• Thứ Ba, 10 tháng 12, 2019

    TÀO THÁO DÂNG ĐAO

              Tào Tháo 曹操, tự Mạnh Đức 孟德, tiểu tự A Man 阿瞒, người Bạc Châu 亳州 An Huy 安徽 ngày nay, Hán tộc, là chính trị gia, quân sự gia, văn học gia kiệt xuất cuối thời Đông Hán. Tào Tháo “hiệp thiên tử dĩ lệnh chư hầu” 挟天子以令诸侯 (dùng danh nghĩa thiên tử phát hiệu lệnh cho chư hầu), về đối ngoại không ngừng dụng binh, cuối cùng thống nhất phương bắc Trung Quốc. Thời kì tại vị, Tào Tháo chú trọng phát triển kinh tế, đặt cơ sở kinh tế cho nước Nguỵ lớn mạnh. Sau khi Tào Tháo qua đời, có thuỵ hiệu là “Vũ Vương” 武王

              Cuối thời Đông Hán, hoạn quan và ngoại thích tranh quyền tại triều đình. Để giết hoạn quan, ngoại thích đã gọi mời quân phiệt địa phương Đổng Trác 董卓 ở Tây Lương 西凉 tiến kinh. Kết quả Đổng Trác thừa cơ chuyên đoán triều chính, phế truất Thiếu Đế 少帝, lập Trần Lưu Vương 陈留王 làm Hán Hiến Đế 汉献帝, lạm sát quan viên triều đình, văn võ trong triều chỉ dám giận mà không dám nói.
              Ngày nọ, Tư đồ Vương Doãn 王允 lấy danh nghĩa sinh nhật gia yến, bí mật triệu tập triều thần đến nhà tụ hội. Sau khi uống rượu qua một lúc, Vương Doãn bỗng nhiên bưng mặt khóc. 
              Mọi người kinh ngạc hỏi rằng:
              - Hôm nay là sinh nhật của Tư Đồ, sao lại bi thương như thế?
              Vương Doãn đáp rằng:
              - Hôm nay không phải là sinh nhật của tôi, chỉ là cái cớ thôi, để tránh lão giặc già Đổng Trác hoài nghi. Nay Đổng Trác lộng quyền, triều chính ngày càng suy yếu, biết bao giờ mới hết cục diện này?
              Vương Doãn nói xong lại khóc, mọi người cũng cùng khóc theo.
              Lúc bấy giờ chỉ có một người vỗ tay cười lớn, nói rằng:
              - Cả triều quan viên văn võ đêm khóc đến sáng, sáng khóc đến tối, có thể khóc mà Đổng Trác chết sao?
              Vương Doãn nhìn qua, hoá ra là Kiêu kị hiệu uý Tào Tháo 骁骑校尉曹操 (năm 155 – 220), bèn phát nộ nói rằng:
              - Tào gia ông cũng nhận bổng lộc của triều đình, không muốn báo quốc, mà lại chế nhạo chúng ta!
              Tào Tháo nói rằng:
             - Ngài chớ hiểu lầm, tôi cười mọi người không có cách giết Đổng Trác. Tôi tuy chẳng là gì, nhưng lại nguyện chém lấy đầu Đổng Trác, treo nơi cổng thành kinh đô để cáo uý thiên hạ.
              Vương Doãn rời chiếu nhẹ nhàng hỏi rằng:
              - Ông có cách gì?
              Tào Tháo đáp:
              - Đổng Trác tương đối tin và trọng dụng tôi, tôi cũng cố ý hầu hạ cẩn thận, thực tế là đang tìm cơ hội. Nghe nói Tư đồ có thanh Thất bảo đao, nguyện ngài có thể cho tôi mượn để vào phủ Thừa tướng thích sát Đổng Trác, cho dù có chết
     tôi cũng không từ.  
              Ngày hôm sau, Tào Tháo mang bảo đao vào phủ Thừa tướng, tự đi thằng đến tiểu các, thấy Đổng Trác đang ngồi trên giường, Lữ Bố đứng hầu bên cạnh. Đổng Trác hỏi rằng:
              - Ông sao mà đến muộn thế?
              Tào Tháo đáp:
              - Ngựa của tôi gầy yếu, đi rất chậm.
              Đổng Trác nói với Lữ Bố:
              - Ta có ngựa hay từ Tây lương tiến cống, con đến chuồng ngựa chọn một con tốt tặng cho ông ta.
              Lữ Bố bèn ra khỏi phòng.
              Tào Tháo ngầm vui mừng:
              “Lữ Bố tay mãnh tướng này đã rời khỏi rồi, giờ chết của Đổng Trác đã đến”.
              Nghĩ xong liền muốn rút đao, nhưng sợ Đổng Trác khí lực mạnh, nên nhất thời không dám khinh cử vọng động. Đổng Trác do vì thân thể mập mạp, ngồi lâu không được bèn nằm ra giường, nghiêng mình một bên. Tào Tháo vội rút đao từ bên hông ra, đang định giết, không ngờ Đổng Trác từ chiếc kính ở trên giường nhìn thấy Tào Tháo ở phía sau động đao, vội chuyển người nói rằng:
              - Ông định làm gì đó?
              Lúc này, Lữ Bố cũng đã dẫn ngựa đến bên ngoài tiểu các. Tào Tháo vô cùng kinh hoảng, trong lúc nguy cấp sinh cơ trí, hai tay liền bưng đao quỳ trước giường nói rằng:
              - Tôi có một thanh bảo đao, nay dâng lên Thừa tướng để báo đáp ân đức của ngài.
              Đổng Trác nhận qua và nhìn, chỉ thấy nó dài khoảng hơn 1 xích, trên lưng đao dùng loại bảo thạch 7 màu khảm vào để trang sức, vừa bén nhọn lại trân quý, quả là thanh bảo đao hiếm thấy trên đời. Đổng Trác vui mừng thu nhận giao cho Lữ Bố bảo quản. Tào Tháo cũng tháo vỏ đao giao luôn. Thế là, Đổng Trác đưa Tào Tháo ra khỏi phòng xem ngựa.
              Tào Tháo dắt ngựa xem qua, cảm tạ rằng:
              - Ngựa tốt, ngựa tốt, để tôi cưỡi thử.
              Đổng Trác bèn sai người chuẩn bị yên ngựa. Tào Tháo dắt ngựa ra khỏi phủ, nhảy lên lưng ngựa, ra roi nhắm hướng đông nam mà thoát thân. Bởi Tào Tháo biết ở lâu tại nơi này, tất nhiên sẽ bị lộ, rước lấy hoạ vào thân.
             
                                                            Huỳnh Chương Hưng
                                                            Quy Nhơn 10/12/2019

    Nguyên tác Trung văn
    TÀO THÁO HIẾN ĐAO
    曹操献刀
    Trong quyển
    TRUNG QUỐC LỊCH SỬ CỐ SỰ (tập 3)
    中国历史故事
    Biên soạn: Sơ Dương Tả Tả 初阳姐姐
    Trường Xuân: Cát Lâm văn sử xuất bản xã, 2015

    Dịch thuật: Tào Tháo dâng đao

    Đăng lúc  20:49  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    TÀO THÁO DÂNG ĐAO

              Tào Tháo 曹操, tự Mạnh Đức 孟德, tiểu tự A Man 阿瞒, người Bạc Châu 亳州 An Huy 安徽 ngày nay, Hán tộc, là chính trị gia, quân sự gia, văn học gia kiệt xuất cuối thời Đông Hán. Tào Tháo “hiệp thiên tử dĩ lệnh chư hầu” 挟天子以令诸侯 (dùng danh nghĩa thiên tử phát hiệu lệnh cho chư hầu), về đối ngoại không ngừng dụng binh, cuối cùng thống nhất phương bắc Trung Quốc. Thời kì tại vị, Tào Tháo chú trọng phát triển kinh tế, đặt cơ sở kinh tế cho nước Nguỵ lớn mạnh. Sau khi Tào Tháo qua đời, có thuỵ hiệu là “Vũ Vương” 武王

              Cuối thời Đông Hán, hoạn quan và ngoại thích tranh quyền tại triều đình. Để giết hoạn quan, ngoại thích đã gọi mời quân phiệt địa phương Đổng Trác 董卓 ở Tây Lương 西凉 tiến kinh. Kết quả Đổng Trác thừa cơ chuyên đoán triều chính, phế truất Thiếu Đế 少帝, lập Trần Lưu Vương 陈留王 làm Hán Hiến Đế 汉献帝, lạm sát quan viên triều đình, văn võ trong triều chỉ dám giận mà không dám nói.
              Ngày nọ, Tư đồ Vương Doãn 王允 lấy danh nghĩa sinh nhật gia yến, bí mật triệu tập triều thần đến nhà tụ hội. Sau khi uống rượu qua một lúc, Vương Doãn bỗng nhiên bưng mặt khóc. 
              Mọi người kinh ngạc hỏi rằng:
              - Hôm nay là sinh nhật của Tư Đồ, sao lại bi thương như thế?
              Vương Doãn đáp rằng:
              - Hôm nay không phải là sinh nhật của tôi, chỉ là cái cớ thôi, để tránh lão giặc già Đổng Trác hoài nghi. Nay Đổng Trác lộng quyền, triều chính ngày càng suy yếu, biết bao giờ mới hết cục diện này?
              Vương Doãn nói xong lại khóc, mọi người cũng cùng khóc theo.
              Lúc bấy giờ chỉ có một người vỗ tay cười lớn, nói rằng:
              - Cả triều quan viên văn võ đêm khóc đến sáng, sáng khóc đến tối, có thể khóc mà Đổng Trác chết sao?
              Vương Doãn nhìn qua, hoá ra là Kiêu kị hiệu uý Tào Tháo 骁骑校尉曹操 (năm 155 – 220), bèn phát nộ nói rằng:
              - Tào gia ông cũng nhận bổng lộc của triều đình, không muốn báo quốc, mà lại chế nhạo chúng ta!
              Tào Tháo nói rằng:
             - Ngài chớ hiểu lầm, tôi cười mọi người không có cách giết Đổng Trác. Tôi tuy chẳng là gì, nhưng lại nguyện chém lấy đầu Đổng Trác, treo nơi cổng thành kinh đô để cáo uý thiên hạ.
              Vương Doãn rời chiếu nhẹ nhàng hỏi rằng:
              - Ông có cách gì?
              Tào Tháo đáp:
              - Đổng Trác tương đối tin và trọng dụng tôi, tôi cũng cố ý hầu hạ cẩn thận, thực tế là đang tìm cơ hội. Nghe nói Tư đồ có thanh Thất bảo đao, nguyện ngài có thể cho tôi mượn để vào phủ Thừa tướng thích sát Đổng Trác, cho dù có chết
     tôi cũng không từ.  
              Ngày hôm sau, Tào Tháo mang bảo đao vào phủ Thừa tướng, tự đi thằng đến tiểu các, thấy Đổng Trác đang ngồi trên giường, Lữ Bố đứng hầu bên cạnh. Đổng Trác hỏi rằng:
              - Ông sao mà đến muộn thế?
              Tào Tháo đáp:
              - Ngựa của tôi gầy yếu, đi rất chậm.
              Đổng Trác nói với Lữ Bố:
              - Ta có ngựa hay từ Tây lương tiến cống, con đến chuồng ngựa chọn một con tốt tặng cho ông ta.
              Lữ Bố bèn ra khỏi phòng.
              Tào Tháo ngầm vui mừng:
              “Lữ Bố tay mãnh tướng này đã rời khỏi rồi, giờ chết của Đổng Trác đã đến”.
              Nghĩ xong liền muốn rút đao, nhưng sợ Đổng Trác khí lực mạnh, nên nhất thời không dám khinh cử vọng động. Đổng Trác do vì thân thể mập mạp, ngồi lâu không được bèn nằm ra giường, nghiêng mình một bên. Tào Tháo vội rút đao từ bên hông ra, đang định giết, không ngờ Đổng Trác từ chiếc kính ở trên giường nhìn thấy Tào Tháo ở phía sau động đao, vội chuyển người nói rằng:
              - Ông định làm gì đó?
              Lúc này, Lữ Bố cũng đã dẫn ngựa đến bên ngoài tiểu các. Tào Tháo vô cùng kinh hoảng, trong lúc nguy cấp sinh cơ trí, hai tay liền bưng đao quỳ trước giường nói rằng:
              - Tôi có một thanh bảo đao, nay dâng lên Thừa tướng để báo đáp ân đức của ngài.
              Đổng Trác nhận qua và nhìn, chỉ thấy nó dài khoảng hơn 1 xích, trên lưng đao dùng loại bảo thạch 7 màu khảm vào để trang sức, vừa bén nhọn lại trân quý, quả là thanh bảo đao hiếm thấy trên đời. Đổng Trác vui mừng thu nhận giao cho Lữ Bố bảo quản. Tào Tháo cũng tháo vỏ đao giao luôn. Thế là, Đổng Trác đưa Tào Tháo ra khỏi phòng xem ngựa.
              Tào Tháo dắt ngựa xem qua, cảm tạ rằng:
              - Ngựa tốt, ngựa tốt, để tôi cưỡi thử.
              Đổng Trác bèn sai người chuẩn bị yên ngựa. Tào Tháo dắt ngựa ra khỏi phủ, nhảy lên lưng ngựa, ra roi nhắm hướng đông nam mà thoát thân. Bởi Tào Tháo biết ở lâu tại nơi này, tất nhiên sẽ bị lộ, rước lấy hoạ vào thân.
             
                                                            Huỳnh Chương Hưng
                                                            Quy Nhơn 10/12/2019

    Nguyên tác Trung văn
    TÀO THÁO HIẾN ĐAO
    曹操献刀
    Trong quyển
    TRUNG QUỐC LỊCH SỬ CỐ SỰ (tập 3)
    中国历史故事
    Biên soạn: Sơ Dương Tả Tả 初阳姐姐
    Trường Xuân: Cát Lâm văn sử xuất bản xã, 2015

    Thứ Hai, 9 tháng 12, 2019

    THẤT PHU THẤT PHỤ
    匹夫匹妇

    Giải thích: Chỉ bách tính phổ thông.
    Xuất xứ: Chiến Quốc . Mạnh Kha 孟轲: Mạnh Tử - Vạn Chương 孟子 - 万章.

              Thời Chiến Quốc, một ngày nọ Vạn Chương 万章hỏi thầy là Mạnh Tử 孟子 rằng:
              - Có người nói Y Doãn 伊尹, hiền thần của Thương Thang 商汤 đầu tiên là làm nô lệ bồi giá cho người khác, sau làm đầu bếp cho ông Thang , được ông Thang tín nhiệm mới làm đến Tể tướng. Không biết có đúng như vậy không?
              Mạnh Tử đáp rằng:
              - Không phải hoàn toàn như thế. Y Doãn từng cày ruộng ở ngoại ô nước Sằn , vị quân chủ đầu tiên của triều Thương từng phái người đi mời ông ta, ông ta lại an nhàn tự đắc nói rằng: ‘Ta sao phải tiếp nhận lời mời? Như thế này chẳng phải là rất tốt sao? Ta suốt ngày không câu thúc, nơi đồng ruộng có nhiều lạc thú!’
              Ông Thang hai ba lần phái người đi mời. Cuối cùng, Y Doãn thay đổi thái độ, nói rằng:
              - Trời đã sinh ra ta, phú cho ta trí tuệ, ta có trách nhiệm gợi mở cho những người thiếu trí tuệ. Ôi! Sự việc đã như thế, ta không thể bỏ qua được!
              Vạn Chương nói rằng:
              - Y Doãn quả là một vị hiền thần.
              Mạnh Tử bảo rằng:
              - Không sai, theo ông ta, trong thiên hạ nếu như có đàn ông đàn bà nào (thất phu thất phụ 匹夫匹妇) mà không chịu ơn trạch của Nghiêu Thuấn, thì giống như ông ta đã đẩy họ vào khe nước sâu vậy (1). Về sau ông ta đến bên cạnh ông Thang, thuyết phục ông Thang thảo phạt triều Hạ tàn bạo, cứu vớt quảng đại chúng dân. Y Doãn quả là bậc thánh nhân chân chính. Hành vi của thánh nhân hoàn toàn không như nhau, có người cách xa vị quân chủ, giữ thân trong sạch, có người bên cạnh vị quân chủ, giúp làm những việc tốt. Cho nên, ta cho rằng Y Doãn không phải lấy thân phận đầu bếp của vị quân chủ để a dua nịnh bợ, mà là ông tuyên truyền cái đạo của Nghiêu Thuấn.

    Chú của người dịch
    1- Nguyên văn câu này trong “Mạnh Tử”:
              Tư thiên hạ chi dân, thất phu thất phụ hữu bất bị Nghiêu, Thuấn chi trạch giả, nhược kỉ thôi nhi nạp chi câu trung.
              思天下之民, 匹夫匹妇有不被尧, 舜之泽者, 若己推而内之沟中
              (Nghĩ đến bách tính trong thiên hạ, có đàn ông đàn bà nào mà không chịu ơn trạch của Nghiêu, Thuấn thì giống như ông ta đã đẩy họ vào khe nước sâu vậy)
              (“Mạnh Tử” 孟子: Vạn Lệ Hoa 万丽华, Lam Húc 蓝旭 dịch chú. Bắc Kinh: Trung Hoa thư cục, 2007)

                                                             Huỳnh Chương Hưng
                                                   Quy Nhơn 09/12/2019

    Nguyên tác Trung văn
    THẤT PHU THẤT PHỤ
    匹夫匹妇
    TRUNG QUỐC THÀNH NGỮ CỐ SỰ TỔNG TẬP
    中国成语故事总集
    (tập 1)
    Chủ biên: Đường Kì 唐麒
    Trường Xuân – Thời đại văn nghệ xuất bản xã, 2004

    Dịch thuật: Thất phu thất phụ (thành ngữ)

    Đăng lúc  16:54  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    THẤT PHU THẤT PHỤ
    匹夫匹妇

    Giải thích: Chỉ bách tính phổ thông.
    Xuất xứ: Chiến Quốc . Mạnh Kha 孟轲: Mạnh Tử - Vạn Chương 孟子 - 万章.

              Thời Chiến Quốc, một ngày nọ Vạn Chương 万章hỏi thầy là Mạnh Tử 孟子 rằng:
              - Có người nói Y Doãn 伊尹, hiền thần của Thương Thang 商汤 đầu tiên là làm nô lệ bồi giá cho người khác, sau làm đầu bếp cho ông Thang , được ông Thang tín nhiệm mới làm đến Tể tướng. Không biết có đúng như vậy không?
              Mạnh Tử đáp rằng:
              - Không phải hoàn toàn như thế. Y Doãn từng cày ruộng ở ngoại ô nước Sằn , vị quân chủ đầu tiên của triều Thương từng phái người đi mời ông ta, ông ta lại an nhàn tự đắc nói rằng: ‘Ta sao phải tiếp nhận lời mời? Như thế này chẳng phải là rất tốt sao? Ta suốt ngày không câu thúc, nơi đồng ruộng có nhiều lạc thú!’
              Ông Thang hai ba lần phái người đi mời. Cuối cùng, Y Doãn thay đổi thái độ, nói rằng:
              - Trời đã sinh ra ta, phú cho ta trí tuệ, ta có trách nhiệm gợi mở cho những người thiếu trí tuệ. Ôi! Sự việc đã như thế, ta không thể bỏ qua được!
              Vạn Chương nói rằng:
              - Y Doãn quả là một vị hiền thần.
              Mạnh Tử bảo rằng:
              - Không sai, theo ông ta, trong thiên hạ nếu như có đàn ông đàn bà nào (thất phu thất phụ 匹夫匹妇) mà không chịu ơn trạch của Nghiêu Thuấn, thì giống như ông ta đã đẩy họ vào khe nước sâu vậy (1). Về sau ông ta đến bên cạnh ông Thang, thuyết phục ông Thang thảo phạt triều Hạ tàn bạo, cứu vớt quảng đại chúng dân. Y Doãn quả là bậc thánh nhân chân chính. Hành vi của thánh nhân hoàn toàn không như nhau, có người cách xa vị quân chủ, giữ thân trong sạch, có người bên cạnh vị quân chủ, giúp làm những việc tốt. Cho nên, ta cho rằng Y Doãn không phải lấy thân phận đầu bếp của vị quân chủ để a dua nịnh bợ, mà là ông tuyên truyền cái đạo của Nghiêu Thuấn.

    Chú của người dịch
    1- Nguyên văn câu này trong “Mạnh Tử”:
              Tư thiên hạ chi dân, thất phu thất phụ hữu bất bị Nghiêu, Thuấn chi trạch giả, nhược kỉ thôi nhi nạp chi câu trung.
              思天下之民, 匹夫匹妇有不被尧, 舜之泽者, 若己推而内之沟中
              (Nghĩ đến bách tính trong thiên hạ, có đàn ông đàn bà nào mà không chịu ơn trạch của Nghiêu, Thuấn thì giống như ông ta đã đẩy họ vào khe nước sâu vậy)
              (“Mạnh Tử” 孟子: Vạn Lệ Hoa 万丽华, Lam Húc 蓝旭 dịch chú. Bắc Kinh: Trung Hoa thư cục, 2007)

                                                             Huỳnh Chương Hưng
                                                   Quy Nhơn 09/12/2019

    Nguyên tác Trung văn
    THẤT PHU THẤT PHỤ
    匹夫匹妇
    TRUNG QUỐC THÀNH NGỮ CỐ SỰ TỔNG TẬP
    中国成语故事总集
    (tập 1)
    Chủ biên: Đường Kì 唐麒
    Trường Xuân – Thời đại văn nghệ xuất bản xã, 2004

    Chủ Nhật, 8 tháng 12, 2019

    “PHÙ” MÀ ĐẠO SĨ DÙNG ĐỂ KHU MA TRỪ YÊU LÀ GÌ

              “Phù” (bùa) của Đạo giáo là một trong những pháp thuật cơ bản nhất của Đạo sĩ, cũng gọi là “phù thư” 符书, “đan thư” 丹书. Cụ thể mà nói, “phù” chia làm “phù” và “lục” . “Phù” vốn là tín vật mà thời cổ dùng để điều động quân đội, Đạo giáo lấy đó dùng làm phương thức của đạo thuật. Nhìn chung, “phù” là những phù hiệu nhìn giống như chữ mà không phải chữ, nhìn giống hình vẽ mà không phải hình vẽ, được viết trên giấy vàng, trên lụa, những gì viết bên trên là những sự tình cụ thể yêu cầu thần linh đi làm. Còn “lục” cũng như vậy, được viết trên giấy vàng, trên lụa, nhưng gì viết bên trên là danh tính của cụ thể của thần linh được điều động. Kết hợp cả hai lại, có thể mệnh lệnh cho thần linh đi làm một việc nào đó. Chủng loại sự việc mà cụ thể có thể làm tương đối nhiều, thường thấy có:
              - Khu trừ yêu quái quấy nhiễu trên thân thể người bệnh.
              - Cầu xin Long vương làm mưa.
              - Triệu thỉnh thiên thần, lệnh sát quỷ.
              - Hoặc giả soi sét minh phủ, siêu độ vong linh.
              - Hoặc giả giáng tai hoạ cho quân địch.
              Kì thực, thuật “phù” của Đạo giáo là sự kế thừa vu thuật thời cổ. Trong hai tông phái lớn của Đạo giáo, đạo sĩ của Chính Nhất phái 正一派 mới có thuật “phù”, còn đạo sĩ Toàn Chân phái 全真派 chú trọng tu dưỡng khí huyết và thuật luyện đan thì không có thuật điều khiển chế ngự thần quỷ.

                                                                  Huỳnh Chương Hưng
                                                                  Quy Nhơn 08/12/2019

    Nguyên tác Trung văn
    Trong quyển
    THÚ VỊ VĂN HOÁ TRI THỨC ĐẠI TOÀN
    趣味文化知识大全
    Thanh Thạch 青石 biên soạn
    Trung Quốc Hoa kiều xuất bản xã, 2013

    Dịch thuật: "Phù" mà đạo sĩ dùng để khu ma trừ yêu là gì

    Đăng lúc  18:16  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    “PHÙ” MÀ ĐẠO SĨ DÙNG ĐỂ KHU MA TRỪ YÊU LÀ GÌ

              “Phù” (bùa) của Đạo giáo là một trong những pháp thuật cơ bản nhất của Đạo sĩ, cũng gọi là “phù thư” 符书, “đan thư” 丹书. Cụ thể mà nói, “phù” chia làm “phù” và “lục” . “Phù” vốn là tín vật mà thời cổ dùng để điều động quân đội, Đạo giáo lấy đó dùng làm phương thức của đạo thuật. Nhìn chung, “phù” là những phù hiệu nhìn giống như chữ mà không phải chữ, nhìn giống hình vẽ mà không phải hình vẽ, được viết trên giấy vàng, trên lụa, những gì viết bên trên là những sự tình cụ thể yêu cầu thần linh đi làm. Còn “lục” cũng như vậy, được viết trên giấy vàng, trên lụa, nhưng gì viết bên trên là danh tính của cụ thể của thần linh được điều động. Kết hợp cả hai lại, có thể mệnh lệnh cho thần linh đi làm một việc nào đó. Chủng loại sự việc mà cụ thể có thể làm tương đối nhiều, thường thấy có:
              - Khu trừ yêu quái quấy nhiễu trên thân thể người bệnh.
              - Cầu xin Long vương làm mưa.
              - Triệu thỉnh thiên thần, lệnh sát quỷ.
              - Hoặc giả soi sét minh phủ, siêu độ vong linh.
              - Hoặc giả giáng tai hoạ cho quân địch.
              Kì thực, thuật “phù” của Đạo giáo là sự kế thừa vu thuật thời cổ. Trong hai tông phái lớn của Đạo giáo, đạo sĩ của Chính Nhất phái 正一派 mới có thuật “phù”, còn đạo sĩ Toàn Chân phái 全真派 chú trọng tu dưỡng khí huyết và thuật luyện đan thì không có thuật điều khiển chế ngự thần quỷ.

                                                                  Huỳnh Chương Hưng
                                                                  Quy Nhơn 08/12/2019

    Nguyên tác Trung văn
    Trong quyển
    THÚ VỊ VĂN HOÁ TRI THỨC ĐẠI TOÀN
    趣味文化知识大全
    Thanh Thạch 青石 biên soạn
    Trung Quốc Hoa kiều xuất bản xã, 2013

    Thứ Bảy, 7 tháng 12, 2019

    VĂN TỰ NGỤC HAI ĐỜI MINH THANH
    (kì cuối)

    Văn tự ngục đời Thanh
              Văn tự ngục đời Thanh so với đời Minh chỉ có hơn chứ không có kém. Khởi đầu từ Thánh Tổ Khang Hi 康熙 hoàng đế, thời Ung Chính 雍正phát triển thêm một bước, thời Càn Long 乾隆đạt đến cao trào. Văn tự ngục thời Càn Long phạm vi định tội càng rộng, hơn nữa số lượng cũng nhiều gấp bội so với thời Khang Hi, Ung Chính cộng lại. Văn tự ngục thời Càn Long chủ yếu phát sinh vào thời kì kiểm tra giao nộp sách cấm. Sau năm Càn Long thứ 46, tuy thỉnh thoảng phát sinh, nhưng việc xử trí tương đối nhẹ, từ đó dần dần tuyệt tích.
              Án văn tự ngục nổi tiếng thời Khang Hi bao gồm:
    - Trang Đình Long 庄廷鑨với án “Minh sử tập lược” 明史辑略.
    - Đới Danh Thế 戴世名 với án “Nam Sơn tập” 南山集.
    - Phương Hiếu Tiêu 方孝标 với án “Điền Kiềm kỉ văn” 滇黔纪闻.
              Thời Ung Chính, án văn tự ngục chủ yếu bao gồm:
    - Uông Cảnh Kì 汪景棋với án “Tây chinh tuỳ bút” 西征随笔.
    - Án Giang Tây khảo đề kí của Tra Tự Đình 查嗣庭.
    - Trâu Nhữ Lỗ 邹汝鲁 với án “Hà thanh tụng” 河清颂.
    - Lục Sinh Nam 陆生楠 với án “Thông giám luận” 通鉴论.
    - Án văn tự ngục của Tăng Tĩnh 曾静, Lữ Lưu Lương 吕留良.
              Án văn tự ngục thời Càn Long lên đến hơn 80 vụ, trọng án đến hơn 40 vụ, chủ yếu bao gồm:
    - Án thơ văn của Khuất Đại Quân 屈大均.
    - Án thơ văn phản nghịch của Vương Tuần 王珣.
    - Lục Hiển Nhân 陆显仁 với án “Cách vật quảng nghĩa” 格物广义.
    - Hoà thượng Chiêm Quy 澹归 với án “Biến Hành Đường tập” 遍行堂集.
    - Thẩm Đức Tiềm 沈德潜 với án “Quốc triều thi biệt tài tập” 国朝诗别裁集.
    - Vương Tích Hầu 王锡侯 với án “Tự quán” 字贯.
    - Viên Kế Hàm 袁继咸 với án “Lục Liễu Đường tập” 六柳堂集.
    - Long Phụng Tường 龙凤祥 với án “Xạ Hương sơn ấn tồn” 麝香山印存.
    - Nhan Quý Hanh 颜季亨với án “Cửu thập cửu đẳng” 九十九等.
    - Lí Lân 李驎với án “Cù Phong tập” 虬峰集.
    - Phừng Vương Tôn 冯王孙 với án “Ngũ kinh giản vịnh” 五经简咏.
    - Thẩm Đại Thụ 沈大绶 với án “Thạc quả lục” 硕果录, “Giới thọ từ” 介寿辞.
    - Thạch Trác Hoè 石卓槐 với án “Giới Phố tập” 介圃集.
    - Chúc Đình Tranh 祝廷诤 với án “Độc Tam tự kinh” 读三字经.
    - Vương Trọng Nho 王仲儒 với án “Tây Trai tập” 西斋集.
    - Lương Tam Xuyên 梁三川 với án “Kì oan lục” 奇冤录.
    - Cao Trị Thanh 高治清 với án “Thương Lãng hương chí” 沧浪乡志.
    - Đới Như Hoàng 戴如煌 với án “Thu hồng cận thảo” 秋鸿近草.
    - Ngô Văn Thế 吴文世 với án “Vân Thị thảo” 云氏草.
    - Lưu Ngộ Kì 刘遇奇 với án “Thận Dư Đường tập” 慎余堂集.
    - Hạ Thế Thịnh 贺世盛 với án “Đốc quốc sách” 笃国策.
    - Từ Thuật Quỳ 徐述夔 với án “Nhất trụ lâu thi” 一柱楼诗.
                                                                                                       (hết)

                                                               Huỳnh Chương Hưng
                                                               Quy Nhơn 07/12/2019

    Nguồn
    LỊCH TRIỂU HOÀNG CUNG BẢO TỊCH
    历朝皇宫宝籍
    Tác giả: Hướng Tư 向斯
    Bắc Kinh: Trung Quốc Văn sử xuất bản xã, 2002.

    Dịch thuật: Văn tự ngục hai đời Minh Thanh (kì cuối)

    Đăng lúc  18:07  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    VĂN TỰ NGỤC HAI ĐỜI MINH THANH
    (kì cuối)

    Văn tự ngục đời Thanh
              Văn tự ngục đời Thanh so với đời Minh chỉ có hơn chứ không có kém. Khởi đầu từ Thánh Tổ Khang Hi 康熙 hoàng đế, thời Ung Chính 雍正phát triển thêm một bước, thời Càn Long 乾隆đạt đến cao trào. Văn tự ngục thời Càn Long phạm vi định tội càng rộng, hơn nữa số lượng cũng nhiều gấp bội so với thời Khang Hi, Ung Chính cộng lại. Văn tự ngục thời Càn Long chủ yếu phát sinh vào thời kì kiểm tra giao nộp sách cấm. Sau năm Càn Long thứ 46, tuy thỉnh thoảng phát sinh, nhưng việc xử trí tương đối nhẹ, từ đó dần dần tuyệt tích.
              Án văn tự ngục nổi tiếng thời Khang Hi bao gồm:
    - Trang Đình Long 庄廷鑨với án “Minh sử tập lược” 明史辑略.
    - Đới Danh Thế 戴世名 với án “Nam Sơn tập” 南山集.
    - Phương Hiếu Tiêu 方孝标 với án “Điền Kiềm kỉ văn” 滇黔纪闻.
              Thời Ung Chính, án văn tự ngục chủ yếu bao gồm:
    - Uông Cảnh Kì 汪景棋với án “Tây chinh tuỳ bút” 西征随笔.
    - Án Giang Tây khảo đề kí của Tra Tự Đình 查嗣庭.
    - Trâu Nhữ Lỗ 邹汝鲁 với án “Hà thanh tụng” 河清颂.
    - Lục Sinh Nam 陆生楠 với án “Thông giám luận” 通鉴论.
    - Án văn tự ngục của Tăng Tĩnh 曾静, Lữ Lưu Lương 吕留良.
              Án văn tự ngục thời Càn Long lên đến hơn 80 vụ, trọng án đến hơn 40 vụ, chủ yếu bao gồm:
    - Án thơ văn của Khuất Đại Quân 屈大均.
    - Án thơ văn phản nghịch của Vương Tuần 王珣.
    - Lục Hiển Nhân 陆显仁 với án “Cách vật quảng nghĩa” 格物广义.
    - Hoà thượng Chiêm Quy 澹归 với án “Biến Hành Đường tập” 遍行堂集.
    - Thẩm Đức Tiềm 沈德潜 với án “Quốc triều thi biệt tài tập” 国朝诗别裁集.
    - Vương Tích Hầu 王锡侯 với án “Tự quán” 字贯.
    - Viên Kế Hàm 袁继咸 với án “Lục Liễu Đường tập” 六柳堂集.
    - Long Phụng Tường 龙凤祥 với án “Xạ Hương sơn ấn tồn” 麝香山印存.
    - Nhan Quý Hanh 颜季亨với án “Cửu thập cửu đẳng” 九十九等.
    - Lí Lân 李驎với án “Cù Phong tập” 虬峰集.
    - Phừng Vương Tôn 冯王孙 với án “Ngũ kinh giản vịnh” 五经简咏.
    - Thẩm Đại Thụ 沈大绶 với án “Thạc quả lục” 硕果录, “Giới thọ từ” 介寿辞.
    - Thạch Trác Hoè 石卓槐 với án “Giới Phố tập” 介圃集.
    - Chúc Đình Tranh 祝廷诤 với án “Độc Tam tự kinh” 读三字经.
    - Vương Trọng Nho 王仲儒 với án “Tây Trai tập” 西斋集.
    - Lương Tam Xuyên 梁三川 với án “Kì oan lục” 奇冤录.
    - Cao Trị Thanh 高治清 với án “Thương Lãng hương chí” 沧浪乡志.
    - Đới Như Hoàng 戴如煌 với án “Thu hồng cận thảo” 秋鸿近草.
    - Ngô Văn Thế 吴文世 với án “Vân Thị thảo” 云氏草.
    - Lưu Ngộ Kì 刘遇奇 với án “Thận Dư Đường tập” 慎余堂集.
    - Hạ Thế Thịnh 贺世盛 với án “Đốc quốc sách” 笃国策.
    - Từ Thuật Quỳ 徐述夔 với án “Nhất trụ lâu thi” 一柱楼诗.
                                                                                                       (hết)

                                                               Huỳnh Chương Hưng
                                                               Quy Nhơn 07/12/2019

    Nguồn
    LỊCH TRIỂU HOÀNG CUNG BẢO TỊCH
    历朝皇宫宝籍
    Tác giả: Hướng Tư 向斯
    Bắc Kinh: Trung Quốc Văn sử xuất bản xã, 2002.

    Thứ Sáu, 6 tháng 12, 2019

    VĂN TỰ NGỤC HAI ĐỜI MINH THANH
    (kì 2)

              Thời Hồng Vũ , những văn ngục trong văn tự phạm huý bị giết bao gồm:
    - Huấn đạo Phủ học Bắc Bình 北平 Triệu Bá Ninh 赵伯宁, viết Vạn thọ biểu 万寿表 cho Đô ti có cụm “thuỳ tử tôn tác tắc” 垂子孙作则.
    - Giáo thụ Phủ học Chiết Giang 浙江Lâm Nguyên Lượng 林元亮, viết Tạ tăng bổng biểu 谢增俸表  thay cho Hải Môn Vệ 海门卫 có cụm “tác tắc thuỳ hiến” 作则垂宪.
    - Học chính Phong Châu 沣州Mạnh Thanh 孟清 với Hạ Đông chí biểu 贺冬至表, có từ “Thánh đức tác tắc” 圣德 作则.
    - Huấn đạo Học phủ Phúc Châu 福州 Lâm Bá Cảnh 林伯璟 viết cho Án sát sứ Đông chí biểu 贺冬至表, có cụm từ “nghi tắc thiên hạ” 仪则天下.
    - Huấn đạo Phủ học Quế Lâm 桂林 Tưởng Chất 蒋质 với Chính đán hạ biểu 正旦贺表, có từ “kiến trung tác tắc” 建中作则.
    - Huấn đạo Học phủ Thường Châu 常州 Tưởng Trấn 蒋镇 với Chính đán hạ biểu 正旦贺表 có “duệ tính sinh tri” 睿性生知.
    - Huấn đạo Phủ học Hoài Khánh 怀庆 Lữ Duệ 吕睿 với Tạ tứ mã biểu 谢赐马表 có cụm từ “dao chiêm đế phi” 遥瞻帝扉.
    - Giáo dụ Huyện học Tường Phù 祥符 Giả Chứ 贾翥với Chính đán hạ biểu 正旦贺表  có “thủ pháp tượng Nguỵ” 取法象魏.
              Chu Nguyên Chương đem những chữ “tắc” đọc thành “tặc” , “sinh” đọc thành “tăng” , “đế phi” 帝扉 xem thành “đế phi” 帝非 (đế vương sai trái), “thủ pháp” 取法 xem thành “khứ pháp” 去法 (bỏ pháp luật), nhất loạt xử tử các tác giả bài biểu.
    - Huấn đạo Bạc Châu 亳州 Lâm Vân 林云 viết cho Bạc Châu bài Tạ Đông cung tứ yến tiên 谢东宫赐宴笺 có cụm “thức quân phụ dĩ ban tước lộc” 式君父以班爵禄, Chu Nguyên Chương cho rằng “thức quân phụ” 式君父chính là “thất quân phụ” 失君父, là lời mắng chửi bất kính.
    - Giáo dụ huyện Uý Thị 尉氏 Hứa Nguyên 许元 với Vạn thọ hạ biểu 万寿贺表 có câu “thể càn pháp khôn, tảo sức thái bình” 体乾法坤, 藻饰太平, Chu Nguyên Chương cảm thấy từ “pháp khôn” 法坤 chính là “phát khôn” 发髡 (đầu trọc), “tảo sức thái bình” 藻饰太平 chính là “tảo thất thái bình” 早失太平 (sớm mất thái bình), làm sao có thể được.
    - Huấn đạo phủ Đức An 德安 Ngô Hiến 吴宪 với Hạ lập thái tôn biểu 贺立太孙表, có câu “thiên hạ hữu đạo, vọng bái thanh môn” 天下有道, 望拜青门, Chu Nguyên Chương cho rằng “hữu đạo” 有道 tức “hữu đạo” 有盗 (có trộm cắp), “thanh môn” 青门 tức “thượng miếu” 尚庙.
              Thế là Lâm Vân林云, Hứa Nguyên许元, Ngô Hiến吴宪đều bị xử trảm.
    - Trong Hạ vạn tuế biểu 贺万岁表 của Huấn đạo Châu học Trần Châu 陈州 có cụm “thọ vực thiên thu” 寿域千秋, Chu Nguyên Chương nghiềm ngẫm rất lâu, đọc không ra kiểu nào, kết quả vẫn giết chết Huấn đạo. (1)
    - Còn Giáo dụ huyện Tượng Sơn 象山 Tưởng Cảnh Cao 蒋景高, giáo thụ Phủ học Hàng Châu 杭州 Từ Nhất Quỳ 徐一夔 cũng vì văn tự phạm huý mà bị giết.
              Chu Nguyên Chương khi đọc bài biểu chúc mừng của Từ Nhất Quỳ  dâng lên có câu: “Quang thiên chi hạ, thiên sinh thánh nhân, vi thế tác tắc” 光天之下, 天生圣人, 为世作则 đã không ngăn được giận dữ, nói rằng: “sinh” là “tăng” , mắng ta đã làm hoà thượng; “quang” là “thế phát” 薙发 (cắt tóc), nói ta là tên trọc; “tắc” cận âm với “tặc” , mắng ta từng làm qua giặc! quan Lễ bộ trong không khí hung hiểm điên cuồng sát lục của  ngục án văn tự sợ đến mức không biết phải làm sao, đành tấu thỉnh Chu Nguyên Chương giáng xuống một đạo biểu thức tiêu chuẩn, để thần dân tuân thủ tránh được phạm vào điều huý (2). Năm Hồng Vũ thứ 29, Chu Nguyên Chương mệnh cho Hàn lâm học sĩ Lưu Tam Ngô 刘三吾, Tả Xuân phường Thạch Tán Thiện 石赞善, Vương Tuấn Hoa 王俊华 soạn biểu thức chức mừng tạ ơn, ban hành các ti (3). Văn tự ngục mới tạm cáo chung.
              Chu Nguyên Chương từ cấm kị cá nhân dần mở rộng ra, định ra nhiều khu vực cấm cho thần dân thiên hạ. Năm Hồng Vũ 洪武thứ 3, cấm thần dân khi đặt tên dùng các chữ: thiên , quốc , quân , thần , thánh , thần , nghiêu , thuấn , vũ , thang , văn , vũ , chu , tần , hán , tấn .
              Năm thứ 26, công cáo, cáo thị cấm dùng các tự cú: thái tổ 太祖, thánh tôn 圣孙, long tôn 龙孙, hoàng tôn 黄孙, vương tôn 王孙, thái thúc 太叔, thái huynh 太兄, thái đệ 太弟, thái sư 太师, thái phó 太傅, thái bảo 太保, đại phu 大夫, đãi chiếu 待诏, bác sĩ 博士, thái y 太医, thái giám 太监, đại quan 大官, lang trung 郎中.
              Ai vi phạm sẽ bị trọng hình (4). Văn tự ngục trước và sau thời Hồng Vũ lâu đến 13 năm, nhiều văn sĩ đã vì hoạ mà bị giết... (còn tiếp)

    Chú của nguyên tác
    1- “Nhị thập nhị sử Trát kí . Quyển tam thập nhị” 二十二史札记 . 卷三十二
    2- “Tiễn thắng dã văn” 翦胜野闻
    3- “Minh Thái Tổ thực lục . Quyển nhị bách tứ thập lục” 明太祖实录 . 卷二百四十六
    4- “Khách toạ chuế ngữ . Quyển thập” 客座赘语 . 卷十

                                                               Huỳnh Chương Hưng
                                                               Quy Nhơn 06/12/2019

    Nguồn
    LỊCH TRIỂU HOÀNG CUNG BẢO TỊCH
    历朝皇宫宝籍
    Tác giả: Hướng Tư 向斯
    Bắc Kinh: Trung Quốc Văn sử xuất bản xã, 2002.

    Dịch thuật: Văn tự ngục hai đời Minh Thanh (kì 2)

    Đăng lúc  17:48  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    VĂN TỰ NGỤC HAI ĐỜI MINH THANH
    (kì 2)

              Thời Hồng Vũ , những văn ngục trong văn tự phạm huý bị giết bao gồm:
    - Huấn đạo Phủ học Bắc Bình 北平 Triệu Bá Ninh 赵伯宁, viết Vạn thọ biểu 万寿表 cho Đô ti có cụm “thuỳ tử tôn tác tắc” 垂子孙作则.
    - Giáo thụ Phủ học Chiết Giang 浙江Lâm Nguyên Lượng 林元亮, viết Tạ tăng bổng biểu 谢增俸表  thay cho Hải Môn Vệ 海门卫 có cụm “tác tắc thuỳ hiến” 作则垂宪.
    - Học chính Phong Châu 沣州Mạnh Thanh 孟清 với Hạ Đông chí biểu 贺冬至表, có từ “Thánh đức tác tắc” 圣德 作则.
    - Huấn đạo Học phủ Phúc Châu 福州 Lâm Bá Cảnh 林伯璟 viết cho Án sát sứ Đông chí biểu 贺冬至表, có cụm từ “nghi tắc thiên hạ” 仪则天下.
    - Huấn đạo Phủ học Quế Lâm 桂林 Tưởng Chất 蒋质 với Chính đán hạ biểu 正旦贺表, có từ “kiến trung tác tắc” 建中作则.
    - Huấn đạo Học phủ Thường Châu 常州 Tưởng Trấn 蒋镇 với Chính đán hạ biểu 正旦贺表 có “duệ tính sinh tri” 睿性生知.
    - Huấn đạo Phủ học Hoài Khánh 怀庆 Lữ Duệ 吕睿 với Tạ tứ mã biểu 谢赐马表 có cụm từ “dao chiêm đế phi” 遥瞻帝扉.
    - Giáo dụ Huyện học Tường Phù 祥符 Giả Chứ 贾翥với Chính đán hạ biểu 正旦贺表  có “thủ pháp tượng Nguỵ” 取法象魏.
              Chu Nguyên Chương đem những chữ “tắc” đọc thành “tặc” , “sinh” đọc thành “tăng” , “đế phi” 帝扉 xem thành “đế phi” 帝非 (đế vương sai trái), “thủ pháp” 取法 xem thành “khứ pháp” 去法 (bỏ pháp luật), nhất loạt xử tử các tác giả bài biểu.
    - Huấn đạo Bạc Châu 亳州 Lâm Vân 林云 viết cho Bạc Châu bài Tạ Đông cung tứ yến tiên 谢东宫赐宴笺 có cụm “thức quân phụ dĩ ban tước lộc” 式君父以班爵禄, Chu Nguyên Chương cho rằng “thức quân phụ” 式君父chính là “thất quân phụ” 失君父, là lời mắng chửi bất kính.
    - Giáo dụ huyện Uý Thị 尉氏 Hứa Nguyên 许元 với Vạn thọ hạ biểu 万寿贺表 có câu “thể càn pháp khôn, tảo sức thái bình” 体乾法坤, 藻饰太平, Chu Nguyên Chương cảm thấy từ “pháp khôn” 法坤 chính là “phát khôn” 发髡 (đầu trọc), “tảo sức thái bình” 藻饰太平 chính là “tảo thất thái bình” 早失太平 (sớm mất thái bình), làm sao có thể được.
    - Huấn đạo phủ Đức An 德安 Ngô Hiến 吴宪 với Hạ lập thái tôn biểu 贺立太孙表, có câu “thiên hạ hữu đạo, vọng bái thanh môn” 天下有道, 望拜青门, Chu Nguyên Chương cho rằng “hữu đạo” 有道 tức “hữu đạo” 有盗 (có trộm cắp), “thanh môn” 青门 tức “thượng miếu” 尚庙.
              Thế là Lâm Vân林云, Hứa Nguyên许元, Ngô Hiến吴宪đều bị xử trảm.
    - Trong Hạ vạn tuế biểu 贺万岁表 của Huấn đạo Châu học Trần Châu 陈州 có cụm “thọ vực thiên thu” 寿域千秋, Chu Nguyên Chương nghiềm ngẫm rất lâu, đọc không ra kiểu nào, kết quả vẫn giết chết Huấn đạo. (1)
    - Còn Giáo dụ huyện Tượng Sơn 象山 Tưởng Cảnh Cao 蒋景高, giáo thụ Phủ học Hàng Châu 杭州 Từ Nhất Quỳ 徐一夔 cũng vì văn tự phạm huý mà bị giết.
              Chu Nguyên Chương khi đọc bài biểu chúc mừng của Từ Nhất Quỳ  dâng lên có câu: “Quang thiên chi hạ, thiên sinh thánh nhân, vi thế tác tắc” 光天之下, 天生圣人, 为世作则 đã không ngăn được giận dữ, nói rằng: “sinh” là “tăng” , mắng ta đã làm hoà thượng; “quang” là “thế phát” 薙发 (cắt tóc), nói ta là tên trọc; “tắc” cận âm với “tặc” , mắng ta từng làm qua giặc! quan Lễ bộ trong không khí hung hiểm điên cuồng sát lục của  ngục án văn tự sợ đến mức không biết phải làm sao, đành tấu thỉnh Chu Nguyên Chương giáng xuống một đạo biểu thức tiêu chuẩn, để thần dân tuân thủ tránh được phạm vào điều huý (2). Năm Hồng Vũ thứ 29, Chu Nguyên Chương mệnh cho Hàn lâm học sĩ Lưu Tam Ngô 刘三吾, Tả Xuân phường Thạch Tán Thiện 石赞善, Vương Tuấn Hoa 王俊华 soạn biểu thức chức mừng tạ ơn, ban hành các ti (3). Văn tự ngục mới tạm cáo chung.
              Chu Nguyên Chương từ cấm kị cá nhân dần mở rộng ra, định ra nhiều khu vực cấm cho thần dân thiên hạ. Năm Hồng Vũ 洪武thứ 3, cấm thần dân khi đặt tên dùng các chữ: thiên , quốc , quân , thần , thánh , thần , nghiêu , thuấn , vũ , thang , văn , vũ , chu , tần , hán , tấn .
              Năm thứ 26, công cáo, cáo thị cấm dùng các tự cú: thái tổ 太祖, thánh tôn 圣孙, long tôn 龙孙, hoàng tôn 黄孙, vương tôn 王孙, thái thúc 太叔, thái huynh 太兄, thái đệ 太弟, thái sư 太师, thái phó 太傅, thái bảo 太保, đại phu 大夫, đãi chiếu 待诏, bác sĩ 博士, thái y 太医, thái giám 太监, đại quan 大官, lang trung 郎中.
              Ai vi phạm sẽ bị trọng hình (4). Văn tự ngục trước và sau thời Hồng Vũ lâu đến 13 năm, nhiều văn sĩ đã vì hoạ mà bị giết... (còn tiếp)

    Chú của nguyên tác
    1- “Nhị thập nhị sử Trát kí . Quyển tam thập nhị” 二十二史札记 . 卷三十二
    2- “Tiễn thắng dã văn” 翦胜野闻
    3- “Minh Thái Tổ thực lục . Quyển nhị bách tứ thập lục” 明太祖实录 . 卷二百四十六
    4- “Khách toạ chuế ngữ . Quyển thập” 客座赘语 . 卷十

                                                               Huỳnh Chương Hưng
                                                               Quy Nhơn 06/12/2019

    Nguồn
    LỊCH TRIỂU HOÀNG CUNG BẢO TỊCH
    历朝皇宫宝籍
    Tác giả: Hướng Tư 向斯
    Bắc Kinh: Trung Quốc Văn sử xuất bản xã, 2002.

    Thứ Năm, 5 tháng 12, 2019

    VĂN TỰ NGỤC HAI ĐỜI MINH THANH
    (kì 1)

    Sự hưng khởi văn tự ngục
              Văn tự ngục là sản vật của cường quyền chuyên chế. Lịch sử lâu đời của văn tự ngục Trung Quốc cơ hồ thuỷ chung với chế độ quân chủ. Thời Chu Tuyên Vương 周宣王, dân dao ca rằng:
              Nguyệt tương thăng, nhật tương một, mị hồ ki phục, ki vong Chu quốc.
              月将升, 日将没, 糜弧箕箙, 几亡周国
              (Mặt trăng sắp mọc, mặt trời sắp lặn, cây cung gỗ dâu, túi cung cỏ ki, nhà Chu sắp diệt vong)
              Nội hàm lời của dân dao là khuyên gián, Chu Tuyên Vương nghi kị, bèn đại khai sát giới. Đại khái đó có lẽ là vụ văn ngục tương đối sớm nhất của Trung Quốc. Học giả đời Hán là Dương Uẩn 杨恽 khi viết Báo Tôn Hội Tông thư 报孙会宗书, nhân vì phạm huý mà bị giết. Giai cấp thống trị từ những câu chữ trong tác phẩm của văn nhân trích lấy ra, quy chụp tội danh cấu thành oan ngục, để áp chế tư tưởng, tàn sát sĩ tử, sử gọi là “văn tự ngục”. Thời kì Minh Thanh là đỉnh cao của văn tự ngục Trung Quốc. Học giả cuối đời Thanh là Cung Tự Trân 龚自珍 nói rằng:
    Tị tịch uý văn văn tự ngục
         Trứ thư đô vị đạo lương mưu (1)
    避席畏闻文字狱
    著书都为稻粱谋
    (Rời chiếu sợ nghe văn tự ngục
    Trứ tác cũng chỉ vì mưu cầu một cuộc sống bình an)

    Văn tự ngục đời Minh
              Nhân vật đại biểu cho việc đại hưng văn tự ngục đời Minh là Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương 周元璋. Chu Nguyên Chương lâm chính theo ý mình, sát lục sĩ tử, đại hưng văn ngục, tựa hồ chẳng có pháp định nào, mang tính tuỳ ý cực lớn. Tài sĩ Tô Châu Cao Khải 高启từng đề qua bài thơ “Cung nữ đồ” 宫女图:
    Nữ nô phù tuý đạp thương đài
    Minh nguyệt tây viên thị yến hồi
    Tiểu khuyển cách hoa không phệ ảnh
    Dạ thâm cung cấm hữu thuỳ lai?
    女奴扶醉踏苍苔
    明月西园侍宴回
    小犬隔花空吠影
    夜深宫禁有谁来
    (Nữ nô đạp lên rêu xanh dìu quân vương đang say khướt
    Trở về sau khi hầu tiệc ở tây viên trong đêm trăng sáng
    Cách hoa, con chó nhỏ sủa chiếc bóng đang di động
    Đêm khuya nơi cung cấm có ai đến đâu?
              Chu Nguyên Chương sau khi được báo, nuôi hận trong lòng. Có người vu cáo Tri phủ Tô Châu Nguỵ Quan 魏观 tu sửa cung điện cũ của Trương Sĩ Thành 张士诚, mưu đồ làm loạn. Chu Nguyên Chương hạ lệnh chém đầu Nguỵ Quan. Khi thẩm tra Nguỵ Quan, phát hiện bài Thướng lương văn 上梁文của Cao Khải ca tụng Nguỵ Quan tu sửa Tri phủ nha môn, Chu Nguyên Chương lộ rõ vui mừng, mượn cơ hội đó cũng xử tử Cao Khải.
              Sự phản cảm của Chu Nguyên Chương đối với văn nhân và sự mệt thị và căm hận của văn nhân sĩ tử đối với việc Chu Nguyên Chương từ hồng quân phát tích thành công bổ sung cho nhau. Văn nhân đại biểu trong đó là chú cháu Hạ Bá Khải 夏伯启 - nho sĩ ở Quý Khê 贵溪, từng chặt đứt ngón tay, thề không hợp tác với tân triều, vĩnh viễn không làm quan. Hạ Bá Khải bị bắt đưa đến kinh sư, Chu Nguyên Chương hỏi rằng:
              Tích thế loạn cư hà xứ?
              昔乱世居何处?
              (Trước đây lúc thế loạn sống ở đâu?)
              Đáp rằng:
              Hồng khấu loạn thời, tị cư vu Phúc Kiến, Giang Tây lưỡng giới gian.
              红寇乱时, 避居于福建, 江西两界间 
              (Lúc loạn hồng khấu (giặc đỏ), tránh loạn sống ở giáp giới hai tỉnh Phúc Kiến, Giang Tây)
              Chu Nguyên Chương nghe qua cả giận, nói rằng:
              Trẫm tri Bá Khải tâm hoài phẫn nộ, tương dĩ vi trẫm thủ thiên hạ phi kì đạo dã.
              朕知伯启心怀忿怒, 将以为朕取天下非其道也
              (Trẫm biết Bá Khải ôm lòng phẫn nộ, cho rằng trẫm lấy được thiên hạ không hợp với đạo lí)
              Nhĩ Bá Khải ngôn hồng khấu loạn thời, ý hữu tha phẫn, kim khứ chỉ bất vi trẫm dụng, nghi kiêu lệnh, tịch một kì gia, dĩ tuyệt cuồng ngu phu phỏng hiệu chi phong.
              Chu Nguyên Chương bảo rằng:
              尔伯启言红寇乱时, 意有他忿, 今去指不为朕用, 宜枭令, 籍没其家, 以绝狂愚夫仿效之风
              (Nhà người Bá Khải khi nói hồng khấu loạn, có ý căm phẫn việc khác, nay cho là không dùng để chỉ trẫm thì cũng đã đáng bêu đầu, tịch thu gia sản, nhằm dứt tuyệt những kẻ cuồng ngu bắt chước theo)
              Hạ Bá Khải bèn bị áp giải về nguyên tịch, xử tử tại chỗ. (2) Nho sĩ Tô Châu Diêu Nhuận 姚闰, Vương Mô 王谟 cũng nhân vì cự tuyệt hợp tác mà bị xử tử hình, tài sản toàn gia bị tịch thu. (3)
              Đối với văn nhân không hợp tác, Chu Nguyên Chương không phải là giết hết, có một số văn sĩ danh vọng rất lớn không muốn làm quan thì ông cũng không miễn cưỡng. Dương Duy Trinh 杨维桢 người Sơn Âm 山音 Chiết Giang 浙江, hiệu Thiết Nhai 铁崖, văn tài cái thế, tài làm thơ nổi tiếng trong thiên hạ, đương thời gọi ông là Thiết Nhai Thể铁崖体. Năm Hồng Vũ 洪武 thứ 2 khi được mời tới, ông khéo léo từ chối, năm sau, quan địa phương giục ông lên đường, ông làm bài phú Lão khách phụ dao 老客妇谣, nói là bà lão không thể tái giá, nếu không thông cảm, đánh phải tự sát. Thanh danh Dương Duy Trinh vang dội, Chu Nguyên Chương cũng không cưỡng cầu. Dương Duy Trinh trú tại Nam Kinh 南京mấy tháng rồi xin về quê nhà. Học giả Tống Liêm 宋濂làm thơ tặng ông:
    Bất thụ quân vương ngũ sắc chiếu
       Bạch y tuyên chí bạch y hoàn (4)
    不受君王五色诏
    白衣宣至白衣还
    (Không nhận chiếu ngũ sắc của quân vương
    Giữ áo trắng trở về áo trắng)
              Rốt cuộc “Bạch y tuyên chí bạch y hoàn” là thiểu số. Chu Nguyên Chương đối với văn nhân không chịu hợp tác rất căm giận, nhất là không thể dung thứ văn nhân sĩ tử trong lòng có vự việc giấu kín không chịu nói với ai, mượn xưa chê nay. Thế là, văn tự có dấu vết phạm huý, đại hưng oan ngục, liên luỵ nhiều người, trảm sát người vô tội. Văn tự mà Chu Nguyên Chương cho là phạm cấm kị, đến từ lúc ông ta xuất thân và thân thế thấp kém: Chu Nguyên Chương từng làm hoà thượng, kị huý những chữ đại loại như “quang , thốc , tăng , lư ”; từng làm qua tiểu binh của hồng quân, bị địch thủ mắng là hồng tặc, hồng khấu nên kị huý  những chữ như “tặc , khấu và tắc ”. Văn tự ngục từ những chữ này gây ra khiến nhiều người vô tội bị chết – nhân vì họ ủng hộ tân triều, xuất ra làm quan, đồng thời trong lòng có chí hướng khác.
              Sau khi triều Minh kiến lập, thiên hạ an định, văn nhân ngày càng đắc thế. Võ tướng chẳng có mùi vị gì. Chu Nguyên Chương vốn không tín nhiệm văn nhân, các võ tướng mượn cơ hội khiêu khích, văn tự ngục liền từng đợt từng đợt dậy sóng. Các võ tướng công hầu lập trạng, cáo văn nhân âm hiểm giảo hoạt mà cơ trí. Chu Nguyên Chương cảm thấy, võ định thiên hạ, văn trị thái bình, trị thiên hạ nếu không phải văn nhân thì không thể. Thuyết khách bèn nói: Điều đó đương nhiên là không sai, nhưng không thể quá tin tưởng văn nhân. Trương Cửu Tứ 张九四 năm nào đối với văn nhân tốt biết bao? Lương cao nhà đẹp, tiệc nhỏ tiệc
    lớn, đưa văn nhân lên tới trời, nhưng văn nhân thì sao? mắng ông ta, thay thế ông ta đặt tên Trương Sĩ Thành. Chu Nguyên Chương cảm thấy kì quái, tên Trương Sĩ Thành chẳng phải rất tốt sao? Thuyết khách chỉ ra rằng: Tốt cái gì? Mạnh tử nói rằng:
    Sĩ thành tiểu nhân dã (*)
    士诚小人也
    Câu đó ngắt câu là:
    Sĩ thành, tiểu nhân dã.
    士诚, 小人也
    (Sĩ Thành là kẻ tiểu nhân)
              Chu Nguyên Chương cả kinh, lập tức tra trong Mạnh Tử 孟子, quả nhiên là có câu đó. Từ đó Chu Nguyên Chương cẩn thận về văn tự của các văn nhân.
                                                                                         (còn tiếp)

    Chú của nguyên tác
    1- “Vịnh sử” 咏史
    2- “Minh sử - Quyển cửu thập tứ” 明史卷九十四
    3- “Minh sử - Hình pháp chí” 明史刑法志
    4- “Minh sử - Quyển nhị bách bát thập ngũ” 明史卷二百八十五

    Chú của người dịch
    *- “Sĩ” ở đây là Doãn Sĩ 尹士, tên của một người nước Tề.
    Câu này ở thiên Công Tôn Sửu hạ 公孙丑下 trong Mạnh Tử 孟子.
              Mạnh Tử rời nước Tề, Doãn Sĩ nói với mọi người rằng: “Không biết Tề Vương không thể làm thánh nhân như Thương Thang 商汤, Vũ Vương 武王, đó là Mạnh Tử không sáng suốt; biết là không thể mà vẫn cứ đến, đó là Mạnh Tử đến để cầu phú quý. Từ xa ngàn dặm đến gặp, không hợp ý lại bỏ đi, nghỉ lại ba đêm mới ra khỏi ấp Trú , sao mà chậm vậy? Sĩ ta không hài lòng việc đó”.
              Cao Tử 高子đem những lời đó nói lại với Mạnh Tử.
              Mạnh Tử nói rằng: Ông Doãn Sĩ đó làm sao có thể hiểu được ta? Từ xa ngàn dặm đến gặp Tề Vương là kì vọng của ta, không hợp ý mà ra đi, lẽ nào là điều ta muốn? Chẳng qua là bất đắc dĩ mà thôi. Nghỉ lại ba đêm mới rời khỏi ấp Trú, ta vẫn cho là nhanh. Ta nghĩ rằng, có lẽ Tề Vương sẽ thay đổi thái độ. Nếu như Tề Vương thay đổi thái độ nhất định sẽ bảo ta quay lại. Rời khỏi ấp Trú mà Tề Vương không sai người đuổi theo, ta lúc đó mới quyết về quê nhà. Mặc dù là như thế, ta lẽ nào bỏ mặc Tề Vương! Tề Vương vẫn làm tốt được chính sự, nếu Tề Vương dùng ta thì không chỉ bách tính nước Tề được thái bình, mà bách tính trong thiên hạ cũng được thái bình. Tề Vương có lẽ sẽ thay đổi thái độ! Ta ngày ngày trông mong. Ta lẽ nào giống như hạng người hẹp hòi, dâng lời can ngăn mà không được tiếp nhận liền giận dỗi biểu hiện ra mặt. Một khi đã rời đi liền đi cả ngày, đến lúc không có sức mới dừng lại nghỉ?
              Doãn Sĩ nghe những lời đó, nói rằng:
    Sĩ, thành tiểu nhân dã.
    , 诚小人也.
    (Sĩ ta quả thật là tiểu nhân.)
              (“Mạnh Tử” 孟子: Vạn lệ Hoa 万丽华, Lam Húc 蓝旭dịch chú. Bắc Kinh: Trung Hoa thư cục, 2007)

                                                               Huỳnh Chương Hưng
                                                               Quy Nhơn 05/12/1019

    Nguồn
    LỊCH TRIỂU HOÀNG CUNG BẢO TỊCH
    历朝皇宫宝籍
    Tác giả: Hướng Tư 向斯
    Bắc Kinh: Trung Quốc Văn sử xuất bản xã, 2002.

    Dịch thuật: Văn tự ngục hai đời Minh Thanh (kì 1)

    Đăng lúc  18:15  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    VĂN TỰ NGỤC HAI ĐỜI MINH THANH
    (kì 1)

    Sự hưng khởi văn tự ngục
              Văn tự ngục là sản vật của cường quyền chuyên chế. Lịch sử lâu đời của văn tự ngục Trung Quốc cơ hồ thuỷ chung với chế độ quân chủ. Thời Chu Tuyên Vương 周宣王, dân dao ca rằng:
              Nguyệt tương thăng, nhật tương một, mị hồ ki phục, ki vong Chu quốc.
              月将升, 日将没, 糜弧箕箙, 几亡周国
              (Mặt trăng sắp mọc, mặt trời sắp lặn, cây cung gỗ dâu, túi cung cỏ ki, nhà Chu sắp diệt vong)
              Nội hàm lời của dân dao là khuyên gián, Chu Tuyên Vương nghi kị, bèn đại khai sát giới. Đại khái đó có lẽ là vụ văn ngục tương đối sớm nhất của Trung Quốc. Học giả đời Hán là Dương Uẩn 杨恽 khi viết Báo Tôn Hội Tông thư 报孙会宗书, nhân vì phạm huý mà bị giết. Giai cấp thống trị từ những câu chữ trong tác phẩm của văn nhân trích lấy ra, quy chụp tội danh cấu thành oan ngục, để áp chế tư tưởng, tàn sát sĩ tử, sử gọi là “văn tự ngục”. Thời kì Minh Thanh là đỉnh cao của văn tự ngục Trung Quốc. Học giả cuối đời Thanh là Cung Tự Trân 龚自珍 nói rằng:
    Tị tịch uý văn văn tự ngục
         Trứ thư đô vị đạo lương mưu (1)
    避席畏闻文字狱
    著书都为稻粱谋
    (Rời chiếu sợ nghe văn tự ngục
    Trứ tác cũng chỉ vì mưu cầu một cuộc sống bình an)

    Văn tự ngục đời Minh
              Nhân vật đại biểu cho việc đại hưng văn tự ngục đời Minh là Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương 周元璋. Chu Nguyên Chương lâm chính theo ý mình, sát lục sĩ tử, đại hưng văn ngục, tựa hồ chẳng có pháp định nào, mang tính tuỳ ý cực lớn. Tài sĩ Tô Châu Cao Khải 高启từng đề qua bài thơ “Cung nữ đồ” 宫女图:
    Nữ nô phù tuý đạp thương đài
    Minh nguyệt tây viên thị yến hồi
    Tiểu khuyển cách hoa không phệ ảnh
    Dạ thâm cung cấm hữu thuỳ lai?
    女奴扶醉踏苍苔
    明月西园侍宴回
    小犬隔花空吠影
    夜深宫禁有谁来
    (Nữ nô đạp lên rêu xanh dìu quân vương đang say khướt
    Trở về sau khi hầu tiệc ở tây viên trong đêm trăng sáng
    Cách hoa, con chó nhỏ sủa chiếc bóng đang di động
    Đêm khuya nơi cung cấm có ai đến đâu?
              Chu Nguyên Chương sau khi được báo, nuôi hận trong lòng. Có người vu cáo Tri phủ Tô Châu Nguỵ Quan 魏观 tu sửa cung điện cũ của Trương Sĩ Thành 张士诚, mưu đồ làm loạn. Chu Nguyên Chương hạ lệnh chém đầu Nguỵ Quan. Khi thẩm tra Nguỵ Quan, phát hiện bài Thướng lương văn 上梁文của Cao Khải ca tụng Nguỵ Quan tu sửa Tri phủ nha môn, Chu Nguyên Chương lộ rõ vui mừng, mượn cơ hội đó cũng xử tử Cao Khải.
              Sự phản cảm của Chu Nguyên Chương đối với văn nhân và sự mệt thị và căm hận của văn nhân sĩ tử đối với việc Chu Nguyên Chương từ hồng quân phát tích thành công bổ sung cho nhau. Văn nhân đại biểu trong đó là chú cháu Hạ Bá Khải 夏伯启 - nho sĩ ở Quý Khê 贵溪, từng chặt đứt ngón tay, thề không hợp tác với tân triều, vĩnh viễn không làm quan. Hạ Bá Khải bị bắt đưa đến kinh sư, Chu Nguyên Chương hỏi rằng:
              Tích thế loạn cư hà xứ?
              昔乱世居何处?
              (Trước đây lúc thế loạn sống ở đâu?)
              Đáp rằng:
              Hồng khấu loạn thời, tị cư vu Phúc Kiến, Giang Tây lưỡng giới gian.
              红寇乱时, 避居于福建, 江西两界间 
              (Lúc loạn hồng khấu (giặc đỏ), tránh loạn sống ở giáp giới hai tỉnh Phúc Kiến, Giang Tây)
              Chu Nguyên Chương nghe qua cả giận, nói rằng:
              Trẫm tri Bá Khải tâm hoài phẫn nộ, tương dĩ vi trẫm thủ thiên hạ phi kì đạo dã.
              朕知伯启心怀忿怒, 将以为朕取天下非其道也
              (Trẫm biết Bá Khải ôm lòng phẫn nộ, cho rằng trẫm lấy được thiên hạ không hợp với đạo lí)
              Nhĩ Bá Khải ngôn hồng khấu loạn thời, ý hữu tha phẫn, kim khứ chỉ bất vi trẫm dụng, nghi kiêu lệnh, tịch một kì gia, dĩ tuyệt cuồng ngu phu phỏng hiệu chi phong.
              Chu Nguyên Chương bảo rằng:
              尔伯启言红寇乱时, 意有他忿, 今去指不为朕用, 宜枭令, 籍没其家, 以绝狂愚夫仿效之风
              (Nhà người Bá Khải khi nói hồng khấu loạn, có ý căm phẫn việc khác, nay cho là không dùng để chỉ trẫm thì cũng đã đáng bêu đầu, tịch thu gia sản, nhằm dứt tuyệt những kẻ cuồng ngu bắt chước theo)
              Hạ Bá Khải bèn bị áp giải về nguyên tịch, xử tử tại chỗ. (2) Nho sĩ Tô Châu Diêu Nhuận 姚闰, Vương Mô 王谟 cũng nhân vì cự tuyệt hợp tác mà bị xử tử hình, tài sản toàn gia bị tịch thu. (3)
              Đối với văn nhân không hợp tác, Chu Nguyên Chương không phải là giết hết, có một số văn sĩ danh vọng rất lớn không muốn làm quan thì ông cũng không miễn cưỡng. Dương Duy Trinh 杨维桢 người Sơn Âm 山音 Chiết Giang 浙江, hiệu Thiết Nhai 铁崖, văn tài cái thế, tài làm thơ nổi tiếng trong thiên hạ, đương thời gọi ông là Thiết Nhai Thể铁崖体. Năm Hồng Vũ 洪武 thứ 2 khi được mời tới, ông khéo léo từ chối, năm sau, quan địa phương giục ông lên đường, ông làm bài phú Lão khách phụ dao 老客妇谣, nói là bà lão không thể tái giá, nếu không thông cảm, đánh phải tự sát. Thanh danh Dương Duy Trinh vang dội, Chu Nguyên Chương cũng không cưỡng cầu. Dương Duy Trinh trú tại Nam Kinh 南京mấy tháng rồi xin về quê nhà. Học giả Tống Liêm 宋濂làm thơ tặng ông:
    Bất thụ quân vương ngũ sắc chiếu
       Bạch y tuyên chí bạch y hoàn (4)
    不受君王五色诏
    白衣宣至白衣还
    (Không nhận chiếu ngũ sắc của quân vương
    Giữ áo trắng trở về áo trắng)
              Rốt cuộc “Bạch y tuyên chí bạch y hoàn” là thiểu số. Chu Nguyên Chương đối với văn nhân không chịu hợp tác rất căm giận, nhất là không thể dung thứ văn nhân sĩ tử trong lòng có vự việc giấu kín không chịu nói với ai, mượn xưa chê nay. Thế là, văn tự có dấu vết phạm huý, đại hưng oan ngục, liên luỵ nhiều người, trảm sát người vô tội. Văn tự mà Chu Nguyên Chương cho là phạm cấm kị, đến từ lúc ông ta xuất thân và thân thế thấp kém: Chu Nguyên Chương từng làm hoà thượng, kị huý những chữ đại loại như “quang , thốc , tăng , lư ”; từng làm qua tiểu binh của hồng quân, bị địch thủ mắng là hồng tặc, hồng khấu nên kị huý  những chữ như “tặc , khấu và tắc ”. Văn tự ngục từ những chữ này gây ra khiến nhiều người vô tội bị chết – nhân vì họ ủng hộ tân triều, xuất ra làm quan, đồng thời trong lòng có chí hướng khác.
              Sau khi triều Minh kiến lập, thiên hạ an định, văn nhân ngày càng đắc thế. Võ tướng chẳng có mùi vị gì. Chu Nguyên Chương vốn không tín nhiệm văn nhân, các võ tướng mượn cơ hội khiêu khích, văn tự ngục liền từng đợt từng đợt dậy sóng. Các võ tướng công hầu lập trạng, cáo văn nhân âm hiểm giảo hoạt mà cơ trí. Chu Nguyên Chương cảm thấy, võ định thiên hạ, văn trị thái bình, trị thiên hạ nếu không phải văn nhân thì không thể. Thuyết khách bèn nói: Điều đó đương nhiên là không sai, nhưng không thể quá tin tưởng văn nhân. Trương Cửu Tứ 张九四 năm nào đối với văn nhân tốt biết bao? Lương cao nhà đẹp, tiệc nhỏ tiệc
    lớn, đưa văn nhân lên tới trời, nhưng văn nhân thì sao? mắng ông ta, thay thế ông ta đặt tên Trương Sĩ Thành. Chu Nguyên Chương cảm thấy kì quái, tên Trương Sĩ Thành chẳng phải rất tốt sao? Thuyết khách chỉ ra rằng: Tốt cái gì? Mạnh tử nói rằng:
    Sĩ thành tiểu nhân dã (*)
    士诚小人也
    Câu đó ngắt câu là:
    Sĩ thành, tiểu nhân dã.
    士诚, 小人也
    (Sĩ Thành là kẻ tiểu nhân)
              Chu Nguyên Chương cả kinh, lập tức tra trong Mạnh Tử 孟子, quả nhiên là có câu đó. Từ đó Chu Nguyên Chương cẩn thận về văn tự của các văn nhân.
                                                                                         (còn tiếp)

    Chú của nguyên tác
    1- “Vịnh sử” 咏史
    2- “Minh sử - Quyển cửu thập tứ” 明史卷九十四
    3- “Minh sử - Hình pháp chí” 明史刑法志
    4- “Minh sử - Quyển nhị bách bát thập ngũ” 明史卷二百八十五

    Chú của người dịch
    *- “Sĩ” ở đây là Doãn Sĩ 尹士, tên của một người nước Tề.
    Câu này ở thiên Công Tôn Sửu hạ 公孙丑下 trong Mạnh Tử 孟子.
              Mạnh Tử rời nước Tề, Doãn Sĩ nói với mọi người rằng: “Không biết Tề Vương không thể làm thánh nhân như Thương Thang 商汤, Vũ Vương 武王, đó là Mạnh Tử không sáng suốt; biết là không thể mà vẫn cứ đến, đó là Mạnh Tử đến để cầu phú quý. Từ xa ngàn dặm đến gặp, không hợp ý lại bỏ đi, nghỉ lại ba đêm mới ra khỏi ấp Trú , sao mà chậm vậy? Sĩ ta không hài lòng việc đó”.
              Cao Tử 高子đem những lời đó nói lại với Mạnh Tử.
              Mạnh Tử nói rằng: Ông Doãn Sĩ đó làm sao có thể hiểu được ta? Từ xa ngàn dặm đến gặp Tề Vương là kì vọng của ta, không hợp ý mà ra đi, lẽ nào là điều ta muốn? Chẳng qua là bất đắc dĩ mà thôi. Nghỉ lại ba đêm mới rời khỏi ấp Trú, ta vẫn cho là nhanh. Ta nghĩ rằng, có lẽ Tề Vương sẽ thay đổi thái độ. Nếu như Tề Vương thay đổi thái độ nhất định sẽ bảo ta quay lại. Rời khỏi ấp Trú mà Tề Vương không sai người đuổi theo, ta lúc đó mới quyết về quê nhà. Mặc dù là như thế, ta lẽ nào bỏ mặc Tề Vương! Tề Vương vẫn làm tốt được chính sự, nếu Tề Vương dùng ta thì không chỉ bách tính nước Tề được thái bình, mà bách tính trong thiên hạ cũng được thái bình. Tề Vương có lẽ sẽ thay đổi thái độ! Ta ngày ngày trông mong. Ta lẽ nào giống như hạng người hẹp hòi, dâng lời can ngăn mà không được tiếp nhận liền giận dỗi biểu hiện ra mặt. Một khi đã rời đi liền đi cả ngày, đến lúc không có sức mới dừng lại nghỉ?
              Doãn Sĩ nghe những lời đó, nói rằng:
    Sĩ, thành tiểu nhân dã.
    , 诚小人也.
    (Sĩ ta quả thật là tiểu nhân.)
              (“Mạnh Tử” 孟子: Vạn lệ Hoa 万丽华, Lam Húc 蓝旭dịch chú. Bắc Kinh: Trung Hoa thư cục, 2007)

                                                               Huỳnh Chương Hưng
                                                               Quy Nhơn 05/12/1019

    Nguồn
    LỊCH TRIỂU HOÀNG CUNG BẢO TỊCH
    历朝皇宫宝籍
    Tác giả: Hướng Tư 向斯
    Bắc Kinh: Trung Quốc Văn sử xuất bản xã, 2002.

    Thứ Tư, 4 tháng 12, 2019


     “THƯ KINH”

              Thư kinh 书经 cũng xưng là Thượng thư 尚书:
    Thượng giả, thượng dã
    尚者, 上也
    (Thượng là trên)
              Có người cho là “thượng cổ đích thư” 上古的书 (sách thời thượng cổ), cũng có người cho là “Thượng đế đích thư” 上帝的书 (sách của Thượng đế).
              Bản thông hành bao gồm:
              Ngu thư 虞书 5 thiên
              Hạ thư 夏书 4 thiên
              Thương thư 商书 17 thiên
              Chu thư 周书 32 thiên
    Tổng cộng 58 thiên. Trong đó có 33 thiên như Nghiêu điển 尧典, Vũ cống 禹贡, Bàn Canh 盘庚, Hồng phạm 洪范... gọi là “kim văn Thượng thư” 今文尚书, đồng thời lại là “cổ văn Thượng thư” 古文尚书, kì dư đều là “nguỵ cổ văn”. Gọi là sự phân biệt kim cổ là như thế này:
              Những năm đầu triều Hán, Phục Sinh 伏生 truyền thụ 28 thiên Thượng thư, dùng kiểu lệ thư thông hành triều Hán viết ra, gọi là “kim văn Thượng thư”. Sau này khoảng cuối thời Hán Vũ Đế người ta phát hiện nơi vách tường nhà Khổng Tử 孔子 một bộ Thượng thư dùng chữ cổ để viết, tương truyền tổng cộng 16 thiên, gọi là “cổ văn Thượng thư”. Nhưng bộ “cổ văn Thượng thư” này chẳng bao lâu bị thất truyền. Đến thời Đông Tấn, có Mai Trách 梅赜 (cũng viết là Mai Di 梅颐) dâng lên triều đình 25 thiên “cổ văn Thượng thư”, phụ thêm 1 thiên “Thượng thư truyện” 尚书传, nói là do Khổng An Quốc 孔安国 làm ra, thế là mọi người đều tin “cổ văn Thượng thư” đã mất nay lại được, nhưng theo kết quả khảo chứng của  Diêm Nhược Cừ 阎若璩 triều Thanh, đoán định bộ sách này là do Vương Túc 王肃 hoặc Hoàng Phủ Mật 皇甫谧 đời Tấn hoặc chính Mai Trách nguỵ tạo. Bản thông hành hiện nay là cổ kim văn hợp biên, số thiên có phân có hợp, không phù hợp với nguyên gốc.
              Sử thực bao hàm trong Thượng thư, trên từ Nghiêu Thuấn 尧舜, dưới đến Tần Mục Công 秦穆公, các thiên có niên đại sớm nhất trong đó là Nghiêu điển 尧典, Thuấn điển 舜典, Cao Dao mô 皋陶谟, Vũ Cống 禹贡, trước đây người ta cho rằng là văn chương thời Ngu Thuấn, học giả cận đại đã chứng minh bộ phận chân thực của Thượng thư cũng là nguỵ thác của Nho gia, chẳng qua niên đại trứ tác vẫn là triều Chu, so với nguỵ Thượng thư của người thời Đông Tấn có giá trị hơn một chút. Những trứ tác tuy là nguỵ thác, những tất cũng có y cứ, thời đại tương đối sớm, truyền thuyết mà nó dựa vào cũng tương đối nhiều tính chân thực.
              Tên các thiên trong Thượng thư, đa phần dùng các chữ điển , mô , huấn , cáo đặt ở cuối, tương tự như tuyên ngôn 宣言, bố cáo 布告, hội nghị lục 会议录, diễn giảng tập 演讲集 hiện nay, cho nên được xưng là “kí ngôn chi sử” 记言之史. Riêng thiên Hồng phạm 洪范 trong đó, đại biểu cho tư tưởng triết học nguyên thuỷ, lấy ngũ hành thuỷ, hoả, kim, mộc, thổ làm nguyên tố cơ bản của thế giới vật hữu, lại đề xuất ngũ sự 五事, bát chính 八政, ngũ kỉ 五纪, hoàng cực 皇极, tam đức 三德, kê nghi 稽疑, thứ chinh 庶征, ngũ phúc 五福, lục cực  六极v.v... liên quan đến nguyên lí nguyên tắc chính trị, gọi chung là “cửu trù” 九畴, rất được Nho gia coi trọng.  

                                                                    Huỳnh Chương Hưng
                                                                     Quy Nhơn 04/12/2019

    Nguyên tác
    “THƯ KINH”
    书经
    Trong quyển
    QUỐC HỌC THƯỜNG THỨC
    国学常识
    Tác giả: Tào Bá Hàn 曹伯韩
    Bắc Kinh: Hoá học công nghiệp xuất bản xã, 2017

    Dịch thuật: "Thư kinh"

    Đăng lúc  17:02  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »


     “THƯ KINH”

              Thư kinh 书经 cũng xưng là Thượng thư 尚书:
    Thượng giả, thượng dã
    尚者, 上也
    (Thượng là trên)
              Có người cho là “thượng cổ đích thư” 上古的书 (sách thời thượng cổ), cũng có người cho là “Thượng đế đích thư” 上帝的书 (sách của Thượng đế).
              Bản thông hành bao gồm:
              Ngu thư 虞书 5 thiên
              Hạ thư 夏书 4 thiên
              Thương thư 商书 17 thiên
              Chu thư 周书 32 thiên
    Tổng cộng 58 thiên. Trong đó có 33 thiên như Nghiêu điển 尧典, Vũ cống 禹贡, Bàn Canh 盘庚, Hồng phạm 洪范... gọi là “kim văn Thượng thư” 今文尚书, đồng thời lại là “cổ văn Thượng thư” 古文尚书, kì dư đều là “nguỵ cổ văn”. Gọi là sự phân biệt kim cổ là như thế này:
              Những năm đầu triều Hán, Phục Sinh 伏生 truyền thụ 28 thiên Thượng thư, dùng kiểu lệ thư thông hành triều Hán viết ra, gọi là “kim văn Thượng thư”. Sau này khoảng cuối thời Hán Vũ Đế người ta phát hiện nơi vách tường nhà Khổng Tử 孔子 một bộ Thượng thư dùng chữ cổ để viết, tương truyền tổng cộng 16 thiên, gọi là “cổ văn Thượng thư”. Nhưng bộ “cổ văn Thượng thư” này chẳng bao lâu bị thất truyền. Đến thời Đông Tấn, có Mai Trách 梅赜 (cũng viết là Mai Di 梅颐) dâng lên triều đình 25 thiên “cổ văn Thượng thư”, phụ thêm 1 thiên “Thượng thư truyện” 尚书传, nói là do Khổng An Quốc 孔安国 làm ra, thế là mọi người đều tin “cổ văn Thượng thư” đã mất nay lại được, nhưng theo kết quả khảo chứng của  Diêm Nhược Cừ 阎若璩 triều Thanh, đoán định bộ sách này là do Vương Túc 王肃 hoặc Hoàng Phủ Mật 皇甫谧 đời Tấn hoặc chính Mai Trách nguỵ tạo. Bản thông hành hiện nay là cổ kim văn hợp biên, số thiên có phân có hợp, không phù hợp với nguyên gốc.
              Sử thực bao hàm trong Thượng thư, trên từ Nghiêu Thuấn 尧舜, dưới đến Tần Mục Công 秦穆公, các thiên có niên đại sớm nhất trong đó là Nghiêu điển 尧典, Thuấn điển 舜典, Cao Dao mô 皋陶谟, Vũ Cống 禹贡, trước đây người ta cho rằng là văn chương thời Ngu Thuấn, học giả cận đại đã chứng minh bộ phận chân thực của Thượng thư cũng là nguỵ thác của Nho gia, chẳng qua niên đại trứ tác vẫn là triều Chu, so với nguỵ Thượng thư của người thời Đông Tấn có giá trị hơn một chút. Những trứ tác tuy là nguỵ thác, những tất cũng có y cứ, thời đại tương đối sớm, truyền thuyết mà nó dựa vào cũng tương đối nhiều tính chân thực.
              Tên các thiên trong Thượng thư, đa phần dùng các chữ điển , mô , huấn , cáo đặt ở cuối, tương tự như tuyên ngôn 宣言, bố cáo 布告, hội nghị lục 会议录, diễn giảng tập 演讲集 hiện nay, cho nên được xưng là “kí ngôn chi sử” 记言之史. Riêng thiên Hồng phạm 洪范 trong đó, đại biểu cho tư tưởng triết học nguyên thuỷ, lấy ngũ hành thuỷ, hoả, kim, mộc, thổ làm nguyên tố cơ bản của thế giới vật hữu, lại đề xuất ngũ sự 五事, bát chính 八政, ngũ kỉ 五纪, hoàng cực 皇极, tam đức 三德, kê nghi 稽疑, thứ chinh 庶征, ngũ phúc 五福, lục cực  六极v.v... liên quan đến nguyên lí nguyên tắc chính trị, gọi chung là “cửu trù” 九畴, rất được Nho gia coi trọng.  

                                                                    Huỳnh Chương Hưng
                                                                     Quy Nhơn 04/12/2019

    Nguyên tác
    “THƯ KINH”
    书经
    Trong quyển
    QUỐC HỌC THƯỜNG THỨC
    国学常识
    Tác giả: Tào Bá Hàn 曹伯韩
    Bắc Kinh: Hoá học công nghiệp xuất bản xã, 2017

    Mã nguồn bởi Huỳnh Chương Hưng
    Copyright © 2012 Huỳnh Chương Hưng.
    back to top