• Thứ Hai, 15 tháng 10, 2018

    CHU CÔNG CHẾ LỄ TÁC NHẠC

              Chu Công Cơ Đán 周公姬旦là chính trị gia nổi tiếng của xã hội nô lệ Trung Quốc. Để củng cố chính quyền của giai cấp thống trị và tăng cường trật tự nội bộ của giai cấp thống trị thời Tây Chu, Chu Công đã tham chiếu chế độ lễ nhạc của vương triều Thương, đồng thời kết hợp với truyền thống thị tộc của tộc Chu, chế định ra một loạt lễ chế khu biệt quân thần, thượng hạ, phụ tử, thân sơ, tôn ti và những điển chương chế độ để duy trì mối quan hệ của giai cấp thống trị, đó chính là điều mà hậu thế gọi là “chế lễ tác nhạc” 制礼作乐 của Chu Công.
              Kẻ thống trị tối cao của vương triều Chu là Chu thiên tử.
    Phổ thiên chi hạ,
    Mạc phi vương thổ.
    Suất thổ chi tân,
    Mạc phi vương thần.
    普天之下,
    莫非王土.
    率土之滨,
    莫非王臣.
    Khắp cõi dưới trời,
    Chẳng có chỗ nào là không phải lãnh thổ của vua.
    Noi theo những vùng đất ven bờ,
    Dân chúng khắp nơi, chẳng ai là không phải bề tôi của vua.
                                                              (Thi kinh – Tiểu nhã – Bắc sơn)
                                                   (Bản dịch của Tạ Quang Phát – Thi kinh, tập 2)
              Đất đai và nhân dân trong cả nước đều thuộc về sở hữu của Chu thiên tử. Vùng đất thủ đô Phong , Hạo  do khanh, đại phu quản lí, gọi là “vương kì” 王畿, đây là khu vực do Chu thiên tử trực tiếp nắm giữ.
              Vùng ngoài vương kì, phân phong cho chư hầu cùng họ hoặc khác họ với vương triều Chu. Những chư hầu được thụ phong này lại đem phong địa của mình phân cho người cùng tộc làm “thái ấp” 采邑, những người được thụ phong này là khanh, đại phu. Khanh, đại phu lại đem thái ấp của mình phân cho “sĩ”, tức người cùng tộc làm “thực địa” 食地. Sĩ trở xuống không phân phong nữa, thực địa do thứ dân – nô lệ cày cấy. Đất đai các cấp và kẻ chiếm hữu nô lệ từ sĩ trở lên là giai cấp thống trị của vương triều Chu, còn quảng đại thứ dân và kẻ bị chinh phục là giai cấp bị thống trị.
              Do bởi vương triều Chu đối với việc tái phân phối một số lượng lớn đất đai mới chinh phục và nô lệ, nên từ trên xuống dưới đã cấu thành từng cấp một những kẻ chiếm hữu đất đai, đồng thời cũng hình thành mối quan hệ lệ thuộc đẳng cấp nghiêm nhặt giữa các cấp chiếm hữu đất đai. Trong Tả truyện 左传, đã thuật lại một cách rõ ràng chế độ đẳng cấp của xã hội nô lệ:   
             Thiên hữu thập nhật, nhân hữu thập đẳng, hạ sở dĩ sự thượng, thượng sở dĩ cung thần dã. Cố vương thần công, công thần đại phu, đại phu thần sĩ, sĩ thần tạo, tạo thần dư, dư thần lệ, lệ thần liêu, liêu thần bộc, bộc thần đài. Mã hữu ngữ, ngưu hữu mục, dĩ đãi bách sự.
              天有十日, 人有十等, 下所以事上, 上所以供神也. 故王臣公, 公臣大夫, 大夫臣士, 士臣皂, 皂臣舆, 舆臣隶, 隶臣僚, 僚臣仆, 仆臣台. 马有圉, 牛有牧, 以待百事.
              (Trời có 10 ngày, người có 10 cấp. Kẻ dưới phụng thờ bề trên, bề trên tế tự thần linh. Cho nên vương sai công, công sai đại phu, đại phu sai sĩ, sĩ sai tạo, tạo sai dư, dư sai lệ, lệ sai liêu, liêu sai bộc, bộc sai đài. Ngựa có người nuôi, bò có người chăn, mỗi người đều chuyên việc của mình để ứng phó trăm việc.)
                                                       (Tả truyện – Chiêu Công thất niên)
              Các cấp quý tộc từ sĩ trở lên và giai cấp nô lệ từ sĩ trở xuống, về chính trị và kinh tế có sự phân biệt sâu sắc. “Lễ” trở thành hoạt động chính trị và những quy phạm về hành động sinh hoạt thường ngày của chủ nô lệ. Còn “hình” chủ yếu để trấn áp quảng đại nô lệ và bình dân. Đó chính là “lễ bất há thứ nhân, hình bất thướng đại phu” 礼不下庶人, 刑不上大夫 (lễ không xuống đến thứ nhân, hình phạt không lên đến đại phu) mà mọi người đã biết. 
              Cơ sở của “lễ” chế ở xã hội nô lệ là chế độ tông pháp. Chế độ phân phong của vương triều Chu và mối quan hệ lệ thuộc nghiêm nhặt được kiến lập trên chế độ tông pháp. Thiên tử nối đời truyền nhau, thiên tử mỗi đời đều lấy thân phận đích trưởng tử kế thừa vương vị, chủ tế thuỷ tổ, đó là “đại tông” của Chu vương thất. Còn anh em của đích trưởng tử thụ phong làm chư hầu, đối với thiên tử mà nói đó là “tiểu tông”. Chư hầu của mỗi đời cũng lấy thân phận đích trưởng tử kế thừa hầu vị, thờ phụng thuỷ tổ của mình, đó là “đại tông”. Anh em của họ thụ phong làm khanh đại phu, là “tiểu tông” của chư hầu. Khanh đại phu mỗi đời cũng như thế, lấy thân phận đích trưởng tử kế thừa phụ vị làm khanh đại phu, thờ phụng thuỷ tổ của mình, đó là “đại tông”. Các em của khanh đại phu là sĩ, sĩ đối với khanh đại phu mà nói, trở thành “tiểu tông”. Đích trưởng tử của sĩ vẫn kế thừa phụ vị làm sĩ, nhưng những người con khác trở thành bình dân. Nhân đó, “đại tông” nhất định là con cháu đích hệ của thuỷ tổ, còn “tiểu tông” là thứ tử, thứ tôn. Chư hầu tuy đối với thiên tử mà nói là “tiểu tông”, nhưng tại nước chư hầu của mình lại là “đại tông”. Khanh đại phu đối với chư hầu mà nói là “tiểu tông”, nhưng tại bổn tộc lại là “đại tông”. Chế độ này, ngăn ngừa giữa anh em với nhau có sự tranh đoạt tạo nên sự tranh chấp nội bộ, củng cố chế độ phân phong.
              Chế độ tông pháp lại lấy mối quan hệ huyết thống của đại gia tộc quý tộc làm cơ sở. Mỗi đại gia tộc đều có tổ tiên trực hệ chung, tông miếu chung, mộ địa chung và có nghĩa vụ bảo vệ lẫn nhau, còn đích trưởng tử của đại gia tộc nối đời nắm giữ đại quyền của gia tộc, trở thành “đại tông” có địa vị trọng yếu trong gia tộc, các con thứ khác là “tiểu tông”. Chu thiên tử đối với các chư hầu cùng họ mà nói vừa là “cộng chủ” về chính trị, vừa là “đại tông” “trăm đời không dời đổi” của thiên hạ. Như vậy, các phong quốc lớn nhỏ cùng họ với vương triều Chu trở thành bá phụ 伯父, thúc phụ 叔父, còn chư hầu khác họ trở thành bá cữu 伯舅, thúc cữu 叔舅, đều là thân thích đồng tộc của vương triều Chu, trở thành lực lượng trọng yếu, là “cánh tay đắc lực của Chu thất”.
              Tương truyền, quý tộc Tây Chu có 5 loại lễ: khi tế tự dùng “cát lễ” 吉礼, cẩn thận thờ phụng quỷ thần; lúc tang táng hung hoang dùng “hung lễ” 凶礼, cần đau buồn ưu tư. Lúc triều sính hội đồng dùng “tân lễ” 宾礼, phải lễ mạo hoà tiết. Lúc chinh phạt dùng “quân lễ” 军礼, hưng sư động chúng phải quả cảm cương nghị. Hoạt động cát khánh dùng “gia lễ” 嘉礼, yến tiệc hôn nhân, gia quan nghi thức phức tạp. Những lễ nghi phức tạp này phối thêm âm nhạc có thân phận tương ứng với chúng, hình thành một chế độ lễ nhạc. Thanh đồng khí và nhạc khí sử dụng trong tông miếu trở thành tượng trưng cho chế độ lễ nhạc, nhân đó mà có câu:
    Duy khí dữ danh bất khả giả nhân
    唯器与名不可假人
     (Duy chỉ có lễ khí và danh vị không thể trao cho người khác.)
              Thời kì đầu triều Tây Chu, “thiên hạ hữu đạo, lễ nhạc chinh phạt tự thiên tử xuất” 天下有道, 礼乐征伐自天子出 (thiên hạ hữu đạo, lễ nhạc chinh phạt đều xuất phát từ thiên tử), Chu thiên tử có quyền lực rất lớn đối với chư hầu. Thuỷ tổ nước Tề là Thái Công Vọng 太公望từng được Thành Vương ban cho quyền “ngũ hầu cửu bá, thực đắc chinh chi” 五侯九伯, 实得征之 (ngũ hầu cửu bá, đều có thể bị chinh phạt) (1), chinh phạt những kẻ không phục tùng sự thống trị của vương triều Chu. Còn Bá Cầm 伯禽con của Chu Công, do bởi Chu Công lập được đại công, nên đã được đặc ân sử dụng “thiên tử lễ nhạc”.
              Chế độ lễ nhạc và điển chương văn vật do Chu Công chế định ra, đã khiến cho giai cấp thống trị các cấp có được đặc quyền quốc vương ban cho đồng thời quy định nghĩa vụ nhất định mà họ phải thực hiện đối với vương triều Chu. Tất cả những điều này, ở đời sau đã có sự phát triển rất lớn. Sáng tác mà thác danh Chu Công, bộ Chu lễ 周礼, trên thực tế bắt đầu thành sách vào thời Chiến Quốc, có không ít chế độ là ở vào thời Xuân Thu, nhưng cũng là tư liệu quý báu bảo tồn được một số chế độ lễ nhạc và điển chương văn vật đầu đời Chu, là tư liệu tham khảo quan trọng cho chúng ta khi nghiên cứu về chế độ lễ nhạc và lịch sử đời Chu.

    Chú của người dịch
    1- Trong Tả truyện – Hi Công tứ niên 左传 - 僖公四年, câu này là:
    “Ngũ hầu cửu bá, nhữ thực chinh chi”
    五侯九伯, 女实征之
    (Ngũ hầu cửu bá, ông đều có thể chinh phạt họ)

                                                             Huỳnh Chương Hưng
                                                             Quy Nhơn 15/10/2018

    Nguyên tác Trung văn
    CHU CÔNG CHẾ LỄ TÁC NHẠC
    周公制礼作乐
    Trong quyển
     TÂY CHU SỬ THOẠI
    西周史话
    Tác giả: Vương Vũ Tín 王宇信
    Trung Quốc quốc tế quảng bá xuất bản xã, 2007

    Dịch thuật: Chu Công chế lễ tác nhạc

    Đăng lúc  22:03  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    CHU CÔNG CHẾ LỄ TÁC NHẠC

              Chu Công Cơ Đán 周公姬旦là chính trị gia nổi tiếng của xã hội nô lệ Trung Quốc. Để củng cố chính quyền của giai cấp thống trị và tăng cường trật tự nội bộ của giai cấp thống trị thời Tây Chu, Chu Công đã tham chiếu chế độ lễ nhạc của vương triều Thương, đồng thời kết hợp với truyền thống thị tộc của tộc Chu, chế định ra một loạt lễ chế khu biệt quân thần, thượng hạ, phụ tử, thân sơ, tôn ti và những điển chương chế độ để duy trì mối quan hệ của giai cấp thống trị, đó chính là điều mà hậu thế gọi là “chế lễ tác nhạc” 制礼作乐 của Chu Công.
              Kẻ thống trị tối cao của vương triều Chu là Chu thiên tử.
    Phổ thiên chi hạ,
    Mạc phi vương thổ.
    Suất thổ chi tân,
    Mạc phi vương thần.
    普天之下,
    莫非王土.
    率土之滨,
    莫非王臣.
    Khắp cõi dưới trời,
    Chẳng có chỗ nào là không phải lãnh thổ của vua.
    Noi theo những vùng đất ven bờ,
    Dân chúng khắp nơi, chẳng ai là không phải bề tôi của vua.
                                                              (Thi kinh – Tiểu nhã – Bắc sơn)
                                                   (Bản dịch của Tạ Quang Phát – Thi kinh, tập 2)
              Đất đai và nhân dân trong cả nước đều thuộc về sở hữu của Chu thiên tử. Vùng đất thủ đô Phong , Hạo  do khanh, đại phu quản lí, gọi là “vương kì” 王畿, đây là khu vực do Chu thiên tử trực tiếp nắm giữ.
              Vùng ngoài vương kì, phân phong cho chư hầu cùng họ hoặc khác họ với vương triều Chu. Những chư hầu được thụ phong này lại đem phong địa của mình phân cho người cùng tộc làm “thái ấp” 采邑, những người được thụ phong này là khanh, đại phu. Khanh, đại phu lại đem thái ấp của mình phân cho “sĩ”, tức người cùng tộc làm “thực địa” 食地. Sĩ trở xuống không phân phong nữa, thực địa do thứ dân – nô lệ cày cấy. Đất đai các cấp và kẻ chiếm hữu nô lệ từ sĩ trở lên là giai cấp thống trị của vương triều Chu, còn quảng đại thứ dân và kẻ bị chinh phục là giai cấp bị thống trị.
              Do bởi vương triều Chu đối với việc tái phân phối một số lượng lớn đất đai mới chinh phục và nô lệ, nên từ trên xuống dưới đã cấu thành từng cấp một những kẻ chiếm hữu đất đai, đồng thời cũng hình thành mối quan hệ lệ thuộc đẳng cấp nghiêm nhặt giữa các cấp chiếm hữu đất đai. Trong Tả truyện 左传, đã thuật lại một cách rõ ràng chế độ đẳng cấp của xã hội nô lệ:   
             Thiên hữu thập nhật, nhân hữu thập đẳng, hạ sở dĩ sự thượng, thượng sở dĩ cung thần dã. Cố vương thần công, công thần đại phu, đại phu thần sĩ, sĩ thần tạo, tạo thần dư, dư thần lệ, lệ thần liêu, liêu thần bộc, bộc thần đài. Mã hữu ngữ, ngưu hữu mục, dĩ đãi bách sự.
              天有十日, 人有十等, 下所以事上, 上所以供神也. 故王臣公, 公臣大夫, 大夫臣士, 士臣皂, 皂臣舆, 舆臣隶, 隶臣僚, 僚臣仆, 仆臣台. 马有圉, 牛有牧, 以待百事.
              (Trời có 10 ngày, người có 10 cấp. Kẻ dưới phụng thờ bề trên, bề trên tế tự thần linh. Cho nên vương sai công, công sai đại phu, đại phu sai sĩ, sĩ sai tạo, tạo sai dư, dư sai lệ, lệ sai liêu, liêu sai bộc, bộc sai đài. Ngựa có người nuôi, bò có người chăn, mỗi người đều chuyên việc của mình để ứng phó trăm việc.)
                                                       (Tả truyện – Chiêu Công thất niên)
              Các cấp quý tộc từ sĩ trở lên và giai cấp nô lệ từ sĩ trở xuống, về chính trị và kinh tế có sự phân biệt sâu sắc. “Lễ” trở thành hoạt động chính trị và những quy phạm về hành động sinh hoạt thường ngày của chủ nô lệ. Còn “hình” chủ yếu để trấn áp quảng đại nô lệ và bình dân. Đó chính là “lễ bất há thứ nhân, hình bất thướng đại phu” 礼不下庶人, 刑不上大夫 (lễ không xuống đến thứ nhân, hình phạt không lên đến đại phu) mà mọi người đã biết. 
              Cơ sở của “lễ” chế ở xã hội nô lệ là chế độ tông pháp. Chế độ phân phong của vương triều Chu và mối quan hệ lệ thuộc nghiêm nhặt được kiến lập trên chế độ tông pháp. Thiên tử nối đời truyền nhau, thiên tử mỗi đời đều lấy thân phận đích trưởng tử kế thừa vương vị, chủ tế thuỷ tổ, đó là “đại tông” của Chu vương thất. Còn anh em của đích trưởng tử thụ phong làm chư hầu, đối với thiên tử mà nói đó là “tiểu tông”. Chư hầu của mỗi đời cũng lấy thân phận đích trưởng tử kế thừa hầu vị, thờ phụng thuỷ tổ của mình, đó là “đại tông”. Anh em của họ thụ phong làm khanh đại phu, là “tiểu tông” của chư hầu. Khanh đại phu mỗi đời cũng như thế, lấy thân phận đích trưởng tử kế thừa phụ vị làm khanh đại phu, thờ phụng thuỷ tổ của mình, đó là “đại tông”. Các em của khanh đại phu là sĩ, sĩ đối với khanh đại phu mà nói, trở thành “tiểu tông”. Đích trưởng tử của sĩ vẫn kế thừa phụ vị làm sĩ, nhưng những người con khác trở thành bình dân. Nhân đó, “đại tông” nhất định là con cháu đích hệ của thuỷ tổ, còn “tiểu tông” là thứ tử, thứ tôn. Chư hầu tuy đối với thiên tử mà nói là “tiểu tông”, nhưng tại nước chư hầu của mình lại là “đại tông”. Khanh đại phu đối với chư hầu mà nói là “tiểu tông”, nhưng tại bổn tộc lại là “đại tông”. Chế độ này, ngăn ngừa giữa anh em với nhau có sự tranh đoạt tạo nên sự tranh chấp nội bộ, củng cố chế độ phân phong.
              Chế độ tông pháp lại lấy mối quan hệ huyết thống của đại gia tộc quý tộc làm cơ sở. Mỗi đại gia tộc đều có tổ tiên trực hệ chung, tông miếu chung, mộ địa chung và có nghĩa vụ bảo vệ lẫn nhau, còn đích trưởng tử của đại gia tộc nối đời nắm giữ đại quyền của gia tộc, trở thành “đại tông” có địa vị trọng yếu trong gia tộc, các con thứ khác là “tiểu tông”. Chu thiên tử đối với các chư hầu cùng họ mà nói vừa là “cộng chủ” về chính trị, vừa là “đại tông” “trăm đời không dời đổi” của thiên hạ. Như vậy, các phong quốc lớn nhỏ cùng họ với vương triều Chu trở thành bá phụ 伯父, thúc phụ 叔父, còn chư hầu khác họ trở thành bá cữu 伯舅, thúc cữu 叔舅, đều là thân thích đồng tộc của vương triều Chu, trở thành lực lượng trọng yếu, là “cánh tay đắc lực của Chu thất”.
              Tương truyền, quý tộc Tây Chu có 5 loại lễ: khi tế tự dùng “cát lễ” 吉礼, cẩn thận thờ phụng quỷ thần; lúc tang táng hung hoang dùng “hung lễ” 凶礼, cần đau buồn ưu tư. Lúc triều sính hội đồng dùng “tân lễ” 宾礼, phải lễ mạo hoà tiết. Lúc chinh phạt dùng “quân lễ” 军礼, hưng sư động chúng phải quả cảm cương nghị. Hoạt động cát khánh dùng “gia lễ” 嘉礼, yến tiệc hôn nhân, gia quan nghi thức phức tạp. Những lễ nghi phức tạp này phối thêm âm nhạc có thân phận tương ứng với chúng, hình thành một chế độ lễ nhạc. Thanh đồng khí và nhạc khí sử dụng trong tông miếu trở thành tượng trưng cho chế độ lễ nhạc, nhân đó mà có câu:
    Duy khí dữ danh bất khả giả nhân
    唯器与名不可假人
     (Duy chỉ có lễ khí và danh vị không thể trao cho người khác.)
              Thời kì đầu triều Tây Chu, “thiên hạ hữu đạo, lễ nhạc chinh phạt tự thiên tử xuất” 天下有道, 礼乐征伐自天子出 (thiên hạ hữu đạo, lễ nhạc chinh phạt đều xuất phát từ thiên tử), Chu thiên tử có quyền lực rất lớn đối với chư hầu. Thuỷ tổ nước Tề là Thái Công Vọng 太公望từng được Thành Vương ban cho quyền “ngũ hầu cửu bá, thực đắc chinh chi” 五侯九伯, 实得征之 (ngũ hầu cửu bá, đều có thể bị chinh phạt) (1), chinh phạt những kẻ không phục tùng sự thống trị của vương triều Chu. Còn Bá Cầm 伯禽con của Chu Công, do bởi Chu Công lập được đại công, nên đã được đặc ân sử dụng “thiên tử lễ nhạc”.
              Chế độ lễ nhạc và điển chương văn vật do Chu Công chế định ra, đã khiến cho giai cấp thống trị các cấp có được đặc quyền quốc vương ban cho đồng thời quy định nghĩa vụ nhất định mà họ phải thực hiện đối với vương triều Chu. Tất cả những điều này, ở đời sau đã có sự phát triển rất lớn. Sáng tác mà thác danh Chu Công, bộ Chu lễ 周礼, trên thực tế bắt đầu thành sách vào thời Chiến Quốc, có không ít chế độ là ở vào thời Xuân Thu, nhưng cũng là tư liệu quý báu bảo tồn được một số chế độ lễ nhạc và điển chương văn vật đầu đời Chu, là tư liệu tham khảo quan trọng cho chúng ta khi nghiên cứu về chế độ lễ nhạc và lịch sử đời Chu.

    Chú của người dịch
    1- Trong Tả truyện – Hi Công tứ niên 左传 - 僖公四年, câu này là:
    “Ngũ hầu cửu bá, nhữ thực chinh chi”
    五侯九伯, 女实征之
    (Ngũ hầu cửu bá, ông đều có thể chinh phạt họ)

                                                             Huỳnh Chương Hưng
                                                             Quy Nhơn 15/10/2018

    Nguyên tác Trung văn
    CHU CÔNG CHẾ LỄ TÁC NHẠC
    周公制礼作乐
    Trong quyển
     TÂY CHU SỬ THOẠI
    西周史话
    Tác giả: Vương Vũ Tín 王宇信
    Trung Quốc quốc tế quảng bá xuất bản xã, 2007

    Chủ Nhật, 14 tháng 10, 2018


    LAI LỊCH VÀ ĐIỂN CỐ TỤC GIEO CẦU KÉN RỂ

    Phương thức gieo cầu kén rể tuy trong cuộc sống hiện thực thời cổ không hề tồn tại, nhưng những miêu tả về tình tiết này vẫn có căn cứ nhất định. Theo truyền thuyết, tục gieo cầu có liên quan đến tập tục của dân tộc Tráng (Choang). Từ 2000 năm trước, trên bích hoạ Hoa sơn 花山đã vẽ một loại binh khí cổ được làm từ kim loại đồng gọi là “phi đà” 飞砣. Loại binh khí này đa phần dùng trong săn bắn, có thể ném trúng thú săn ở một cự li nhất định. Theo sự phát triển của lịch sử, loại binh khí nguyên thuỷ này dần rút lui khỏi vũ đài lịch sử, nhưng người ta đã dùng “phi đà” để đặt tên cho một loại tú cầu. Thời Tống, trò chơi ném và nhận cầu là phương thức biểu đạt ái tình của nam nữ thanh niên dân tộc Tráng. Trong Khê Man tùng tiếu 溪蛮丛笑của thi nhân đời Tống là Chu Phụ 朱辅có nói, phong tục địa phương này vào ngày cuối năm, nam nữ kết bạn chia làm 2 nhóm ra chơi ngoài đồng, mỗi nhóm dùng túi ngũ sắc ném nhận qua lại, gọi là “phi đà”. Quả cầu ngũ sắc này loại thường thấy nhất có hình tròn, cũng có loại hình bầu dục, hình củ ấu, nó to bằng nắm tay, bên trong đựng đầy vật, trên dưới hai đầu có gắn những sợi dây màu và những dây tua màu đỏ, khi ném, dây màu dây tua bay phất phới rất đẹp mắt. Quả cầu này chính là hình thức ban đầu của quả tú cầu.
              Đến nay, tập tục gieo cầu vẫn còn được lưu truyền rộng rãi ở khu vực Quảng Tây. Mỗi khi nam nữ thanh niên yêu nhau muốn biểu đạt tình ý, họ liền dùng cách gieo cầu để chọn người hợp ý. Trên đồng cỏ vui chơi ca hát, nam nữ thanh niên dân tộc Tráng chia thành đội ngũ, hát đối đáp những bài hát dân gian để tìm đối tượng. Có được đối tượng hợp ý, các cô gái sẽ dùng quả tú cầu được may từ vải hoa ném vào chàng trai mình yêu thích. Nếu chàng trai không bằng lòng, sẽ gắn tặng vật vào quả tú cầu rồi ném lại cho cô gái đó. Ném qua ném lại, đôi nam nữ thanh niên nào tâm đầu ý hợp sẽ định việc chung thân đại sự.
              Ngày nay tại các nước như Việt Nam, Myanmar, Thái Lan và khu vực một bộ phận Mexico ở Nam Mĩ, người dân nơi đó cũng có phong tục làm tú cầu, xem tú cầu là vật cát tường để tặng cho bạn bè thân hữu. Tú cầu của người Mexico tương đối nhỏ, màu sắc rực rỡ, chế tác tinh xảo. Mỗi khi lễ tết hoặc có khách quý đến chơi, người Mexico hiếu khách sẽ tặng cho khách hoặc bậc trưởng bối quả tú cầu, đại biểu cho cát tường như ý. Cư dân Thái Lan xem tú cầu là thế thân của Phật, họ cho rằng thường mang theo bên mình sẽ có công hiệu trừ tà, làm cho thân thể khang kiện.

    Phong tục của Quảng Tây
              Về quả tú cầu, tại vùng dân tộc Tráng lưu truyền một truyền thuyết đẹp.
              Hơn 800 năm trước, tại một làng nhỏ ở cựu châu Cổ Trấn Hạ 古镇下huyện Tĩnh Tây 靖西có một gia đình nghèo. Người con trai tên A Đệ 阿弟 yêu nàng A Tú 阿秀ở làng bên cạnh. A Tú xinh đẹp, tính tình lương thiện, cũng yêu anh chàng A Đệ chân thành, siêng năng, dũng cảm. Mùa xuân một năm nọ, A Tú đang đi trên bờ đê, tên thiếu niên hung ác vừa có tiền vừa có thế ở trấn Thượng trông thấy muốn cưới A Tú làm vợ. A Tú lấy cái chết ra uy hiếp, kiên quyết không chịu. Khi tên thiếu niên hung ác biết được A Tú đã yêu A Đệ ở làng bên, để A Tú không còn hi vọng, tên thiếu niên đó đã hối lộ quan phủ, lấy tội danh “mạc tu hữu” 莫须有 (không cần có) bắt A Đệ giam vào ngục, đồng thời phán xử tội chết, đợi sang thu sẽ chém. A Tú sau khi nghe được tin, như giữa trời quang bỗng nhiên nổ sấm, cả ngày nước mắt đầm đìa, khóc đến nỗi đôi mắt bị mù. Tuy đôi mắt đã mù, nhưng A Tú bắt đầu từng mũi kim từng sợi chi  may quả cầu cho A Đệ đang đợi ngày xử chém. Kim đâm vào tay A Tú, máu nhỏ thấm quả cầu. Bị máu thấm vào, hoa trên quả cầu càng đẹp hơn, lá càng xanh hơn, chim chóc càng sống động hơn. Trải qua chín chín 81 ngày tràn đầy lòng yêu thương của A Tú đối với A Đệ, quả cầu thấm máu đã làm xong. A Tú bán hết đồ trang sức của mình, mua chuộc tên ngục tốt. Người nhà đưa A Tú đến lao ngục. Trong ngục tối tăm ẩm thấp, khi A Tú sờ soạn tìm A Đệ, người mà mình ngày đêm mong nhớ, gặp phải A Đệ gầy như que củi, A Tú tuyệt vọng, lấy quả tú cầu mò mẫm đeo lên cổ A Đệ. Lúc bấy giờ, chỉ thấy một luồng ánh sáng, A Tú, A Đệ và người nhà bỗng nhẹ nhàng bay lên, bay đến một chân núi xinh đẹp trù phú, xa nơi ác quỷ. Về sau, A Tú và A Đệ kết hôn, sinh được một trai một gái, họ dựa vào đôi tay của mình chăm chỉ làm việc sống một đời hạnh phúc. Và thế là một đồn mười, mười đồn trăm, tú cầu dần trở thành vật cát tường của dân làng người Tráng, trở thành tín vật tình yêu của nam nữ thanh niên người Tráng, về sau có những hoạt động dân gian như quăng tú cầu, sư tử hí cầu v.v...
              Đến nay dân tục “phao tú cầu” 抛绣球 (ném tú cầu) này vì sao lại mất đi? (kì thực nó không hoàn toàn biến mất), có lẽ hành vi tìm phối ngẫu kiểu này, cũng giống như “tỉ võ chiêu thân” 比武招亲 (tỉ thí võ để lấy vợ), là một hành vi tương đối cực đoan, có tính ngẫu nhiên vượt trội, xã hội phong kiến thời cổ chú trọng “phụ mẫu chi mệnh, môi chước chi ngôn” 父母之命媒妁之言 ( việc hôn nhân do cha mẹ làm chủ, và theo lời giới thiệu của bà mai), hôn nhân chủ lưu không được sơ sài qua loa, cho nên, phương pháp tìm phối ngẫu kiểu này không được xã hội phong kiến tiếp nhận, cuối cùng không trở thành dân tục chủ lưu cho nên dần biến mất.
              Trong Tây du kí 西游记, mẹ của Đường Tăng gieo tú cầu, và trong truyện Mại du lang độc chiếm hoa khôi 卖油郎独占花魁 (anh chàng bán dầu độc chiếm hoa khôi) (1) v.v.. kì thực đều là tác phẩm văn học, tồn tại nghệ thuật khoa trương, không phải là phương thức thành thân chủ yếu trong xã hội phong kiến.

    Chú của người dịch
    1- Mại du lang độc chiếm hoa khôi 卖油郎独占花魁  trong quyển Tỉnh thế hằng ngôn 醒世恒言của Phùng Mộng Long 冯梦龙.

                                                                    Huỳnh Chương Hưng
                                                                    Quy Nhơn 14/10/2018

    Dịch thuật: Lai lịch và điển cố tục gieo cầu kén rể

    Đăng lúc  19:46  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »


    LAI LỊCH VÀ ĐIỂN CỐ TỤC GIEO CẦU KÉN RỂ

    Phương thức gieo cầu kén rể tuy trong cuộc sống hiện thực thời cổ không hề tồn tại, nhưng những miêu tả về tình tiết này vẫn có căn cứ nhất định. Theo truyền thuyết, tục gieo cầu có liên quan đến tập tục của dân tộc Tráng (Choang). Từ 2000 năm trước, trên bích hoạ Hoa sơn 花山đã vẽ một loại binh khí cổ được làm từ kim loại đồng gọi là “phi đà” 飞砣. Loại binh khí này đa phần dùng trong săn bắn, có thể ném trúng thú săn ở một cự li nhất định. Theo sự phát triển của lịch sử, loại binh khí nguyên thuỷ này dần rút lui khỏi vũ đài lịch sử, nhưng người ta đã dùng “phi đà” để đặt tên cho một loại tú cầu. Thời Tống, trò chơi ném và nhận cầu là phương thức biểu đạt ái tình của nam nữ thanh niên dân tộc Tráng. Trong Khê Man tùng tiếu 溪蛮丛笑của thi nhân đời Tống là Chu Phụ 朱辅có nói, phong tục địa phương này vào ngày cuối năm, nam nữ kết bạn chia làm 2 nhóm ra chơi ngoài đồng, mỗi nhóm dùng túi ngũ sắc ném nhận qua lại, gọi là “phi đà”. Quả cầu ngũ sắc này loại thường thấy nhất có hình tròn, cũng có loại hình bầu dục, hình củ ấu, nó to bằng nắm tay, bên trong đựng đầy vật, trên dưới hai đầu có gắn những sợi dây màu và những dây tua màu đỏ, khi ném, dây màu dây tua bay phất phới rất đẹp mắt. Quả cầu này chính là hình thức ban đầu của quả tú cầu.
              Đến nay, tập tục gieo cầu vẫn còn được lưu truyền rộng rãi ở khu vực Quảng Tây. Mỗi khi nam nữ thanh niên yêu nhau muốn biểu đạt tình ý, họ liền dùng cách gieo cầu để chọn người hợp ý. Trên đồng cỏ vui chơi ca hát, nam nữ thanh niên dân tộc Tráng chia thành đội ngũ, hát đối đáp những bài hát dân gian để tìm đối tượng. Có được đối tượng hợp ý, các cô gái sẽ dùng quả tú cầu được may từ vải hoa ném vào chàng trai mình yêu thích. Nếu chàng trai không bằng lòng, sẽ gắn tặng vật vào quả tú cầu rồi ném lại cho cô gái đó. Ném qua ném lại, đôi nam nữ thanh niên nào tâm đầu ý hợp sẽ định việc chung thân đại sự.
              Ngày nay tại các nước như Việt Nam, Myanmar, Thái Lan và khu vực một bộ phận Mexico ở Nam Mĩ, người dân nơi đó cũng có phong tục làm tú cầu, xem tú cầu là vật cát tường để tặng cho bạn bè thân hữu. Tú cầu của người Mexico tương đối nhỏ, màu sắc rực rỡ, chế tác tinh xảo. Mỗi khi lễ tết hoặc có khách quý đến chơi, người Mexico hiếu khách sẽ tặng cho khách hoặc bậc trưởng bối quả tú cầu, đại biểu cho cát tường như ý. Cư dân Thái Lan xem tú cầu là thế thân của Phật, họ cho rằng thường mang theo bên mình sẽ có công hiệu trừ tà, làm cho thân thể khang kiện.

    Phong tục của Quảng Tây
              Về quả tú cầu, tại vùng dân tộc Tráng lưu truyền một truyền thuyết đẹp.
              Hơn 800 năm trước, tại một làng nhỏ ở cựu châu Cổ Trấn Hạ 古镇下huyện Tĩnh Tây 靖西có một gia đình nghèo. Người con trai tên A Đệ 阿弟 yêu nàng A Tú 阿秀ở làng bên cạnh. A Tú xinh đẹp, tính tình lương thiện, cũng yêu anh chàng A Đệ chân thành, siêng năng, dũng cảm. Mùa xuân một năm nọ, A Tú đang đi trên bờ đê, tên thiếu niên hung ác vừa có tiền vừa có thế ở trấn Thượng trông thấy muốn cưới A Tú làm vợ. A Tú lấy cái chết ra uy hiếp, kiên quyết không chịu. Khi tên thiếu niên hung ác biết được A Tú đã yêu A Đệ ở làng bên, để A Tú không còn hi vọng, tên thiếu niên đó đã hối lộ quan phủ, lấy tội danh “mạc tu hữu” 莫须有 (không cần có) bắt A Đệ giam vào ngục, đồng thời phán xử tội chết, đợi sang thu sẽ chém. A Tú sau khi nghe được tin, như giữa trời quang bỗng nhiên nổ sấm, cả ngày nước mắt đầm đìa, khóc đến nỗi đôi mắt bị mù. Tuy đôi mắt đã mù, nhưng A Tú bắt đầu từng mũi kim từng sợi chi  may quả cầu cho A Đệ đang đợi ngày xử chém. Kim đâm vào tay A Tú, máu nhỏ thấm quả cầu. Bị máu thấm vào, hoa trên quả cầu càng đẹp hơn, lá càng xanh hơn, chim chóc càng sống động hơn. Trải qua chín chín 81 ngày tràn đầy lòng yêu thương của A Tú đối với A Đệ, quả cầu thấm máu đã làm xong. A Tú bán hết đồ trang sức của mình, mua chuộc tên ngục tốt. Người nhà đưa A Tú đến lao ngục. Trong ngục tối tăm ẩm thấp, khi A Tú sờ soạn tìm A Đệ, người mà mình ngày đêm mong nhớ, gặp phải A Đệ gầy như que củi, A Tú tuyệt vọng, lấy quả tú cầu mò mẫm đeo lên cổ A Đệ. Lúc bấy giờ, chỉ thấy một luồng ánh sáng, A Tú, A Đệ và người nhà bỗng nhẹ nhàng bay lên, bay đến một chân núi xinh đẹp trù phú, xa nơi ác quỷ. Về sau, A Tú và A Đệ kết hôn, sinh được một trai một gái, họ dựa vào đôi tay của mình chăm chỉ làm việc sống một đời hạnh phúc. Và thế là một đồn mười, mười đồn trăm, tú cầu dần trở thành vật cát tường của dân làng người Tráng, trở thành tín vật tình yêu của nam nữ thanh niên người Tráng, về sau có những hoạt động dân gian như quăng tú cầu, sư tử hí cầu v.v...
              Đến nay dân tục “phao tú cầu” 抛绣球 (ném tú cầu) này vì sao lại mất đi? (kì thực nó không hoàn toàn biến mất), có lẽ hành vi tìm phối ngẫu kiểu này, cũng giống như “tỉ võ chiêu thân” 比武招亲 (tỉ thí võ để lấy vợ), là một hành vi tương đối cực đoan, có tính ngẫu nhiên vượt trội, xã hội phong kiến thời cổ chú trọng “phụ mẫu chi mệnh, môi chước chi ngôn” 父母之命媒妁之言 ( việc hôn nhân do cha mẹ làm chủ, và theo lời giới thiệu của bà mai), hôn nhân chủ lưu không được sơ sài qua loa, cho nên, phương pháp tìm phối ngẫu kiểu này không được xã hội phong kiến tiếp nhận, cuối cùng không trở thành dân tục chủ lưu cho nên dần biến mất.
              Trong Tây du kí 西游记, mẹ của Đường Tăng gieo tú cầu, và trong truyện Mại du lang độc chiếm hoa khôi 卖油郎独占花魁 (anh chàng bán dầu độc chiếm hoa khôi) (1) v.v.. kì thực đều là tác phẩm văn học, tồn tại nghệ thuật khoa trương, không phải là phương thức thành thân chủ yếu trong xã hội phong kiến.

    Chú của người dịch
    1- Mại du lang độc chiếm hoa khôi 卖油郎独占花魁  trong quyển Tỉnh thế hằng ngôn 醒世恒言của Phùng Mộng Long 冯梦龙.

                                                                    Huỳnh Chương Hưng
                                                                    Quy Nhơn 14/10/2018

    Thứ Bảy, 13 tháng 10, 2018



    遊子詩
    萱草生堂階
    遊子行天涯
    慈母倚堂門
    不見萱草花
                                                                         (孟郊)

    DU TỬ THI
    Huyên thảo sinh đường giai,
    Du tử hành thiên nhai.
    Từ mẫu ỷ đường môn,
    Bất kiến huyên thảo hoa.
                                                                         (Mạnh Giao)
    Dịch nghĩa
    DU TỬ THI
    Cỏ huyên mọc nơi thềm nhà,
    Con đi xa tận cuối chân trời.
    Mẹ tựa cửa nhà trông ngóng,
    Mà không thấy cỏ huyên trổ hoa.

    Dịch thơ.
    DU TỬ THI
    Bên thềm huyên thảo mọc,
    Con ở tận phương xa
    Mẹ ngóng trông tựa cửa,
    Không thấy huyên trổ hoa.

    Phụ lục của người dịch
    Mạnh Giao 孟郊 (751 – 814)
              Tự Đông Dã 东野, thi nhân thời Đường, người Vũ Khang 武康 Hồ Châu 湖州 (nay là huyện Đức Thanh 德清 tỉnh Triết Giang 浙江). Năm 46 tuổi mới đậu Tiến sĩ, từng nhậm các chức như Lật Dương Uý 溧阳尉, Hiệp luật Lang 协律郎. Mạnh Giao một đời nghèo khổ vất vả, nhưng không tuỳ tiện hợp cùng lưu tục. Tuy có Hàn Dũ 韩愈, Lí Quan 李观tán dương giúp đỡ, nhưng trước sau vẫn không thoát được cảnh cơ hàn đói rét, người đời gọi ông “Hàn toan Mạnh phu tử” 寒酸孟夫子. Năm 64 tuổi Mạnh Giao đến Nam Sơn tây đạo南山西道 nhậm chức quan, nhưng đi đến Văn Hương 阌乡 bị bệnh rồi qua đời.
    Thơ của Mạnh Giao hiện tồn hơn 400 bài, trong đó tuyệt đại đa số là những tác phẩm thể hiện nỗi cùng sầu cô khổ. Có Mạnh Giao thi tập tiên chú 孟郊诗集笺注do Hác Thế Phong 郝世峰chú giải, nhà xuất bản Giáo dục Hà Bắc xuất bản năm 2002.
              (Theo Đường thi tam bách thủ 唐诗三百首, Nhiếp Xảo Bình 聂巧平chú dịch, Sùng văn thư cục, 2007)

                                                                   Huỳnh Chương Hưng
                                                                   Quy Nhơn 13/10/2018

    Dịch thuật: Du tử thi (Mạnh Giao)

    Đăng lúc  19:58  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »



    遊子詩
    萱草生堂階
    遊子行天涯
    慈母倚堂門
    不見萱草花
                                                                         (孟郊)

    DU TỬ THI
    Huyên thảo sinh đường giai,
    Du tử hành thiên nhai.
    Từ mẫu ỷ đường môn,
    Bất kiến huyên thảo hoa.
                                                                         (Mạnh Giao)
    Dịch nghĩa
    DU TỬ THI
    Cỏ huyên mọc nơi thềm nhà,
    Con đi xa tận cuối chân trời.
    Mẹ tựa cửa nhà trông ngóng,
    Mà không thấy cỏ huyên trổ hoa.

    Dịch thơ.
    DU TỬ THI
    Bên thềm huyên thảo mọc,
    Con ở tận phương xa
    Mẹ ngóng trông tựa cửa,
    Không thấy huyên trổ hoa.

    Phụ lục của người dịch
    Mạnh Giao 孟郊 (751 – 814)
              Tự Đông Dã 东野, thi nhân thời Đường, người Vũ Khang 武康 Hồ Châu 湖州 (nay là huyện Đức Thanh 德清 tỉnh Triết Giang 浙江). Năm 46 tuổi mới đậu Tiến sĩ, từng nhậm các chức như Lật Dương Uý 溧阳尉, Hiệp luật Lang 协律郎. Mạnh Giao một đời nghèo khổ vất vả, nhưng không tuỳ tiện hợp cùng lưu tục. Tuy có Hàn Dũ 韩愈, Lí Quan 李观tán dương giúp đỡ, nhưng trước sau vẫn không thoát được cảnh cơ hàn đói rét, người đời gọi ông “Hàn toan Mạnh phu tử” 寒酸孟夫子. Năm 64 tuổi Mạnh Giao đến Nam Sơn tây đạo南山西道 nhậm chức quan, nhưng đi đến Văn Hương 阌乡 bị bệnh rồi qua đời.
    Thơ của Mạnh Giao hiện tồn hơn 400 bài, trong đó tuyệt đại đa số là những tác phẩm thể hiện nỗi cùng sầu cô khổ. Có Mạnh Giao thi tập tiên chú 孟郊诗集笺注do Hác Thế Phong 郝世峰chú giải, nhà xuất bản Giáo dục Hà Bắc xuất bản năm 2002.
              (Theo Đường thi tam bách thủ 唐诗三百首, Nhiếp Xảo Bình 聂巧平chú dịch, Sùng văn thư cục, 2007)

                                                                   Huỳnh Chương Hưng
                                                                   Quy Nhơn 13/10/2018

    Thứ Sáu, 12 tháng 10, 2018

    VÌ SAO Ở TRUNG QUỐC HUYÊN THẢO
    LÀ LOÀI HOA ĐẠI BIỂU CHO MẸ

              Tháng 5 tết Mẹ (Mẫu thân tiết 母親節) nghinh đón hoa cẩm chướng, đa số các nước đều xem hoa cẩm chướng là loài hoa đại biểu cho tết Mẹ, dùng để biểu thị sự kính yêu và hoài niệm đối với mẹ. Kì thực, thời cổ ở Trung Quốc sớm đã có loài hoa đại biểu cho mẹ, đó là huyên thảo萱草 (hoa hiên). Huyên thảo tượng trưng cho tính ôn nhu, hàm súc, hiền lành, chất phác, kiên nhẫn và tinh thần dâng hiến hi sinh của nữ giới phương đông; trong sự điềm đạm đã phát tán ánh sáng về tình yêu thương của mẹ.
              Thế thì, tại sao “huyên thảo” ở Trung Quốc lại là loài hoa đại biểu cho mẹ? Huyên thảo, tục xưng là “hoàng hoa” 黄花, “hoàng hoa thái” 黄花菜, “kim châm” 金針, “kim châm hoa” 金針花, “kim châm thái” 金針菜, “nghi nam thảo” 宜男草. Hình dáng của hoa giống hoa bách hợp, màu vàng quýt hoặc vàng pha chút đỏ, không mùi, khi hoa chưa nở có thể hái làm món ăn, rễ của cây có thể dùng làm thuốc, nếu hoa đã nở thì dùng để thưởng thức.
              Theo Thuyết văn – Thảo bộ 說文 - 草部:
    Huyên, linh nhân vong ưu thảo dã. Hoặc tùng tuyên.
    , 令人忘憂草也. 或從宣.
    (Huyên là loại cỏ có thể khiến người ta quên đi ưu phiền. Hoặc viết với chữ “tuyên”)
              Chữ thời cổ đồng với chữ . Người xưa cho rằng lấy chồi non của loại cỏ này làm rau, ăn vào có thể khiến người ta như bị say, làm cho quên đi ưu phiền, cho nên cũng gọi là “vong ưu thảo” 忘憂草, “vong ưu vật” 忘憂物. Và trong Thái Bình ngự lãm – quyển cửu cửu lục 太平禦覽 - 卷九九六 dẫn lời ở Thuật dị kí 述異記của Lương Nhậm 梁任thời Nam Triều:
              Huyên thảo, nhất danh tử huyên, hựu hô viết vong ưu thảo, Ngô trung thư sinh hô vi liệu sầu hoa.
              萱草, 一名紫萱, 又呼曰忘憂草, 吳中書生呼為療愁花.
              (Huyên thảo còn có tên là tử huyên, cũng gọi là vong ưu thảo, thư sinh đất Ngô gọi nó là liệu sầu hoa.)
              Thời cổ, “huyên thảo” 萱草được viết là , có nghĩa là quên. Trong Thi kinh – Vệ phong – Bá hề 詩經 - 衛風 - 伯兮có ghi:
    Yên đắc huyên thảo,
     Ngôn thụ chi bối.
    焉得谖草,
    言树之背.
    (Làm sao có được cây cỏ huyên,
    Trồng nó ở nhà phía bắc.)
         Trong Mao truyện 毛傳ghi rằng:
    Huyên thảo linh nhân vong ưu; bối, bắc đường dã.
    萱草令人忘憂; , 北堂也.
    (Huyên thảo làm cho người ta quên đi ưu phiền; bối là nhà phía bắc.)
              Theo Thích văn 釋文, chữ vốn viết là , về sau “thụ huyên” 樹萱(trồng cỏ huyên) trở thành từ với nghĩa là quên ưu phiền. Như Lí Bạch 李白trong bài Tống Lỗ quận Lưu Trưởng sử thiên Hoằng Nông Trưởng sử 送魯郡劉長史遷弘農長史đã viết:
    Thác âm đương thụ lí,
    Vong ưu đương thụ huyên.
    託陰當樹李,
    忘憂當樹萱.
    Muốn nhờ bóng mát nên trồng cây lí,
    Muốn quên ưu phiền nên trồng cỏ huyên.
              Bắc đường 北堂 chỉ phía sau căn phòng phía đông, là nơi phụ nữ giặt rửa, như trong Nghi lễ - Sĩ hôn lễ 儀禮 - 士昏禮 có câu:
    Phụ tẩy tại bắc đường.
    婦洗在北堂
    (Phụ nữ giặt rửa tại bắc đường)
    Trịnh Huyền 鄭玄chú rằng:
    Bắc đường, phòng trung bán dĩ bắc.
    北堂, 房中半以北.
    (Bắc đường là nửa gian phòng ở về phía bắc)
    Cho nên mượn “bắc đường” để chỉ mẹ. Về sau dùng “huyên thảo” để chỉ nơi ở của mẹ, cũng mượn để ví mẹ. Bài thơ Bá hề trong Thi kinh thuật lại nỗi nhớ của người phụ nữ về người chồng viễn chinh, mong tìm được cỏ huyên để trồng ở bắc đường để quên đi nỗi ưu tư.
              Tương truyền vào cuối đời Tuỳ, Đường Thái Tông Lí Thế Dân 李世民cùng phụ thân là Lí Uyên 李淵 nam chinh bắc chiến, mẫu thân của Lí Thế Dân vì nhớ con mà sinh bệnh. Lúc bấy giờ, đại phu đã dùng huyên thảo có tác dụng sáng mắt an thần, nấu lên cho bà dùng, đồng thời đem trồng nơi bắc đường để giải trừ nỗi âu lo.
              Sau này, người con khi đi xa sẽ trồng cỏ huyên ở bắc đường, hi vọng mẹ sẽ giảm được nỗi nhớ con mà quên đi ưu phiền. Nhân đó “bắc đường thụ huyên” 北堂樹萱 (trồng cỏ huyên ở bắc đường) có thể làm cho người ta quên đi sầu muộn, dẫn đến ý nghĩa tình mẫu tử. Như Mạnh Giao 孟郊 - thi nhân thời Đường trong bài Du tử 遊子có viết:
    Huyên thảo sinh đường giai,
    Du tử hành thiên nhai.
    Từ mẫu ỷ đường môn,
    Bất kiến huyên thảo hoa.
    萱草生堂階,
    遊子行天涯.
    慈母倚堂門,
    不見萱草花.
    (Cỏ huyên mọc nơi thềm nhà,
    Con đi xa tận cuối chân trời.
    Mẹ tựa cửa nhà trông ngóng,
    Mà không thấy cỏ huyên trổ hoa)
              Bài thơ mượn cảnh ngụ tình, bộc lộ sâu sắc tình cảm hàm súc giữa mẹ với con, khiến người đọc cảm động. Và thế là ở Trung Quốc, huyên thảo trở thành loài hoa đại biểu cho mẹ.

                                                                Huỳnh Chương Hưng
                                                                Quy Nhơn 12/10/2018



    Dịch thuật: Vì sao ở Trung Quốc huyên thảo là loài hoa đại biểu cho mẹ

    Đăng lúc  21:37  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    VÌ SAO Ở TRUNG QUỐC HUYÊN THẢO
    LÀ LOÀI HOA ĐẠI BIỂU CHO MẸ

              Tháng 5 tết Mẹ (Mẫu thân tiết 母親節) nghinh đón hoa cẩm chướng, đa số các nước đều xem hoa cẩm chướng là loài hoa đại biểu cho tết Mẹ, dùng để biểu thị sự kính yêu và hoài niệm đối với mẹ. Kì thực, thời cổ ở Trung Quốc sớm đã có loài hoa đại biểu cho mẹ, đó là huyên thảo萱草 (hoa hiên). Huyên thảo tượng trưng cho tính ôn nhu, hàm súc, hiền lành, chất phác, kiên nhẫn và tinh thần dâng hiến hi sinh của nữ giới phương đông; trong sự điềm đạm đã phát tán ánh sáng về tình yêu thương của mẹ.
              Thế thì, tại sao “huyên thảo” ở Trung Quốc lại là loài hoa đại biểu cho mẹ? Huyên thảo, tục xưng là “hoàng hoa” 黄花, “hoàng hoa thái” 黄花菜, “kim châm” 金針, “kim châm hoa” 金針花, “kim châm thái” 金針菜, “nghi nam thảo” 宜男草. Hình dáng của hoa giống hoa bách hợp, màu vàng quýt hoặc vàng pha chút đỏ, không mùi, khi hoa chưa nở có thể hái làm món ăn, rễ của cây có thể dùng làm thuốc, nếu hoa đã nở thì dùng để thưởng thức.
              Theo Thuyết văn – Thảo bộ 說文 - 草部:
    Huyên, linh nhân vong ưu thảo dã. Hoặc tùng tuyên.
    , 令人忘憂草也. 或從宣.
    (Huyên là loại cỏ có thể khiến người ta quên đi ưu phiền. Hoặc viết với chữ “tuyên”)
              Chữ thời cổ đồng với chữ . Người xưa cho rằng lấy chồi non của loại cỏ này làm rau, ăn vào có thể khiến người ta như bị say, làm cho quên đi ưu phiền, cho nên cũng gọi là “vong ưu thảo” 忘憂草, “vong ưu vật” 忘憂物. Và trong Thái Bình ngự lãm – quyển cửu cửu lục 太平禦覽 - 卷九九六 dẫn lời ở Thuật dị kí 述異記của Lương Nhậm 梁任thời Nam Triều:
              Huyên thảo, nhất danh tử huyên, hựu hô viết vong ưu thảo, Ngô trung thư sinh hô vi liệu sầu hoa.
              萱草, 一名紫萱, 又呼曰忘憂草, 吳中書生呼為療愁花.
              (Huyên thảo còn có tên là tử huyên, cũng gọi là vong ưu thảo, thư sinh đất Ngô gọi nó là liệu sầu hoa.)
              Thời cổ, “huyên thảo” 萱草được viết là , có nghĩa là quên. Trong Thi kinh – Vệ phong – Bá hề 詩經 - 衛風 - 伯兮có ghi:
    Yên đắc huyên thảo,
     Ngôn thụ chi bối.
    焉得谖草,
    言树之背.
    (Làm sao có được cây cỏ huyên,
    Trồng nó ở nhà phía bắc.)
         Trong Mao truyện 毛傳ghi rằng:
    Huyên thảo linh nhân vong ưu; bối, bắc đường dã.
    萱草令人忘憂; , 北堂也.
    (Huyên thảo làm cho người ta quên đi ưu phiền; bối là nhà phía bắc.)
              Theo Thích văn 釋文, chữ vốn viết là , về sau “thụ huyên” 樹萱(trồng cỏ huyên) trở thành từ với nghĩa là quên ưu phiền. Như Lí Bạch 李白trong bài Tống Lỗ quận Lưu Trưởng sử thiên Hoằng Nông Trưởng sử 送魯郡劉長史遷弘農長史đã viết:
    Thác âm đương thụ lí,
    Vong ưu đương thụ huyên.
    託陰當樹李,
    忘憂當樹萱.
    Muốn nhờ bóng mát nên trồng cây lí,
    Muốn quên ưu phiền nên trồng cỏ huyên.
              Bắc đường 北堂 chỉ phía sau căn phòng phía đông, là nơi phụ nữ giặt rửa, như trong Nghi lễ - Sĩ hôn lễ 儀禮 - 士昏禮 có câu:
    Phụ tẩy tại bắc đường.
    婦洗在北堂
    (Phụ nữ giặt rửa tại bắc đường)
    Trịnh Huyền 鄭玄chú rằng:
    Bắc đường, phòng trung bán dĩ bắc.
    北堂, 房中半以北.
    (Bắc đường là nửa gian phòng ở về phía bắc)
    Cho nên mượn “bắc đường” để chỉ mẹ. Về sau dùng “huyên thảo” để chỉ nơi ở của mẹ, cũng mượn để ví mẹ. Bài thơ Bá hề trong Thi kinh thuật lại nỗi nhớ của người phụ nữ về người chồng viễn chinh, mong tìm được cỏ huyên để trồng ở bắc đường để quên đi nỗi ưu tư.
              Tương truyền vào cuối đời Tuỳ, Đường Thái Tông Lí Thế Dân 李世民cùng phụ thân là Lí Uyên 李淵 nam chinh bắc chiến, mẫu thân của Lí Thế Dân vì nhớ con mà sinh bệnh. Lúc bấy giờ, đại phu đã dùng huyên thảo có tác dụng sáng mắt an thần, nấu lên cho bà dùng, đồng thời đem trồng nơi bắc đường để giải trừ nỗi âu lo.
              Sau này, người con khi đi xa sẽ trồng cỏ huyên ở bắc đường, hi vọng mẹ sẽ giảm được nỗi nhớ con mà quên đi ưu phiền. Nhân đó “bắc đường thụ huyên” 北堂樹萱 (trồng cỏ huyên ở bắc đường) có thể làm cho người ta quên đi sầu muộn, dẫn đến ý nghĩa tình mẫu tử. Như Mạnh Giao 孟郊 - thi nhân thời Đường trong bài Du tử 遊子có viết:
    Huyên thảo sinh đường giai,
    Du tử hành thiên nhai.
    Từ mẫu ỷ đường môn,
    Bất kiến huyên thảo hoa.
    萱草生堂階,
    遊子行天涯.
    慈母倚堂門,
    不見萱草花.
    (Cỏ huyên mọc nơi thềm nhà,
    Con đi xa tận cuối chân trời.
    Mẹ tựa cửa nhà trông ngóng,
    Mà không thấy cỏ huyên trổ hoa)
              Bài thơ mượn cảnh ngụ tình, bộc lộ sâu sắc tình cảm hàm súc giữa mẹ với con, khiến người đọc cảm động. Và thế là ở Trung Quốc, huyên thảo trở thành loài hoa đại biểu cho mẹ.

                                                                Huỳnh Chương Hưng
                                                                Quy Nhơn 12/10/2018



    Thứ Năm, 11 tháng 10, 2018


    Ở TRUNG QUỐC VĂN QUAN VÕ TƯỚNG
    ĐƯỢC PHÂN CHIA RA TỪ KHI NÀO

              Sự thay đổi trọng đại của thể chế một quốc gia là việc phân chia văn võ, đó là kết quả tự nhiên của sự phát triển về chính trị, xã hội, quân sự. Quan viên văn võ phân chia ra là chỉ võ tướng có chuyên môn chỉ huy tác chiến, văn quan không tác chiến, giới sử học đều cho là như thế. Nhưng, đối với thời gian phân chia cụ thể thì quan điểm có khác nhau.
              Trong Sử kí 史记, Hoài Nam Tử 淮南子 có nói, thời Hoàng Đế đã thiết lập chức quan  thủ lĩnh quân sự là “Tư mã” 司马. Trong Kim văn thông điển – Nghiêu điển 今文通典 - 尧典thì nói, vương triều Hạ thiết lập chức quan văn võ “Tư đồ 司徒, Tư mã 司马, Tư không 司空”. Trong Thượng thư – Hồng phạm 尚书 - 洪范 lại nói, vương triều Thương có văn võ bách quan “Tư đồ 司徒, Tư không 司空, Tư khấu 司寇” và “mã , á , xạ , nhung , vệ ”. Nhìn từ những điển tịch cổ nói trên, thể chế từ triều Hạ triều Thương cho mãi đến triều Tây Chu, tuy văn quan võ chức đã chia môn loại mà thiết lập, nhưng khanh, đại phu vừa quản lí chính sự, vừa nhận vương mệnh dẫn quân xuất chinh, Tư mã chỉ chủ quản hành chính quân sự thời bình, mà không có quyền thống lĩnh quân đội, lúc chiến tranh người thống suất do thiên tử lâm thời nhậm mệnh, kết thúc chinh chiến đem quyền thống lĩnh quân đội  giao lại cho thiên tử. Căn cứ những điều trình bày ở trên, văn quan võ tướng trước thời Tây Chu là không phân chia.
              Nhưng vào thời Xuân Thu, Chu vương thất suy yếu, các chư hầu đều có quân đội riêng, theo ghi chép trong Sử kí 史记, Quốc ngữ 国语, thống suất tối cao của quân đội là quốc quân, thiên tử thường đích thân dẫn quân tác chiến, cũng có không ít văn quan võ tướng lãnh binh tác chiến. Như trong Tả truyện - Ẩn Công ngũ niên 左传 - 隐公五年có nói, năm Chu Hoàn Vương 周桓王thứ 2, trận chiến ở Bắc Chế 北制, Trịnh Trang Công 郑庄公phái Đại phu Trái Túc 祭足 (1), Nguyên Phồn 原繁, Tiết Giá 泄驾, Công tử bá 公子伯và Tử Nguyên 子元thống lĩnh quân đội đánh quân Yên, mà lúc bấy giờ quan Đại phu là văn võ nhất thể. Và cũng trong Tả truyện – Hi Công nhị thập nhị niên 左传 - 僖公二十二年có nói, năm Chu Tương Vương 周襄王 thứ 14, trận chiến ở Hoằng thuỷ 泓水giữa Tống với Sở, Tống Tương Công thống suất quân Tống, Thái tể Tử Ngư 宰鱼và Đại tư mã Công Tôn Cố 公孙固phụ trợ, Sở Vương phái Thành Đắc Thần 成得臣, Đấu Bột 斗勃 thống suất quân Sở. Cũng trong Tả truyện – Chiêu Công nhị thập thất niên 左传 - 昭公二十七年 nói rằng, Sở Chiêu Vương 楚昭王nguyên niên, quân Ngô bao vây Tiềm Thành 潜城, Sở Vương phái Vương Mi 王麋 (chủ quản cung đình), Vương Doãn Thọ 王尹寿 (chủ quản doanh tạo, thủ công nghệ), thống suất cứu binh đi tăng viện. Những sử thực rõ ràng trong Tả truyện đã chứng minh văn quan võ tướng mãi đến thời Xuân Thu cũng chưa phân chia.
              Thời Chiến Quốc, giai cấp địa chủ nổi lên, từng bước nắm giữ chính quyền. Do bởi trước đó không phân chia văn võ quan viên, nên khanh, đại phu ... quý tộc thời bình quản lí chính vụ, thời chiến thống lĩnh quân đội tác chiến, tập trung quyền lực chính trị quân sự vào một người dẫn đến tệ đoan quân quyền rơi vào tay người bên cạnh, thế là giai cấp thống trị dùng biện pháp phân chức văn võ, lấy “tướng” (bên văn) “tướng” (bên võ) đứng đầu bách quan. Như vậy, thể chế chuyên chế quân chủ phong kiến mấy ngàn năm đã được xác lập, những ghi chép tương tự còn có thể thấy ở Uý Liêu Tử - Vương bá thiên 尉缭子 - 王霸篇, Lã Thị Xuân Thu – Cử nan thiên 吕氏春秋 - 举难篇. Cho nên, thời Chiến Quốc mới xuất hiện tướng quân chuyên chức và hệ thống quân sự độc lập. Về điểm này đã được công nhận, đồng thời có ghi chép trong Trung Quốc quân sự sử 中国军事史, Trung Quốc chính trị chế độ sử 中国政治制度史.
              Thời Chiến Quốc, quy mô chiến tranh mở rộng, số lượng binh sĩ không ngừng tăng lên, chỉ huy quân đội trở thành một nghệ thuật. Chỉ huy một nhóm quân cần phải có tri thức chuyên môn về phương diện quân sự, có tài quản lí, có kinh nghiệm huấn luyện và chỉ huy tác chiến. Trong Hàn Phi tử - Hiển học 韩非子 - 显学có nói:
    Minh quân chi lại, Tể tướng tất khởi châu quận, mãnh tướng tất phát vu tốt ngũ. (2)
              明君之吏, 宰相必起州郡, 猛将必发于卒伍.
              (Với quan lại của minh chủ, thì Tể tướng tất nổi lên từ châu quận, mãnh tướng xuất phát từ quân đội.)
              Trong Sử kí 史记,  Lã Thị Xuân Thu – Dị bảo 吕氏春秋 - 异宝, có ghi chép là vào thời Chiến Quốc thủ tiêu chế độ phân phong, tiểu chuẩn để ban tước vị là ở thành quả tác chiến lớn hay nhỏ, nhiều tướng soái từ trong quân được tuyển chọn ra. Một số danh tướng như Ngô Khởi 吴起, Tôn Tẫn 孙膑, Nhạc Nghị 乐毅, Bạch Khởi 白起, Liêm Pha 廉颇... đều tuân theo nguyên tắc này mà được tuyển chọn. Đương thời, quản lí chính sự tại triều chỉ là văn quan, và họ cũng không thống lĩnh quân đội xuất chinh nữa. Ví dụ như, trận chiến Mã Lăng 马陵 và trận chiến Trường Bình 长平 nổi tiếng, Bàng Quyên 庞涓 thống suất quân Nguỵ, Điền Kị 田忌 (Tôn Tẫn 孙膑 là quân sư) thống suất quân Tề, Vương Hột 王齕 (sau là Bạch Khởi 白起) thống suất quân Tần, Liêm Pha 廉颇(sau là Triệu Quát 赵括) thống suất quân Triệu, họ đều là võ tướng chuyên chức.
              Tổng hợp những điều trình bày ở trên, nhìn chung giới sử học cho rằng, Chiến Quốc là thời kì cụ thể văn quan võ tướng phân chia ra, kéo dài mãi cho đến ngày nay. Nhưng, cũng có người cho rằng nó bắt đầu từ thời Xuân Thu. Như vậy rốt cuộc là vào thời nào, có lẽ đợi thêm những phát hiện khảo cổ mới có thể làm rõ.

    Chú của người dịch
    1- Trái Túc 祭足: theo https://baike.baidu.com/item ..., chữ bính âm là zhai (thanh thứ 4).
         Theo Khang Hi tự điển 康熙字典
         Chữ (bính âm zhai thanh thứ 4)
              Quảng vận 廣韻, Tập vận 集韻 phiên thiết là TRẮC GIÁI (GIỚI) 侧界.
              Vận hội 韻會, Chính vận 正韻  phiên thiết là TRẮC TRÁI 側債
    Đều có âm đọc là (TRÁI).  Tên ấp của Chu đại phu, và cũng là họ, Chu công tử Trái Bá 祭伯, đời sau lấy làm họ.
                               (trang 803, Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 2003)
              Như vậy tên nhân vật ở đây đọc là “Trái Túc”.
    2- Câu này trong Trung Quốc cổ đại văn hoá thường thức 中国古代文化常识của Vương Lực 王力, chương thứ 5: Chức quan 职官, ở chú số 1 là:
    Cố minh chủ chi lại, Tể tướng tất khởi vu châu bộ, mãnh tướng tất phát vu tốt ngũ.
              故明主之吏, 宰相必起于州部, 猛将必发于卒伍.
              (Cho nên với quan lại của minh chủ, thì Tể tướng tất nổi lên từ châu bộ, mãnh tướng xuất phát từ quân đội.)
              (trang 45, Trung Hoa nhân dân đại học xuất bản xã, 2015)

                                                           Huỳnh Chương Hưng
                                                           Quy Nhơn 11/10/2018

    Nguyên tác Trung văn
    TRUNG QUỐC VĂN QUAN VÕ TƯỚNG THỊ HÀ THỜI PHÂN KHAI ĐÍCH
     中国文官武将是何时分开的
    Trong quyển
    TRUNG QUỐC VỊ GIẢI CHI MÊ
    中国未解之谜
    Tác giả: Hải Tử 海子
    Trung Quốc Hoa Kiều xuất bản xã, 2013 

    Dịch thuật: Ở Trung Quốc văn quan võ tướng được phân chia ra từ lúc nào

    Đăng lúc  20:11  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »


    Ở TRUNG QUỐC VĂN QUAN VÕ TƯỚNG
    ĐƯỢC PHÂN CHIA RA TỪ KHI NÀO

              Sự thay đổi trọng đại của thể chế một quốc gia là việc phân chia văn võ, đó là kết quả tự nhiên của sự phát triển về chính trị, xã hội, quân sự. Quan viên văn võ phân chia ra là chỉ võ tướng có chuyên môn chỉ huy tác chiến, văn quan không tác chiến, giới sử học đều cho là như thế. Nhưng, đối với thời gian phân chia cụ thể thì quan điểm có khác nhau.
              Trong Sử kí 史记, Hoài Nam Tử 淮南子 có nói, thời Hoàng Đế đã thiết lập chức quan  thủ lĩnh quân sự là “Tư mã” 司马. Trong Kim văn thông điển – Nghiêu điển 今文通典 - 尧典thì nói, vương triều Hạ thiết lập chức quan văn võ “Tư đồ 司徒, Tư mã 司马, Tư không 司空”. Trong Thượng thư – Hồng phạm 尚书 - 洪范 lại nói, vương triều Thương có văn võ bách quan “Tư đồ 司徒, Tư không 司空, Tư khấu 司寇” và “mã , á , xạ , nhung , vệ ”. Nhìn từ những điển tịch cổ nói trên, thể chế từ triều Hạ triều Thương cho mãi đến triều Tây Chu, tuy văn quan võ chức đã chia môn loại mà thiết lập, nhưng khanh, đại phu vừa quản lí chính sự, vừa nhận vương mệnh dẫn quân xuất chinh, Tư mã chỉ chủ quản hành chính quân sự thời bình, mà không có quyền thống lĩnh quân đội, lúc chiến tranh người thống suất do thiên tử lâm thời nhậm mệnh, kết thúc chinh chiến đem quyền thống lĩnh quân đội  giao lại cho thiên tử. Căn cứ những điều trình bày ở trên, văn quan võ tướng trước thời Tây Chu là không phân chia.
              Nhưng vào thời Xuân Thu, Chu vương thất suy yếu, các chư hầu đều có quân đội riêng, theo ghi chép trong Sử kí 史记, Quốc ngữ 国语, thống suất tối cao của quân đội là quốc quân, thiên tử thường đích thân dẫn quân tác chiến, cũng có không ít văn quan võ tướng lãnh binh tác chiến. Như trong Tả truyện - Ẩn Công ngũ niên 左传 - 隐公五年có nói, năm Chu Hoàn Vương 周桓王thứ 2, trận chiến ở Bắc Chế 北制, Trịnh Trang Công 郑庄公phái Đại phu Trái Túc 祭足 (1), Nguyên Phồn 原繁, Tiết Giá 泄驾, Công tử bá 公子伯và Tử Nguyên 子元thống lĩnh quân đội đánh quân Yên, mà lúc bấy giờ quan Đại phu là văn võ nhất thể. Và cũng trong Tả truyện – Hi Công nhị thập nhị niên 左传 - 僖公二十二年có nói, năm Chu Tương Vương 周襄王 thứ 14, trận chiến ở Hoằng thuỷ 泓水giữa Tống với Sở, Tống Tương Công thống suất quân Tống, Thái tể Tử Ngư 宰鱼và Đại tư mã Công Tôn Cố 公孙固phụ trợ, Sở Vương phái Thành Đắc Thần 成得臣, Đấu Bột 斗勃 thống suất quân Sở. Cũng trong Tả truyện – Chiêu Công nhị thập thất niên 左传 - 昭公二十七年 nói rằng, Sở Chiêu Vương 楚昭王nguyên niên, quân Ngô bao vây Tiềm Thành 潜城, Sở Vương phái Vương Mi 王麋 (chủ quản cung đình), Vương Doãn Thọ 王尹寿 (chủ quản doanh tạo, thủ công nghệ), thống suất cứu binh đi tăng viện. Những sử thực rõ ràng trong Tả truyện đã chứng minh văn quan võ tướng mãi đến thời Xuân Thu cũng chưa phân chia.
              Thời Chiến Quốc, giai cấp địa chủ nổi lên, từng bước nắm giữ chính quyền. Do bởi trước đó không phân chia văn võ quan viên, nên khanh, đại phu ... quý tộc thời bình quản lí chính vụ, thời chiến thống lĩnh quân đội tác chiến, tập trung quyền lực chính trị quân sự vào một người dẫn đến tệ đoan quân quyền rơi vào tay người bên cạnh, thế là giai cấp thống trị dùng biện pháp phân chức văn võ, lấy “tướng” (bên văn) “tướng” (bên võ) đứng đầu bách quan. Như vậy, thể chế chuyên chế quân chủ phong kiến mấy ngàn năm đã được xác lập, những ghi chép tương tự còn có thể thấy ở Uý Liêu Tử - Vương bá thiên 尉缭子 - 王霸篇, Lã Thị Xuân Thu – Cử nan thiên 吕氏春秋 - 举难篇. Cho nên, thời Chiến Quốc mới xuất hiện tướng quân chuyên chức và hệ thống quân sự độc lập. Về điểm này đã được công nhận, đồng thời có ghi chép trong Trung Quốc quân sự sử 中国军事史, Trung Quốc chính trị chế độ sử 中国政治制度史.
              Thời Chiến Quốc, quy mô chiến tranh mở rộng, số lượng binh sĩ không ngừng tăng lên, chỉ huy quân đội trở thành một nghệ thuật. Chỉ huy một nhóm quân cần phải có tri thức chuyên môn về phương diện quân sự, có tài quản lí, có kinh nghiệm huấn luyện và chỉ huy tác chiến. Trong Hàn Phi tử - Hiển học 韩非子 - 显学có nói:
    Minh quân chi lại, Tể tướng tất khởi châu quận, mãnh tướng tất phát vu tốt ngũ. (2)
              明君之吏, 宰相必起州郡, 猛将必发于卒伍.
              (Với quan lại của minh chủ, thì Tể tướng tất nổi lên từ châu quận, mãnh tướng xuất phát từ quân đội.)
              Trong Sử kí 史记,  Lã Thị Xuân Thu – Dị bảo 吕氏春秋 - 异宝, có ghi chép là vào thời Chiến Quốc thủ tiêu chế độ phân phong, tiểu chuẩn để ban tước vị là ở thành quả tác chiến lớn hay nhỏ, nhiều tướng soái từ trong quân được tuyển chọn ra. Một số danh tướng như Ngô Khởi 吴起, Tôn Tẫn 孙膑, Nhạc Nghị 乐毅, Bạch Khởi 白起, Liêm Pha 廉颇... đều tuân theo nguyên tắc này mà được tuyển chọn. Đương thời, quản lí chính sự tại triều chỉ là văn quan, và họ cũng không thống lĩnh quân đội xuất chinh nữa. Ví dụ như, trận chiến Mã Lăng 马陵 và trận chiến Trường Bình 长平 nổi tiếng, Bàng Quyên 庞涓 thống suất quân Nguỵ, Điền Kị 田忌 (Tôn Tẫn 孙膑 là quân sư) thống suất quân Tề, Vương Hột 王齕 (sau là Bạch Khởi 白起) thống suất quân Tần, Liêm Pha 廉颇(sau là Triệu Quát 赵括) thống suất quân Triệu, họ đều là võ tướng chuyên chức.
              Tổng hợp những điều trình bày ở trên, nhìn chung giới sử học cho rằng, Chiến Quốc là thời kì cụ thể văn quan võ tướng phân chia ra, kéo dài mãi cho đến ngày nay. Nhưng, cũng có người cho rằng nó bắt đầu từ thời Xuân Thu. Như vậy rốt cuộc là vào thời nào, có lẽ đợi thêm những phát hiện khảo cổ mới có thể làm rõ.

    Chú của người dịch
    1- Trái Túc 祭足: theo https://baike.baidu.com/item ..., chữ bính âm là zhai (thanh thứ 4).
         Theo Khang Hi tự điển 康熙字典
         Chữ (bính âm zhai thanh thứ 4)
              Quảng vận 廣韻, Tập vận 集韻 phiên thiết là TRẮC GIÁI (GIỚI) 侧界.
              Vận hội 韻會, Chính vận 正韻  phiên thiết là TRẮC TRÁI 側債
    Đều có âm đọc là (TRÁI).  Tên ấp của Chu đại phu, và cũng là họ, Chu công tử Trái Bá 祭伯, đời sau lấy làm họ.
                               (trang 803, Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 2003)
              Như vậy tên nhân vật ở đây đọc là “Trái Túc”.
    2- Câu này trong Trung Quốc cổ đại văn hoá thường thức 中国古代文化常识của Vương Lực 王力, chương thứ 5: Chức quan 职官, ở chú số 1 là:
    Cố minh chủ chi lại, Tể tướng tất khởi vu châu bộ, mãnh tướng tất phát vu tốt ngũ.
              故明主之吏, 宰相必起于州部, 猛将必发于卒伍.
              (Cho nên với quan lại của minh chủ, thì Tể tướng tất nổi lên từ châu bộ, mãnh tướng xuất phát từ quân đội.)
              (trang 45, Trung Hoa nhân dân đại học xuất bản xã, 2015)

                                                           Huỳnh Chương Hưng
                                                           Quy Nhơn 11/10/2018

    Nguyên tác Trung văn
    TRUNG QUỐC VĂN QUAN VÕ TƯỚNG THỊ HÀ THỜI PHÂN KHAI ĐÍCH
     中国文官武将是何时分开的
    Trong quyển
    TRUNG QUỐC VỊ GIẢI CHI MÊ
    中国未解之谜
    Tác giả: Hải Tử 海子
    Trung Quốc Hoa Kiều xuất bản xã, 2013 

    Thứ Tư, 10 tháng 10, 2018

    TẾ LIỄU DOANH
    (tiếp theo)

              Chu Á Phu tập kết quân đội tại Huỳnh Dương 荥阳. Đương thời, quân Ngô đang đánh nước Lương, nước Lương vô cùng nguy cấp, xin Chu Á Phu phái binh cứu viện. Nhưng Chu Á Phu lại dẫn binh tiến phát về hướng đông bắc, đào hào đắp thành tại Xương Ấp 昌邑 (phía tây bắc huyện Kim Hương 金乡Sơn Đông 山东), tạo nên một trận địa phòng ngự kiên cố, chuẩn bị kiên thủ. Nước Lương ngày ngày phái sử giả đi thỉnh cầu phát binh, Chu Á Phu theo sách lược đã định, không đồng ý. Nhân đó Lương Vương dâng thư lên Cảnh Đế, Cảnh Đế phái sứ giả đi truyền đạt mệnh lệnh cho Chu Á Phu, bảo ông đem binh cứu viện. Nhưng, ông phái Cung Cao Hầu Hàn Đồi Đáng 弓高侯韩颓当 (1) lãnh khinh trang kị binh đi chặn đường lương thực của quân Ngô, Sở. Quân Ngô thiếu lương thực, binh sĩ đói, nhiều lần khiêu chiến, nhưng Chu Á Phu trước sau vẫn không quan tâm. Một đêm nọ, trong quân phát sinh hỗn loạn, một số người đánh nhau, thậm chí ầm ĩ đến tận doanh trướng của Chu Á Phu, Chu Á Phu vẫn điềm tĩnh nằm ngủ trên giường không dậy. Qua một lúc sau, tình hình yên định trở lại. Về sau, quân Ngô điều quân đội đến góc phía đông nam doanh luỹ quân Hán. Chu Á Phu lại tăng cường chuẩn bị ở góc phía tây bắc doanh luỹ, chẳng bao lâu, quả nhiên đội quân tinh nhuệ của nước Ngô dũng mãnh tấn công góc tây bắc, nhưng, bất luận đánh như thế nào cũng không tiến được. Quân Ngô nhân vì đói, bất đắc dĩ phải dẫn quân triệt thoái. Thế là Chu Á Phu lập tức phái quân tinh nhuệ truy kích, đánh bại quân Ngô. Ngô Vương Lưu Tị 刘濞mất đi quân đội của mình, dẫn mấy ngàn tướng sĩ chạy đến huyện Đan Đồ 丹徒 (Đan Đồ丹徒Giang Tây 江西) phía nam Trường giang tiến hành phòng thủ. Chu Á Phu thừa thắng truy kích, bắt toàn bộ tướng sĩ của nước Ngô, đồng thời treo thưởng ngàn cân vàng tróc nã Ngô Vương. Hơn một tháng sau, người nước Việt giết Ngô Vương, cắt lấy đầu đem báo cảo xin lãnh thưởng. Trước sau chỉ hơn 3 tháng đã bình định được phản loạn 7 nước Ngô, Sở, các tướng lĩnh đều cho rằng chiến lược của Chu Á Phu là đúng.
              Quy mô của lần phản loạn đó tương đối lớn. Chủ mưu và thủ lĩnh là Ngô Vương Tị. Ông ta ỷ vào đất đai nước Ngô rộng lớn, có 53 thành, lại còn có điều kiện ưu việt đúc đồng, đúc tiền, làm muối, đã có âm mưu đoạt lấy hoàng vị từ sớm. Lúc đầu phát khởi, ông ta đã phát ra mệnh lệnh với nhân dân trong nước:
              - Ta nay đã 62 tuổi rồi, còn đích thân làm tướng quân, thống lĩnh quân đội; con ta mới 14 tuổi, cũng làm sĩ tốt tham gia tác chiến. Nhân đó, trong cả nước phàm là trưởng niên tuổi tương đồng với ta, người trẻ tuổi tương đồng với con ta đều tham gia xuất chinh.
              Như vậy, quân Ngô có đến hơn 20 vạn người. Họ vượt qua Hoàng hà, sau khi hợp với đội quân nước Sở, phái sứ giả dùng phương thức thư tín thông cáo các nước chư hầu. Trong thư tuyên xưng đội quân tinh nhuệ trong nước của ông đạt đến 50 vạn, Nam Việt còn giúp ông 30 vạn, nếu có thêm quân đội của 6 nước thì lực lượng không phải là nhỏ. Do bởi Chu Á Phu giỏi việc dùng binh, trị quân nghiêm cẩn, đã nhanh chóng giành được thắng lợi trong trận chiến đó, một lần nữa bảo vệ được sự thống nhất tập trung của vương triều Hán, khiến thế lực các chư hầu vương bị một đòn trí mạng. Từ đó về sau, vương quốc chư hầu trên thực tế biến thành một đơn vị địa phương giống như một quận mà do trung ương trực tiếp quản lí.   (hết)

    Chú thích của nguyên tác
              Bài viết được biên soạn căn cứ vào những tư liệu liên quan trong Sử kí – Giáng Hầu Chu Bột thế gia 史记 - 绛侯周勃世家, Sử kí – Ngô Vương Tị liệt truyện 史记 - 吴王濞列传.

    Chú của người dịch
    1- Cung Cao Hầu Hàn Đồi Đáng 弓高侯韩颓当:
              Năm 200 trước công nguyên, Hàn Vương Tín 韩王信đào thoát đến Hung Nô, tại thành Đồi Đáng 颓当sinh hạ một người con. Ông lấy tên thành đặt cho con đó là Hàn Đồi Đáng 韩颓当. Về sau Hàn Đồi Đáng quy hàng triều Hán, được Hán Văn Đế 汉文帝phong làm Cung Cao Hầu 弓高侯, lập ra Cung Cao Hầu quốc.
              Chữ ở đây chưa rõ đọc là “đáng” hay là “đang”, tạm đọc âm “đáng”.

                                                                            Huỳnh Chương Hưng
                                                                            Quy Nhơn 10/10/2018

    Nguyên tác Trung văn
    TẾ LIỄU DOANH
    细柳营
     Trong quyển
    SỬ KÍ CỐ SỰ TINH TUÝ
    史记故事精粹
    Biên soạn: Hoán Quan Sinh 浣官生, Hoán Quyên 浣涓
    Bắc Kinh lí công đại học xuất bản xã, 2001


    Dịch thuật: Tế Liễu doanh (tiếp theo)

    Đăng lúc  21:40  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    TẾ LIỄU DOANH
    (tiếp theo)

              Chu Á Phu tập kết quân đội tại Huỳnh Dương 荥阳. Đương thời, quân Ngô đang đánh nước Lương, nước Lương vô cùng nguy cấp, xin Chu Á Phu phái binh cứu viện. Nhưng Chu Á Phu lại dẫn binh tiến phát về hướng đông bắc, đào hào đắp thành tại Xương Ấp 昌邑 (phía tây bắc huyện Kim Hương 金乡Sơn Đông 山东), tạo nên một trận địa phòng ngự kiên cố, chuẩn bị kiên thủ. Nước Lương ngày ngày phái sử giả đi thỉnh cầu phát binh, Chu Á Phu theo sách lược đã định, không đồng ý. Nhân đó Lương Vương dâng thư lên Cảnh Đế, Cảnh Đế phái sứ giả đi truyền đạt mệnh lệnh cho Chu Á Phu, bảo ông đem binh cứu viện. Nhưng, ông phái Cung Cao Hầu Hàn Đồi Đáng 弓高侯韩颓当 (1) lãnh khinh trang kị binh đi chặn đường lương thực của quân Ngô, Sở. Quân Ngô thiếu lương thực, binh sĩ đói, nhiều lần khiêu chiến, nhưng Chu Á Phu trước sau vẫn không quan tâm. Một đêm nọ, trong quân phát sinh hỗn loạn, một số người đánh nhau, thậm chí ầm ĩ đến tận doanh trướng của Chu Á Phu, Chu Á Phu vẫn điềm tĩnh nằm ngủ trên giường không dậy. Qua một lúc sau, tình hình yên định trở lại. Về sau, quân Ngô điều quân đội đến góc phía đông nam doanh luỹ quân Hán. Chu Á Phu lại tăng cường chuẩn bị ở góc phía tây bắc doanh luỹ, chẳng bao lâu, quả nhiên đội quân tinh nhuệ của nước Ngô dũng mãnh tấn công góc tây bắc, nhưng, bất luận đánh như thế nào cũng không tiến được. Quân Ngô nhân vì đói, bất đắc dĩ phải dẫn quân triệt thoái. Thế là Chu Á Phu lập tức phái quân tinh nhuệ truy kích, đánh bại quân Ngô. Ngô Vương Lưu Tị 刘濞mất đi quân đội của mình, dẫn mấy ngàn tướng sĩ chạy đến huyện Đan Đồ 丹徒 (Đan Đồ丹徒Giang Tây 江西) phía nam Trường giang tiến hành phòng thủ. Chu Á Phu thừa thắng truy kích, bắt toàn bộ tướng sĩ của nước Ngô, đồng thời treo thưởng ngàn cân vàng tróc nã Ngô Vương. Hơn một tháng sau, người nước Việt giết Ngô Vương, cắt lấy đầu đem báo cảo xin lãnh thưởng. Trước sau chỉ hơn 3 tháng đã bình định được phản loạn 7 nước Ngô, Sở, các tướng lĩnh đều cho rằng chiến lược của Chu Á Phu là đúng.
              Quy mô của lần phản loạn đó tương đối lớn. Chủ mưu và thủ lĩnh là Ngô Vương Tị. Ông ta ỷ vào đất đai nước Ngô rộng lớn, có 53 thành, lại còn có điều kiện ưu việt đúc đồng, đúc tiền, làm muối, đã có âm mưu đoạt lấy hoàng vị từ sớm. Lúc đầu phát khởi, ông ta đã phát ra mệnh lệnh với nhân dân trong nước:
              - Ta nay đã 62 tuổi rồi, còn đích thân làm tướng quân, thống lĩnh quân đội; con ta mới 14 tuổi, cũng làm sĩ tốt tham gia tác chiến. Nhân đó, trong cả nước phàm là trưởng niên tuổi tương đồng với ta, người trẻ tuổi tương đồng với con ta đều tham gia xuất chinh.
              Như vậy, quân Ngô có đến hơn 20 vạn người. Họ vượt qua Hoàng hà, sau khi hợp với đội quân nước Sở, phái sứ giả dùng phương thức thư tín thông cáo các nước chư hầu. Trong thư tuyên xưng đội quân tinh nhuệ trong nước của ông đạt đến 50 vạn, Nam Việt còn giúp ông 30 vạn, nếu có thêm quân đội của 6 nước thì lực lượng không phải là nhỏ. Do bởi Chu Á Phu giỏi việc dùng binh, trị quân nghiêm cẩn, đã nhanh chóng giành được thắng lợi trong trận chiến đó, một lần nữa bảo vệ được sự thống nhất tập trung của vương triều Hán, khiến thế lực các chư hầu vương bị một đòn trí mạng. Từ đó về sau, vương quốc chư hầu trên thực tế biến thành một đơn vị địa phương giống như một quận mà do trung ương trực tiếp quản lí.   (hết)

    Chú thích của nguyên tác
              Bài viết được biên soạn căn cứ vào những tư liệu liên quan trong Sử kí – Giáng Hầu Chu Bột thế gia 史记 - 绛侯周勃世家, Sử kí – Ngô Vương Tị liệt truyện 史记 - 吴王濞列传.

    Chú của người dịch
    1- Cung Cao Hầu Hàn Đồi Đáng 弓高侯韩颓当:
              Năm 200 trước công nguyên, Hàn Vương Tín 韩王信đào thoát đến Hung Nô, tại thành Đồi Đáng 颓当sinh hạ một người con. Ông lấy tên thành đặt cho con đó là Hàn Đồi Đáng 韩颓当. Về sau Hàn Đồi Đáng quy hàng triều Hán, được Hán Văn Đế 汉文帝phong làm Cung Cao Hầu 弓高侯, lập ra Cung Cao Hầu quốc.
              Chữ ở đây chưa rõ đọc là “đáng” hay là “đang”, tạm đọc âm “đáng”.

                                                                            Huỳnh Chương Hưng
                                                                            Quy Nhơn 10/10/2018

    Nguyên tác Trung văn
    TẾ LIỄU DOANH
    细柳营
     Trong quyển
    SỬ KÍ CỐ SỰ TINH TUÝ
    史记故事精粹
    Biên soạn: Hoán Quan Sinh 浣官生, Hoán Quyên 浣涓
    Bắc Kinh lí công đại học xuất bản xã, 2001


    Thứ Ba, 9 tháng 10, 2018

    TẾ LIỄU DOANH

              Chu Á Phu 周亚夫là con của Chu Bột 周勃, rất giỏi dùng binh, nổi tiếng trị quân nghiêm chỉnh. Ông được xem là người kế thừa Giáng Hầu 绛侯 (tức Chu Bột – ND) được phong là Điều hầu 条侯.
              Năm 158 trước công nguyên, Hung Nô tập kết quân đại quy mô xâm phạm biên giới phía bắc. Văn Đế 文帝 nhậm mệnh Tông chính (vị trưởng quan phụ trách sự việc hoàng tộc, một trong cửu khanh) là Lưu Lễ 刘礼làm Tướng quân, đóng quân tại Bá Thượng 灞上, nhậm mệnh Chúc Tư Hầu Từ Lệ 祝兹侯徐厉làm Tướng quân, đóng quân tại Cức Môn 棘门 (phía đông bắc huyện Hàm Dương 咸阳Thiểm Tây 陕西), nhậm mệnh Quận thú quận Hà Nội 河内 là Chu Á Phu làm Tướng quân, đóng quân tại Tế Liễu 细柳 (phía tây nam Hàm Dương Thiểm Tây), lệnh cho họ chia nhau trấn giữ 3 cứ điểm chiến lược gần kinh thành Trường An 长安, phòng bị sự tấn công của Hung Nô. Văn Đế đích thân đi uý lạo quân đội, khi đến quân doanh Bá Thượng và Cức Môn, xa giá đều chạy thẳng vào, không hề bị ngăn trở, quan quân từ Tướng quân trở xuống, đều cưỡi ngựa nghinh đón và đưa tiễn. Về sau, Văn Đế đến quân doanh Tế Liễu, tình hình lại khác: quan quân và sĩ binh đều mặc áo giáp, tay cầm  đao thương mài sáng loáng, cung nỏ lắp tên sẵn sàng, quả thực là phòng bị uy nghiêm. Quan lại đi trước Văn đế tiến đến doanh môn, quân canh giữ doanh môn không cho vào. Những quan lại đó nói rằng:
              - Hoàng thượng sắp đến rồi!
              Đô uý giữ doanh môn bảo rằng:
              - Tướng quân có lệnh, “Trong quân chỉ nghe theo mệnh lệnh của Tướng quân, không nghe theo mệnh lệnh của hoàng đế”.
              Qua một lúc sau, xa giá của Văn Đế đến cũng bị ngăn lại không cho vào.
              Thế là, Văn Đế phái sứ giả cầm phù tiết làm bằng chứng tiến vào quân doanh hướng đến Chu Á Phu truyền đạt mệnh lệnh:
              - Ta đến quân doanh uý lạo tướng sĩ.  
              Lúc này, Chu Á Phu mới hạ lệnh mở doanh môn để cho xa giá tiến vào. Lúc tiến vào, quan quân canh giữ doanh môn trịnh trọng nói với nhân viên tuỳ tùng của Văn Đế:
              - Tướng quân có quy định, trong quân doanh, xe ngựa không được cưỡi chạy.
              Văn Đế nghe qua, đành bảo thả lỏng dây cương, từ từ dắt bộ. Văn Đế đến doanh trướng trung quân, thấy Tướng quân Chu Á Phu mặc toàn bộ quân trang, tay cầm binh khí, đứng uy phong lẫm liệt. Trông thấy Văn Đế, Chu Á Phu chỉ chấp tay biểu thị hoan nghinh, nói rằng:
              - Thần trên người đầy quân trang, không thể hạ bái theo lệ. Xin cho phép thần lấy quân lễ triều kiến hoàng thượng.
              Văn Đế nghe qua bị chấn động, trên mặt lập tức lộ vẻ nghiêm túc, liền tựa vào thanh gỗ ngang phía trước xe đáp lễ; đồng thời sai người lên phía trước đáp từ:
              - Hoàng thượng uý lạo Tướng quân.
              Nghi thức uý lạo hoàn tất, Văn Đế rời quân doanh. Ra khỏi doanh môn Tế Liễu, quan viên tuỳ tùng đều cảm thấy vô cùng kinh ngạc. Văn Đế lại tán thán rằng:
              - Đó mới là Tướng quân chân chính. Khi trước, ta thấy đội ngũ ở Bá Thượng và Cức Môn giống như bọn trẻ đang chơi đùa, nếu quân địch đánh lén, bắt đi Tướng quân của chúng rất dễ dàng. Còn như Á Phu, quân địch có thể dễ dàng xâm phạm sao?
              Qua hơn một tháng sau, tình hình chuyển biến tốt, đại quân 3 lộ đều triệt bỏ, Văn Đế bèn nhậm mệnh Chu Á Phu làm Trung uý, phụ trách trị an kinh thành. Nhân đó, người đời sau gọi quân doanh có kỉ luật nghiêm minh là “Tế Liễu doanh” 细柳营.
              Văn Đế rất trọng Chu Á Phu, lúc lâm chung, dặn thái tử Lưu Khải 刘启rằng:
              - Nếu quốc gia gặp phải sự cố nghiêm trọng, thì Chu Á Phu quả thực có thể gánh vác nhiệm vụ quan trọng là thống lĩnh quân đội.
              Văn Đế qua đời, Lưu Khải kế vị, xưng là Cảnh Đế 景帝. Cảnh Đế nhậm mệnh Chu Á Phu làm Xa kị Tướng quân.
              Năm 154 trước công nguyên, liên quân 7 nước chư hầu Ngô, Sở phát động phản loạn. Cảnh Đế phái Chu Á Phu lấy thân phận Trung uý làm thay chức vụ của Thái uý (nhân vì khi Văn Đế qua đời năm 177 trước công nguyên, đã phế bỏ chức quan Thái uý này), dẫn quân tiến về phía đông dẹp loạn. Trước khi đi, Chu Á Phu thỉnh cầu Cảnh Đế:
              - Quân Sở nhanh nhẹn mau lẹ, khó mà cùng họ tranh phong chính diện. Chúng ta có thể tạm thời bỏ nước Lương cho nước Ngô chiếm lấy, sau đó chặt đứt đường vận chuyển lương thực của quân địch, như vậy mới có thể chế phục được.
              Cảnh Đế đồng ý theo kế hoạch đó.  (còn tiếp)

                                                                    Huỳnh Chương Hưng
                                                                   Quy Nhơn 09/10/2018

    Nguyên tác Trung văn
    TẾ LIỄU DOANH
    细柳营
     Trong quyển
    SỬ KÍ CỐ SỰ TINH TUÝ
    史记故事精粹
    Biên soạn: Hoán Quan Sinh 浣官生, Hoán Quyên 浣涓
    Bắc Kinh lí công đại học xuất bản xã, 2001

    Dịch thuật: Tế Liễu doanh

    Đăng lúc  21:06  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    TẾ LIỄU DOANH

              Chu Á Phu 周亚夫là con của Chu Bột 周勃, rất giỏi dùng binh, nổi tiếng trị quân nghiêm chỉnh. Ông được xem là người kế thừa Giáng Hầu 绛侯 (tức Chu Bột – ND) được phong là Điều hầu 条侯.
              Năm 158 trước công nguyên, Hung Nô tập kết quân đại quy mô xâm phạm biên giới phía bắc. Văn Đế 文帝 nhậm mệnh Tông chính (vị trưởng quan phụ trách sự việc hoàng tộc, một trong cửu khanh) là Lưu Lễ 刘礼làm Tướng quân, đóng quân tại Bá Thượng 灞上, nhậm mệnh Chúc Tư Hầu Từ Lệ 祝兹侯徐厉làm Tướng quân, đóng quân tại Cức Môn 棘门 (phía đông bắc huyện Hàm Dương 咸阳Thiểm Tây 陕西), nhậm mệnh Quận thú quận Hà Nội 河内 là Chu Á Phu làm Tướng quân, đóng quân tại Tế Liễu 细柳 (phía tây nam Hàm Dương Thiểm Tây), lệnh cho họ chia nhau trấn giữ 3 cứ điểm chiến lược gần kinh thành Trường An 长安, phòng bị sự tấn công của Hung Nô. Văn Đế đích thân đi uý lạo quân đội, khi đến quân doanh Bá Thượng và Cức Môn, xa giá đều chạy thẳng vào, không hề bị ngăn trở, quan quân từ Tướng quân trở xuống, đều cưỡi ngựa nghinh đón và đưa tiễn. Về sau, Văn Đế đến quân doanh Tế Liễu, tình hình lại khác: quan quân và sĩ binh đều mặc áo giáp, tay cầm  đao thương mài sáng loáng, cung nỏ lắp tên sẵn sàng, quả thực là phòng bị uy nghiêm. Quan lại đi trước Văn đế tiến đến doanh môn, quân canh giữ doanh môn không cho vào. Những quan lại đó nói rằng:
              - Hoàng thượng sắp đến rồi!
              Đô uý giữ doanh môn bảo rằng:
              - Tướng quân có lệnh, “Trong quân chỉ nghe theo mệnh lệnh của Tướng quân, không nghe theo mệnh lệnh của hoàng đế”.
              Qua một lúc sau, xa giá của Văn Đế đến cũng bị ngăn lại không cho vào.
              Thế là, Văn Đế phái sứ giả cầm phù tiết làm bằng chứng tiến vào quân doanh hướng đến Chu Á Phu truyền đạt mệnh lệnh:
              - Ta đến quân doanh uý lạo tướng sĩ.  
              Lúc này, Chu Á Phu mới hạ lệnh mở doanh môn để cho xa giá tiến vào. Lúc tiến vào, quan quân canh giữ doanh môn trịnh trọng nói với nhân viên tuỳ tùng của Văn Đế:
              - Tướng quân có quy định, trong quân doanh, xe ngựa không được cưỡi chạy.
              Văn Đế nghe qua, đành bảo thả lỏng dây cương, từ từ dắt bộ. Văn Đế đến doanh trướng trung quân, thấy Tướng quân Chu Á Phu mặc toàn bộ quân trang, tay cầm binh khí, đứng uy phong lẫm liệt. Trông thấy Văn Đế, Chu Á Phu chỉ chấp tay biểu thị hoan nghinh, nói rằng:
              - Thần trên người đầy quân trang, không thể hạ bái theo lệ. Xin cho phép thần lấy quân lễ triều kiến hoàng thượng.
              Văn Đế nghe qua bị chấn động, trên mặt lập tức lộ vẻ nghiêm túc, liền tựa vào thanh gỗ ngang phía trước xe đáp lễ; đồng thời sai người lên phía trước đáp từ:
              - Hoàng thượng uý lạo Tướng quân.
              Nghi thức uý lạo hoàn tất, Văn Đế rời quân doanh. Ra khỏi doanh môn Tế Liễu, quan viên tuỳ tùng đều cảm thấy vô cùng kinh ngạc. Văn Đế lại tán thán rằng:
              - Đó mới là Tướng quân chân chính. Khi trước, ta thấy đội ngũ ở Bá Thượng và Cức Môn giống như bọn trẻ đang chơi đùa, nếu quân địch đánh lén, bắt đi Tướng quân của chúng rất dễ dàng. Còn như Á Phu, quân địch có thể dễ dàng xâm phạm sao?
              Qua hơn một tháng sau, tình hình chuyển biến tốt, đại quân 3 lộ đều triệt bỏ, Văn Đế bèn nhậm mệnh Chu Á Phu làm Trung uý, phụ trách trị an kinh thành. Nhân đó, người đời sau gọi quân doanh có kỉ luật nghiêm minh là “Tế Liễu doanh” 细柳营.
              Văn Đế rất trọng Chu Á Phu, lúc lâm chung, dặn thái tử Lưu Khải 刘启rằng:
              - Nếu quốc gia gặp phải sự cố nghiêm trọng, thì Chu Á Phu quả thực có thể gánh vác nhiệm vụ quan trọng là thống lĩnh quân đội.
              Văn Đế qua đời, Lưu Khải kế vị, xưng là Cảnh Đế 景帝. Cảnh Đế nhậm mệnh Chu Á Phu làm Xa kị Tướng quân.
              Năm 154 trước công nguyên, liên quân 7 nước chư hầu Ngô, Sở phát động phản loạn. Cảnh Đế phái Chu Á Phu lấy thân phận Trung uý làm thay chức vụ của Thái uý (nhân vì khi Văn Đế qua đời năm 177 trước công nguyên, đã phế bỏ chức quan Thái uý này), dẫn quân tiến về phía đông dẹp loạn. Trước khi đi, Chu Á Phu thỉnh cầu Cảnh Đế:
              - Quân Sở nhanh nhẹn mau lẹ, khó mà cùng họ tranh phong chính diện. Chúng ta có thể tạm thời bỏ nước Lương cho nước Ngô chiếm lấy, sau đó chặt đứt đường vận chuyển lương thực của quân địch, như vậy mới có thể chế phục được.
              Cảnh Đế đồng ý theo kế hoạch đó.  (còn tiếp)

                                                                    Huỳnh Chương Hưng
                                                                   Quy Nhơn 09/10/2018

    Nguyên tác Trung văn
    TẾ LIỄU DOANH
    细柳营
     Trong quyển
    SỬ KÍ CỐ SỰ TINH TUÝ
    史记故事精粹
    Biên soạn: Hoán Quan Sinh 浣官生, Hoán Quyên 浣涓
    Bắc Kinh lí công đại học xuất bản xã, 2001

    Thứ Hai, 8 tháng 10, 2018

    BINH THÁNH TÔN VŨ

              Tôn Vũ 孙武, người Lạc An 乐安安nước Tề (nay là Quảng Nhiêu 广饶 Sơn Đông 山东) thời Xuân Thu, hậu duệ của Công tử Huệ Tôn 惠孙nước Vệ. Tằng tổ của Tôn Vũ Tôn Lâm Phủ 孙林父là thế khanh nước Vệ, sau gặp phải sự đả kích của quốc quân nước Vệ là Vệ Linh Công 卫灵公, nên tránh nạn sang nước Tề. Về sau phụ thân của Tôn Vũ là Tôn Thư 孙书trở thành một vị tướng quân nước Tề thời Tề Cảnh Công 齐景公, Tôn Vũ sinh ra trong một gia đình quân sự như thế.

              Tôn Vũ孙武 sinh ra trong một gia tộc quý tộc thế tập mà tổ tiên các đời đều tinh thông quân sự. Đương thời, nước Tề mà Tôn Vũ sống, mâu thuẫn nội bộ trùng trùng, nguy cơ bốn phía rình rập. Vương thất nước Tề với 4 đại gia tộc Điền , Bảo , Loan , Cao  cùng nhau tranh quyền đoạt lợi. Đối với việc đó, Tôn Vũ cực kì phản cảm, manh nha ý nghĩ tìm đường lánh sang nước khác.
              Thế là Tôn Vũ một mình lên đường xuống phía nam đến nước Ngô. Đến nước Ngô, Tôn Vũ được Ngũ Tử Tư 伍子胥tiến dẫn lên Ngô Vương Hạp Lư 阖闾. Tôn Vũ gặp Hạp Lư liền đem 13 thiên Tôn Tử binh pháp 孙子兵法 mà mình viết ra dâng cho Hạp Lư xem. Ngô Vương Hạp Lư sau khi xem xong vô cùng tán thưởng, nhưng vì Tôn Vũ chỉ là một thảo dân, nên nửa tin nửa ngờ năng lực của ông, nhân đó bèn yêu cầu Tôn Vũ ngay tại chỗ triển hiện cách luyện binh để xác định tài năng.
              Thế là, Ngô Vương cố ý khảo nghiệm Tôn Vũ, giao cho Tôn Vũ thao luyện 180 cung nữ. Tôn Vũ đem cung nữ biên chế thành hai đội, đồng thời lấy hai sủng cơ của Ngô Vương chia nhau làm đội trưởng hai đội, sau đó yêu cầu họ chuẩn bị thao luyện. Tôn Vũ phát lệnh rằng:
              - Các cô biết tim, tay trái, tay phải và sau lưng của mình không?
              Các cung nữ đáp rằng:
              - Biết.
              Tôn Vũ hiệu lệnh họ:
              - Ta phát lệnh hướng về phía trước, các cô sẽ chuyển người đến phía trước; hướng về bên trái, sẽ chuyển người về bên trái; hướng về bên phải sẽ chuyển người về bên phải; hướng về phía sau, sẽ quay người về phía sau.
              Sau khi dặn dò hiệu lệnh kĩ càng, liền bày hình cụ phủ việt ra nhằm răn đe, nói đi nói lại cho rõ thêm, sau đó đánh trống truyền lệnh:
              - Quay bên phải.
              Các cung nữ cười lớn lên. Tôn Vũ bảo rằng:
              - Giao ước không rõ ràng, hiệu lệnh không thuần thục, đó là lỗi của tướng lĩnh.
              Lại dặn dò kĩ lưỡng thêm mấy lần nữa, sau đó đánh trống truyền lệnh. Các cung nữ lại cười lớn. Tôn Vũ bảo rằng:
    - Kĩ luật không rõ ràng, hiệu lệnh không thuần thục, đó là lỗi của tướng lĩnh. Nhưng
     những điều này đã dặn dò rõ ràng kĩ lưỡng, lại không làm theo hiệu lệnh, đó là lỗi của đội trưởng và binh sĩ.
              Nói xong, Tôn Vũ định chém hai đội trưởng.
              Ngô Vương trên đài nhìn thấy Tôn Vũ sắp chém sủng cơ của mình, vội sai người truyền lệnh:
              - Ta biết tướng quân giỏi dùng binh. Nhưng nếu ta không có hai nàng phi đó, ngay cả ăn cơm ta cũng chẳng biết đến mùi vị, hi vọng tướng quân không giết họ.
              Tôn Vũ nói rằng:
              - Thần đã nhận mệnh làm tướng, tướng tại ngoại, không nhận quân mệnh.
              Thế là giết hai đội trưởng để thị chúng, lại lần lượt dùng hai người sau làm đội trưởng, lại đánh trống thao luyện. Lần này mọi người đều làm theo yêu cầu của mệnh lệnh, toàn thể nghiêm túc, không dám phát ra tiếng động nào. Lúc này, Tôn Vũ sai người báo cáo Ngô Vương:
              - Đội ngũ đã thao luyện chỉnh tề, đại vương có thể xem, họ sẽ nghe theo đại vương sai khiến họ như thế nào? Đại vương bảo họ nhảy vào nước sôi lửa bỏng, họ đều có thể làm được.
              Ngô Vương biết Tôn Vũ quả thật giỏi dùng binh, liền để Tôn Vũ làm Tướng quân.
              Về sau Tôn Vũ và Ngũ Tử Tư cùng phò tá Hạp Lư trị quốc trị quân, định ra nhiệm vụ phá Sở đầu tiên, tiếp đó thu phục nước Việt phía nam, tiếp đến định sách lược tranh bá trung nguyên, khiến nước Ngô giành được quyền chủ động tranh bá với nước Sở.
              Nghiệp bá của nước Ngô ngày càng phát triển, Phù Sai dần tự cho mình là đúng, không chuyên tâm đồ trị như lúc trước, đối với những công thần như Tôn Vũ, Ngũ Tử Tư không xem trọng nữa, về sau giết chết Ngũ Tử Tư. Tôn Vũ ý thức được nước Ngô không còn thuốc chữa, thế là lặng lẽ quy ẩn, đồng thời đem kinh nghiệm huấn luyện quân đội, cách chỉ huy tác chiến của mình sửa chữa, hiệu đính lại 13 thiên binh pháp, lưu truyền hậu thế.

    Phụ lục
              Ngũ Tử Tư 伍子胥tên Viên , tự Tử Tư 子胥, nguyên là người nước Sở, sau nhân vì cha và anh bị Sở Bình Vương 楚平王hại chết, Ngũ Tử Tư bị bức phải chạy đến nước Ngô, được Ngô Vương Hạp Lư coi trọng, trở thành trọng thần của nước Ngô. Dưới sự phò tá của Ngũ Tử Tư, quốc lực nước Ngô ngày càng cường thịnh, bắt đầu xưng bá một phương. Nước Ngô sau khi lớn mạnh đã phát động chiến tranh với nước Sở, công phá đô thành nước Sở. Để báo thù cho cha và anh, Ngũ Tử Tử quật mồ Sở Bình Vương đã chết nhiều năm, đánh 300 roi vào thi hài cho hả giận. Về sau Ngũ Tử Tử bị người khác vu hãm, Ngô Vương Phù Sai ban cho thanh bảo kiếm, lệnh phải tự sát. Ngũ Tử Tư bị bức phải hàm oan tự sát.

                                                            Huỳnh Chương Hưng
                                                            Quy Nhơn 08/10/2018

    Nguyên tác Trung văn
    BINH THÁNH TÔN VŨ
    兵圣孙武
    Trong quyển
    TRUNG QUỐC LỊCH SỬ CỐ SỰ
    中国历史故事
    Biên soạn: Sơ Dương Tả Tả 初阳姐姐
    Trường Xuân: Cát Lâm văn sử xuất bản xã, 2015

    Dịch thuật: Binh thánh Tôn Vũ

    Đăng lúc  21:46  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    BINH THÁNH TÔN VŨ

              Tôn Vũ 孙武, người Lạc An 乐安安nước Tề (nay là Quảng Nhiêu 广饶 Sơn Đông 山东) thời Xuân Thu, hậu duệ của Công tử Huệ Tôn 惠孙nước Vệ. Tằng tổ của Tôn Vũ Tôn Lâm Phủ 孙林父là thế khanh nước Vệ, sau gặp phải sự đả kích của quốc quân nước Vệ là Vệ Linh Công 卫灵公, nên tránh nạn sang nước Tề. Về sau phụ thân của Tôn Vũ là Tôn Thư 孙书trở thành một vị tướng quân nước Tề thời Tề Cảnh Công 齐景公, Tôn Vũ sinh ra trong một gia đình quân sự như thế.

              Tôn Vũ孙武 sinh ra trong một gia tộc quý tộc thế tập mà tổ tiên các đời đều tinh thông quân sự. Đương thời, nước Tề mà Tôn Vũ sống, mâu thuẫn nội bộ trùng trùng, nguy cơ bốn phía rình rập. Vương thất nước Tề với 4 đại gia tộc Điền , Bảo , Loan , Cao  cùng nhau tranh quyền đoạt lợi. Đối với việc đó, Tôn Vũ cực kì phản cảm, manh nha ý nghĩ tìm đường lánh sang nước khác.
              Thế là Tôn Vũ một mình lên đường xuống phía nam đến nước Ngô. Đến nước Ngô, Tôn Vũ được Ngũ Tử Tư 伍子胥tiến dẫn lên Ngô Vương Hạp Lư 阖闾. Tôn Vũ gặp Hạp Lư liền đem 13 thiên Tôn Tử binh pháp 孙子兵法 mà mình viết ra dâng cho Hạp Lư xem. Ngô Vương Hạp Lư sau khi xem xong vô cùng tán thưởng, nhưng vì Tôn Vũ chỉ là một thảo dân, nên nửa tin nửa ngờ năng lực của ông, nhân đó bèn yêu cầu Tôn Vũ ngay tại chỗ triển hiện cách luyện binh để xác định tài năng.
              Thế là, Ngô Vương cố ý khảo nghiệm Tôn Vũ, giao cho Tôn Vũ thao luyện 180 cung nữ. Tôn Vũ đem cung nữ biên chế thành hai đội, đồng thời lấy hai sủng cơ của Ngô Vương chia nhau làm đội trưởng hai đội, sau đó yêu cầu họ chuẩn bị thao luyện. Tôn Vũ phát lệnh rằng:
              - Các cô biết tim, tay trái, tay phải và sau lưng của mình không?
              Các cung nữ đáp rằng:
              - Biết.
              Tôn Vũ hiệu lệnh họ:
              - Ta phát lệnh hướng về phía trước, các cô sẽ chuyển người đến phía trước; hướng về bên trái, sẽ chuyển người về bên trái; hướng về bên phải sẽ chuyển người về bên phải; hướng về phía sau, sẽ quay người về phía sau.
              Sau khi dặn dò hiệu lệnh kĩ càng, liền bày hình cụ phủ việt ra nhằm răn đe, nói đi nói lại cho rõ thêm, sau đó đánh trống truyền lệnh:
              - Quay bên phải.
              Các cung nữ cười lớn lên. Tôn Vũ bảo rằng:
              - Giao ước không rõ ràng, hiệu lệnh không thuần thục, đó là lỗi của tướng lĩnh.
              Lại dặn dò kĩ lưỡng thêm mấy lần nữa, sau đó đánh trống truyền lệnh. Các cung nữ lại cười lớn. Tôn Vũ bảo rằng:
    - Kĩ luật không rõ ràng, hiệu lệnh không thuần thục, đó là lỗi của tướng lĩnh. Nhưng
     những điều này đã dặn dò rõ ràng kĩ lưỡng, lại không làm theo hiệu lệnh, đó là lỗi của đội trưởng và binh sĩ.
              Nói xong, Tôn Vũ định chém hai đội trưởng.
              Ngô Vương trên đài nhìn thấy Tôn Vũ sắp chém sủng cơ của mình, vội sai người truyền lệnh:
              - Ta biết tướng quân giỏi dùng binh. Nhưng nếu ta không có hai nàng phi đó, ngay cả ăn cơm ta cũng chẳng biết đến mùi vị, hi vọng tướng quân không giết họ.
              Tôn Vũ nói rằng:
              - Thần đã nhận mệnh làm tướng, tướng tại ngoại, không nhận quân mệnh.
              Thế là giết hai đội trưởng để thị chúng, lại lần lượt dùng hai người sau làm đội trưởng, lại đánh trống thao luyện. Lần này mọi người đều làm theo yêu cầu của mệnh lệnh, toàn thể nghiêm túc, không dám phát ra tiếng động nào. Lúc này, Tôn Vũ sai người báo cáo Ngô Vương:
              - Đội ngũ đã thao luyện chỉnh tề, đại vương có thể xem, họ sẽ nghe theo đại vương sai khiến họ như thế nào? Đại vương bảo họ nhảy vào nước sôi lửa bỏng, họ đều có thể làm được.
              Ngô Vương biết Tôn Vũ quả thật giỏi dùng binh, liền để Tôn Vũ làm Tướng quân.
              Về sau Tôn Vũ và Ngũ Tử Tư cùng phò tá Hạp Lư trị quốc trị quân, định ra nhiệm vụ phá Sở đầu tiên, tiếp đó thu phục nước Việt phía nam, tiếp đến định sách lược tranh bá trung nguyên, khiến nước Ngô giành được quyền chủ động tranh bá với nước Sở.
              Nghiệp bá của nước Ngô ngày càng phát triển, Phù Sai dần tự cho mình là đúng, không chuyên tâm đồ trị như lúc trước, đối với những công thần như Tôn Vũ, Ngũ Tử Tư không xem trọng nữa, về sau giết chết Ngũ Tử Tư. Tôn Vũ ý thức được nước Ngô không còn thuốc chữa, thế là lặng lẽ quy ẩn, đồng thời đem kinh nghiệm huấn luyện quân đội, cách chỉ huy tác chiến của mình sửa chữa, hiệu đính lại 13 thiên binh pháp, lưu truyền hậu thế.

    Phụ lục
              Ngũ Tử Tư 伍子胥tên Viên , tự Tử Tư 子胥, nguyên là người nước Sở, sau nhân vì cha và anh bị Sở Bình Vương 楚平王hại chết, Ngũ Tử Tư bị bức phải chạy đến nước Ngô, được Ngô Vương Hạp Lư coi trọng, trở thành trọng thần của nước Ngô. Dưới sự phò tá của Ngũ Tử Tư, quốc lực nước Ngô ngày càng cường thịnh, bắt đầu xưng bá một phương. Nước Ngô sau khi lớn mạnh đã phát động chiến tranh với nước Sở, công phá đô thành nước Sở. Để báo thù cho cha và anh, Ngũ Tử Tử quật mồ Sở Bình Vương đã chết nhiều năm, đánh 300 roi vào thi hài cho hả giận. Về sau Ngũ Tử Tử bị người khác vu hãm, Ngô Vương Phù Sai ban cho thanh bảo kiếm, lệnh phải tự sát. Ngũ Tử Tư bị bức phải hàm oan tự sát.

                                                            Huỳnh Chương Hưng
                                                            Quy Nhơn 08/10/2018

    Nguyên tác Trung văn
    BINH THÁNH TÔN VŨ
    兵圣孙武
    Trong quyển
    TRUNG QUỐC LỊCH SỬ CỐ SỰ
    中国历史故事
    Biên soạn: Sơ Dương Tả Tả 初阳姐姐
    Trường Xuân: Cát Lâm văn sử xuất bản xã, 2015

    Mã nguồn bởi Huỳnh Chương Hưng
    Copyright © 2012 Huỳnh Chương Hưng.
    back to top