• Thứ Tư, 24 tháng 4, 2019

    LỜI THỀ CỦA QUẠ

              Có một người làm vườn, trồng được một vườn nho sai trái. Đương lúc nho chín, trên giàn từng chùm từng chùm bóng láng mọng nước, thì nhà không còn củi để đun, anh ta cần phải lên núi đốn củi.
              Anh ta sợ người ta đến hái trộm nho, đương lúc khó xử, một con quạ bay đến nói với anh ta:
              - Ông anh, không sao đâu, ông anh cứ đi lên núi đốn củi đi, để tôi thay ông anh canh giữ cho.
              Người làm vườn nói rằng:
              - Mầy làm sao canh giữ được?
              Quạ nói rằng:
               - Đơn giản thôi. Người nào lén hái nho, tôi sẽ mổ mắt hắn, đồng thời tôi hô hoán lên, ông anh sẽ tới.
              Người làm vườn suy nghĩ một lát rồi nói:
              - Nhưng mầy lén hái ăn thì sao?
              Quạ thuận miệng thề rằng:
              - Nếu tôi lén ăn nho, thì hằng năm vào lúc này, mỏ của tôi sẽ bị loét.
              Cuối cùng quạ còn nói:
              - Ông anh yên tâm đi, tôi không bao giờ làm điều xấu như thế đâu.
              Người làm vườn tin lời của quạ, giao vườn nho cho nó, còn mình lên núi đốn củi.
              Trong phút chốc thuận tiện, quạ bay từ giàn nho này qua giàn nho khác, mổ từ chùm nho này sang chùm nho khác, ăn thật nhiều. Khi người làm vườn trở về, mỏ của quạ bị nho trít lại mở không ra.
              Từ đó trở đi, cho mãi đến ngày nay, mỗi khi nho chín, là lúc mỏ của quạ bị loét, nó mài mỏ dưới đất không ngừng
              Cho nên những người trồng cây ăn quả có câu:
              Bồ đào thục đích thời hậu, ô nha chuỷ thượng sinh sang
              Tự thực kì ngôn đích nhân môn, đô tượng tha nhất dạng
              葡萄熟的時候, 烏鴉嘴上生瘡
              自食其言的人們, 都像他一樣
              Khi nho chín, mỏ của quạ bị loét
              Những kẻ nuốt lời hứa của mình, cũng giống như nó vậy.

                                                             Huỳnh Chương Hưng
                                                             Quy Nhơn 24/4/2019

    Nguồn
    PHI CẦM TẨU THÚ ĐÍCH NGỤ NGÔN
    飛禽走獸的寓言
    Nhóm biên soạn
    Ngọc thụ đồ thư ấn loát hữu hạn công ti xuất bản, 2000.

    Dịch thuật: Lời thề của quạ

    Đăng lúc  21:37  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    LỜI THỀ CỦA QUẠ

              Có một người làm vườn, trồng được một vườn nho sai trái. Đương lúc nho chín, trên giàn từng chùm từng chùm bóng láng mọng nước, thì nhà không còn củi để đun, anh ta cần phải lên núi đốn củi.
              Anh ta sợ người ta đến hái trộm nho, đương lúc khó xử, một con quạ bay đến nói với anh ta:
              - Ông anh, không sao đâu, ông anh cứ đi lên núi đốn củi đi, để tôi thay ông anh canh giữ cho.
              Người làm vườn nói rằng:
              - Mầy làm sao canh giữ được?
              Quạ nói rằng:
               - Đơn giản thôi. Người nào lén hái nho, tôi sẽ mổ mắt hắn, đồng thời tôi hô hoán lên, ông anh sẽ tới.
              Người làm vườn suy nghĩ một lát rồi nói:
              - Nhưng mầy lén hái ăn thì sao?
              Quạ thuận miệng thề rằng:
              - Nếu tôi lén ăn nho, thì hằng năm vào lúc này, mỏ của tôi sẽ bị loét.
              Cuối cùng quạ còn nói:
              - Ông anh yên tâm đi, tôi không bao giờ làm điều xấu như thế đâu.
              Người làm vườn tin lời của quạ, giao vườn nho cho nó, còn mình lên núi đốn củi.
              Trong phút chốc thuận tiện, quạ bay từ giàn nho này qua giàn nho khác, mổ từ chùm nho này sang chùm nho khác, ăn thật nhiều. Khi người làm vườn trở về, mỏ của quạ bị nho trít lại mở không ra.
              Từ đó trở đi, cho mãi đến ngày nay, mỗi khi nho chín, là lúc mỏ của quạ bị loét, nó mài mỏ dưới đất không ngừng
              Cho nên những người trồng cây ăn quả có câu:
              Bồ đào thục đích thời hậu, ô nha chuỷ thượng sinh sang
              Tự thực kì ngôn đích nhân môn, đô tượng tha nhất dạng
              葡萄熟的時候, 烏鴉嘴上生瘡
              自食其言的人們, 都像他一樣
              Khi nho chín, mỏ của quạ bị loét
              Những kẻ nuốt lời hứa của mình, cũng giống như nó vậy.

                                                             Huỳnh Chương Hưng
                                                             Quy Nhơn 24/4/2019

    Nguồn
    PHI CẦM TẨU THÚ ĐÍCH NGỤ NGÔN
    飛禽走獸的寓言
    Nhóm biên soạn
    Ngọc thụ đồ thư ấn loát hữu hạn công ti xuất bản, 2000.

    Thứ Ba, 23 tháng 4, 2019

    BÍ ẨN TỬ CẤM THÀNH

             Tử Cấm Thành 紫禁城, trong tên gọi đã hiện rõ một khí độ phi phàm, phòng thủ nghiêm mật, ung dung đại khí, nghe qua tất biết là một nơi mà bách tính lê dân phải tránh thật xa. Nơi mà có thể gọi là thành ở trong thành chính là trung tâm chính trị của vương triều hoàng gia thời kì Minh Thanh, là trọng địa quyết sách của chính phủ trung ương. Tử Cấm Thành được xây dựng vào từ năm Vĩnh Lạc 永乐 thứ 4 đến năm thứ 8 của triều Minh, diện tích kiến trúc ước khoảng 15 vạn m2, chung quanh được bao bọc bởi các cung tường cao 10m và hộ thành hà rộng 52m, bên trong từng là nơi ở của 24 vị đế vương.
              Cung điện hoàng gia ngày trước được ngự lâm quân phòng thủ nghiêm mật này, vào năm 1925 chính thức trở thành Viện bảo tàng Cố Cung 故宫, từ đó bách tính bình dân mới có thể được tận mắt thấy phong thái “đại nội”, không ngừng được phát quật và truy tìm những bí ẩn trong đó.
              Thế thì, danh xưng Tử Cấm Thành bắt nguồn từ đâu?
              Từ thời cổ, người Trung Quốc đã rất sùng thượng thiên văn, trong ý thức của họ, Thiên Hoàng Đại Đế là chủ tể của thiên thượng, Ở Dịch kinh 易经, sách được hình thành đầu tiên trong văn hoá Trung Quốc, xem “thiên” là quan trọng nhất, là vị thần thần thánh nhất, hoàng đế cổ đại tự xem mình là “chân long thiên tử” 真龙天子; nơi sinh hoạt và làm việc của hoàng đế đương nhiên cũng lấy theo việc quy hoạch tinh toà trên trời và mệnh danh.
              Theo phương thức sắp xếp tinh tú mà Dịch học nói đến, phương đông trên bầu trời lấy thanh long 青龙làm đại biểu, phương tây lấy bạch hổ 白虎làm đại biểu, phương nam lấy chu tước 朱雀 làm đại biểu, phương bắc lấy huyền vũ 玄武 làm đại biểu, 4 vị thần mỗi vị cai quản một phương; vị trí trung ương là Bắc cực tinh 北极星, cũng gọi là Tử Vi viên 紫微垣. Trong truyền thuyết, Thiên Hoàng Đại Đế theo lí là vị trí trung ương trên bầu trời, Thiên Hoàng Đại Đế cư trú ở trung tâm trong Tử Vi cung của Tử Vi viên. Tương ứng với Thiên Hoàng, đô thành mà hoàng đế được xem là “thiên tử” cư trú cũng trở thành một trung tâm chính trị, kinh tế và văn hoá của quốc gia, hoàng cung từ thời Hán cũng bắt đầu nhân “Tử Vi cung” 紫微宫mà có tên “Tử cung” 紫宫; cũng do bởi yếu địa của hoàng gia là cấm địa, dân thường không được tự do ra vào, cho nên lại có cách nói là “Cấm Thành” . Đến thời Đường, quần thể kiến trúc hoàng gia bắt đầu đem chữ “tử” trong “tử cung” 紫宫 dùng liền với chữ “cấm” trong “cấm địa” 禁地, nhân đó mà có tên “Tử Cấm Thành” 紫禁城.
              Tử Cấm Thành kim bích huy hoàng, điện các thâm trầm, không chỉ xác lập danh xưng kiến trúc tổng thể có tư liệu có thể khảo chứng, mà trong đó danh xưng mỗi kiến trúc chủ yếu cũng đều có sự nghiên cứu kĩ lưỡng. Ví dụ như, theo cách nói của Dịch học, “càn” có ý nghĩa tượng trưng cho trời, cho dương, cho rồng, cho vua, cho nên cung điện mà hoàng đế cư trú gọi là “Càn Thanh cung” 乾清宫, ngụ ý hoàng thiên trong sáng bao la; còn “khôn” có ý nghĩa tượng trưng cho đất, cho âm, cho nữ, cho nên nơi hoàng hậu cư trú gọi là “Khôn Ninh cung” 坤宁宫, ngụ ý đại địa bình tĩnh an ninh.
              Ngoài ra, để làm nổi bật điềm phúc thuỵ cát tường trong Tử Cấm Thành, hơn 70 toà cung điện trong thành, mỗi toà đều tường đỏ ngói vàng, mái cong, phú lệ đường hoàng. Về sự vận dụng màu sắc, màu đỏ tượng trưng cho hỉ khánh, cát tường, màu vàng là màu của thổ trong “ngũ hành”, có “thổ” mới có lương thực, cho nên với Trung Quốc lấy nông nghiệp làm chính, màu vàng trở thành màu chuyên dụng của đế vương phong kiến, ngụ ý là trung tâm và tôn quý.
              Trong Tử Cấm Thành những thứ quý hiếm nhiều không kể xiết, phòng ốc lớn nhỏ trong đó cũng nhiều khó mà thống kê cho hết, theo truyền thuyết có đến 9999 gian, ở đây lớn đến cả kết cấu và cách thức của chỉnh thể kiến trúc, nhỏ chỉ như một gian điện cụ thể, thậm chí cách tạo hình, điêu khắc hình thái các loại động vật như rồng, phụng, sư tử ... trên mái ngói đều tích luỹ lắng đọng nét văn hoá nồng đậm, có thể nói là tinh hoa tư tưởng của Dịch học, thái cực, âm dương, ngũ hành, thiên can, địa chi. Cũng chính nội dung văn hoá bác đại tinh thông đó mới khiến cho Tử Cấm Thành hoằng vĩ hoa lệ này trở nên có sức thần bí, có ma lực phi phàm đối với thế giới.

                                                                            Huỳnh Chương Hưng
                                                                            Quy Nhơn 23/4/2019

    Nguyên tác Trung văn
    TỬ CẤM THÀNH CHI MÊ
     紫禁城之谜
    Tác giả: Địch Xuân Hồng 翟春红
    Trong quyển
    TRUNG QUỐC LỊCH SỬ CHI MÊ
    中国历史之谜
    Chủ biên: Lí Quảng Sinh 李广生
    Thiên Tân: Bách hoa văn nghệ xuất bản xã, 2001

    Dịch thuật: Bí ẩn Tử Cấm Thành

    Đăng lúc  22:04  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    BÍ ẨN TỬ CẤM THÀNH

             Tử Cấm Thành 紫禁城, trong tên gọi đã hiện rõ một khí độ phi phàm, phòng thủ nghiêm mật, ung dung đại khí, nghe qua tất biết là một nơi mà bách tính lê dân phải tránh thật xa. Nơi mà có thể gọi là thành ở trong thành chính là trung tâm chính trị của vương triều hoàng gia thời kì Minh Thanh, là trọng địa quyết sách của chính phủ trung ương. Tử Cấm Thành được xây dựng vào từ năm Vĩnh Lạc 永乐 thứ 4 đến năm thứ 8 của triều Minh, diện tích kiến trúc ước khoảng 15 vạn m2, chung quanh được bao bọc bởi các cung tường cao 10m và hộ thành hà rộng 52m, bên trong từng là nơi ở của 24 vị đế vương.
              Cung điện hoàng gia ngày trước được ngự lâm quân phòng thủ nghiêm mật này, vào năm 1925 chính thức trở thành Viện bảo tàng Cố Cung 故宫, từ đó bách tính bình dân mới có thể được tận mắt thấy phong thái “đại nội”, không ngừng được phát quật và truy tìm những bí ẩn trong đó.
              Thế thì, danh xưng Tử Cấm Thành bắt nguồn từ đâu?
              Từ thời cổ, người Trung Quốc đã rất sùng thượng thiên văn, trong ý thức của họ, Thiên Hoàng Đại Đế là chủ tể của thiên thượng, Ở Dịch kinh 易经, sách được hình thành đầu tiên trong văn hoá Trung Quốc, xem “thiên” là quan trọng nhất, là vị thần thần thánh nhất, hoàng đế cổ đại tự xem mình là “chân long thiên tử” 真龙天子; nơi sinh hoạt và làm việc của hoàng đế đương nhiên cũng lấy theo việc quy hoạch tinh toà trên trời và mệnh danh.
              Theo phương thức sắp xếp tinh tú mà Dịch học nói đến, phương đông trên bầu trời lấy thanh long 青龙làm đại biểu, phương tây lấy bạch hổ 白虎làm đại biểu, phương nam lấy chu tước 朱雀 làm đại biểu, phương bắc lấy huyền vũ 玄武 làm đại biểu, 4 vị thần mỗi vị cai quản một phương; vị trí trung ương là Bắc cực tinh 北极星, cũng gọi là Tử Vi viên 紫微垣. Trong truyền thuyết, Thiên Hoàng Đại Đế theo lí là vị trí trung ương trên bầu trời, Thiên Hoàng Đại Đế cư trú ở trung tâm trong Tử Vi cung của Tử Vi viên. Tương ứng với Thiên Hoàng, đô thành mà hoàng đế được xem là “thiên tử” cư trú cũng trở thành một trung tâm chính trị, kinh tế và văn hoá của quốc gia, hoàng cung từ thời Hán cũng bắt đầu nhân “Tử Vi cung” 紫微宫mà có tên “Tử cung” 紫宫; cũng do bởi yếu địa của hoàng gia là cấm địa, dân thường không được tự do ra vào, cho nên lại có cách nói là “Cấm Thành” . Đến thời Đường, quần thể kiến trúc hoàng gia bắt đầu đem chữ “tử” trong “tử cung” 紫宫 dùng liền với chữ “cấm” trong “cấm địa” 禁地, nhân đó mà có tên “Tử Cấm Thành” 紫禁城.
              Tử Cấm Thành kim bích huy hoàng, điện các thâm trầm, không chỉ xác lập danh xưng kiến trúc tổng thể có tư liệu có thể khảo chứng, mà trong đó danh xưng mỗi kiến trúc chủ yếu cũng đều có sự nghiên cứu kĩ lưỡng. Ví dụ như, theo cách nói của Dịch học, “càn” có ý nghĩa tượng trưng cho trời, cho dương, cho rồng, cho vua, cho nên cung điện mà hoàng đế cư trú gọi là “Càn Thanh cung” 乾清宫, ngụ ý hoàng thiên trong sáng bao la; còn “khôn” có ý nghĩa tượng trưng cho đất, cho âm, cho nữ, cho nên nơi hoàng hậu cư trú gọi là “Khôn Ninh cung” 坤宁宫, ngụ ý đại địa bình tĩnh an ninh.
              Ngoài ra, để làm nổi bật điềm phúc thuỵ cát tường trong Tử Cấm Thành, hơn 70 toà cung điện trong thành, mỗi toà đều tường đỏ ngói vàng, mái cong, phú lệ đường hoàng. Về sự vận dụng màu sắc, màu đỏ tượng trưng cho hỉ khánh, cát tường, màu vàng là màu của thổ trong “ngũ hành”, có “thổ” mới có lương thực, cho nên với Trung Quốc lấy nông nghiệp làm chính, màu vàng trở thành màu chuyên dụng của đế vương phong kiến, ngụ ý là trung tâm và tôn quý.
              Trong Tử Cấm Thành những thứ quý hiếm nhiều không kể xiết, phòng ốc lớn nhỏ trong đó cũng nhiều khó mà thống kê cho hết, theo truyền thuyết có đến 9999 gian, ở đây lớn đến cả kết cấu và cách thức của chỉnh thể kiến trúc, nhỏ chỉ như một gian điện cụ thể, thậm chí cách tạo hình, điêu khắc hình thái các loại động vật như rồng, phụng, sư tử ... trên mái ngói đều tích luỹ lắng đọng nét văn hoá nồng đậm, có thể nói là tinh hoa tư tưởng của Dịch học, thái cực, âm dương, ngũ hành, thiên can, địa chi. Cũng chính nội dung văn hoá bác đại tinh thông đó mới khiến cho Tử Cấm Thành hoằng vĩ hoa lệ này trở nên có sức thần bí, có ma lực phi phàm đối với thế giới.

                                                                            Huỳnh Chương Hưng
                                                                            Quy Nhơn 23/4/2019

    Nguyên tác Trung văn
    TỬ CẤM THÀNH CHI MÊ
     紫禁城之谜
    Tác giả: Địch Xuân Hồng 翟春红
    Trong quyển
    TRUNG QUỐC LỊCH SỬ CHI MÊ
    中国历史之谜
    Chủ biên: Lí Quảng Sinh 李广生
    Thiên Tân: Bách hoa văn nghệ xuất bản xã, 2001

    Thứ Hai, 22 tháng 4, 2019

    PHONG THIỆN CẦU TIÊN

              Sớm từ thời Chiến Quốc, nho sinh vùng Tề Lỗ đã có thuyết, trong ngũ nhạc thì Thái sơn 泰山là cao nhất (1), bậc đế vương đến với thiên hạ, đầu tiên phải được thần linh trời đất đồng ý, nên cần bái yết tế tự, phong thiện Thái sơn. Lên Thái Sơn dựng đàn tế Thiên, gọi là “phong” ; trên núi Lương Phủ 梁父 phía nam của núi đắp nền tế Địa, gọi là “thiện” . Để tuyên dương mình là chân mệnh thiên tử, vào năm thứ 28, Tần Thuỷ Hoàng 秦始皇tuần du về phía đông, lập đền thờ ở núi Trâu Dịch 邹峄, khắc thạch ghi công, sau đó dẫn nho sinh Tề Lỗ đến phong thiện ở Thái Sơn.
              Đại điển phong thiện vô cùng long trọng, bao gồm khắc thạch 刻石, cải hiệu 改号, kim sách 金册, thạch hàm 石涵, kim nê 金泥, ngọc kiểm 玉检v.v... Nhưng điều không may là, trời không ban phúc. Sau khi Tần Thuỷ Hoàng phong Thiên, từ phía bắc đi xuống, khi đên lưng núi, gió mưa nổi lên. Tần Thuỷ Hoàng lúng túng, đành trú dưới một gốc cây, ý tưởng sâu xa là phong cho cây này là Ngũ đại phu 五大夫.
              Khi Tần Thuỷ Hoàng phong thiện Thái sơn, phương sĩ vùng Tề Lỗ là Từ Phúc 徐福 dâng thư lên Tần Thuỷ Hoàng, nói rằng trong biển đông có 3 ngọn núi tiên là Bồng Lai 蓬莱, Phương Trượng 方丈, Doanh Châu 瀛洲. Trên núi tiên có tiên nhân cư trú, có thuốc trường sinh bất lão. Tần Thuỷ Hoàng phái Từ Phúc ra biển cầu tiên nhân. Qua mấy năm, Từ Phúc bái kiến Tần Thuỷ Hoàng, nói rằng nhìn thấy 3 ngọn núi thần trong biển, gặp tiên nhân, có hướng đến tiên nhân cầu thuốc trường sinh, tiên nhân bảo rằng lễ vật quá ít, chỉ có thể xem thôi chứ không thể tặng. Từ Phúc theo tiên nhân đến núi Bồng Lai, nhìn thấy cung điện được xây bằng vàng bạc, nhìn thấy cầm thú đầy khắp cả mặt đất,  lông hết thảy đều màu trắng, còn thấy một vị sứ giả hình dạng như rồng với màu đồng, rực rỡ loé mắt. Từ Phúc hỏi thần tiên cần lễ vật gì, thần tiên đáp rằng, cần một số đồng nam, ngọc nữ và trăm thứ thợ là được.
              Tần Thuỷ Hoàng rất vui mừng, phái 3000 đồng nam ngọc nữ, đem theo nhiều tài vật và bách công kĩ nghệ theo Từ Phúc giong buồm ra biển, đến biển đông tìm núi tiên, cầu thuốc trường sinh bất lão. Mãi cho đến năm Tần Thuỷ Hoàng thứ 37, phương sĩ Từ Phúc đã lãng phí một số lượng lớn tài vật của Tần Thuỷ Hoàng, lại có cả mấy ngàn đồng nam ngọc nữ, hết thảy như trâu đất xuống biển, một đi không trở lại. Năm Tần Thuỷ Hoàng thứ 32, Doanh Chính đi tuần đến Kiệt Thạch 碣石, phái Lô Sinh 卢生, Phỏng Tiện Môn 访羡门, Cao Thệ 高誓 người nước Yên, lại phái Hàn Chung 韩钟, Hầu Công 侯公, Thạch Sinh 石生đi khắp nơi cầu tiên. Lô Sinh từ biển trở về, mang theo bức tiên thư, bên trên viết rằng:
              Vong Tần giả Hồ dã.
              亡秦者胡也
              (Diệt Tần là người Hồ)
              Doanh Chính bèn phái tướng quân Mông Điềm 蒙恬, lãnh 30 vạn binh, xuất kích người Hồ. Mãi đến lúc Doanh Chính lâm chung, vẫn còn hạ lệnh cho  Bác sĩ làm thơ tiên nhân, chân nhân, sai nhạc nhân đàn hát.

    Chú của người dịch
    1- Thái Sơn 泰山: còn được gọi là Đại sơn 岱山, Đại nhạc 岱岳, Đông nhạc 东岳, đứng đầu danh sơn toàn quốc, được xưng tụng là “thiên hạ đệ nhất sơn” 天下第一山
              Thái sơn là “ngũ nhạc chi trưởng”, cũng là “quần nhạc chi trưởng”. Ngũ nhạc gồm:
              Đông nhạc Thái sơn 东岳泰山
              Tây nhạc Hoá sơn 西岳华山
              Nam nhạc Hành sơn 南岳恒山
              Bắc nhạc Hằng sơn 北岳恒山
              Trung nhạc Tung sơn 中岳嵩山

                                                                    Huỳnh Chương Hưng
                                                                Quy Nhơn 22/4/2019

    Nguồn
    HOÀNG TRIỀU ĐIỂN CỐ KỈ VĂN
    皇朝典故纪闻
    Tác giả: Hướng Tư 向斯
    Bắc Kinh: Trung Quốc văn sử xuất bản xã, 2002

    Dịch thuật: Phong thiện cầu tiên

    Đăng lúc  22:02  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    PHONG THIỆN CẦU TIÊN

              Sớm từ thời Chiến Quốc, nho sinh vùng Tề Lỗ đã có thuyết, trong ngũ nhạc thì Thái sơn 泰山là cao nhất (1), bậc đế vương đến với thiên hạ, đầu tiên phải được thần linh trời đất đồng ý, nên cần bái yết tế tự, phong thiện Thái sơn. Lên Thái Sơn dựng đàn tế Thiên, gọi là “phong” ; trên núi Lương Phủ 梁父 phía nam của núi đắp nền tế Địa, gọi là “thiện” . Để tuyên dương mình là chân mệnh thiên tử, vào năm thứ 28, Tần Thuỷ Hoàng 秦始皇tuần du về phía đông, lập đền thờ ở núi Trâu Dịch 邹峄, khắc thạch ghi công, sau đó dẫn nho sinh Tề Lỗ đến phong thiện ở Thái Sơn.
              Đại điển phong thiện vô cùng long trọng, bao gồm khắc thạch 刻石, cải hiệu 改号, kim sách 金册, thạch hàm 石涵, kim nê 金泥, ngọc kiểm 玉检v.v... Nhưng điều không may là, trời không ban phúc. Sau khi Tần Thuỷ Hoàng phong Thiên, từ phía bắc đi xuống, khi đên lưng núi, gió mưa nổi lên. Tần Thuỷ Hoàng lúng túng, đành trú dưới một gốc cây, ý tưởng sâu xa là phong cho cây này là Ngũ đại phu 五大夫.
              Khi Tần Thuỷ Hoàng phong thiện Thái sơn, phương sĩ vùng Tề Lỗ là Từ Phúc 徐福 dâng thư lên Tần Thuỷ Hoàng, nói rằng trong biển đông có 3 ngọn núi tiên là Bồng Lai 蓬莱, Phương Trượng 方丈, Doanh Châu 瀛洲. Trên núi tiên có tiên nhân cư trú, có thuốc trường sinh bất lão. Tần Thuỷ Hoàng phái Từ Phúc ra biển cầu tiên nhân. Qua mấy năm, Từ Phúc bái kiến Tần Thuỷ Hoàng, nói rằng nhìn thấy 3 ngọn núi thần trong biển, gặp tiên nhân, có hướng đến tiên nhân cầu thuốc trường sinh, tiên nhân bảo rằng lễ vật quá ít, chỉ có thể xem thôi chứ không thể tặng. Từ Phúc theo tiên nhân đến núi Bồng Lai, nhìn thấy cung điện được xây bằng vàng bạc, nhìn thấy cầm thú đầy khắp cả mặt đất,  lông hết thảy đều màu trắng, còn thấy một vị sứ giả hình dạng như rồng với màu đồng, rực rỡ loé mắt. Từ Phúc hỏi thần tiên cần lễ vật gì, thần tiên đáp rằng, cần một số đồng nam, ngọc nữ và trăm thứ thợ là được.
              Tần Thuỷ Hoàng rất vui mừng, phái 3000 đồng nam ngọc nữ, đem theo nhiều tài vật và bách công kĩ nghệ theo Từ Phúc giong buồm ra biển, đến biển đông tìm núi tiên, cầu thuốc trường sinh bất lão. Mãi cho đến năm Tần Thuỷ Hoàng thứ 37, phương sĩ Từ Phúc đã lãng phí một số lượng lớn tài vật của Tần Thuỷ Hoàng, lại có cả mấy ngàn đồng nam ngọc nữ, hết thảy như trâu đất xuống biển, một đi không trở lại. Năm Tần Thuỷ Hoàng thứ 32, Doanh Chính đi tuần đến Kiệt Thạch 碣石, phái Lô Sinh 卢生, Phỏng Tiện Môn 访羡门, Cao Thệ 高誓 người nước Yên, lại phái Hàn Chung 韩钟, Hầu Công 侯公, Thạch Sinh 石生đi khắp nơi cầu tiên. Lô Sinh từ biển trở về, mang theo bức tiên thư, bên trên viết rằng:
              Vong Tần giả Hồ dã.
              亡秦者胡也
              (Diệt Tần là người Hồ)
              Doanh Chính bèn phái tướng quân Mông Điềm 蒙恬, lãnh 30 vạn binh, xuất kích người Hồ. Mãi đến lúc Doanh Chính lâm chung, vẫn còn hạ lệnh cho  Bác sĩ làm thơ tiên nhân, chân nhân, sai nhạc nhân đàn hát.

    Chú của người dịch
    1- Thái Sơn 泰山: còn được gọi là Đại sơn 岱山, Đại nhạc 岱岳, Đông nhạc 东岳, đứng đầu danh sơn toàn quốc, được xưng tụng là “thiên hạ đệ nhất sơn” 天下第一山
              Thái sơn là “ngũ nhạc chi trưởng”, cũng là “quần nhạc chi trưởng”. Ngũ nhạc gồm:
              Đông nhạc Thái sơn 东岳泰山
              Tây nhạc Hoá sơn 西岳华山
              Nam nhạc Hành sơn 南岳恒山
              Bắc nhạc Hằng sơn 北岳恒山
              Trung nhạc Tung sơn 中岳嵩山

                                                                    Huỳnh Chương Hưng
                                                                Quy Nhơn 22/4/2019

    Nguồn
    HOÀNG TRIỀU ĐIỂN CỐ KỈ VĂN
    皇朝典故纪闻
    Tác giả: Hướng Tư 向斯
    Bắc Kinh: Trung Quốc văn sử xuất bản xã, 2002

    Chủ Nhật, 21 tháng 4, 2019

    TRONG LỊCH SỬ CÓ CHẾ ĐỘ “NGỌ MÔN TRẢM THỦ” KHÔNG
    “NGỌ MÔN” LÀ NƠI NÀO

              Trong các phim cổ trang, đại thần đắc tội với hoàng đế, hoàng đế một khi đã giận, liền hạ lệnh “thôi xuất Ngọ Môn trảm thủ” 推出午门斩首 (lôi ra Ngọ Môn chém đầu). Thế thì Ngọ Môn 午门rốt cuộc chỉ nơi nào? Trong lịch sử Trung Quốc có thực tồn tại chế độ đó không?
              Ngọ Môn trong lịch trình biến đổi và phát triển cung điện của các đời ở Trung Quốc đều tồn tại. Trong Tử Cấm Thành 紫禁城, Ngọ Môn là chính môn, nằm trên trục tuyến nam bắc, nhân vì ở giữa, hướng về phía dương, vị trí Tí Ngọ, cho nên có tên là Ngọ Môn. Phía trước Ngọ Môn có Đoan Môn 端门, Thiên An Môn 天安门, Đại Thanh Môn 大清门; phía sau có Thái Hoà Môn 太和门 (đời Minh gọi là Phụng Thiên Môn 奉天门, sau đổi gọi là Hoàng Cực Môn 皇极门, đời Thanh đổi gọi như hiện nay).
              Ngọ Môn là nơi hoàng đế cử hành các nghi thức, như ban phát chiếu lệnh. Vào lúc Lập Xuân, hoàng đế ban “xuân bính” 春饼, ngày Đoan Ngọ ban “lương cao” 凉糕, ngày Trùng Dương ban “hoa cao” 花糕  (1) cũng đều cử hành nghi thức tại nơi này. Hằng năm vào ngày mồng 1 tháng Chạp, tại Ngọ Môn cử hành điển lễ “ban sóc” 颁朔 tức ban bố lịch cho năm sau. Gặp lúc chiến tranh, đại quân khải hoàn, cũng tại Ngọ Môn cử hành “hiến phu lễ” 献俘礼 đem tù binh bắt được kính hiến hoàng đế. Đời Minh, hoàng đế xử phạt “đình trượng” 廷杖 (đánh bằng gậy) các đại thần cũng tại nơi Ngọ Môn này.
              Thời cổ, hoàng đế xử quyết các bề tôi không phải cử hành tại Ngọ Môn, nhìn chung là áp giải đến Sài Thị 柴市 hoặc Thái Thị 菜市 để tiến hành, như “Mậu Tuất lục quân tử” 戊戌六君子 (2) nổi tiếng bị sát hại tại Thái Thị Khẩu菜市口. Thế thì tại sao tồn tại cách nói “thôi xuất Ngọ Môn trảm thủ”? Điều này có liên quan đến “đình trượng” nói ở trên. Đời Minh, nếu đại thần xúc phạm đến sự tôn nghiêm của hoàng gia, bèn gán cho tội “nghịch lân” 逆鳞 (3), bị trói đưa ra phía bên đông trước Ngọ Môn tiến hành xử phạt “đình trượng”. Lúc ban đầu chỉ là đánh tượng trưng, về sau phát triển đánh đến chết người. Như năm Chính Đức
    thứ 14, hoàng đế Chu Hậu Chiếu 朱厚照 muốn tuyển mĩ nữ ở Giang Nam 江南, quần thần dâng sớ can ngăn, hoàng đế phát nộ. Các đại thần như Thư Phân 舒芬, Hoàng Củng 黄巩... 130 người bị đình trượng, có đến 11 người bị đánh chết. Hoàng đế Gia Tĩnh 嘉靖 muốn truy phong thân phụ còn sống là Hưng Hiến Vương 兴献王làm Đế, gặp phải sự phản kháng của quần thần. Quần thần cả trăm người khóc lóc can gián tại Tả Thuận Môn 左顺门. Hoàng đế hạ lệnh thi hành đình trượng trừng phạt. Tại hiện trường chết 17 người, cho nên dân gian mới lưu truyền câu “thôi xuất Ngọ Môn trảm thủ”. Trên thực tế, Ngọ Môn là cổng vào Tử Cấm Thành, tuyệt nhiên không dễ dàng gì để thành pháp trường.

    Chú của người dịch
    1- Xuân bính春饼, lương cao 凉糕 , hoa cao 花糕 là tên các loại bánh.
    2- Mậu Tuất lục quân tử 戊戌六君子: chỉ 6 người bị sát hại trong sự kiện “Mậu Tuất biến pháp” 戊戌变法.
              Mậu Tuất biến pháp còn gọi là Bách nhật duy tân, Mậu Tuất duy tân, Duy tân biến pháp, là phong trào cải cách chính trị vào năm Quang Tự 光绪 thứ 24 (1898) (11/6 – 21/9/1898). Chủ trương biến pháp lần đó do Quang Tự đích thân lãnh đạo, nội dung chủ yếu là: Học tập phương Tây, đề xướng văn hoá khoa học; cải cách chế độ chính trị, giáo dục; phát triển nông công thương… Phong trào đã gặp phải sự phản đối quyết liệt của phái thủ cựu mà đứng đầu là Từ Hy Thái Hậu 慈禧太后. Tháng 9 năm đó, Từ Hy phát động chính biến, Quang Tự bị bắt giam, Khang Hữu Vi 康有为, Lương Khải Siêu 粱启超 lần lượt bỏ trốn sang Pháp và Nhật. Đàm Tự Đồng 谭嗣同, và 5 người khác là Lâm Húc 林旭, Dương Nhuệ 杨锐, Dương Thâm Tú 杨深秀, Lưu Quang Đệ 刘光第, Khang Quảng Nhân 康广仁 bị sát hại (6 người này được gọi là Mậu Tuất lục quân tử).
              Biến pháp chỉ trải qua 103 ngày, cuối cùng bị thất bại. Vì thế Mậu Tuất biến pháp cũng còn gọi là Bách nhật duy tân.
              Nguồn http://zh.wikipedia.org/wiki
                         http://baike.baidu.com/view/15917.htm
    3- Nghịch lân 逆鳞: truyền thuyết cho rằng, dưới cổ của rồng có một nhúm vảy ngược lớn bằng bàn tay sắc trắng, tục gọi là “nghịch lân”.
              Trong Hàn Phi Tử - Thuế nan đệ thập nhị 韩非子 - 说难第十二 có ghi:
              Phù long chi vi trùng dã, nhu khả hiệp nhi kị dã; nhiên kì hầu hạ hữu nghịch lân kính xích, nhược nhân hữu anh chi giả, tắc tất sát nhân. Nhân chủ diệc hữu nghịch lân, thuế giả năng vô anh nhân chủ chi nghịch lân, tắc kỉ hĩ.
              夫龙之为虫也, 柔可狎而骑也; 然其喉下有逆鳞径尺, 若人有婴之者, 则必杀人. 人主亦有逆鳞, 说者能无婴人主之逆鳞, 则几矣.
              (Rồng là loại trùng, nhu thuận có thể đùa cưỡi; nhưng dưới cổ họng của nó có vảy ngược dài khoảng 1 xích, nếu ai đụng vào vảy ngược đó tất sẽ bị sát hại. Vị quân chủ cũng có vảy ngược, người du thuyết mà không đụng đến vảy ngược của vị quân chủ thì đó là người giỏi du thuyết vậy.)
              (Hàn Phi Tử hiệu chú 韩非子校注: Trương Giác 张觉 hiệu chú. Trường Sa - Nhạc Lộc thư xã, 2006.)
              Về sau dùng “đụng nghịch lân” (đụng vào vảy ngược của rồng) ý nói xúc nộ hoàng đế.

                                                                   Huỳnh Chương Hưng
                                                                   Quy Nhơn 21/4/2019

    Nguyên tác Trung văn
    Trong quyển
    THÚ VỊ VĂN HOÁ TRI THỨC ĐẠI TOÀN
    趣味文化知识大全
    Thanh Thạch 青石 biên soạn
    Trung Quốc Hoa kiều xuất bản xã, 2013

    Dịch thuật: Trong lịch sử có chế độ "Ngọ Môn trảm thủ" không ...

    Đăng lúc  22:42  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    TRONG LỊCH SỬ CÓ CHẾ ĐỘ “NGỌ MÔN TRẢM THỦ” KHÔNG
    “NGỌ MÔN” LÀ NƠI NÀO

              Trong các phim cổ trang, đại thần đắc tội với hoàng đế, hoàng đế một khi đã giận, liền hạ lệnh “thôi xuất Ngọ Môn trảm thủ” 推出午门斩首 (lôi ra Ngọ Môn chém đầu). Thế thì Ngọ Môn 午门rốt cuộc chỉ nơi nào? Trong lịch sử Trung Quốc có thực tồn tại chế độ đó không?
              Ngọ Môn trong lịch trình biến đổi và phát triển cung điện của các đời ở Trung Quốc đều tồn tại. Trong Tử Cấm Thành 紫禁城, Ngọ Môn là chính môn, nằm trên trục tuyến nam bắc, nhân vì ở giữa, hướng về phía dương, vị trí Tí Ngọ, cho nên có tên là Ngọ Môn. Phía trước Ngọ Môn có Đoan Môn 端门, Thiên An Môn 天安门, Đại Thanh Môn 大清门; phía sau có Thái Hoà Môn 太和门 (đời Minh gọi là Phụng Thiên Môn 奉天门, sau đổi gọi là Hoàng Cực Môn 皇极门, đời Thanh đổi gọi như hiện nay).
              Ngọ Môn là nơi hoàng đế cử hành các nghi thức, như ban phát chiếu lệnh. Vào lúc Lập Xuân, hoàng đế ban “xuân bính” 春饼, ngày Đoan Ngọ ban “lương cao” 凉糕, ngày Trùng Dương ban “hoa cao” 花糕  (1) cũng đều cử hành nghi thức tại nơi này. Hằng năm vào ngày mồng 1 tháng Chạp, tại Ngọ Môn cử hành điển lễ “ban sóc” 颁朔 tức ban bố lịch cho năm sau. Gặp lúc chiến tranh, đại quân khải hoàn, cũng tại Ngọ Môn cử hành “hiến phu lễ” 献俘礼 đem tù binh bắt được kính hiến hoàng đế. Đời Minh, hoàng đế xử phạt “đình trượng” 廷杖 (đánh bằng gậy) các đại thần cũng tại nơi Ngọ Môn này.
              Thời cổ, hoàng đế xử quyết các bề tôi không phải cử hành tại Ngọ Môn, nhìn chung là áp giải đến Sài Thị 柴市 hoặc Thái Thị 菜市 để tiến hành, như “Mậu Tuất lục quân tử” 戊戌六君子 (2) nổi tiếng bị sát hại tại Thái Thị Khẩu菜市口. Thế thì tại sao tồn tại cách nói “thôi xuất Ngọ Môn trảm thủ”? Điều này có liên quan đến “đình trượng” nói ở trên. Đời Minh, nếu đại thần xúc phạm đến sự tôn nghiêm của hoàng gia, bèn gán cho tội “nghịch lân” 逆鳞 (3), bị trói đưa ra phía bên đông trước Ngọ Môn tiến hành xử phạt “đình trượng”. Lúc ban đầu chỉ là đánh tượng trưng, về sau phát triển đánh đến chết người. Như năm Chính Đức
    thứ 14, hoàng đế Chu Hậu Chiếu 朱厚照 muốn tuyển mĩ nữ ở Giang Nam 江南, quần thần dâng sớ can ngăn, hoàng đế phát nộ. Các đại thần như Thư Phân 舒芬, Hoàng Củng 黄巩... 130 người bị đình trượng, có đến 11 người bị đánh chết. Hoàng đế Gia Tĩnh 嘉靖 muốn truy phong thân phụ còn sống là Hưng Hiến Vương 兴献王làm Đế, gặp phải sự phản kháng của quần thần. Quần thần cả trăm người khóc lóc can gián tại Tả Thuận Môn 左顺门. Hoàng đế hạ lệnh thi hành đình trượng trừng phạt. Tại hiện trường chết 17 người, cho nên dân gian mới lưu truyền câu “thôi xuất Ngọ Môn trảm thủ”. Trên thực tế, Ngọ Môn là cổng vào Tử Cấm Thành, tuyệt nhiên không dễ dàng gì để thành pháp trường.

    Chú của người dịch
    1- Xuân bính春饼, lương cao 凉糕 , hoa cao 花糕 là tên các loại bánh.
    2- Mậu Tuất lục quân tử 戊戌六君子: chỉ 6 người bị sát hại trong sự kiện “Mậu Tuất biến pháp” 戊戌变法.
              Mậu Tuất biến pháp còn gọi là Bách nhật duy tân, Mậu Tuất duy tân, Duy tân biến pháp, là phong trào cải cách chính trị vào năm Quang Tự 光绪 thứ 24 (1898) (11/6 – 21/9/1898). Chủ trương biến pháp lần đó do Quang Tự đích thân lãnh đạo, nội dung chủ yếu là: Học tập phương Tây, đề xướng văn hoá khoa học; cải cách chế độ chính trị, giáo dục; phát triển nông công thương… Phong trào đã gặp phải sự phản đối quyết liệt của phái thủ cựu mà đứng đầu là Từ Hy Thái Hậu 慈禧太后. Tháng 9 năm đó, Từ Hy phát động chính biến, Quang Tự bị bắt giam, Khang Hữu Vi 康有为, Lương Khải Siêu 粱启超 lần lượt bỏ trốn sang Pháp và Nhật. Đàm Tự Đồng 谭嗣同, và 5 người khác là Lâm Húc 林旭, Dương Nhuệ 杨锐, Dương Thâm Tú 杨深秀, Lưu Quang Đệ 刘光第, Khang Quảng Nhân 康广仁 bị sát hại (6 người này được gọi là Mậu Tuất lục quân tử).
              Biến pháp chỉ trải qua 103 ngày, cuối cùng bị thất bại. Vì thế Mậu Tuất biến pháp cũng còn gọi là Bách nhật duy tân.
              Nguồn http://zh.wikipedia.org/wiki
                         http://baike.baidu.com/view/15917.htm
    3- Nghịch lân 逆鳞: truyền thuyết cho rằng, dưới cổ của rồng có một nhúm vảy ngược lớn bằng bàn tay sắc trắng, tục gọi là “nghịch lân”.
              Trong Hàn Phi Tử - Thuế nan đệ thập nhị 韩非子 - 说难第十二 có ghi:
              Phù long chi vi trùng dã, nhu khả hiệp nhi kị dã; nhiên kì hầu hạ hữu nghịch lân kính xích, nhược nhân hữu anh chi giả, tắc tất sát nhân. Nhân chủ diệc hữu nghịch lân, thuế giả năng vô anh nhân chủ chi nghịch lân, tắc kỉ hĩ.
              夫龙之为虫也, 柔可狎而骑也; 然其喉下有逆鳞径尺, 若人有婴之者, 则必杀人. 人主亦有逆鳞, 说者能无婴人主之逆鳞, 则几矣.
              (Rồng là loại trùng, nhu thuận có thể đùa cưỡi; nhưng dưới cổ họng của nó có vảy ngược dài khoảng 1 xích, nếu ai đụng vào vảy ngược đó tất sẽ bị sát hại. Vị quân chủ cũng có vảy ngược, người du thuyết mà không đụng đến vảy ngược của vị quân chủ thì đó là người giỏi du thuyết vậy.)
              (Hàn Phi Tử hiệu chú 韩非子校注: Trương Giác 张觉 hiệu chú. Trường Sa - Nhạc Lộc thư xã, 2006.)
              Về sau dùng “đụng nghịch lân” (đụng vào vảy ngược của rồng) ý nói xúc nộ hoàng đế.

                                                                   Huỳnh Chương Hưng
                                                                   Quy Nhơn 21/4/2019

    Nguyên tác Trung văn
    Trong quyển
    THÚ VỊ VĂN HOÁ TRI THỨC ĐẠI TOÀN
    趣味文化知识大全
    Thanh Thạch 青石 biên soạn
    Trung Quốc Hoa kiều xuất bản xã, 2013

    Thứ Bảy, 20 tháng 4, 2019

    HOẠN QUAN Y LỆ MƯU HẠI THÁI TỬ NƯỚC TỐNG

              Năm 547 trước công nguyên (Tống Bình Công 宋平公 năm thứ 29), trước năm này, Đại phu nước Tống là Nhuế Tư Đồ 芮司徒  sinh được một cô con gái, nhân vì toàn thân có màu đỏ, lại mọc lông, nên đã đem vứt bỏ dưới chân đê. Phu nhân của Tống Cung Công 宋共公 liền nhặt đưa về, đặt tên là “Khí” (vứt bỏ). Không ngờ, sau khi trưởng thành, Khí vô cùng xinh đẹp. Tống Bình Công (1) nhìn thấy liên thu nạp làm cơ thiếp. Được sự sủng ái, Khí sinh ra một người con trai, đặt tên là Tá . Tướng mạo của Tá xấu xí, nhưng tính tình lại rất ôn thuận. Ngược lại, thái tử Toạ 痤 tướng mạo đẹp đẽ, nhưng tính tình lại rất ác độc, đến nỗi Tả sư Hướng Nhung 向戎 không thích. Một hoạn quan của thái tử Toạ tên là Y Lệ 伊戾, không được thái tử sủng tín. Mùa thu năm đó, sứ giả nước Sở đến thăm nước Tấn, trên đường đi ngang qua nước Tống. Thái tử Toạ muốn có mối quan hệ với nước Sở, quyết định mời dùng bữa cơm ngoài trời. Y Lệ xin được đi cùng, Bình Công bảo rằng:
              - Chẳng phải thái tử không thích nhà ngươi sao?
              Y Lệ đáp rằng:
              - Tiểu nhân hầu hạ quân tử, có bị chán ghét cũng không dám rời xa, có được ưa thích cũng không dám dựa kề, chỉ có thể cung kính phục vụ mệnh lệnh, thần sao dám hai lòng được?
              Nhưng, Y Lệ theo thái tử đi chẳng bao lâu, liền chạy đến chỗ Bình Công báo rằng:
              - Thái tử chuẩn bị làm loạn, đang cùng với người nước Sở đính lập minh ước.
              Bình Công hỏi:
              - Nó ta đã là thái tử lại còn muốn gì nữa?
              Y Lệ đáp rằng:
              - Ông ta muốn nhanh chóng lên ngôi quốc quân.
              Tống Bình Công sai người đến hiện trường xem thử, quả nhiên phát hiện có một số đồ vật dùng trong lúc minh thệ. Kì thực, những đồ này đều là do Y Lệ đặt trước. Bình Công hỏi Khí và Hướng Nhung, họ đều chứng thực lời báo cáo của Y Lệ. Bình Công bèn bắt nhốt thái tử Toạ. Thái tử nói rằng:
              - Chỉ có Tá ra mặt làm chứng ta mới có thể miễn tội chết.
    Liền sai người đi mời người anh em là Tá, đồng thời nói rằng:
              - Nếu như đến giữa trưa mà Tá chưa đến, ta biết là mình chết chắc.
              Hướng Nhung nghe được liền đi tìm cách trò chuyện với Tá, nói chuyện lôi thôi dài dòng mãi không chịu dứt. Nhìn thấy đã qua buổi trưa, Tá vẫn chưa đến, thái tử cho rằng Tá không muốn làm chứng, bèn tự sát.

    Chú của người dịch:
    1- Tống Bình Công là con của Tống Cung Công.

                                                                    Huỳnh Chương Hưng
                                                                    Quy Nhơn 20/4/2019

    Nguyên tác Trung văn
    HOẠN QUAN Y LỆ MƯU HẠI TỐNG QUỐC THÁI TỬ
    宦官伊戾谋害宋国太子
    Trong quyển
    ĐỒ VĂN TRUNG QUỐC THÔNG SỬ
    图文中国通史
    (tập Sử tiền sử - Chiến quốc)
    Chủ biên: Triệu Hướng Tiêu 赵向标
    Tân Cương nhân dân xuất bản xã, 2002.

    Dịch thuật: Hoạn quan Y Lệ mưu hại thái tử nước Tống

    Đăng lúc  23:11  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    HOẠN QUAN Y LỆ MƯU HẠI THÁI TỬ NƯỚC TỐNG

              Năm 547 trước công nguyên (Tống Bình Công 宋平公 năm thứ 29), trước năm này, Đại phu nước Tống là Nhuế Tư Đồ 芮司徒  sinh được một cô con gái, nhân vì toàn thân có màu đỏ, lại mọc lông, nên đã đem vứt bỏ dưới chân đê. Phu nhân của Tống Cung Công 宋共公 liền nhặt đưa về, đặt tên là “Khí” (vứt bỏ). Không ngờ, sau khi trưởng thành, Khí vô cùng xinh đẹp. Tống Bình Công (1) nhìn thấy liên thu nạp làm cơ thiếp. Được sự sủng ái, Khí sinh ra một người con trai, đặt tên là Tá . Tướng mạo của Tá xấu xí, nhưng tính tình lại rất ôn thuận. Ngược lại, thái tử Toạ 痤 tướng mạo đẹp đẽ, nhưng tính tình lại rất ác độc, đến nỗi Tả sư Hướng Nhung 向戎 không thích. Một hoạn quan của thái tử Toạ tên là Y Lệ 伊戾, không được thái tử sủng tín. Mùa thu năm đó, sứ giả nước Sở đến thăm nước Tấn, trên đường đi ngang qua nước Tống. Thái tử Toạ muốn có mối quan hệ với nước Sở, quyết định mời dùng bữa cơm ngoài trời. Y Lệ xin được đi cùng, Bình Công bảo rằng:
              - Chẳng phải thái tử không thích nhà ngươi sao?
              Y Lệ đáp rằng:
              - Tiểu nhân hầu hạ quân tử, có bị chán ghét cũng không dám rời xa, có được ưa thích cũng không dám dựa kề, chỉ có thể cung kính phục vụ mệnh lệnh, thần sao dám hai lòng được?
              Nhưng, Y Lệ theo thái tử đi chẳng bao lâu, liền chạy đến chỗ Bình Công báo rằng:
              - Thái tử chuẩn bị làm loạn, đang cùng với người nước Sở đính lập minh ước.
              Bình Công hỏi:
              - Nó ta đã là thái tử lại còn muốn gì nữa?
              Y Lệ đáp rằng:
              - Ông ta muốn nhanh chóng lên ngôi quốc quân.
              Tống Bình Công sai người đến hiện trường xem thử, quả nhiên phát hiện có một số đồ vật dùng trong lúc minh thệ. Kì thực, những đồ này đều là do Y Lệ đặt trước. Bình Công hỏi Khí và Hướng Nhung, họ đều chứng thực lời báo cáo của Y Lệ. Bình Công bèn bắt nhốt thái tử Toạ. Thái tử nói rằng:
              - Chỉ có Tá ra mặt làm chứng ta mới có thể miễn tội chết.
    Liền sai người đi mời người anh em là Tá, đồng thời nói rằng:
              - Nếu như đến giữa trưa mà Tá chưa đến, ta biết là mình chết chắc.
              Hướng Nhung nghe được liền đi tìm cách trò chuyện với Tá, nói chuyện lôi thôi dài dòng mãi không chịu dứt. Nhìn thấy đã qua buổi trưa, Tá vẫn chưa đến, thái tử cho rằng Tá không muốn làm chứng, bèn tự sát.

    Chú của người dịch:
    1- Tống Bình Công là con của Tống Cung Công.

                                                                    Huỳnh Chương Hưng
                                                                    Quy Nhơn 20/4/2019

    Nguyên tác Trung văn
    HOẠN QUAN Y LỆ MƯU HẠI TỐNG QUỐC THÁI TỬ
    宦官伊戾谋害宋国太子
    Trong quyển
    ĐỒ VĂN TRUNG QUỐC THÔNG SỬ
    图文中国通史
    (tập Sử tiền sử - Chiến quốc)
    Chủ biên: Triệu Hướng Tiêu 赵向标
    Tân Cương nhân dân xuất bản xã, 2002.

    Thứ Sáu, 19 tháng 4, 2019

    TẠI SAO NGƯỜI XƯA GỌI TRƯỞNG QUAN ĐỊA PHƯƠNG LÀ 
    “PHỤ MẪU QUAN”

              “Phụ mẫu quan” 父母官 (quan phụ mẫu) là từ tôn xưng của bách tính đối với châu quan, huyện quan vào thời cổ. Thế thì, do đâu mà mọi người gọi quan của địa phương là “phụ mẫu quan”?
              Theo ghi chép trong Hán thư 汉书, thời Hán Nguyên Đế 汉元帝có một vị đại thần tên Thiệu Tín Thần 召信臣, đảm nhiệm chức Thái thú ở Nam Dương 南阳. Thời gian cai trị, ông yêu dân như con, tạo phúc cả một vùng; còn làm thuỷ lợi, xây dựng những công trình thực tế có lợi cho dân. Thiệu Tín Thần thường xuyên xuống ruộng đích thân hướng dẫn dân canh tác. Làm việc mệt nhọc, ông với dân cùng ăn cùng ngủ. Do bởi nước tưới kịp thời, canh tác hợp lí, nên thu nhập của nông dân hàng năm tăng lên. Đồng thời với việc hướng dẫn dân nỗ lực sản xuất, Thiệu Tín Thần còn đặc biệt chú trọng đến việc giáo hoá. Ông chế định ra không ít những quy định thay đổi phong tục, ví dụ như: yêu cầu người dân địa phương trong hôn tang giá thú không được phô trương lãng phí; quan lại cùng con em nếu có người kiêu xa dâm dật, phải bị bãi quan và chịu hình phạt.
              Dưới sự trị lí của Thiệu Tín Thần, quận Nam Dương an lạc hoà mục, phong tục tiết kiệm thịnh hành, địa phương giàu có. Bách tính các nơi khác nghe nói, đều dời đến ở. Người dân địa phương vô cùng kính yêu vị Thái thú này, thế là gọi ông ta là “Thiệu phụ” 召父. Nơi phía nam thành ở huyện Đường Hà 唐河đến nam vẫn bảo lưu được di chỉ “Thiệu phụ cừ” 召父渠 (mương nước Thiệu phụ).
              Không chỉ có một, đến thời Quang Vũ Đế 光武帝 triều Đông Hán, bách tính Nam Dương lại được gặp một vị Thái thú tốt, tên ông ta là Đỗ Thi 杜诗. Tương truyền Đỗ Thi đem lại điều lợi cho dân nhiều hơn Thiệu Tín Thần. Thế là người dân Nam Dương trước có cách nói “tiền hữu Thiệu phụ, hậu hữu Đỗ mẫu” 前有召父, 后有杜母 (trước có  Thiệu phụ, sau có Đỗ mẫu).
              Về sau, bách tính cũng thường gọi một cách thân thiết những quan viên cần chính liêm khiết là “phụ mẫu quan”. Và về sau nữa, bất luận chính tích của quan viên như thế nào, họ cũng đều được tôn trọng. Cho nên, để đề cao quan viên, mọi người bèn gọi chung quan địa phương là “phụ mẫu quan”. Đương nhiên, cách gọi này cũng hi vọng ở họ cũng có thành phần giống như “Thiệu phụ Đỗ mẫu” biết mưu cầu phúc lợi cho dân.

                                                                   Huỳnh Chương Hưng
                                                                   Quy Nhơn 19/4/2019

    Nguyên tác Trung văn
    Trong quyển
    THÚ VỊ VĂN HOÁ TRI THỨC ĐẠI TOÀN
    趣味文化知识大全
    Thanh Thạch 青石 biên soạn
    Trung Quốc Hoa kiều xuất bản xã, 2013

    Dịch thuật: Tại sao người xưa gọi trưởng quan địa phương là "phụ mẫu quan"

    Đăng lúc  21:41  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    TẠI SAO NGƯỜI XƯA GỌI TRƯỞNG QUAN ĐỊA PHƯƠNG LÀ 
    “PHỤ MẪU QUAN”

              “Phụ mẫu quan” 父母官 (quan phụ mẫu) là từ tôn xưng của bách tính đối với châu quan, huyện quan vào thời cổ. Thế thì, do đâu mà mọi người gọi quan của địa phương là “phụ mẫu quan”?
              Theo ghi chép trong Hán thư 汉书, thời Hán Nguyên Đế 汉元帝có một vị đại thần tên Thiệu Tín Thần 召信臣, đảm nhiệm chức Thái thú ở Nam Dương 南阳. Thời gian cai trị, ông yêu dân như con, tạo phúc cả một vùng; còn làm thuỷ lợi, xây dựng những công trình thực tế có lợi cho dân. Thiệu Tín Thần thường xuyên xuống ruộng đích thân hướng dẫn dân canh tác. Làm việc mệt nhọc, ông với dân cùng ăn cùng ngủ. Do bởi nước tưới kịp thời, canh tác hợp lí, nên thu nhập của nông dân hàng năm tăng lên. Đồng thời với việc hướng dẫn dân nỗ lực sản xuất, Thiệu Tín Thần còn đặc biệt chú trọng đến việc giáo hoá. Ông chế định ra không ít những quy định thay đổi phong tục, ví dụ như: yêu cầu người dân địa phương trong hôn tang giá thú không được phô trương lãng phí; quan lại cùng con em nếu có người kiêu xa dâm dật, phải bị bãi quan và chịu hình phạt.
              Dưới sự trị lí của Thiệu Tín Thần, quận Nam Dương an lạc hoà mục, phong tục tiết kiệm thịnh hành, địa phương giàu có. Bách tính các nơi khác nghe nói, đều dời đến ở. Người dân địa phương vô cùng kính yêu vị Thái thú này, thế là gọi ông ta là “Thiệu phụ” 召父. Nơi phía nam thành ở huyện Đường Hà 唐河đến nam vẫn bảo lưu được di chỉ “Thiệu phụ cừ” 召父渠 (mương nước Thiệu phụ).
              Không chỉ có một, đến thời Quang Vũ Đế 光武帝 triều Đông Hán, bách tính Nam Dương lại được gặp một vị Thái thú tốt, tên ông ta là Đỗ Thi 杜诗. Tương truyền Đỗ Thi đem lại điều lợi cho dân nhiều hơn Thiệu Tín Thần. Thế là người dân Nam Dương trước có cách nói “tiền hữu Thiệu phụ, hậu hữu Đỗ mẫu” 前有召父, 后有杜母 (trước có  Thiệu phụ, sau có Đỗ mẫu).
              Về sau, bách tính cũng thường gọi một cách thân thiết những quan viên cần chính liêm khiết là “phụ mẫu quan”. Và về sau nữa, bất luận chính tích của quan viên như thế nào, họ cũng đều được tôn trọng. Cho nên, để đề cao quan viên, mọi người bèn gọi chung quan địa phương là “phụ mẫu quan”. Đương nhiên, cách gọi này cũng hi vọng ở họ cũng có thành phần giống như “Thiệu phụ Đỗ mẫu” biết mưu cầu phúc lợi cho dân.

                                                                   Huỳnh Chương Hưng
                                                                   Quy Nhơn 19/4/2019

    Nguyên tác Trung văn
    Trong quyển
    THÚ VỊ VĂN HOÁ TRI THỨC ĐẠI TOÀN
    趣味文化知识大全
    Thanh Thạch 青石 biên soạn
    Trung Quốc Hoa kiều xuất bản xã, 2013

    Thứ Năm, 18 tháng 4, 2019

    NHẤT NGÔN CỬU ĐỈNH
    一言九鼎

    Giải thích: cửu đỉnh: 9 cái đỉnh, báu vật truyền quốc tượng trưng cho chính quyền quốc gia. Chỉ một câu nói mà có sức nặng như 9 cái đỉnh, hình dung lời nói cực kì có sức mạnh, có tác dụng mang tính quyết định.
    Xuất xứ: Hán . Tư Mã Thiên 司马迁: Sử Kí – Bình Nguyên Quân Ngu Khanh liệt truyện 史记 - 平原君虞卿列传.

              Tần Chiêu Vương 秦昭王năm thứ 15, quân Tần tấn công đô thành Hàm Đan 邯郸 của nước Triệu, nước Triệu phái Bình Nguyên Quân 平原君 đến nước Sở thỉnh cầu viện trợ. Sở Vương không đáp ứng. Cuối cùng, môn khách Mao Toại 毛遂 - một thủ hạ của Bình Nguyên Quân trước giờ bị xem thường, tự nguyện rút kiếm bước lên điện, phân tích thời cuộc cho Sở Vương nghe, nói rõ lợi hại, cuối cùng thuyết phục được Sở Vương. Mao Toại nhân đó lập được đại công.
              Bình Nguyên Quân khen ngợi Mao Toại rằng:
              - Mao tiên sinh nhất chí Sở, nhi sử Triệu quốc trọng vu cửu đỉnh Đại Lữ. Mao tiên sinh tam thốn chi thiệt, cường vu bách vạn chi sư.
              毛先生一至楚, 而使赵国重于九鼎大吕. 毛先生三寸之舌, 强于百万之师.
              Ý của câu này là:
    Tiên sinh vừa đến nước Sở, đã khiến cho địa vị nước Triệu của chúng ta được nâng cao, trọng yếu như cửu đỉnh Đại Lữ (1). Ba tấc lưỡi của tiên sinh còn mạnh hơn đội quân trăm vạn người.

    Chú của người dịch:
    1- Cửu đỉnh Đại Lữ 九鼎大吕:
              Cửu đỉnh: tương truyền Hạ Vũ đúc 9 đỉnh tượng trưng cho 9 châu. 9 đỉnh này là báu vật truyền quốc của 3 đời Hạ, Thương, Chu.
              Đại Lữ: tên một chiếc chuông cổ trong Chu miếu.

                                                          Huỳnh Chương Hưng
                                                Quy Nhơn 18/4/2019

    Nguyên tác Trung văn
    NHẤT NGÔN CỬU ĐỈNH
    一言九鼎
    TRUNG QUỐC THÀNH NGỮ CỐ SỰ TỔNG TẬP
    中国成语故事总集
    (tập 1)
    Chủ biên: Đường Kì 唐麒
    Trường Xuân – Thời đại văn nghệ xuất bản xã, 2004

    Dịch thuật: Nhất ngôn cửu đỉnh (thành ngữ)

    Đăng lúc  21:49  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    NHẤT NGÔN CỬU ĐỈNH
    一言九鼎

    Giải thích: cửu đỉnh: 9 cái đỉnh, báu vật truyền quốc tượng trưng cho chính quyền quốc gia. Chỉ một câu nói mà có sức nặng như 9 cái đỉnh, hình dung lời nói cực kì có sức mạnh, có tác dụng mang tính quyết định.
    Xuất xứ: Hán . Tư Mã Thiên 司马迁: Sử Kí – Bình Nguyên Quân Ngu Khanh liệt truyện 史记 - 平原君虞卿列传.

              Tần Chiêu Vương 秦昭王năm thứ 15, quân Tần tấn công đô thành Hàm Đan 邯郸 của nước Triệu, nước Triệu phái Bình Nguyên Quân 平原君 đến nước Sở thỉnh cầu viện trợ. Sở Vương không đáp ứng. Cuối cùng, môn khách Mao Toại 毛遂 - một thủ hạ của Bình Nguyên Quân trước giờ bị xem thường, tự nguyện rút kiếm bước lên điện, phân tích thời cuộc cho Sở Vương nghe, nói rõ lợi hại, cuối cùng thuyết phục được Sở Vương. Mao Toại nhân đó lập được đại công.
              Bình Nguyên Quân khen ngợi Mao Toại rằng:
              - Mao tiên sinh nhất chí Sở, nhi sử Triệu quốc trọng vu cửu đỉnh Đại Lữ. Mao tiên sinh tam thốn chi thiệt, cường vu bách vạn chi sư.
              毛先生一至楚, 而使赵国重于九鼎大吕. 毛先生三寸之舌, 强于百万之师.
              Ý của câu này là:
    Tiên sinh vừa đến nước Sở, đã khiến cho địa vị nước Triệu của chúng ta được nâng cao, trọng yếu như cửu đỉnh Đại Lữ (1). Ba tấc lưỡi của tiên sinh còn mạnh hơn đội quân trăm vạn người.

    Chú của người dịch:
    1- Cửu đỉnh Đại Lữ 九鼎大吕:
              Cửu đỉnh: tương truyền Hạ Vũ đúc 9 đỉnh tượng trưng cho 9 châu. 9 đỉnh này là báu vật truyền quốc của 3 đời Hạ, Thương, Chu.
              Đại Lữ: tên một chiếc chuông cổ trong Chu miếu.

                                                          Huỳnh Chương Hưng
                                                Quy Nhơn 18/4/2019

    Nguyên tác Trung văn
    NHẤT NGÔN CỬU ĐỈNH
    一言九鼎
    TRUNG QUỐC THÀNH NGỮ CỐ SỰ TỔNG TẬP
    中国成语故事总集
    (tập 1)
    Chủ biên: Đường Kì 唐麒
    Trường Xuân – Thời đại văn nghệ xuất bản xã, 2004

    Thứ Tư, 17 tháng 4, 2019

    “Á THÁNH” MẠNH TỬ

              Mạnh Tử tên Kha , tự Tử Dư 子舆, là người nước Trâu thời Chiến Quốc, học trò của Tử Tư 子思, đệ tử tái truyền của Khổng Tử 孔子. Lúc nhỏ phụ thân đã qua đời, Mạnh Tử dựa vào sự nuôi dưỡng của mẫu thân hiền thục. Về mẫu thân của Mạnh Tử, lưu truyền giai thoại “Mạnh mẫu tam thiên” 孟母三迁 (ba lần dời chỗ ở) và “đoạn cơ giáo tử” 断机教子 (cắt vải đang dệt để dạy con).
              Mạnh Tử đi học chẳng bao lâu, một ngày nọ, mẫu thân hỏi ông:
              - Hôm nay con ở trường học được những gì?
              - Con không biết.
              Mạnh Tử trả lời không được, nhưng trên mặt chẳng có chút xấu hổ nào. Mạnh mẫu giận cầm dao cắt đứt tấm vải đang dệt trên khung cửi. Mạnh Tử kinh ngạc nói rằng:
              - Mẹ, sao lại cắt đứt tấm vải.
              Mạnh mẫu giận nói rằng:
              - Một người nếu không chịu nghiên cứu học hỏi thì cũng giống như tấm vải này, không có cách nào dệt tiếp tục để thành loại hữu dụng. Con đi học, mà lại không chịu đọc sách, thế thì đi học có ích gì?
              Từ lúc được mẫu thân giáo huấn, Mạnh Tử bắt đầu nỗ lực đọc sách, cuối cùng trở thành một đại học giả.
              Về sau, Mạnh Tử đi chu du các nước, tuyên dương chủ trương chính trị “nhân chính” 仁政 “vương đạo” 王道 của Nho gia, không tán thành chiến tranh, hi vọng quốc quân các nước dùng tinh thần “nhân nghĩa” của Nho gia để trị lí đất nước. Đáng tiếc, cuối triều Chu, các nước tranh cường công kích lẫn nhau, người mà chư hầu cần là người hiểu được quyền mưu, có thể mở rộng đất nước cho họ để xưng bá thiên hạ. Nhân đó quốc quân các nước đều cho rằng lí luận của Mạnh Tử không thực tế, nên lần lượt cự tuyệt ông. Tề Vương 齐王 nói rằng:
              - Xin lỗi, hiện tại ta cần người có thể giúp ta đánh thắng trận.
              Lương Huệ Vương 梁惠王 cũng nói với Mạnh Tử:
              - Thực hành nhân chính ư? Không phải là điều mà ta hiện muốn!
              Mạnh Tử đi đến nước Tề, nước Lương đều không thể có được cơ hội giúp quốc quân, ông thất vọng nghĩ rằng:
    Ôi! Đương lúc khắp nơi đánh nhau, muốn thực hiện lí tưởng của mình, e là không thể rồi, chi bằng quay trở về.
              Thế là, Mạnh Tử về lại nước Trâu, cùng các đệ tử Công Tôn Sửu 公孙丑, Vạn Chương 万章 giảng nghĩa luận đạo, hoằng dương tư tưởng nhân nghĩa của Nho gia, đồng thời hoàn thành 7 thiên luận thuật. Người đời sau kính trọng nhân cách  và học vấn của Mạnh Tử, tôn xưng ông là “Á Thánh” 亚圣.

                                                             Huỳnh Chương Hưng
                                                             Quy Nhơn 17/4/2019

    Nguyên tác Trung văn
     “Á THÁNH” MẠNH TỬ
    亚圣孟子
    Trong quyển
    BÁCH GIA TÍNH
    百家姓
    Biên soạn: Triệu Dương 赵阳
    Cát Lâm Đại học xuất bản xã, 2005 

    Dịch thuật: "Á Thánh" Mạnh Tử

    Đăng lúc  21:43  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    “Á THÁNH” MẠNH TỬ

              Mạnh Tử tên Kha , tự Tử Dư 子舆, là người nước Trâu thời Chiến Quốc, học trò của Tử Tư 子思, đệ tử tái truyền của Khổng Tử 孔子. Lúc nhỏ phụ thân đã qua đời, Mạnh Tử dựa vào sự nuôi dưỡng của mẫu thân hiền thục. Về mẫu thân của Mạnh Tử, lưu truyền giai thoại “Mạnh mẫu tam thiên” 孟母三迁 (ba lần dời chỗ ở) và “đoạn cơ giáo tử” 断机教子 (cắt vải đang dệt để dạy con).
              Mạnh Tử đi học chẳng bao lâu, một ngày nọ, mẫu thân hỏi ông:
              - Hôm nay con ở trường học được những gì?
              - Con không biết.
              Mạnh Tử trả lời không được, nhưng trên mặt chẳng có chút xấu hổ nào. Mạnh mẫu giận cầm dao cắt đứt tấm vải đang dệt trên khung cửi. Mạnh Tử kinh ngạc nói rằng:
              - Mẹ, sao lại cắt đứt tấm vải.
              Mạnh mẫu giận nói rằng:
              - Một người nếu không chịu nghiên cứu học hỏi thì cũng giống như tấm vải này, không có cách nào dệt tiếp tục để thành loại hữu dụng. Con đi học, mà lại không chịu đọc sách, thế thì đi học có ích gì?
              Từ lúc được mẫu thân giáo huấn, Mạnh Tử bắt đầu nỗ lực đọc sách, cuối cùng trở thành một đại học giả.
              Về sau, Mạnh Tử đi chu du các nước, tuyên dương chủ trương chính trị “nhân chính” 仁政 “vương đạo” 王道 của Nho gia, không tán thành chiến tranh, hi vọng quốc quân các nước dùng tinh thần “nhân nghĩa” của Nho gia để trị lí đất nước. Đáng tiếc, cuối triều Chu, các nước tranh cường công kích lẫn nhau, người mà chư hầu cần là người hiểu được quyền mưu, có thể mở rộng đất nước cho họ để xưng bá thiên hạ. Nhân đó quốc quân các nước đều cho rằng lí luận của Mạnh Tử không thực tế, nên lần lượt cự tuyệt ông. Tề Vương 齐王 nói rằng:
              - Xin lỗi, hiện tại ta cần người có thể giúp ta đánh thắng trận.
              Lương Huệ Vương 梁惠王 cũng nói với Mạnh Tử:
              - Thực hành nhân chính ư? Không phải là điều mà ta hiện muốn!
              Mạnh Tử đi đến nước Tề, nước Lương đều không thể có được cơ hội giúp quốc quân, ông thất vọng nghĩ rằng:
    Ôi! Đương lúc khắp nơi đánh nhau, muốn thực hiện lí tưởng của mình, e là không thể rồi, chi bằng quay trở về.
              Thế là, Mạnh Tử về lại nước Trâu, cùng các đệ tử Công Tôn Sửu 公孙丑, Vạn Chương 万章 giảng nghĩa luận đạo, hoằng dương tư tưởng nhân nghĩa của Nho gia, đồng thời hoàn thành 7 thiên luận thuật. Người đời sau kính trọng nhân cách  và học vấn của Mạnh Tử, tôn xưng ông là “Á Thánh” 亚圣.

                                                             Huỳnh Chương Hưng
                                                             Quy Nhơn 17/4/2019

    Nguyên tác Trung văn
     “Á THÁNH” MẠNH TỬ
    亚圣孟子
    Trong quyển
    BÁCH GIA TÍNH
    百家姓
    Biên soạn: Triệu Dương 赵阳
    Cát Lâm Đại học xuất bản xã, 2005 

    Thứ Ba, 16 tháng 4, 2019

    NGUỒN GỐC HỌ MẠNH

    Về nguồn gốc họ (tính) Mạnh  chủ yếu xuất phát từ tính Cơ :
              Công tộc nước Lỗ thời Xuân Thu là con cháu tính Cơ của Chu Văn Vương 周文王, thuỷ tổ mang họ Mạnh là Khánh Phủ Cung Trọng 庆父共仲 (1), con thứ của Lỗ Hoàn Công 鲁桓公.
    Khánh Phủ 庆父phẩm hạnh cực xấu. Trong số các con thứ của Lỗ Hoàn Công, ông là lớn nhất. Để tránh tội thí quân của Khánh Phủ, đồng thời trong thứ tự anh em, chữ “Mạnh” đại biểu cho người lớn nhất, con cháu của Khánh Phủ đã đổi xưng là “Mạnh Tôn thị” 孟孙氏, về sau giản hoá là Mạnh thị 孟氏. Chi mang họ Mạnh này xuất phát từ Sơn Đông 山东.
    Con cháu đời sau của Mạnh Kha 孟轲, nhân bổn tộc được vinh dự đã tôn Mạnh Kha làm thuỷ tổ họ Mạnh.
              Họ Mạnh ước chiếm 0,24% nhân khẩu của dân tộc Hán trong cả nước, chiếm vị trí thứ 84. Tại các tỉnh Sơn Đông, Hà Nam, Liêu Ninh, Hắc Long Giang, Cát Lâm nhiều người mang họ Mạnh, trong đó ở Sơn Đông họ Mạnh tập trung nhiều nhất.

    Danh nhân các đời
              Thời Chiến Quốc có Mạnh Kha 孟轲, triết học gia nổi tiếng, Mặc gia Mạnh Thắng 孟胜, dũng sĩ Mạnh Bôn (Bí) 孟贲. Thời Tây Hán có Mạnh Hỉ 孟喜, người khai sáng kim văn Dịch học “Mạnh Dịch học” 孟易学. Thời Đông Hán có Mạnh Quang 孟光đã “cử án tề mi”  举案齐眉 (nâng mâm ngang mày) (2) đối với chồng. Thời Tam Quốc, tại nước Ngô có Mạnh Tông 孟宗thờ mẹ chí hiếu “khốc trúc sinh duẫn” 哭竹生笋 (khóc trúc sinh măng) (3), Thục Hán có Mạnh Hoạch 孟获, thủ lĩnh tộc Di. Cuối đời Tuỳ có Mạnh Nhượng 孟让, Mạnh Hải Công 孟海公 thủ lĩnh khởi nghĩa nông dân. Thời Đường có thi nhân Mạnh Hạo Nhiên 孟浩然, Mạnh Vân Khanh 孟云卿, Mạnh Giao 孟郊, thuỷ lợi học gia Mạnh Giản 孟简.

    Chú của người dịch
    1- Khánh Phủ Cung Trọng 庆父共仲 (? – năm 660 trước công nguyên): tính Cơ danh Khánh Phủ 庆父, tự Trọng Tôn 仲孙, Thượng khanh của nước Lỗ thời Xuân Thu, con của Lỗ Hoàn Công Cơ Doãn 鲁桓公姬允, em khác mẹ với Lỗ Trang Công Cơ Đồng 鲁庄公姬同. Khánh Phủ được xem là ông tổ của Mạnh Tôn thị 孟孙氏, một trong “tam Hoàn” 三桓 của nước Lỗ. Sau khi Lỗ Trang Công qua đời, Khánh Phủ trước sau sai người sát hại quốc quân công tử Cơ Ban 姬般 và Lỗ Mẫn Công Cơ Khải 鲁闵公姬启, gây ra nội loạn chính trị. Về sau, cũng vì nội loạn, Khánh Phủ chạy sang nước Cử . Qua một thời gian, quốc quân nước Cử nhận hối lộ, đưa Khánh Phủ về nước, giữa đường Khánh Phủ
    thắt cổ chết, thuỵ hiệu là “Cung Trọng” 共仲. Người đời sau gọi người mà gây ra nội loạn là “Khánh Phủ”, và thành ngữ “Khánh Phủ bất tử, Lỗ nạn vị dĩ” 庆父不死, 鲁难未已 (Khánh Phủ mà chưa chết thì nạn của nước Lỗ chưa hết) bắt nguồn từ đây.
    2- Cử án tề mi 举案齐眉:
    Theo Hậu Hán thư – Lương Hồng truyện 后汉书 - 梁鸿传 của Phạm Việp 范晔thời Nam Triều, Lương Hồng 梁鸿 giã gạo thuê, mỗi khi về nhà, vợ là Mạnh Quang 孟光 đã chuẩn bị sẵn thức ăn, cung kính nâng mâm lên ngang tầm chân mày.
    (“Thành ngữ đại từ điển” – Bắc Kinh . Thương vụ ấn thư quán. Quốc tế hữu hạn công ti, 2004)
    3- Khốc trúc sinh duẫn哭竹生笋:
              Mạnh Tông 孟宗người Giang Hạ 江夏 thời Tam Quốc, phụ thân mất từ sớm, mẫu thân già yếu, hai mẹ con sống nương tựa lẫn nhau. Một ngày nọ, mẫu thân cảm thấy không được khoẻ, thầy thuốc cho biết dùng măng tươi làm canh thì có thể chữa đươc bệnh cho mẫu thân. Đương lúc mùa đông, không thể tìm được măng, Mạnh Tông không biết cách nào, trong lòng lo lắng, một mình đến rừng trúc, ôm trúc mà khóc. Tiếng khóc của Mạnh Tông đánh động những cây trúc gần bên, thế là kì tích phát sinh, chỉ nghe một tiếng vang, trong phút chốc nhiều măng non chồi lên mặt đất. Mạnh Tông vô cùng vui mừng liền hái mang về nhà, nấu thành canh trúc dâng cho mẫu thân. Mẫu thân sau khi dùng qua, quả nhiên thân thể chuyển biến tốt. Mạnh Tông về sau có nhiều thành tích,  làm quan đến chức Tư Không 司空.

                                                            Huỳnh Chương Hưng
                                                            Quy Nhơn 16/4/2019

    Nguyên tác Trung văn
     CƠ TÍNH UYÊN NGUYÊN
    姬姓渊源
    Trong quyển
    BÁCH GIA TÍNH
    百家姓
    Biên soạn: Triệu Dương 赵阳
    Cát Lâm Đại học xuất bản xã, 2005 

    Dịch thuật: Nguồn gốc họ Mạnh (Bách gia tính)

    Đăng lúc  21:52  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    NGUỒN GỐC HỌ MẠNH

    Về nguồn gốc họ (tính) Mạnh  chủ yếu xuất phát từ tính Cơ :
              Công tộc nước Lỗ thời Xuân Thu là con cháu tính Cơ của Chu Văn Vương 周文王, thuỷ tổ mang họ Mạnh là Khánh Phủ Cung Trọng 庆父共仲 (1), con thứ của Lỗ Hoàn Công 鲁桓公.
    Khánh Phủ 庆父phẩm hạnh cực xấu. Trong số các con thứ của Lỗ Hoàn Công, ông là lớn nhất. Để tránh tội thí quân của Khánh Phủ, đồng thời trong thứ tự anh em, chữ “Mạnh” đại biểu cho người lớn nhất, con cháu của Khánh Phủ đã đổi xưng là “Mạnh Tôn thị” 孟孙氏, về sau giản hoá là Mạnh thị 孟氏. Chi mang họ Mạnh này xuất phát từ Sơn Đông 山东.
    Con cháu đời sau của Mạnh Kha 孟轲, nhân bổn tộc được vinh dự đã tôn Mạnh Kha làm thuỷ tổ họ Mạnh.
              Họ Mạnh ước chiếm 0,24% nhân khẩu của dân tộc Hán trong cả nước, chiếm vị trí thứ 84. Tại các tỉnh Sơn Đông, Hà Nam, Liêu Ninh, Hắc Long Giang, Cát Lâm nhiều người mang họ Mạnh, trong đó ở Sơn Đông họ Mạnh tập trung nhiều nhất.

    Danh nhân các đời
              Thời Chiến Quốc có Mạnh Kha 孟轲, triết học gia nổi tiếng, Mặc gia Mạnh Thắng 孟胜, dũng sĩ Mạnh Bôn (Bí) 孟贲. Thời Tây Hán có Mạnh Hỉ 孟喜, người khai sáng kim văn Dịch học “Mạnh Dịch học” 孟易学. Thời Đông Hán có Mạnh Quang 孟光đã “cử án tề mi”  举案齐眉 (nâng mâm ngang mày) (2) đối với chồng. Thời Tam Quốc, tại nước Ngô có Mạnh Tông 孟宗thờ mẹ chí hiếu “khốc trúc sinh duẫn” 哭竹生笋 (khóc trúc sinh măng) (3), Thục Hán có Mạnh Hoạch 孟获, thủ lĩnh tộc Di. Cuối đời Tuỳ có Mạnh Nhượng 孟让, Mạnh Hải Công 孟海公 thủ lĩnh khởi nghĩa nông dân. Thời Đường có thi nhân Mạnh Hạo Nhiên 孟浩然, Mạnh Vân Khanh 孟云卿, Mạnh Giao 孟郊, thuỷ lợi học gia Mạnh Giản 孟简.

    Chú của người dịch
    1- Khánh Phủ Cung Trọng 庆父共仲 (? – năm 660 trước công nguyên): tính Cơ danh Khánh Phủ 庆父, tự Trọng Tôn 仲孙, Thượng khanh của nước Lỗ thời Xuân Thu, con của Lỗ Hoàn Công Cơ Doãn 鲁桓公姬允, em khác mẹ với Lỗ Trang Công Cơ Đồng 鲁庄公姬同. Khánh Phủ được xem là ông tổ của Mạnh Tôn thị 孟孙氏, một trong “tam Hoàn” 三桓 của nước Lỗ. Sau khi Lỗ Trang Công qua đời, Khánh Phủ trước sau sai người sát hại quốc quân công tử Cơ Ban 姬般 và Lỗ Mẫn Công Cơ Khải 鲁闵公姬启, gây ra nội loạn chính trị. Về sau, cũng vì nội loạn, Khánh Phủ chạy sang nước Cử . Qua một thời gian, quốc quân nước Cử nhận hối lộ, đưa Khánh Phủ về nước, giữa đường Khánh Phủ
    thắt cổ chết, thuỵ hiệu là “Cung Trọng” 共仲. Người đời sau gọi người mà gây ra nội loạn là “Khánh Phủ”, và thành ngữ “Khánh Phủ bất tử, Lỗ nạn vị dĩ” 庆父不死, 鲁难未已 (Khánh Phủ mà chưa chết thì nạn của nước Lỗ chưa hết) bắt nguồn từ đây.
    2- Cử án tề mi 举案齐眉:
    Theo Hậu Hán thư – Lương Hồng truyện 后汉书 - 梁鸿传 của Phạm Việp 范晔thời Nam Triều, Lương Hồng 梁鸿 giã gạo thuê, mỗi khi về nhà, vợ là Mạnh Quang 孟光 đã chuẩn bị sẵn thức ăn, cung kính nâng mâm lên ngang tầm chân mày.
    (“Thành ngữ đại từ điển” – Bắc Kinh . Thương vụ ấn thư quán. Quốc tế hữu hạn công ti, 2004)
    3- Khốc trúc sinh duẫn哭竹生笋:
              Mạnh Tông 孟宗người Giang Hạ 江夏 thời Tam Quốc, phụ thân mất từ sớm, mẫu thân già yếu, hai mẹ con sống nương tựa lẫn nhau. Một ngày nọ, mẫu thân cảm thấy không được khoẻ, thầy thuốc cho biết dùng măng tươi làm canh thì có thể chữa đươc bệnh cho mẫu thân. Đương lúc mùa đông, không thể tìm được măng, Mạnh Tông không biết cách nào, trong lòng lo lắng, một mình đến rừng trúc, ôm trúc mà khóc. Tiếng khóc của Mạnh Tông đánh động những cây trúc gần bên, thế là kì tích phát sinh, chỉ nghe một tiếng vang, trong phút chốc nhiều măng non chồi lên mặt đất. Mạnh Tông vô cùng vui mừng liền hái mang về nhà, nấu thành canh trúc dâng cho mẫu thân. Mẫu thân sau khi dùng qua, quả nhiên thân thể chuyển biến tốt. Mạnh Tông về sau có nhiều thành tích,  làm quan đến chức Tư Không 司空.

                                                            Huỳnh Chương Hưng
                                                            Quy Nhơn 16/4/2019

    Nguyên tác Trung văn
     CƠ TÍNH UYÊN NGUYÊN
    姬姓渊源
    Trong quyển
    BÁCH GIA TÍNH
    百家姓
    Biên soạn: Triệu Dương 赵阳
    Cát Lâm Đại học xuất bản xã, 2005 

    Thứ Hai, 15 tháng 4, 2019

    ĐIỀN THIÊN THU

              Điền Thiên Thu 田千秋 (? – năm 77 trước công nguyên), cũng gọi là Xa Thiên Thu 车千秋, Tể tướng thời Hán Vũ Đế 汉武帝triều Tây Hán. Bệnh mất.

              Điền Thiên Thu田千秋 tổ tiên người nước Tề, sau dời đến sống ở Trường Lăng 长陵 (nay là phía đông bắc thành phố Hàm Dương 咸阳tỉnh Thiểm Tây 陕西). Thời trẻ từng nhậm chức Cao Tẩm trưởng 高寑长, phụ trách hộ vệ Cao Tổ miếu 高祖庙.
              Năm 91 trước công nguyên, Vũ Đế bị bệnh tại cung Cam Tuyền 甘泉ở Bắc Sơn 北山, nịnh thần Giang Sung 江充 nói rằng bệnh đó có liên quan đến một người dùng phép thuật vu cổ 巫蛊 (1) gây ra. Hán Vũ Đế lúc tuổi già đa nghi bèn gây ra nhiều vụ án về vu cổ, kinh thành cùng quận quốc, người liên luỵ bị giết oan nhiều đến cả mấy vạn người. Giang Sung lại nói bừa trong cung có khí độc, Vũ Đế bèn lệnh cho ông ta dẫn binh tra xét. Giang Sung nhân vì bất hoà với thái tử liền thừa cơ vu cáo thái tử chôn nhiều hình nhân bằng gỗ trong cung, trù yểm cho Vũ Đế chết sớm để được kế vị. Thái tử sợ, dẫn binh đi giết Giang Sung, Vũ Đế điều binh trấn áp, kịch chiến 5 ngày, thái tử cùng mấy vạn người bị giết chết, Vệ hoàng hậu nhân đó cũng bị phế mà tự sát. Năm 89 trước công nguyên, Điền Thiên Thu dám dâng thư minh oan cho thái tử. Vũ Đế mới biết thái tử bị vu hãm, bị bức phải khởi binh để tự bảo vệ, nên rất hối hận, đồng thời triệu kiến Điền Thiên Thu. Vũ Đế thấy Điền Thiên Thu thân hình khôi ngô, thể hiện được nhân tài nên vô cùng coi trọng, nói rằng:
              Ân oán giữa cha con vướng mắc, quả thực khó mà nói cho rõ, chỉ có riêng mình khanh có thể biện minh, đây đúng là Cao Tổ miếu hiển linh, đã phái khanh đến phò tá trẫm.
              Liền bái Điền Thiên Thu làm Đại hồng lô 大鸿胪. Điền Thiên Thu lại tấu thỉnh giải tán phương sĩ, để tránh họ giả quỷ giả thần, mê hoặc hoàng thượng. Vũ Đế cũng tiếp nhận ý kiến. Mấy tháng sau, Vũ Đế lại thăng cho ông làm Thừa tướng, phong Phú Dân Hầu 富民侯. Vũ Đế lại hạ “tội kỉ chiếu” 罪己诏 (chiếu trách tội bản thân), biểu thị sự hối hận vì đã nhiều năm huy động binh lực gây chiến, hình pháp thì nghiêm ngặt, thuế khoá lại nặng nề, việc làm này khiến mâu thuẫn xã hội vốn gay gắt đã dần đi đến chỗ ổn định.
              Điền Thiên Thu không có học thức tài năng to lớn gì, cũng chưa lập qua đại công, chỉ nhờ vào mấy câu nói hợp với tâm ý của Vũ Đế mà từ một Cao Tẩm Lang thấp kém trở thành Thừa tướng, vì thực lực trước đó thiếu thốn, cho nên gặp phải dị nghị. Nhưng, con người Điền Thiên Thu đôn hậu, sau khi bái Tướng, lại ra sức khuyên can Vũ Đế hạ lệnh đình chỉ dụng binh, mở rộng nông cụ khuyến khích sản xuất nông nghiệp, đình chỉ truy cứu những quan viên tham dự vụ án thái tử khởi binh để an định lòng dân, cho nên cũng đã có được chính tích.  
              Năm 87 trước công nguyên, Vũ Đế bệnh và qua đời, Điền Thiên Thu 田千秋cùng Hoắc Quang 霍光, Kim Nhật Đê 金日磾, Thượng Quan Kiệt 上官桀được bái làm thác cô (2) đại thần, cùng phò Lưu Phất Lăng 刘弗陵 con của Vũ Đế chỉ mới 8 tuổi lên ngôi, đó là Chiêu Đế 昭帝. Do bởi Chiêu Đế còn nhỏ, chính sự đều nghe theo đại tướng Hoắc Quang. Điền Thiên Thu biết rõ quyền lực của Hoắc Quang cực mạnh, nên xử sự càng cẩn thận. Mỗi khi công khanh triều hội, Hoắc Quang luôn nói với ông rằng:
              - Tôi với Thừa tướng cùng nhận di mệnh của tiên đế, nay tôi cai quản bên trong, Thừa tướng cai quản bên ngoài.
              Điền Thiên Thu luôn đáp rằng:
              - Hết thảy dựa vào sức của tướng quân.
              Còn đối với chủ trương của Hoắc Quan, ông rất ít có dị nghị gì, cho nên hai người đối xử hoà mục. Hoắc Quang cũng rất kính trọng Điền Thiên Thu. Thời Chiêu Đế, thiên hạ cũng tương đối thái bình, kinh tế xã hội phát triển, bách tính dễ thở hơn lúc trước.
              Điền Thiên Thu về già suy yếu, Chiêu Đế cho phép ông được ngồi xe vào cung, cho nên, người lúc bấy giờ gọi ông là “Xa Thừa tướng” 车丞相 hoặc “Xa Thiên Thu” 车千秋.
              Năm 77 trước công nguyên, Điền Thiên Thu bệnh và qua đời, được truy thuỵ là Định Hầu 定侯.

    Chú của người dịch
    1- Vu cổ 巫蛊: loại vu thuật thời cổ dùng các phương thức như, trù yếm, găm kim vào hình nhân, hoặc dùng chất độc để hại chết đối thủ.
    2- Thác cô 托孤: hoàng đế đem con của mình gởi gắm cho người khác trước khi qua đời.

                                                            Huỳnh Chương Hưng
                                                            Quy Nhơn 15/4/2019

    Nguyên tác Trung văn
    ĐIỀN THIÊN THU
    田千秋
    Trong quyển
    TRUNG QUỐC LỊCH ĐẠI TỂ TƯỚNG LỤC
    中国历代宰相录
    Chủ biên: Dương Kiếm Vũ 杨剑宇
    Thượng Hải văn hoá xuất bản xã, 1999

    Dịch thuật: Điền Thiên Thu (Tể tướng Trung Quốc)

    Đăng lúc  21:37  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    ĐIỀN THIÊN THU

              Điền Thiên Thu 田千秋 (? – năm 77 trước công nguyên), cũng gọi là Xa Thiên Thu 车千秋, Tể tướng thời Hán Vũ Đế 汉武帝triều Tây Hán. Bệnh mất.

              Điền Thiên Thu田千秋 tổ tiên người nước Tề, sau dời đến sống ở Trường Lăng 长陵 (nay là phía đông bắc thành phố Hàm Dương 咸阳tỉnh Thiểm Tây 陕西). Thời trẻ từng nhậm chức Cao Tẩm trưởng 高寑长, phụ trách hộ vệ Cao Tổ miếu 高祖庙.
              Năm 91 trước công nguyên, Vũ Đế bị bệnh tại cung Cam Tuyền 甘泉ở Bắc Sơn 北山, nịnh thần Giang Sung 江充 nói rằng bệnh đó có liên quan đến một người dùng phép thuật vu cổ 巫蛊 (1) gây ra. Hán Vũ Đế lúc tuổi già đa nghi bèn gây ra nhiều vụ án về vu cổ, kinh thành cùng quận quốc, người liên luỵ bị giết oan nhiều đến cả mấy vạn người. Giang Sung lại nói bừa trong cung có khí độc, Vũ Đế bèn lệnh cho ông ta dẫn binh tra xét. Giang Sung nhân vì bất hoà với thái tử liền thừa cơ vu cáo thái tử chôn nhiều hình nhân bằng gỗ trong cung, trù yểm cho Vũ Đế chết sớm để được kế vị. Thái tử sợ, dẫn binh đi giết Giang Sung, Vũ Đế điều binh trấn áp, kịch chiến 5 ngày, thái tử cùng mấy vạn người bị giết chết, Vệ hoàng hậu nhân đó cũng bị phế mà tự sát. Năm 89 trước công nguyên, Điền Thiên Thu dám dâng thư minh oan cho thái tử. Vũ Đế mới biết thái tử bị vu hãm, bị bức phải khởi binh để tự bảo vệ, nên rất hối hận, đồng thời triệu kiến Điền Thiên Thu. Vũ Đế thấy Điền Thiên Thu thân hình khôi ngô, thể hiện được nhân tài nên vô cùng coi trọng, nói rằng:
              Ân oán giữa cha con vướng mắc, quả thực khó mà nói cho rõ, chỉ có riêng mình khanh có thể biện minh, đây đúng là Cao Tổ miếu hiển linh, đã phái khanh đến phò tá trẫm.
              Liền bái Điền Thiên Thu làm Đại hồng lô 大鸿胪. Điền Thiên Thu lại tấu thỉnh giải tán phương sĩ, để tránh họ giả quỷ giả thần, mê hoặc hoàng thượng. Vũ Đế cũng tiếp nhận ý kiến. Mấy tháng sau, Vũ Đế lại thăng cho ông làm Thừa tướng, phong Phú Dân Hầu 富民侯. Vũ Đế lại hạ “tội kỉ chiếu” 罪己诏 (chiếu trách tội bản thân), biểu thị sự hối hận vì đã nhiều năm huy động binh lực gây chiến, hình pháp thì nghiêm ngặt, thuế khoá lại nặng nề, việc làm này khiến mâu thuẫn xã hội vốn gay gắt đã dần đi đến chỗ ổn định.
              Điền Thiên Thu không có học thức tài năng to lớn gì, cũng chưa lập qua đại công, chỉ nhờ vào mấy câu nói hợp với tâm ý của Vũ Đế mà từ một Cao Tẩm Lang thấp kém trở thành Thừa tướng, vì thực lực trước đó thiếu thốn, cho nên gặp phải dị nghị. Nhưng, con người Điền Thiên Thu đôn hậu, sau khi bái Tướng, lại ra sức khuyên can Vũ Đế hạ lệnh đình chỉ dụng binh, mở rộng nông cụ khuyến khích sản xuất nông nghiệp, đình chỉ truy cứu những quan viên tham dự vụ án thái tử khởi binh để an định lòng dân, cho nên cũng đã có được chính tích.  
              Năm 87 trước công nguyên, Vũ Đế bệnh và qua đời, Điền Thiên Thu 田千秋cùng Hoắc Quang 霍光, Kim Nhật Đê 金日磾, Thượng Quan Kiệt 上官桀được bái làm thác cô (2) đại thần, cùng phò Lưu Phất Lăng 刘弗陵 con của Vũ Đế chỉ mới 8 tuổi lên ngôi, đó là Chiêu Đế 昭帝. Do bởi Chiêu Đế còn nhỏ, chính sự đều nghe theo đại tướng Hoắc Quang. Điền Thiên Thu biết rõ quyền lực của Hoắc Quang cực mạnh, nên xử sự càng cẩn thận. Mỗi khi công khanh triều hội, Hoắc Quang luôn nói với ông rằng:
              - Tôi với Thừa tướng cùng nhận di mệnh của tiên đế, nay tôi cai quản bên trong, Thừa tướng cai quản bên ngoài.
              Điền Thiên Thu luôn đáp rằng:
              - Hết thảy dựa vào sức của tướng quân.
              Còn đối với chủ trương của Hoắc Quan, ông rất ít có dị nghị gì, cho nên hai người đối xử hoà mục. Hoắc Quang cũng rất kính trọng Điền Thiên Thu. Thời Chiêu Đế, thiên hạ cũng tương đối thái bình, kinh tế xã hội phát triển, bách tính dễ thở hơn lúc trước.
              Điền Thiên Thu về già suy yếu, Chiêu Đế cho phép ông được ngồi xe vào cung, cho nên, người lúc bấy giờ gọi ông là “Xa Thừa tướng” 车丞相 hoặc “Xa Thiên Thu” 车千秋.
              Năm 77 trước công nguyên, Điền Thiên Thu bệnh và qua đời, được truy thuỵ là Định Hầu 定侯.

    Chú của người dịch
    1- Vu cổ 巫蛊: loại vu thuật thời cổ dùng các phương thức như, trù yếm, găm kim vào hình nhân, hoặc dùng chất độc để hại chết đối thủ.
    2- Thác cô 托孤: hoàng đế đem con của mình gởi gắm cho người khác trước khi qua đời.

                                                            Huỳnh Chương Hưng
                                                            Quy Nhơn 15/4/2019

    Nguyên tác Trung văn
    ĐIỀN THIÊN THU
    田千秋
    Trong quyển
    TRUNG QUỐC LỊCH ĐẠI TỂ TƯỚNG LỤC
    中国历代宰相录
    Chủ biên: Dương Kiếm Vũ 杨剑宇
    Thượng Hải văn hoá xuất bản xã, 1999

    Mã nguồn bởi Huỳnh Chương Hưng
    Copyright © 2012 Huỳnh Chương Hưng.
    back to top