• Thứ Năm, 19 tháng 7, 2018

    THÁI QUỲ VÀ HƯỚNG NHẬT QUỲ
    BÀN VỀ CHỮ “QUỲ”

              Nói đến “quỳ” , rất dễ khiến người ta liên tưởng đến “hướng nhật quỳ” 向日葵 (hoa hướng dương), nhưng trong Thuyết văn 说文 cho chúng ta biết:
    Quỳ, thái dã.
    , 菜也
    (Quỳ là một loại rau)
              “Quỳ” 葵 trong “hướng nhật quỳ” 向日葵  và “thái quỳ” 菜葵 là hai loại khác nhau, không thể cho là một. “Quỳ” vốn là tên một loại rau, còn gọi là “đông mịch thái” 冬觅菜. Loại rau này hiện ít gặp, tại Mã Vương Đôi 马王堆 đã thấy có hạt giống của nó (1). Lí Thời Trân 李时珍trong Bản thảo cương mục 本草纲目 có nói:
    Kim nhân bất phục thực chi
    今人不复食之
    (Người thời nay không còn ăn loại rau này nữa)
    nhưng thời cổ trồng rất phổ biến. Theo ghi chép, loại thực vật này bất luận đất tốt xấu, nơi nào cũng có thể trồng, người xưa dùng nó để dự phòng lúc mất mùa. Trong Nông tang thông quyết 农桑通诀 có ghi:
    Quỳ, bách thảo chi chủ, khả bị tứ thời chi soạn (2)
    , 百草之主, 可备四时之馔
     (Quỳ là loại đứng đầu trong bách thảo, có thể dùng làm thức ăn dự phòng cho bốn mùa)
             Lại nói nó là “sơ như chi thượng phẩm” 蔬茹之上品 (loại thượng phẩm trong số các loại rau). Có thể thấy nó đã được tôn lên rất cao.
              Hoa quỳ hướng đến mặt trời, còn rau quỳ thì sao? Lá của rau quỳ cũng hướng đến mặt trời, chỗ khác nhau đó là, hướng đến mặt trời ở hoa quỳ là hoa còn ở rau quỳ là lá. Tào Thực 曹植 trong Cầu thông thân biểu 求通亲表 có nói, bản thân mình như “quỳ hoắc chi khuynh diệp” 葵藿之倾叶 (rau quỳ rau hoắc nghiêng lá), biểu thị lòng mong muốn hướng đến người thân. Đỗ Phủ 杜甫 trong bài thơ Vịnh hoài ngũ bách tự 咏怀五百字 có câu:
    Quỳ hoắc khuynh thái dương
    Vật tính cố nan đoạt
    葵藿倾太阳
    物性固难夺
    (Rau quỳ rau hoắc nghiêng về phía mặt trời
    Bản tính của vật như thế khó mà đoạt được)
              Đỗ Phủ cũng dùng rau quỳ rau hoắc hướng đến mặt trời để biểu thị tấm lòng trung trinh đối với vương triều Đường. Lá của rau quỳ hướng về mặt trời, khiến  cho rễ của nó không bị ánh nắng chiếu đến, cho nên rau “quỳ” còn có tên là “vệ túc” 卫足. Lí Bạch 李白 trong bài Lưu Dạ Lang đề quỳ diệp  流夜郎题葵叶 đã viết:
    Tàm quân năng vệ túc
    Thán ngã viễn du căn (3)
    惭君能卫足
    叹我远游根
    (Hổ thẹn với rau còn biết bảo vệ được chân
    Cảm thán cho mình phải bị đi xa)
    Ý nói tự mình hổ thẹn không thể bảo vệ được đôi chân giống như rau quỳ kia, mà phải thường phiêu bạt chốn quê người.
              Phẩm loại của rau quỳ rất nhiều, có Sở quỳ 楚葵, Thục quỳ 蜀葵, bồ quỳ 蒲葵, cẩm quỳ 锦葵, lộ quỳ 露葵v.v... Trong Bản thảo 本草 có nói:
    Lộ quỳ tất đãi lộ thái, cố danh lộ quỳ, kim nhân hô chi hoạt thái.
    露葵必待露采, 故名露葵, 今人呼之滑菜
              (Lộ quỳ phải đợi sương xuống mới hái cho nên có tên là “lộ quỳ”, người thời nay gọi nó là “hoạt thái”)
              Người xưa vào tháng 6 trồng thu quỳ, sau Trung phục 中伏 (*) trồng đông quỳ, tháng 9 có thể muối rau quỳ, phơi khô rau quỳ. Trong Tề dân yếu thuật 齐民要术 đã đem loại quỳ xếp lên thiên đầu tiên ở các loại rau, chả trách trong Thuyết nguyên 说原 có ghi:
    Sơ thực tam bách lục thập, quỳ vi chi trưởng
    蔬植三百六十, 葵为之长
    (Trong 360 loại rau, rau quỳ đứng hàng đầu)
              Hướng nhật quỳ còn gọi là “tây phiên quỳ” 西番葵, “trượng cúc” 丈菊, đại khái vào khoảng thế kỉ 17 truyền vào Trung Quốc, có thuyết cho rằng vào năm 1501, đội thám hiểm Tây Ban Nha đã đem hạt giống hoa quỳ từ Peru về châu Âu, do bởi  hoa của hướng nhật quỳ có thể chuyển động hướng theo mặt trời, cho nên người ta gọi nó là “thái dương hoa” 太阳花. Đội thám hiểm Tây Ban Nha đem hạt giống hoa quỳ trước tiên trồng ở vườn thực vật Madrid làm thực vật hoa thảo cho mọi người thưởng ngoạn. Khoảng thế kỉ 19 truyền khắp toàn cầu. Tại sao hướng nhật quỳ lại có thể chuyển động hướng theo mặt trời? Theo thần thoại phương tây, có một vị nữ thần trong rừng sâu xinh đẹp, yêu thần mặt trời Apollo, Thiên đế thấy tấm lòng chân thành đáng thương bèn cho nàng biến thành đoá hoa hướng theo mặt trời, cả ngày chuyển động theo mặt trời.

    Chú của nguyên tác
    1- Ngữ văn viên địa 语文园地  kì 2 năm 1985.
    2- Quảng quần phương phổ 广群芳谱  Sơ phổ nhị 蔬谱二, Thượng Hải thư điếm.
    3- Đường . Lí Bạch 李白 Lí Thái Bạch tập – Lưu Dạ Lang đề quỳ diệp 李太白集 - 流夜郎题葵叶, trang 436, Thượng Hải Cổ tịch xuất bản xã.

    Chú của người dịch
    *- Trung phục 中伏: theo lịch pháp Trung Quốc, trong một năm lúc nhiệt độ cao nhất, độ ẩm lớn nhất được phân làm 3 phục: Sơ phục 初伏, Trung phục 中伏và Mạt phục 末伏. Sau Hạ chí, ngày Canh thứ 3 là Sơ phục, ngày Canh thứ 4 là Trung phục. Sau Lập thu ngày Canh đầu tiên là Mạt phục. mỗi phục 10 ngày, nhưng có năm Trung phục có 20 ngày.
              (Tư liệu tổng hợp)

                                                              Huỳnh Chương Hưng
                                                              Quy Nhơn 19/7/2018

    Nguyên tác Trung văn
    THÁI QUỲ DỮ HƯỚNG NHẬT QUỲ
    ĐÀM “QUỲ
    菜葵与向日葵
      “
    Trong quyển
    HÁN TỰ THẬP THÚ
    汉字拾趣
    Tác giả: KỶ ĐỨC DỤ (纪德裕)
    Phúc Đán Đại học xuất bản xã, 1998

    Dịch thuật: Thái quỳ và hướng nhật quỳ

    Đăng lúc  22:59  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    THÁI QUỲ VÀ HƯỚNG NHẬT QUỲ
    BÀN VỀ CHỮ “QUỲ”

              Nói đến “quỳ” , rất dễ khiến người ta liên tưởng đến “hướng nhật quỳ” 向日葵 (hoa hướng dương), nhưng trong Thuyết văn 说文 cho chúng ta biết:
    Quỳ, thái dã.
    , 菜也
    (Quỳ là một loại rau)
              “Quỳ” 葵 trong “hướng nhật quỳ” 向日葵  và “thái quỳ” 菜葵 là hai loại khác nhau, không thể cho là một. “Quỳ” vốn là tên một loại rau, còn gọi là “đông mịch thái” 冬觅菜. Loại rau này hiện ít gặp, tại Mã Vương Đôi 马王堆 đã thấy có hạt giống của nó (1). Lí Thời Trân 李时珍trong Bản thảo cương mục 本草纲目 có nói:
    Kim nhân bất phục thực chi
    今人不复食之
    (Người thời nay không còn ăn loại rau này nữa)
    nhưng thời cổ trồng rất phổ biến. Theo ghi chép, loại thực vật này bất luận đất tốt xấu, nơi nào cũng có thể trồng, người xưa dùng nó để dự phòng lúc mất mùa. Trong Nông tang thông quyết 农桑通诀 có ghi:
    Quỳ, bách thảo chi chủ, khả bị tứ thời chi soạn (2)
    , 百草之主, 可备四时之馔
     (Quỳ là loại đứng đầu trong bách thảo, có thể dùng làm thức ăn dự phòng cho bốn mùa)
             Lại nói nó là “sơ như chi thượng phẩm” 蔬茹之上品 (loại thượng phẩm trong số các loại rau). Có thể thấy nó đã được tôn lên rất cao.
              Hoa quỳ hướng đến mặt trời, còn rau quỳ thì sao? Lá của rau quỳ cũng hướng đến mặt trời, chỗ khác nhau đó là, hướng đến mặt trời ở hoa quỳ là hoa còn ở rau quỳ là lá. Tào Thực 曹植 trong Cầu thông thân biểu 求通亲表 có nói, bản thân mình như “quỳ hoắc chi khuynh diệp” 葵藿之倾叶 (rau quỳ rau hoắc nghiêng lá), biểu thị lòng mong muốn hướng đến người thân. Đỗ Phủ 杜甫 trong bài thơ Vịnh hoài ngũ bách tự 咏怀五百字 có câu:
    Quỳ hoắc khuynh thái dương
    Vật tính cố nan đoạt
    葵藿倾太阳
    物性固难夺
    (Rau quỳ rau hoắc nghiêng về phía mặt trời
    Bản tính của vật như thế khó mà đoạt được)
              Đỗ Phủ cũng dùng rau quỳ rau hoắc hướng đến mặt trời để biểu thị tấm lòng trung trinh đối với vương triều Đường. Lá của rau quỳ hướng về mặt trời, khiến  cho rễ của nó không bị ánh nắng chiếu đến, cho nên rau “quỳ” còn có tên là “vệ túc” 卫足. Lí Bạch 李白 trong bài Lưu Dạ Lang đề quỳ diệp  流夜郎题葵叶 đã viết:
    Tàm quân năng vệ túc
    Thán ngã viễn du căn (3)
    惭君能卫足
    叹我远游根
    (Hổ thẹn với rau còn biết bảo vệ được chân
    Cảm thán cho mình phải bị đi xa)
    Ý nói tự mình hổ thẹn không thể bảo vệ được đôi chân giống như rau quỳ kia, mà phải thường phiêu bạt chốn quê người.
              Phẩm loại của rau quỳ rất nhiều, có Sở quỳ 楚葵, Thục quỳ 蜀葵, bồ quỳ 蒲葵, cẩm quỳ 锦葵, lộ quỳ 露葵v.v... Trong Bản thảo 本草 có nói:
    Lộ quỳ tất đãi lộ thái, cố danh lộ quỳ, kim nhân hô chi hoạt thái.
    露葵必待露采, 故名露葵, 今人呼之滑菜
              (Lộ quỳ phải đợi sương xuống mới hái cho nên có tên là “lộ quỳ”, người thời nay gọi nó là “hoạt thái”)
              Người xưa vào tháng 6 trồng thu quỳ, sau Trung phục 中伏 (*) trồng đông quỳ, tháng 9 có thể muối rau quỳ, phơi khô rau quỳ. Trong Tề dân yếu thuật 齐民要术 đã đem loại quỳ xếp lên thiên đầu tiên ở các loại rau, chả trách trong Thuyết nguyên 说原 có ghi:
    Sơ thực tam bách lục thập, quỳ vi chi trưởng
    蔬植三百六十, 葵为之长
    (Trong 360 loại rau, rau quỳ đứng hàng đầu)
              Hướng nhật quỳ còn gọi là “tây phiên quỳ” 西番葵, “trượng cúc” 丈菊, đại khái vào khoảng thế kỉ 17 truyền vào Trung Quốc, có thuyết cho rằng vào năm 1501, đội thám hiểm Tây Ban Nha đã đem hạt giống hoa quỳ từ Peru về châu Âu, do bởi  hoa của hướng nhật quỳ có thể chuyển động hướng theo mặt trời, cho nên người ta gọi nó là “thái dương hoa” 太阳花. Đội thám hiểm Tây Ban Nha đem hạt giống hoa quỳ trước tiên trồng ở vườn thực vật Madrid làm thực vật hoa thảo cho mọi người thưởng ngoạn. Khoảng thế kỉ 19 truyền khắp toàn cầu. Tại sao hướng nhật quỳ lại có thể chuyển động hướng theo mặt trời? Theo thần thoại phương tây, có một vị nữ thần trong rừng sâu xinh đẹp, yêu thần mặt trời Apollo, Thiên đế thấy tấm lòng chân thành đáng thương bèn cho nàng biến thành đoá hoa hướng theo mặt trời, cả ngày chuyển động theo mặt trời.

    Chú của nguyên tác
    1- Ngữ văn viên địa 语文园地  kì 2 năm 1985.
    2- Quảng quần phương phổ 广群芳谱  Sơ phổ nhị 蔬谱二, Thượng Hải thư điếm.
    3- Đường . Lí Bạch 李白 Lí Thái Bạch tập – Lưu Dạ Lang đề quỳ diệp 李太白集 - 流夜郎题葵叶, trang 436, Thượng Hải Cổ tịch xuất bản xã.

    Chú của người dịch
    *- Trung phục 中伏: theo lịch pháp Trung Quốc, trong một năm lúc nhiệt độ cao nhất, độ ẩm lớn nhất được phân làm 3 phục: Sơ phục 初伏, Trung phục 中伏và Mạt phục 末伏. Sau Hạ chí, ngày Canh thứ 3 là Sơ phục, ngày Canh thứ 4 là Trung phục. Sau Lập thu ngày Canh đầu tiên là Mạt phục. mỗi phục 10 ngày, nhưng có năm Trung phục có 20 ngày.
              (Tư liệu tổng hợp)

                                                              Huỳnh Chương Hưng
                                                              Quy Nhơn 19/7/2018

    Nguyên tác Trung văn
    THÁI QUỲ DỮ HƯỚNG NHẬT QUỲ
    ĐÀM “QUỲ
    菜葵与向日葵
      “
    Trong quyển
    HÁN TỰ THẬP THÚ
    汉字拾趣
    Tác giả: KỶ ĐỨC DỤ (纪德裕)
    Phúc Đán Đại học xuất bản xã, 1998

    Thứ Tư, 18 tháng 7, 2018

    CÁCH NÓI “LỤC LÂM HẢO HÁN” CÓ LAI LỊCH NHƯ THẾ NÀO

              Cách nói “Lục Lâm hảo hán” 绿林好汉có nguồn gốc từ quân khởi nghĩa Lục Lâm 绿林.
              Cuối thời Tây Hán, Hán Nguyên Đế 汉元帝, Hán Thành Đế 汉成帝 hoang dâm vô độ, triều chính hủ bại, đất đai bị kiêm tính nghiêm trọng, dẫn đến mâu thuẫn giai cấp gay gắt. Năm công nguyên thứ 8, ngoại thích Vương Mãng 王莽  soán quyền đoạt vị.
              Vương Mãng sau khi soán vị không những không tu dưỡng tâm tính mà còn sáng ban lệnh chiều thay đổi, không ngừng phát động chiến tranh đối với dân tộc thiểu số, làm tăng thêm nỗi thống khổ của dân. Việc đem đất đai toàn quốc đổi làm chính sách vương điền đã xúc phạm đến lợi ích của địa chủ quan liêu, đem nô tì tư gia đổi làm chính sách tư thuộc (1), lại đắc tội với giai tầng quý tộc, thêm thiên tai liên miên, thế là nhân sĩ các lộ lần lượt khởi nghĩa phản kháng.
              Nghe nói, tại Nam quận 南郡  Kinh Châu 荆州 và quận Giang Hạ 江夏, thiên tai cực kì nghiêm trọng, bách tính sống nhờ vào rễ cỏ vỏ cây. Do bởi dân bị nạn tai quá nhiều, vỏ cây rễ cỏ ở nơi đó cũng không có để ăn, cho nên nhiều người phải lưu li thất sở.
              Trong số bách tính cùng khổ này có hai người thâm minh đại nghĩa, họ khuyên mọi người rằng:
              - Chúng ta đều là những người chịu khổ chịu nạn. Sở dĩ chúng ta không có cái ăn đều là do Vương Mãng gây ra. Chúng ta phải lật đổ hắn, như vậy mọi người mới có cái ăn.
              Bách tính nghe họ nói rất có lí, thế là tôn hai người lên làm thủ lĩnh, dựng cờ khởi nghĩa. Hai người hiệu triệu bách tính khởi nghĩa này chính là Vương Khuông 王匡 và Vương Phụng 王凤 trong lịch sử.
              Số người phản kháng sự thống trị của Vương Mãng không ngừng tăng lên, nhanh chóng phát triển đến cả ngàn người. Năm công nguyên thứ 17, họ chiếm lĩnh núi Lục Lâm, đồng thời lấy núi đó làm cứ điểm, nhanh chóng khuếch trương thế lực ra chung quanh. Đội quân khởi nghĩa tập kết tại núi Lục Lâm này được mọi người gọi là “Lục Lâm quân” 绿林军
              Trong cuộc đấu tranh chống lại Vương Mãng, quân Lục Lâm được sự ủng hộ của Lưu Tú 刘秀và quân Xích Mi 赤眉 do Phàn Sùng 樊崇 lãnh đạo. Năm công nguyên thứ 23, quân Lục Lâm tấn công Trường An, giành được thắng lợi.
              Mặc dù sau này quân Lục Lâm phân hoá rồi tan rã, nhưng quân Lục Lâm phản kháng bạo ngược rất được lòng dân, mọi người gọi họ là “Lục Lâm hảo hán”. Về sau, “Lục Lâm hảo hán” phiếm chỉ nhóm người tụ tập tại núi rừng chống lại quan phủ hoặc đi cướp đoạt tài vật.

    Chú của người dịch
    1- Vương Mãng 王莽  sau khi soán ngôi nhà Hán, năm Thuỷ Kiến Quốc 始建国 nguyên niên (năm công nguyên thứ 9) đã hạ chiếu tuyên bố “thiên hạ điền” 天下田 đổi gọi là “vương điền” 王田, “nô tì” 奴婢 đổi gọi là “tư thuộc” 私属. “Chính sách vương điền” và “chính sách tư thuộc” quy định, đất đai toàn quốc và nô tì đều là sở hữu của hoàng đế,  không được mua bán.

                                                     Huỳnh Chương Hưng
                                                      Quy Nhơn 18/7/2018

    Nguyên tác Trung văn
    Trong quyển
    THÚ VỊ VĂN HOÁ TRI THỨC ĐẠI TOÀN
    趣味文化知识大全
    Thanh Thạch 青石 biên soạn
    Trung Quốc Hoa kiều xuất bản xã, 2013

    Dịch thuật: Cách nói "Lục Lâm hảo hán" có lai lịch như thế nào

    Đăng lúc  22:05  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    CÁCH NÓI “LỤC LÂM HẢO HÁN” CÓ LAI LỊCH NHƯ THẾ NÀO

              Cách nói “Lục Lâm hảo hán” 绿林好汉có nguồn gốc từ quân khởi nghĩa Lục Lâm 绿林.
              Cuối thời Tây Hán, Hán Nguyên Đế 汉元帝, Hán Thành Đế 汉成帝 hoang dâm vô độ, triều chính hủ bại, đất đai bị kiêm tính nghiêm trọng, dẫn đến mâu thuẫn giai cấp gay gắt. Năm công nguyên thứ 8, ngoại thích Vương Mãng 王莽  soán quyền đoạt vị.
              Vương Mãng sau khi soán vị không những không tu dưỡng tâm tính mà còn sáng ban lệnh chiều thay đổi, không ngừng phát động chiến tranh đối với dân tộc thiểu số, làm tăng thêm nỗi thống khổ của dân. Việc đem đất đai toàn quốc đổi làm chính sách vương điền đã xúc phạm đến lợi ích của địa chủ quan liêu, đem nô tì tư gia đổi làm chính sách tư thuộc (1), lại đắc tội với giai tầng quý tộc, thêm thiên tai liên miên, thế là nhân sĩ các lộ lần lượt khởi nghĩa phản kháng.
              Nghe nói, tại Nam quận 南郡  Kinh Châu 荆州 và quận Giang Hạ 江夏, thiên tai cực kì nghiêm trọng, bách tính sống nhờ vào rễ cỏ vỏ cây. Do bởi dân bị nạn tai quá nhiều, vỏ cây rễ cỏ ở nơi đó cũng không có để ăn, cho nên nhiều người phải lưu li thất sở.
              Trong số bách tính cùng khổ này có hai người thâm minh đại nghĩa, họ khuyên mọi người rằng:
              - Chúng ta đều là những người chịu khổ chịu nạn. Sở dĩ chúng ta không có cái ăn đều là do Vương Mãng gây ra. Chúng ta phải lật đổ hắn, như vậy mọi người mới có cái ăn.
              Bách tính nghe họ nói rất có lí, thế là tôn hai người lên làm thủ lĩnh, dựng cờ khởi nghĩa. Hai người hiệu triệu bách tính khởi nghĩa này chính là Vương Khuông 王匡 và Vương Phụng 王凤 trong lịch sử.
              Số người phản kháng sự thống trị của Vương Mãng không ngừng tăng lên, nhanh chóng phát triển đến cả ngàn người. Năm công nguyên thứ 17, họ chiếm lĩnh núi Lục Lâm, đồng thời lấy núi đó làm cứ điểm, nhanh chóng khuếch trương thế lực ra chung quanh. Đội quân khởi nghĩa tập kết tại núi Lục Lâm này được mọi người gọi là “Lục Lâm quân” 绿林军
              Trong cuộc đấu tranh chống lại Vương Mãng, quân Lục Lâm được sự ủng hộ của Lưu Tú 刘秀và quân Xích Mi 赤眉 do Phàn Sùng 樊崇 lãnh đạo. Năm công nguyên thứ 23, quân Lục Lâm tấn công Trường An, giành được thắng lợi.
              Mặc dù sau này quân Lục Lâm phân hoá rồi tan rã, nhưng quân Lục Lâm phản kháng bạo ngược rất được lòng dân, mọi người gọi họ là “Lục Lâm hảo hán”. Về sau, “Lục Lâm hảo hán” phiếm chỉ nhóm người tụ tập tại núi rừng chống lại quan phủ hoặc đi cướp đoạt tài vật.

    Chú của người dịch
    1- Vương Mãng 王莽  sau khi soán ngôi nhà Hán, năm Thuỷ Kiến Quốc 始建国 nguyên niên (năm công nguyên thứ 9) đã hạ chiếu tuyên bố “thiên hạ điền” 天下田 đổi gọi là “vương điền” 王田, “nô tì” 奴婢 đổi gọi là “tư thuộc” 私属. “Chính sách vương điền” và “chính sách tư thuộc” quy định, đất đai toàn quốc và nô tì đều là sở hữu của hoàng đế,  không được mua bán.

                                                     Huỳnh Chương Hưng
                                                      Quy Nhơn 18/7/2018

    Nguyên tác Trung văn
    Trong quyển
    THÚ VỊ VĂN HOÁ TRI THỨC ĐẠI TOÀN
    趣味文化知识大全
    Thanh Thạch 青石 biên soạn
    Trung Quốc Hoa kiều xuất bản xã, 2013

    Thứ Ba, 17 tháng 7, 2018


    BIỆT XƯNG CỦA NGUYỆT LỆNH TRONG ĐỀ KHOẢN 

    1- Tháng 1:  Chinh nguyệt 正月, Mạnh xuân 孟春, Sơ xuân 初春, Tảo xuân 早春, Thượng xuân 上春, Đoan xuân 端春, Chinh nguyệt 征月, Sơ nguyệt 初月, Thái nguyệt 泰月, Dương nguyệt 阳月, Dần nguyệt 寅月, Mạnh dương 孟阳, Xuân dương 春阳, Sơ dương 初阳, Thủ dương 首阳, Tân chính 新正, Nguyệt chính 月正, Khai tuế 开岁, Hiến tuế 献岁, Phương tuế 芳岁, Hoa tuế 华岁, Tuế tuế 岁岁.
    2- Tháng 2: Trọng xuân 仲春, Trung xuân 中春, Điềm xuân 甜春, Chính xuân 正春, Trọng dương 仲阳, Như nguyệt 如月, Hạnh nguyệt 杏月, Lệ nguyệt 丽月, Lệnh nguyệt 令月, Mão nguyệt 卯月, Hoa triêu 花朝, Trúc thu 竹秋.
    3- Tháng 3: Quý xuân 季春, Mộ xuân 暮春, Vãn xuân 晚春, Mạt xuân 末春, Gia nguyệt 嘉月, Tàm nguyệt 蚕月, Hoa nguyệt 花月, Đào nguyệt 桃月, Đào lãng 桃浪.
    4- Tháng 4: Sơ hạ 初夏, Thủ hạ 首夏, Mạnh hạ 孟夏, Duy hạ 维夏, Hoè hạ 槐夏, Trọng nguyệt 仲月, Mai nguyệt 梅月, Âm nguyệt 阴月, Phạp nguyệt 乏月, Mạch nguyệt 麦月, Dư nguyệt 余月, Tị nguyệt 巳月, Hoè nguyệt 槐月, Thanh hoà nguyệt 清和月, Trung lữ 中吕, Mạch hầu 麦侯, Mạch thu 麦秋.
    5- Tháng 5: Trọng hạ 仲夏, Trung hạ 中夏, Lựu nguyệt 榴月, Bồ nguyệt 蒲月, Ngọ nguyệt 午月, Cao nguyệt 皋月, Thiên trung 天中, Đoan dương 端阳.
    6- Tháng 6: Quý hạ 季夏, Vãn hạ 晚夏, Mộ hạ 暮夏, Thử nguyệt 暑月, Quý nguyệt 季月, Hà nguyệt 荷月, Phục nguyệt 伏月.
    7- Tháng 7: Thủ thu 首秋, Tảo thu 早秋, Tân thu 新秋, Sơ thu 初秋, Mạnh thu 孟秋, Thượng thu 上秋, Lan nguyệt 兰月, Thân nguyệt 申月, Xảo nguyệt 巧月, Tương nguyệt 相月, Sương nguyệt 霜月.
    8- Tháng 8: Trọng thu 仲秋, Chính thu 正秋, Quế nguyệt 桂月, Tráng nguyệt 壮月, Dậu nguyệt 酉月, Hoạch nguyệt 获月, Trọng thương 仲商, Nam lữ 南吕.
    9- Tháng 9: Mộ thu 暮秋, Vãn thu 晚秋, Quý thu 季秋, Lương thu 凉秋, Cúc nguyệt 菊月, Tuất nguyệt 戌月, Huyền nguyệt 玄月, Thu bạch 秋白, Sương tự 霜序, Mộ thương 暮商, Quý thương 季商.
    10- Tháng 10: Sơ đông 初冬, Mạnh đông 孟冬, Thượng đông 上冬, Khai đông 开冬, Cát nguyệt 吉月, Lương nguyệt 良月, Khôn nguyệt 坤月, Dương nguyệt 阳月, Tiểu dương xuân 小阳春, Hợi nguyệt 亥月, Ứng chung 应钟.
    11- Tháng 11: Trọng đông 仲冬, Trung đông 中冬, Tí nguyệt 子月, Cô nguyệt 辜月, Long tiềm nguyệt 龙潜月, Hà nguyệt 葭月, Sướng nguyệt 畅月, Hoàng chung 黄钟.
    12- Tháng 12: Nghiêm đông 严冬, Quý đông 季冬, Tàn đông 残冬, Mạt đông 末冬, Mộ đông 暮冬, Cùng đông 穷冬, Lạp đông 腊冬, Nghiêm nguyệt 严月, Băng nguyệt 冰月, Đại lữ 大吕.

    Chú của người dịch
    Đề khoản 题款: cũng gọi là “lạc khoản” 落款.
    Trong hội hoạ Trung Quốc, đề khoản bao gồm 2 nội dung, đó là “đề” và “khoản”. Đề là ghi bài thơ, câu thơ trên bức hoạ; khoản là ghi ngày tháng năm, họ tên, biệt hiệu cùng đóng ấn chương trên bức hoạ.

                                                                       Huỳnh Chương Hưng
                                                                       Quy Nhơn 17/7/2018

    Nguồn
    TRUNG QUỐC HỘI HOẠ VĂN HOÁ
    中国绘画文化
    Tác giả: Tần Mộng Na 秦梦娜
    Thời Sự xuất bản xã, 2008.

    Dịch thuật: Biệt xưng của nguyệt lệnh trong đề khoản

    Đăng lúc  19:38  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »


    BIỆT XƯNG CỦA NGUYỆT LỆNH TRONG ĐỀ KHOẢN 

    1- Tháng 1:  Chinh nguyệt 正月, Mạnh xuân 孟春, Sơ xuân 初春, Tảo xuân 早春, Thượng xuân 上春, Đoan xuân 端春, Chinh nguyệt 征月, Sơ nguyệt 初月, Thái nguyệt 泰月, Dương nguyệt 阳月, Dần nguyệt 寅月, Mạnh dương 孟阳, Xuân dương 春阳, Sơ dương 初阳, Thủ dương 首阳, Tân chính 新正, Nguyệt chính 月正, Khai tuế 开岁, Hiến tuế 献岁, Phương tuế 芳岁, Hoa tuế 华岁, Tuế tuế 岁岁.
    2- Tháng 2: Trọng xuân 仲春, Trung xuân 中春, Điềm xuân 甜春, Chính xuân 正春, Trọng dương 仲阳, Như nguyệt 如月, Hạnh nguyệt 杏月, Lệ nguyệt 丽月, Lệnh nguyệt 令月, Mão nguyệt 卯月, Hoa triêu 花朝, Trúc thu 竹秋.
    3- Tháng 3: Quý xuân 季春, Mộ xuân 暮春, Vãn xuân 晚春, Mạt xuân 末春, Gia nguyệt 嘉月, Tàm nguyệt 蚕月, Hoa nguyệt 花月, Đào nguyệt 桃月, Đào lãng 桃浪.
    4- Tháng 4: Sơ hạ 初夏, Thủ hạ 首夏, Mạnh hạ 孟夏, Duy hạ 维夏, Hoè hạ 槐夏, Trọng nguyệt 仲月, Mai nguyệt 梅月, Âm nguyệt 阴月, Phạp nguyệt 乏月, Mạch nguyệt 麦月, Dư nguyệt 余月, Tị nguyệt 巳月, Hoè nguyệt 槐月, Thanh hoà nguyệt 清和月, Trung lữ 中吕, Mạch hầu 麦侯, Mạch thu 麦秋.
    5- Tháng 5: Trọng hạ 仲夏, Trung hạ 中夏, Lựu nguyệt 榴月, Bồ nguyệt 蒲月, Ngọ nguyệt 午月, Cao nguyệt 皋月, Thiên trung 天中, Đoan dương 端阳.
    6- Tháng 6: Quý hạ 季夏, Vãn hạ 晚夏, Mộ hạ 暮夏, Thử nguyệt 暑月, Quý nguyệt 季月, Hà nguyệt 荷月, Phục nguyệt 伏月.
    7- Tháng 7: Thủ thu 首秋, Tảo thu 早秋, Tân thu 新秋, Sơ thu 初秋, Mạnh thu 孟秋, Thượng thu 上秋, Lan nguyệt 兰月, Thân nguyệt 申月, Xảo nguyệt 巧月, Tương nguyệt 相月, Sương nguyệt 霜月.
    8- Tháng 8: Trọng thu 仲秋, Chính thu 正秋, Quế nguyệt 桂月, Tráng nguyệt 壮月, Dậu nguyệt 酉月, Hoạch nguyệt 获月, Trọng thương 仲商, Nam lữ 南吕.
    9- Tháng 9: Mộ thu 暮秋, Vãn thu 晚秋, Quý thu 季秋, Lương thu 凉秋, Cúc nguyệt 菊月, Tuất nguyệt 戌月, Huyền nguyệt 玄月, Thu bạch 秋白, Sương tự 霜序, Mộ thương 暮商, Quý thương 季商.
    10- Tháng 10: Sơ đông 初冬, Mạnh đông 孟冬, Thượng đông 上冬, Khai đông 开冬, Cát nguyệt 吉月, Lương nguyệt 良月, Khôn nguyệt 坤月, Dương nguyệt 阳月, Tiểu dương xuân 小阳春, Hợi nguyệt 亥月, Ứng chung 应钟.
    11- Tháng 11: Trọng đông 仲冬, Trung đông 中冬, Tí nguyệt 子月, Cô nguyệt 辜月, Long tiềm nguyệt 龙潜月, Hà nguyệt 葭月, Sướng nguyệt 畅月, Hoàng chung 黄钟.
    12- Tháng 12: Nghiêm đông 严冬, Quý đông 季冬, Tàn đông 残冬, Mạt đông 末冬, Mộ đông 暮冬, Cùng đông 穷冬, Lạp đông 腊冬, Nghiêm nguyệt 严月, Băng nguyệt 冰月, Đại lữ 大吕.

    Chú của người dịch
    Đề khoản 题款: cũng gọi là “lạc khoản” 落款.
    Trong hội hoạ Trung Quốc, đề khoản bao gồm 2 nội dung, đó là “đề” và “khoản”. Đề là ghi bài thơ, câu thơ trên bức hoạ; khoản là ghi ngày tháng năm, họ tên, biệt hiệu cùng đóng ấn chương trên bức hoạ.

                                                                       Huỳnh Chương Hưng
                                                                       Quy Nhơn 17/7/2018

    Nguồn
    TRUNG QUỐC HỘI HOẠ VĂN HOÁ
    中国绘画文化
    Tác giả: Tần Mộng Na 秦梦娜
    Thời Sự xuất bản xã, 2008.

    Thứ Hai, 16 tháng 7, 2018

    LỄ TỤC
    (kì 4)

    TANG TÁNG

              Lúc người sắp mất gọi là “chúc khoáng” 属纩  (Lễ kí – Tang đại kí 礼记 - 丧大记). “Chúc”   có nghĩa là đặt, để; “khoáng” là bông tơ mới. Bông tơ rất nhẹ. Theo tập tục cổ, người xưa đem bông tơ đặt nơi mũi người sắp mất, thử xem có còn hơi thở không. Điều này không nhất định phải thành phong tục, nhiều lắm cũng chỉ là phong tục của một địa phương mà thôi, nhưng “chúc khoáng” lại trở thành từ chỉ lâm chung.
              Thời cổ, khi có người vừa mới qua đời, người sống phải lên nóc nhà quay mặt về hướng bắc để chiêu hồn người mất, đó gọi là “phục” , ý nghĩa là gọi hồn người mất trở về lại thân thể. “Phục” mà không tỉnh lại, sau đó mới lo tang sự.
              Thời cổ, người sau khi mất, phải tắm rửa thi thể. Trong Lễ kí – Tang đại kí 礼记 - 丧大记  có ghi chép việc đó. Phong tục này được duy trì cho tới đời sau. Trong Tấn thư – Vương Tường truyện 晋书 - 王祥传  chép chuyện Vương Tường 王祥  lúc sắp mất, dặn con rằng:
    Khí tuyệt đản tẩy thủ túc, bất tu mộc dục.
    气绝但洗手足,不须沐浴
    (Khi tắt thở chỉ rửa tay chân là được, không cần phải tắm gội)
    Có thể thấy, người sau khi mất phải tắm rửa.
              Sau khi mất có nghi thức “liệm” (). Có tiểu liệm và đại liệm. Tiểu liệm là mặc quần áo cho thi thể, càng quý tộc, quần áo càng nhiều. Đại liệm là đặt thi thể vào quan tài. Lúc liệm, phải “phạn hàm” 饭含cho người mất, cho nên trong Chiến quốc sách – Triệu sách 战国策 - 赵策 có nói:
    Trâu Lỗ chi thần, sinh tắc bất đắc sự dưỡng, tử tắc bất đắc phạn hàm (1).
    邹鲁之臣, 生则不得事养, 死则不得饭含.
              (Bề tôi hai nước Trâu Lỗ, lúc quốc quân còn sống thì không thể phụng thờ, lúc quốc quân qua đời thì không thể phạn hàm).
              Nhập liệm xong, lúc đợi đem táng gọi là “tẫn” . Trong Luận ngữ - Hương đảng 论语 - 乡党 có ghi:
    Bằng hữu tử, vô sở quy, viết: ‘Vu ngã tẫn’.
    朋友死, 无所归, : 于我殡.
    (Bạn bè mất, nếu không có nơi để về, Khổng Tử bảo: ‘Để linh cữu ở nhà tôi’.)
              Trong Tả truyện – Hi Công tam thập nhị niên 左传 - 僖公三十二年 có câu:
    Đông, Tấn Văn Công tuất. Canh Thìn, tương tẫn vu Khúc Ốc
    , 晋文公卒. 庚辰, 将殡于曲沃
    (Mùa đông, Tấn Văn Công mất. Ngày Canh Thìn, đưa linh cữu đến đặt ở Khúc Ốc)
    Ở đây là nói linh cữu Tấn Văn Công được đặt tại Khúc Ốc, không phải là táng. Theo Xuân Thu 春秋,  Tả truyện 左传, tháng 4 năm sau mới táng Tấn Văn Công. Đời sau gọi “xuất tẫn” 出殡  tức đưa linh cữu đến nơi mai táng.
              Giới quý tộc khi xuất tẫn còn rất nhiều điều phô trương.
              Quy củ tống táng đó là áo trắng “chấp phất” 执绋 (cầm phất). Phất là sợi dây để kéo xe có đặt linh cữu. Nguyên ý của chấp phất là bà con thân hữu giúp kéo xe, trên thực tế đó chỉ là hình thức. Về sau khi xuất tẫn, 2 bên hàng người tiễn đưa kéo 2 sợi dây, đó là di chế của chấp phất.
              “Vãn ca” 挽歌 lúc ban đầu là lời ca của những người kéo linh cữu. Bài Giới lộ , Hao lí 蒿里 trong Tương hoà khúc 相和曲 ở cổ nhạc phủ đều là vãn ca. Đào Uyên Minh 陶渊明 có 3 bài Vãn ca thi 挽歌诗, “vãn liên” 挽联 (輓联) ở đời sau chính là từ vãn ca diễn biến mà ra.
              Dưới đây sẽ nói về táng.
              Với chủ nô lệ đời Ân có chế độ “nhân tuẫn” 人殉 (chôn người sống theo người chết). Đời sau biết sức người là rất quý, nên đã thay bằng “dũng” . “Dũng” là tượng người bằng gỗ hoặc bằng đất. Sau này Khổng Tử  phản đối việc dùng “dũng”. Mạnh Tử nói:
    Trọng Ni viết: ‘Thuỷ tác dũng giả, kì vô hậu hồ!’ Vi kì tượng nhân nhi dụng chi dã.
              仲尼曰: ‘始作俑者, 其无后乎!’ 为其象人而用之也.
         (Trọng Ni nói rằng: ‘Người đầu tiên làm ra dũng, sẽ không có con cháu đời sau chăng!’ Ý nói là vì làm ra tượng giống người để sử dụng)
                           (Mạnh Tử - Lương Huệ Vương thượng 孟子 - 梁惠王上)
              Từ thời Ân đến thời Chiến Quốc, giai cấp thống trị vẫn còn đem ngựa, xe mà người mất lúc họ sống sử dụng chôn vào trong mộ. Còn có đủ loại những vật phẩm tuỳ táng khác bao gồm nhạc khí, binh khí, ẩm thực khí bằng đồng, có cả những vật trang sức được chế tạo từ ngọc, từ xương thú cùng những loại khác. Càng quý tộc, tuỳ táng phẩm càng nhiều, càng tinh xảo. Cũng có một số “minh khí” 明器 (khí vật chôn kèm theo) chuyên dùng để tuỳ táng. Đời Hán, những đồ vật dùng thường ngày được mô phỏng chế tác thành vật tuỳ táng bằng gốm, tính tượng trưng của minh khí càng thể hiện rõ.
              Trong mộ của giai cấp thống trị quý tộc đa phần đều có quách (), quách ở ngoài quan, chủ yếu dùng để bảo vệ quan tài, có quan tài có đến ba bốn lớp quách. Trong Luận ngữ - Tiên tiến论语  - 先进  nói rằng, con của Khổng Tử là Khổng Lí 孔鲤  khi mất “hữu quan nhi vô quách” 有棺而无椁  (có quan mà không có quách), có thể thấy quách đối với dân thường không cần phải có đầy đủ.
              Trên đây chỉ là tang táng của giới quý tộc sĩ đại phu, còn tang táng của thứ nhân lại là một việc khác. Đối với “thất phu tiện nhân” mà nói, cho dù là tang táng kiệm ước nhất, cũng đã “gần như kiệt quệ gia đình”. Thứ nhân khi mất, nhiều lắm cũng chỉ có thể “cảo táng” 稿葬 (an táng sơ sài), nếu gặp phải năm mất mùa đói kém, thì đành chết đói và bị lấp nơi cống rãnh.
              Trong Lễ kí – Đàn Cung thượng礼记 - 檀弓上 nói rằng:
    Cổ dã mộ nhi bất phần
    古也墓而不坟
    (Thời cổ, chôn thành mộ mà không vun nấm)
              Căn cứ vào báo cáo của công tác khảo cổ điền dã hiện đại, chúng ta biết được mộ ở thời Ân và thời Tây Chu vẫn chưa vun nấm, về sau trên mộ mới vun thêm nấm, chủ yếu là để đánh dấu ngôi mộ, thứ đến là để tăng thêm độ khó cho kẻ đào trộm.
              Trong những văn hiến thời Tiên Tần có ghi chép về việc hợp táng. Như Thi kinh – Vương phong – Đại xa 诗经 - 王风 - 大车 có câu:
    Tử tắc đồng huyệt
    死则同穴
    (Khi mất chôn chung một huyệt)
              Trong Lễ kí – Đàn Cung thượng 礼记 - 檀弓上  có chép việc Khổng Tử hợp táng phụ mẫu tại đất Phòng . Khảo cổ điền dã hiện đại đã phát hiện trong một ngôi mộ thời Chiến Quốc có kết cấu 1 quách 2 quan. Các nhà làm công tác khảo cổ cho rằng, việc phu phụ hợp táng lưu hành phổ biến vào giữa thời Tây Hán trở về sau. Trong Khổng tước đông nam phi 孔雀东南飞  có nói:
    Lưỡng gia cầu hợp táng
    Hợp táng Hoá sơn bàng
    Đông tây thực tùng bá
    Tả hữu thực ngô đồng
    两家求合葬
    合葬华山傍
    东西植松柏
    左右植梧桐
    (Hai nhà mong được hợp táng
    Hợp táng bên cạnh Hoá sơn
    Phía đông phía tây trồng cây tùng cây bá
    Bên phải bên trái trồng cây ngô đồng)
              Trọng Trường Thống 仲长统 trong Xương ngôn 昌言 có nói:
    Cổ chi táng giả, tùng bá ngô đồng dĩ thức phần dã.
    古之葬者, 松柏梧桐以识坟也
    (Thời cổ khi táng, trồng cây tùng cây bá và cây ngô đồng bên cạnh để biết đó là phần mộ)
              Phong tục này lưu truyền được rất lâu.  (hết)

    Chú của nguyên tác
    1- Phạn hàm 饭含: tức bỏ gạo vào miệng người chết. còn được viết là , tức bỏ ngọc vào miệng người chết.

                                                                   Huỳnh Chương Hưng
                                                                   Quy Nhơn 16/7/2018

    Nguồn
    TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI VĂN HOÁ THƯỜNG THỨC
    中国古代文化常识
    Chủ biên: Vương Lực 王力
    Bắc Kinh: Trung Quốc Nhân dân Đại học học xuất bản xã, 2012

    Dịch thuật: Lễ tục (kì 4 - Tang táng)

    Đăng lúc  22:36  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    LỄ TỤC
    (kì 4)

    TANG TÁNG

              Lúc người sắp mất gọi là “chúc khoáng” 属纩  (Lễ kí – Tang đại kí 礼记 - 丧大记). “Chúc”   có nghĩa là đặt, để; “khoáng” là bông tơ mới. Bông tơ rất nhẹ. Theo tập tục cổ, người xưa đem bông tơ đặt nơi mũi người sắp mất, thử xem có còn hơi thở không. Điều này không nhất định phải thành phong tục, nhiều lắm cũng chỉ là phong tục của một địa phương mà thôi, nhưng “chúc khoáng” lại trở thành từ chỉ lâm chung.
              Thời cổ, khi có người vừa mới qua đời, người sống phải lên nóc nhà quay mặt về hướng bắc để chiêu hồn người mất, đó gọi là “phục” , ý nghĩa là gọi hồn người mất trở về lại thân thể. “Phục” mà không tỉnh lại, sau đó mới lo tang sự.
              Thời cổ, người sau khi mất, phải tắm rửa thi thể. Trong Lễ kí – Tang đại kí 礼记 - 丧大记  có ghi chép việc đó. Phong tục này được duy trì cho tới đời sau. Trong Tấn thư – Vương Tường truyện 晋书 - 王祥传  chép chuyện Vương Tường 王祥  lúc sắp mất, dặn con rằng:
    Khí tuyệt đản tẩy thủ túc, bất tu mộc dục.
    气绝但洗手足,不须沐浴
    (Khi tắt thở chỉ rửa tay chân là được, không cần phải tắm gội)
    Có thể thấy, người sau khi mất phải tắm rửa.
              Sau khi mất có nghi thức “liệm” (). Có tiểu liệm và đại liệm. Tiểu liệm là mặc quần áo cho thi thể, càng quý tộc, quần áo càng nhiều. Đại liệm là đặt thi thể vào quan tài. Lúc liệm, phải “phạn hàm” 饭含cho người mất, cho nên trong Chiến quốc sách – Triệu sách 战国策 - 赵策 có nói:
    Trâu Lỗ chi thần, sinh tắc bất đắc sự dưỡng, tử tắc bất đắc phạn hàm (1).
    邹鲁之臣, 生则不得事养, 死则不得饭含.
              (Bề tôi hai nước Trâu Lỗ, lúc quốc quân còn sống thì không thể phụng thờ, lúc quốc quân qua đời thì không thể phạn hàm).
              Nhập liệm xong, lúc đợi đem táng gọi là “tẫn” . Trong Luận ngữ - Hương đảng 论语 - 乡党 có ghi:
    Bằng hữu tử, vô sở quy, viết: ‘Vu ngã tẫn’.
    朋友死, 无所归, : 于我殡.
    (Bạn bè mất, nếu không có nơi để về, Khổng Tử bảo: ‘Để linh cữu ở nhà tôi’.)
              Trong Tả truyện – Hi Công tam thập nhị niên 左传 - 僖公三十二年 có câu:
    Đông, Tấn Văn Công tuất. Canh Thìn, tương tẫn vu Khúc Ốc
    , 晋文公卒. 庚辰, 将殡于曲沃
    (Mùa đông, Tấn Văn Công mất. Ngày Canh Thìn, đưa linh cữu đến đặt ở Khúc Ốc)
    Ở đây là nói linh cữu Tấn Văn Công được đặt tại Khúc Ốc, không phải là táng. Theo Xuân Thu 春秋,  Tả truyện 左传, tháng 4 năm sau mới táng Tấn Văn Công. Đời sau gọi “xuất tẫn” 出殡  tức đưa linh cữu đến nơi mai táng.
              Giới quý tộc khi xuất tẫn còn rất nhiều điều phô trương.
              Quy củ tống táng đó là áo trắng “chấp phất” 执绋 (cầm phất). Phất là sợi dây để kéo xe có đặt linh cữu. Nguyên ý của chấp phất là bà con thân hữu giúp kéo xe, trên thực tế đó chỉ là hình thức. Về sau khi xuất tẫn, 2 bên hàng người tiễn đưa kéo 2 sợi dây, đó là di chế của chấp phất.
              “Vãn ca” 挽歌 lúc ban đầu là lời ca của những người kéo linh cữu. Bài Giới lộ , Hao lí 蒿里 trong Tương hoà khúc 相和曲 ở cổ nhạc phủ đều là vãn ca. Đào Uyên Minh 陶渊明 có 3 bài Vãn ca thi 挽歌诗, “vãn liên” 挽联 (輓联) ở đời sau chính là từ vãn ca diễn biến mà ra.
              Dưới đây sẽ nói về táng.
              Với chủ nô lệ đời Ân có chế độ “nhân tuẫn” 人殉 (chôn người sống theo người chết). Đời sau biết sức người là rất quý, nên đã thay bằng “dũng” . “Dũng” là tượng người bằng gỗ hoặc bằng đất. Sau này Khổng Tử  phản đối việc dùng “dũng”. Mạnh Tử nói:
    Trọng Ni viết: ‘Thuỷ tác dũng giả, kì vô hậu hồ!’ Vi kì tượng nhân nhi dụng chi dã.
              仲尼曰: ‘始作俑者, 其无后乎!’ 为其象人而用之也.
         (Trọng Ni nói rằng: ‘Người đầu tiên làm ra dũng, sẽ không có con cháu đời sau chăng!’ Ý nói là vì làm ra tượng giống người để sử dụng)
                           (Mạnh Tử - Lương Huệ Vương thượng 孟子 - 梁惠王上)
              Từ thời Ân đến thời Chiến Quốc, giai cấp thống trị vẫn còn đem ngựa, xe mà người mất lúc họ sống sử dụng chôn vào trong mộ. Còn có đủ loại những vật phẩm tuỳ táng khác bao gồm nhạc khí, binh khí, ẩm thực khí bằng đồng, có cả những vật trang sức được chế tạo từ ngọc, từ xương thú cùng những loại khác. Càng quý tộc, tuỳ táng phẩm càng nhiều, càng tinh xảo. Cũng có một số “minh khí” 明器 (khí vật chôn kèm theo) chuyên dùng để tuỳ táng. Đời Hán, những đồ vật dùng thường ngày được mô phỏng chế tác thành vật tuỳ táng bằng gốm, tính tượng trưng của minh khí càng thể hiện rõ.
              Trong mộ của giai cấp thống trị quý tộc đa phần đều có quách (), quách ở ngoài quan, chủ yếu dùng để bảo vệ quan tài, có quan tài có đến ba bốn lớp quách. Trong Luận ngữ - Tiên tiến论语  - 先进  nói rằng, con của Khổng Tử là Khổng Lí 孔鲤  khi mất “hữu quan nhi vô quách” 有棺而无椁  (có quan mà không có quách), có thể thấy quách đối với dân thường không cần phải có đầy đủ.
              Trên đây chỉ là tang táng của giới quý tộc sĩ đại phu, còn tang táng của thứ nhân lại là một việc khác. Đối với “thất phu tiện nhân” mà nói, cho dù là tang táng kiệm ước nhất, cũng đã “gần như kiệt quệ gia đình”. Thứ nhân khi mất, nhiều lắm cũng chỉ có thể “cảo táng” 稿葬 (an táng sơ sài), nếu gặp phải năm mất mùa đói kém, thì đành chết đói và bị lấp nơi cống rãnh.
              Trong Lễ kí – Đàn Cung thượng礼记 - 檀弓上 nói rằng:
    Cổ dã mộ nhi bất phần
    古也墓而不坟
    (Thời cổ, chôn thành mộ mà không vun nấm)
              Căn cứ vào báo cáo của công tác khảo cổ điền dã hiện đại, chúng ta biết được mộ ở thời Ân và thời Tây Chu vẫn chưa vun nấm, về sau trên mộ mới vun thêm nấm, chủ yếu là để đánh dấu ngôi mộ, thứ đến là để tăng thêm độ khó cho kẻ đào trộm.
              Trong những văn hiến thời Tiên Tần có ghi chép về việc hợp táng. Như Thi kinh – Vương phong – Đại xa 诗经 - 王风 - 大车 có câu:
    Tử tắc đồng huyệt
    死则同穴
    (Khi mất chôn chung một huyệt)
              Trong Lễ kí – Đàn Cung thượng 礼记 - 檀弓上  có chép việc Khổng Tử hợp táng phụ mẫu tại đất Phòng . Khảo cổ điền dã hiện đại đã phát hiện trong một ngôi mộ thời Chiến Quốc có kết cấu 1 quách 2 quan. Các nhà làm công tác khảo cổ cho rằng, việc phu phụ hợp táng lưu hành phổ biến vào giữa thời Tây Hán trở về sau. Trong Khổng tước đông nam phi 孔雀东南飞  có nói:
    Lưỡng gia cầu hợp táng
    Hợp táng Hoá sơn bàng
    Đông tây thực tùng bá
    Tả hữu thực ngô đồng
    两家求合葬
    合葬华山傍
    东西植松柏
    左右植梧桐
    (Hai nhà mong được hợp táng
    Hợp táng bên cạnh Hoá sơn
    Phía đông phía tây trồng cây tùng cây bá
    Bên phải bên trái trồng cây ngô đồng)
              Trọng Trường Thống 仲长统 trong Xương ngôn 昌言 có nói:
    Cổ chi táng giả, tùng bá ngô đồng dĩ thức phần dã.
    古之葬者, 松柏梧桐以识坟也
    (Thời cổ khi táng, trồng cây tùng cây bá và cây ngô đồng bên cạnh để biết đó là phần mộ)
              Phong tục này lưu truyền được rất lâu.  (hết)

    Chú của nguyên tác
    1- Phạn hàm 饭含: tức bỏ gạo vào miệng người chết. còn được viết là , tức bỏ ngọc vào miệng người chết.

                                                                   Huỳnh Chương Hưng
                                                                   Quy Nhơn 16/7/2018

    Nguồn
    TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI VĂN HOÁ THƯỜNG THỨC
    中国古代文化常识
    Chủ biên: Vương Lực 王力
    Bắc Kinh: Trung Quốc Nhân dân Đại học học xuất bản xã, 2012

    Chủ Nhật, 15 tháng 7, 2018

    CHỮ “SONG”
     
    Bính âm shuang (thanh điệu 1)

    4 nét
    18 nét

    1- Hai, đa phần chỉ thành đôi thành cặp, đối lập với “đơn” 单:
              Song thân 双亲 /  song thủ 双手 / song phương 双方 / thành song 成双 / cái thế vô song 盖世无双.
    2- Lượng từ, dùng cho những vật thành đôi:
              Nhất song khoái tử  一双筷子 / lưỡng song hài 两双鞋 / mãi song thủ sáo 买双手套.
    3- Số chẵn:
              Song hiệu 双号/ song số 双数.
    4- Gấp đôi:
              Song phận 双份 / song liệu 双料.

    Thuyết giải
              Chữ , bộ , kết cấu trái phải. Chữ 又 trong cổ văn nghĩa là tay (thủ ), là hai tay song song, thuộc chữ hội ý. Trong Tự hối 字汇 có ghi:
    , tục雙 tự
    , 雙字
    (chữ , tục là chữ )
    Ở Liệt nữ truyện 列女传, Thủ kinh thi thoại 取经诗话, bản san khắc đời Tống đã thấy. Những bản san khắc đời Minh, đời Thanh sử dụng rất rộng rãi. Chữ 双 có thể dùng làm thiên bàng giản hoá.
              Chữ thuộc về bộ (chuy), biểu thị tay cầm 2 con chim (chuy ), thuộc chữ hội ý.

                                                          Huỳnh Chương Hưng
                                                          Quy Nhơn 15/7/2018

    Nguồn
    GIẢN HOÁ TỰ, PHỒN THỂ TỰ ĐỐI CHIẾU TỰ ĐIỂN
    简化字繁体字对照字典
    Chủ biên: Giang Lam Sinh 江蓝生, Lục Tôn Ngô 陆尊梧
    Thượng Hải – Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 1998

    Dịch thuật: Chữ "song" (Đối chiếu tự điển)

    Đăng lúc  19:54  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    CHỮ “SONG”
     
    Bính âm shuang (thanh điệu 1)

    4 nét
    18 nét

    1- Hai, đa phần chỉ thành đôi thành cặp, đối lập với “đơn” 单:
              Song thân 双亲 /  song thủ 双手 / song phương 双方 / thành song 成双 / cái thế vô song 盖世无双.
    2- Lượng từ, dùng cho những vật thành đôi:
              Nhất song khoái tử  一双筷子 / lưỡng song hài 两双鞋 / mãi song thủ sáo 买双手套.
    3- Số chẵn:
              Song hiệu 双号/ song số 双数.
    4- Gấp đôi:
              Song phận 双份 / song liệu 双料.

    Thuyết giải
              Chữ , bộ , kết cấu trái phải. Chữ 又 trong cổ văn nghĩa là tay (thủ ), là hai tay song song, thuộc chữ hội ý. Trong Tự hối 字汇 có ghi:
    , tục雙 tự
    , 雙字
    (chữ , tục là chữ )
    Ở Liệt nữ truyện 列女传, Thủ kinh thi thoại 取经诗话, bản san khắc đời Tống đã thấy. Những bản san khắc đời Minh, đời Thanh sử dụng rất rộng rãi. Chữ 双 có thể dùng làm thiên bàng giản hoá.
              Chữ thuộc về bộ (chuy), biểu thị tay cầm 2 con chim (chuy ), thuộc chữ hội ý.

                                                          Huỳnh Chương Hưng
                                                          Quy Nhơn 15/7/2018

    Nguồn
    GIẢN HOÁ TỰ, PHỒN THỂ TỰ ĐỐI CHIẾU TỰ ĐIỂN
    简化字繁体字对照字典
    Chủ biên: Giang Lam Sinh 江蓝生, Lục Tôn Ngô 陆尊梧
    Thượng Hải – Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 1998

    Thứ Bảy, 14 tháng 7, 2018

     ÁI LIÊN THUYẾT
    (tiếp theo)

    Giám định và thưởng thức
              Hoa sen (liên hoa 莲花) tức “hà hoa” 荷花, còn có biệt xưng “phù cừ” 芙蕖, “phù dung” 芙蓉, “hạm đạm” 菡萏 ... Trong Thi kinh 诗经có câu:
    Bỉ trạch chi bi
    Hữu bồ hạm đạm
    彼泽之陂
    有蒲菡萏
    (Nơi đầm kia
    Có cây bồ và hoa sen)
                                                           (Trần phong – Trạch  bi - 泽陂)
              Đại thi nhân Khuất Nguyên 屈原trong Li tao 离骚 cũng đã cao ngâm:
    Chế kị hà dĩ vi y hề
    Tập phù dung dĩ vi thường
    制芰荷以为衣兮
    集芙蓉以为裳
    (Chế lá kị lá sen làm áo
    Kết hoa phù dung làm xiêm)
              Trong một số lượng lớn thơ ca ngâm vịnh hoa sen của các đời, bài Ái liên thuyết 爱莲说 của Chu Đôn Di 周敦颐 là nổi tiếng nhất.
              Bài văn ngắn này có thể chia làm 2 đoạn. Đoạn thứ nhất tác giả miêu tả hoa sen, nói rõ nguyên nhân mà tác giả yêu thích, điểm minh cho ý của đề bài. Bài văn mở đầu với câu “Thuỷ lục thảo mộc chi hoa, khả ái giả thậm phiền”, trước tiên điểm xuất chữ “ái” trong đề mục, sau đó trong số các loài hoa của cây cỏ, tác giả nêu ra hai loại danh hoa là cúc và mẫu đơn để làm nền cho hoa sen. Cúc lăng sương ngạo lập, độc bão u hương, được thi nhân đời Tấn là Đào Uyên Minh ưa thích. Mẫu đơn màu sắc tươi đẹp, ung dung hoa quý, từ nhà Đường trở về sau được người đời sùng thượng.
              Khi tác giả điểm xuất hoa cúc và mẫu đơn đã tiếc mực như vàng, chỉ một bút lướt qua, bao nhiêu còn lại đều đổ dồn vào hoa sen mà tác giả riêng yêu.
              Hoa sen mọc lên từ bùn mà không nhiễm bẩn, thân tắm gội trong nước trong, đẹp nhưng không lả lơi, ngoại hình trong rỗng ngoài thẳng, không bò lan, không đâm cành, mùi hương thanh khiết thấm nhập tâm can, từ trong nước mọc lên dong dỏng cao, người ta chỉ có thể từ xa ngắm nhìn thưởng thức chứ không thể đến gần nâng niu sờ mó. Ở đây tác giả dùng liền 7 câu, miêu tả phẩm cách đáng quý của hoa sen từ các phương diện và đặc tính khác với những loài hoa khác, có thể nói là hình thần kiêm bị, khác nào như vẽ.
              Nếu bút mực của tác giả chỉ nói bao nhiêu đó, thế thì bài văn không thể nào gọi là một áng thiên cổ mĩ văn. Đoạn thứ hai, ngòi bút đã chuyển, lấy hoa để ví người, thâm hoá sự lập ý của văn chương. Tác giả vẫn lấy hoa cúc, hoa mẫu đơn so sánh với hoa sen, đồng thời khoác lên chúng phẩm cách của con người. Theo cách nhìn của tác giả, hoa cúc ngạo sương riêng nở, dường như có ý tránh đời, cho nên gọi cúc là “ẩn dật giả”, chẳng trách hoa cúc được Đào Uyên Minh - người mà được cho là “thiên cổ ẩn dật thi nhân chi tông” 千古隐逸诗人之宗 yêu thích. Còn mẫu đơn ung dung hoa quý, thích hợp sống ở những gia đình giàu sang, “nhất tùng thâm sắc hoa, thập hộ trung nhân phú” 一丛深色花, 十户中人赋  (Bạch Cư Dị 白居易: Mãi hoa 买花) (giá tiền một khóm mẫu đơn tươi đẹp, tương đương với tiền thuế một năm của 10 hộ thuộc loại trung bình), bách tính bình thường không thể nào với tới, xứng với cái tên “phú quý giả” trong số các loài hoa. Riêng hoa sen là hoá thân của quân tử, kí thác nhân cách lí tưởng của tác giả. Đoạn đầu của bài văn, miêu tả tường tận hoa sen chính là lấy đó làm nền. Hoa sen:
    - “Xuất ứ nê nhi bất nhiễm”, ví quân tử giữ vững tiết tháo, không chịu ô uế cùng thế tục.
    - “Bất yêu”, ví tính tình của quân tử không xu mị với đời.
    - “Trung thông ngoại trực, bất mạn bất chi”, khắc hoạ tấm lòng thẳng thắn vô tư, không xu phụ quyền thế.
              - “Hương viễn ích thanh”, ví danh tiếng của quân tử vang xa.
              - “Đình đình tịnh thực”, ví quân tử trác việt siêu quần.
              - “Khả viễn quan nhi bất khả tiết ngoạn yên”, khắc hoạ hình tượng “quân tử chi giao đạm như thuỷ” 君子之交淡如水 (quân tử qua lại với nhau nhạt như nước).
              Tác giả lấy hoa sen ví quân tử, tuy chịu ảnh hưởng Phật giáo lấy hoa sen để ví, nhưng cách mượn vật để nói chí này cũng chính là đã kế thừa truyền thống tỉ hứng kí thác “hương thảo” “mĩ nhân” trong thi ca cổ điển Trung Quốc. Cuối cùng từ 3 loài hoa, tác giả liên hệ 3 hạng người yêu hoa, cảm thán rằng: sau Đào Uyên Minh, rất ít nghe nói đến người yêu hoa cúc, ý nói muốn trở thành kẻ sĩ ẩn dật chân chính rất khó, trên đời có không ít người mượn tiếng ẩn sĩ để mua danh cầu tước, tìm con đường tắt để tiến thân. Quân tử yêu hoa sen, cũng chính là đồng đạo của tác giả ở đâu? Hạng người nhiều nhất trên đời là hạng yêu hoa mẫu đơn, từ đó có thể thấy thói đời tham phú quý, đuổi theo danh lợi. Ý xem thường giàu sang phú quý của tác giả đã ở hết trong lời.
              Bút pháp bài văn tinh luyện, chỉ với 119 chữ đã cấu thành một thiên tản văn hàm ý thì sâu xa mà văn tự thì ưu mĩ. Thành tựu nghệ thuật này không thể tách rời nhân phẩm cao thượng của tác giả. Chu Đôn Di một đời điềm đạm vô vi, chán ghét danh lợi thế tục, người đương thời khen ông là “hung trung sái lạc, như quang phong tễ nguyệt” 胸中洒落, 如光风霁月(tấm lòng tự nhiên cởi mở, như gió mát trăng trong) (1). Điển hình quân tử mà hoa sen tượng trưng chính là sự thể hiện nhân cách lí tưởng của tác giả.

    Thuyết minh bổ sung
              Hoa sen trong Phật giáo có địa vị rất cao, được tín đồ tôn sùng. Đặc tính hoa sen mọc lên từ bùn mà không vấy bẩn, trong Phật giáo tượng trưng cho thanh tịnh. Phật giáo lấy bùn để ví phiền não sinh tử, lấy hoa sen để ví Phật tính thanh tịnh. Sau khi Phật giáo truyền vào Trung Quốc, ý nghĩa tượng trưng thanh tịnh của hoa sen cũng được mọi người tiếp nhận một cách phổ biến. Tuệ Viễn 慧远 - vị cao tăng thời Đông Tấn đã sáng lập ra Liên xã 莲社 tại chùa Đông Lâm 东林 ở Lư sơn 庐山, phát nguyện vãng sinh Tây phương tịnh độ, đương thời có ảnh hưởng rất lớn. Trong Đại Đường tam tạng Thánh giáo tự 大唐三藏圣教序 của Đường Thái Tông 唐太宗có câu:
    Liên xuất lục ba, phi trần bất năng ô kì diệp
    莲出渌波, 飞尘不能污其叶
    (Hoa sen mọc lên từ sóng nước trong, bụi bay không thể làm bẩn lá)
              Thơ lấy hoa sen để ví của thi nhân đời Đường càng nhiều, như:
    Tùng lai bất trước thuỷ
    Thanh tịnh bản nhân tâm
    从来不著水
    清净本因心
    (Trước giờ không dính nước
    Thanh tịnh vốn lòng lành)
    (Lí Kì 李颀: Xán công viện các phú nhất vật đắc sơ hà 粲公院各赋一物得初荷)
    Khán thủ liên hoa tịnh
    Phương tri bất nhiễm tâm
    看取莲花净
    方知不染心
    (Nhìn thấy hoa sen mọc lên từ bùn mà vẫn trong sạch
    Mới biết tấm lòng của Nghĩa Công như hoa sen không vấy bẩn)
                     (Mạnh Hạo Nhiên 孟浩然: Đại Vũ tự Nghĩa thiền 大禹寺义禅) (2)
              Được xem là tị tổ khai sơn của lí học, Chu Đôn Di cùng với lí học gia  duy trì đạo thống, vui làm bạn cùng cao tăng, đạo nhân, giữa họ có mối quan hệ vô cùng hoà hợp. Theo truyền thuyết, Chu Đôn Di có lần cùng với cao tăng Thọ Nhai 寿涯ở chùa Hạc Lâm 鹤林tham thiền luận đạo. Chu Đôn Di từng viết bài Đề Đại Điên đường bích 题大颠堂壁  chê Hàn Dũ 韩愈vì không rõ chân chỉ của Phật Lão mà viết bài Nguyên đạo 原道  bài xích. Nhân đó, trong Ái liên thuyết, “dư độc ái liên chi xuất ứ nê nhi bất nhiễm” v.v... tuy chưa nói rõ ý nghĩa Phật điển, nhưng rõ ràng đã chịu ảnh hưởng lấy hoa sen để ví của Phật giáo.

    Chú của người dịch
    1- Câu này của Hoàng Đình Kiên 黄庭坚 thời Bắc Tống khen tặng Chu Đôn Di.
    2- Theo một số tư liệu, nhan đề của bài này là: Đề Đại Vũ tự Nghĩa Công thiền phòng 题大禹寺义公禅房.

                                                            Huỳnh Chương Hưng
                                                            Quy Nhơn 14/7/2018

    Nguồn
    BẮC TỐNG TẢN VĂN
    北宋散文
    Biên soạn: Cao Khắc Cần 高克勤
    Thượng Hải thư điếm xuất bản xã, 2000. 

    Dịch thuật: Ái liên thuyết (tiếp theo) (Chu Đôn Di)

    Đăng lúc  22:19  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

     ÁI LIÊN THUYẾT
    (tiếp theo)

    Giám định và thưởng thức
              Hoa sen (liên hoa 莲花) tức “hà hoa” 荷花, còn có biệt xưng “phù cừ” 芙蕖, “phù dung” 芙蓉, “hạm đạm” 菡萏 ... Trong Thi kinh 诗经có câu:
    Bỉ trạch chi bi
    Hữu bồ hạm đạm
    彼泽之陂
    有蒲菡萏
    (Nơi đầm kia
    Có cây bồ và hoa sen)
                                                           (Trần phong – Trạch  bi - 泽陂)
              Đại thi nhân Khuất Nguyên 屈原trong Li tao 离骚 cũng đã cao ngâm:
    Chế kị hà dĩ vi y hề
    Tập phù dung dĩ vi thường
    制芰荷以为衣兮
    集芙蓉以为裳
    (Chế lá kị lá sen làm áo
    Kết hoa phù dung làm xiêm)
              Trong một số lượng lớn thơ ca ngâm vịnh hoa sen của các đời, bài Ái liên thuyết 爱莲说 của Chu Đôn Di 周敦颐 là nổi tiếng nhất.
              Bài văn ngắn này có thể chia làm 2 đoạn. Đoạn thứ nhất tác giả miêu tả hoa sen, nói rõ nguyên nhân mà tác giả yêu thích, điểm minh cho ý của đề bài. Bài văn mở đầu với câu “Thuỷ lục thảo mộc chi hoa, khả ái giả thậm phiền”, trước tiên điểm xuất chữ “ái” trong đề mục, sau đó trong số các loài hoa của cây cỏ, tác giả nêu ra hai loại danh hoa là cúc và mẫu đơn để làm nền cho hoa sen. Cúc lăng sương ngạo lập, độc bão u hương, được thi nhân đời Tấn là Đào Uyên Minh ưa thích. Mẫu đơn màu sắc tươi đẹp, ung dung hoa quý, từ nhà Đường trở về sau được người đời sùng thượng.
              Khi tác giả điểm xuất hoa cúc và mẫu đơn đã tiếc mực như vàng, chỉ một bút lướt qua, bao nhiêu còn lại đều đổ dồn vào hoa sen mà tác giả riêng yêu.
              Hoa sen mọc lên từ bùn mà không nhiễm bẩn, thân tắm gội trong nước trong, đẹp nhưng không lả lơi, ngoại hình trong rỗng ngoài thẳng, không bò lan, không đâm cành, mùi hương thanh khiết thấm nhập tâm can, từ trong nước mọc lên dong dỏng cao, người ta chỉ có thể từ xa ngắm nhìn thưởng thức chứ không thể đến gần nâng niu sờ mó. Ở đây tác giả dùng liền 7 câu, miêu tả phẩm cách đáng quý của hoa sen từ các phương diện và đặc tính khác với những loài hoa khác, có thể nói là hình thần kiêm bị, khác nào như vẽ.
              Nếu bút mực của tác giả chỉ nói bao nhiêu đó, thế thì bài văn không thể nào gọi là một áng thiên cổ mĩ văn. Đoạn thứ hai, ngòi bút đã chuyển, lấy hoa để ví người, thâm hoá sự lập ý của văn chương. Tác giả vẫn lấy hoa cúc, hoa mẫu đơn so sánh với hoa sen, đồng thời khoác lên chúng phẩm cách của con người. Theo cách nhìn của tác giả, hoa cúc ngạo sương riêng nở, dường như có ý tránh đời, cho nên gọi cúc là “ẩn dật giả”, chẳng trách hoa cúc được Đào Uyên Minh - người mà được cho là “thiên cổ ẩn dật thi nhân chi tông” 千古隐逸诗人之宗 yêu thích. Còn mẫu đơn ung dung hoa quý, thích hợp sống ở những gia đình giàu sang, “nhất tùng thâm sắc hoa, thập hộ trung nhân phú” 一丛深色花, 十户中人赋  (Bạch Cư Dị 白居易: Mãi hoa 买花) (giá tiền một khóm mẫu đơn tươi đẹp, tương đương với tiền thuế một năm của 10 hộ thuộc loại trung bình), bách tính bình thường không thể nào với tới, xứng với cái tên “phú quý giả” trong số các loài hoa. Riêng hoa sen là hoá thân của quân tử, kí thác nhân cách lí tưởng của tác giả. Đoạn đầu của bài văn, miêu tả tường tận hoa sen chính là lấy đó làm nền. Hoa sen:
    - “Xuất ứ nê nhi bất nhiễm”, ví quân tử giữ vững tiết tháo, không chịu ô uế cùng thế tục.
    - “Bất yêu”, ví tính tình của quân tử không xu mị với đời.
    - “Trung thông ngoại trực, bất mạn bất chi”, khắc hoạ tấm lòng thẳng thắn vô tư, không xu phụ quyền thế.
              - “Hương viễn ích thanh”, ví danh tiếng của quân tử vang xa.
              - “Đình đình tịnh thực”, ví quân tử trác việt siêu quần.
              - “Khả viễn quan nhi bất khả tiết ngoạn yên”, khắc hoạ hình tượng “quân tử chi giao đạm như thuỷ” 君子之交淡如水 (quân tử qua lại với nhau nhạt như nước).
              Tác giả lấy hoa sen ví quân tử, tuy chịu ảnh hưởng Phật giáo lấy hoa sen để ví, nhưng cách mượn vật để nói chí này cũng chính là đã kế thừa truyền thống tỉ hứng kí thác “hương thảo” “mĩ nhân” trong thi ca cổ điển Trung Quốc. Cuối cùng từ 3 loài hoa, tác giả liên hệ 3 hạng người yêu hoa, cảm thán rằng: sau Đào Uyên Minh, rất ít nghe nói đến người yêu hoa cúc, ý nói muốn trở thành kẻ sĩ ẩn dật chân chính rất khó, trên đời có không ít người mượn tiếng ẩn sĩ để mua danh cầu tước, tìm con đường tắt để tiến thân. Quân tử yêu hoa sen, cũng chính là đồng đạo của tác giả ở đâu? Hạng người nhiều nhất trên đời là hạng yêu hoa mẫu đơn, từ đó có thể thấy thói đời tham phú quý, đuổi theo danh lợi. Ý xem thường giàu sang phú quý của tác giả đã ở hết trong lời.
              Bút pháp bài văn tinh luyện, chỉ với 119 chữ đã cấu thành một thiên tản văn hàm ý thì sâu xa mà văn tự thì ưu mĩ. Thành tựu nghệ thuật này không thể tách rời nhân phẩm cao thượng của tác giả. Chu Đôn Di một đời điềm đạm vô vi, chán ghét danh lợi thế tục, người đương thời khen ông là “hung trung sái lạc, như quang phong tễ nguyệt” 胸中洒落, 如光风霁月(tấm lòng tự nhiên cởi mở, như gió mát trăng trong) (1). Điển hình quân tử mà hoa sen tượng trưng chính là sự thể hiện nhân cách lí tưởng của tác giả.

    Thuyết minh bổ sung
              Hoa sen trong Phật giáo có địa vị rất cao, được tín đồ tôn sùng. Đặc tính hoa sen mọc lên từ bùn mà không vấy bẩn, trong Phật giáo tượng trưng cho thanh tịnh. Phật giáo lấy bùn để ví phiền não sinh tử, lấy hoa sen để ví Phật tính thanh tịnh. Sau khi Phật giáo truyền vào Trung Quốc, ý nghĩa tượng trưng thanh tịnh của hoa sen cũng được mọi người tiếp nhận một cách phổ biến. Tuệ Viễn 慧远 - vị cao tăng thời Đông Tấn đã sáng lập ra Liên xã 莲社 tại chùa Đông Lâm 东林 ở Lư sơn 庐山, phát nguyện vãng sinh Tây phương tịnh độ, đương thời có ảnh hưởng rất lớn. Trong Đại Đường tam tạng Thánh giáo tự 大唐三藏圣教序 của Đường Thái Tông 唐太宗có câu:
    Liên xuất lục ba, phi trần bất năng ô kì diệp
    莲出渌波, 飞尘不能污其叶
    (Hoa sen mọc lên từ sóng nước trong, bụi bay không thể làm bẩn lá)
              Thơ lấy hoa sen để ví của thi nhân đời Đường càng nhiều, như:
    Tùng lai bất trước thuỷ
    Thanh tịnh bản nhân tâm
    从来不著水
    清净本因心
    (Trước giờ không dính nước
    Thanh tịnh vốn lòng lành)
    (Lí Kì 李颀: Xán công viện các phú nhất vật đắc sơ hà 粲公院各赋一物得初荷)
    Khán thủ liên hoa tịnh
    Phương tri bất nhiễm tâm
    看取莲花净
    方知不染心
    (Nhìn thấy hoa sen mọc lên từ bùn mà vẫn trong sạch
    Mới biết tấm lòng của Nghĩa Công như hoa sen không vấy bẩn)
                     (Mạnh Hạo Nhiên 孟浩然: Đại Vũ tự Nghĩa thiền 大禹寺义禅) (2)
              Được xem là tị tổ khai sơn của lí học, Chu Đôn Di cùng với lí học gia  duy trì đạo thống, vui làm bạn cùng cao tăng, đạo nhân, giữa họ có mối quan hệ vô cùng hoà hợp. Theo truyền thuyết, Chu Đôn Di có lần cùng với cao tăng Thọ Nhai 寿涯ở chùa Hạc Lâm 鹤林tham thiền luận đạo. Chu Đôn Di từng viết bài Đề Đại Điên đường bích 题大颠堂壁  chê Hàn Dũ 韩愈vì không rõ chân chỉ của Phật Lão mà viết bài Nguyên đạo 原道  bài xích. Nhân đó, trong Ái liên thuyết, “dư độc ái liên chi xuất ứ nê nhi bất nhiễm” v.v... tuy chưa nói rõ ý nghĩa Phật điển, nhưng rõ ràng đã chịu ảnh hưởng lấy hoa sen để ví của Phật giáo.

    Chú của người dịch
    1- Câu này của Hoàng Đình Kiên 黄庭坚 thời Bắc Tống khen tặng Chu Đôn Di.
    2- Theo một số tư liệu, nhan đề của bài này là: Đề Đại Vũ tự Nghĩa Công thiền phòng 题大禹寺义公禅房.

                                                            Huỳnh Chương Hưng
                                                            Quy Nhơn 14/7/2018

    Nguồn
    BẮC TỐNG TẢN VĂN
    北宋散文
    Biên soạn: Cao Khắc Cần 高克勤
    Thượng Hải thư điếm xuất bản xã, 2000. 

    Thứ Sáu, 13 tháng 7, 2018



    爱莲说
        水陆草木之花, 可爱者甚蕃. 晋陶渊明独爱菊, 自李唐来, 世人盛爱牡丹; 予独爱莲之出淤泥而不染, 濯清涟而不妖, 中通外直, 不蔓不枝, 香远益清, 亭亭净植, 可远观而不可亵玩焉.
        予谓菊, 花之隐逸者也; 牡丹, 花之富贵者也; , 花之君子者也. ! 菊之爱, 陶后鲜有闻; 莲之爱, 同予者何人? 牡丹之爱, 宜乎众矣.
                                            (周敦颐)

    ÁI LIÊN THUYẾT
              Thuỷ lục thảo mộc chi hoa, khả ái giả thậm phiền. Tấn Đào Uyên Minh độc ái cúc, tự Lí Đường lai, thế nhân thịnh ái mẫu đơn; dư độc ái liên chi xuất ứ nê nhi bất nhiễm, trạc thanh liên nhi bất yêu, trung thông ngoại trực, bất mạn bất chi, hương viễn ích thanh, đình đình tịnh thực, khả viễn quan nhi bất khả tiết ngoạn yên.
              Dư vị cúc, hoa chi ẩn dật giả dã; mẫu đơn, hoa chi phú quý giả dã; liên, hoa chi quân tử giả dã. Y! cúc chi ái, Đào hậu tiển hữu văn; liên chi ái, đồng dư giả hà nhân; mẫu đơn chi ái, nghi hồ chúng hĩ.
                                                                                    (Chu Đôn Di)

    ÁI LIÊN THUYẾT
              Hoa của các loài cây cỏ mọc ở dưới  nước ở trên bờ, loại đáng yêu rất nhiều. Đào Uyên Minh đời Tấn chỉ riêng yêu hoa cúc, từ nhà Đường họ Lí đến nay, người đời rất yêu hoa mẫu đơn, tôi chỉ riêng yêu hoa sen mọc lên từ bùn lầy mà không vấy bẩn, tắm gội trong sóng nước trong mà không có vẻ lả lơi, trong rỗng ngoài thẳng, không bò lan không đâm cành, mùi hương càng xa càng thanh khiết, dáng mọc lên dong dỏng cao, chỉ có thể từ xa ngắm nhìn chứ không thể đến gần mà nâng niu sờ mó.
              Tôi cho rằng: cúc là loài hoa ẩn dật trong số các loài hoa; mẫu đơn là loài hoa phú quý trong số các loài hoa; sen là loài hoa quân tử trong số các loài hoa. Ôi! nói về yêu hoa cúc, sau ông Đào thì ít có nghe; nói về yêu hoa sen, thì người cùng với tôi là ai? còn nói về yêu hoa mẫu đơn, đương nhiên là nhiều người lắm vậy.
                                                                               (còn tiếp)

    Chú của người dịch
    Thuyết : một thể tài văn nghị luận thời cổ, trực tiếp nói rõ sự vật hoặc luận thuật đạo lí, mượn vật hoặc mượn việc để luận về đạo lí.

    Chu Đôn Di 周敦颐 (1017 – 1073): còn có tên là Chu Nguyên Hạo 周元皓, nguyên danh Chu Đôn Thực 周敦实, tự Mậu Thúc 茂叔, hiệu Liêm Khê 濂溪, người Đạo Châu 道州 Hồ Nam 湖南 thời Bắc Tống. Chu Đôn Di là tị tổ khai sơn tư tưởng lí học Nho gia triều Tống, ông còn là văn học gia, triết học gia. Người đời gọi ông là Liêm Khê tiên sinh 濂溪先生.
              Theo http://baike.baidu.com/item

                                                            Huỳnh Chương Hưng
                                                            Quy Nhơn 13/7/2018

    Nguồn
    BẮC TỐNG TẢN VĂN
    北宋散文
    Biên soạn: Cao Khắc Cần 高克勤
    Thượng Hải thư điếm xuất bản xã, 2000. 

    Dịch thuật: Ái liên thuyết (Chu Đôn Di)

    Đăng lúc  22:29  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »



    爱莲说
        水陆草木之花, 可爱者甚蕃. 晋陶渊明独爱菊, 自李唐来, 世人盛爱牡丹; 予独爱莲之出淤泥而不染, 濯清涟而不妖, 中通外直, 不蔓不枝, 香远益清, 亭亭净植, 可远观而不可亵玩焉.
        予谓菊, 花之隐逸者也; 牡丹, 花之富贵者也; , 花之君子者也. ! 菊之爱, 陶后鲜有闻; 莲之爱, 同予者何人? 牡丹之爱, 宜乎众矣.
                                            (周敦颐)

    ÁI LIÊN THUYẾT
              Thuỷ lục thảo mộc chi hoa, khả ái giả thậm phiền. Tấn Đào Uyên Minh độc ái cúc, tự Lí Đường lai, thế nhân thịnh ái mẫu đơn; dư độc ái liên chi xuất ứ nê nhi bất nhiễm, trạc thanh liên nhi bất yêu, trung thông ngoại trực, bất mạn bất chi, hương viễn ích thanh, đình đình tịnh thực, khả viễn quan nhi bất khả tiết ngoạn yên.
              Dư vị cúc, hoa chi ẩn dật giả dã; mẫu đơn, hoa chi phú quý giả dã; liên, hoa chi quân tử giả dã. Y! cúc chi ái, Đào hậu tiển hữu văn; liên chi ái, đồng dư giả hà nhân; mẫu đơn chi ái, nghi hồ chúng hĩ.
                                                                                    (Chu Đôn Di)

    ÁI LIÊN THUYẾT
              Hoa của các loài cây cỏ mọc ở dưới  nước ở trên bờ, loại đáng yêu rất nhiều. Đào Uyên Minh đời Tấn chỉ riêng yêu hoa cúc, từ nhà Đường họ Lí đến nay, người đời rất yêu hoa mẫu đơn, tôi chỉ riêng yêu hoa sen mọc lên từ bùn lầy mà không vấy bẩn, tắm gội trong sóng nước trong mà không có vẻ lả lơi, trong rỗng ngoài thẳng, không bò lan không đâm cành, mùi hương càng xa càng thanh khiết, dáng mọc lên dong dỏng cao, chỉ có thể từ xa ngắm nhìn chứ không thể đến gần mà nâng niu sờ mó.
              Tôi cho rằng: cúc là loài hoa ẩn dật trong số các loài hoa; mẫu đơn là loài hoa phú quý trong số các loài hoa; sen là loài hoa quân tử trong số các loài hoa. Ôi! nói về yêu hoa cúc, sau ông Đào thì ít có nghe; nói về yêu hoa sen, thì người cùng với tôi là ai? còn nói về yêu hoa mẫu đơn, đương nhiên là nhiều người lắm vậy.
                                                                               (còn tiếp)

    Chú của người dịch
    Thuyết : một thể tài văn nghị luận thời cổ, trực tiếp nói rõ sự vật hoặc luận thuật đạo lí, mượn vật hoặc mượn việc để luận về đạo lí.

    Chu Đôn Di 周敦颐 (1017 – 1073): còn có tên là Chu Nguyên Hạo 周元皓, nguyên danh Chu Đôn Thực 周敦实, tự Mậu Thúc 茂叔, hiệu Liêm Khê 濂溪, người Đạo Châu 道州 Hồ Nam 湖南 thời Bắc Tống. Chu Đôn Di là tị tổ khai sơn tư tưởng lí học Nho gia triều Tống, ông còn là văn học gia, triết học gia. Người đời gọi ông là Liêm Khê tiên sinh 濂溪先生.
              Theo http://baike.baidu.com/item

                                                            Huỳnh Chương Hưng
                                                            Quy Nhơn 13/7/2018

    Nguồn
    BẮC TỐNG TẢN VĂN
    北宋散文
    Biên soạn: Cao Khắc Cần 高克勤
    Thượng Hải thư điếm xuất bản xã, 2000. 

    Mã nguồn bởi Huỳnh Chương Hưng
    Copyright © 2012 Huỳnh Chương Hưng.
    back to top