• Thứ Bảy, 25 tháng 1, 2020


    五福捧寿
        寿字写成圆形篆书, 周围五只蝙蝠排列图
        同音, 同声, 五福, 一指长命, 二指富贵, 三指健康, 四指道德, 五指平和的寿终. 五福之首为寿”, 因此寿字与五福之图即是福寿双全. 蝙蝠与, 其意即为福寿万代”.

    NGŨ PHÚC PHỦNG THỌ
              “Thọ” tự tả thành viên hình triện thư, chu vi ngũ chích biên bức bài liệt đố.
              “Bức” dữ “phúc” đồng âm, đồng thanh, ngũ phúc, nhất chỉ trường mệnh, nhị chỉ phú quý, tam chỉ kiện khang, tứ chỉ đạo đức, ngũ chỉ bình hoà đích thiện chung. “Ngũ phúc chi thủ vi thọ”, nhân thử, “thọ” tự dữ ngũ phúc chi đồ tức thị phúc thọ song toàn. Biên bức dữ “” tự, kì ý tức vi “phúc thọ vạn đại”.

    NGŨ PHÚC PHỦNG THỌ
              Bức tranh chữ “thọ” viết theo kiểu chữ triện hình tròn, chung quanh xếp 5 con dơi.
              Chữ “bức” và chữ “phúc” đồng âm, đồng thanh. Ngũ phúc, một là chỉ trường thọ, hai là chỉ phú quý, ba là chỉ mạnh khoẻ, bốn là chỉ đạo đức, năm là chỉ lúc qua đời được bình hoà. “Đứng đầu ngũ phúc là thọ”, nhân đó, bức tranh chữ “thọ” cùng với ngũ phúc tức là “phúc thọ song toàn”. Con dơi và chữ “” mang ý nghĩa là “phúc thọ vạn đại” (phúc thọ muôn đời).

    Chú của người dịch
              Chữ “bức” (biên bức 蝙蝠 con dơi) bính âm là .
              Chữ “phúc” bính âm là .  

                                                                                   Huỳnh Chương Hưng
                                                                                   Quy Nhơn 25/01/2020
                                                                                     Mùng 1 tết Canh Tí

    Nguồn
    TRUNG HOA DÂN TỤC CÁT TƯỜNG ĐỒ
    中华民俗吉祥图
    Tác giả: Hứa Đạo Phong 许道丰
    Năm xuất bản theo bản dịch tiếng Việt của Lưu Thuỷ, 2004

    Dịch thuật: Ngũ phúc phủng thọ (Cát tường)

    Đăng lúc  20:08  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »


    五福捧寿
        寿字写成圆形篆书, 周围五只蝙蝠排列图
        同音, 同声, 五福, 一指长命, 二指富贵, 三指健康, 四指道德, 五指平和的寿终. 五福之首为寿”, 因此寿字与五福之图即是福寿双全. 蝙蝠与, 其意即为福寿万代”.

    NGŨ PHÚC PHỦNG THỌ
              “Thọ” tự tả thành viên hình triện thư, chu vi ngũ chích biên bức bài liệt đố.
              “Bức” dữ “phúc” đồng âm, đồng thanh, ngũ phúc, nhất chỉ trường mệnh, nhị chỉ phú quý, tam chỉ kiện khang, tứ chỉ đạo đức, ngũ chỉ bình hoà đích thiện chung. “Ngũ phúc chi thủ vi thọ”, nhân thử, “thọ” tự dữ ngũ phúc chi đồ tức thị phúc thọ song toàn. Biên bức dữ “” tự, kì ý tức vi “phúc thọ vạn đại”.

    NGŨ PHÚC PHỦNG THỌ
              Bức tranh chữ “thọ” viết theo kiểu chữ triện hình tròn, chung quanh xếp 5 con dơi.
              Chữ “bức” và chữ “phúc” đồng âm, đồng thanh. Ngũ phúc, một là chỉ trường thọ, hai là chỉ phú quý, ba là chỉ mạnh khoẻ, bốn là chỉ đạo đức, năm là chỉ lúc qua đời được bình hoà. “Đứng đầu ngũ phúc là thọ”, nhân đó, bức tranh chữ “thọ” cùng với ngũ phúc tức là “phúc thọ song toàn”. Con dơi và chữ “” mang ý nghĩa là “phúc thọ vạn đại” (phúc thọ muôn đời).

    Chú của người dịch
              Chữ “bức” (biên bức 蝙蝠 con dơi) bính âm là .
              Chữ “phúc” bính âm là .  

                                                                                   Huỳnh Chương Hưng
                                                                                   Quy Nhơn 25/01/2020
                                                                                     Mùng 1 tết Canh Tí

    Nguồn
    TRUNG HOA DÂN TỤC CÁT TƯỜNG ĐỒ
    中华民俗吉祥图
    Tác giả: Hứa Đạo Phong 许道丰
    Năm xuất bản theo bản dịch tiếng Việt của Lưu Thuỷ, 2004

    Thứ Sáu, 24 tháng 1, 2020


    TRỪ TỊCH

    Tết truyền thống của Trung Quốc
              “Trừ tịch” 除夕 là đêm của ngày cuối cùng trong năm. Ngày cuối cùng của năm gọi là “tuế trừ” 岁除, ý nghĩa là năm cũ đến đây là “trừ” , đổi sang năm mới. “Trừ” , tức trừ bỏ; “tịch” chỉ ban đêm. “Trừ tịch” ý nghĩa là đêm “tuế trừ” 岁除, cũng gọi là “đại niên dạ” 大年夜, “trừ tịch dạ” 除夕夜, “trừ dạ” 除夜v.v... là đêm cuối cùng của năm. Trừ tịch là “trừ cựu bố tân” 除旧布新, “hợp gia đoàn viên” 阖家团圆, “tế tự tổ tiên” 祭祀祖先, ngày này cùng với Thanh minh tiết 清明节, Thất nguyệt tiết 七月节, Trùng dương tiết 重阳节 là đại tiết tế tổ truyền thống trong dân gian Trung Quốc. Trừ tịch, có ý nghĩa đặc biệt đối với người Trung Quốc, đây là ngày trọng đại nhất vào lúc cuối năm, con cái làm ăn xa phải về nhà tụ họp cùng gia đình, từ biệt năm cũ trong tiếng pháo, và đón mừng xuân mới.
              Trừ tịch cùng tân niên, cuối năm đầu năm nối liền nhau, là giao giới điểm thời gian quan trọng “trừ cựu nghinh tân”. Nhân vì trừ tịch là vào ngày 29 hoặc 30 âm lịch, cho nên gọi ngày đó là “đại niên tam thập” 大年三十. Dân gian rất coi trọng ngày tuế trừ, nhà nhà đều lo quét dọn, bỏ cái cũ bày cái mới, treo đèn kết hoa, đón tổ tiên về ăn tết, đồng thời dâng cũng “niên cao” 年糕 (bánh tổ - ND), “tam sinh” 三牲 (gồm trâu, dê, heo dùng trong tế tự - ND), “tam trà ngũ tửu” 三茶五酒 (trà 3 chung, rượu 5 chung – ND).
              Trừ tịch từ cổ đã có tập tục tế tổ, đón giao thừa, ăn cơm đoàn viên, dán giấy đỏ, treo đèn lồng v.v... lưu truyền mãi đến ngày nay.

    Tập tục ngày trừ tịch
    Tế tổ
              Thời cổ, lễ tục này rất thịnh. Nhân vì lễ tục các nơi khác nhau, nên hình thức tế tổ cũng có khác. Có nơi đến mộ tổ ngoài đồng tế bái, có nơi đến từ đường tế bái, nhưng đa phần tại nhà đưa bài vị tổ tiên lần lượt đặt nơi chính sảnh, bày tế phẩm, sau đó lần lượt theo thứ tự lớn nhỏ dâng hương quỳ bái. Người xưa tế tổ, đa số dâng cá, thịt, rau, đựng trong những chiếc bát có chân cao, mang ý nghĩa “chung minh đỉnh thực” 钟鸣鼎食. Người phương nam tế tổ càng long trọng, thường có 8 bát, ở giữa đặt nồi lẩu, theo linh vị mà bày chén đũa, lúc trừ tịch, nguyên đán, nguyên dạ đều mở nắp nồi, tuỳ thời mà thay đổi món ăn. Trừ tịch dạ và Nguyên đán nấu món chay, đêm Thượng nguyên dâng nguyên tiêu (một loại bánh giống bánh trôi nước – ND), hàng ngày sớm tối thắp hương khấu bái, dâng trà mới. Hình thức tế tổ tuy khác nhau, nhưng nhìn chung đêm trừ tịch treo ảnh, đêm Thượng nguyên triệt cúng, bạn bè thân hữu đến chúc tết cũng phải khấu bái tổ tiên, hết sức thành kính, nhân vì mĩ đức kính tổ tiên của mọi người mà tập tục được bảo tồn.
              Một số nơi ở Trung Quốc có tập tục trừ tịch tại phần mồ, xưng là “tống niên thực” 送年食. Thời gian ra mộ nhìn chung là lúc trưa ngày tuế trừ, mọi người làm cơm tất niên đem đến phần mộ, để thân nhân đã mất được hưởng dụng món ngon như lúc còn sống, qua đó kí thác nỗi nhớ thương của người sống đối với người đã mất.

    Trừ tịch thủ tuế
              Trừ tịch “thủ tuế” 守岁 (đón giao thừa) là một trong những hoạt động niên tục. Tập tục thủ tuế có từ rất lâu. Dân tục thủ tuế chủ yếu biểu hiện ở chỗ trong nhà đốt “tuế hoả” 岁火, gia đình quây quần đồng thời canh “tuế hoả” không để cho tắt, đợi thời khắc tống cựu nghinh tân, đón năm mới đến. Đêm trừ tịch đèn lửa sáng suốt đêm không tắt, gọi là “nhiên đăng chiếu tuế” 燃灯照岁 hoặc “điểm tuế hoả” 点岁火,  trong phòng thắp sáng đèn, lại còn thắp đèn đặt ở dưới giường, nhìn chung đèn đuốc thắp sáng khắp nơi, gọi là “chiếu hư hao” 照虚耗, theo truyền thuyết, sau khi thắp sáng như thế, sang năm mới trong nhà sẽ dồi dào tài phú. Thời cổ, phong tục nam bắc khác nhau, tập tục thủ tuế ở phương bắc chủ yếu là “ngao niên dạ” 熬年夜 (thức suốt đêm). Như Chu Xứ 周处triều Tấn trong Phong thổ kí 风土记 có nói: Đêm trừ tịch mọi người tặng quà lẫn nhau, gọi là “quỹ tuế” 馈岁; lớn nhỏ vui vẻ tụ họp, chúc tụng, gọi là “phân tuế” 分岁; suốt đêm không ngủ đợi sáng sớm hôm sau, gọi là “thủ tuế” 守岁. Có nơi vào đêm trừ tịch, cả nhà đoàn tụ, ăn bữa cơm đoàn viên, thắp nến hoặc đèn dầu, ngồi quanh bên bếp lò trò chuyện, suốt đêm không ngủ, tượng trưng cho việc xua đuổi ổn dịch tà ma, đón đợi một năm mới cát tường như ý.

    Áp tuế tiền
              Áp tuế tiền 压岁钱 (tiền mừng tuổi) là một trong những tập tục khi tết đến. Sau bữa cơm chiều, bậc trưởng bối đem tiền mừng tuổi đã chuẩn bị sẵn tặng cho con cháu. Theo truyền thuyết, áp tuế tiền có thể trừ đuổi tà ma, con cháu có tiền sẽ được một năm mới bình an. Trong văn hoá dân tục, áp tuế tiền ngụ ý tị tà đuổi quỷ, bảo hộ bình an. Dụng ý lúc ban đầu của áp tuế tiền là trấn ác khu tà. Nhân vì mọi người cho rằng trẻ em dễ bị ma quỷ xâm hại, cho nên dùng nó để xua đuổi ma quỷ. Trong lịch sử, áp tuế tiền phân làm nhiều loại, nhìn chung lúc đếm ngược thời gian năm mới sắp đến, bậc trưởng bối tặng cho con cháu, biểu thị “áp tuý” 压祟 (đuổi quỷ), bao hàm sự quan tâm và chúc phúc của bậc trưởng bối đối với con cháu, một loại khác là con cháu tặng cho bậc trưởng bối, chữ “tuế” (tuổi) trong “áp tuế tiền” 压岁钱 mang ý nghĩa cầu mong bậc trưởng bối trường thọ. Có thể truy ngược áp tuế tiền, vào thời Hán gọi là “áp thắng tiền” 压胜钱, nó không phải là loại tiền lưu thông nơi chợ, mà là loại tiền đúc để thưởng ngoạn, có công năng tị tà.
              Ngày tết tặng áp tuế tiền, thể hiện sự quan tâm yêu mến của bậc trưởng bối đối với con cháu, và thể hiện sự tôn kính của con cháu đối với bậc trưởng bối, là một hoạt động dân tục liên quan đến luân lí gia đình.

                                                                        Huỳnh Chương Hưng
                                                                        Quy Nhơn 24/01/2020
                                                             (Ngày 30 tháng Chạp năm Kỉ Hợi)

    Nguồn


    Dịch thuật: Trừ tịch

    Đăng lúc  20:39  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »


    TRỪ TỊCH

    Tết truyền thống của Trung Quốc
              “Trừ tịch” 除夕 là đêm của ngày cuối cùng trong năm. Ngày cuối cùng của năm gọi là “tuế trừ” 岁除, ý nghĩa là năm cũ đến đây là “trừ” , đổi sang năm mới. “Trừ” , tức trừ bỏ; “tịch” chỉ ban đêm. “Trừ tịch” ý nghĩa là đêm “tuế trừ” 岁除, cũng gọi là “đại niên dạ” 大年夜, “trừ tịch dạ” 除夕夜, “trừ dạ” 除夜v.v... là đêm cuối cùng của năm. Trừ tịch là “trừ cựu bố tân” 除旧布新, “hợp gia đoàn viên” 阖家团圆, “tế tự tổ tiên” 祭祀祖先, ngày này cùng với Thanh minh tiết 清明节, Thất nguyệt tiết 七月节, Trùng dương tiết 重阳节 là đại tiết tế tổ truyền thống trong dân gian Trung Quốc. Trừ tịch, có ý nghĩa đặc biệt đối với người Trung Quốc, đây là ngày trọng đại nhất vào lúc cuối năm, con cái làm ăn xa phải về nhà tụ họp cùng gia đình, từ biệt năm cũ trong tiếng pháo, và đón mừng xuân mới.
              Trừ tịch cùng tân niên, cuối năm đầu năm nối liền nhau, là giao giới điểm thời gian quan trọng “trừ cựu nghinh tân”. Nhân vì trừ tịch là vào ngày 29 hoặc 30 âm lịch, cho nên gọi ngày đó là “đại niên tam thập” 大年三十. Dân gian rất coi trọng ngày tuế trừ, nhà nhà đều lo quét dọn, bỏ cái cũ bày cái mới, treo đèn kết hoa, đón tổ tiên về ăn tết, đồng thời dâng cũng “niên cao” 年糕 (bánh tổ - ND), “tam sinh” 三牲 (gồm trâu, dê, heo dùng trong tế tự - ND), “tam trà ngũ tửu” 三茶五酒 (trà 3 chung, rượu 5 chung – ND).
              Trừ tịch từ cổ đã có tập tục tế tổ, đón giao thừa, ăn cơm đoàn viên, dán giấy đỏ, treo đèn lồng v.v... lưu truyền mãi đến ngày nay.

    Tập tục ngày trừ tịch
    Tế tổ
              Thời cổ, lễ tục này rất thịnh. Nhân vì lễ tục các nơi khác nhau, nên hình thức tế tổ cũng có khác. Có nơi đến mộ tổ ngoài đồng tế bái, có nơi đến từ đường tế bái, nhưng đa phần tại nhà đưa bài vị tổ tiên lần lượt đặt nơi chính sảnh, bày tế phẩm, sau đó lần lượt theo thứ tự lớn nhỏ dâng hương quỳ bái. Người xưa tế tổ, đa số dâng cá, thịt, rau, đựng trong những chiếc bát có chân cao, mang ý nghĩa “chung minh đỉnh thực” 钟鸣鼎食. Người phương nam tế tổ càng long trọng, thường có 8 bát, ở giữa đặt nồi lẩu, theo linh vị mà bày chén đũa, lúc trừ tịch, nguyên đán, nguyên dạ đều mở nắp nồi, tuỳ thời mà thay đổi món ăn. Trừ tịch dạ và Nguyên đán nấu món chay, đêm Thượng nguyên dâng nguyên tiêu (một loại bánh giống bánh trôi nước – ND), hàng ngày sớm tối thắp hương khấu bái, dâng trà mới. Hình thức tế tổ tuy khác nhau, nhưng nhìn chung đêm trừ tịch treo ảnh, đêm Thượng nguyên triệt cúng, bạn bè thân hữu đến chúc tết cũng phải khấu bái tổ tiên, hết sức thành kính, nhân vì mĩ đức kính tổ tiên của mọi người mà tập tục được bảo tồn.
              Một số nơi ở Trung Quốc có tập tục trừ tịch tại phần mồ, xưng là “tống niên thực” 送年食. Thời gian ra mộ nhìn chung là lúc trưa ngày tuế trừ, mọi người làm cơm tất niên đem đến phần mộ, để thân nhân đã mất được hưởng dụng món ngon như lúc còn sống, qua đó kí thác nỗi nhớ thương của người sống đối với người đã mất.

    Trừ tịch thủ tuế
              Trừ tịch “thủ tuế” 守岁 (đón giao thừa) là một trong những hoạt động niên tục. Tập tục thủ tuế có từ rất lâu. Dân tục thủ tuế chủ yếu biểu hiện ở chỗ trong nhà đốt “tuế hoả” 岁火, gia đình quây quần đồng thời canh “tuế hoả” không để cho tắt, đợi thời khắc tống cựu nghinh tân, đón năm mới đến. Đêm trừ tịch đèn lửa sáng suốt đêm không tắt, gọi là “nhiên đăng chiếu tuế” 燃灯照岁 hoặc “điểm tuế hoả” 点岁火,  trong phòng thắp sáng đèn, lại còn thắp đèn đặt ở dưới giường, nhìn chung đèn đuốc thắp sáng khắp nơi, gọi là “chiếu hư hao” 照虚耗, theo truyền thuyết, sau khi thắp sáng như thế, sang năm mới trong nhà sẽ dồi dào tài phú. Thời cổ, phong tục nam bắc khác nhau, tập tục thủ tuế ở phương bắc chủ yếu là “ngao niên dạ” 熬年夜 (thức suốt đêm). Như Chu Xứ 周处triều Tấn trong Phong thổ kí 风土记 có nói: Đêm trừ tịch mọi người tặng quà lẫn nhau, gọi là “quỹ tuế” 馈岁; lớn nhỏ vui vẻ tụ họp, chúc tụng, gọi là “phân tuế” 分岁; suốt đêm không ngủ đợi sáng sớm hôm sau, gọi là “thủ tuế” 守岁. Có nơi vào đêm trừ tịch, cả nhà đoàn tụ, ăn bữa cơm đoàn viên, thắp nến hoặc đèn dầu, ngồi quanh bên bếp lò trò chuyện, suốt đêm không ngủ, tượng trưng cho việc xua đuổi ổn dịch tà ma, đón đợi một năm mới cát tường như ý.

    Áp tuế tiền
              Áp tuế tiền 压岁钱 (tiền mừng tuổi) là một trong những tập tục khi tết đến. Sau bữa cơm chiều, bậc trưởng bối đem tiền mừng tuổi đã chuẩn bị sẵn tặng cho con cháu. Theo truyền thuyết, áp tuế tiền có thể trừ đuổi tà ma, con cháu có tiền sẽ được một năm mới bình an. Trong văn hoá dân tục, áp tuế tiền ngụ ý tị tà đuổi quỷ, bảo hộ bình an. Dụng ý lúc ban đầu của áp tuế tiền là trấn ác khu tà. Nhân vì mọi người cho rằng trẻ em dễ bị ma quỷ xâm hại, cho nên dùng nó để xua đuổi ma quỷ. Trong lịch sử, áp tuế tiền phân làm nhiều loại, nhìn chung lúc đếm ngược thời gian năm mới sắp đến, bậc trưởng bối tặng cho con cháu, biểu thị “áp tuý” 压祟 (đuổi quỷ), bao hàm sự quan tâm và chúc phúc của bậc trưởng bối đối với con cháu, một loại khác là con cháu tặng cho bậc trưởng bối, chữ “tuế” (tuổi) trong “áp tuế tiền” 压岁钱 mang ý nghĩa cầu mong bậc trưởng bối trường thọ. Có thể truy ngược áp tuế tiền, vào thời Hán gọi là “áp thắng tiền” 压胜钱, nó không phải là loại tiền lưu thông nơi chợ, mà là loại tiền đúc để thưởng ngoạn, có công năng tị tà.
              Ngày tết tặng áp tuế tiền, thể hiện sự quan tâm yêu mến của bậc trưởng bối đối với con cháu, và thể hiện sự tôn kính của con cháu đối với bậc trưởng bối, là một hoạt động dân tục liên quan đến luân lí gia đình.

                                                                        Huỳnh Chương Hưng
                                                                        Quy Nhơn 24/01/2020
                                                             (Ngày 30 tháng Chạp năm Kỉ Hợi)

    Nguồn



    SEN VÀNG LỮNG THỮNG NHƯ GẦN NHƯ XA (190)
              “Sen vàng” ví bước chân người đẹp.
              Tiêu Bảo Quyển  萧宝卷 (483 – 501), tự Trí Tạng 智藏, người Lan Lăng 兰陵 Đông Hải 东海(nay là thành phố Lâm Nghi 临沂 Sơn Đông 山东, vị hoàng đế thứ 6 của Nam triều Tề, con thứ 2 của Tề Minh Đế Tiêu Loan 萧鸾. Niên hiệu Vĩnh Nguyên 永元 nguyên niên (498) ông lên ngôi hoàng đế, nhưng không lo việc triều chính, lại xa xỉ dâm dật, nhậm dụng gian nịnh, lạm sát cố mệnh đại thần, gây mâu thuẫn nội bộ, dẫn đến sự phản loạn của Tiêu Diêu Quang 萧遥光, Trần Hiển Đạt 陈显达 và Thôi Tuệ Cảnh 崔慧景, lại thêm Bùi Thúc Nghiệp 裴叔业hàng Nguỵ, mất đi Nam Dự Châu 南豫州.
    Năm Vĩnh Nguyên thứ 3 (501), Thứ sử Ung Châu 雍州là Tiêu Diễn 萧衍khởi binh ở Tương Dương 襄阳, dẫn binh công phá Kiến Khang 建康, Tiêu Bảo Quyển bị hoạn quan sát hại, lúc bấy giờ chỉ mới 19 tuổi, bị biếm làm Đông Hôn Hầu 东昏侯, thuỵ hiệu là “Dượng”
              Tiêu Bảo Quyển cực kì xa xỉ. Hậu cung bị cháy liền cho xây mới 3 toà cung điện nguy nga là Tiên Hoa 仙华, Thần Tiên 神仙, Ngọc Thọ 玉寿, mỗi điện đều trang sức vàng ngọc. Ông còn sai thợ lấy vàng đúc thành những đoá sen đặt trên mặt đất, bảo sủng phi là Phan thị 潘氏bước đi trên đó, gọi là “bộ bộ sinh liên hoa” 步步生莲花.
    Trong Nam sử - Tề kỉ hạ - Phế đế Đông Hôn Hầu 南史 - 齐纪下 - 废帝东昏侯ghi rằng:
             (Đông Hôn Hầu) hựu tạc kim vi liên hoa (hoa) dĩ thiếp địa, lệnh Phan phi hành kì thượng, viết: “Thử bộ bộ sinh liên hoa (hoa) dã”.
              (东昏侯) 又凿金为莲华 () 以贴地, 令潘妃行其上, : 此步步生莲华 () .
              (Đông Hôn Hầu) lại cho lấy vàng đúc thành đoá sen đặt trên mặt đất, bảo Phan phi bước đi trên đó, nói rằng: “Ấy là từng bước từng bước sinh ra hoa sen”.

    Sương in mặt, tuyết pha thân
    Sen vàng lững thững như gần như xa
    (“Truyện Kiều” 189 –  190)
    Thì trân thức thức sẵn bày
    Gót sen thoăn thoắt dạo ngay mé tường
    (“Truyện Kiều” 377 –  378)
    Tiếng sen sẽ động giấc hoè
    Bóng trăng đã xế, hoa lê lại gần
    (“Truyện Kiều” 437 – 438)
    Giác Duyên lên tiếng gọi nàng
    Buồng trong, vội dạo sen vàng bước ra
    (“Truyện Kiều” 3007 –  3008)
    Sen vàng: tức là bước chân người đẹp. Theo điển Hậu chúa nhà Trần thời Ngũ Đại yêu Phan phi, đúc hoa sen vàng lát xuống đất, bảo đi rồi cười nói rằng: “Mỗi bước chân sinh ra hoa sen”.
    Tiếng sen: Chỉ tiếng bước chân của người đẹp.
    (Đào Duy Anh: “Từ điển Truyện Kiều”, nxb Khoa học xã hội, Hà Nội – 1989)
    Trong “Kim Vân Kiều” (Đoạn trường tân thanh) do Bùi Khánh Diễn chú thích, câu 190 là:
    NHẠC VÀNG LẢNG SẢNG như gần như xa
    Chú rằng:
              Nhạc uyển: Vũ điều hữu thác chi khúc dụng nhị đồng nữ tiên y mão, mão thi kim linh dao chuyển hữu thanh.
              樂苑: 羽調有柘枝曲用二童女鮮衣帽帽施金鈴搖轉有聲
              (Thiên Nhạc uyển: điệu tiếng vũ có khúc Thác Chi, lấy hai đứa con gái nhỏ mặc áo mũ mới, trên mũ đeo nhạc vàng, cử động có tiếng lảng sảng)
    (Sài Gòn: nxb Sống Mới, 1960) 

    Xét: Điển “sen vàng, gót sen, tiếng sen”, xuất xứ từ chuyện giữa Đông Hôn Hầu với Phan phi. Phế Đế Đông Hôn Hầu ở triều Tề thời Nam Bắc Triều, không phải Hậu chúa nhà Trần thời Ngũ Đại.
              Thời Nam Triều (420 – 479) gồm các triều: Tống, Tề, Lương, Trần.
              Thời Ngũ Đại (907 – 960) gồm các triều: Hậu Lương, Hậu Đường, Hậu Tấn, Hậu Hán, Hậu Chu.
    Đông Hôn Hầu Tiêu Bảo Quyển vị hoàng đế thứ 6 của Nam triều Tề cực kì xa xỉ, dâm dật.
              Bản “Kim Vân Kiều” (Đoạn trường tân thanh) do Bùi Khánh Diễn chú thích, câu 378 là:
    Gót sen thoăn thoắt dạo ngay MÁI tường
    Câu 437:
    Tiếng LÊN sẽ động giấc hoè
    Câu 3008:
    Buồng trong, NÀNG ĐÃ VỘI VÀNG bước ra
    Theo “Tư liệu Truyện Kiều  - Bản Duy Minh Thị 1872” do GS Nguyễn Tài Cẩn phiên Nôm, câu 190 này là:
    Sen vàng LÃNG ĐÃNG như gần như xa
    Câu 378:
    Gót sen THOẮT thoắt dạo ngay mé tường
    Câu 438:
    Bóng trăng đã TRỞ  hoa lê lại gần
    Câu 3008:
    PHÒNG trong vội KHIẾN sen vàng bước ra
                                                         (Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2002)

                                             Huỳnh Chương Hưng
                                             Quy Nhơn 24/01/2020


    Dịch thuật: Sen vàng lững thững như gần như xa (190) ("Truyện Kiều")

    Đăng lúc  11:18  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »


    SEN VÀNG LỮNG THỮNG NHƯ GẦN NHƯ XA (190)
              “Sen vàng” ví bước chân người đẹp.
              Tiêu Bảo Quyển  萧宝卷 (483 – 501), tự Trí Tạng 智藏, người Lan Lăng 兰陵 Đông Hải 东海(nay là thành phố Lâm Nghi 临沂 Sơn Đông 山东, vị hoàng đế thứ 6 của Nam triều Tề, con thứ 2 của Tề Minh Đế Tiêu Loan 萧鸾. Niên hiệu Vĩnh Nguyên 永元 nguyên niên (498) ông lên ngôi hoàng đế, nhưng không lo việc triều chính, lại xa xỉ dâm dật, nhậm dụng gian nịnh, lạm sát cố mệnh đại thần, gây mâu thuẫn nội bộ, dẫn đến sự phản loạn của Tiêu Diêu Quang 萧遥光, Trần Hiển Đạt 陈显达 và Thôi Tuệ Cảnh 崔慧景, lại thêm Bùi Thúc Nghiệp 裴叔业hàng Nguỵ, mất đi Nam Dự Châu 南豫州.
    Năm Vĩnh Nguyên thứ 3 (501), Thứ sử Ung Châu 雍州là Tiêu Diễn 萧衍khởi binh ở Tương Dương 襄阳, dẫn binh công phá Kiến Khang 建康, Tiêu Bảo Quyển bị hoạn quan sát hại, lúc bấy giờ chỉ mới 19 tuổi, bị biếm làm Đông Hôn Hầu 东昏侯, thuỵ hiệu là “Dượng”
              Tiêu Bảo Quyển cực kì xa xỉ. Hậu cung bị cháy liền cho xây mới 3 toà cung điện nguy nga là Tiên Hoa 仙华, Thần Tiên 神仙, Ngọc Thọ 玉寿, mỗi điện đều trang sức vàng ngọc. Ông còn sai thợ lấy vàng đúc thành những đoá sen đặt trên mặt đất, bảo sủng phi là Phan thị 潘氏bước đi trên đó, gọi là “bộ bộ sinh liên hoa” 步步生莲花.
    Trong Nam sử - Tề kỉ hạ - Phế đế Đông Hôn Hầu 南史 - 齐纪下 - 废帝东昏侯ghi rằng:
             (Đông Hôn Hầu) hựu tạc kim vi liên hoa (hoa) dĩ thiếp địa, lệnh Phan phi hành kì thượng, viết: “Thử bộ bộ sinh liên hoa (hoa) dã”.
              (东昏侯) 又凿金为莲华 () 以贴地, 令潘妃行其上, : 此步步生莲华 () .
              (Đông Hôn Hầu) lại cho lấy vàng đúc thành đoá sen đặt trên mặt đất, bảo Phan phi bước đi trên đó, nói rằng: “Ấy là từng bước từng bước sinh ra hoa sen”.

    Sương in mặt, tuyết pha thân
    Sen vàng lững thững như gần như xa
    (“Truyện Kiều” 189 –  190)
    Thì trân thức thức sẵn bày
    Gót sen thoăn thoắt dạo ngay mé tường
    (“Truyện Kiều” 377 –  378)
    Tiếng sen sẽ động giấc hoè
    Bóng trăng đã xế, hoa lê lại gần
    (“Truyện Kiều” 437 – 438)
    Giác Duyên lên tiếng gọi nàng
    Buồng trong, vội dạo sen vàng bước ra
    (“Truyện Kiều” 3007 –  3008)
    Sen vàng: tức là bước chân người đẹp. Theo điển Hậu chúa nhà Trần thời Ngũ Đại yêu Phan phi, đúc hoa sen vàng lát xuống đất, bảo đi rồi cười nói rằng: “Mỗi bước chân sinh ra hoa sen”.
    Tiếng sen: Chỉ tiếng bước chân của người đẹp.
    (Đào Duy Anh: “Từ điển Truyện Kiều”, nxb Khoa học xã hội, Hà Nội – 1989)
    Trong “Kim Vân Kiều” (Đoạn trường tân thanh) do Bùi Khánh Diễn chú thích, câu 190 là:
    NHẠC VÀNG LẢNG SẢNG như gần như xa
    Chú rằng:
              Nhạc uyển: Vũ điều hữu thác chi khúc dụng nhị đồng nữ tiên y mão, mão thi kim linh dao chuyển hữu thanh.
              樂苑: 羽調有柘枝曲用二童女鮮衣帽帽施金鈴搖轉有聲
              (Thiên Nhạc uyển: điệu tiếng vũ có khúc Thác Chi, lấy hai đứa con gái nhỏ mặc áo mũ mới, trên mũ đeo nhạc vàng, cử động có tiếng lảng sảng)
    (Sài Gòn: nxb Sống Mới, 1960) 

    Xét: Điển “sen vàng, gót sen, tiếng sen”, xuất xứ từ chuyện giữa Đông Hôn Hầu với Phan phi. Phế Đế Đông Hôn Hầu ở triều Tề thời Nam Bắc Triều, không phải Hậu chúa nhà Trần thời Ngũ Đại.
              Thời Nam Triều (420 – 479) gồm các triều: Tống, Tề, Lương, Trần.
              Thời Ngũ Đại (907 – 960) gồm các triều: Hậu Lương, Hậu Đường, Hậu Tấn, Hậu Hán, Hậu Chu.
    Đông Hôn Hầu Tiêu Bảo Quyển vị hoàng đế thứ 6 của Nam triều Tề cực kì xa xỉ, dâm dật.
              Bản “Kim Vân Kiều” (Đoạn trường tân thanh) do Bùi Khánh Diễn chú thích, câu 378 là:
    Gót sen thoăn thoắt dạo ngay MÁI tường
    Câu 437:
    Tiếng LÊN sẽ động giấc hoè
    Câu 3008:
    Buồng trong, NÀNG ĐÃ VỘI VÀNG bước ra
    Theo “Tư liệu Truyện Kiều  - Bản Duy Minh Thị 1872” do GS Nguyễn Tài Cẩn phiên Nôm, câu 190 này là:
    Sen vàng LÃNG ĐÃNG như gần như xa
    Câu 378:
    Gót sen THOẮT thoắt dạo ngay mé tường
    Câu 438:
    Bóng trăng đã TRỞ  hoa lê lại gần
    Câu 3008:
    PHÒNG trong vội KHIẾN sen vàng bước ra
                                                         (Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2002)

                                             Huỳnh Chương Hưng
                                             Quy Nhơn 24/01/2020


    Thứ Năm, 23 tháng 1, 2020


    TẠI SAO ĐÊM TRỪ TỊCH LẠI “THỦ TUẾ”

              Tập tục đêm trừ tịch không ngủ gọi là “thủ tuế” 守岁 (đón giao thừa). Tại sao mọi người phải “thủ tuế”?
              “Thủ tuế” 守岁 còn gọi là “ngao niên” 熬年. Tương truyền, thời cổ có con quái thú tên là “niên” , hằng năm cứ đến đêm 30 tết nó lại xuất hiện tác quái. Ngày vui tống cựu nghinh tân trở thành lúc mà mọi người không hài lòng nhất. Đến ngày 30 tết, nhà nhà lo liệu dọn dẹp từ sớm, cửa nẻo đóng chặt. Do sợ con “niên” đến gây hoạ, nên không ai dám ngủ. Để tiêu trừ nỗi sợ hãi con “niên” sắp đến, mọi người bèn chuẩn bị một bữa cơm tối thật phong phú trong một năm. Cả nhà ngồi quây quần bên bàn ăn cười nói vui đùa, nghĩ đến một cuộc sống tốt đẹp ở tương lai, mượn đó để thức đến sáng sớm hôm sau. Đêm 30 tết, nhà nhà giăng đèn kết hoa, đốt pháo, mừng cho bản thân mình tránh được bàn tay ác độc của con “niên”. Về sau, dân gian dần hình thành tập tục thức suốt đêm vào đêm trừ tịch.
              Sớm từ thời Tây Tấn đã có ghi chép sự việc liên quan đến “thủ tuế”. Trong Phong thổ chí 风土志 có nói: Đêm trừ tịch, mọi người tặng quà cho nhau, chúc đối phương sang năm mới được tài vận, gọi là “quỹ tuế” 馈岁; chuẩn bị tiệc rượu phong phú, tế thần cầu phúc, đó là phương thức mọi người cáo biệt năm cũ; cả nhà vui vẻ tụ tập bên bàn ăn, cùng hưởng chút phúc khí, gọi là “phân tuế” 分岁; suốt cả đêm không ngủ, cười nói vui đùa đến sáng, đó chính là “thủ tuế”.
              Lời tục có nói:
    Nhất dạ liên song tuế
    Ngũ canh phân nhị niên
    一夜连双岁
    五更分二年
    (Một đêm mà có hai năm liền nhau
    Năm canh mà chia làm hai năm)
    Cũng chính là nói, đêm trừ tịch mọi người không chỉ từ biệt năm cũ, tống cựu nghinh tân, mà đồng thời tuổi của mọi người cũng được thêm một năm nữa, cho nên có cách nói:
    Thử dạ thủ tuế tích niên hoa
    此夜守岁惜年华
    (Đêm đó “thủ tuế” tiếc tuồi trẻ)

                                                                   Huỳnh Chương Hưng
                                                                  Quy Nhơn 23/01/2020
                                                          Ngày 29 tháng Chạp năm Kỉ Hợi

    Nguyên tác Trung văn
    Trong quyển
    THÚ VỊ VĂN HOÁ TRI THỨC ĐẠI TOÀN
    趣味文化知识大全
    Thanh Thạch 青石 biên soạn
    Trung Quốc Hoa kiều xuất bản xã, 2013

    Dịch thuật: Tại sao đêm trừ tịch lại "thủ tuế"

    Đăng lúc  22:07  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »


    TẠI SAO ĐÊM TRỪ TỊCH LẠI “THỦ TUẾ”

              Tập tục đêm trừ tịch không ngủ gọi là “thủ tuế” 守岁 (đón giao thừa). Tại sao mọi người phải “thủ tuế”?
              “Thủ tuế” 守岁 còn gọi là “ngao niên” 熬年. Tương truyền, thời cổ có con quái thú tên là “niên” , hằng năm cứ đến đêm 30 tết nó lại xuất hiện tác quái. Ngày vui tống cựu nghinh tân trở thành lúc mà mọi người không hài lòng nhất. Đến ngày 30 tết, nhà nhà lo liệu dọn dẹp từ sớm, cửa nẻo đóng chặt. Do sợ con “niên” đến gây hoạ, nên không ai dám ngủ. Để tiêu trừ nỗi sợ hãi con “niên” sắp đến, mọi người bèn chuẩn bị một bữa cơm tối thật phong phú trong một năm. Cả nhà ngồi quây quần bên bàn ăn cười nói vui đùa, nghĩ đến một cuộc sống tốt đẹp ở tương lai, mượn đó để thức đến sáng sớm hôm sau. Đêm 30 tết, nhà nhà giăng đèn kết hoa, đốt pháo, mừng cho bản thân mình tránh được bàn tay ác độc của con “niên”. Về sau, dân gian dần hình thành tập tục thức suốt đêm vào đêm trừ tịch.
              Sớm từ thời Tây Tấn đã có ghi chép sự việc liên quan đến “thủ tuế”. Trong Phong thổ chí 风土志 có nói: Đêm trừ tịch, mọi người tặng quà cho nhau, chúc đối phương sang năm mới được tài vận, gọi là “quỹ tuế” 馈岁; chuẩn bị tiệc rượu phong phú, tế thần cầu phúc, đó là phương thức mọi người cáo biệt năm cũ; cả nhà vui vẻ tụ tập bên bàn ăn, cùng hưởng chút phúc khí, gọi là “phân tuế” 分岁; suốt cả đêm không ngủ, cười nói vui đùa đến sáng, đó chính là “thủ tuế”.
              Lời tục có nói:
    Nhất dạ liên song tuế
    Ngũ canh phân nhị niên
    一夜连双岁
    五更分二年
    (Một đêm mà có hai năm liền nhau
    Năm canh mà chia làm hai năm)
    Cũng chính là nói, đêm trừ tịch mọi người không chỉ từ biệt năm cũ, tống cựu nghinh tân, mà đồng thời tuổi của mọi người cũng được thêm một năm nữa, cho nên có cách nói:
    Thử dạ thủ tuế tích niên hoa
    此夜守岁惜年华
    (Đêm đó “thủ tuế” tiếc tuồi trẻ)

                                                                   Huỳnh Chương Hưng
                                                                  Quy Nhơn 23/01/2020
                                                          Ngày 29 tháng Chạp năm Kỉ Hợi

    Nguyên tác Trung văn
    Trong quyển
    THÚ VỊ VĂN HOÁ TRI THỨC ĐẠI TOÀN
    趣味文化知识大全
    Thanh Thạch 青石 biên soạn
    Trung Quốc Hoa kiều xuất bản xã, 2013


    TRĂM NĂM BIẾT CÓ DUYÊN GÌ HAY KHÔNG (182)
              “Trăm năm” ở câu 182 này và mấy câu 355 / 452 / 1331 / 1964 lấy ý từ thành ngữ “Bách niên giai lão” 百年偕老.
              Từ “giai lão” 偕老 xuất xứ từ “Kinh Thi”, ý nghĩa là vợ chồng cùng sống với nhau đến già.
    Chấp tử chi thủ
    Dữ tử giai lão
    執子之手
    與子偕老
    (Nắm tay nàng
    Hẹn cùng sống với nhau đến già)
                                                                 (Bội phong – Kích cổ 邶風 - 擊鼓)
    Quân tử giai lão
    君子偕老
    (Cùng chồng sống với nhau đến già)
                              (Dung phong – Quân tử giai lão 庸風 - 君子偕老)
    Cập nhĩ giai lão
    及爾偕老
    (Hẹn cùng chàng sống với nhau đến già)
                                                                          (Vệ phong – Manh - 風氓)
    Nghi ngôn ẩm tửu
    Dữ tử giai lão
    宜言飲酒
    與子偕老
    (Cùng nhau uống rượu
    Hẹn cùng chàng sống với nhau đến già)
                                                 (Trịnh phong – Nữ viết kê minh 鄭風 - 女曰雞鳴)
    Về sau, người ta thêm từ “bách niên” 百年hoặc “bạch đầu” 白頭偕老 tạo nên thành ngữ  “Bách niên giai lão” 百年偕老, “Bạch đầu giai lão” 白頭偕老dùng để chúc tụng cô dâu chú rể trong hôn lễ.

    Người đâu gặp gỡ làm chi
    Trăm năm biết có duyên gì hay không
    (“Truyện Kiều” 181 – 182)
    Rằng: “Trăm năm cũng từ đây
    Của tin gọi một chút này làm ghi”
    (“Truyện Kiều” 355 – 356)
    Tóc tơ căn vặn tấc lòng
    Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương
    (“Truyện Kiều” 451 – 452)
    Trăm năm tính cuộc vuông tròn
    Phải dò cho đến ngọn nguồn lạch sông
    (“Truyện Kiều” 1331 – 1332)
    Xót vì cầm đã bén dây
    Chẳng trăm năm cũng một ngày duyên ta
    (“Truyện Kiều” 1963 – 1964)
    Trăm năm: Chỉ trọn một đời người. Td: Trăm năm trong cõi người ta, 1, 182, 355, 452, 510, 556, 880, 1331, 1964, 3186.
    (Đào Duy Anh: “Từ điển Truyện Kiều”, nxb Khoa học xã hội, Hà Nội – 1989)
    Trong “Kim Vân Kiều” (Đoạn trường tân thanh) do Bùi Khánh Diễn chú thích, ghi rằng:
    Thi: Bách niên giai lão
    : 百年偕老
    (Kinh Thi: Cùng nhau già trăm năm)
    (Sài Gòn: nxb Sống Mới, 1960) 

    Xét: Theo ý riêng, từ “trăm năm” ở các câu 182 / 355 / 452 / 1331 / 1964, khác với “trăm năm” ở những câu khác. “Trăm năm” ở những câu này không đơn thuần mang ý nghĩa trọn một đời người mà là hàm ý đánh dấu việc nên vợ nên chồng, “bách niên giai lão”.
    Theo “Tư liệu Truyện Kiều  - Bản Duy Minh Thị 1872” do GS Nguyễn Tài Cẩn phiên Nôm, câu 452 là:
    Trăm năm tạc một chữ đồng TÀNG xương
    Câu 1332:
    Phải dò cho đến ngọn nguồn NGÁC sông
    Câu 1963:
    CHÚT vì cầm đã BÁM dây
                                                         (Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2002)

                                                            Huỳnh Chương Hưng
                                                            Quy Nhơn 23/01/2020

    Dịch thuật: Trăm năm biết có duyên gì hay không (182) ("Truyện Kiều")

    Đăng lúc  08:58  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »


    TRĂM NĂM BIẾT CÓ DUYÊN GÌ HAY KHÔNG (182)
              “Trăm năm” ở câu 182 này và mấy câu 355 / 452 / 1331 / 1964 lấy ý từ thành ngữ “Bách niên giai lão” 百年偕老.
              Từ “giai lão” 偕老 xuất xứ từ “Kinh Thi”, ý nghĩa là vợ chồng cùng sống với nhau đến già.
    Chấp tử chi thủ
    Dữ tử giai lão
    執子之手
    與子偕老
    (Nắm tay nàng
    Hẹn cùng sống với nhau đến già)
                                                                 (Bội phong – Kích cổ 邶風 - 擊鼓)
    Quân tử giai lão
    君子偕老
    (Cùng chồng sống với nhau đến già)
                              (Dung phong – Quân tử giai lão 庸風 - 君子偕老)
    Cập nhĩ giai lão
    及爾偕老
    (Hẹn cùng chàng sống với nhau đến già)
                                                                          (Vệ phong – Manh - 風氓)
    Nghi ngôn ẩm tửu
    Dữ tử giai lão
    宜言飲酒
    與子偕老
    (Cùng nhau uống rượu
    Hẹn cùng chàng sống với nhau đến già)
                                                 (Trịnh phong – Nữ viết kê minh 鄭風 - 女曰雞鳴)
    Về sau, người ta thêm từ “bách niên” 百年hoặc “bạch đầu” 白頭偕老 tạo nên thành ngữ  “Bách niên giai lão” 百年偕老, “Bạch đầu giai lão” 白頭偕老dùng để chúc tụng cô dâu chú rể trong hôn lễ.

    Người đâu gặp gỡ làm chi
    Trăm năm biết có duyên gì hay không
    (“Truyện Kiều” 181 – 182)
    Rằng: “Trăm năm cũng từ đây
    Của tin gọi một chút này làm ghi”
    (“Truyện Kiều” 355 – 356)
    Tóc tơ căn vặn tấc lòng
    Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương
    (“Truyện Kiều” 451 – 452)
    Trăm năm tính cuộc vuông tròn
    Phải dò cho đến ngọn nguồn lạch sông
    (“Truyện Kiều” 1331 – 1332)
    Xót vì cầm đã bén dây
    Chẳng trăm năm cũng một ngày duyên ta
    (“Truyện Kiều” 1963 – 1964)
    Trăm năm: Chỉ trọn một đời người. Td: Trăm năm trong cõi người ta, 1, 182, 355, 452, 510, 556, 880, 1331, 1964, 3186.
    (Đào Duy Anh: “Từ điển Truyện Kiều”, nxb Khoa học xã hội, Hà Nội – 1989)
    Trong “Kim Vân Kiều” (Đoạn trường tân thanh) do Bùi Khánh Diễn chú thích, ghi rằng:
    Thi: Bách niên giai lão
    : 百年偕老
    (Kinh Thi: Cùng nhau già trăm năm)
    (Sài Gòn: nxb Sống Mới, 1960) 

    Xét: Theo ý riêng, từ “trăm năm” ở các câu 182 / 355 / 452 / 1331 / 1964, khác với “trăm năm” ở những câu khác. “Trăm năm” ở những câu này không đơn thuần mang ý nghĩa trọn một đời người mà là hàm ý đánh dấu việc nên vợ nên chồng, “bách niên giai lão”.
    Theo “Tư liệu Truyện Kiều  - Bản Duy Minh Thị 1872” do GS Nguyễn Tài Cẩn phiên Nôm, câu 452 là:
    Trăm năm tạc một chữ đồng TÀNG xương
    Câu 1332:
    Phải dò cho đến ngọn nguồn NGÁC sông
    Câu 1963:
    CHÚT vì cầm đã BÁM dây
                                                         (Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2002)

                                                            Huỳnh Chương Hưng
                                                            Quy Nhơn 23/01/2020

    Thứ Tư, 22 tháng 1, 2020


    CHỮ “NINH”
    宁  寧
    Bính âm ning (thanh điệu 2) / ning (thanh điệu 4)

    5 nét
    14 nét

    Ning (thanh điệu 2) (níng)
    1- An ninh
              Ninh tĩnh 宁静
    2- Biệt xưng của thành phố Nam Kinh 南京
              Hỗ Ninh tuyến 沪宁线

    Ning (thanh điệu 4) (nìng)
    1- Ninh khả (thà)
              Ninh khẳng 宁肯 / ninh nguyện 宁愿 / ninh khuyết vô lạm 宁缺毋滥 .
    2- Họ Ninh
    Thuyết giải
              Chữ , bộ , kết cấu trên dưới. Chữ bỏ đi bộ phận ở giữa thành chữ . Chữ bảo lưu đặc trưng của chữ gốc. Chữ có thể dùng làm thiên bàng giản hoá, như / (nính), / (ninh).
              Chữ vốn đọc là zhù (âm Hán Việt đọc là “trữ” – ND), chỉ khoảng giữa của cửa cung điện với bình phong, chữ hiện tại là giản hoá của chữ (ninh). Để tránh lẫn lộn, đem chữ mà bính âm là zhù (bao gồm cả được dùng làm thiên bàng) được viết là (*)  , như () (trữ),   () (trữ), () (trữ) v.v...

    Chú của người dịch
    (*)- Chữ   bỏ bộ chính là cách viết giản hoá của chữ (trữ)

                                                          Huỳnh Chương Hưng
                                                          Quy Nhơn 22/01/2020

    Nguồn
    GIẢN HOÁ TỰ, PHỒN THỂ TỰ ĐỐI CHIẾU TỰ ĐIỂN
    简化字繁体字对照字典
    Chủ biên: Giang Lam Sinh 江蓝生, Lục Tôn Ngô 陆尊梧
    Thượng Hải – Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 1998

    Phụ lục
    Chữ (ninh)
    1- Yên ổn. 2 Thăm hỏi. Con gái ở nhà chồng về thăm cha mẹ gọi là quy ninh 歸寧. 3 Thà, lời thuận theo, như ninh khả thà khá; ninh sử 使 thà khiến. Xét ra chữ  ninh viết và viếthai chữ ý nghĩa hơi giống nhau mà có phần hơi khác. Như an ninh 安寧; Đinh ninh 丁寧 đều dùng chữ ninh , còn tên đất hay tên họ thù dùng chữ ninh
    Chữ (trữ)
              Giữa khoảng cái bình phong với cửa.
              (Thiều Chửu: “Hán Việt tự điển”, nxb Hồng Đức 2015)

    Dịch thuật: Chữ "ninh" (Đối chiếu tự điển)

    Đăng lúc  19:00  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »


    CHỮ “NINH”
    宁  寧
    Bính âm ning (thanh điệu 2) / ning (thanh điệu 4)

    5 nét
    14 nét

    Ning (thanh điệu 2) (níng)
    1- An ninh
              Ninh tĩnh 宁静
    2- Biệt xưng của thành phố Nam Kinh 南京
              Hỗ Ninh tuyến 沪宁线

    Ning (thanh điệu 4) (nìng)
    1- Ninh khả (thà)
              Ninh khẳng 宁肯 / ninh nguyện 宁愿 / ninh khuyết vô lạm 宁缺毋滥 .
    2- Họ Ninh
    Thuyết giải
              Chữ , bộ , kết cấu trên dưới. Chữ bỏ đi bộ phận ở giữa thành chữ . Chữ bảo lưu đặc trưng của chữ gốc. Chữ có thể dùng làm thiên bàng giản hoá, như / (nính), / (ninh).
              Chữ vốn đọc là zhù (âm Hán Việt đọc là “trữ” – ND), chỉ khoảng giữa của cửa cung điện với bình phong, chữ hiện tại là giản hoá của chữ (ninh). Để tránh lẫn lộn, đem chữ mà bính âm là zhù (bao gồm cả được dùng làm thiên bàng) được viết là (*)  , như () (trữ),   () (trữ), () (trữ) v.v...

    Chú của người dịch
    (*)- Chữ   bỏ bộ chính là cách viết giản hoá của chữ (trữ)

                                                          Huỳnh Chương Hưng
                                                          Quy Nhơn 22/01/2020

    Nguồn
    GIẢN HOÁ TỰ, PHỒN THỂ TỰ ĐỐI CHIẾU TỰ ĐIỂN
    简化字繁体字对照字典
    Chủ biên: Giang Lam Sinh 江蓝生, Lục Tôn Ngô 陆尊梧
    Thượng Hải – Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 1998

    Phụ lục
    Chữ (ninh)
    1- Yên ổn. 2 Thăm hỏi. Con gái ở nhà chồng về thăm cha mẹ gọi là quy ninh 歸寧. 3 Thà, lời thuận theo, như ninh khả thà khá; ninh sử 使 thà khiến. Xét ra chữ  ninh viết và viếthai chữ ý nghĩa hơi giống nhau mà có phần hơi khác. Như an ninh 安寧; Đinh ninh 丁寧 đều dùng chữ ninh , còn tên đất hay tên họ thù dùng chữ ninh
    Chữ (trữ)
              Giữa khoảng cái bình phong với cửa.
              (Thiều Chửu: “Hán Việt tự điển”, nxb Hồng Đức 2015)


    HẢI ĐƯỜNG LẢ NGỌN ĐÔNG LÂN (175)
              Hoa hải đường 海棠 là một trong những loài hoa thưởng ngoạn truyền thống có lịch sử lâu đời ở Trung Quốc. Từ thời Tiên Tần, Lưỡng Hán cho tới thời Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh, trải các đời các triều, hoa hải đường có địa vị quan trọng. Hoa vốn được xưng tụng là “quốc diễm” 国艳, lại có mĩ xưng là “bách hoa chi tôn” 百花之尊, “hoa trung thần tiên” 花中神仙, “hoa chi quý phi” 花之贵妃, mọi người ví hoa với mĩ nhân giai lệ, ngày xuân tươi đẹp, vạn sự cát tường. Do đó, văn nhân thi sĩ, thư pháp gia, hoạ gia thường lấy hoa hải đường làm đề tài sáng tác.
              Thời Đường, hoa hải đường có địa vị rất cao, Đường Minh Hoàng 唐明皇từng ví Dương Quý Phi 杨贵妃 với hoa hải đường. Trong Lãnh Trai dạ thoại 冷斋夜话của Thích Huệ Hồng 释惠洪đời Tống có chép:
              Thượng hoàng đăng Trầm Hương đình, triệu Thái Chân Phi. Vu thời Mão tuý vị tỉnh, mệnh Lực Sĩ sử thị nhi phù dịch nhi chí. Phi tử tuý nhan tàn trang, tấn loạn thoa hoành, bất năng tái bái. Thượng hoàng tiếu viết: ‘Khởi Phi tử tuý, trực hải đường thuỵ vị túc nhĩ!’
              上皇登沉香亭, 召太真妃. 于时卯醉未醒, 命力士使侍儿扶掖而至. 妃子醉颜残妆, 鬓乱钗横, 不能再拜. 上皇笑曰: 岂妃子醉, 直海棠睡未足耳!’
              (Thượng hoàng lên đài Trầm Hương, cho triệu Thái Chân Phi đến. Lúc bấy giờ, Thái Chân Phi say rượu đã tới giờ Mão mà vẫn chưa tỉnh. Cao Lực Sĩ bảo thị nữ dìu đến. Phi tử say đến nỗi tóc mai rối loạn, phấn son phai nhạt, thoa cài nghiêng lệch, không thể bái lạy. Thượng hoàng cười nói rằng: ‘Phi Tử say thật giống như hoa hải đường ngủ chưa đủ giấc vậy!’)
              Từ đó hoa hải đường được gọi là “thuỵ mĩ nhân” 睡美人. Thành ngữ “hải đường xuân thuỵ” 海棠春睡để chỉ Dương Quý Phi xuất phát từ câu chuyện này.

    Hải đường lả ngọn đông lân
    Giọt sương gieo nặng cành xuân la đà
    (“Truyện Kiều” 175 – 176)
    Hải đường mơn mởn cành tơ
    Ngày xuân, càng gió càng mưa càng nồng
    (“Truyện Kiều” 1283 – 1284)
    Trong “Kim Vân Kiều” (Đoạn trường tân thanh) do Bùi Khánh Diễn chú thích, ghi rằng:
              Lý Thương Ẩn thi: Đạm nguyệt chiếu trung đình, hải đường hoa tự lạc.
              李商隱詩: 澹月炤中庭, 海棠花自落
              (Thơ ngươi Lý Thương Ẩn: trăng nhạt soi giữa sân, hoa hải đường rã rụng)
    (Sài Gòn: nxb Sống Mới, 1960) 

    Xét: Câu 175 và câu 1283 trong “Truyện Kiều”, Nguyễn Du mượn hoa hải đường để ví Thuý Kiều.
    Theo “Tư liệu Truyện Kiều  - Bản Duy Minh Thị 1872” do GS Nguyễn Tài Cẩn phiên Nôm, thì câu 175 này là:
    Giọt sương TREO nặng cành xuân la đà
              Câu 1283 là:
    Hải đường MỞN mởn cành tơ
                                                         (Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2002)
              Câu Đạm nguyệt chiếu trung đình, hải đường hoa tự lạc trong bài “Hiệu Thôi Quốc Phụ thể tứ thủ” 效崔国辅体四首 của Hàn Ác 韩偓 thời Đường, không phải của Lí Thương Ẩn.

                                                         Huỳnh Chương Hưng
                                                         Quy Nhơn 22/01/2020

    Dịch thuật: Hải đường lả ngọn đông lân (175) ("Truyện Kiều")

    Đăng lúc  10:38  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »


    HẢI ĐƯỜNG LẢ NGỌN ĐÔNG LÂN (175)
              Hoa hải đường 海棠 là một trong những loài hoa thưởng ngoạn truyền thống có lịch sử lâu đời ở Trung Quốc. Từ thời Tiên Tần, Lưỡng Hán cho tới thời Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh, trải các đời các triều, hoa hải đường có địa vị quan trọng. Hoa vốn được xưng tụng là “quốc diễm” 国艳, lại có mĩ xưng là “bách hoa chi tôn” 百花之尊, “hoa trung thần tiên” 花中神仙, “hoa chi quý phi” 花之贵妃, mọi người ví hoa với mĩ nhân giai lệ, ngày xuân tươi đẹp, vạn sự cát tường. Do đó, văn nhân thi sĩ, thư pháp gia, hoạ gia thường lấy hoa hải đường làm đề tài sáng tác.
              Thời Đường, hoa hải đường có địa vị rất cao, Đường Minh Hoàng 唐明皇từng ví Dương Quý Phi 杨贵妃 với hoa hải đường. Trong Lãnh Trai dạ thoại 冷斋夜话của Thích Huệ Hồng 释惠洪đời Tống có chép:
              Thượng hoàng đăng Trầm Hương đình, triệu Thái Chân Phi. Vu thời Mão tuý vị tỉnh, mệnh Lực Sĩ sử thị nhi phù dịch nhi chí. Phi tử tuý nhan tàn trang, tấn loạn thoa hoành, bất năng tái bái. Thượng hoàng tiếu viết: ‘Khởi Phi tử tuý, trực hải đường thuỵ vị túc nhĩ!’
              上皇登沉香亭, 召太真妃. 于时卯醉未醒, 命力士使侍儿扶掖而至. 妃子醉颜残妆, 鬓乱钗横, 不能再拜. 上皇笑曰: 岂妃子醉, 直海棠睡未足耳!’
              (Thượng hoàng lên đài Trầm Hương, cho triệu Thái Chân Phi đến. Lúc bấy giờ, Thái Chân Phi say rượu đã tới giờ Mão mà vẫn chưa tỉnh. Cao Lực Sĩ bảo thị nữ dìu đến. Phi tử say đến nỗi tóc mai rối loạn, phấn son phai nhạt, thoa cài nghiêng lệch, không thể bái lạy. Thượng hoàng cười nói rằng: ‘Phi Tử say thật giống như hoa hải đường ngủ chưa đủ giấc vậy!’)
              Từ đó hoa hải đường được gọi là “thuỵ mĩ nhân” 睡美人. Thành ngữ “hải đường xuân thuỵ” 海棠春睡để chỉ Dương Quý Phi xuất phát từ câu chuyện này.

    Hải đường lả ngọn đông lân
    Giọt sương gieo nặng cành xuân la đà
    (“Truyện Kiều” 175 – 176)
    Hải đường mơn mởn cành tơ
    Ngày xuân, càng gió càng mưa càng nồng
    (“Truyện Kiều” 1283 – 1284)
    Trong “Kim Vân Kiều” (Đoạn trường tân thanh) do Bùi Khánh Diễn chú thích, ghi rằng:
              Lý Thương Ẩn thi: Đạm nguyệt chiếu trung đình, hải đường hoa tự lạc.
              李商隱詩: 澹月炤中庭, 海棠花自落
              (Thơ ngươi Lý Thương Ẩn: trăng nhạt soi giữa sân, hoa hải đường rã rụng)
    (Sài Gòn: nxb Sống Mới, 1960) 

    Xét: Câu 175 và câu 1283 trong “Truyện Kiều”, Nguyễn Du mượn hoa hải đường để ví Thuý Kiều.
    Theo “Tư liệu Truyện Kiều  - Bản Duy Minh Thị 1872” do GS Nguyễn Tài Cẩn phiên Nôm, thì câu 175 này là:
    Giọt sương TREO nặng cành xuân la đà
              Câu 1283 là:
    Hải đường MỞN mởn cành tơ
                                                         (Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2002)
              Câu Đạm nguyệt chiếu trung đình, hải đường hoa tự lạc trong bài “Hiệu Thôi Quốc Phụ thể tứ thủ” 效崔国辅体四首 của Hàn Ác 韩偓 thời Đường, không phải của Lí Thương Ẩn.

                                                         Huỳnh Chương Hưng
                                                         Quy Nhơn 22/01/2020

    Thứ Ba, 21 tháng 1, 2020


    BIỆT XƯNG CÁC THÁNG ÂM LỊCH

    Tháng Giêng
              Chinh nguyệt 正月, Nguyên nguyệt 元月, Đoan nguyệt 端月, Mạnh nguyệt 孟月, Chinh nguyệt 征月, Sơ nguyệt 初月, Gia nguyệt 嘉月, Liễu nguyệt 柳月, Thuỵ nguyệt , Khai tuế 开岁, Tân nguyệt 新月, Ngung nguyệt 隅月, Hoa nguyệt华月, Thái nguyệt 泰月, Tưu nguyệt 陬月, Tân chính 新正, Hạ chính 夏正, Thuỷ xuân 始春, Nguyên xuân 元春, Thủ xuân 首春, Nguyên dương 元阳, Chính dương 正阳.
    Tháng Hai
              Hạnh nguyệt 杏月, Lệ nguyệt 丽月, Hoa nguyệt 花月, Như nguyệt 如月, Trọng nguyệt 仲月, Hàm nguyệt 酣月, Lệnh nguyệt 令月, Mão nguyệt 卯月, Tảo xuân 早春, Trọng xuân 仲春, Trọng dương 仲阳, Hàm xuân 酣春, Diễm xuân 艳春, Phương xuân芳春, Trung hoà 中和, Hoa triêu 花朝.
    Tháng Ba
              Đào nguyệt 桃月, Tàm nguyệt , Oanh nguyệt莺月, Mộ nguyệt 暮月, Quý nguyệt季月, Li nguyệt 鹂月, Trù nguyệt 绸月, Mị nguyệt 寐月, Bính nguyệt 炳月, Dương xuân 阳春, Thượng xuân上春, Xuân nhật 春日, Tam xuân 三春, Mộ xuân 暮春, Quý xuân 季春, Vãn xuân 晚春.
    Tháng Tư
             Hoè nguyệt 槐月, Mai nguyệt 梅月, Mạch nguyệt 麦月, Dư nguyệt 余月, Dương nguyệt 阳月, Thuần nguyệt 纯月, Đồng nguyệt 桐月, Càn nguyệt 乾月, Thanh hoà nguyệt 清和月, Sơ hạ 初夏, Mạnh hạ 孟夏, Đồng hạ 桐夏, Duy hạ 维夏, Hoè hạ 槐夏.
    Tháng Năm
              Lựu nguyệt 榴月, Bồ nguyệt 蒲月, Ngọ nguyệt 午月, Đoan dương 端阳, Cao nguyệt 皋月, Úc nguyệt 郁月, Trọng hạ 仲夏, Siêu hạ  超夏, Thiên trung 天中.
    Tháng Sáu
              Hà nguyệt 荷月, Quý nguyệt 季月, Thả nguyệt 且月, Phục nguyệt 伏月, Tiêu nguyệt 焦月, Thự nguyệt 署月, Đán nguyệt 旦月, Liên nguyệt 莲月, Tú nguyệt 秀月, Độn nguyệt 遁月, Tinh dương 精阳, Nhục thử 溽暑, Quý hạ 季夏, Quý thử 季暑.
    Tháng Bảy
              Qua nguyệt 瓜月, Xảo nguyệt 巧月, Lan nguyệt 兰月, Tương nguyệt 相月, Sương nguyệt 霜月, Thân nguyệt 申月, Châm nguyệt 砧月, Lương nguyệt 凉月, Tảo thu 早秋, Lan thu 兰秋, Tân thu 新秋, Triệu thu 肇秋, Sơ thu 初秋, Mạnh thu 孟秋.
    Tháng Tám
              Quế nguyệt 桂月, Tráng nguyệt 壮月, Oanh nguyệt 莹月, Hồng nguyệt 虹月, Nha nguyệt 鸦月, Trọng thu 仲秋, Trung thu , Ngâm thu 吟秋, Quế thu 桂秋, Chính thu 正秋, Trọng thương 仲商, Trúc xuân 竹春, Thương lữ 商吕
    Tháng Chín
              Cúc nguyệt 菊月, Đài nguyệt 苔月, Quỳnh nguyệt 琼月, Huyền nguyệt 玄月, Hủ nguyệt 朽月, Sương tự 霜序, Lan thu 兰秋, Sương thu 霜秋, Quý thu 季秋, Mộ thương 暮商, Mộ thu 暮秋, Vãn thu 晚秋, Thâm thu 深秋, Cùng thu 穷秋, Thanh nữ nguyệt 青女月, Tam mạnh thu 三孟秋.
    Tháng Mười
              Dương nguyệt 阳月, Âm nguyệt 阴月, Lương nguyệt 良月, Lộ nguyệt 露月, Phi âm nguyệt 飞阴月, Sương hoa 霜华, Tiểu dương xuân 小阳春, Khai đông 开冬, Sơ đông 初冬, Thượng đông 上冬, Mạnh đông 孟冬.
    Tháng Mười một
             Cô nguyệt 辜月, Sướng nguyệt 畅月, Hà nguyệt 葭月, Kiêm nguyệt 蒹月, Đông nguyệt 冬月, Tí nguyệt 子月, Phục nguyệt 复月, Trọng đông 仲冬, Trung đông 中冬, Hàn diễm 寒艳, Sương hiện nguyệt 霜见月, Quảng hàn nguyệt 广寒月, Long tiềm nguyệt 龙潜月.
    Tháng Chạp
              Lạp nguyệt , Băng nguyệt 冰月, Nghiêm nguyệt 严月, Trừ nguyệt 除月, Mai sơ nguyệt 梅初月, Gia bình nguyệt 嘉平月, Quý đông 季冬, Nghiêm đông 严冬, Lạp đông 腊冬, Hàn đông 寒冬, Tàn đông 残冬, Cùng đông 穷冬, Tàn sương thiên 残霜天, Xuân đãi nguyệt 春待月, Tinh hồi tiết 星回节.

                                                                          Huỳnh Chương Hưng
                                                                          Quy Nhơn 21/01/2020

    Nguồn


    Dịch thuật: Biệt xưng các tháng âm lịch

    Đăng lúc  18:42  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »


    BIỆT XƯNG CÁC THÁNG ÂM LỊCH

    Tháng Giêng
              Chinh nguyệt 正月, Nguyên nguyệt 元月, Đoan nguyệt 端月, Mạnh nguyệt 孟月, Chinh nguyệt 征月, Sơ nguyệt 初月, Gia nguyệt 嘉月, Liễu nguyệt 柳月, Thuỵ nguyệt , Khai tuế 开岁, Tân nguyệt 新月, Ngung nguyệt 隅月, Hoa nguyệt华月, Thái nguyệt 泰月, Tưu nguyệt 陬月, Tân chính 新正, Hạ chính 夏正, Thuỷ xuân 始春, Nguyên xuân 元春, Thủ xuân 首春, Nguyên dương 元阳, Chính dương 正阳.
    Tháng Hai
              Hạnh nguyệt 杏月, Lệ nguyệt 丽月, Hoa nguyệt 花月, Như nguyệt 如月, Trọng nguyệt 仲月, Hàm nguyệt 酣月, Lệnh nguyệt 令月, Mão nguyệt 卯月, Tảo xuân 早春, Trọng xuân 仲春, Trọng dương 仲阳, Hàm xuân 酣春, Diễm xuân 艳春, Phương xuân芳春, Trung hoà 中和, Hoa triêu 花朝.
    Tháng Ba
              Đào nguyệt 桃月, Tàm nguyệt , Oanh nguyệt莺月, Mộ nguyệt 暮月, Quý nguyệt季月, Li nguyệt 鹂月, Trù nguyệt 绸月, Mị nguyệt 寐月, Bính nguyệt 炳月, Dương xuân 阳春, Thượng xuân上春, Xuân nhật 春日, Tam xuân 三春, Mộ xuân 暮春, Quý xuân 季春, Vãn xuân 晚春.
    Tháng Tư
             Hoè nguyệt 槐月, Mai nguyệt 梅月, Mạch nguyệt 麦月, Dư nguyệt 余月, Dương nguyệt 阳月, Thuần nguyệt 纯月, Đồng nguyệt 桐月, Càn nguyệt 乾月, Thanh hoà nguyệt 清和月, Sơ hạ 初夏, Mạnh hạ 孟夏, Đồng hạ 桐夏, Duy hạ 维夏, Hoè hạ 槐夏.
    Tháng Năm
              Lựu nguyệt 榴月, Bồ nguyệt 蒲月, Ngọ nguyệt 午月, Đoan dương 端阳, Cao nguyệt 皋月, Úc nguyệt 郁月, Trọng hạ 仲夏, Siêu hạ  超夏, Thiên trung 天中.
    Tháng Sáu
              Hà nguyệt 荷月, Quý nguyệt 季月, Thả nguyệt 且月, Phục nguyệt 伏月, Tiêu nguyệt 焦月, Thự nguyệt 署月, Đán nguyệt 旦月, Liên nguyệt 莲月, Tú nguyệt 秀月, Độn nguyệt 遁月, Tinh dương 精阳, Nhục thử 溽暑, Quý hạ 季夏, Quý thử 季暑.
    Tháng Bảy
              Qua nguyệt 瓜月, Xảo nguyệt 巧月, Lan nguyệt 兰月, Tương nguyệt 相月, Sương nguyệt 霜月, Thân nguyệt 申月, Châm nguyệt 砧月, Lương nguyệt 凉月, Tảo thu 早秋, Lan thu 兰秋, Tân thu 新秋, Triệu thu 肇秋, Sơ thu 初秋, Mạnh thu 孟秋.
    Tháng Tám
              Quế nguyệt 桂月, Tráng nguyệt 壮月, Oanh nguyệt 莹月, Hồng nguyệt 虹月, Nha nguyệt 鸦月, Trọng thu 仲秋, Trung thu , Ngâm thu 吟秋, Quế thu 桂秋, Chính thu 正秋, Trọng thương 仲商, Trúc xuân 竹春, Thương lữ 商吕
    Tháng Chín
              Cúc nguyệt 菊月, Đài nguyệt 苔月, Quỳnh nguyệt 琼月, Huyền nguyệt 玄月, Hủ nguyệt 朽月, Sương tự 霜序, Lan thu 兰秋, Sương thu 霜秋, Quý thu 季秋, Mộ thương 暮商, Mộ thu 暮秋, Vãn thu 晚秋, Thâm thu 深秋, Cùng thu 穷秋, Thanh nữ nguyệt 青女月, Tam mạnh thu 三孟秋.
    Tháng Mười
              Dương nguyệt 阳月, Âm nguyệt 阴月, Lương nguyệt 良月, Lộ nguyệt 露月, Phi âm nguyệt 飞阴月, Sương hoa 霜华, Tiểu dương xuân 小阳春, Khai đông 开冬, Sơ đông 初冬, Thượng đông 上冬, Mạnh đông 孟冬.
    Tháng Mười một
             Cô nguyệt 辜月, Sướng nguyệt 畅月, Hà nguyệt 葭月, Kiêm nguyệt 蒹月, Đông nguyệt 冬月, Tí nguyệt 子月, Phục nguyệt 复月, Trọng đông 仲冬, Trung đông 中冬, Hàn diễm 寒艳, Sương hiện nguyệt 霜见月, Quảng hàn nguyệt 广寒月, Long tiềm nguyệt 龙潜月.
    Tháng Chạp
              Lạp nguyệt , Băng nguyệt 冰月, Nghiêm nguyệt 严月, Trừ nguyệt 除月, Mai sơ nguyệt 梅初月, Gia bình nguyệt 嘉平月, Quý đông 季冬, Nghiêm đông 严冬, Lạp đông 腊冬, Hàn đông 寒冬, Tàn đông 残冬, Cùng đông 穷冬, Tàn sương thiên 残霜天, Xuân đãi nguyệt 春待月, Tinh hồi tiết 星回节.

                                                                          Huỳnh Chương Hưng
                                                                          Quy Nhơn 21/01/2020

    Nguồn


    Mã nguồn bởi Huỳnh Chương Hưng
    Copyright © 2012 Huỳnh Chương Hưng.
    back to top