• Thứ Tư, 19 tháng 9, 2018

    CHÓ CÓ NGHĨA

              Ngày xưa có 2 vợ chồng lão địa chủ, 2 người con và 2 con dâu, tất cả 6 người sống một cuộc sống giàu có sung túc, gia sản rất nhiều. Vợ chồng người  con lớn giảo hoạt, xem trọng tiền của, tâm địa hung ác. Người con thứ hai thông tình đạt lí, cả hai vợ chồng hiền hậu chất phác. Sau khi hai vợ chồng lão địa chủ qua đời, người con lớn cai quản gia đình, người con thứ hai không màng đến chỉ lo học. Hai chị em dâu thay nhau nấu cơm làm việc nhà. Người dâu lớn vừa keo kiệt vừa gian tham, khi đến lượt nấu cơm, chỉ nấu vừa đủ ăn, có lúc con chó nuôi trong nhà ngay cả cơm thừa cũng không có phải chịu đói. Người dâu thứ hai hiền lành, mỗi lần nấu cơm đều ngon lại còn dư ra, ngay cả chó cũng được ăn no. Cho nên chó vừa nhìn thấy người dâu thứ hai nó liền vẫy đuôi mừng rỡ.
              Hai vợ chồng lão địa chủ qua đời chẳng bao lâu, người con lớn sợ tốn tiền bèn không cho người em đi học. Vì vậy người em u uất trong lòng sinh bệnh, chẳng bao lâu cũng qua đời. Người dâu thứ hai mang thai, mong sao sinh được một đứa con trai để sau này nương tựa, và cũng có người nối dõi. Hai vợ chồng người con lớn suy tính, nếu mà cô em dâu sinh con gái, có thể có được chồng mà không phải tốn nhiều tiền, còn nếu sinh con trai, sau này phải cưới vợ cho nó , lại phải phân chia tài sản, điều này làm sao được. Người dâu lớn nghĩ ra chủ ý, dùng tiền mua chuộc bà mụ, dặn bà mụ khi cô ta sinh con trai sinh gái phải làm như thế nào. Bà mụ được tiền tối mắt quên cả đạo nghĩa liền bằng lòng.
              Lúc bấy giờ chó cũng đang có mang. Nó rất cận nhân tình, nghe được hết những lời giữa người dâu lớn với bà mụ.
              Nói ra cũng lạ, chó sinh con được 2 ngày thì người dâu thứ hai cũng sinh được một bé trai. Bà mụ dùng bông gòn nhét vào miệng đứa bé rồi la lên là đứa bé đã chết. Bà ta lấy cỏ bọc đứa bé, mang ra bỏ ở ngọn núi phía sau. Chó biết được chuyện, liền lén theo sau, nhìn thấy bà mụ vất đứa bé xong bỏ đi, chó liền chạy tới, dùng chân bới cỏ, dùng mỏm ngậm lấy bông gòn trong miệng đứa bé ra. Đứa bé mạng lớn, nó dần tỉnh lại, cất tiếng khóc. Chó vội cho đứa bé bú sữa, đứa bé bú no liền ngủ. Chó dùng cỏ phủ lên rồi chạy về nhà cho con mình bú. Do bởi người dâu thứ hai đang ở cữ, người dâu lớn nấu cơm không nhiều nên chó ăn không no, lại còn phải chạy đi chạy về cho hai nơi bú, mệt muốn đứt hơi, nhưng nó vẫn kiên trì.
              Người dâu thứ hai đầy tháng, nhà mẹ ruột đến đón về cho khuây khoả. Chó cũng theo sau, khi đến gần chỗ đứa bé, chó liền nhảy lên xe cắn lấy áo cô ta kéo xuống, nó nhảy lên nhảy xuống mấy lần. Cô ta không biết chuyện gì bèn xuống xe, chó vừa chạy phía trước vừa quay đầu lại, dẫn đến chỗ có đứa bé. Dở cỏ lên, lộ ra một đứa bé trần truồng. Cô ta lền bế lên, hỏi chó:
              - Đây là con của ta à?
              Chó hướng xuống đất gục gục đầu, vẫy đuôi vui mừng. Người dâu lại hỏi có chuyện gì? Chó bèn ngậm mớ bông gòn đến, làm điệu bộ cho đứa bé bú như thế nào, bảo vệ đứa bé như thế nào. Cô ta cảm kích liền quỳ xuống khấu đầu trước chó.
              Sau đó, cô ta bế con đến nha môn dâng cáo trạng kêu oan.
    Lại nói về hai vợ chồng người con lớn, thấy cô em dâu về nhà mẹ đẻ liền vui ra mặt. Gia sản này đều thuộc hai vợ chồng họ. Không ngờ, sai dịch của nha môn tìm đến nhà bắt, ngay cả bà mụ cũng bị áp giải lên xe tù. Đến công đường, bà mụ sợ bị đánh bèn khai hết, chó cũng xuất hiện tại công đường làm chứng. Hai vợ chồng người con lớn và bà mụ bị trị tội. Tài sản được phán xử giao về cho người dâu thứ hai. Từ đó, người dâu thứ hai đối đãi chó như người thân, cùng nương tựa vào nhau, mãi cho đến khi chó qua đời vì già.

                                                            Huỳnh Chương Hưng
                                                            Quy Nhơn 19/9/2018



    Dịch thuật: Chó có nghĩa

    Đăng lúc  21:29  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    CHÓ CÓ NGHĨA

              Ngày xưa có 2 vợ chồng lão địa chủ, 2 người con và 2 con dâu, tất cả 6 người sống một cuộc sống giàu có sung túc, gia sản rất nhiều. Vợ chồng người  con lớn giảo hoạt, xem trọng tiền của, tâm địa hung ác. Người con thứ hai thông tình đạt lí, cả hai vợ chồng hiền hậu chất phác. Sau khi hai vợ chồng lão địa chủ qua đời, người con lớn cai quản gia đình, người con thứ hai không màng đến chỉ lo học. Hai chị em dâu thay nhau nấu cơm làm việc nhà. Người dâu lớn vừa keo kiệt vừa gian tham, khi đến lượt nấu cơm, chỉ nấu vừa đủ ăn, có lúc con chó nuôi trong nhà ngay cả cơm thừa cũng không có phải chịu đói. Người dâu thứ hai hiền lành, mỗi lần nấu cơm đều ngon lại còn dư ra, ngay cả chó cũng được ăn no. Cho nên chó vừa nhìn thấy người dâu thứ hai nó liền vẫy đuôi mừng rỡ.
              Hai vợ chồng lão địa chủ qua đời chẳng bao lâu, người con lớn sợ tốn tiền bèn không cho người em đi học. Vì vậy người em u uất trong lòng sinh bệnh, chẳng bao lâu cũng qua đời. Người dâu thứ hai mang thai, mong sao sinh được một đứa con trai để sau này nương tựa, và cũng có người nối dõi. Hai vợ chồng người con lớn suy tính, nếu mà cô em dâu sinh con gái, có thể có được chồng mà không phải tốn nhiều tiền, còn nếu sinh con trai, sau này phải cưới vợ cho nó , lại phải phân chia tài sản, điều này làm sao được. Người dâu lớn nghĩ ra chủ ý, dùng tiền mua chuộc bà mụ, dặn bà mụ khi cô ta sinh con trai sinh gái phải làm như thế nào. Bà mụ được tiền tối mắt quên cả đạo nghĩa liền bằng lòng.
              Lúc bấy giờ chó cũng đang có mang. Nó rất cận nhân tình, nghe được hết những lời giữa người dâu lớn với bà mụ.
              Nói ra cũng lạ, chó sinh con được 2 ngày thì người dâu thứ hai cũng sinh được một bé trai. Bà mụ dùng bông gòn nhét vào miệng đứa bé rồi la lên là đứa bé đã chết. Bà ta lấy cỏ bọc đứa bé, mang ra bỏ ở ngọn núi phía sau. Chó biết được chuyện, liền lén theo sau, nhìn thấy bà mụ vất đứa bé xong bỏ đi, chó liền chạy tới, dùng chân bới cỏ, dùng mỏm ngậm lấy bông gòn trong miệng đứa bé ra. Đứa bé mạng lớn, nó dần tỉnh lại, cất tiếng khóc. Chó vội cho đứa bé bú sữa, đứa bé bú no liền ngủ. Chó dùng cỏ phủ lên rồi chạy về nhà cho con mình bú. Do bởi người dâu thứ hai đang ở cữ, người dâu lớn nấu cơm không nhiều nên chó ăn không no, lại còn phải chạy đi chạy về cho hai nơi bú, mệt muốn đứt hơi, nhưng nó vẫn kiên trì.
              Người dâu thứ hai đầy tháng, nhà mẹ ruột đến đón về cho khuây khoả. Chó cũng theo sau, khi đến gần chỗ đứa bé, chó liền nhảy lên xe cắn lấy áo cô ta kéo xuống, nó nhảy lên nhảy xuống mấy lần. Cô ta không biết chuyện gì bèn xuống xe, chó vừa chạy phía trước vừa quay đầu lại, dẫn đến chỗ có đứa bé. Dở cỏ lên, lộ ra một đứa bé trần truồng. Cô ta lền bế lên, hỏi chó:
              - Đây là con của ta à?
              Chó hướng xuống đất gục gục đầu, vẫy đuôi vui mừng. Người dâu lại hỏi có chuyện gì? Chó bèn ngậm mớ bông gòn đến, làm điệu bộ cho đứa bé bú như thế nào, bảo vệ đứa bé như thế nào. Cô ta cảm kích liền quỳ xuống khấu đầu trước chó.
              Sau đó, cô ta bế con đến nha môn dâng cáo trạng kêu oan.
    Lại nói về hai vợ chồng người con lớn, thấy cô em dâu về nhà mẹ đẻ liền vui ra mặt. Gia sản này đều thuộc hai vợ chồng họ. Không ngờ, sai dịch của nha môn tìm đến nhà bắt, ngay cả bà mụ cũng bị áp giải lên xe tù. Đến công đường, bà mụ sợ bị đánh bèn khai hết, chó cũng xuất hiện tại công đường làm chứng. Hai vợ chồng người con lớn và bà mụ bị trị tội. Tài sản được phán xử giao về cho người dâu thứ hai. Từ đó, người dâu thứ hai đối đãi chó như người thân, cùng nương tựa vào nhau, mãi cho đến khi chó qua đời vì già.

                                                            Huỳnh Chương Hưng
                                                            Quy Nhơn 19/9/2018



    Thứ Ba, 18 tháng 9, 2018

    LÍ QUẢNG
    (tiếp theo kì 1)

              Năm 154 trước công nguyên, Lưu Tị 刘濞 phản đối “tước phiên”, liên hợp cùng 6 nước chư hầu, giương ngọn cờ “Thỉnh tru Triều Thố, dĩ thanh quân trắc” 请诛晁错, 以清君侧 (giết Triều Thố, thanh trừ những kẻ bên cạnh quân chủ) tạo phản. Quân phản loạn tấn công Cức Bích 棘壁của nước Lương, giết chết mấy vạn người. Lương Hiếu Vương 梁孝王 lui về trấn thủ đô thành Tuy Dương 睢阳, chống lại phản quân Ngô, Sở.
              Hán Cảnh Đế lập tức sai Thái uý Chu Á Phu 周亚夫đánh quân Ngô quân Sở, sai Khúc Chu Hầu Lịch Kí 曲周侯郦寄 (1) đánh quân Triệu, Tướng quân Loan Bố 栾布đánh quân Tề, Đại tướng quân Đậu Anh 窦婴trấn giữ Huỳnh Dương 荥阳. Lúc bấy giờ Hán Cảnh Đế không chỉ muốn bình định phản loạn, mà còn muốn nhân cơ hội đó làm suy yếu nước Lương.
              Nguyên Thừa tướng nước Ngô là Viên Áng 袁盎cầu kiến Cảnh Đế, Cảnh Đế tiếp nhận kế của Viên Áng, dụ giết Triều Thố để tạ lỗi thiên hạ. Viên Áng lại đề xuất chiến lược “dĩ Lương cấp Ngô, tuyệt Ngô quân lương đạo” 以梁给吴, 绝吴军粮道 (bỏ đất Lương cho Ngô, chặn đường lương thực của quân Ngô). Quân Hán không trực tiếp đánh Tuy Dương, mà là đồn trú tại Xương Ấp 昌邑 phía đông bắc nước Lương, tích cực phòng ngự, chỉ thủ mà không xuất chiến.
              Lương Hiếu Vương 梁孝王không ngừng cầu cứu quân Hán ở Xương Ấp, phản quân Ngô Sở cũng thường khiêu chiến quân Hán, quân Hán ở yên tại Xương Ấp không chịu xuất chiến. Khinh kị binh của quân Hán lén chặn đường lương thực của phản quân Ngô Sở tại cửa sông Hoài sông Tứ. Phản quân Ngô Sở khốn khổ suốt 3 tháng, bị bức phải tháo lui. Quân Hán thừa cơ truy sát, đánh bại phản quân. Chẳng bao lâu “thất quốc chi loạn” được dẹp yên.
              Cuộc chiến ở Xương Ấp, Lí Quảng là Kiêu kị Đô uý trong quân của Chu Á Phu. Lí Quảng tác chiến dũng cảm, đoạt lấy quân kì của phản quân, lập được công lớn. Từ đó, Lí Quảng có chút danh tiếng trong quân Hán. Lúc bấy giờ, em  của Hán Cảnh Đế là Lương Hiếu Vương trao huân hàm và ấn tín cho tướng quân Lí Quảng, Lí Quảng tiếp nhận.
              Lí Quảng thân là Kiêu kị Đô uý của quân Hán, thế mà lại tự chuyên nhận phong thưởng của chư hầu, đây là điều cấm kị của triều đình. Sau khi Lí Quảng về lại Trường An 长安, không những không được phong thưởng mà còn bị biếm xuất khỏi Trường An, điều đến quận Thượng Cốc 上谷 làm Thái thú.
              Quận Thượng Cốc ở phía bắc, gần với Hung Nô. Nơi đây quanh năm chiến tranh, Hung Nô và Lí Quảng cơ hồ hàng ngày đều giao chiến. Mỗi lần Lí Quảng đều đích thân lâm trận, ra sống vào chết. Công Tôn Hồn Da 公孙昆邪 (2) thường lo cho sự an toàn của Lí Quảng. Một ngày nọ, ông ta đến Trường An, khóc trước mặt Hán Cảnh Đế:
              - Lí Quảng tài năng phi phàm, là danh tài khó có. Nhưng, ông ấy cho mình võ nghệ cao cường, dường như hàng ngày đều đánh với người Hung Nô. Thần lo sẽ mất đi một dũng tướng!
              Hán Cảnh Đế cũng cảm thấy tiếc nên đã điều Lí Quảng đến Thượng quận 上郡 làm Thái thú.
              Thượng quận cách kinh thành Trường An rất gần. Nhưng, Thượng quận cũng thường phát sinh chiến tranh với Hung Nô. Sau khi Lí Quảng đến Thượng Quận, cũng thường giao chiến với đại đội kị binh Hung Nô.
              Ngày nọ, Hung Nô lại đem binh tấn công Thượng quận. Hán Cảnh Đế phái một hoạn quan thân tín đến Thượng quận, luyện tập trong quân của Lí Quảng. Viên hoạn quan nọ dẫn mấy chục kị binh quân Hán ra khỏi đại doanh đi về phía bắc. Đột nhiên, trên đường nhìn thấy 3 tên Hung Nô đang dắt ngựa đi bộ. Viên hoạn quan và kị binh xông lên bao vây. Ba tên Hung Nô nọ không hề sợ hãi, vừa đi vừa bắn cung. Mấy chục kị binh trước sau bị trúng tên thương vong, hoạn quan cũng bị trúng tên vội vàng tháo chạy, chạy đến doanh trại của Lí Quảng bẩm báo sự tình.
              Lí Quảng nghe qua, cho rằng 3 tên Hung Nô nọ là thần tiễn, lập tức lên ngựa thống lĩnh hơn 100 kị binh đi tróc nã. Cả đoàn thúc ngựa đuổi theo mấy chục dặm, phát hiện 3 tên Hung Nô vẫn đang đi bộ phía trước. Lí Quảng hạ lệnh cho kị binh từ hai bên trái phải lén lên phía trước, giương cung lắp tên, bắn liên tiếp mấy mũi, hai tên Hung Nô bị trúng tên chết, tên còn lại vừa nhảy lên lưng ngựa, Lí Quảng lập tức bắn ngã xuống đất bị bắt sống.
              Lí Quảng trói tên Hung Nô trên lên lưng ngựa, một lát sau, phía trước bụi bay mù trời, đại đội kị binh của Hung Nô chạy tới, có đến mấy ngàn người. Lúc này, kị binh Hung Nô đã thấy đoàn quân Lí Quảng. Kị binh Hung Nô nghi đoàn quân Lí Quảng là dụ binh của triều Hán. Kị binh Hung Nô xông lên sườn núi gần đó bày thế trận, trinh sát động tĩnh của Lí Quảng.
              Hơn 100 kị binh quân Hán thấy quân địch đông, muốn nhanh chóng bỏ chạy. Lí Quảng cho rằng mình đã cách xa đại doanh, bên thân chỉ có hơn 100 kị binh, nếu bỏ chạy, đại đội kị binh Hung Nô thừa cơ truy sát, hơn 100 người có thể mất mạng. Cách tốt nhất là để Hung Nô tin hơn 100 quân của mình là dụ binh.
              Lí Quảng nói cách đó cho mọi người nghe, lệnh cho họ tiếp tục tiến lên. Khi đến cách quân trận của Hung Nô chỉ 2 dặm, dừng lại. Lí Quảng và mọi người đều xuống ngựa, tháo yên ngựa xuống.
              Bộ hạ của Lí Quảng vô cùng căng thẳng, nói rằng:
              - Kị binh Hung Nô quá đông, nếu phát sinh tình huống khẩn cấp thì làm thế nào?
              Lí Quảng bảo rằng:
              - Quân Hung Nô tưởng rằng chúng ta sẽ bỏ chạy, chúng ta tháo yên ngựa xuống để bọn chúng biết chúng ta sẽ không bỏ chạy.
              Quân Hung Nô giảo trá hung tàn sợ trúng phải sự bao vây của quân Hán nên không dám tấn công; Lí Quảng mạo hiểm kiên thủ trận địa. Hai bên đối đầu nhau rất lâu, không khí ngày càng căng thẳng.
              Một lúc sau, có một tướng Hung Nô cưỡi ngựa trắng chạy đến trước trận, Lí Quảng lập tức nhảy lên chiến mã, chỉ dẫn theo mười mấy kị binh xông lên, bắn chết “bạch mã tướng quân”. Sau đó, Lí Quảng lại về chỗ cũ, tháo yên ngựa, nắm nghỉ trên đất.
              Chiều tối, màn đêm dần phủ. Kị binh Hung Nô mãi không dám tấn công. Đêm khuya, họ sợ gặp phải tập kích, nên nhân cơ hội đêm tối, toàn bộ tháo lui.
              Sáng sớm ngày hôm sau, Lí Quảng nhìn thấy bên sườn núi đối diện không có lấy một bóng người, liền dẫn hơn 100 kị binh rút về đại doanh. Lúc trước đó, các tướng sĩ trong doanh trại không biết Quận thú Lí Quảng chạy đến nơi nào.
              Về sau, Lí Quảng lại tiếp tục làm Thái thú các quận Lũng Tây 陇西, Bắc Địa 北地, Nhạn Môn 雁门, Đại quận 代郡, Vân Trung 云中. Thời gian trường kì trấn thủ biên giới phía bắc, Lí Quảng đã lập vô số chiến công. (còn tiếp)

    Chú của người dịch
    1- Trong nguyên tác, tên nhân vật là Khúc Chu Hầu Lịch Kì曲周侯郦奇.
    Trong Ngô Vương Tị liệt truyện 吴王濞列传 (bản tiếng Trung) có ghi:
              Thất quốc phản thư văn thiên tử, thiên tử nãi khiển Thái Uý Điều Hầu Chu Á Phu, tương tam thập lục tướng quân, vãng kích Ngô Sở, khiển Khúc Chu Hầu Lịch Kí kích Triệu, Tướng quân Loan Bố kích Tề, Đại tướng quân Đậu Anh đồn huỳnh Dương, giám Tề Triệu binh.
              七国反书闻天子, 天子乃遣太尉条侯周亚, 夫将三十六将军, 往击吴楚; 遣曲周侯郦寄击赵; 将军栾布击齐; 大将军窦婴屯荥阳, 监齐赵兵.
              (Thư tạo phản của 7 nước đến tai thiên tử, thiên tử bèn sai Thái uý Điều Hầu Chu Á Phu dẫn 36 tướng đi đánh Ngô Sở; sai Khúc Chu Hầu Lí Kí đánh Triệu; Tướng quân Loan Bố đánh Tề; Đại tướng quân Đậu Anh đóng quân tại Huỳnh Dương giám sát quân Tề Triệu.)
              (Nguồn https://baike.baidu.com/item.)
              Theo Sử kí bản dịch của Phạm Văn Ánh, Liệt truyện hạ, trang 64, ở Ngô Vương Tị liệt truyện 吴王濞列传 cũng dịch là Khúc Chu Hầu Lịch Kí.
    2- Công Tôn Hồn Da 公孙昆邪:
              Theo https://baike.baidu.com/item.... và https://baike.baidu.com/wiki....
    bính âm của chữ là hun (thanh 2); và chữ là ye (thanh 2).
    Theo Khang Hi tự điển 康熙字典
              Với chữ với bính âm là hun (thanh 2):
              ..... hựu “Tập vận”, “Vận hội” tịnh HỒ CÔN thiết, âm HỒN, nhân danh. Hán hữu thuộc quốc Công Tôn Hồn Da.
              ..... 集韻,韻會並胡昆切, 音魂, 人名. 漢有屬國公孙昆邪.
              (..... và trong “Tập vận”, “Vận hội” phiên thiết là HỒ CÔN, âm HỒN. Tên người. Đời Hán có thuộc Quốc Công Tôn Hồn Da.)
              (trang 436. Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 2003)
              Với chữ với bính âm là ye (thanh 2), hoặc ya (thanh 2)
              ..... hựu “Đường vận” DĨ GIÀ thiết; “Tập vận”, “Vận hội”, “Chính vận”, DƯ GIÀ thiết, tịnh âm DA .... hựu Hô Hàn Da Hung Nô vương danh ...
              ..... 唐韻以遮切; “集韻,韻會,正韻余遮切, 並音耶 ..... 又呼韓耶匈奴王名.
              (..... và “Đường vận”, phiên thiết là DĨ GIÀ; “Tập vận”, “Vận hội”, “Chính vận” phiên thiết là DƯ GIÀ, đều có âm là DA ..... tên vua Hung Nô Hô Hàn Da ...)
              (trang 1255. Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 2003)
              Như vậy tên nhân vật ở đây đọc là Công Tôn Hồn Da.

                                                              Huỳnh Chương Hưng
                                                              Quy Nhơn 18/9/2018

    Nguyên tác
    LÍ QUẢNG
    李广
    Trong quyển
    HỔ CHI UY
    虎之威
    Tác giả: Hàn Tố Văn 韩素文
    Bắc Kinh: Trung Quốc Trường An xuất bản xã, 2006.

    Dịch thuật: Lí Quảng (tiếp theo kì 1)

    Đăng lúc  20:52  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    LÍ QUẢNG
    (tiếp theo kì 1)

              Năm 154 trước công nguyên, Lưu Tị 刘濞 phản đối “tước phiên”, liên hợp cùng 6 nước chư hầu, giương ngọn cờ “Thỉnh tru Triều Thố, dĩ thanh quân trắc” 请诛晁错, 以清君侧 (giết Triều Thố, thanh trừ những kẻ bên cạnh quân chủ) tạo phản. Quân phản loạn tấn công Cức Bích 棘壁của nước Lương, giết chết mấy vạn người. Lương Hiếu Vương 梁孝王 lui về trấn thủ đô thành Tuy Dương 睢阳, chống lại phản quân Ngô, Sở.
              Hán Cảnh Đế lập tức sai Thái uý Chu Á Phu 周亚夫đánh quân Ngô quân Sở, sai Khúc Chu Hầu Lịch Kí 曲周侯郦寄 (1) đánh quân Triệu, Tướng quân Loan Bố 栾布đánh quân Tề, Đại tướng quân Đậu Anh 窦婴trấn giữ Huỳnh Dương 荥阳. Lúc bấy giờ Hán Cảnh Đế không chỉ muốn bình định phản loạn, mà còn muốn nhân cơ hội đó làm suy yếu nước Lương.
              Nguyên Thừa tướng nước Ngô là Viên Áng 袁盎cầu kiến Cảnh Đế, Cảnh Đế tiếp nhận kế của Viên Áng, dụ giết Triều Thố để tạ lỗi thiên hạ. Viên Áng lại đề xuất chiến lược “dĩ Lương cấp Ngô, tuyệt Ngô quân lương đạo” 以梁给吴, 绝吴军粮道 (bỏ đất Lương cho Ngô, chặn đường lương thực của quân Ngô). Quân Hán không trực tiếp đánh Tuy Dương, mà là đồn trú tại Xương Ấp 昌邑 phía đông bắc nước Lương, tích cực phòng ngự, chỉ thủ mà không xuất chiến.
              Lương Hiếu Vương 梁孝王không ngừng cầu cứu quân Hán ở Xương Ấp, phản quân Ngô Sở cũng thường khiêu chiến quân Hán, quân Hán ở yên tại Xương Ấp không chịu xuất chiến. Khinh kị binh của quân Hán lén chặn đường lương thực của phản quân Ngô Sở tại cửa sông Hoài sông Tứ. Phản quân Ngô Sở khốn khổ suốt 3 tháng, bị bức phải tháo lui. Quân Hán thừa cơ truy sát, đánh bại phản quân. Chẳng bao lâu “thất quốc chi loạn” được dẹp yên.
              Cuộc chiến ở Xương Ấp, Lí Quảng là Kiêu kị Đô uý trong quân của Chu Á Phu. Lí Quảng tác chiến dũng cảm, đoạt lấy quân kì của phản quân, lập được công lớn. Từ đó, Lí Quảng có chút danh tiếng trong quân Hán. Lúc bấy giờ, em  của Hán Cảnh Đế là Lương Hiếu Vương trao huân hàm và ấn tín cho tướng quân Lí Quảng, Lí Quảng tiếp nhận.
              Lí Quảng thân là Kiêu kị Đô uý của quân Hán, thế mà lại tự chuyên nhận phong thưởng của chư hầu, đây là điều cấm kị của triều đình. Sau khi Lí Quảng về lại Trường An 长安, không những không được phong thưởng mà còn bị biếm xuất khỏi Trường An, điều đến quận Thượng Cốc 上谷 làm Thái thú.
              Quận Thượng Cốc ở phía bắc, gần với Hung Nô. Nơi đây quanh năm chiến tranh, Hung Nô và Lí Quảng cơ hồ hàng ngày đều giao chiến. Mỗi lần Lí Quảng đều đích thân lâm trận, ra sống vào chết. Công Tôn Hồn Da 公孙昆邪 (2) thường lo cho sự an toàn của Lí Quảng. Một ngày nọ, ông ta đến Trường An, khóc trước mặt Hán Cảnh Đế:
              - Lí Quảng tài năng phi phàm, là danh tài khó có. Nhưng, ông ấy cho mình võ nghệ cao cường, dường như hàng ngày đều đánh với người Hung Nô. Thần lo sẽ mất đi một dũng tướng!
              Hán Cảnh Đế cũng cảm thấy tiếc nên đã điều Lí Quảng đến Thượng quận 上郡 làm Thái thú.
              Thượng quận cách kinh thành Trường An rất gần. Nhưng, Thượng quận cũng thường phát sinh chiến tranh với Hung Nô. Sau khi Lí Quảng đến Thượng Quận, cũng thường giao chiến với đại đội kị binh Hung Nô.
              Ngày nọ, Hung Nô lại đem binh tấn công Thượng quận. Hán Cảnh Đế phái một hoạn quan thân tín đến Thượng quận, luyện tập trong quân của Lí Quảng. Viên hoạn quan nọ dẫn mấy chục kị binh quân Hán ra khỏi đại doanh đi về phía bắc. Đột nhiên, trên đường nhìn thấy 3 tên Hung Nô đang dắt ngựa đi bộ. Viên hoạn quan và kị binh xông lên bao vây. Ba tên Hung Nô nọ không hề sợ hãi, vừa đi vừa bắn cung. Mấy chục kị binh trước sau bị trúng tên thương vong, hoạn quan cũng bị trúng tên vội vàng tháo chạy, chạy đến doanh trại của Lí Quảng bẩm báo sự tình.
              Lí Quảng nghe qua, cho rằng 3 tên Hung Nô nọ là thần tiễn, lập tức lên ngựa thống lĩnh hơn 100 kị binh đi tróc nã. Cả đoàn thúc ngựa đuổi theo mấy chục dặm, phát hiện 3 tên Hung Nô vẫn đang đi bộ phía trước. Lí Quảng hạ lệnh cho kị binh từ hai bên trái phải lén lên phía trước, giương cung lắp tên, bắn liên tiếp mấy mũi, hai tên Hung Nô bị trúng tên chết, tên còn lại vừa nhảy lên lưng ngựa, Lí Quảng lập tức bắn ngã xuống đất bị bắt sống.
              Lí Quảng trói tên Hung Nô trên lên lưng ngựa, một lát sau, phía trước bụi bay mù trời, đại đội kị binh của Hung Nô chạy tới, có đến mấy ngàn người. Lúc này, kị binh Hung Nô đã thấy đoàn quân Lí Quảng. Kị binh Hung Nô nghi đoàn quân Lí Quảng là dụ binh của triều Hán. Kị binh Hung Nô xông lên sườn núi gần đó bày thế trận, trinh sát động tĩnh của Lí Quảng.
              Hơn 100 kị binh quân Hán thấy quân địch đông, muốn nhanh chóng bỏ chạy. Lí Quảng cho rằng mình đã cách xa đại doanh, bên thân chỉ có hơn 100 kị binh, nếu bỏ chạy, đại đội kị binh Hung Nô thừa cơ truy sát, hơn 100 người có thể mất mạng. Cách tốt nhất là để Hung Nô tin hơn 100 quân của mình là dụ binh.
              Lí Quảng nói cách đó cho mọi người nghe, lệnh cho họ tiếp tục tiến lên. Khi đến cách quân trận của Hung Nô chỉ 2 dặm, dừng lại. Lí Quảng và mọi người đều xuống ngựa, tháo yên ngựa xuống.
              Bộ hạ của Lí Quảng vô cùng căng thẳng, nói rằng:
              - Kị binh Hung Nô quá đông, nếu phát sinh tình huống khẩn cấp thì làm thế nào?
              Lí Quảng bảo rằng:
              - Quân Hung Nô tưởng rằng chúng ta sẽ bỏ chạy, chúng ta tháo yên ngựa xuống để bọn chúng biết chúng ta sẽ không bỏ chạy.
              Quân Hung Nô giảo trá hung tàn sợ trúng phải sự bao vây của quân Hán nên không dám tấn công; Lí Quảng mạo hiểm kiên thủ trận địa. Hai bên đối đầu nhau rất lâu, không khí ngày càng căng thẳng.
              Một lúc sau, có một tướng Hung Nô cưỡi ngựa trắng chạy đến trước trận, Lí Quảng lập tức nhảy lên chiến mã, chỉ dẫn theo mười mấy kị binh xông lên, bắn chết “bạch mã tướng quân”. Sau đó, Lí Quảng lại về chỗ cũ, tháo yên ngựa, nắm nghỉ trên đất.
              Chiều tối, màn đêm dần phủ. Kị binh Hung Nô mãi không dám tấn công. Đêm khuya, họ sợ gặp phải tập kích, nên nhân cơ hội đêm tối, toàn bộ tháo lui.
              Sáng sớm ngày hôm sau, Lí Quảng nhìn thấy bên sườn núi đối diện không có lấy một bóng người, liền dẫn hơn 100 kị binh rút về đại doanh. Lúc trước đó, các tướng sĩ trong doanh trại không biết Quận thú Lí Quảng chạy đến nơi nào.
              Về sau, Lí Quảng lại tiếp tục làm Thái thú các quận Lũng Tây 陇西, Bắc Địa 北地, Nhạn Môn 雁门, Đại quận 代郡, Vân Trung 云中. Thời gian trường kì trấn thủ biên giới phía bắc, Lí Quảng đã lập vô số chiến công. (còn tiếp)

    Chú của người dịch
    1- Trong nguyên tác, tên nhân vật là Khúc Chu Hầu Lịch Kì曲周侯郦奇.
    Trong Ngô Vương Tị liệt truyện 吴王濞列传 (bản tiếng Trung) có ghi:
              Thất quốc phản thư văn thiên tử, thiên tử nãi khiển Thái Uý Điều Hầu Chu Á Phu, tương tam thập lục tướng quân, vãng kích Ngô Sở, khiển Khúc Chu Hầu Lịch Kí kích Triệu, Tướng quân Loan Bố kích Tề, Đại tướng quân Đậu Anh đồn huỳnh Dương, giám Tề Triệu binh.
              七国反书闻天子, 天子乃遣太尉条侯周亚, 夫将三十六将军, 往击吴楚; 遣曲周侯郦寄击赵; 将军栾布击齐; 大将军窦婴屯荥阳, 监齐赵兵.
              (Thư tạo phản của 7 nước đến tai thiên tử, thiên tử bèn sai Thái uý Điều Hầu Chu Á Phu dẫn 36 tướng đi đánh Ngô Sở; sai Khúc Chu Hầu Lí Kí đánh Triệu; Tướng quân Loan Bố đánh Tề; Đại tướng quân Đậu Anh đóng quân tại Huỳnh Dương giám sát quân Tề Triệu.)
              (Nguồn https://baike.baidu.com/item.)
              Theo Sử kí bản dịch của Phạm Văn Ánh, Liệt truyện hạ, trang 64, ở Ngô Vương Tị liệt truyện 吴王濞列传 cũng dịch là Khúc Chu Hầu Lịch Kí.
    2- Công Tôn Hồn Da 公孙昆邪:
              Theo https://baike.baidu.com/item.... và https://baike.baidu.com/wiki....
    bính âm của chữ là hun (thanh 2); và chữ là ye (thanh 2).
    Theo Khang Hi tự điển 康熙字典
              Với chữ với bính âm là hun (thanh 2):
              ..... hựu “Tập vận”, “Vận hội” tịnh HỒ CÔN thiết, âm HỒN, nhân danh. Hán hữu thuộc quốc Công Tôn Hồn Da.
              ..... 集韻,韻會並胡昆切, 音魂, 人名. 漢有屬國公孙昆邪.
              (..... và trong “Tập vận”, “Vận hội” phiên thiết là HỒ CÔN, âm HỒN. Tên người. Đời Hán có thuộc Quốc Công Tôn Hồn Da.)
              (trang 436. Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 2003)
              Với chữ với bính âm là ye (thanh 2), hoặc ya (thanh 2)
              ..... hựu “Đường vận” DĨ GIÀ thiết; “Tập vận”, “Vận hội”, “Chính vận”, DƯ GIÀ thiết, tịnh âm DA .... hựu Hô Hàn Da Hung Nô vương danh ...
              ..... 唐韻以遮切; “集韻,韻會,正韻余遮切, 並音耶 ..... 又呼韓耶匈奴王名.
              (..... và “Đường vận”, phiên thiết là DĨ GIÀ; “Tập vận”, “Vận hội”, “Chính vận” phiên thiết là DƯ GIÀ, đều có âm là DA ..... tên vua Hung Nô Hô Hàn Da ...)
              (trang 1255. Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 2003)
              Như vậy tên nhân vật ở đây đọc là Công Tôn Hồn Da.

                                                              Huỳnh Chương Hưng
                                                              Quy Nhơn 18/9/2018

    Nguyên tác
    LÍ QUẢNG
    李广
    Trong quyển
    HỔ CHI UY
    虎之威
    Tác giả: Hàn Tố Văn 韩素文
    Bắc Kinh: Trung Quốc Trường An xuất bản xã, 2006.

    Thứ Hai, 17 tháng 9, 2018

    LÍ QUẢNG
    (Kì 1)

              Lí Quảng 李广 (năm 181 – năm 119 trước công nguyên). Danh tướng thời Tây Hán, người ở Thành Kỉ 成纪 Lũng Tây 陇西 (nay là phía tây nam Tĩnh Định 静定 Cam Túc 甘肃)
              Lí Quảng thân hình khôi ngô, kiêu dũng không ai sánh bằng, kị xạ vô song, Hung Nô gọi ông là “Phi tướng quân” 飞将军.
              Lí Quảng dũng cảm xung phong, thương yêu sĩ tốt, rất được quan binh kính mến. Trận chiến Thượng Quận 上郡, Lí Quảng chỉ dẫn hơn 100 kị binh đối trận với mấy ngàn quân Hung Nô. Chiến dịch Hà Tây 河西, Lí Quảng chỉ đem 4000 kị binh, gặp phải quân địch đông gấp 10 lần bao vây, ông liều mình đột phá vòng vây xông ra.
              Lí Quảng đến lúc bạc đầu mà vẫn chưa được phong Hầu, cuối cùng không chịu được nỗi nhục đã tự sát.

    TRẤN THỦ BIÊN CƯƠNG, LẬP VÔ SỐ CHIẾN CÔNG

              Năm 227 trước công nguyên, quân Tần đến Dịch thuỷ 易水, uy hiếp nước Yên. Để ngăn chận thế công của quân Tần, Thái tử Đan nước Yên đã phái dũng sĩ Kinh Kha 荆轲đi thích sát Tần Vương Chính 秦王政. Kết quả, Kinh Kha bị Tần Vương Chính giết chết. Tần Vương Chính cả giận, hạ lệnh tấn công nước Yên, thế là tháng 11 năm sau cử binh tấn công Kế Thành 蓟城, kinh đô nước Yên.
              Yên Vương và Thái tử Đan dẫn tàn quân chạy đến Liêu Đông 辽东. Tần Vương Chính sai Lí Tín 李信dẫn một đội quân ra sức truy sát phía sau. Yên Vương cùng đường, đành giết thái tử Đan, dâng đầu thái tử Đan lên Tần Vương, tạ tội với Tần Vương. Về sau, Lí Tín còn tham gia cuộc chiến tranh diệt Sở.
              Cuối đời Tần đầu đời Hán, thiên hạ chiến tranh liên miên, nhân khẩu nhiều quận huyện nhanh chóng giảm sút. Đại mạc phương bắc tương đối bình yên, dân tộc du mục Hung Nô nhân cơ hội đó mạnh lên, binh cường mã tráng. Thiền vu Mặc Độc 冒顿 (1) của Hung Nô dẫn quân chiếm lại khu vực Hà Sáo 河套, thường tấn công biên giới triều Hán.
              Lúc Tây Hán kiến quốc, đối mặt với cục diện suy yếu khó cứu vãn mà triều Tần để lại, do vì trường kì chiến loạn, kinh tế suy sụp, đất rộng người thưa. Đương thời, ngay cả xe của hoàng đế cũng không có 4 con ngựa cùng một sắc, các tướng phải ngồi xe trâu kéo. Ngoài ra, các chư hầu vương khác họ nối nhau tạo phản, triều Hán gặp khó khăn chồng chất, căn bản không có sức để đối phó Hung Nô.
              Lí Quảng 李广sinh vào năm 181 trước công nguyên, người Thành Kỉ 成纪 Lũng Tây 陇西 thời Tây Hán. Ông là hậu nhân của danh tướng Lí Tín 李信 triều Tần. Lúc Hán Văn Đế  汉文帝vừa mới lên ngôi, Lí Quảng hãy còn nhỏ. Lí Quảng là con cháu nhà tướng, nối đời truyền thụ xạ pháp. Ông thường lấy cưỡi ngựa làm trò chơi, cùng các bạn thi đấu tranh thắng thua, dần dần luyện thành thục công phu bắn tên. Khi Lí Quảng trưởng thành, với thân phận “lương gia tử” 梁家子 (con em xuất thân bình thường) tham gia quân đội, trở thành kị binh trẻ nhất của triều Hán.
              Năm 166 trước công nguyên, Thiền vu Hung Nô thống lĩnh 14 vạn tinh kị, một lần nữa xuống phía nam xâm phạm Tây Hán, công nhập Tru Na 朝那 (2), công phá Ninh Hạ 宁夏 Tiêu Quan 萧关, đến cả vùng Bành Dương 彭阳. Quân tiên phong của Hung Nô phóng hoả thiêu đốt Hồi trung cung 回中宫ở Thiểm Tây 陕西 của triều Hán. Kị binh trinh sát của Hung Nô hoạt động vùng Cam Tuyền cung 甘泉宫của triều Hán.
              Khi Hung Nô tấn công Tiêu Quan萧关, Lí Quảng cũng tham gia chiến đấu, bắn chết đến mấy trăm kị binh Hung Nô. Sau khi Hán Văn Đế nghe được, phong Lí Quảng chức Lang , lúc bấy giờ ông mới 20 tuổi. Lang là thị vệ của hoàng đế, đây là con đường thuận lợi mà nhiều người truy cầu để được làm quan.
              Sau khi Lí Quảng giữ chức Lang đã đến Trường An 长安bảo vệ cung cấm. Khi Hán Văn Đế ra ngoài phải theo hộ giá. Có lúc, cũng theo hoàng đến đi săn bắn.
              Đại quân Hung Nô tiến đến kinh thành Trường An. Lúc này, cả thành Trường An khủng hoảng, Hán Văn Đế vội điều 2000 chiến xa, 10 vạn kị binh phòng thủ ngoại ô Trường An. Hán Văn Đế còn truyền lệnh kị binh các nơi đến Trường An bao vây tấn công Hung Nô. Thiền vu Hung Nô nghe nói đại quân các lộ của triều Hán trước sau kéo tới liền chủ động rút lui. Hán Văn Đế không dám phái quân truy kích.
              Chẳng bao lâu, Lí Quảng được thăng chức Võ kị thường thị 武骑常侍 trở thành quan thị tùng bên cạnh hoàng đế. Do bởi Hung Nô nhiều lần xuống phía nam xâm phạm, Hán Văn Đế quyết tâm báo thù rửa nhục. Để huấn luyện quân Hán, Hán Văn Đế thường mặc trang phục lính thú, cưỡi chiến mã, cùng thị vệ đến Thượng Lâm uyển 上林苑săn bắn, sai người truyền thụ binh pháp, thao luyện quân trận.
              Lí Quảng hình vóc khôi ngô, hai tay dài, thân thể cường tráng, bản lĩnh xạ kị rất cao, trở thành nhân vật ưu tú trong nhóm các quan thị tụng. Lí Quảng dũng cảm xung trận, nhiều lần liều mình đấu với mãnh thú, biểu hiện dũng khí kinh người, luôn được Hán Văn Đế khen ngợi.
              Hán Văn Đế lúc về già từng nói với Lí Quảng:
              - Đáng tiếc thay! Như nay triều Hán đất rộng người thưa, quốc lực thì nghèo yếu! Khanh nếu sinh vào thời Cao Đế, được phong Vạn Hộ Hầu 万户侯là không thành vấn đế!
              Sau khi Hán Văn Đế qua đời năm 15 trước công nguyên, Hán Cảnh Đế 汉景帝 lên ngôi, Lí Quảng đã được thăng làm Lũng Tây quận Đô uý 陇西郡都尉, chẳng bao lâu được thăng làm Kị lang tướng 骑郎将.
              Hán Cảnh Đế kế thừa quốc sách cơ bản thời Hán Văn Đế, tiếp thụ kiến nghị “tước phiên” 削藩do chính luận gia Triều Thố 晁错đề xuất, tiến một bước tước đoạt phong địa của chư hầu quốc, để làm suy yếu thế lực cát cứ địa phương, tăng cường quốc lực.
              Người cháu của Hán Cao Tổ là Ngô vương Lưu Tị 吴王刘濞, nhiều năm đã “tích kim tiền, tu binh cách” 积金钱, 修兵革(tích góp vàng bạc, luyện tập binh mã) chiêu hàng đám nội phản gây dựng lực lượng. Để đề phòng Ngô vương Lưu Tị tạo phản, Hán văn Đế đã phong người con thứ hai là Lưu Vũ 刘武làm Lưu Hiếu Vương 刘孝王của Lương quốc 梁国, làm bình phong cho triều Hán.   (còn tiếp)

    Chú của người dịch
    1- Mặc Độc冒顿:  
    Theo Khang Hi tự điển 康熙字典
              Với chữ với bính âm là mo (thanh 4):
              ..... hựu “Tập vận”, “Vận hội”, “Chính vận” tịnh MẬT BẮC thiết, âm MẶC .... hựu Thiền vu danh “Sử kí .  Hung Nô truyện” Cập Mặc Độc lập, công phá Nguyệt Chi. ....
              ..... 集韻,韻會,正韻並密北切音默. ..... 又單于名 史記 . 匈奴傳及冒頓立攻破月氏 .....
              (..... và trong “Tập vận”, “Vận hội”, “Chính vận” đều phiên thiết là MẬT BẮC, âm MẶC. .... là tên của Thiền vu Hung Nô. Trong “Sử kí . Hung Nô truyện” có ghi:  khi Mặc Độc lên kế vị, đã công phá Nguyệt Chi. ....)
                             (trang 56. Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 2003)
              Với chữ : với bính âm là duo (thanh 4)
              ..... hựu “Vận hội”, “Chính vận” tịnh ĐƯƠNG MỘT thiết, âm ĐỐT. “Tiền Hán Hung Nô truyện” Thiền vu thái tử viết冒頓. Chú: âm , âm . ...
              ..... 韻會,正韻並當沒切, 音咄. 前漢匈奴傳單于太子曰冒頓. : 冒音默, 頓音毒 .....
              (..... và trong “Vận hội”, “Chính vận” đều phiên thiết là ĐƯƠNG MỘT, âm ĐỐT.  Trong “Tiền Hán Hung Nô truyện” có ghi: Thái tử Thiền vu là 冒頓. Chú rằng: Chữ đọc là MẶC; chữ đọc là ĐỘC. ...
                                      (trang 1394. Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 2003)
              Như vậy, tên nhân vật ở đây đọc là MẶC ĐỘC.
    2- Tru Na 朝那:
    Chữ : theo Khang Hi tự điển 康熙字典
              ..... hựu “Tập vận” TRUY THU thiết, âm CHU, 朝那 huyện danh. .....
              ..... 集韻追輸切, 音株, 朝那縣名. .....
              (..... và trong “Tập vận” phiên thiết là TRUY THU, âm CHU, TRU NA là tên huyện.....)
         Như vậy朝那 ở đây đọc là TRU NA
                       (trang 554. Thượng Hải thư điếm, 2005)

                                                                    Huỳnh Chương Hưng
                                                                    Quy Nhơn 17/9/2018

    Nguyên tác
    LÍ QUẢNG
    李广
    Trong quyển
    HỔ CHI UY
    虎之威
    Tác giả: Hàn Tố Văn 韩素文
    Bắc Kinh: Trung Quốc Trường An xuất bản xã, 2006.

    Dịch thuật: Lí Quảng (kì 1)

    Đăng lúc  20:07  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    LÍ QUẢNG
    (Kì 1)

              Lí Quảng 李广 (năm 181 – năm 119 trước công nguyên). Danh tướng thời Tây Hán, người ở Thành Kỉ 成纪 Lũng Tây 陇西 (nay là phía tây nam Tĩnh Định 静定 Cam Túc 甘肃)
              Lí Quảng thân hình khôi ngô, kiêu dũng không ai sánh bằng, kị xạ vô song, Hung Nô gọi ông là “Phi tướng quân” 飞将军.
              Lí Quảng dũng cảm xung phong, thương yêu sĩ tốt, rất được quan binh kính mến. Trận chiến Thượng Quận 上郡, Lí Quảng chỉ dẫn hơn 100 kị binh đối trận với mấy ngàn quân Hung Nô. Chiến dịch Hà Tây 河西, Lí Quảng chỉ đem 4000 kị binh, gặp phải quân địch đông gấp 10 lần bao vây, ông liều mình đột phá vòng vây xông ra.
              Lí Quảng đến lúc bạc đầu mà vẫn chưa được phong Hầu, cuối cùng không chịu được nỗi nhục đã tự sát.

    TRẤN THỦ BIÊN CƯƠNG, LẬP VÔ SỐ CHIẾN CÔNG

              Năm 227 trước công nguyên, quân Tần đến Dịch thuỷ 易水, uy hiếp nước Yên. Để ngăn chận thế công của quân Tần, Thái tử Đan nước Yên đã phái dũng sĩ Kinh Kha 荆轲đi thích sát Tần Vương Chính 秦王政. Kết quả, Kinh Kha bị Tần Vương Chính giết chết. Tần Vương Chính cả giận, hạ lệnh tấn công nước Yên, thế là tháng 11 năm sau cử binh tấn công Kế Thành 蓟城, kinh đô nước Yên.
              Yên Vương và Thái tử Đan dẫn tàn quân chạy đến Liêu Đông 辽东. Tần Vương Chính sai Lí Tín 李信dẫn một đội quân ra sức truy sát phía sau. Yên Vương cùng đường, đành giết thái tử Đan, dâng đầu thái tử Đan lên Tần Vương, tạ tội với Tần Vương. Về sau, Lí Tín còn tham gia cuộc chiến tranh diệt Sở.
              Cuối đời Tần đầu đời Hán, thiên hạ chiến tranh liên miên, nhân khẩu nhiều quận huyện nhanh chóng giảm sút. Đại mạc phương bắc tương đối bình yên, dân tộc du mục Hung Nô nhân cơ hội đó mạnh lên, binh cường mã tráng. Thiền vu Mặc Độc 冒顿 (1) của Hung Nô dẫn quân chiếm lại khu vực Hà Sáo 河套, thường tấn công biên giới triều Hán.
              Lúc Tây Hán kiến quốc, đối mặt với cục diện suy yếu khó cứu vãn mà triều Tần để lại, do vì trường kì chiến loạn, kinh tế suy sụp, đất rộng người thưa. Đương thời, ngay cả xe của hoàng đế cũng không có 4 con ngựa cùng một sắc, các tướng phải ngồi xe trâu kéo. Ngoài ra, các chư hầu vương khác họ nối nhau tạo phản, triều Hán gặp khó khăn chồng chất, căn bản không có sức để đối phó Hung Nô.
              Lí Quảng 李广sinh vào năm 181 trước công nguyên, người Thành Kỉ 成纪 Lũng Tây 陇西 thời Tây Hán. Ông là hậu nhân của danh tướng Lí Tín 李信 triều Tần. Lúc Hán Văn Đế  汉文帝vừa mới lên ngôi, Lí Quảng hãy còn nhỏ. Lí Quảng là con cháu nhà tướng, nối đời truyền thụ xạ pháp. Ông thường lấy cưỡi ngựa làm trò chơi, cùng các bạn thi đấu tranh thắng thua, dần dần luyện thành thục công phu bắn tên. Khi Lí Quảng trưởng thành, với thân phận “lương gia tử” 梁家子 (con em xuất thân bình thường) tham gia quân đội, trở thành kị binh trẻ nhất của triều Hán.
              Năm 166 trước công nguyên, Thiền vu Hung Nô thống lĩnh 14 vạn tinh kị, một lần nữa xuống phía nam xâm phạm Tây Hán, công nhập Tru Na 朝那 (2), công phá Ninh Hạ 宁夏 Tiêu Quan 萧关, đến cả vùng Bành Dương 彭阳. Quân tiên phong của Hung Nô phóng hoả thiêu đốt Hồi trung cung 回中宫ở Thiểm Tây 陕西 của triều Hán. Kị binh trinh sát của Hung Nô hoạt động vùng Cam Tuyền cung 甘泉宫của triều Hán.
              Khi Hung Nô tấn công Tiêu Quan萧关, Lí Quảng cũng tham gia chiến đấu, bắn chết đến mấy trăm kị binh Hung Nô. Sau khi Hán Văn Đế nghe được, phong Lí Quảng chức Lang , lúc bấy giờ ông mới 20 tuổi. Lang là thị vệ của hoàng đế, đây là con đường thuận lợi mà nhiều người truy cầu để được làm quan.
              Sau khi Lí Quảng giữ chức Lang đã đến Trường An 长安bảo vệ cung cấm. Khi Hán Văn Đế ra ngoài phải theo hộ giá. Có lúc, cũng theo hoàng đến đi săn bắn.
              Đại quân Hung Nô tiến đến kinh thành Trường An. Lúc này, cả thành Trường An khủng hoảng, Hán Văn Đế vội điều 2000 chiến xa, 10 vạn kị binh phòng thủ ngoại ô Trường An. Hán Văn Đế còn truyền lệnh kị binh các nơi đến Trường An bao vây tấn công Hung Nô. Thiền vu Hung Nô nghe nói đại quân các lộ của triều Hán trước sau kéo tới liền chủ động rút lui. Hán Văn Đế không dám phái quân truy kích.
              Chẳng bao lâu, Lí Quảng được thăng chức Võ kị thường thị 武骑常侍 trở thành quan thị tùng bên cạnh hoàng đế. Do bởi Hung Nô nhiều lần xuống phía nam xâm phạm, Hán Văn Đế quyết tâm báo thù rửa nhục. Để huấn luyện quân Hán, Hán Văn Đế thường mặc trang phục lính thú, cưỡi chiến mã, cùng thị vệ đến Thượng Lâm uyển 上林苑săn bắn, sai người truyền thụ binh pháp, thao luyện quân trận.
              Lí Quảng hình vóc khôi ngô, hai tay dài, thân thể cường tráng, bản lĩnh xạ kị rất cao, trở thành nhân vật ưu tú trong nhóm các quan thị tụng. Lí Quảng dũng cảm xung trận, nhiều lần liều mình đấu với mãnh thú, biểu hiện dũng khí kinh người, luôn được Hán Văn Đế khen ngợi.
              Hán Văn Đế lúc về già từng nói với Lí Quảng:
              - Đáng tiếc thay! Như nay triều Hán đất rộng người thưa, quốc lực thì nghèo yếu! Khanh nếu sinh vào thời Cao Đế, được phong Vạn Hộ Hầu 万户侯là không thành vấn đế!
              Sau khi Hán Văn Đế qua đời năm 15 trước công nguyên, Hán Cảnh Đế 汉景帝 lên ngôi, Lí Quảng đã được thăng làm Lũng Tây quận Đô uý 陇西郡都尉, chẳng bao lâu được thăng làm Kị lang tướng 骑郎将.
              Hán Cảnh Đế kế thừa quốc sách cơ bản thời Hán Văn Đế, tiếp thụ kiến nghị “tước phiên” 削藩do chính luận gia Triều Thố 晁错đề xuất, tiến một bước tước đoạt phong địa của chư hầu quốc, để làm suy yếu thế lực cát cứ địa phương, tăng cường quốc lực.
              Người cháu của Hán Cao Tổ là Ngô vương Lưu Tị 吴王刘濞, nhiều năm đã “tích kim tiền, tu binh cách” 积金钱, 修兵革(tích góp vàng bạc, luyện tập binh mã) chiêu hàng đám nội phản gây dựng lực lượng. Để đề phòng Ngô vương Lưu Tị tạo phản, Hán văn Đế đã phong người con thứ hai là Lưu Vũ 刘武làm Lưu Hiếu Vương 刘孝王của Lương quốc 梁国, làm bình phong cho triều Hán.   (còn tiếp)

    Chú của người dịch
    1- Mặc Độc冒顿:  
    Theo Khang Hi tự điển 康熙字典
              Với chữ với bính âm là mo (thanh 4):
              ..... hựu “Tập vận”, “Vận hội”, “Chính vận” tịnh MẬT BẮC thiết, âm MẶC .... hựu Thiền vu danh “Sử kí .  Hung Nô truyện” Cập Mặc Độc lập, công phá Nguyệt Chi. ....
              ..... 集韻,韻會,正韻並密北切音默. ..... 又單于名 史記 . 匈奴傳及冒頓立攻破月氏 .....
              (..... và trong “Tập vận”, “Vận hội”, “Chính vận” đều phiên thiết là MẬT BẮC, âm MẶC. .... là tên của Thiền vu Hung Nô. Trong “Sử kí . Hung Nô truyện” có ghi:  khi Mặc Độc lên kế vị, đã công phá Nguyệt Chi. ....)
                             (trang 56. Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 2003)
              Với chữ : với bính âm là duo (thanh 4)
              ..... hựu “Vận hội”, “Chính vận” tịnh ĐƯƠNG MỘT thiết, âm ĐỐT. “Tiền Hán Hung Nô truyện” Thiền vu thái tử viết冒頓. Chú: âm , âm . ...
              ..... 韻會,正韻並當沒切, 音咄. 前漢匈奴傳單于太子曰冒頓. : 冒音默, 頓音毒 .....
              (..... và trong “Vận hội”, “Chính vận” đều phiên thiết là ĐƯƠNG MỘT, âm ĐỐT.  Trong “Tiền Hán Hung Nô truyện” có ghi: Thái tử Thiền vu là 冒頓. Chú rằng: Chữ đọc là MẶC; chữ đọc là ĐỘC. ...
                                      (trang 1394. Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 2003)
              Như vậy, tên nhân vật ở đây đọc là MẶC ĐỘC.
    2- Tru Na 朝那:
    Chữ : theo Khang Hi tự điển 康熙字典
              ..... hựu “Tập vận” TRUY THU thiết, âm CHU, 朝那 huyện danh. .....
              ..... 集韻追輸切, 音株, 朝那縣名. .....
              (..... và trong “Tập vận” phiên thiết là TRUY THU, âm CHU, TRU NA là tên huyện.....)
         Như vậy朝那 ở đây đọc là TRU NA
                       (trang 554. Thượng Hải thư điếm, 2005)

                                                                    Huỳnh Chương Hưng
                                                                    Quy Nhơn 17/9/2018

    Nguyên tác
    LÍ QUẢNG
    李广
    Trong quyển
    HỔ CHI UY
    虎之威
    Tác giả: Hàn Tố Văn 韩素文
    Bắc Kinh: Trung Quốc Trường An xuất bản xã, 2006.

    Chủ Nhật, 16 tháng 9, 2018

    QUÁ TRÌNH TÌM KIẾM DI CHỈ TỔ LẮNG TRIỀU MINH
     CÙNG TRUYỀN THUYẾT THẦN HOÁ LĂNG ĐỊA

              Tổ tiên của chu Nguyên Chương 朱元璋đã được truy tôn là hoàng đế, hoáng hậu, thì nơi táng phải gọi là lăng, đồng thời cũng theo chế độ kiến tạo đế lăng mà xây dựng.
              Trong Minh sử - Lễ chí – Sơn lăng 明史 - 礼志 - 山陵ghi rằng:
              Thái Tổ tức vị, truy thướng tứ thế đế hiệu. Hoàng Tổ khảo Hi tổ mộ tại Phụng Dương phủ Tứ Châu Tần thành bắc, tiến hiệu viết Tổ lăng.
    太祖即位, 追上四世帝号. 皇祖考熙祖墓在凤阳府泗州玭城北, 荐号曰祖陵.
         (Thái Tổ lên ngôi, truy tôn đế hiệu lên đến 4 đời. Mộ tổ Hoàng Tổ khảo Hi ở phía bắc Tần Thành Tứ Châu, phủ Phụng Dương, được dâng tôn hiệu là Tổ lăng.)
              Chu Nguyên Chương không thể cho xây dựng Tổ lăng vào đầu niên hiệu Hồng Vũ 洪武là có nguyên nhân lịch sử. Chu Nguyên Chương lúc nhỏ nhà nghèo, nơi cư trú thường thay đổi, khiến ông ta cơ bản không thể biết đích xác nơi an táng tổ khảo đời thứ 3. Do đó, việc tìm kiếm địa điểm Tổ lăng rất khó khăn phức tạp, lăng viên cũng do đó mà kiến tạo muộn.
              Theo sử sách ghi chép, lúc mới bắt đầu có người báo lên Chu Nguyên Chương mộ tổ của họ Chu tại Chu Gia hạng 朱家巷 (hẽm Chu Gia). Chu Nguyên Chương đã đặc biệt cử người xây Vạn Thọ sơn 万寿山 tại Chu Gia hạng, sẽ đích thân bái tế. Nhưng Vạn Thọ sơn mới xây này chưa được Chu Nguyên Chương một lần tế bái, trong khoảng khắc đã bị “phân vi thâm giản” 分为深涧 (chia thành khe sâu), Chu Nguyên Chương đã phạt nặng người báo cáo, cho rằng nơi đó không phải là nơi có một tổ của mình.
              Về sau trải qua hồi ức, Chu Nguyên Chương nhớ đến Hoàng cô Hiếu Thân 孝亲công chúa (người chị thứ 2 của Chu Nguyên Chương) có nói phần mộ tổ phụ tại khu vực cựu lăng Tứ Châu, nhưng vị trí cụ thể thì vẫn chưa tra khảo được. Cho nên, đương thời chỉ có thể “thời hướng thành tây Tần hà bằng điếu, tuế thời khiển quan trí tế” 时向城西濒河凭吊, 岁时遣官致祭 (hướng về Tần hà phía tây thành mà tưởng niệm, hàng năm cử quan tế bái.) Trên thực tế, lễ tế này chỉ là “vọng tế” mà thôi.
              Năm Hồng Vũ thứ 17 (năm 1348), ngẫu nhiên có một cơ hội, cuối cùng khiến Chu Nguyên Chương rõ được vị trí xác thực của Tổ lăng.
              Tôn Thừa Trạch 孙承泽đời Thanh trong Thiên phủ quảng kí 天府广记có thuật lại những ghi chép của Lễ bộ Thị lang Tưởng Đức Cảnh 蒋德璟thời Sùng Trinh 崇祯trong Phụng Tứ kí 凤泗记:
              Hồng Vũ thập thất niên Giáp Tí thập nguyệt thập nhị nhật, tôn nhân Long tương vệ tổng kì Chu Quý tùng quân vu ngoại, niên lão thuỷ quy, tức hoạ đồ thiếp thuyết, nhận thức tông phái, chỉ xuất cư xứ táng xứ, bị trần linh dị thuỷ mạt.
              洪武十七年甲子十月十二日, 宗人龙骧卫总旗朱贵从军于外, 年老始归, 即画图贴说, 认识宗派, 指出居处葬处, 备陈灵异始末.
              (Ngày 12 tháng 10 năm Giáp tí niên hiệu Hồng Vũ thứ 17, có người trong tộc giữ chức Long tương vệ tổng kì tên là Chu Quý đi lính bên ngoài, lúc tuổi già về quê, đã vẽ bức hoạ có đề thuyết minh bên cạnh để nhận biết tông phái, chỉ ra nơi ở nới táng, trình bày đầy đủ gốc ngọn những điều linh dị.)
              Chu Quý đồng tông với Chu Nguyên Chương, tổ phụ Chu Quý với tổ phụ Chu Nguyên Chương cùng từ Chu Gia hạng dời đến Tôn Gia cương 孙家岗(sườn núi Tôn Gia) phía bắc thành Tứ Châu, cho nên sau khi về quê hỏi thăm tình hình về cơ bản là đúng. Thông qua Chu Quý giới thiệu, Chu Nguyên Chương mới biết, hoá ra nơi táng tổ phụ mẫu của mình là tại Dương Gia đôn 家墩 (ụ đất Dương Gia). Ụ đất nhỏ này nhân vì có mộ của Bảo Nghị Đại Phu Dương Tuấn 杨浚, Đại lí tự bình sự Dương Nam của triều Tống mà có tên như thế (lúc Chu Nguyên Chương xây dựng Tổ lăng đã cho dời 2 mộ). Sở dĩ mà Tổ phụ mẫu của Chu Nguyên Chương được táng nơi đó hãy còn có một truyền thuyết thần kì.
              Theo truyền thuyết, tổ phụ của Chu Nguyên Chương là Chu Sơ Nhất 朱初一 khi trú tại Tôn Gia cương, có một lần ông nằm nghỉ trong một hốc đất dưới Dương Gia đôn phía sau nhà. Vừa lúc có 2 thầy trò vị đạo sĩ đi ngang qua. Vị thầy chỉ vào chỗ Chu Sơ Nhất đang nằm nói rằng:
     - Nếu táng ở đây tất sẽ sinh ra thiên tử.
    Đệ tử không rõ duyên cớ mới hỏi căn do. Vị thầy bảo rằng:
              - Đất này khí ấm, nếu lấy một cành cây khô cắm xuống, khoảng 10 ngày sau sẽ trổ lá.
             Thầy trò đạo sĩ sợ Chu Sơ Nhất nghe được, liền gọi dậy. Chu Sơ Nhất cố ý làm ra vẻ ngủ say. Thế là đạo sĩ lấy một cành cây khô cắm bên cạnh Chu Sơ Nhất rồi ra đi. Qua 10 ngày sau, Chu Sơ Nhất sáng sớm ra xem, quả nhiên cành cây khô đã trổ lá non. Để đánh lạc hướng đạo sĩ, Chu Sơ Nhất đã nhổ cành cây đó đi, thay vào một cành khô khác. Một lúc sau, vị đạo sĩ đến thấy vẫn là cành khô, cảm thấy kì lạ. Thấy có Chu Sơ Nhất bên cạnh, đạo sĩ đã rõ việc gì rồi, bèn nói thầm: “Chắc chắn người này đã đổi cành cây”. Đạo sĩ nói với Chu Sơ Nhất rằng:
              - Ông có phúc đấy, khi mất táng ở đây, sẽ sinh ra thiên tử.
              Nói xong, liền không thấy đạo sĩ đâu nữa. Chu Sơ Nhất đem chuyện đó nói lại với phụ thân của Chu Nguyên Chương. Mùa hè năm 1327, Chu Sơ Nhất qua đời, được táng ở nơi đó. Nói ra cũng lạ, khi mọi người định vun nấm lên quan tài Chu Sơ Nhất, ở đó tự nhiên đùn lên mộ trủng. Mẫu thân của Chu Nguyên Chương thì nằm mộng thấy một thần nhân đội mũ vàng, râu dài tướng mạo kì lạ, thân mặc áo đỏ từ phía tây bắc đến (hướng Dương Gia đôn), đến sân phía nam, tặng cho bà một hoàn thuốc“thần quang diệp diệp” 神光烨烨màu trắng. Sau khi mẫu thân của Chu Nguyên Chương nuốt hoàn thuốc, thần nhân không thấy nữa, nhưng khi tỉnh dậy trong miệng hãy còn mùi thơm, nửa năm sau bà mang thai Chu Nguyên Chương. Câu chuyện này không phải là sự thực, rất có khả năng là do Chu Quý hoặc người trong làng đặt ra để lấy lòng Chu Nguyên Chương.
              Chu Quý nhân chỉ ra được địa chỉ Tổ lăng mà lập được công lớn. Chu Nguyên Chương ban cho ông phục sức tứ phẩm, con cháu nối đời phụng tự ở đền thờ Tổ lăng. Về sau con của Chu Quý là Chu Phất tập chức, Chu Nguyên Chương còn cho triệu vào Cẩn Thân điện 谨身殿, ban cho một bàn thức ăn, còn ban cho thịt ngỗng ngự tiền, và nói với Chu Phất rằng:
    Mạc hiềm quan tiểu, dữ quốc đồng tế.
    莫嫌官小, 与国同济.
    (Chớ chê chức quan nhỏ, cùng giúp cho đất nước)
              Còn ụ đất nhỏ Dương Gia đôn “ngày trước chỉ là gò nhỏ, sau được đắp đất thêm” và cũng nhân nơi đó có táng tổ phụ mẫu của Chu Nguyên Chương nên được xem là cát địa phong thuỷ “ xuất phát từ sơn mạch quanh co, hình thế tôn nghiêm, cao thấp nối liền nhau, điều mà gọi là “thế như muôn ngựa từ trời phi xuống”, có  được phong hiệu là “Vạn Tuế sơn” 岁山, năm Gia Tĩnh 嘉靖thứ 10 (năm 1531) lại phong là “Cơ Vận sơn” 基运山, được vương triều Chu Minh xem là nơi phát tường “triệu cơ đế tích” 肇基帝迹 (nền móng đầu tiên nơi phát tích đế vương).  

                                                                    Huỳnh Chương Hưng
                                                                    Quy Nhơn 16/9/2018

    Nguồn
    Trong quyển
    MINH TRIỀU ĐẾ VƯƠNG LĂNG
    明朝帝王陵
    Tác giả: Hồ Hán Sinh 胡汉生
    Bắc Kinh Yên Sơn xuất bản xã, 2001

    Dịch thuật: Quá trình tìm kiếm di chỉ Tổ lăng triều Minh .....

    Đăng lúc  18:27  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    QUÁ TRÌNH TÌM KIẾM DI CHỈ TỔ LẮNG TRIỀU MINH
     CÙNG TRUYỀN THUYẾT THẦN HOÁ LĂNG ĐỊA

              Tổ tiên của chu Nguyên Chương 朱元璋đã được truy tôn là hoàng đế, hoáng hậu, thì nơi táng phải gọi là lăng, đồng thời cũng theo chế độ kiến tạo đế lăng mà xây dựng.
              Trong Minh sử - Lễ chí – Sơn lăng 明史 - 礼志 - 山陵ghi rằng:
              Thái Tổ tức vị, truy thướng tứ thế đế hiệu. Hoàng Tổ khảo Hi tổ mộ tại Phụng Dương phủ Tứ Châu Tần thành bắc, tiến hiệu viết Tổ lăng.
    太祖即位, 追上四世帝号. 皇祖考熙祖墓在凤阳府泗州玭城北, 荐号曰祖陵.
         (Thái Tổ lên ngôi, truy tôn đế hiệu lên đến 4 đời. Mộ tổ Hoàng Tổ khảo Hi ở phía bắc Tần Thành Tứ Châu, phủ Phụng Dương, được dâng tôn hiệu là Tổ lăng.)
              Chu Nguyên Chương không thể cho xây dựng Tổ lăng vào đầu niên hiệu Hồng Vũ 洪武là có nguyên nhân lịch sử. Chu Nguyên Chương lúc nhỏ nhà nghèo, nơi cư trú thường thay đổi, khiến ông ta cơ bản không thể biết đích xác nơi an táng tổ khảo đời thứ 3. Do đó, việc tìm kiếm địa điểm Tổ lăng rất khó khăn phức tạp, lăng viên cũng do đó mà kiến tạo muộn.
              Theo sử sách ghi chép, lúc mới bắt đầu có người báo lên Chu Nguyên Chương mộ tổ của họ Chu tại Chu Gia hạng 朱家巷 (hẽm Chu Gia). Chu Nguyên Chương đã đặc biệt cử người xây Vạn Thọ sơn 万寿山 tại Chu Gia hạng, sẽ đích thân bái tế. Nhưng Vạn Thọ sơn mới xây này chưa được Chu Nguyên Chương một lần tế bái, trong khoảng khắc đã bị “phân vi thâm giản” 分为深涧 (chia thành khe sâu), Chu Nguyên Chương đã phạt nặng người báo cáo, cho rằng nơi đó không phải là nơi có một tổ của mình.
              Về sau trải qua hồi ức, Chu Nguyên Chương nhớ đến Hoàng cô Hiếu Thân 孝亲công chúa (người chị thứ 2 của Chu Nguyên Chương) có nói phần mộ tổ phụ tại khu vực cựu lăng Tứ Châu, nhưng vị trí cụ thể thì vẫn chưa tra khảo được. Cho nên, đương thời chỉ có thể “thời hướng thành tây Tần hà bằng điếu, tuế thời khiển quan trí tế” 时向城西濒河凭吊, 岁时遣官致祭 (hướng về Tần hà phía tây thành mà tưởng niệm, hàng năm cử quan tế bái.) Trên thực tế, lễ tế này chỉ là “vọng tế” mà thôi.
              Năm Hồng Vũ thứ 17 (năm 1348), ngẫu nhiên có một cơ hội, cuối cùng khiến Chu Nguyên Chương rõ được vị trí xác thực của Tổ lăng.
              Tôn Thừa Trạch 孙承泽đời Thanh trong Thiên phủ quảng kí 天府广记có thuật lại những ghi chép của Lễ bộ Thị lang Tưởng Đức Cảnh 蒋德璟thời Sùng Trinh 崇祯trong Phụng Tứ kí 凤泗记:
              Hồng Vũ thập thất niên Giáp Tí thập nguyệt thập nhị nhật, tôn nhân Long tương vệ tổng kì Chu Quý tùng quân vu ngoại, niên lão thuỷ quy, tức hoạ đồ thiếp thuyết, nhận thức tông phái, chỉ xuất cư xứ táng xứ, bị trần linh dị thuỷ mạt.
              洪武十七年甲子十月十二日, 宗人龙骧卫总旗朱贵从军于外, 年老始归, 即画图贴说, 认识宗派, 指出居处葬处, 备陈灵异始末.
              (Ngày 12 tháng 10 năm Giáp tí niên hiệu Hồng Vũ thứ 17, có người trong tộc giữ chức Long tương vệ tổng kì tên là Chu Quý đi lính bên ngoài, lúc tuổi già về quê, đã vẽ bức hoạ có đề thuyết minh bên cạnh để nhận biết tông phái, chỉ ra nơi ở nới táng, trình bày đầy đủ gốc ngọn những điều linh dị.)
              Chu Quý đồng tông với Chu Nguyên Chương, tổ phụ Chu Quý với tổ phụ Chu Nguyên Chương cùng từ Chu Gia hạng dời đến Tôn Gia cương 孙家岗(sườn núi Tôn Gia) phía bắc thành Tứ Châu, cho nên sau khi về quê hỏi thăm tình hình về cơ bản là đúng. Thông qua Chu Quý giới thiệu, Chu Nguyên Chương mới biết, hoá ra nơi táng tổ phụ mẫu của mình là tại Dương Gia đôn 家墩 (ụ đất Dương Gia). Ụ đất nhỏ này nhân vì có mộ của Bảo Nghị Đại Phu Dương Tuấn 杨浚, Đại lí tự bình sự Dương Nam của triều Tống mà có tên như thế (lúc Chu Nguyên Chương xây dựng Tổ lăng đã cho dời 2 mộ). Sở dĩ mà Tổ phụ mẫu của Chu Nguyên Chương được táng nơi đó hãy còn có một truyền thuyết thần kì.
              Theo truyền thuyết, tổ phụ của Chu Nguyên Chương là Chu Sơ Nhất 朱初一 khi trú tại Tôn Gia cương, có một lần ông nằm nghỉ trong một hốc đất dưới Dương Gia đôn phía sau nhà. Vừa lúc có 2 thầy trò vị đạo sĩ đi ngang qua. Vị thầy chỉ vào chỗ Chu Sơ Nhất đang nằm nói rằng:
     - Nếu táng ở đây tất sẽ sinh ra thiên tử.
    Đệ tử không rõ duyên cớ mới hỏi căn do. Vị thầy bảo rằng:
              - Đất này khí ấm, nếu lấy một cành cây khô cắm xuống, khoảng 10 ngày sau sẽ trổ lá.
             Thầy trò đạo sĩ sợ Chu Sơ Nhất nghe được, liền gọi dậy. Chu Sơ Nhất cố ý làm ra vẻ ngủ say. Thế là đạo sĩ lấy một cành cây khô cắm bên cạnh Chu Sơ Nhất rồi ra đi. Qua 10 ngày sau, Chu Sơ Nhất sáng sớm ra xem, quả nhiên cành cây khô đã trổ lá non. Để đánh lạc hướng đạo sĩ, Chu Sơ Nhất đã nhổ cành cây đó đi, thay vào một cành khô khác. Một lúc sau, vị đạo sĩ đến thấy vẫn là cành khô, cảm thấy kì lạ. Thấy có Chu Sơ Nhất bên cạnh, đạo sĩ đã rõ việc gì rồi, bèn nói thầm: “Chắc chắn người này đã đổi cành cây”. Đạo sĩ nói với Chu Sơ Nhất rằng:
              - Ông có phúc đấy, khi mất táng ở đây, sẽ sinh ra thiên tử.
              Nói xong, liền không thấy đạo sĩ đâu nữa. Chu Sơ Nhất đem chuyện đó nói lại với phụ thân của Chu Nguyên Chương. Mùa hè năm 1327, Chu Sơ Nhất qua đời, được táng ở nơi đó. Nói ra cũng lạ, khi mọi người định vun nấm lên quan tài Chu Sơ Nhất, ở đó tự nhiên đùn lên mộ trủng. Mẫu thân của Chu Nguyên Chương thì nằm mộng thấy một thần nhân đội mũ vàng, râu dài tướng mạo kì lạ, thân mặc áo đỏ từ phía tây bắc đến (hướng Dương Gia đôn), đến sân phía nam, tặng cho bà một hoàn thuốc“thần quang diệp diệp” 神光烨烨màu trắng. Sau khi mẫu thân của Chu Nguyên Chương nuốt hoàn thuốc, thần nhân không thấy nữa, nhưng khi tỉnh dậy trong miệng hãy còn mùi thơm, nửa năm sau bà mang thai Chu Nguyên Chương. Câu chuyện này không phải là sự thực, rất có khả năng là do Chu Quý hoặc người trong làng đặt ra để lấy lòng Chu Nguyên Chương.
              Chu Quý nhân chỉ ra được địa chỉ Tổ lăng mà lập được công lớn. Chu Nguyên Chương ban cho ông phục sức tứ phẩm, con cháu nối đời phụng tự ở đền thờ Tổ lăng. Về sau con của Chu Quý là Chu Phất tập chức, Chu Nguyên Chương còn cho triệu vào Cẩn Thân điện 谨身殿, ban cho một bàn thức ăn, còn ban cho thịt ngỗng ngự tiền, và nói với Chu Phất rằng:
    Mạc hiềm quan tiểu, dữ quốc đồng tế.
    莫嫌官小, 与国同济.
    (Chớ chê chức quan nhỏ, cùng giúp cho đất nước)
              Còn ụ đất nhỏ Dương Gia đôn “ngày trước chỉ là gò nhỏ, sau được đắp đất thêm” và cũng nhân nơi đó có táng tổ phụ mẫu của Chu Nguyên Chương nên được xem là cát địa phong thuỷ “ xuất phát từ sơn mạch quanh co, hình thế tôn nghiêm, cao thấp nối liền nhau, điều mà gọi là “thế như muôn ngựa từ trời phi xuống”, có  được phong hiệu là “Vạn Tuế sơn” 岁山, năm Gia Tĩnh 嘉靖thứ 10 (năm 1531) lại phong là “Cơ Vận sơn” 基运山, được vương triều Chu Minh xem là nơi phát tường “triệu cơ đế tích” 肇基帝迹 (nền móng đầu tiên nơi phát tích đế vương).  

                                                                    Huỳnh Chương Hưng
                                                                    Quy Nhơn 16/9/2018

    Nguồn
    Trong quyển
    MINH TRIỀU ĐẾ VƯƠNG LĂNG
    明朝帝王陵
    Tác giả: Hồ Hán Sinh 胡汉生
    Bắc Kinh Yên Sơn xuất bản xã, 2001

    Thứ Bảy, 15 tháng 9, 2018



    不听谗言  不掩己过
    宁为小人所忌毁, 毋为小人所媚悦; 宁为君子所责备, 毋为君子所包容.
                                                                            (菜根谭 - 自省克己)

    BẤT THÍNH SÀM NGÔN   BẤT YỂM KỈ QUÁ
              Ninh vi tiểu nhân sở kị huỷ, vô vi tiểu nhân sở mị duyệt; Ninh vi quân tử sở trách bị, vô vi quân tử sở bao dung.
                                                                     (Thái căn đàm – Tự tỉnh khắc kỉ)

    KHÔNG NGHE LỜI SÀM NỊNH, KHÔNG GIẤU LỖI CỦA MÌNH
              Thà bị tiểu nhân oán hận huỷ báng, chứ không chịu để cho tiểu nhân siểm nịnh mê hoặc; Thà bị quân tử chê trách, chứ không cần được quân tử tha thứ bao dung.

    Giải thích và phân tích
              Mọi người nói chung đều thích nghe những lời khen tặng về mình, mà không thích nghe những lời chê trách về mình. Nhưng, các bậc tiền bối tiên hiền thì lại thà tiếp nhận những lời chê trách của quân tử, chứ không chịu dễ dàng tin theo những lời siểm nịnh của tiểu nhân. Quân tử chê trách luôn là những người chân thành chỉ ra những sai lầm của người khác, khuyên người ta hướng tới những điều tốt, để hoàn thiện phẩm hạnh nhân cách. Còn những lời khen tặng của tiểu nhân, thường xuất phát từ động cơ nào đó muốn lấy lòng người, là loại trùng độc mê hoặc lòng người để đạt được mục đích mà không nói cho ai biết. Cho nên, những lời chê trách của quân tử cho dù có nghiêm khắc, chúng ta cũng nên cung kính nghe; còn những lời khen tặng của tiểu nhân, cho dù có làm đẹp lòng, cũng không nên dễ dàng tin nghe. Chỉ cần lòng mình thẳng ngay, ngẩng lên không hổ với trời, cúi xuống không thẹn với đất, những oán hận đố kị của tiểu nhân cũng chẳng là gì đáng để vướng mắc trong lòng.
              Triều Minh có một người tên Từ Quân 徐均, đảm nhậm chức Chủ bạ ở Dương Xuân 阳春  (nay thuộc Quảng Đông 广东). Dương Xuân là một nơi hẻo lánh, núi cao xa hoàng đế, bọn thổ hào thân sĩ độc ác nơi đó chiếm cứ cả vùng, làm những việc xấu xa mà không e dè kiêng kị. Các trưởng quan trước đó của Dương Xuân vừa đến nhậm chức, bọn thổ hào thân sĩ liền đem hối lộ nhiều tài vật, chúng câu kết với nhau, trên làm sao dưới làm theo vậy, khống chế cả trưởng ấp.
              Sau khi Từ Quân đến nhậm chức, bọn lại các ấp báo cáo với Từ Quân theo lệ thường nên đi thăm Mạc lão đại 莫老大, bởi vì Mạc lão đại rất có thế lực ở vùng này. Từ Quân bảo rằng:
              - Người này cũng chẳng phải là thuộc dân của triều đình sao? Không chịu quản thì dùng vương pháp để chế tài.
              Thế là ông lấy ra 2 thanh kiếm mà triều đình ban tặng cho mọi người xem. Mạc lão đại sợ, vội đến phủ quan bái kiến thỉnh tội. Từ Quân tra xét rõ các hành vi phạm pháp của Mạc lão đại, cho bắt bỏ ngục. Sáng sớm hôm sau, người nhà của Mạc lão đại muốn tặng Từ Quân hai trái dưa và mấy trái lựu, thực tế là bên trong toàn là vàng bạc châu báu. Từ Quân ngay cả nhìn cũng không nhìn, lệnh cho bắt người tặng đồ vật đưa tới phủ quan. Qua cách trị lí của Từ Quân, xã hội Dương Xuân ổn định, bách tính an cư lạc nghiệp.
              Về sau, Từ Quân lại được điều đến Dương Giang 阳江. Dưới sự cai trị của ông, xã hội Dương Giang cũng ổn định như vậy. Từ Quân chấp pháp công chính liêm minh, căn bản không để ý vào những oán hận phỉ báng của tiểu nhân, cũng không để ý vào việc bị quyền thế công kích.
              Con người Từ Quân ngay thẳng, làm quan thanh liêm, không bị lợi ích mê hoặc, trước sau giữ được tiết tháo của mình, thật đáng quý. Ngoài ra, ông còn rất rõ nhìn người, thấy được lòng dạ của tiểu nhân, đương nhiên không để ý đến sự mê hoặc hiểm độc của tiểu  nhân, và cũng không để ý đến sự oán hận của chúng, đạt đến cảnh giới tự nhiên thoải mái mà người thường khó đạt được. Nhưng cự tuyệt sự mê hoặc là dũng khí và trí tuệ cần có, không phải mọi người đều có cái nhìn sắc bén như Từ Quân. Một số người cầm không được sự nịnh bợ ton hót của người khác, cũng nghe không lọt những lời khuyên răn cảnh giới của người khác, không những không biết sai, mà chỉ bảo nhiều lần vẫn không chịu sửa đổi, cuối cùng thân bại danh liệt, bị thiên hạ chê cười. Tấn Linh Công 晋灵公 thời Xuân Thu là một ví dụ như thế.
              Tấn Linh Công tính tình tàn bạo, thường mượn cớ giết người. Ngày nọ, người đầu bếp dâng lên món tay gấu hầm chưa rục, ông ta đã tàn nhẫn giết chết, thi thể người đầu bếp bị Triệu Thuẫn 赵盾và Sĩ Quý 士季, hai vị đại thần chính trực trông thấy. Sau khi hiểu rõ tình hình, hai người vô cùng giận, quyết định vào cung khuyên can Tấn Linh Công. Nhưng, Linh Công không nhận thức được lỗi lầm của mình, hành vi tàn bạo vẫn cứ như cũ. Tướng quốc Triệu Thuẫn nhiều lần khuyên can, khiến Linh Công cảm thấy phiền phức, bèn sai người ám sát Triệu Thuẫn. Tấn Linh Công nghe không lọt tai những lời khuyên thiện ý của quân tử, lại bị nịnh thần Đồ Ngạn Giả 屠岸贾siểm nịnh mê hoặc.
              Tấn Linh Công ham thích chó, cho xây một chuồng chó tại Khúc Ốc 曲沃, mặc cho chúng áo có thêu hoa. Đồ Ngạn Giả biết Tấn Linh Công thích chó, liền khen tặng chó để lấy lòng, Linh Công càng quý chó hơn. Một đêm nọ, hồ li vào Giáng cung 降宫 làm kinh động Tương phu nhân 襄夫人. Tương phu nhân vô cùng giận, Linh Công bảo chó bắt hồ li, chó không thắng được. Đồ Ngạn Giả lệnh cho người canh giữ rừng đem con hồ li khác bắt được dâng Tấn Linh Công, nói rằng:
              - Quả thực chó đã bắt được hồ li.
              Tấn Linh Công vui mừng, sai lấy thịt mà đại phu dùng đem cho chó ăn, hạ lệnh với người trong nước rằng:
              - Nếu ai xúc phạm đến chó của ta, sẽ bị chặt chân.
              Thế là người trong nước đều sợ. Bầy chó chạy vào chợ ăn thịt dê, thịt heo, ăn no rồi lại tha đem về cho Đồ Ngạn Giả. Từ đó Đồ Ngạn Giả được lợi. Trong số các quan đại phu, những ai nói việc gì mà không thuận với Đồ Ngạn Giả, bầy chó sẽ xúm lại cắn.
              Tấn Linh Công thân cận tiểu nhân xa lánh hiền thần cuối cùng bị người ta sát hại, nước Tấn sau đó cũng bị 3 nước Hàn, Triệu, Nguỵ chia cắt.
              Cổ nhân có nói: Con người không phải là thánh hiền, ai mà không mắc lỗi, có lỗi mà biết sửa lỗi thì thiện nào lớn hơn được. Huống hồ thánh nhân thấy người hiền liền nghĩ đến mình có được như họ không, thấy người bất hiền thì tự xem xét lấy mình, chúng ta là người bình thường lại càng cần phải như thế. Điều đau buồn của rất nhiều người ở chỗ đã phạm sai lầm mà không tự biết. Tấn Linh Công đương nhiên may mắn hơn những người khác, bởi có quân tử trung thành không nghĩ đến sự an nguy lợi hại của bản thân đã nhiều lần chỉ ra những chỗ sai lầm. Nhưng Tấn Linh Công bi thương hơn những người khác, ông ta tuy có thể tự biết, nhưng nhiều lần khuyên bảo vẫn không sửa đổi, đã phạm sai lầm lại tiếp tục phạm sai lầm, ngày càng lún sâu thêm. Sai lầm có sự phân biệt lớn nhỏ nặng nhẹ. Sai nhỏ mà có thể sửa, thì không gì tốt bằng. Vết xe đổ của xe trước là cái gương cho xe sau, còn sai lớn thì cả đời hối lỗi vẫn vô phương cứu chữa, đặc biệt là không nên lấy sai lầm này để che đậy cho sai lầm khác, nếu không chỉ có thể là cái kén tự trói buộc mình.

                                                                 Huỳnh Chương Hưng
                                                                 Quy Nhơn 15/9/2018

    Nguồn
    THÁI CĂN ĐÀM
    菜根谭
    Tác giả: (Minh) Hồng Ứng Minh 洪应明
    Biên soạn: Bàng Bác 庞博
    Trung Quốc Hoa Kiều xuất bản xã, 2013

    Dịch thuật: Bất thính sàm ngôn, bất yểm kỉ quá (Thái căn đàm)

    Đăng lúc  19:36  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »



    不听谗言  不掩己过
    宁为小人所忌毁, 毋为小人所媚悦; 宁为君子所责备, 毋为君子所包容.
                                                                            (菜根谭 - 自省克己)

    BẤT THÍNH SÀM NGÔN   BẤT YỂM KỈ QUÁ
              Ninh vi tiểu nhân sở kị huỷ, vô vi tiểu nhân sở mị duyệt; Ninh vi quân tử sở trách bị, vô vi quân tử sở bao dung.
                                                                     (Thái căn đàm – Tự tỉnh khắc kỉ)

    KHÔNG NGHE LỜI SÀM NỊNH, KHÔNG GIẤU LỖI CỦA MÌNH
              Thà bị tiểu nhân oán hận huỷ báng, chứ không chịu để cho tiểu nhân siểm nịnh mê hoặc; Thà bị quân tử chê trách, chứ không cần được quân tử tha thứ bao dung.

    Giải thích và phân tích
              Mọi người nói chung đều thích nghe những lời khen tặng về mình, mà không thích nghe những lời chê trách về mình. Nhưng, các bậc tiền bối tiên hiền thì lại thà tiếp nhận những lời chê trách của quân tử, chứ không chịu dễ dàng tin theo những lời siểm nịnh của tiểu nhân. Quân tử chê trách luôn là những người chân thành chỉ ra những sai lầm của người khác, khuyên người ta hướng tới những điều tốt, để hoàn thiện phẩm hạnh nhân cách. Còn những lời khen tặng của tiểu nhân, thường xuất phát từ động cơ nào đó muốn lấy lòng người, là loại trùng độc mê hoặc lòng người để đạt được mục đích mà không nói cho ai biết. Cho nên, những lời chê trách của quân tử cho dù có nghiêm khắc, chúng ta cũng nên cung kính nghe; còn những lời khen tặng của tiểu nhân, cho dù có làm đẹp lòng, cũng không nên dễ dàng tin nghe. Chỉ cần lòng mình thẳng ngay, ngẩng lên không hổ với trời, cúi xuống không thẹn với đất, những oán hận đố kị của tiểu nhân cũng chẳng là gì đáng để vướng mắc trong lòng.
              Triều Minh có một người tên Từ Quân 徐均, đảm nhậm chức Chủ bạ ở Dương Xuân 阳春  (nay thuộc Quảng Đông 广东). Dương Xuân là một nơi hẻo lánh, núi cao xa hoàng đế, bọn thổ hào thân sĩ độc ác nơi đó chiếm cứ cả vùng, làm những việc xấu xa mà không e dè kiêng kị. Các trưởng quan trước đó của Dương Xuân vừa đến nhậm chức, bọn thổ hào thân sĩ liền đem hối lộ nhiều tài vật, chúng câu kết với nhau, trên làm sao dưới làm theo vậy, khống chế cả trưởng ấp.
              Sau khi Từ Quân đến nhậm chức, bọn lại các ấp báo cáo với Từ Quân theo lệ thường nên đi thăm Mạc lão đại 莫老大, bởi vì Mạc lão đại rất có thế lực ở vùng này. Từ Quân bảo rằng:
              - Người này cũng chẳng phải là thuộc dân của triều đình sao? Không chịu quản thì dùng vương pháp để chế tài.
              Thế là ông lấy ra 2 thanh kiếm mà triều đình ban tặng cho mọi người xem. Mạc lão đại sợ, vội đến phủ quan bái kiến thỉnh tội. Từ Quân tra xét rõ các hành vi phạm pháp của Mạc lão đại, cho bắt bỏ ngục. Sáng sớm hôm sau, người nhà của Mạc lão đại muốn tặng Từ Quân hai trái dưa và mấy trái lựu, thực tế là bên trong toàn là vàng bạc châu báu. Từ Quân ngay cả nhìn cũng không nhìn, lệnh cho bắt người tặng đồ vật đưa tới phủ quan. Qua cách trị lí của Từ Quân, xã hội Dương Xuân ổn định, bách tính an cư lạc nghiệp.
              Về sau, Từ Quân lại được điều đến Dương Giang 阳江. Dưới sự cai trị của ông, xã hội Dương Giang cũng ổn định như vậy. Từ Quân chấp pháp công chính liêm minh, căn bản không để ý vào những oán hận phỉ báng của tiểu nhân, cũng không để ý vào việc bị quyền thế công kích.
              Con người Từ Quân ngay thẳng, làm quan thanh liêm, không bị lợi ích mê hoặc, trước sau giữ được tiết tháo của mình, thật đáng quý. Ngoài ra, ông còn rất rõ nhìn người, thấy được lòng dạ của tiểu nhân, đương nhiên không để ý đến sự mê hoặc hiểm độc của tiểu  nhân, và cũng không để ý đến sự oán hận của chúng, đạt đến cảnh giới tự nhiên thoải mái mà người thường khó đạt được. Nhưng cự tuyệt sự mê hoặc là dũng khí và trí tuệ cần có, không phải mọi người đều có cái nhìn sắc bén như Từ Quân. Một số người cầm không được sự nịnh bợ ton hót của người khác, cũng nghe không lọt những lời khuyên răn cảnh giới của người khác, không những không biết sai, mà chỉ bảo nhiều lần vẫn không chịu sửa đổi, cuối cùng thân bại danh liệt, bị thiên hạ chê cười. Tấn Linh Công 晋灵公 thời Xuân Thu là một ví dụ như thế.
              Tấn Linh Công tính tình tàn bạo, thường mượn cớ giết người. Ngày nọ, người đầu bếp dâng lên món tay gấu hầm chưa rục, ông ta đã tàn nhẫn giết chết, thi thể người đầu bếp bị Triệu Thuẫn 赵盾và Sĩ Quý 士季, hai vị đại thần chính trực trông thấy. Sau khi hiểu rõ tình hình, hai người vô cùng giận, quyết định vào cung khuyên can Tấn Linh Công. Nhưng, Linh Công không nhận thức được lỗi lầm của mình, hành vi tàn bạo vẫn cứ như cũ. Tướng quốc Triệu Thuẫn nhiều lần khuyên can, khiến Linh Công cảm thấy phiền phức, bèn sai người ám sát Triệu Thuẫn. Tấn Linh Công nghe không lọt tai những lời khuyên thiện ý của quân tử, lại bị nịnh thần Đồ Ngạn Giả 屠岸贾siểm nịnh mê hoặc.
              Tấn Linh Công ham thích chó, cho xây một chuồng chó tại Khúc Ốc 曲沃, mặc cho chúng áo có thêu hoa. Đồ Ngạn Giả biết Tấn Linh Công thích chó, liền khen tặng chó để lấy lòng, Linh Công càng quý chó hơn. Một đêm nọ, hồ li vào Giáng cung 降宫 làm kinh động Tương phu nhân 襄夫人. Tương phu nhân vô cùng giận, Linh Công bảo chó bắt hồ li, chó không thắng được. Đồ Ngạn Giả lệnh cho người canh giữ rừng đem con hồ li khác bắt được dâng Tấn Linh Công, nói rằng:
              - Quả thực chó đã bắt được hồ li.
              Tấn Linh Công vui mừng, sai lấy thịt mà đại phu dùng đem cho chó ăn, hạ lệnh với người trong nước rằng:
              - Nếu ai xúc phạm đến chó của ta, sẽ bị chặt chân.
              Thế là người trong nước đều sợ. Bầy chó chạy vào chợ ăn thịt dê, thịt heo, ăn no rồi lại tha đem về cho Đồ Ngạn Giả. Từ đó Đồ Ngạn Giả được lợi. Trong số các quan đại phu, những ai nói việc gì mà không thuận với Đồ Ngạn Giả, bầy chó sẽ xúm lại cắn.
              Tấn Linh Công thân cận tiểu nhân xa lánh hiền thần cuối cùng bị người ta sát hại, nước Tấn sau đó cũng bị 3 nước Hàn, Triệu, Nguỵ chia cắt.
              Cổ nhân có nói: Con người không phải là thánh hiền, ai mà không mắc lỗi, có lỗi mà biết sửa lỗi thì thiện nào lớn hơn được. Huống hồ thánh nhân thấy người hiền liền nghĩ đến mình có được như họ không, thấy người bất hiền thì tự xem xét lấy mình, chúng ta là người bình thường lại càng cần phải như thế. Điều đau buồn của rất nhiều người ở chỗ đã phạm sai lầm mà không tự biết. Tấn Linh Công đương nhiên may mắn hơn những người khác, bởi có quân tử trung thành không nghĩ đến sự an nguy lợi hại của bản thân đã nhiều lần chỉ ra những chỗ sai lầm. Nhưng Tấn Linh Công bi thương hơn những người khác, ông ta tuy có thể tự biết, nhưng nhiều lần khuyên bảo vẫn không sửa đổi, đã phạm sai lầm lại tiếp tục phạm sai lầm, ngày càng lún sâu thêm. Sai lầm có sự phân biệt lớn nhỏ nặng nhẹ. Sai nhỏ mà có thể sửa, thì không gì tốt bằng. Vết xe đổ của xe trước là cái gương cho xe sau, còn sai lớn thì cả đời hối lỗi vẫn vô phương cứu chữa, đặc biệt là không nên lấy sai lầm này để che đậy cho sai lầm khác, nếu không chỉ có thể là cái kén tự trói buộc mình.

                                                                 Huỳnh Chương Hưng
                                                                 Quy Nhơn 15/9/2018

    Nguồn
    THÁI CĂN ĐÀM
    菜根谭
    Tác giả: (Minh) Hồng Ứng Minh 洪应明
    Biên soạn: Bàng Bác 庞博
    Trung Quốc Hoa Kiều xuất bản xã, 2013

    Thứ Sáu, 14 tháng 9, 2018

    TẠI SAO DÙNG  “ĐÀO LÍ MÃN THIÊN HẠ”
    ĐỂ KHEN TẶNG VỊ THẦY CÓ NHIỀU HỌC TRÒ ƯU TÚ

              Chúng ta thường dùng “đào lí mãn thiên hạ” 桃李满天下để hình dung vị thầy có nhiều học trò khắp nơi trong cả nước. Cũng có thể dùng để khen tặng vị thầy đã đào tạo nhiều học trò ưu tú. Thế thì tại sao học trò được ví là “đào lí”, và điển này xuất xứ từ đâu?
              Tương truyền thời Xuân Thu, nước Nguỵ có một đại thần tên Tử Chất 子质, học thức uyên bác, tài cao 8 đấu. Do vì đắc tội với Nguỵ Văn Hầu 魏文侯, nên đã chạy đến nhà một người bạn ở phương bắc để lánh nạn. Nhà người bạn thì nghèo, Tử Chất không muốn tăng thêm gánh nặng cho bạn, thế là ông đề xuất mở một học quán, thu nhận dạy học trò để sống qua ngày. Tử Chất thu nhận học trò không phân biệt giàu nghèo, chỉ cần bằng lòng học thì có thể bái ông làm thầy, đối đãi tất cả như nhau.
              Trong sân học quán có một cây đào và một cây lí. Dưới cây là nơi học trò làm lễ bái sư. Tử Chất thường chỉ cây đào cây lí đã kết trái dạy học trò rằng:
              - Các con cần phải khắc khổ học tập, giống như hai cây kia ra hoa kết trái. Chỉ có học vấn cao, mới có thể làm nên sự nghiệp lớn cho đất nước.
             Dưới sự chỉ dạy nghiêm khắc của Tử Chất, rất nhiều học trò trở thành rường cột của đất nước. Để ghi nhớ công ơn của thầy, những học trò đó cũng trồng cây đào cây lí trong sân nhà mình.
              Về sau, Tử Chất đi du lịch các nước, gặp được rất nhiều học trò đang làm quan, ông tự hào nói rằng:
              - Học trò của tôi đúng là đào lí đầy khắp cả thiên hạ, người nào cũng có thành tựu.
              Về sau dùng “đào lí” để chỉ học trò.
              Câu “đào lí mãn thiên hạ” xuất xứ từ Tư trị thông giám – Đường kỉ 司治通鉴 - 唐纪:
    Thiên hạ đào lí, tất tại công môn hĩ.
    天下桃李, 悉在公门.
    (Đào lí trong thiên hạ, hết thảy đều xuất phát từ nhà ông)
               Thời Võ Tắc Thiên 武则天, Địch Nhân Kiệt 狄仁杰vị cao quyền trọng, thế là Võ Hậu bèn bảo ông ta tiến cử nhân tài có thể đảm nhiệm công việc. Địch Nhân Kiệt tiến cử mấy chục người như Trương Giản Chi 张柬之, Diêu Sùng 姚崇 ... Những người đó sau này đa số trở thành những danh thần. Có người nói với Địch Nhân Kiệt:
    Thiên hạ đào lí, tất tại công môn hĩ.
    天下桃李, 悉在公门.
    Địch Nhân Kiệt bảo rằng:
    . Cử hiền vị quốc, phi vị tư dã.
    举贤为国非为私也.
    (Tiến cử hiền tài là vì đất nước, chứ không phải vì riêng cá nhân)
              Từ đây chúng ta có thể thấy, “đào lí” khi mới bắt đầu là chỉ “học trò”, sau này chỉ “nhân tài”, có một quá trình phát triển nghĩa của từ. Trong xã hội hiện đại, chúng ta nói “đào lí mãn thiên hạ” thực tế bao hàm cả 2 tầng ý nghĩa nói trên.

                                                     Huỳnh Chương Hưng
                                                      Quy Nhơn 14/9/2018

    Nguyên tác Trung văn
    Trong quyển
    THÚ VỊ VĂN HOÁ TRI THỨC ĐẠI TOÀN
    趣味文化知识大全
    Thanh Thạch 青石 biên soạn
    Trung Quốc Hoa kiều xuất bản xã, 2013

    Dịch thuật: Tại sao dùng "đào lí mãn thiên hạ" .....

    Đăng lúc  21:14  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    TẠI SAO DÙNG  “ĐÀO LÍ MÃN THIÊN HẠ”
    ĐỂ KHEN TẶNG VỊ THẦY CÓ NHIỀU HỌC TRÒ ƯU TÚ

              Chúng ta thường dùng “đào lí mãn thiên hạ” 桃李满天下để hình dung vị thầy có nhiều học trò khắp nơi trong cả nước. Cũng có thể dùng để khen tặng vị thầy đã đào tạo nhiều học trò ưu tú. Thế thì tại sao học trò được ví là “đào lí”, và điển này xuất xứ từ đâu?
              Tương truyền thời Xuân Thu, nước Nguỵ có một đại thần tên Tử Chất 子质, học thức uyên bác, tài cao 8 đấu. Do vì đắc tội với Nguỵ Văn Hầu 魏文侯, nên đã chạy đến nhà một người bạn ở phương bắc để lánh nạn. Nhà người bạn thì nghèo, Tử Chất không muốn tăng thêm gánh nặng cho bạn, thế là ông đề xuất mở một học quán, thu nhận dạy học trò để sống qua ngày. Tử Chất thu nhận học trò không phân biệt giàu nghèo, chỉ cần bằng lòng học thì có thể bái ông làm thầy, đối đãi tất cả như nhau.
              Trong sân học quán có một cây đào và một cây lí. Dưới cây là nơi học trò làm lễ bái sư. Tử Chất thường chỉ cây đào cây lí đã kết trái dạy học trò rằng:
              - Các con cần phải khắc khổ học tập, giống như hai cây kia ra hoa kết trái. Chỉ có học vấn cao, mới có thể làm nên sự nghiệp lớn cho đất nước.
             Dưới sự chỉ dạy nghiêm khắc của Tử Chất, rất nhiều học trò trở thành rường cột của đất nước. Để ghi nhớ công ơn của thầy, những học trò đó cũng trồng cây đào cây lí trong sân nhà mình.
              Về sau, Tử Chất đi du lịch các nước, gặp được rất nhiều học trò đang làm quan, ông tự hào nói rằng:
              - Học trò của tôi đúng là đào lí đầy khắp cả thiên hạ, người nào cũng có thành tựu.
              Về sau dùng “đào lí” để chỉ học trò.
              Câu “đào lí mãn thiên hạ” xuất xứ từ Tư trị thông giám – Đường kỉ 司治通鉴 - 唐纪:
    Thiên hạ đào lí, tất tại công môn hĩ.
    天下桃李, 悉在公门.
    (Đào lí trong thiên hạ, hết thảy đều xuất phát từ nhà ông)
               Thời Võ Tắc Thiên 武则天, Địch Nhân Kiệt 狄仁杰vị cao quyền trọng, thế là Võ Hậu bèn bảo ông ta tiến cử nhân tài có thể đảm nhiệm công việc. Địch Nhân Kiệt tiến cử mấy chục người như Trương Giản Chi 张柬之, Diêu Sùng 姚崇 ... Những người đó sau này đa số trở thành những danh thần. Có người nói với Địch Nhân Kiệt:
    Thiên hạ đào lí, tất tại công môn hĩ.
    天下桃李, 悉在公门.
    Địch Nhân Kiệt bảo rằng:
    . Cử hiền vị quốc, phi vị tư dã.
    举贤为国非为私也.
    (Tiến cử hiền tài là vì đất nước, chứ không phải vì riêng cá nhân)
              Từ đây chúng ta có thể thấy, “đào lí” khi mới bắt đầu là chỉ “học trò”, sau này chỉ “nhân tài”, có một quá trình phát triển nghĩa của từ. Trong xã hội hiện đại, chúng ta nói “đào lí mãn thiên hạ” thực tế bao hàm cả 2 tầng ý nghĩa nói trên.

                                                     Huỳnh Chương Hưng
                                                      Quy Nhơn 14/9/2018

    Nguyên tác Trung văn
    Trong quyển
    THÚ VỊ VĂN HOÁ TRI THỨC ĐẠI TOÀN
    趣味文化知识大全
    Thanh Thạch 青石 biên soạn
    Trung Quốc Hoa kiều xuất bản xã, 2013

    Thứ Năm, 13 tháng 9, 2018

    BÁ DI, THÚC TỀ CHẾT ĐÓI Ở NÚI THÚ DƯƠNG
    ĐÁNG TIN CHĂNG
    (kì 2)

    Chất nghi thứ 3
    Lí giải như thế nào việc không ăn thóc nhà Chu?
              Đầu tiên thử nói lai lịch câu chuyện “bất thực Chu túc” 不食周粟  (không ăn thóc nhà Chu).
              Trong Hàn Phi Tử - Gian kiếp 韩非子 - 奸劫 có nói, sau khi Bá Di, Thúc Tề đến đất Chu, “Vũ Vương nhượng thiên hạ” 武王让天下 (Vũ Vương nhường cho thiên hạ), nhưng Bá Di, Thúc Tề không chịu. Trong Trang Tử - Nhượng vương 庄子 - 让王cũng có nói, Vũ Vương phái Chu Công tiếp đãi Bá Di và Thúc Tề - hai vị khách quý hiền đức từ xa đến, Chu Công tỏ ý muốn “gia phú nhị đẳng, tựu quan nhất liệt” 加富二等, 就官一列 (Ban bổng lộc 2 cấp, làm quan cao nhất đẳng.) Hai người nhìn nhau cười, nói với Chu Công một hồi, đại ý là: quan cao lộc nhiều không phải thứ mà họ truy cầu, lấy bạo lực thay bạo lực cũng không phải là cục diện mà họ muốn thấy, cho nên họ chuẩn bị ra đi, giữ thân trong sạch. Từ điển tịch của 2 thiên có thể nhìn thấy, Bá Di, Thúc Tề đến đất Chu, nhận được sự tiếp đãi nhiệt tình của Vũ Vương, Vũ Vương muốn lôi kéo họ gia nhập liên minh phạt Trụ, nhưng hai người đã khéo léo từ chối “li khai” 离开 (ra đi), chú ý – “li khai”, hoàn toàn không phải quyết liệt đến mức tuyệt thực. Nhưng trong Sử kí, lại là “Vũ Vương dĩ bình Ân loạn, thiên hạ tông Chu, nhi Bá Di Thúc Tề sỉ chi, nghĩa bất thực Chu túc” 武王已平殷乱, 天下宗周, 而伯夷叔齐耻之, 义不食周粟. (Vũ Vương dẹp xong loạn nhà Ân, thiên hạ theo về nhà Chu, Bá Di Thúc Tề cảm thấy xấu hổ về việc đó, để giữ nghĩa nên không ăn thóc nhà Chu)   đến núi Thú Dương nhịn đói mà chết.
              Chuyên trứ văn tự học cổ đại là Nhĩ nhã 尔雅có thích nghĩa:
    Túc, bổng lộc.
    , 俸禄
    (Túc là bổng lộc.)
    Lí Đức Dụ 李德裕 đời Đường khi viết Di Tề luận 夷齐论đã giải thuyết rõ ràng:
    Sở vị Chu túc giả, Chu Vương sở phú nhân chi bổng dã.
    所谓周粟者, 周王所赋人之俸也
    (Gọi là thóc nhà Chu đó là bổng lộc mà Chu Vương cấp cho người)
    Đối mặt với việc Chu Công ban thưởng hậu hĩ “gia phú nhị đẳng, tựu quan nhất liệt”, Bá Di Thúc Tề không chịu. “Sỉ thực Chu túc” 耻食周粟phải đặt trong tình huống này để lí giải, chính là nói, “túc” ở đây không phải chỉ thóc gạo, lương thực, mà là chỉ bổng lộc của quan viên; “thực” ở đây cũng không phải là “ăn” mà là hưởng dụng. Cho nên “sỉ thực Chu túc” ý là “xấu hổ hưởng dụng bổng lộc Chu Vương cấp cho”. Nhân vì Bá Di Thúc Tề vốn là con của quốc quân Cô Trúc, nếu hưởng dụng bổng lộc nhà Chu, thì có lỗi với nguyện ước ban đầu, xấu hổ với cố quốc, cho nên kiên quyết không nhận, phẩm tiết của họ quả thực thuần chính cao thượng.
              Hán tự có đặc điểm là một chữ có nhiều nghĩa, giữa các nét nghĩa với nhau có sự sai biệt lớn. Bá Di, Thúc Tề chỉ là không muốn làm quan nhà Chu để lãnh lương của “người làm công vụ”, chứ hoàn toàn không nói là không ăn cơm, huống hồ thời đại của triều Thương vẫn chưa xác lập lí niệm cương thường “Phổ thiên chi hạ, mạc phi vương thổ” 普天之下, 莫非王土(Khắp dưới gầm trời này, không nơi nào không phải lầ đất của vương), thiên hạ là của mọi người. Điều này có thể thấy từ bài dân ca thời cổ:
    Nhật xuất nhi tác,
    Nhật nhập nhi tức,
    Đế lực dữ ngã hà hữu tai!
    日出而作,
    日入而息,
    帝力与我何有哉!
    (Mặt trời mọc đi làm,
    Mặt trời lặn về nghỉ,
    Quyền lực đế vương có gì mà ta phải ham muốn.) (1)
    Nếu ta dùng tư duy của người thời nay, vọng văn sinh nghĩa, quả thực sẽ hại chết người ta.

    Chất nghi thứ 4
    Có đúng là chết đói trên núi?
              Hai vị đã “xấu hổ ăn thóc gạo của triều Chu”, thế thì hái rau vi ăn đi: tiếp đó lại xuất hiện một vị đại tẩu, nói rau rừng cũng là mọc trên đất nhà Chu thuộc Chu Vương. – Tư Mã Công à! Đây là tiết tấu đuổi tận giết sạch của ông! Thế thì cũng đành không ăn, thế là chịu “chết đói ở núi Thú Dương” rồi. Đây là logique trong Sử kí.
              Chúng tôi nhìn thấy không nhẫn được, hỏi đại tẩu một câu:
              - Bà đã nghiêm túc kính cẩn như thế, xin hỏi, khi bà hái rau rừng có phải nộp chút thuế cho vương triều Chu mới hưng khởi không?
              Nhà nghiên cứu văn hoá Tây Chu Nguỵ Hành 魏行 chỉ ra rằng: cũng như vậy, chuyện “chết đói ở núi Thú Dương” và những ghi chép trong các điển tịch khác tương đối khập khiễng. Thiên Quý thị 季氏trong Luận ngữ 论语 nhắc đến Bá Di, Thúc Tề sớm nhất có nói:
              Tề Cảnh Công hữu mã thiên tứ, tử chi nhật, dân vô đức nhi xưng yên. Bá Di Thúc Tề ngạ vu Thú Dương chi hạ, dân đáo vu kim xưng chi.
              齐景公有马千驷, 死之日, 民无德而称焉. 伯夷叔齐饿于首阳之下, 民到于今称之.
              (Tề Cảnh Công có cả ngàn cỗ xe tứ mã, lúc mất, dân không khen là có đức. Bá Di, Thúc Tề đói dưới núi Thú Dương, đến nay dân vẫn còn khen.)
    Chỉ cần nghiễn ngẫm đoạn văn này, có thể thấy ý của cụm “ngạ vu Thú Dương” 饿于首阳  hoàn toàn không phải là “ngạ tử” 饿死 (chết đói) mà là chỉ cuộc sống ẩn sĩ nghèo khổ khốn khó ở núi Thú Dương, nhằm để đối lập với cuộc sống hào hoa của Tề Cảnh Công. Trong Lã Thị Xuân Thu – Thành liêm 吕氏春秋 - 诚廉 cũng có nói “nhị nhân bắc hành, chí Thú Dương chi hạ nhi ngạ yên” 二人北行, 至首阳之下而饿焉 (hai người đi về phía bắc, đến dưới núi Thú Dương chịu đói), đều không đề cập chết đói. 
              Bá Di, Thúc Tề rốt cuộc có chết đói không? Cá nhân tôi cho rằng, Luận ngữLã Thị Xuân Thu thành sách tương đối sớm hơn Sử kí, hiển nhiên Luận ngữ càng tiếp cận với hiện thực; hơn nữa thông qua mấy điểm chất nghi ở trên, quả thực cũng tìm không ra lí do họ nhịn đói mà chết. Họ cần phải phiêu bạc, du lịch khắp nơi, sống một cuộc sống ẩn cư không tranh với thế tục. Phàm những nơi nào họ đi qua, người đời sau đều gọi đó là “Thú Dương sơn”. Thú Dương sơn đã biến thành một phù hiệu văn hoá, không chỗ nào không có; còn núi Thú Dương chân chính, trong Trang Tử - Tạp thiên – Nhượng vương 庄子 - 杂篇 - 让王 là phương vị mà chúng tôi đại để điểm ra:
    Bá Di, Thúc Tề chí vu Kì Dương ..... nhị tử bắc chí vu Thú Dương sơn.
    伯夷, 叔齐至于岐阳 ..... 二子北至于首阳山.
    (Bá Di, Thúc Tề đến Kì Dương ..... hai người đi về phía bắc đến núi Thú Dương)
              Núi Thú Dương – tại phía bắc Kì Dương 岐阳 (nay tại thôn Tây Ổ 西坞   trấn Kinh Đương 京当huyện Kì Sơn 岐山 có một ngọn núi Thú Dương).

    Chất nghi thứ 5
    “Thái vi ca” có phải là do Bá Di, Thúc Tề sáng tác?
    Đăng bỉ tây sơn hề, thái kì vi hĩ.
    Dĩ bạo dịch bạo hề, bất tri kì phi hĩ.
    Thần Nông, Ngu, Hạ hốt yên một hề, ngã an thích quy hĩ?
    Hu (2) ta tồ hề, mệnh chi suy hĩ.
    登彼西山兮, 采其薇矣.
    以暴易暴兮, 不知其非矣.
    神农虞夏忽焉没兮, 我安适归矣?
    (2) 嗟徂兮, 命之衰矣.
    Lên núi tây kia, hái rau vi
    Lấy bạo ngược thay bạo ngược, không biết rằng đó là sai.
    Thần Nông, Ngu, Hạ bỗng chốc đã đi mất, ta đi về đâu?
    Than ôi chắc đi xuống suối vàng, mệnh đã suy rồi.
              Bài Thái vi ca 采薇歌này xuất xứ từ trong Sử kí – Bá Di liệt truyện 史记伯夷列传, thuật lại tình cảm oán giận của hai người trong lúc thoi thóp với chút hơi tàn, tác giả là Bá Di, Thúc Tề.
    Nguỵ Hành 魏行chất nghi rằng: Thái vi ca rất nổi tiếng, được truyền tụng rất rộng, tôi lấy làm lạ, đó là Khổng Tử vô cùng tôn sùng Bá Di, Thúc Tề, tại sao không đưa bài tuyệt xướng này của họ vào Thi Kinh 诗经? Mà mãi đến mấy trăm năm sau, Sử kí mới lần đầu tiên công bố? Hơn nữa, trong bài ca bộc lộ khẩu khí oán hận, cũng không hợp với phẩm chất tính cách “bất niệm cựu ác, oán thị dụng hi” 不念旧恶, 怨是用希 (không nhớ đến thù cũ của người ta, vì thế oán hận của người ta đối với hai người cũng ít đi) mà Khổng Tử ca ngợi họ, chưa hẳn là tác phẩm do họ sáng tác.
              Đường Hướng Vinh 唐向荣thì lại từ hình thức ca từ đề xuất chất nghi. Dân ca phương bắc thời Xuân Thu, nhìn chung là câu 2 chữ, câu 3 chữ, câu 4 chữ, thủ pháp chất phác, cú thức ngắn gọn. Bá Di, Thúc Tề trước thời Xuân Thu cả ngàn năm, không thể làm ra ca từ câu dài, nhất xướng tam thán, uyển chuyển du dương như thế. Thứ nữa, dùng chữ “hề” làm từ ngữ khí là đặc trưng của dân ca vùng Ba Sở 巴楚 thời cổ, Khuất Nguyên đời sau dùng rất nhiều, nhưng khác với tập quán ngữ khí của dân ca phương bắc. Cho nên họ cho rằng, Thái vi ca là sau Bá Di và Thúc Tề rất lâu, từ phía nam trung châu hoặc người Ba Sở làm ra nguỵ thác Di Tề, không thể là tác phẩm mà người thời Di Tề hát. (Hết)

    Chú của người dịch
    1- Ba câu này trong bài Kích nhưỡng ca 击壤歌thời Tiên Tần. Toàn bài như sau:  
    Nhật xuất nhi tác,
    Nhật nhập nhi tức.
    Tạc tỉnh nhi ẩm,
    Canh điền nhi thực.
    Đế lực dữ ngã hà hữu tai!
    日出而作,
    日入而息.
    凿井而饮,
    耕田而食.
    帝力与我何有哉!
    (Mặt trời mọc đi làm,
    Mặt trời lặn về nghỉ.
    Đào giếng lấy nước mà uống,
    Cày ruộng lấy thóc mà ăn
    Sống ung dung tự tại như thế, quyền lực đế vương có gì mà phải ham muốn.)
    2- Trong nguyên tác, ở đây in nhầm là chữ (dữ).

                                                                     Huỳnh Chương Hưng
                                                                     Quy nhơn  13/9/2018

    Nguồn

    Dịch thuật: Bá Di, Thúc Tề chết đói ở núi Thú Dương. Đáng tin chăng (kì 2)

    Đăng lúc  19:21  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    BÁ DI, THÚC TỀ CHẾT ĐÓI Ở NÚI THÚ DƯƠNG
    ĐÁNG TIN CHĂNG
    (kì 2)

    Chất nghi thứ 3
    Lí giải như thế nào việc không ăn thóc nhà Chu?
              Đầu tiên thử nói lai lịch câu chuyện “bất thực Chu túc” 不食周粟  (không ăn thóc nhà Chu).
              Trong Hàn Phi Tử - Gian kiếp 韩非子 - 奸劫 có nói, sau khi Bá Di, Thúc Tề đến đất Chu, “Vũ Vương nhượng thiên hạ” 武王让天下 (Vũ Vương nhường cho thiên hạ), nhưng Bá Di, Thúc Tề không chịu. Trong Trang Tử - Nhượng vương 庄子 - 让王cũng có nói, Vũ Vương phái Chu Công tiếp đãi Bá Di và Thúc Tề - hai vị khách quý hiền đức từ xa đến, Chu Công tỏ ý muốn “gia phú nhị đẳng, tựu quan nhất liệt” 加富二等, 就官一列 (Ban bổng lộc 2 cấp, làm quan cao nhất đẳng.) Hai người nhìn nhau cười, nói với Chu Công một hồi, đại ý là: quan cao lộc nhiều không phải thứ mà họ truy cầu, lấy bạo lực thay bạo lực cũng không phải là cục diện mà họ muốn thấy, cho nên họ chuẩn bị ra đi, giữ thân trong sạch. Từ điển tịch của 2 thiên có thể nhìn thấy, Bá Di, Thúc Tề đến đất Chu, nhận được sự tiếp đãi nhiệt tình của Vũ Vương, Vũ Vương muốn lôi kéo họ gia nhập liên minh phạt Trụ, nhưng hai người đã khéo léo từ chối “li khai” 离开 (ra đi), chú ý – “li khai”, hoàn toàn không phải quyết liệt đến mức tuyệt thực. Nhưng trong Sử kí, lại là “Vũ Vương dĩ bình Ân loạn, thiên hạ tông Chu, nhi Bá Di Thúc Tề sỉ chi, nghĩa bất thực Chu túc” 武王已平殷乱, 天下宗周, 而伯夷叔齐耻之, 义不食周粟. (Vũ Vương dẹp xong loạn nhà Ân, thiên hạ theo về nhà Chu, Bá Di Thúc Tề cảm thấy xấu hổ về việc đó, để giữ nghĩa nên không ăn thóc nhà Chu)   đến núi Thú Dương nhịn đói mà chết.
              Chuyên trứ văn tự học cổ đại là Nhĩ nhã 尔雅có thích nghĩa:
    Túc, bổng lộc.
    , 俸禄
    (Túc là bổng lộc.)
    Lí Đức Dụ 李德裕 đời Đường khi viết Di Tề luận 夷齐论đã giải thuyết rõ ràng:
    Sở vị Chu túc giả, Chu Vương sở phú nhân chi bổng dã.
    所谓周粟者, 周王所赋人之俸也
    (Gọi là thóc nhà Chu đó là bổng lộc mà Chu Vương cấp cho người)
    Đối mặt với việc Chu Công ban thưởng hậu hĩ “gia phú nhị đẳng, tựu quan nhất liệt”, Bá Di Thúc Tề không chịu. “Sỉ thực Chu túc” 耻食周粟phải đặt trong tình huống này để lí giải, chính là nói, “túc” ở đây không phải chỉ thóc gạo, lương thực, mà là chỉ bổng lộc của quan viên; “thực” ở đây cũng không phải là “ăn” mà là hưởng dụng. Cho nên “sỉ thực Chu túc” ý là “xấu hổ hưởng dụng bổng lộc Chu Vương cấp cho”. Nhân vì Bá Di Thúc Tề vốn là con của quốc quân Cô Trúc, nếu hưởng dụng bổng lộc nhà Chu, thì có lỗi với nguyện ước ban đầu, xấu hổ với cố quốc, cho nên kiên quyết không nhận, phẩm tiết của họ quả thực thuần chính cao thượng.
              Hán tự có đặc điểm là một chữ có nhiều nghĩa, giữa các nét nghĩa với nhau có sự sai biệt lớn. Bá Di, Thúc Tề chỉ là không muốn làm quan nhà Chu để lãnh lương của “người làm công vụ”, chứ hoàn toàn không nói là không ăn cơm, huống hồ thời đại của triều Thương vẫn chưa xác lập lí niệm cương thường “Phổ thiên chi hạ, mạc phi vương thổ” 普天之下, 莫非王土(Khắp dưới gầm trời này, không nơi nào không phải lầ đất của vương), thiên hạ là của mọi người. Điều này có thể thấy từ bài dân ca thời cổ:
    Nhật xuất nhi tác,
    Nhật nhập nhi tức,
    Đế lực dữ ngã hà hữu tai!
    日出而作,
    日入而息,
    帝力与我何有哉!
    (Mặt trời mọc đi làm,
    Mặt trời lặn về nghỉ,
    Quyền lực đế vương có gì mà ta phải ham muốn.) (1)
    Nếu ta dùng tư duy của người thời nay, vọng văn sinh nghĩa, quả thực sẽ hại chết người ta.

    Chất nghi thứ 4
    Có đúng là chết đói trên núi?
              Hai vị đã “xấu hổ ăn thóc gạo của triều Chu”, thế thì hái rau vi ăn đi: tiếp đó lại xuất hiện một vị đại tẩu, nói rau rừng cũng là mọc trên đất nhà Chu thuộc Chu Vương. – Tư Mã Công à! Đây là tiết tấu đuổi tận giết sạch của ông! Thế thì cũng đành không ăn, thế là chịu “chết đói ở núi Thú Dương” rồi. Đây là logique trong Sử kí.
              Chúng tôi nhìn thấy không nhẫn được, hỏi đại tẩu một câu:
              - Bà đã nghiêm túc kính cẩn như thế, xin hỏi, khi bà hái rau rừng có phải nộp chút thuế cho vương triều Chu mới hưng khởi không?
              Nhà nghiên cứu văn hoá Tây Chu Nguỵ Hành 魏行 chỉ ra rằng: cũng như vậy, chuyện “chết đói ở núi Thú Dương” và những ghi chép trong các điển tịch khác tương đối khập khiễng. Thiên Quý thị 季氏trong Luận ngữ 论语 nhắc đến Bá Di, Thúc Tề sớm nhất có nói:
              Tề Cảnh Công hữu mã thiên tứ, tử chi nhật, dân vô đức nhi xưng yên. Bá Di Thúc Tề ngạ vu Thú Dương chi hạ, dân đáo vu kim xưng chi.
              齐景公有马千驷, 死之日, 民无德而称焉. 伯夷叔齐饿于首阳之下, 民到于今称之.
              (Tề Cảnh Công có cả ngàn cỗ xe tứ mã, lúc mất, dân không khen là có đức. Bá Di, Thúc Tề đói dưới núi Thú Dương, đến nay dân vẫn còn khen.)
    Chỉ cần nghiễn ngẫm đoạn văn này, có thể thấy ý của cụm “ngạ vu Thú Dương” 饿于首阳  hoàn toàn không phải là “ngạ tử” 饿死 (chết đói) mà là chỉ cuộc sống ẩn sĩ nghèo khổ khốn khó ở núi Thú Dương, nhằm để đối lập với cuộc sống hào hoa của Tề Cảnh Công. Trong Lã Thị Xuân Thu – Thành liêm 吕氏春秋 - 诚廉 cũng có nói “nhị nhân bắc hành, chí Thú Dương chi hạ nhi ngạ yên” 二人北行, 至首阳之下而饿焉 (hai người đi về phía bắc, đến dưới núi Thú Dương chịu đói), đều không đề cập chết đói. 
              Bá Di, Thúc Tề rốt cuộc có chết đói không? Cá nhân tôi cho rằng, Luận ngữLã Thị Xuân Thu thành sách tương đối sớm hơn Sử kí, hiển nhiên Luận ngữ càng tiếp cận với hiện thực; hơn nữa thông qua mấy điểm chất nghi ở trên, quả thực cũng tìm không ra lí do họ nhịn đói mà chết. Họ cần phải phiêu bạc, du lịch khắp nơi, sống một cuộc sống ẩn cư không tranh với thế tục. Phàm những nơi nào họ đi qua, người đời sau đều gọi đó là “Thú Dương sơn”. Thú Dương sơn đã biến thành một phù hiệu văn hoá, không chỗ nào không có; còn núi Thú Dương chân chính, trong Trang Tử - Tạp thiên – Nhượng vương 庄子 - 杂篇 - 让王 là phương vị mà chúng tôi đại để điểm ra:
    Bá Di, Thúc Tề chí vu Kì Dương ..... nhị tử bắc chí vu Thú Dương sơn.
    伯夷, 叔齐至于岐阳 ..... 二子北至于首阳山.
    (Bá Di, Thúc Tề đến Kì Dương ..... hai người đi về phía bắc đến núi Thú Dương)
              Núi Thú Dương – tại phía bắc Kì Dương 岐阳 (nay tại thôn Tây Ổ 西坞   trấn Kinh Đương 京当huyện Kì Sơn 岐山 có một ngọn núi Thú Dương).

    Chất nghi thứ 5
    “Thái vi ca” có phải là do Bá Di, Thúc Tề sáng tác?
    Đăng bỉ tây sơn hề, thái kì vi hĩ.
    Dĩ bạo dịch bạo hề, bất tri kì phi hĩ.
    Thần Nông, Ngu, Hạ hốt yên một hề, ngã an thích quy hĩ?
    Hu (2) ta tồ hề, mệnh chi suy hĩ.
    登彼西山兮, 采其薇矣.
    以暴易暴兮, 不知其非矣.
    神农虞夏忽焉没兮, 我安适归矣?
    (2) 嗟徂兮, 命之衰矣.
    Lên núi tây kia, hái rau vi
    Lấy bạo ngược thay bạo ngược, không biết rằng đó là sai.
    Thần Nông, Ngu, Hạ bỗng chốc đã đi mất, ta đi về đâu?
    Than ôi chắc đi xuống suối vàng, mệnh đã suy rồi.
              Bài Thái vi ca 采薇歌này xuất xứ từ trong Sử kí – Bá Di liệt truyện 史记伯夷列传, thuật lại tình cảm oán giận của hai người trong lúc thoi thóp với chút hơi tàn, tác giả là Bá Di, Thúc Tề.
    Nguỵ Hành 魏行chất nghi rằng: Thái vi ca rất nổi tiếng, được truyền tụng rất rộng, tôi lấy làm lạ, đó là Khổng Tử vô cùng tôn sùng Bá Di, Thúc Tề, tại sao không đưa bài tuyệt xướng này của họ vào Thi Kinh 诗经? Mà mãi đến mấy trăm năm sau, Sử kí mới lần đầu tiên công bố? Hơn nữa, trong bài ca bộc lộ khẩu khí oán hận, cũng không hợp với phẩm chất tính cách “bất niệm cựu ác, oán thị dụng hi” 不念旧恶, 怨是用希 (không nhớ đến thù cũ của người ta, vì thế oán hận của người ta đối với hai người cũng ít đi) mà Khổng Tử ca ngợi họ, chưa hẳn là tác phẩm do họ sáng tác.
              Đường Hướng Vinh 唐向荣thì lại từ hình thức ca từ đề xuất chất nghi. Dân ca phương bắc thời Xuân Thu, nhìn chung là câu 2 chữ, câu 3 chữ, câu 4 chữ, thủ pháp chất phác, cú thức ngắn gọn. Bá Di, Thúc Tề trước thời Xuân Thu cả ngàn năm, không thể làm ra ca từ câu dài, nhất xướng tam thán, uyển chuyển du dương như thế. Thứ nữa, dùng chữ “hề” làm từ ngữ khí là đặc trưng của dân ca vùng Ba Sở 巴楚 thời cổ, Khuất Nguyên đời sau dùng rất nhiều, nhưng khác với tập quán ngữ khí của dân ca phương bắc. Cho nên họ cho rằng, Thái vi ca là sau Bá Di và Thúc Tề rất lâu, từ phía nam trung châu hoặc người Ba Sở làm ra nguỵ thác Di Tề, không thể là tác phẩm mà người thời Di Tề hát. (Hết)

    Chú của người dịch
    1- Ba câu này trong bài Kích nhưỡng ca 击壤歌thời Tiên Tần. Toàn bài như sau:  
    Nhật xuất nhi tác,
    Nhật nhập nhi tức.
    Tạc tỉnh nhi ẩm,
    Canh điền nhi thực.
    Đế lực dữ ngã hà hữu tai!
    日出而作,
    日入而息.
    凿井而饮,
    耕田而食.
    帝力与我何有哉!
    (Mặt trời mọc đi làm,
    Mặt trời lặn về nghỉ.
    Đào giếng lấy nước mà uống,
    Cày ruộng lấy thóc mà ăn
    Sống ung dung tự tại như thế, quyền lực đế vương có gì mà phải ham muốn.)
    2- Trong nguyên tác, ở đây in nhầm là chữ (dữ).

                                                                     Huỳnh Chương Hưng
                                                                     Quy nhơn  13/9/2018

    Nguồn

    Mã nguồn bởi Huỳnh Chương Hưng
    Copyright © 2012 Huỳnh Chương Hưng.
    back to top