâu mà có được lợi? Điều mà gọi là “danh chi bất nghi đắc” 名之不宜得, chính là bản thân mình không có sở trường và ưu điểm tương đương, không đủ để mà có được danh ấy; còn “lợi chi bất nghi đắc giả” 利之不宜得者,  tức bản thân mình không hề bỏ ra một chút công sức nào, không đủ để có được cái lợi ấy. Nhưng, cứ an nhiên hưởng thụ, hoặc dùng những thủ đoạn không chính đáng để có được, thế thì, danh và lợi ấy, nhìn từ bề ngoài như là phúc, nhưng cuối cùng sẽ thành hoạ. Vì sao vậy? bởi cổ nhân có nói danh và thực không phù hợp nhau, bản thân sẽ thành hoạ. Vì sao vậy? bởi cổ nhân có nói danh và thực phải phù hợp nhau, bản thân không có ưu điểm tương đương với danh đó, lâu ngày bị người khác thấy được. Nguyên cho là thiên tài, cuối cùng là cái bọc mủ; nguyên cho là kẻ sĩ tài giỏi, cuối cùng chỉ là kẻ lừa gạt. Đến lúc đó, mĩ danh biến thành xú danh, há chẳng phải là “phúc chung vi hoạ” sao? Lợi ích không đáng có mà lại đi tranh đoạt, bỏ ra nhiều tâm huyết tất nhiên không dễ dàng, hoặc giả báo thù riêng, hoặc giả công khai tố tụng. Cho dù không như thế, thì “lấy một phân, cũng trả một lượng”. Quan hệ nhân quả không phải là không có đạo lí.
              Người ở vào cảnh khốn cùng, cố nhiên là khó chịu đựng được, nhưng nguyên nhân các vĩ nhân xưa nay lúc ban đầu ở vào cảnh khốn cùng cuối cùng có thể phát đạt, đa phần vì có thể nhẫn nại vượt qua những tháng ngày khó  khăn đó. Nhân vì lúc khốn cùng, chí tiết của con người là có thể mài giũa nhất. Điều mà gọi là:
              Lao kì cân cốt, ngạ kì thể phu, không phạp kì thân,  hành phất loạn kì sở vi, sở dĩ động tâm nhẫn tính, tăng ích kì sở bất năng.
              劳其筋骨, 饿其体肤, 空乏其身, 行拂乱其所为, 所以动心忍性, 增益其所不能.
              (Làm cho gân cốt mệt mỏi, cơ thể đói khát, thân thể tiều tuỵ, hành vi rối loạn, luôn không được như ý; thông qua những điều đó để cảnh tỉnh trong lòng, rèn tính nhẫn nại, tăng thêm tài năng mà chưa có đủ)
              Người mà có thể chịu đựng được khốn khổ, đủ thấy tâm chí kiên cường. Trong Dịch kinh 易经 có nói “bĩ cực thái lai” 否极泰来, cũng chính là “khổ tận cam lai” 苦尽甘来.
              Tư chất thiên tính của con người khác nhau, người cơ trí xảo diệu không nhất thiết thiên tư cao. Bởi người cơ trí xảo diệu nếu như tâm không tốt, sẽ trở thành hoạ hại của xã hội, như thế thì có ích gì? Chẳng bằng người tuy có ngu một chút nhưng trung hậu thực thà, những người đó nhiều ít cũng có lợi cho xã hội. Nhìn từ điểm này, tư chất của những người đó tương đối cao hơn hạng người trước. Cũng như vậy, người có học vấn tốt, chưa hẳn là người viết văn chương hay, bởi vì đọc sách là đạo lí học làm người, có người văn chương tuy hay nhưng phẩm đức rất kém, làm sao có thể cho là người có học vấn? chẳng bằng những sách đó tuy đọc không nhiều, nhưng thông hiểu nhân tình sự lí. Đương nhiên, nếu cả hai có đủ, thì đó là điều tốt nhất.

                                                                         Huỳnh Chương Hưng
                                                                        Quy Nhơn 18/02/2017

    Nguồn
    VI LÔ DẠ THOẠI
    围炉夜话
    Tác giả: Vương Vĩnh Bân 王永彬
    Thiểm Tây lữ du xuất bản xã, 2002. 

    Thứ Sáu, 17 tháng 2, 2017

    LAI LỊCH DANH XƯNG CÁC TRIỀU ĐẠI TRUNG QUỐC
    (tiếp theo)

    10- Đường : tổ phụ của Đường Cao Tổ Lí Uyên 李渊 là Lí Hổ 李虎 giúp triều Chu có công, được phong là “Đường Quốc Công” 唐国公, tước vị truyền đến Lí Uyên. Sau khi khởi binh ở Thái Nguyên 太原, Lí Uyên xưng là “Đường Vương” 唐王, sau phế Dương Hựu 杨侑, kiến lập triều Đường.
    11- Liêu : Liêu vốn xưng là “Khất Đan”契丹, sau đổi là “Liêu” nhân vì sinh sống ở thượng du sông Liêu.
    12- Tống : sau khi Cung Đế 恭帝 nhà Hậu Chu kế vị, cho Triệu Khuông Dận 赵匡胤 làm Tiết độ sứ Quy Đức 归德, quân Quy Đức đóng tại Tống Châu 宋州
    (nay là Thương Khâu 商丘Nam 河南), Triệu Khuông Dẫn làm Tiết độ sứ Tống Châu. Cho nên sau vụ binh biến ở Trần Kiều 陈桥, nhân vì phát tích tại Tống Châu nên đặt quốc hiệu là “Tống”.
    13- Tây Hạ 西夏: Thác Bạt Tư Cung 拓拔思恭 chiếm cứ Hạ Châu 夏州 (nay là huyện Hoành Sơn 横山 Sơn Tây 山西), khi lập quốc lấy Hạ Châu đặt tên, xưng là “Đại Hạ”. Nhân vì ở phía tây, người Tống gọi là “Tây Hạ”.
    14- Kim : đô thành thượng kinh của Kim là Hội Ninh 会宁 (nay là phía nam A Thành 阿城 Hắc Long Giang 黑龙江), tại sông Án Xuất Hổ 按出虎 (nay là sông A Thập 阿什), tương truyền ở sông này sản xuất ra vàng, tiếng Nữ Chân 女真 gọi “kim” là “Án Xuất Hổ”.
    15- Nguyên : theo Nguyên sử 元史, mệnh danh “Nguyên” là do Thế Tổ Hốt Tất Liệt 忽必烈 định ra, lấy từ chữ “nguyên” ở câu “đại tai càn nguyên” 大哉乾元 trong Kinh Dịch, mang ý nghĩa là lớn, là đầu. Nhưng cũng có người cho rằng có liên quan đến phong tục và totem của người Mông Cổ. Cũng có người cho là liên quan đến Phật giáo.
    16- Minh : Chu Nguyên Chương 朱元璋 là một trong đội quân khởi nghĩa cuối đời Nguyên, kế thừa Quách Tử Hưng 郭子兴 mà phát triển lên, Quách Tử Hưng thuộc tổ chức Bạch Liên giáo 白莲教. Bạch Liên giáo tuyên xưng là:
    Hắc ám tức tương quá khứ
    Quang minh tương yếu đáo lai
    黑暗即将过去
    光明将要到来
    (Tối tăm sắp qua
    Sáng tươi gần đến)
    Mượn đó để cổ vũ nhân dân phản đối sự thống trị của triều Nguyên hắc ám. Cho nên xưng là “Quang Minh giáo” 光明教. Thủ lĩnh Bạch Liên giáo Hàn Sơn Đồng 韩山童 xưng là “Minh Vương” 明王 (con ông ấy là Hàn Lâm Nhi 韩林儿 xưng là “Tiểu Minh Vương”), đều thể hiện tôn chỉ giáo nghĩa. Chu Nguyên Chương không chỉ từng tin theo Bạch Liên giáo, mà còn thừa nhận mình là một nhánh quân khởi nghĩa của Bạch Liên giáo (ông từng là Tá phó nguyên soái của Tiểu Minh Vương). Sau khi Chu Nguyên Chương lấy được chính quyền, đặt quốc hiệu là “Minh”.
    17- Thanh : tộc Mãn là một chi của tộc Nữ Chân 女真. Thời Bắc Tống, tộc Nữ Chân kiến lập nước,rồi suy yếu. Cuối đời Minh, thế lực Nữ Chân mạnh trở lại, kiến lập lại nước Kim (Hậu Kim). Về sau nước Kim khuếch triển ra bên ngoài, cắt đứt quan hệ thần thuộc với triều Minh, Thanh Thái Tổ Hoàng Thái Cực 皇太极, đổi “Nữ Chân” 女真thành “Mãn Châu” 满州, đổi “Kim” thành “Thanh” . Thời Tống, người Nữ Chân bị người Khất Đan khống chế, chữ “Liêu” trong tiếng Khất Đan có nghĩa là “thiết” , nhân đó họ mệnh danh là “Kim” , biểu thị “kim” so với “thiết” kiên cường hơn, có thể áp đảo được “Liêu”. Nguyên nhân “Kim” đổi thành “Thanh”, các nhà sử học vẫn chưa thống nhất ý kiến, có người cho là Hoàng Thái Cực muốn tránh gây ra mâu thuẫn.

                                                                              Huỳnh Chương Hưng
                                                                             Quy Nhơn 17/02/2017

    Dịch thuật: Lai lịch danh xưng các triều đại Trung Quốc (tiếp theo)

    Đăng lúc  19:15  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    LAI LỊCH DANH XƯNG CÁC TRIỀU ĐẠI TRUNG QUỐC
    (tiếp theo)

    10- Đường : tổ phụ của Đường Cao Tổ Lí Uyên 李渊 là Lí Hổ 李虎 giúp triều Chu có công, được phong là “Đường Quốc Công” 唐国公, tước vị truyền đến Lí Uyên. Sau khi khởi binh ở Thái Nguyên 太原, Lí Uyên xưng là “Đường Vương” 唐王, sau phế Dương Hựu 杨侑, kiến lập triều Đường.
    11- Liêu : Liêu vốn xưng là “Khất Đan”契丹, sau đổi là “Liêu” nhân vì sinh sống ở thượng du sông Liêu.
    12- Tống : sau khi Cung Đế 恭帝 nhà Hậu Chu kế vị, cho Triệu Khuông Dận 赵匡胤 làm Tiết độ sứ Quy Đức 归德, quân Quy Đức đóng tại Tống Châu 宋州
    (nay là Thương Khâu 商丘Nam 河南), Triệu Khuông Dẫn làm Tiết độ sứ Tống Châu. Cho nên sau vụ binh biến ở Trần Kiều 陈桥, nhân vì phát tích tại Tống Châu nên đặt quốc hiệu là “Tống”.
    13- Tây Hạ 西夏: Thác Bạt Tư Cung 拓拔思恭 chiếm cứ Hạ Châu 夏州 (nay là huyện Hoành Sơn 横山 Sơn Tây 山西), khi lập quốc lấy Hạ Châu đặt tên, xưng là “Đại Hạ”. Nhân vì ở phía tây, người Tống gọi là “Tây Hạ”.
    14- Kim : đô thành thượng kinh của Kim là Hội Ninh 会宁 (nay là phía nam A Thành 阿城 Hắc Long Giang 黑龙江), tại sông Án Xuất Hổ 按出虎 (nay là sông A Thập 阿什), tương truyền ở sông này sản xuất ra vàng, tiếng Nữ Chân 女真 gọi “kim” là “Án Xuất Hổ”.
    15- Nguyên : theo Nguyên sử 元史, mệnh danh “Nguyên” là do Thế Tổ Hốt Tất Liệt 忽必烈 định ra, lấy từ chữ “nguyên” ở câu “đại tai càn nguyên” 大哉乾元 trong Kinh Dịch, mang ý nghĩa là lớn, là đầu. Nhưng cũng có người cho rằng có liên quan đến phong tục và totem của người Mông Cổ. Cũng có người cho là liên quan đến Phật giáo.
    16- Minh : Chu Nguyên Chương 朱元璋 là một trong đội quân khởi nghĩa cuối đời Nguyên, kế thừa Quách Tử Hưng 郭子兴 mà phát triển lên, Quách Tử Hưng thuộc tổ chức Bạch Liên giáo 白莲教. Bạch Liên giáo tuyên xưng là:
    Hắc ám tức tương quá khứ
    Quang minh tương yếu đáo lai
    黑暗即将过去
    光明将要到来
    (Tối tăm sắp qua
    Sáng tươi gần đến)
    Mượn đó để cổ vũ nhân dân phản đối sự thống trị của triều Nguyên hắc ám. Cho nên xưng là “Quang Minh giáo” 光明教. Thủ lĩnh Bạch Liên giáo Hàn Sơn Đồng 韩山童 xưng là “Minh Vương” 明王 (con ông ấy là Hàn Lâm Nhi 韩林儿 xưng là “Tiểu Minh Vương”), đều thể hiện tôn chỉ giáo nghĩa. Chu Nguyên Chương không chỉ từng tin theo Bạch Liên giáo, mà còn thừa nhận mình là một nhánh quân khởi nghĩa của Bạch Liên giáo (ông từng là Tá phó nguyên soái của Tiểu Minh Vương). Sau khi Chu Nguyên Chương lấy được chính quyền, đặt quốc hiệu là “Minh”.
    17- Thanh : tộc Mãn là một chi của tộc Nữ Chân 女真. Thời Bắc Tống, tộc Nữ Chân kiến lập nước,rồi suy yếu. Cuối đời Minh, thế lực Nữ Chân mạnh trở lại, kiến lập lại nước Kim (Hậu Kim). Về sau nước Kim khuếch triển ra bên ngoài, cắt đứt quan hệ thần thuộc với triều Minh, Thanh Thái Tổ Hoàng Thái Cực 皇太极, đổi “Nữ Chân” 女真thành “Mãn Châu” 满州, đổi “Kim” thành “Thanh” . Thời Tống, người Nữ Chân bị người Khất Đan khống chế, chữ “Liêu” trong tiếng Khất Đan có nghĩa là “thiết” , nhân đó họ mệnh danh là “Kim” , biểu thị “kim” so với “thiết” kiên cường hơn, có thể áp đảo được “Liêu”. Nguyên nhân “Kim” đổi thành “Thanh”, các nhà sử học vẫn chưa thống nhất ý kiến, có người cho là Hoàng Thái Cực muốn tránh gây ra mâu thuẫn.

                                                                              Huỳnh Chương Hưng
                                                                             Quy Nhơn 17/02/2017

    Thứ Năm, 16 tháng 2, 2017

    LAI LỊCH DANH XƯNG CÁC TRIỀU ĐẠI TRUNG QUỐC

              Trung Quốc có lịch sử lâu đời, các triều đại cũng nhiều. Việc đầu tiên mà những người sáng lập triều đại bắt tay làm chính là xác lập quốc hiệu (danh xưng triều đại). Quốc hiệu là xưng hiệu của một đất nước. Trong Sử kí – Ngũ Đế bản kỉ 史记 - 五帝本纪 có ghi:
    Tự Hoàng Đế chí Thuấn Vũ, giai đồng tính nhi dị kì quốc hiệu, dĩ chương minh đức.
    自黄帝至舜禹, 皆同姓而异其国号, 以章明德.
    (Từ Hoàng Đế đến ông Thuấn ông Vũ, đều là cùng họ nhưng khác quốc hiệu, để làm sáng cái đức sáng)
    Danh xưng triều do đâu mà quyết định? Đại để có 5 cách:
              - Từ danh xưng của liên minh bộ tộc, bộ lạc mà ra.
              - Từ phong hiệu, tước vị vốn có của người sáng lập.
              - Bắt nguồn từ khu vực nguyên thuỷ của người sáng lập, hoặc khu vực thống trị của chính quyền
              - Bắt nguồn từ quan hệ tông tộc.
              - Ngụ ý cát tường.
              Cụ thể như sau:
    1 - Hạ : theo truyền thuyết, ông Vũ từng được phong ở Hạ Bá 夏伯, nhân đó xưng chính quyền của mình là “Hạ”. Ngoài ra theo thuyết của Sử học gia Phạm Văn Lan 范文澜, sau khi con của ông Vũ là Khải dời đến Đại Hạ 大夏 ở phía tây (vùng sông Phần sông Quái phía nam Sơn Tây), mới xưng là “Hạ”
    2- Thương : tương truyền thuỷ tổ của triều Thương (đất Thương nay thuộc phía nam Thương Khâu 商丘Nam 河南) là ông Khế từng giúp ông Vũ có công được thụ phong ở Thương, sau đó lấy “Thương” để gọi bộ lạc (hoặc bộ tộc) của mình. Sau khi ông Thang diệt nhà Hạ, lấy “Thương” làm quốc danh. Sau Bàn Canh 盘庚 dời đến đất Ân (nay là phía tây bắc An Dương 安阳Nam 河南), xưng “Ân” hoặc gọi chung “Ân Thương”.
    3- Chu : bộ lạc Chu đến đời Cổ Công Đản Phủ 古公亶父 dời đến Chu Nguyên 周原 (nay là Kì Sơn 岐山 Thiểm Tây 陕西). Sau khi Vũ Vương 武王 diệt nhà Ân, lấy “Chu” làm tên triều đại. Thời kì đầu nhà Chu kiến đô tại Hạo (nay là phía tây nam Tây An 西南 Thiểm Tây 陕西), sau Bình Vương 平王 dời về Lạc Ấp 洛邑 ở phía đông (nay là Lạc Dương 洛阳Nam 河南), nhân vì ở phía đông của Hạo, nên có xưng hiệu là “Tây Chu” và “Đông Chu”.
    4- Tần : theo Sử kí 史记, Tần vốn là một bộ lạc cổ, thủ lĩnh Phi Tử 非子 có thành tích với Chu Hiếu Vương 周孝王, được Chu Hiếu Vương ban cho tính “Doanh” , đồng thời tặng cho một khoảnh đất nhỏ (nay là huyện Thiên Thuỷ 天水 Cam Túc 甘肃, một thuyết khác là Cốc Danh 谷名 Lũng Tây 陇西). Về sau ông Tương lại có công cứu Chu được phong làm chư hầu. Sau khi Tần Thuỷ Hoàng 秦始皇 thống nhất 6 nước, kiến lập nên nước Tần.
    4- Hán : Hạng Vũ 项羽 phong Lưu Bang 刘邦 là “Hán Vương”, sau Lưu Bang đánh bại Hạng Vũ, thống nhất Trung Quốc, quốc hiệu xưng là “Hán”. Triều Hán tiền kì kiến đô tại Trường An 长安, sau kiến đô tại Lạc Dương 洛阳, cho nên từ đô thành, có sự phân biệt “Tây Hán” và “Đông Hán”, từ thời gian có “Tiền Hán” và “Hậu Hán”.
    5- Nguỵ : Hán Hiến Đế 汉献帝 từng phong Tào Tháo 曹操 tước vị là “Nguỵ Công”, “Nguỵ Vương”. Sau khi Tào Phi 曹丕 thay thế nhà Hán bèn xưng “Nguỵ”. Vì hoàng thất tính Tào nên trong lịch sử xưng là “Tào Nguỵ”.
    6- Thục : Lưu Bị lấy Tứ Xuyên 四川 làm địa bàn hoạt động, chính quyền xưng là “Thục”, trong lịch sử xưng là “Thục Hán”. Hán ở đây là chỉ sự kế tục Đông Hán.
    7- Ngô : Tôn Quyền 孙权 hoạt động vùng hạ du Trường Giang, từng kiến lập nước Ngô. Tào Nguỵ từng phong Tôn Quyền là “Ngô Vương”, cho nên sử xưng là “Tôn Ngô”; vì khu vực tại phía Đông, nên cũng xưng là “Đông Ngô”.
    8- Tấn : Tư Mã Chiêu 司马昭 bức Nguỵ Đế phong mình là “Tấn Công”, sau khi diệt nhà Thục, tấn phong là “Tấn Vương”. Về sau con của ông ta là Tư Mã Viêm 司马炎 kế thừa thừa tước vị, ép Nguỵ đế thoái vị, tự lập làm hoàng đế, đặt quốc hiệu là “Tấn”
    9- Tuỳ : cha của Tuỳ Văn Đế 隋文帝 Dương Kiên 杨坚 là Dương Trung 杨忠 từng được triều Bắc Chu phong là “Tuỳ Quốc Công” 随国公. Sau Tuỳ Văn Đế tập dụng tước phong đó, xưng là “Tuỳ triều” 随朝. Ông cho rằng chữ (tuỳ)  có nghĩa là chạy, e là bất tường nên đổi sang chữ (tuỳ). (còn tiếp)

                                                                              Huỳnh Chương Hưng
                                                                             Quy Nhơn 16/02/2017

    Dịch thuật: Lai lịch danh xưng các triều đại Trung Quốc

    Đăng lúc  20:21  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    LAI LỊCH DANH XƯNG CÁC TRIỀU ĐẠI TRUNG QUỐC

              Trung Quốc có lịch sử lâu đời, các triều đại cũng nhiều. Việc đầu tiên mà những người sáng lập triều đại bắt tay làm chính là xác lập quốc hiệu (danh xưng triều đại). Quốc hiệu là xưng hiệu của một đất nước. Trong Sử kí – Ngũ Đế bản kỉ 史记 - 五帝本纪 có ghi:
    Tự Hoàng Đế chí Thuấn Vũ, giai đồng tính nhi dị kì quốc hiệu, dĩ chương minh đức.
    自黄帝至舜禹, 皆同姓而异其国号, 以章明德.
    (Từ Hoàng Đế đến ông Thuấn ông Vũ, đều là cùng họ nhưng khác quốc hiệu, để làm sáng cái đức sáng)
    Danh xưng triều do đâu mà quyết định? Đại để có 5 cách:
              - Từ danh xưng của liên minh bộ tộc, bộ lạc mà ra.
              - Từ phong hiệu, tước vị vốn có của người sáng lập.
              - Bắt nguồn từ khu vực nguyên thuỷ của người sáng lập, hoặc khu vực thống trị của chính quyền
              - Bắt nguồn từ quan hệ tông tộc.
              - Ngụ ý cát tường.
              Cụ thể như sau:
    1 - Hạ : theo truyền thuyết, ông Vũ từng được phong ở Hạ Bá 夏伯, nhân đó xưng chính quyền của mình là “Hạ”. Ngoài ra theo thuyết của Sử học gia Phạm Văn Lan 范文澜, sau khi con của ông Vũ là Khải dời đến Đại Hạ 大夏 ở phía tây (vùng sông Phần sông Quái phía nam Sơn Tây), mới xưng là “Hạ”
    2- Thương : tương truyền thuỷ tổ của triều Thương (đất Thương nay thuộc phía nam Thương Khâu 商丘Nam 河南) là ông Khế từng giúp ông Vũ có công được thụ phong ở Thương, sau đó lấy “Thương” để gọi bộ lạc (hoặc bộ tộc) của mình. Sau khi ông Thang diệt nhà Hạ, lấy “Thương” làm quốc danh. Sau Bàn Canh 盘庚 dời đến đất Ân (nay là phía tây bắc An Dương 安阳Nam 河南), xưng “Ân” hoặc gọi chung “Ân Thương”.
    3- Chu : bộ lạc Chu đến đời Cổ Công Đản Phủ 古公亶父 dời đến Chu Nguyên 周原 (nay là Kì Sơn 岐山 Thiểm Tây 陕西). Sau khi Vũ Vương 武王 diệt nhà Ân, lấy “Chu” làm tên triều đại. Thời kì đầu nhà Chu kiến đô tại Hạo (nay là phía tây nam Tây An 西南 Thiểm Tây 陕西), sau Bình Vương 平王 dời về Lạc Ấp 洛邑 ở phía đông (nay là Lạc Dương 洛阳Nam 河南), nhân vì ở phía đông của Hạo, nên có xưng hiệu là “Tây Chu” và “Đông Chu”.
    4- Tần : theo Sử kí 史记, Tần vốn là một bộ lạc cổ, thủ lĩnh Phi Tử 非子 có thành tích với Chu Hiếu Vương 周孝王, được Chu Hiếu Vương ban cho tính “Doanh” , đồng thời tặng cho một khoảnh đất nhỏ (nay là huyện Thiên Thuỷ 天水 Cam Túc 甘肃, một thuyết khác là Cốc Danh 谷名 Lũng Tây 陇西). Về sau ông Tương lại có công cứu Chu được phong làm chư hầu. Sau khi Tần Thuỷ Hoàng 秦始皇 thống nhất 6 nước, kiến lập nên nước Tần.
    4- Hán : Hạng Vũ 项羽 phong Lưu Bang 刘邦 là “Hán Vương”, sau Lưu Bang đánh bại Hạng Vũ, thống nhất Trung Quốc, quốc hiệu xưng là “Hán”. Triều Hán tiền kì kiến đô tại Trường An 长安, sau kiến đô tại Lạc Dương 洛阳, cho nên từ đô thành, có sự phân biệt “Tây Hán” và “Đông Hán”, từ thời gian có “Tiền Hán” và “Hậu Hán”.
    5- Nguỵ : Hán Hiến Đế 汉献帝 từng phong Tào Tháo 曹操 tước vị là “Nguỵ Công”, “Nguỵ Vương”. Sau khi Tào Phi 曹丕 thay thế nhà Hán bèn xưng “Nguỵ”. Vì hoàng thất tính Tào nên trong lịch sử xưng là “Tào Nguỵ”.
    6- Thục : Lưu Bị lấy Tứ Xuyên 四川 làm địa bàn hoạt động, chính quyền xưng là “Thục”, trong lịch sử xưng là “Thục Hán”. Hán ở đây là chỉ sự kế tục Đông Hán.
    7- Ngô : Tôn Quyền 孙权 hoạt động vùng hạ du Trường Giang, từng kiến lập nước Ngô. Tào Nguỵ từng phong Tôn Quyền là “Ngô Vương”, cho nên sử xưng là “Tôn Ngô”; vì khu vực tại phía Đông, nên cũng xưng là “Đông Ngô”.
    8- Tấn : Tư Mã Chiêu 司马昭 bức Nguỵ Đế phong mình là “Tấn Công”, sau khi diệt nhà Thục, tấn phong là “Tấn Vương”. Về sau con của ông ta là Tư Mã Viêm 司马炎 kế thừa thừa tước vị, ép Nguỵ đế thoái vị, tự lập làm hoàng đế, đặt quốc hiệu là “Tấn”
    9- Tuỳ : cha của Tuỳ Văn Đế 隋文帝 Dương Kiên 杨坚 là Dương Trung 杨忠 từng được triều Bắc Chu phong là “Tuỳ Quốc Công” 随国公. Sau Tuỳ Văn Đế tập dụng tước phong đó, xưng là “Tuỳ triều” 随朝. Ông cho rằng chữ (tuỳ)  có nghĩa là chạy, e là bất tường nên đổi sang chữ (tuỳ). (còn tiếp)

                                                                              Huỳnh Chương Hưng
                                                                             Quy Nhơn 16/02/2017

    Thứ Tư, 15 tháng 2, 2017

    TÔN VŨ
    (tiếp theo kì 2)

              Một ngày nọ, Ngô Vương và Tôn Vũ nghị luận về nước Tấn. Ngô Vương hỏi:
              - Họ Phạm , họ Trung Hàng 中行, họ Trí , họ Hàn , họ Nguỵ , họ Triệu Quảng 赵广 là lục khanh nắm giữ đại quyền nước Tấn, mỗi người cai quản một khu vực, cùng tranh đoạt quyền lợi. Theo Tướng quân, trong lục khanh, ai là người sẽ bị diệt vong trước, ai sẽ mạnh lên?
              Tôn Vũ trầm tư một lúc rồi nói:
              - Theo thần thấy, trong lục khanh, họ Phạm và họ Trung Hàng sẽ bại vong trước.
              Ngô Vương hỏi:
              - Tướng quân dựa vào đâu mà phán đoán như thế?
              Tôn Vũ Đáp rằng:
              - Thần dựa vào chế độ mẫu đất lớn nhỏ của họ, tô thuế thu nhiều ít cùng binh sĩ nhiều ít, quan lại có thanh khiết hay không mà phán đoán. Họ Phạm, họ Trung Hàng lấy 160 bộ vuông làm một mẫu. Chế độ mẫu đất nhỏ nhất, nhưng tô  thuế thu lại nặng nhất. Tô thuế quá nặng, quan lại kiêu xa, thêm nhiều lần hưng binh, cứ mãi như thế, tất nhiên sẽ bị chúng phản thân li.
              Ngô Vương thấy phân tích của Tôn Vũ trúng vào điểm yếu của hai nhà, lại hỏi thêm:
              - Sau khi họ Phạm, họ Trung Hàng bại vong, nhà nào sẽ bại vong tiếp?
              Tôn  Vũ đáp rằng:
              - Sau khi họ Phạm, họ Trung Hàng bại vong, tiếp đó họ Trí sẽ bại vong. Chế độ mẫu đất của họ Trí chỉ lớn hơn một chút so với họ Phạm, họ Trung Hàng. Họ Trí lấy 168 bộ vuông làm một mẫu, tô thuế cũng rất hà khắc. Họ Trí, họ Phạm, họ Trung Hàng đã phạm sai lầm giống nhau: chế độ mẫu đất nhỏ, tô thuế nặng, nước giàu có, dân nghèo khổ, lại nhiều, binh nhiều, chúa kiêu căng thần xa xỉ, rốt cuộc chỉ có diệt vong.
              Ngô Vương lại hỏi:
              - Sau khi họ Trí diệt vong, sẽ đến nước nào?
              Tôn Vũ đáp:
              - Sau khi họ Trí diệt vong, sẽ đến hai nhà Hàn, Nguỵ. Hai nhà Hàn Nguỵ tuy lấy 200 bộ vuông làm một mẫu, tô thuế lại giống như họ Phạm, họ Trung Hàng, họ Trí. Nguyên nhân hai nhà đó diệt vong vẫn là tô thuế nặng, nước thì giàu dân thì nghèo, lại nhiều binh nhiều, ham công lớn. Nhưng chế độ mẫu đất lớn hơn một chút, tô thuế mà nhân dân gánh lấy tương đối nhẹ, do đó có thể kéo dài một thời gian, diệt vong sau 3 nhà kia.
              Tiếp đó Tôn Vũ nói rằng:
              - Về tình hình của họ Triệu, khác với nhiều với 5 họ kia. Trong lục khanh, chế độ mẫu đất của họ Triệu là lớn nhất, 240 bộ vuông là một mẫu. Tô thuế của họ Triệu luôn tương đối nhẹ. Chế độ mẫu đất lớn, tô thuế nhẹ nước lấy của dân có mức độ, lại ít binh ít, trên không xa xỉ, dưới được no ấm, chính sách khoan hoà được lòng dân. Họ Triệu hưng vượng phát đạt là điều tất nhiên. Chính quyền nước Tấn sớm muộn sẽ bị họ Triệu thâu tóm.
              Ngô Vương nghe những luận thuật của Tôn Vũ về sự hưng vong của lục khanh nước Tấn giống như được lên lớp về bài trị quốc bình thiên hạ, cảm thấy được nhiều gợi mở, vui mừng nói rằng:
              - Tướng quân nói hay lắm, đạo quân vương trị nước, phải yêu tiếc sức dân yêu dân như con.
              Chẳng bao lâu, Ngô Vương cho rằng đã đến thời cơ tốt nhất để phạt Sở, đã cùng với văn võ đại thần thương nghị. Ngũ Tử Tư vô cùng hân hoan về việc này, không ngừng tán dương quân Ngô là đội quân tinh nhuệ, sĩ khí mạnh mẽ, có thể quét sạch gai góc xưng hùng ở trung nguyên. Quần thần phấn khích không thôi, cho rằng xuất chinh lần này nhất định sẽ thu được toàn thắng. Tôn Vũ lại trầm ngâm không nói gì. Ngô Vương thấy Tôn Vũ không nói, liền trưng hỏi ý kiến.
              Tôn Vũ từ tốn đáp rằng:
              - Những điều khanh và chư vị bàn cố nhiên là không sai, nước Ngô hiện binh cường mã tráng, sĩ khí dâng cao. Nhưng chiến tranh phải biết người biết ta mới có thể nắm chắc thắng lợi. Thần cho rằng, nước Sở vừa mới tru sát đại gian thần Phí Vô Kị 费无忌, lòng dân quy thuận, sự phẫn nộ đã tiêu tan, nước phụ dung của Sở chưa hẳn đã xa rời Sở, thế của Sở chưa suy.
              Tôn Vũ nhìn Ngũ Tử Tư rồi nhìn Bá Bỉ, nói rằng:
              - Ngũ khanh và Bá khanh đều là khách vong mạng của Sở. Lúc này, phát động chiến tranh, bách tính hai nước Sở Ngô nhất định sẽ cho đó là hai khanh đem lòng oán hận mà gây ra chiến tranh, sẽ dẫn đến người Sở căm thù, ý chí chiến đấu dâng cao, quân Ngô cũng không cam tâm bán mạng, điều đó đối với chúng ta vô cùng bất lợi, không thể khinh suất vọng động. Trước khi giao chiến phải nắm được thắng lợi, không đánh những trận mà không chuẩn bị, không nắm vững tình thế.
              Sự phân tích địch ta của Tôn Vũ có thể nói là lập luận sắc xảo, ý kiến xác đáng, mạch lạc có lí, Ngô Vương và quần thần không ai là không tin phục. Tôn Vũ lại nói:
              - Hiện nay chúng ta cần phải làm tốt 3 điều:
              * Tăng cường quốc thế của nước ta, đối với binh sĩ phải tăng cường huấn luyện.
              * Li gián  mối quan hệ giữa nước Sở với các nước phụ dung của Sở, khiến các nước phụ dung đó quy thuận nước ta.
              * Làm cho thượng tầng nước Sở phát sinh nội loạn, nhất là làm cho khí kiêu ngạo của Sở Vương dâng cao, đợi khi hậu viện bốc lửa, chúng ta thừa cơ xâm nhập, tất sẽ thành công.
              Ngô Vương cùng quần thần nghe lời phân tích của Tôn Vũ vô cùng tin phục. Thế là nước Ngô về đối nội ra sức sửa trị, làm cho nước giàu binh mạnh, về đối ngoại li gián mối quan hệ giữa thượng tầng nước Sở  vói các nước phụ dung, đặt cơ sở vững chắc cho việc diệt Sở     (còn tiếp)

                                                                       Huỳnh Chương Hưng
                                                                       Quy Nhơn 15/02/2017

    Nguyên tác
    TÔN VŨ
    孙武
    Trong quyển
    HỔ CHI UY
    虎之威
    Tác giả: Hàn Tố Văn 韩素文
    Bắc Kinh: Trung Quốc Trường An xuất bản xã, 1006.

    Dịch thuật: Tôn Vũ (tiếp theo kì 2)

    Đăng lúc  18:14  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    TÔN VŨ
    (tiếp theo kì 2)

              Một ngày nọ, Ngô Vương và Tôn Vũ nghị luận về nước Tấn. Ngô Vương hỏi:
              - Họ Phạm , họ Trung Hàng 中行, họ Trí , họ Hàn , họ Nguỵ , họ Triệu Quảng 赵广 là lục khanh nắm giữ đại quyền nước Tấn, mỗi người cai quản một khu vực, cùng tranh đoạt quyền lợi. Theo Tướng quân, trong lục khanh, ai là người sẽ bị diệt vong trước, ai sẽ mạnh lên?
              Tôn Vũ trầm tư một lúc rồi nói:
              - Theo thần thấy, trong lục khanh, họ Phạm và họ Trung Hàng sẽ bại vong trước.
              Ngô Vương hỏi:
              - Tướng quân dựa vào đâu mà phán đoán như thế?
              Tôn Vũ Đáp rằng:
              - Thần dựa vào chế độ mẫu đất lớn nhỏ của họ, tô thuế thu nhiều ít cùng binh sĩ nhiều ít, quan lại có thanh khiết hay không mà phán đoán. Họ Phạm, họ Trung Hàng lấy 160 bộ vuông làm một mẫu. Chế độ mẫu đất nhỏ nhất, nhưng tô  thuế thu lại nặng nhất. Tô thuế quá nặng, quan lại kiêu xa, thêm nhiều lần hưng binh, cứ mãi như thế, tất nhiên sẽ bị chúng phản thân li.
              Ngô Vương thấy phân tích của Tôn Vũ trúng vào điểm yếu của hai nhà, lại hỏi thêm:
              - Sau khi họ Phạm, họ Trung Hàng bại vong, nhà nào sẽ bại vong tiếp?
              Tôn  Vũ đáp rằng:
              - Sau khi họ Phạm, họ Trung Hàng bại vong, tiếp đó họ Trí sẽ bại vong. Chế độ mẫu đất của họ Trí chỉ lớn hơn một chút so với họ Phạm, họ Trung Hàng. Họ Trí lấy 168 bộ vuông làm một mẫu, tô thuế cũng rất hà khắc. Họ Trí, họ Phạm, họ Trung Hàng đã phạm sai lầm giống nhau: chế độ mẫu đất nhỏ, tô thuế nặng, nước giàu có, dân nghèo khổ, lại nhiều, binh nhiều, chúa kiêu căng thần xa xỉ, rốt cuộc chỉ có diệt vong.
              Ngô Vương lại hỏi:
              - Sau khi họ Trí diệt vong, sẽ đến nước nào?
              Tôn Vũ đáp:
              - Sau khi họ Trí diệt vong, sẽ đến hai nhà Hàn, Nguỵ. Hai nhà Hàn Nguỵ tuy lấy 200 bộ vuông làm một mẫu, tô thuế lại giống như họ Phạm, họ Trung Hàng, họ Trí. Nguyên nhân hai nhà đó diệt vong vẫn là tô thuế nặng, nước thì giàu dân thì nghèo, lại nhiều binh nhiều, ham công lớn. Nhưng chế độ mẫu đất lớn hơn một chút, tô thuế mà nhân dân gánh lấy tương đối nhẹ, do đó có thể kéo dài một thời gian, diệt vong sau 3 nhà kia.
              Tiếp đó Tôn Vũ nói rằng:
              - Về tình hình của họ Triệu, khác với nhiều với 5 họ kia. Trong lục khanh, chế độ mẫu đất của họ Triệu là lớn nhất, 240 bộ vuông là một mẫu. Tô thuế của họ Triệu luôn tương đối nhẹ. Chế độ mẫu đất lớn, tô thuế nhẹ nước lấy của dân có mức độ, lại ít binh ít, trên không xa xỉ, dưới được no ấm, chính sách khoan hoà được lòng dân. Họ Triệu hưng vượng phát đạt là điều tất nhiên. Chính quyền nước Tấn sớm muộn sẽ bị họ Triệu thâu tóm.
              Ngô Vương nghe những luận thuật của Tôn Vũ về sự hưng vong của lục khanh nước Tấn giống như được lên lớp về bài trị quốc bình thiên hạ, cảm thấy được nhiều gợi mở, vui mừng nói rằng:
              - Tướng quân nói hay lắm, đạo quân vương trị nước, phải yêu tiếc sức dân yêu dân như con.
              Chẳng bao lâu, Ngô Vương cho rằng đã đến thời cơ tốt nhất để phạt Sở, đã cùng với văn võ đại thần thương nghị. Ngũ Tử Tư vô cùng hân hoan về việc này, không ngừng tán dương quân Ngô là đội quân tinh nhuệ, sĩ khí mạnh mẽ, có thể quét sạch gai góc xưng hùng ở trung nguyên. Quần thần phấn khích không thôi, cho rằng xuất chinh lần này nhất định sẽ thu được toàn thắng. Tôn Vũ lại trầm ngâm không nói gì. Ngô Vương thấy Tôn Vũ không nói, liền trưng hỏi ý kiến.
              Tôn Vũ từ tốn đáp rằng:
              - Những điều khanh và chư vị bàn cố nhiên là không sai, nước Ngô hiện binh cường mã tráng, sĩ khí dâng cao. Nhưng chiến tranh phải biết người biết ta mới có thể nắm chắc thắng lợi. Thần cho rằng, nước Sở vừa mới tru sát đại gian thần Phí Vô Kị 费无忌, lòng dân quy thuận, sự phẫn nộ đã tiêu tan, nước phụ dung của Sở chưa hẳn đã xa rời Sở, thế của Sở chưa suy.
              Tôn Vũ nhìn Ngũ Tử Tư rồi nhìn Bá Bỉ, nói rằng:
              - Ngũ khanh và Bá khanh đều là khách vong mạng của Sở. Lúc này, phát động chiến tranh, bách tính hai nước Sở Ngô nhất định sẽ cho đó là hai khanh đem lòng oán hận mà gây ra chiến tranh, sẽ dẫn đến người Sở căm thù, ý chí chiến đấu dâng cao, quân Ngô cũng không cam tâm bán mạng, điều đó đối với chúng ta vô cùng bất lợi, không thể khinh suất vọng động. Trước khi giao chiến phải nắm được thắng lợi, không đánh những trận mà không chuẩn bị, không nắm vững tình thế.
              Sự phân tích địch ta của Tôn Vũ có thể nói là lập luận sắc xảo, ý kiến xác đáng, mạch lạc có lí, Ngô Vương và quần thần không ai là không tin phục. Tôn Vũ lại nói:
              - Hiện nay chúng ta cần phải làm tốt 3 điều:
              * Tăng cường quốc thế của nước ta, đối với binh sĩ phải tăng cường huấn luyện.
              * Li gián  mối quan hệ giữa nước Sở với các nước phụ dung của Sở, khiến các nước phụ dung đó quy thuận nước ta.
              * Làm cho thượng tầng nước Sở phát sinh nội loạn, nhất là làm cho khí kiêu ngạo của Sở Vương dâng cao, đợi khi hậu viện bốc lửa, chúng ta thừa cơ xâm nhập, tất sẽ thành công.
              Ngô Vương cùng quần thần nghe lời phân tích của Tôn Vũ vô cùng tin phục. Thế là nước Ngô về đối nội ra sức sửa trị, làm cho nước giàu binh mạnh, về đối ngoại li gián mối quan hệ giữa thượng tầng nước Sở  vói các nước phụ dung, đặt cơ sở vững chắc cho việc diệt Sở     (còn tiếp)

                                                                       Huỳnh Chương Hưng
                                                                       Quy Nhơn 15/02/2017

    Nguyên tác
    TÔN VŨ
    孙武
    Trong quyển
    HỔ CHI UY
    虎之威
    Tác giả: Hàn Tố Văn 韩素文
    Bắc Kinh: Trung Quốc Trường An xuất bản xã, 1006.

    Thứ Ba, 14 tháng 2, 2017

    TÔN VŨ
    (kì 2)

    XƯNG BÁ XUÂN THU, MINH CHỦ CHUỘNG HIỀN NĂNG

              Ngô Vương là vị quân chủ hiền minh có kiến thức, có hùng tâm, lại thêm có 2 trọng thần Ngũ Tử Tư 伍子胥 và Tôn Vũ 孙武, có thể nói là như cá gặp nước, như hổ thêm cánh. Chẳng bao lâu, nước Ngô từ một tiểu quốc bần nhược, biến thành một cường quốc với thực lực hùng mạnh, phủ khố dư đầy, binh cường mã tráng. Ngô Vương bắt đầu cùng cường Sở tranh đoạt vùng đất phía đông nam.
              Khi Ngô Vương lên ngôi, công tử Cái Dư 盖馀 và công tử Chúc Dung 烛庸 đào tẩu sang nước Từ và nước Chung Ngô 钟吴. Năm 512 trước công nguyên, nước Ngô khiêm khắc ban lệnh buộc nước Từ và nước Chung Ngô giao lại hai người. Hai nước cậy có nước Sở hùng mạnh chống lưng nên để cho hai người đầu bôn sang nước Sở.
              Sở Chiêu Vương đem vùng Thành Phụ 城父, Hồ Điền 胡田 phía đông bắc Dưỡng Thành 养城 phong cho hai công tử, lợi dụng họ đối phó với nước Ngô. Mùa đông năm đó, Ngô Vương phái Tôn Vũ, Ngũ Tử Tư hưng sư thảo phạt Chung Ngô, Chung Ngô diệt vong. Ngô vương hồi binh phạt Từ, nước từ cầu viện nước Sở. Sở phái Thẩm Doãn Thú 沈尹戍 đem binh cứu Từ. Tôn Vũ hạ lệnh sĩ tốt ngày đêm đề phòng, chặn đường sông đường núi, tháo nước chảy vào nước Từ. Quốc quân nước Từ là Chương Vũ 章禹 đầu hàng quân Ngô. Ngô Vương muốn phạt Sở, mở rộng chiến tranh. Tôn Vũ nói rằng:
              - Quân Sở đang mạnh, quân Ngô diệt liên tiếp hai nước, người mỏi ngựa mệt, quân lương không đủ, cần phải nghỉ dưỡng, đợi thời cơ.
              Ngô Vương hạ lệnh ban sư.
              Sau khi quân Ngô về lại nước, Ngũ Tư Tư hiến kế rằng:
              - Nước Sở ý kiến chia rẽ, ai cũng đều không muốn gánh trách nhiệm. Quân Ngô có thể thừa cơ chia binh làm 3 lộ, luân phiên quấy nhiễu nước Sở. Sau khi đợi quân Sở mệt mỏi, chúng ta thông qua thủ đoạn ngoại giao, gián điệp quấy rối nước Sở, sau đó đại khởi binh phạt Sở.
              Mùa thu năm Ngô Vương Hạp Lư 阖闾 thứ 4 (năm 511 trước công nguyên), một lộ quân Ngô vây khốn 2 thành Lục và Tiềm của Sở. Thẩm Doãn Thú dẫn quân Sở cứu viện. Quân Ngô chủ động rút lui, quân Sở cho dời bách tính ở Tiềm thành đến Nam Cương 南岗.
              Binh mã lộ thứ 2 của quân Ngô bao vây Huyền Thành 弦城. Quân Sở suốt đêm ra tiền tuyến, quân Ngô lại chủ động lui binh.
              Quân Ngô thỉnh cầu nước Việt trợ chiến, nước Việt không đồng ý. Ngô Vương cả giận, muốn tấn công nước Việt, nhưng sợ một cánh binh mã khó mà thắng lợi. Tôn Vũ khuyên rằng:
              - Quân Việt tuy đông, nhưng chúng ta có thể làm cho họ phân tán.
              Dưới sự chỉ huy của Tôn Vũ, mùa hạ năm 510 trước công nguyên, quân Ngô đánh bại nước Việt hùng mạnh.
              Năm 508 trước công nguyên, nước Đồng phản lại nước Sở. Nước Đồng vốn là một nước nhỏ tên là Thư Cưu 舒鸠, đã bị nước Sở thôn tính từ rất sớm. Bởi thế, người Thư Cưu vô cùng căm hận nước Sở. Gián điệp của nước Ngô nói với người Thư Cưu rằng:
              - Các ông nếu như dối gạt quân Sở đánh nước ta, quân ta sẽ giả bộ sợ quân Sở, vờ phạt Đồng, tháo gỡ ý thức cảnh giác của Sở đối với các ông, các ông tìm cơ hội để tiêu diệt Sở.
              Để báo thù nước Sở, người Thư Cưu đã dùng kế gạt Sở, cho người đi rêu rao tin tức giả khắp nơi để lừa gạt nước Sở. Quân thần nước Sở vì cái lợi mà mê muội, nghe theo lời dối gạt của người Thư Cưu, mùa thu năm đó, phái Lệnh doãn Tử Thường 子常 dẫn quân phạt Ngô. Sở Vương được báo, chiến thuyền quân Ngô bố trí khắp mặt sông của nước Đồng, bèn lệnh cho đại quân đồn trú ở Dự Chương 豫章 đợi thời cơ. Lúc bấy giờ, quân Ngô ngầm tập kết tại Sào Thành 巢城. Quân Sở đóng quân từ mùa thu qua đến mùa hạ, sĩ khí và sự phòng bọ ngày càng xuống thấp và lỏng lẽo. Tôn Vũ kịp thời nắm lấy thời cơ, chỉ huy quân Ngô tập kích thình lình, đánh bại quân Sở. Quân Ngô thắng lợi trở về.
              Sau khi ban sư về đến nước Ngô, Ngô Vương Hạp Lư nói rằng:
              - Lần này tuy đánh bại quân Sở, nhưng chưa hạ được đô thành nước Sở, đó là điều đáng tiếc.
              Ngũ Tử Tư nói rằng:
              - Sở là đội quân mạnh trong thiên hạ, không thể khinh địch. Sở Vương tuy đã mất lòng dân, nhưng các đại thần rất hiền lương, chưa làm cho các chư hầu căm ghét. Sở Vương tham lam vô độ, chẳng mấy chốc sẽ bị mọi người xa lánh, chư hầu nhìn lại, đến lúc đó thừa cơ công hạ Sở đô.
              Dưới sự chuyên tâm trị lí của Ngũ Tử Tử và Tôn Vũ, chính trị và quân sự của nước Sở đều có sự khởi sắc tương đối lớn. Ngô Vương rất tín nhiệm hai người này, xem họ cánh tay trái cánh tay phải của mình, là bề tôi tâm phúc, quân thần thường cùng nhau thảo luận kế trị quốc an bang, thảo luận khi nghiệm trị nước và những bài học của các bậc đến vương cổ kim, nghiên cứu chỗ được mất cũng những lợi hại ở chính trị và quân sự của các nước.
              Bản thân Ngô Vương rất thích quân sự, rất hứng thú đối với việc trị quân lãnh binh. Ông thấy cách trị quân trong Tôn Tử binh pháp 孙子兵法 có lí, liền
    Muốn hiểu kĩ hơn.
              Một ngày nọ, quân thần nước Ngô lại thảo luận đạo trị quân. Tôn Vũ nói rằng:
              - Thời viễn cổ, Hoàng Đế 黄帝帝toạ trấn trung ương, thủ lĩnh bốn phương làm những điều sai trái tàn ác. Hoàng Đế cùng dân ngơi nghỉ, tích trữ thóc gạo, xá miễn tội phạm, khi có thiên thời, địa lợi, nhân hoà, bắt đầu phía nam phạt Xích Đế 赤帝, phía đông phạt Thanh Đế 青帝, phía bắc phạt Hắc Đế 黑帝, phía tây phạt Bạch Đế 白帝, 4 lần đánh cả 4 lần đều thắng lợi, bình định được thiên hạ. Về sau, Thang Vương nhà Thương diệt ông Kiệt bạo ngược của nhà Hạ, chiếm cứ 9 châu; Chu Vũ Vương lạu diệt trừ Thương Trụ, nhất thống thiên hạ. Đều là có đủ thiên thời, địa lợi và nhân hoà.   (còn tiếp)

                                                                       Huỳnh Chương Hưng
                                                                       Quy Nhơn 14/02/2017

    Nguyên tác
    TÔN VŨ
    孙武
    Trong quyển
    HỔ CHI UY
    虎之威
    Tác giả: Hàn Tố Văn 韩素文
    Bắc Kinh: Trung Quốc Trường An xuất bản xã, 1006.

    Dịch thuật: Tôn Vũ (kì 2)

    Đăng lúc  19:20  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    TÔN VŨ
    (kì 2)

    XƯNG BÁ XUÂN THU, MINH CHỦ CHUỘNG HIỀN NĂNG

              Ngô Vương là vị quân chủ hiền minh có kiến thức, có hùng tâm, lại thêm có 2 trọng thần Ngũ Tử Tư 伍子胥 và Tôn Vũ 孙武, có thể nói là như cá gặp nước, như hổ thêm cánh. Chẳng bao lâu, nước Ngô từ một tiểu quốc bần nhược, biến thành một cường quốc với thực lực hùng mạnh, phủ khố dư đầy, binh cường mã tráng. Ngô Vương bắt đầu cùng cường Sở tranh đoạt vùng đất phía đông nam.
              Khi Ngô Vương lên ngôi, công tử Cái Dư 盖馀 và công tử Chúc Dung 烛庸 đào tẩu sang nước Từ và nước Chung Ngô 钟吴. Năm 512 trước công nguyên, nước Ngô khiêm khắc ban lệnh buộc nước Từ và nước Chung Ngô giao lại hai người. Hai nước cậy có nước Sở hùng mạnh chống lưng nên để cho hai người đầu bôn sang nước Sở.
              Sở Chiêu Vương đem vùng Thành Phụ 城父, Hồ Điền 胡田 phía đông bắc Dưỡng Thành 养城 phong cho hai công tử, lợi dụng họ đối phó với nước Ngô. Mùa đông năm đó, Ngô Vương phái Tôn Vũ, Ngũ Tử Tư hưng sư thảo phạt Chung Ngô, Chung Ngô diệt vong. Ngô vương hồi binh phạt Từ, nước từ cầu viện nước Sở. Sở phái Thẩm Doãn Thú 沈尹戍 đem binh cứu Từ. Tôn Vũ hạ lệnh sĩ tốt ngày đêm đề phòng, chặn đường sông đường núi, tháo nước chảy vào nước Từ. Quốc quân nước Từ là Chương Vũ 章禹 đầu hàng quân Ngô. Ngô Vương muốn phạt Sở, mở rộng chiến tranh. Tôn Vũ nói rằng:
              - Quân Sở đang mạnh, quân Ngô diệt liên tiếp hai nước, người mỏi ngựa mệt, quân lương không đủ, cần phải nghỉ dưỡng, đợi thời cơ.
              Ngô Vương hạ lệnh ban sư.
              Sau khi quân Ngô về lại nước, Ngũ Tư Tư hiến kế rằng:
              - Nước Sở ý kiến chia rẽ, ai cũng đều không muốn gánh trách nhiệm. Quân Ngô có thể thừa cơ chia binh làm 3 lộ, luân phiên quấy nhiễu nước Sở. Sau khi đợi quân Sở mệt mỏi, chúng ta thông qua thủ đoạn ngoại giao, gián điệp quấy rối nước Sở, sau đó đại khởi binh phạt Sở.
              Mùa thu năm Ngô Vương Hạp Lư 阖闾 thứ 4 (năm 511 trước công nguyên), một lộ quân Ngô vây khốn 2 thành Lục và Tiềm của Sở. Thẩm Doãn Thú dẫn quân Sở cứu viện. Quân Ngô chủ động rút lui, quân Sở cho dời bách tính ở Tiềm thành đến Nam Cương 南岗.
              Binh mã lộ thứ 2 của quân Ngô bao vây Huyền Thành 弦城. Quân Sở suốt đêm ra tiền tuyến, quân Ngô lại chủ động lui binh.
              Quân Ngô thỉnh cầu nước Việt trợ chiến, nước Việt không đồng ý. Ngô Vương cả giận, muốn tấn công nước Việt, nhưng sợ một cánh binh mã khó mà thắng lợi. Tôn Vũ khuyên rằng:
              - Quân Việt tuy đông, nhưng chúng ta có thể làm cho họ phân tán.
              Dưới sự chỉ huy của Tôn Vũ, mùa hạ năm 510 trước công nguyên, quân Ngô đánh bại nước Việt hùng mạnh.
              Năm 508 trước công nguyên, nước Đồng phản lại nước Sở. Nước Đồng vốn là một nước nhỏ tên là Thư Cưu 舒鸠, đã bị nước Sở thôn tính từ rất sớm. Bởi thế, người Thư Cưu vô cùng căm hận nước Sở. Gián điệp của nước Ngô nói với người Thư Cưu rằng:
              - Các ông nếu như dối gạt quân Sở đánh nước ta, quân ta sẽ giả bộ sợ quân Sở, vờ phạt Đồng, tháo gỡ ý thức cảnh giác của Sở đối với các ông, các ông tìm cơ hội để tiêu diệt Sở.
              Để báo thù nước Sở, người Thư Cưu đã dùng kế gạt Sở, cho người đi rêu rao tin tức giả khắp nơi để lừa gạt nước Sở. Quân thần nước Sở vì cái lợi mà mê muội, nghe theo lời dối gạt của người Thư Cưu, mùa thu năm đó, phái Lệnh doãn Tử Thường 子常 dẫn quân phạt Ngô. Sở Vương được báo, chiến thuyền quân Ngô bố trí khắp mặt sông của nước Đồng, bèn lệnh cho đại quân đồn trú ở Dự Chương 豫章 đợi thời cơ. Lúc bấy giờ, quân Ngô ngầm tập kết tại Sào Thành 巢城. Quân Sở đóng quân từ mùa thu qua đến mùa hạ, sĩ khí và sự phòng bọ ngày càng xuống thấp và lỏng lẽo. Tôn Vũ kịp thời nắm lấy thời cơ, chỉ huy quân Ngô tập kích thình lình, đánh bại quân Sở. Quân Ngô thắng lợi trở về.
              Sau khi ban sư về đến nước Ngô, Ngô Vương Hạp Lư nói rằng:
              - Lần này tuy đánh bại quân Sở, nhưng chưa hạ được đô thành nước Sở, đó là điều đáng tiếc.
              Ngũ Tử Tư nói rằng:
              - Sở là đội quân mạnh trong thiên hạ, không thể khinh địch. Sở Vương tuy đã mất lòng dân, nhưng các đại thần rất hiền lương, chưa làm cho các chư hầu căm ghét. Sở Vương tham lam vô độ, chẳng mấy chốc sẽ bị mọi người xa lánh, chư hầu nhìn lại, đến lúc đó thừa cơ công hạ Sở đô.
              Dưới sự chuyên tâm trị lí của Ngũ Tử Tử và Tôn Vũ, chính trị và quân sự của nước Sở đều có sự khởi sắc tương đối lớn. Ngô Vương rất tín nhiệm hai người này, xem họ cánh tay trái cánh tay phải của mình, là bề tôi tâm phúc, quân thần thường cùng nhau thảo luận kế trị quốc an bang, thảo luận khi nghiệm trị nước và những bài học của các bậc đến vương cổ kim, nghiên cứu chỗ được mất cũng những lợi hại ở chính trị và quân sự của các nước.
              Bản thân Ngô Vương rất thích quân sự, rất hứng thú đối với việc trị quân lãnh binh. Ông thấy cách trị quân trong Tôn Tử binh pháp 孙子兵法 có lí, liền
    Muốn hiểu kĩ hơn.
              Một ngày nọ, quân thần nước Ngô lại thảo luận đạo trị quân. Tôn Vũ nói rằng:
              - Thời viễn cổ, Hoàng Đế 黄帝帝toạ trấn trung ương, thủ lĩnh bốn phương làm những điều sai trái tàn ác. Hoàng Đế cùng dân ngơi nghỉ, tích trữ thóc gạo, xá miễn tội phạm, khi có thiên thời, địa lợi, nhân hoà, bắt đầu phía nam phạt Xích Đế 赤帝, phía đông phạt Thanh Đế 青帝, phía bắc phạt Hắc Đế 黑帝, phía tây phạt Bạch Đế 白帝, 4 lần đánh cả 4 lần đều thắng lợi, bình định được thiên hạ. Về sau, Thang Vương nhà Thương diệt ông Kiệt bạo ngược của nhà Hạ, chiếm cứ 9 châu; Chu Vũ Vương lạu diệt trừ Thương Trụ, nhất thống thiên hạ. Đều là có đủ thiên thời, địa lợi và nhân hoà.   (còn tiếp)

                                                                       Huỳnh Chương Hưng
                                                                       Quy Nhơn 14/02/2017

    Nguyên tác
    TÔN VŨ
    孙武
    Trong quyển
    HỔ CHI UY
    虎之威
    Tác giả: Hàn Tố Văn 韩素文
    Bắc Kinh: Trung Quốc Trường An xuất bản xã, 1006.

    Thứ Hai, 13 tháng 2, 2017

    HOÀNG VŨ KÌ TRÀ

              Khoảng thời Vạn Lịch 万历 triều Minh, tại Trấn Giang 镇江 Giang Tô 江苏 có một Tú tài tên là Tôn Phục Già 孙伏伽, bụng đầy sách vở, nhưng mỗi lần thi đều không đậu, mấy năm sau chán nản, bèn theo người ta ra ngoài quan ngoại, tại nơi đó hái thảo dược để mưu sinh. Sau 10 năm, Tôn Phục Già sắp đến 40 tuổi, thân thể ngày càng suy nhược, nỗi nhớ quê nhà ngày càng sâu đậm. Thế là từ bỏ công việc, mang theo mấy chục lượng vàng tích góp được về quê.
             Buổi trưa hôm nọ, Tôn Phục Già đến một huyện thành. Sau khi cơm rượu no say liền dạo phố. Bất giác đến trước một quán trà, quán trà này rất khí phái, tuy  không sánh bằng tại huyện phủ, nhưng trong đám những toà lầu cao cao kia, nó như chim hạc đứng giữa bầy gà. Tôn Phục Già từ nhỏ đã thích uống trà, nay phát tài, trong phút chốc máu huyết dâng trào, hiên ngang bước vào quán ngồi xuống, và gọi:
              - Này! Tiểu nhị, có trà ngon đem đến một bình.
              Tiểu nhị vội tiến đến cười nói:
              - Khách quan, trà ngon trong thiên hạ, ở đây quán chúng tôi đều có, không biết ông  muốn dùng loại nào, giá cả loại bao nhiêu?
              Có chút rượu, Tôn Phục Già hoả bốc lên đầu:
              - Chỉ cần đem một bình loại trà ngon nhất ở đây là được.
              Tiểu nhị nghe xong không dám nhiều lời, vội ra phía sau thỉnh thị đại quản gia. Đại quản gia bước ra vái chào, nói:
              - Khách quan, trà ngon nhất ở đây, giá cả không rẻ, hay là ông ...
              Tôn Phục Già lửa giận càng bốc cao
              - Ông xem tôi nghèo như thế à! Tôi đã dám nói ra, thì sẽ trả được tiền trà.
              Đại quản gia nghe xong, trong khoảnh khắc từ phía sau bưng đến một bình tử sa. Trong phút chốc, cả phòng tràn mùi thơm, khách uống trà đều kinh hãi, bởi ngửi qua mùi thơm của loại trà đặc biệt này thì trà trong tách của mình trở nên nhạt nhẽo vô vị. Tôn Phục Già lại không biết điều đó, anh ra rót một tách bưng lên, chưa kề đến miệng mà đã cảm thấy một mùi thơm thấm vào gan ruột, mùi rượu phút chốc mất đi hết 3 phần. Đợi sau khi uống xong, ý rượu đã hết sạch, chỉ cảm thấy toàn thân nhẹ nhàng, tinh thần sảng khoái. Lúc bấy giờ, Tôn Phục Già nghĩ bụng: Quả thật là loại trà ngon thiên hạ hiếm có, xem ra hôm nay không bỏ ra 8 lượng 10 lượng bạc là đi không được rồi. Hèn chi lúc nãy tiểu nhị và đại quản gia có nhắc đến giá tiền.
              Lúc bấy giờ đại quản gia bước tới:
              - Khách quan, trà như thế nào?
              Tôn Phục Già gật đầu liên tục, khen rằng:
              - Ngon! Quả là loại trà ngon khác thường, ta bình sinh lần đầu tiên uống được.
              Đại quản gia mỉm cười nói rằng:
              - Không dấu gì ông, trà này, ngay cả hoàng đế lão tử cũng chưa hẳn đã uống qua, đó là duyên phận.
              Tôn Phục Già nghe xong, buột miệng nói ra một câu:
              - Thế, trà này giá ....
              Đại quản gia giơ 3 ngón tay. Tôn Phục Già không dám đếm:
    - Lẽ nào, lẽ nào 30 lượng bạc.
    Đại quản gia lắc đầu bảo rằng:
    - Không phải, là 30 lượng vàng.
    Câu nói làm Tôn Phục Già toát mồ hôi. Đại quản gia thấy thế, vội mời vào nhà trong. Tôn Phục Già mới ngồi xuống đã hỏi:
    - Các ông không chôn sống người ta đó chớ? Trà gì mà giá tiền cao như thế?
    - Khách quan, ông chớ vội, nghe tôi nói qua lai lịch của loại trà này ông sẽ rõ.
    Thế là đại quản gia bèn thuật lại một câu chuyện kì dị.
    - Hơn 30 năm trước, ông chủ tôi trên đường đi cứu được một lão đạo sĩ. Sau khi lão đạo sĩ khỏi bệnh, trước lúc ra đi lấy ra một gói giấy tặng cho ông chủ tôi, đồng thời dặn rằng:
              Đây là gói kì trà trong thiên hạ, ta đặt tên cho nó là ‘Hoàng Vũ’ 凰羽, mấy năm trước ta đã gom lại. Có một năm, ta phát hiện trên cây ngô đồng trước miếu có 2 con chim lớn đậu lại, chúng làm tổ đẻ trứng rồi đi. Sau đó, chung quanh cây có mùi thơm vây lấy. Qua mấy ngày tìm hiểu, ta mới phát hiện mùi thơm đó đến từ tổ chim. Ta trèo lên cây thấy trong tổ có mấy chiếc lá thơm, liền lấy xuống. Sau, mấy năm liền chim lớn đến đến, mỗi lần như thế chúng để lại mấy chiếc lá thơm. Ta gom lại chế thành loại trà thơm này. Chế xong, ta mới ngộ ra, hoá ra chim lớn đó chính là phụng hoàng, vì để đáp tạ ta đã cho chúng làm tổ nên mới lưu lại lá thơm, thế là ta đặt tên cho loại trà này là “Hoàng Vũ”.
              Sau khi lão đạo sĩ đi khỏi, ông chủ tôi nếm mấy chiếc lá trà thơm, được biết đó là trời ban cho loại trà kì lạ, bèn lưu lại lời dặn rằng: loại trà này không dâng cống, không đem bán, chỉ đợi người có duyên phận đến.
    Hôm nay ông vừa mới bước vào nói mấy câu, ta biết là người có duyên phận đã đến, liền pha bình trà này.
    Đại quản gia vừa nói vừa đứng lên hướng đến Tôn Phục Già vái chào, biểu thị cung kính.
    Tôn Phục Già nghe xong như vừa tỉnh mộng, anh ta thực sự hối hận, khẩu xuất cuồng ngôn, hao phí 30 lượng vàng, về nhà lấy gì mà ăn nói. Đại quản gia nhìn thấu tâm tư Tôn Phục Già, bèn bước tới nói rằng:
    - Khách quan, ông có thể đem trà cùng với chiếc bình này mang đi. Theo lời ông chủ tôi nói, loại trà này trong 3 năm pha nhiều ít lần cũng không giảm sắc và vị. Thêm nữa, sau khi uống, lòng sáng mắt sáng, trừ khử bệnh tật, thân thể mạnh khoẻ. Tôi thấy, sau khi ông về nhà mở một quán trà, sẽ không lỗ vốn đâu.
    Tôn Phục Già đành mang bình trà về, lại mua ở quán một số là trà. Ông ta nghe theo lời đại quản gia, mở một quán trà đặt tên là quán trà ‘Hoàng Vũ’. Quả nhiên buôn bán làm ăn ngày càng thịnh, khách đến uống trà đầy cả quán, chưa đến 3 năm mà ông ta đã xây được nhà mua được đất, sống một cuộc sống an lành.

                                                              Huỳnh Chương Hưng
                                                              Quy Nhơn 13/02/2017


    Dịch thuật: Hoàng Vũ kì trà

    Đăng lúc  19:49  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    HOÀNG VŨ KÌ TRÀ

              Khoảng thời Vạn Lịch 万历 triều Minh, tại Trấn Giang 镇江 Giang Tô 江苏 có một Tú tài tên là Tôn Phục Già 孙伏伽, bụng đầy sách vở, nhưng mỗi lần thi đều không đậu, mấy năm sau chán nản, bèn theo người ta ra ngoài quan ngoại, tại nơi đó hái thảo dược để mưu sinh. Sau 10 năm, Tôn Phục Già sắp đến 40 tuổi, thân thể ngày càng suy nhược, nỗi nhớ quê nhà ngày càng sâu đậm. Thế là từ bỏ công việc, mang theo mấy chục lượng vàng tích góp được về quê.
             Buổi trưa hôm nọ, Tôn Phục Già đến một huyện thành. Sau khi cơm rượu no say liền dạo phố. Bất giác đến trước một quán trà, quán trà này rất khí phái, tuy  không sánh bằng tại huyện phủ, nhưng trong đám những toà lầu cao cao kia, nó như chim hạc đứng giữa bầy gà. Tôn Phục Già từ nhỏ đã thích uống trà, nay phát tài, trong phút chốc máu huyết dâng trào, hiên ngang bước vào quán ngồi xuống, và gọi:
              - Này! Tiểu nhị, có trà ngon đem đến một bình.
              Tiểu nhị vội tiến đến cười nói:
              - Khách quan, trà ngon trong thiên hạ, ở đây quán chúng tôi đều có, không biết ông  muốn dùng loại nào, giá cả loại bao nhiêu?
              Có chút rượu, Tôn Phục Già hoả bốc lên đầu:
              - Chỉ cần đem một bình loại trà ngon nhất ở đây là được.
              Tiểu nhị nghe xong không dám nhiều lời, vội ra phía sau thỉnh thị đại quản gia. Đại quản gia bước ra vái chào, nói:
              - Khách quan, trà ngon nhất ở đây, giá cả không rẻ, hay là ông ...
              Tôn Phục Già lửa giận càng bốc cao
              - Ông xem tôi nghèo như thế à! Tôi đã dám nói ra, thì sẽ trả được tiền trà.
              Đại quản gia nghe xong, trong khoảnh khắc từ phía sau bưng đến một bình tử sa. Trong phút chốc, cả phòng tràn mùi thơm, khách uống trà đều kinh hãi, bởi ngửi qua mùi thơm của loại trà đặc biệt này thì trà trong tách của mình trở nên nhạt nhẽo vô vị. Tôn Phục Già lại không biết điều đó, anh ra rót một tách bưng lên, chưa kề đến miệng mà đã cảm thấy một mùi thơm thấm vào gan ruột, mùi rượu phút chốc mất đi hết 3 phần. Đợi sau khi uống xong, ý rượu đã hết sạch, chỉ cảm thấy toàn thân nhẹ nhàng, tinh thần sảng khoái. Lúc bấy giờ, Tôn Phục Già nghĩ bụng: Quả thật là loại trà ngon thiên hạ hiếm có, xem ra hôm nay không bỏ ra 8 lượng 10 lượng bạc là đi không được rồi. Hèn chi lúc nãy tiểu nhị và đại quản gia có nhắc đến giá tiền.
              Lúc bấy giờ đại quản gia bước tới:
              - Khách quan, trà như thế nào?
              Tôn Phục Già gật đầu liên tục, khen rằng:
              - Ngon! Quả là loại trà ngon khác thường, ta bình sinh lần đầu tiên uống được.
              Đại quản gia mỉm cười nói rằng:
              - Không dấu gì ông, trà này, ngay cả hoàng đế lão tử cũng chưa hẳn đã uống qua, đó là duyên phận.
              Tôn Phục Già nghe xong, buột miệng nói ra một câu:
              - Thế, trà này giá ....
              Đại quản gia giơ 3 ngón tay. Tôn Phục Già không dám đếm:
    - Lẽ nào, lẽ nào 30 lượng bạc.
    Đại quản gia lắc đầu bảo rằng:
    - Không phải, là 30 lượng vàng.
    Câu nói làm Tôn Phục Già toát mồ hôi. Đại quản gia thấy thế, vội mời vào nhà trong. Tôn Phục Già mới ngồi xuống đã hỏi:
    - Các ông không chôn sống người ta đó chớ? Trà gì mà giá tiền cao như thế?
    - Khách quan, ông chớ vội, nghe tôi nói qua lai lịch của loại trà này ông sẽ rõ.
    Thế là đại quản gia bèn thuật lại một câu chuyện kì dị.
    - Hơn 30 năm trước, ông chủ tôi trên đường đi cứu được một lão đạo sĩ. Sau khi lão đạo sĩ khỏi bệnh, trước lúc ra đi lấy ra một gói giấy tặng cho ông chủ tôi, đồng thời dặn rằng:
              Đây là gói kì trà trong thiên hạ, ta đặt tên cho nó là ‘Hoàng Vũ’ 凰羽, mấy năm trước ta đã gom lại. Có một năm, ta phát hiện trên cây ngô đồng trước miếu có 2 con chim lớn đậu lại, chúng làm tổ đẻ trứng rồi đi. Sau đó, chung quanh cây có mùi thơm vây lấy. Qua mấy ngày tìm hiểu, ta mới phát hiện mùi thơm đó đến từ tổ chim. Ta trèo lên cây thấy trong tổ có mấy chiếc lá thơm, liền lấy xuống. Sau, mấy năm liền chim lớn đến đến, mỗi lần như thế chúng để lại mấy chiếc lá thơm. Ta gom lại chế thành loại trà thơm này. Chế xong, ta mới ngộ ra, hoá ra chim lớn đó chính là phụng hoàng, vì để đáp tạ ta đã cho chúng làm tổ nên mới lưu lại lá thơm, thế là ta đặt tên cho loại trà này là “Hoàng Vũ”.
              Sau khi lão đạo sĩ đi khỏi, ông chủ tôi nếm mấy chiếc lá trà thơm, được biết đó là trời ban cho loại trà kì lạ, bèn lưu lại lời dặn rằng: loại trà này không dâng cống, không đem bán, chỉ đợi người có duyên phận đến.
    Hôm nay ông vừa mới bước vào nói mấy câu, ta biết là người có duyên phận đã đến, liền pha bình trà này.
    Đại quản gia vừa nói vừa đứng lên hướng đến Tôn Phục Già vái chào, biểu thị cung kính.
    Tôn Phục Già nghe xong như vừa tỉnh mộng, anh ta thực sự hối hận, khẩu xuất cuồng ngôn, hao phí 30 lượng vàng, về nhà lấy gì mà ăn nói. Đại quản gia nhìn thấu tâm tư Tôn Phục Già, bèn bước tới nói rằng:
    - Khách quan, ông có thể đem trà cùng với chiếc bình này mang đi. Theo lời ông chủ tôi nói, loại trà này trong 3 năm pha nhiều ít lần cũng không giảm sắc và vị. Thêm nữa, sau khi uống, lòng sáng mắt sáng, trừ khử bệnh tật, thân thể mạnh khoẻ. Tôi thấy, sau khi ông về nhà mở một quán trà, sẽ không lỗ vốn đâu.
    Tôn Phục Già đành mang bình trà về, lại mua ở quán một số là trà. Ông ta nghe theo lời đại quản gia, mở một quán trà đặt tên là quán trà ‘Hoàng Vũ’. Quả nhiên buôn bán làm ăn ngày càng thịnh, khách đến uống trà đầy cả quán, chưa đến 3 năm mà ông ta đã xây được nhà mua được đất, sống một cuộc sống an lành.

                                                              Huỳnh Chương Hưng
                                                              Quy Nhơn 13/02/2017


    Mã nguồn bởi Huỳnh Chương Hưng
    Copyright © 2012 Huỳnh Chương Hưng.
    back to top