• Chủ Nhật, 10 tháng 11, 2019

    CHIM ƯNG VÀ ẾCH

              Trời vừa mới đổ cơn mưa lớn, con sông nhỏ đã tràn đầy nước. Một con ếch từ trong sông bơi lên bờ, nhảy và hát trên đám cỏ xanh đọng nước.
              Một con chim ưng đói nhanh như mũi tên, từ trên không trung bổ xuống cắp lấy ếch bay lên.
              Ếch cảm thấy mắt hoa tai ù, cúi đầu nhìn, nhà cửa, cây cối trên mặt đất nhỏ như những cái chấm, cứ di dộng lui về phía sau.
              Ếch vội nhắm mắt lại không dám nhìn nữa, nghĩ bụng: thôi xong rồi, lọt vào móng vuốt chim ưng, tính mạng khó mà bảo toàn. Ếch định thần lại, lấy can đảm hỏi một câu:
              - Anh chim ưng, anh định đưa tôi đi đến đâu?
              - Đưa lên núi cao, ta sẽ hưởng thụ một bữa.
              Ếch cảm thấy trong đầu vang lên một tiếng nổ, tim đập loạn lên: chết rồi, lên đến trên núi thì cách nhà càng xa, ai đến cứu được. Trong lúc nguy cấp nảy sinh mưu trí, nó giả vờ vui mừng nói:
              - Anh chim ưng, cám ơn anh, tôi là ếch trên núi, trên núi có bố mẹ tôi, còn có chị em tôi nữa. Tôi nhất định phải gặp họ. Trước khi chết có thể gặp được người thân thì hạnh phúc biết bao.
              Chim ưng nghe qua, liền do dự: trên núi nhiều người thân như thế, thì thật là phiền phức. Thế là nó vỗ cánh bay hướng về phía bờ sông.
              Ếch ngầm vui mừng, lại hỏi:
              - Lại đưa tôi đến đâu vậy?
              - Đến đầu cầu bên sông.
              Ếch giả vờ khóc lên, buồn rầu nói:
              - Anh chim ưng ơi! Xin anh đừng đưa tôi đến đầu cầu bên sông, ở đó không có bố mẹ, chị em, trước khi chết ngay cả người thân cũng không gặp được, thảm biết bao!
              Ếch càng van xin, chim ưng càng đắc ý, nó không quay đầu cứ bay thẳng đến đầu cầu. Khi đến đầu cầu, vuốt chim ưng lỏng ra, thả ếch lên cầu, nói một cách uy phong lẫm liệt:
              - Này ếch, mầy trước khi chết có điều gì muốn cầu xin không?
              Ếch lén nhìn dưới cầu, nước trong sông đang chảy. Nó liền nghiêm túc nói với chim ưng:
              - Anh là một anh chim ưng vĩ đại, tôi là một con ếch nhỏ bé, anh muốn ăn thịt tôi, nên uy phong một chút. Tôi hi vọng anh đem mỏ và móng vuốt của anh mài trên đá cho sắc bén một chút.
              Chim ưng cảm thấy ếch nói có lí, liền tìm một hòn đá để mài mỏ và móng vuốt. Lúc bấy giờ, ếch tranh thủ nhảy ùm xuống sông, lộ ra nửa thân hình nói với chim ưng:
              - Tạm biệt nhé! Anh chim ưng ngốc nghếch. Sông là nhà của tôi đấy, nơi đây có bố mẹ, chị em của tôi.
              Nói xong ếch lặn xuống không còn thấy nó nữa.
              Chim ưng trơ mắt nhìn, giận đến mức bộ lông muốn bốc khói.

                                                             Huỳnh Chương Hưng
                                                             Quy Nhơn 10/11/2019

    Nguồn
    PHI CẦM TẨU THÚ ĐÍCH NGỤ NGÔN
    飛禽走獸的寓言
    Nhóm biên soạn
    Ngọc thụ đồ thư ấn loát hữu hạn công ti xuất bản, 2000.

    Dịch thuật: Chim ưng và ếch

    Đăng lúc  17:34  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    CHIM ƯNG VÀ ẾCH

              Trời vừa mới đổ cơn mưa lớn, con sông nhỏ đã tràn đầy nước. Một con ếch từ trong sông bơi lên bờ, nhảy và hát trên đám cỏ xanh đọng nước.
              Một con chim ưng đói nhanh như mũi tên, từ trên không trung bổ xuống cắp lấy ếch bay lên.
              Ếch cảm thấy mắt hoa tai ù, cúi đầu nhìn, nhà cửa, cây cối trên mặt đất nhỏ như những cái chấm, cứ di dộng lui về phía sau.
              Ếch vội nhắm mắt lại không dám nhìn nữa, nghĩ bụng: thôi xong rồi, lọt vào móng vuốt chim ưng, tính mạng khó mà bảo toàn. Ếch định thần lại, lấy can đảm hỏi một câu:
              - Anh chim ưng, anh định đưa tôi đi đến đâu?
              - Đưa lên núi cao, ta sẽ hưởng thụ một bữa.
              Ếch cảm thấy trong đầu vang lên một tiếng nổ, tim đập loạn lên: chết rồi, lên đến trên núi thì cách nhà càng xa, ai đến cứu được. Trong lúc nguy cấp nảy sinh mưu trí, nó giả vờ vui mừng nói:
              - Anh chim ưng, cám ơn anh, tôi là ếch trên núi, trên núi có bố mẹ tôi, còn có chị em tôi nữa. Tôi nhất định phải gặp họ. Trước khi chết có thể gặp được người thân thì hạnh phúc biết bao.
              Chim ưng nghe qua, liền do dự: trên núi nhiều người thân như thế, thì thật là phiền phức. Thế là nó vỗ cánh bay hướng về phía bờ sông.
              Ếch ngầm vui mừng, lại hỏi:
              - Lại đưa tôi đến đâu vậy?
              - Đến đầu cầu bên sông.
              Ếch giả vờ khóc lên, buồn rầu nói:
              - Anh chim ưng ơi! Xin anh đừng đưa tôi đến đầu cầu bên sông, ở đó không có bố mẹ, chị em, trước khi chết ngay cả người thân cũng không gặp được, thảm biết bao!
              Ếch càng van xin, chim ưng càng đắc ý, nó không quay đầu cứ bay thẳng đến đầu cầu. Khi đến đầu cầu, vuốt chim ưng lỏng ra, thả ếch lên cầu, nói một cách uy phong lẫm liệt:
              - Này ếch, mầy trước khi chết có điều gì muốn cầu xin không?
              Ếch lén nhìn dưới cầu, nước trong sông đang chảy. Nó liền nghiêm túc nói với chim ưng:
              - Anh là một anh chim ưng vĩ đại, tôi là một con ếch nhỏ bé, anh muốn ăn thịt tôi, nên uy phong một chút. Tôi hi vọng anh đem mỏ và móng vuốt của anh mài trên đá cho sắc bén một chút.
              Chim ưng cảm thấy ếch nói có lí, liền tìm một hòn đá để mài mỏ và móng vuốt. Lúc bấy giờ, ếch tranh thủ nhảy ùm xuống sông, lộ ra nửa thân hình nói với chim ưng:
              - Tạm biệt nhé! Anh chim ưng ngốc nghếch. Sông là nhà của tôi đấy, nơi đây có bố mẹ, chị em của tôi.
              Nói xong ếch lặn xuống không còn thấy nó nữa.
              Chim ưng trơ mắt nhìn, giận đến mức bộ lông muốn bốc khói.

                                                             Huỳnh Chương Hưng
                                                             Quy Nhơn 10/11/2019

    Nguồn
    PHI CẦM TẨU THÚ ĐÍCH NGỤ NGÔN
    飛禽走獸的寓言
    Nhóm biên soạn
    Ngọc thụ đồ thư ấn loát hữu hạn công ti xuất bản, 2000.

    Thứ Bảy, 9 tháng 11, 2019

    HỈ THẦN TRUYỀN THUYẾT
    HỈ THẦN TRỤ VƯƠNG

              Thời cổ, giờ phút giở khăn trùm đầu của cô dâu, luôn là giờ phút cô dâu chú rể lần đầu tiên tương kiến. Chú rể dùng một thanh cây từ từ nhẹ nhàng giỏ khăn trùm đầu đỏ của cô dâu, dưới khăn đó là khuôn mặt của người vợ mà anh ta sẽ nắm tay nhau cùng chung sống.
              Đó là tập tục trong lễ cưới dân gian Trung Quốc, đặc biệt là lễ cưới thời cổ. Ngày cô dâu xuất giá, không những phải đội hoa khoác áo đỏ ngồi kiệu, mà trên đầu còn trùm lên một chiếc khăn màu đỏ để bảo vệ cô dâu bình an nhập động phòng.
              Tục này đã có từ rất lâu. Sớm nhất là vào thời Đường Tống, tập tục đó đã lưu hành rất rộng. Đỗ Hựu 杜佑 đời Đường trong Thông điển 通典, Ngô Tự Mục 吴自牧 đời Tống trong Mộng lương lục 梦粱录 đều có ghi chép về việc giở khăn trùm đầu của cô dâu lúc động phòng. Chu Thức 朱轼 đời Thanh trong Lễ nghi tiết lược 礼仪节略 cũng đã thuật lại một cách rõ ràng về hình chế của khăn trùm đầu dân gian. Khăn trùm đầu đa phần dùng một tấm lụa màu đỏ khoảng 4, 5 xích chế thành, 4 góc của khăn có buộc tiền đồng hoặc vật trang sức khác. Trước khi cô dâu lên kiệu hoa phải trùm khăn này lên đầu, 4 góc của khăn trĩu xuống, che toàn bộ khuôn mặt, đến sau khi bái đường mới do người khác dùng thanh gỗ gỡ xuống để lộ chân dung.
              Cô dâu khi xuất giá tại sao phải đội khăn trùm đầu? theo truyền thuyết việc đó có liên quan Hỉ thần Trụ Vương 喜神纣王, trong đó còn có một câu chuyện thú vị. Tương truyền, khi Khương Tử Nha 姜子牙 phụng mệnh Nguyên Thuỷ Thiên Tôn 元始天尊 đăng đàn điểm tướng phong thần, phong Trụ Vương là Hỉ thần, chuyên quản việc hôn nhân ở nhân gian, nhà ai kết hôn đều phải mời Trụ Vương tống hỉ, đại khái đó là nhân vì Trụ Vương háo nữ sắc. Nhưng Trụ Vương làm Hỉ thần lại không sửa đổi bệnh háo sắc của mình. Khi Trụ Vương đi tống hỉ, nhìn thấy cô dâu nào xinh đẹp liền đoạt lấy đem về làm vợ bé. Bách tính vô cùng giận, nhưng cưới dâu không thể không mời Hỉ thần. Mọi người không biết làm sao, đành cầu xin Khương Tử Nha tìm cách giúp. Khương Tử Nha bảo mọi người rằng: cho cô dâu đội khăn trùm đầu màu đỏ, khi cô dâu vừa bước vào cửa thì đốt pháo lên. Mọi người làm theo, quả nhiên Trụ Vương vừa thấy cô dâu đội khăn trùm đầu màu đỏ, lại vừa nghe tiếng pháo liền hoảng sợ vội cưỡi mây về trời.
              Hoá ra, khi Vũ Vương phạt Trụ đã giương đại hồng kì tiến vào đô thành của Trụ Vương, Trụ Vương sau khi chết, đầu của Trụ Vương bị treo lên ngọn cờ. Còn khi quân hai bên giao chiến, Trụ Vương bị roi thần của Khương Tử Nha đánh, cho nên khi Trụ Vương thấy khăn trùm đầu màu đỏ, nghe tiếng pháo nổ tưởng đó là Khương tử Nha giương cờ tới, dùng roi thần đánh, sợ hãi chạy mất. Nhân đó, về sau khi cưới vợ, mọi người đều cho cô dâu đội khăn trùm đầu màu đỏ, lại đốt một dây pháo dài xua đuổi Trụ Vương, để cô dâu được đón về nhà bình an. Lâu dần, khăn trùm đầu đỏ trở thành bùa hộ thân của cô dâu, đó là câu chuyện mà bách tính khiên cưỡng gán ghép.
              Các nhà Dân tục học cho rằng tập tục đội khăn trùm đầu đỏ của cô dâu có nguồn gốc từ truyền thuyết dân gian cổ xưa. Vương Việp 王晔 đời Nguyên căn cứ vàò một số lượng lớn truyền thuyết đã viết vở tạp kịch Phá âm dương bát quái Đào hoa nữ 破阴阳八卦桃花女, đối với các nghi thức trong hôn lễ dân gian thời Tống Nguyên, lai lịch của tập tục và cấm kị cùng ý nghĩa của nó đều được miêu tả tỉ mỉ.
              Chu Càn 周乾 mở một tiệm bói toán để sinh sống, rất giỏi xem quẻ, chiêm bốc linh nghiệm, mọi người gọi ông là Chu Công 周公. Nhưng chiêm thuật của ông nhiều lần bị Đào hoa nữ 桃花女 phá hoại, Chu Công bèn lập kế hãm hại Đào hoa nữ, giả thác là con của mình đến cầu hôn Đào hoa nữ. Đào hoa nữ tương kế tựu kế, bằng lòng hôn sự. Chu Công cố ý chọn ngày hung để nghinh hôn, lại bố trí các hung thần ác sát biến thành những cọc gỗ, đá lạ ngồi bên đường, đợi tập kích Đào hoa nữ. Đào hoa nữ sai người cầm một chiếc sàng đi trước Hỉ thần, tự mình dùng khăn đỏ trùm lên đầu rồi mới lên kiệu, lại dặn mọi người tống thân, trên đường gặp những cây cọc, đá lạ khả nghi, hãy lập tức dùng vải đỏ trùm lên. Hóa ra hung thần ác sát sợ những vật trấn áp như vải đỏ, cho nên không dám tiếp cận kiệu và cô dâu. Như vậy, Đào hoa nữ thuận lợi hoàn thành lễ bái đường thành thân, tiến nhập động phòng, cuối cùng khiến cha chồng đành bái thua cô dâu. Sự việc đó lan truyền ra, một số người muốn tổ chức hỉ sự nhưng lại sợ hung thần ác sát xâm tập, đã bắt chước theo biện pháp của Đào hoa nữ. Từ đó, cô dâu dùng khăn đỏ trùm đầu diễn hoá thành hôn tục lưu truyền trên đời.

                                                                   Huỳnh Chương Hưng
                                                               Quy Nhơn 09/11/2019

    Nguồn
    HỈ THẦN TRUYỀN THUYẾT – TRỤ VƯƠNG HỈ THẦN
    喜神传说 - 纣王喜神
    Trong quyển
    ĐỒ THUYẾT HỈ VĂN HOÁ
    图说喜文化
    Tác giả: Ân Vĩ 殷伟, Trình Kiến Cường 程建强
    Bắc Kinh: Thanh Hoa đại học xuất bản xã, 2013


    Dịch thuật: Hỉ thần truyền thuyết - Hỉ thần Trụ Vương

    Đăng lúc  16:48  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    HỈ THẦN TRUYỀN THUYẾT
    HỈ THẦN TRỤ VƯƠNG

              Thời cổ, giờ phút giở khăn trùm đầu của cô dâu, luôn là giờ phút cô dâu chú rể lần đầu tiên tương kiến. Chú rể dùng một thanh cây từ từ nhẹ nhàng giỏ khăn trùm đầu đỏ của cô dâu, dưới khăn đó là khuôn mặt của người vợ mà anh ta sẽ nắm tay nhau cùng chung sống.
              Đó là tập tục trong lễ cưới dân gian Trung Quốc, đặc biệt là lễ cưới thời cổ. Ngày cô dâu xuất giá, không những phải đội hoa khoác áo đỏ ngồi kiệu, mà trên đầu còn trùm lên một chiếc khăn màu đỏ để bảo vệ cô dâu bình an nhập động phòng.
              Tục này đã có từ rất lâu. Sớm nhất là vào thời Đường Tống, tập tục đó đã lưu hành rất rộng. Đỗ Hựu 杜佑 đời Đường trong Thông điển 通典, Ngô Tự Mục 吴自牧 đời Tống trong Mộng lương lục 梦粱录 đều có ghi chép về việc giở khăn trùm đầu của cô dâu lúc động phòng. Chu Thức 朱轼 đời Thanh trong Lễ nghi tiết lược 礼仪节略 cũng đã thuật lại một cách rõ ràng về hình chế của khăn trùm đầu dân gian. Khăn trùm đầu đa phần dùng một tấm lụa màu đỏ khoảng 4, 5 xích chế thành, 4 góc của khăn có buộc tiền đồng hoặc vật trang sức khác. Trước khi cô dâu lên kiệu hoa phải trùm khăn này lên đầu, 4 góc của khăn trĩu xuống, che toàn bộ khuôn mặt, đến sau khi bái đường mới do người khác dùng thanh gỗ gỡ xuống để lộ chân dung.
              Cô dâu khi xuất giá tại sao phải đội khăn trùm đầu? theo truyền thuyết việc đó có liên quan Hỉ thần Trụ Vương 喜神纣王, trong đó còn có một câu chuyện thú vị. Tương truyền, khi Khương Tử Nha 姜子牙 phụng mệnh Nguyên Thuỷ Thiên Tôn 元始天尊 đăng đàn điểm tướng phong thần, phong Trụ Vương là Hỉ thần, chuyên quản việc hôn nhân ở nhân gian, nhà ai kết hôn đều phải mời Trụ Vương tống hỉ, đại khái đó là nhân vì Trụ Vương háo nữ sắc. Nhưng Trụ Vương làm Hỉ thần lại không sửa đổi bệnh háo sắc của mình. Khi Trụ Vương đi tống hỉ, nhìn thấy cô dâu nào xinh đẹp liền đoạt lấy đem về làm vợ bé. Bách tính vô cùng giận, nhưng cưới dâu không thể không mời Hỉ thần. Mọi người không biết làm sao, đành cầu xin Khương Tử Nha tìm cách giúp. Khương Tử Nha bảo mọi người rằng: cho cô dâu đội khăn trùm đầu màu đỏ, khi cô dâu vừa bước vào cửa thì đốt pháo lên. Mọi người làm theo, quả nhiên Trụ Vương vừa thấy cô dâu đội khăn trùm đầu màu đỏ, lại vừa nghe tiếng pháo liền hoảng sợ vội cưỡi mây về trời.
              Hoá ra, khi Vũ Vương phạt Trụ đã giương đại hồng kì tiến vào đô thành của Trụ Vương, Trụ Vương sau khi chết, đầu của Trụ Vương bị treo lên ngọn cờ. Còn khi quân hai bên giao chiến, Trụ Vương bị roi thần của Khương Tử Nha đánh, cho nên khi Trụ Vương thấy khăn trùm đầu màu đỏ, nghe tiếng pháo nổ tưởng đó là Khương tử Nha giương cờ tới, dùng roi thần đánh, sợ hãi chạy mất. Nhân đó, về sau khi cưới vợ, mọi người đều cho cô dâu đội khăn trùm đầu màu đỏ, lại đốt một dây pháo dài xua đuổi Trụ Vương, để cô dâu được đón về nhà bình an. Lâu dần, khăn trùm đầu đỏ trở thành bùa hộ thân của cô dâu, đó là câu chuyện mà bách tính khiên cưỡng gán ghép.
              Các nhà Dân tục học cho rằng tập tục đội khăn trùm đầu đỏ của cô dâu có nguồn gốc từ truyền thuyết dân gian cổ xưa. Vương Việp 王晔 đời Nguyên căn cứ vàò một số lượng lớn truyền thuyết đã viết vở tạp kịch Phá âm dương bát quái Đào hoa nữ 破阴阳八卦桃花女, đối với các nghi thức trong hôn lễ dân gian thời Tống Nguyên, lai lịch của tập tục và cấm kị cùng ý nghĩa của nó đều được miêu tả tỉ mỉ.
              Chu Càn 周乾 mở một tiệm bói toán để sinh sống, rất giỏi xem quẻ, chiêm bốc linh nghiệm, mọi người gọi ông là Chu Công 周公. Nhưng chiêm thuật của ông nhiều lần bị Đào hoa nữ 桃花女 phá hoại, Chu Công bèn lập kế hãm hại Đào hoa nữ, giả thác là con của mình đến cầu hôn Đào hoa nữ. Đào hoa nữ tương kế tựu kế, bằng lòng hôn sự. Chu Công cố ý chọn ngày hung để nghinh hôn, lại bố trí các hung thần ác sát biến thành những cọc gỗ, đá lạ ngồi bên đường, đợi tập kích Đào hoa nữ. Đào hoa nữ sai người cầm một chiếc sàng đi trước Hỉ thần, tự mình dùng khăn đỏ trùm lên đầu rồi mới lên kiệu, lại dặn mọi người tống thân, trên đường gặp những cây cọc, đá lạ khả nghi, hãy lập tức dùng vải đỏ trùm lên. Hóa ra hung thần ác sát sợ những vật trấn áp như vải đỏ, cho nên không dám tiếp cận kiệu và cô dâu. Như vậy, Đào hoa nữ thuận lợi hoàn thành lễ bái đường thành thân, tiến nhập động phòng, cuối cùng khiến cha chồng đành bái thua cô dâu. Sự việc đó lan truyền ra, một số người muốn tổ chức hỉ sự nhưng lại sợ hung thần ác sát xâm tập, đã bắt chước theo biện pháp của Đào hoa nữ. Từ đó, cô dâu dùng khăn đỏ trùm đầu diễn hoá thành hôn tục lưu truyền trên đời.

                                                                   Huỳnh Chương Hưng
                                                               Quy Nhơn 09/11/2019

    Nguồn
    HỈ THẦN TRUYỀN THUYẾT – TRỤ VƯƠNG HỈ THẦN
    喜神传说 - 纣王喜神
    Trong quyển
    ĐỒ THUYẾT HỈ VĂN HOÁ
    图说喜文化
    Tác giả: Ân Vĩ 殷伟, Trình Kiến Cường 程建强
    Bắc Kinh: Thanh Hoa đại học xuất bản xã, 2013


    Thứ Sáu, 8 tháng 11, 2019

    CHỮ “NHI”
    儿  兒
    Bính âm er (thanh điệu 2)

    2 nét
    8 nét

    1- Trẻ nhỏ
              Nhi đồng 儿童 / nhi ca 儿歌 /  nhi hí 儿戏 / tiểu nhi khoa 小儿科 / anh nhi 婴儿.
    2- Con
              Nhi tôn 儿孙 / nhi tức 儿媳 / sinh nhi dục nữ 生儿育女.
    3- Người trẻ tuổi (đa phần chỉ nam)
              Nhi nữ anh hùng 儿女英雄 / nam nhi 男儿 / kiện nhi 健儿.
    4- Hậu tố, phụ vào ở sau một âm tiết, khiến cho vận mẫu của âm tiết mà nó phụ vào trở thành vận mẫu uốn lưỡi. 
              Hoa nhi 花儿 / điểu nhi 鸟儿 / hạm nhi bính 馅儿饼 / linh toái nhi 零碎儿 / ngoạn nhi 玩儿.

    Thuyết giải
              Chữ , bộ , kết cấu độc thể. Do chữ tỉnh lược chữ ở nửa phần trên mà thành.
              *-  là chữ giản hoá cá thể, không dùng làm thiên bàng giản hoá, cho nên chữ trong những chữ (nghê), (nghê), (nghễ), (nghê), (nghê) đều không thể loại suy giản hoá thành .
              **- Trong Thuyết văn 说文cho rằng, là cổ văn kì tự (chữ cổ kì lạ) của chữ (nhân), tượng hình.
              ***- Chữlà tính thị thì đọc là (họ Nghê), không thể giản hoá thành .

                                                          Huỳnh Chương Hưng
                                                          Quy Nhơn 08/11/2019

    Nguồn
    GIẢN HOÁ TỰ, PHỒN THỂ TỰ ĐỐI CHIẾU TỰ ĐIỂN
    简化字繁体字对照字典
    Chủ biên: Giang Lam Sinh 江蓝生, Lục Tôn Ngô 陆尊梧
    Thượng Hải – Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 1998


    Dịch thuật: Chữ "nhi" (Đối chiếu tự điển)

    Đăng lúc  17:26  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    CHỮ “NHI”
    儿  兒
    Bính âm er (thanh điệu 2)

    2 nét
    8 nét

    1- Trẻ nhỏ
              Nhi đồng 儿童 / nhi ca 儿歌 /  nhi hí 儿戏 / tiểu nhi khoa 小儿科 / anh nhi 婴儿.
    2- Con
              Nhi tôn 儿孙 / nhi tức 儿媳 / sinh nhi dục nữ 生儿育女.
    3- Người trẻ tuổi (đa phần chỉ nam)
              Nhi nữ anh hùng 儿女英雄 / nam nhi 男儿 / kiện nhi 健儿.
    4- Hậu tố, phụ vào ở sau một âm tiết, khiến cho vận mẫu của âm tiết mà nó phụ vào trở thành vận mẫu uốn lưỡi. 
              Hoa nhi 花儿 / điểu nhi 鸟儿 / hạm nhi bính 馅儿饼 / linh toái nhi 零碎儿 / ngoạn nhi 玩儿.

    Thuyết giải
              Chữ , bộ , kết cấu độc thể. Do chữ tỉnh lược chữ ở nửa phần trên mà thành.
              *-  là chữ giản hoá cá thể, không dùng làm thiên bàng giản hoá, cho nên chữ trong những chữ (nghê), (nghê), (nghễ), (nghê), (nghê) đều không thể loại suy giản hoá thành .
              **- Trong Thuyết văn 说文cho rằng, là cổ văn kì tự (chữ cổ kì lạ) của chữ (nhân), tượng hình.
              ***- Chữlà tính thị thì đọc là (họ Nghê), không thể giản hoá thành .

                                                          Huỳnh Chương Hưng
                                                          Quy Nhơn 08/11/2019

    Nguồn
    GIẢN HOÁ TỰ, PHỒN THỂ TỰ ĐỐI CHIẾU TỰ ĐIỂN
    简化字繁体字对照字典
    Chủ biên: Giang Lam Sinh 江蓝生, Lục Tôn Ngô 陆尊梧
    Thượng Hải – Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 1998


    Thứ Năm, 7 tháng 11, 2019


    英山 竹山
         又西七十里, 曰英山. 其上多杻 (1), 橿, 其阴多铁, 其阳多赤金. (*) 水出焉, 北流注于招水, 其中多 ..... (**) , 其状如鳖, 其音如羊. 其阳多箭 ..... (***), 其兽多 ..... (****) , 羬羊. 有鸟焉, 其状如鹑, 黄身而赤喙, 其名曰肥遗, 食之已疠, 可以杀虫.
         又西五十二里, 曰竹山. 其上多乔木, 其阴多铁. 有草焉, 其名曰黄踁, 其状如樗, 其叶如麻, 白华而赤实, 其状如赭, 浴之已疥, 又可以已胕. 竹水出焉, 北流注于渭, 其阳多竹箭, 多苍玉. 丹水出焉, 东南流注于洛水, 其中多水玉, 多人鱼. 有兽焉, 其状如豚而白毛, 大如笄而黑端, 名曰豪彘.
                                       (山海经 - 西山经)

    ANH SƠN   TRÚC SƠN
              Hựu tây thất thập lí, viết Anh sơn. Kì thượng đa nữu (1), cương, kì âm đa thiết, kì dương đa xích kim. Ngu (*)  thuỷ xuất yên, bắc lưu chú vu Chiêu thuỷ, kì trung đa bạng (**) ngư, kì trạng như miết, kì âm như dương, kì dương đa tiễn mị  (***), kì thú đa tác (****) ngưu, kiềm dương, hữu thú yên, kì trạng như thuần, hoàng thân nhi xích huế, kì danh viết Phì di, thực chi dĩ lệ, khả dĩ sát trùng.
              Hựu tây ngũ thập nhị lí, viết Trúc sơn. Kì thượng đa kiều mộc, kì âm đa thiết. Hữu thảo yên, kì danh viết Hoàng hĩnh, kì trạng như xư, kì diệp như ma, bách hoa nhi xích thực, kì trạng như giả, dục chi dĩ giới, hựu khả dĩ dĩ phụ. Trúc
    thuỷ xuất yên, bắc lưu chú vu Vị, kì dương đa trúc tiễn, đa thương ngọc. Đan thuỷ xuất yên, đông nam lưu chú vu Lạc thuỷ, kì trung đa thuỷ ngọc, đa nhân ngư. Hữu thú yên, kì trạng như đồn nhi bạch mao, đại như kê nhi hắc đoan, danh viết Hào trệ.
                                                                            (Sơn hải kinh – Tây sơn kinh)

    ANH SƠN   TRÚC SƠN
              Lại hướng về phía tây 70 dặm, có Anh sơn. Trên núi có nhiều cây nữu, cây cương, phía bắc của núi có nhiều thiết, phía nam có nhiều xích kim. Sông Ngu phát nguyên từ núi này, sau đó chảy về phía bắc rồi đổ vào sông Chiêu, trong sông có nhiều cá bạng, hình trạng loại cá này giống con ba ba, tiếng kêu của nó giống tiếng con dê. Phía nam của núi có nhiều trúc tiễn và trúc mị, loài thú ở đó có nhiều ngưu tác và kiềm dương. Trong núi có loài chim, hình dạng giống chim am thuần, thân màu vàng mỏ màu đỏ, tên của nó là Phì di, ăn thịt của nó có thể trị khỏi mụt nhọt, có thể sát trùng.
              Lại hướng về phía tây 25 dặm, có Trúc sơn, trên núi có nhiều cây lớn, phía bắc của núi có nhiều thiết. Trên núi có một loại cỏ, tên là Hoàng hĩnh, hình trạng giống cây xư, lá như lá cây đay, hoa màu trắng quả màu đỏ, quả chín màu đỏ sậm, dùng nó pha nước để tắm có thể trừ được ghẻ chốc, cũng có thể trị bệnh phù thủng. Sông Trúc phát nguyên từ núi này, sau đó chảy về phía bắc rồi đổ vào sông Vị, phía bắc sông Vị có nhiều trúc tiễn, có nhiều ngọc sắc xanh. Sông Đan cũng phát nguyên từ núi này, sau đó chảy về hướng đông nam rồi đổ vào sông Lạc. Trong sông có nhiều thuỷ tinh, và có nhiều nhân ngư. Trong núi có loài thú, hình trạng giống heo con, lông sắc trắng, lông của nó lớn như cây kê, phần đầu màu đen, tên của nó là Hào trệ.

    Chú của nguyên tác
    1- Nữu : (bính âm niǔ ) cây nữu, ngoại hình tựa cây đệ , lá nhỏ.
    Chú của người dịch
    *- Ở đây, trong nguyên tác in nhầm là chữ (vũ), phần bạch thoại là chữ (ngu). Trong Khang Hi tự điển, mục chữ “bạng” có dẫn câu trong Sơn hải kinh:
              Án Sơn hải kinh: Ngu thuỷ xuất yên, bắc lưu chú vu Chiêu thuỷ kì trung đa bạng  ngư, kì trạng như miết, kì thủ như dương.
              按山海經: 禺水出焉, 北流注于招水, 其中多 ..... , 其状如鳖, 其首如羊
              (Trong nguyên tác là “kì âm như dương”, trong “Khang Hi tự điển” là “kì thủ như dương”)
              Theo phần dịch sang bạch thoại trong tác và căn cứ vào “Khang Hi tự điển”, tôi sửa là chữ (ngu).
              (“Khang Hi tự điển”, Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 2002, trang 1463)
    **- Chữ “bạng” gồm bên trái chữ bên phải chữ .
              Tập vận 集韻phiên thiết là BỘ HẠNG 部项. Âm .
    (“Khang Hi tự điển”, ”, Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 2002, trang 1463)
    ***- Chữ “mị” gồm ở trên bộ , ở dưới là chữ .
              Quảng vận 廣韻, Tập vận 集韻 đều phiên thiết là MINH BÍ 明祕. Âm (mị).
    (“Khang Hi tự điển”, ”, Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 2002, trang 859)
    ****- Chữ “tác” gồm bên trái là bộ , bên phải là chữ .
              Tập vận 集韻  phiên thiết là TỨC CÁC 即各. Âm (tác).
    (“Khang Hi tự điển” ”, Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 2002, trang 651)

                                                                           Huỳnh Chương Hưng
                                                                           Quy Nhơn 07/11/2019

    Nguyên tác
    ANH SƠN   TRÚC SƠN
    英山 竹山
    Trong quyển
    SƠN HẢI KINH
    山海经
    Tác giả: Lưu Hướng 刘向, Lưu Hâm 刘歆 (Tây Hán)
    Cáp nhĩ Tân: Bắc phương văn nghệ xuất bản xã, 2013 

    Dịch thuật: Anh sơn, Trúc sơn (Sơn hải kinh)

    Đăng lúc  22:25  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »


    英山 竹山
         又西七十里, 曰英山. 其上多杻 (1), 橿, 其阴多铁, 其阳多赤金. (*) 水出焉, 北流注于招水, 其中多 ..... (**) , 其状如鳖, 其音如羊. 其阳多箭 ..... (***), 其兽多 ..... (****) , 羬羊. 有鸟焉, 其状如鹑, 黄身而赤喙, 其名曰肥遗, 食之已疠, 可以杀虫.
         又西五十二里, 曰竹山. 其上多乔木, 其阴多铁. 有草焉, 其名曰黄踁, 其状如樗, 其叶如麻, 白华而赤实, 其状如赭, 浴之已疥, 又可以已胕. 竹水出焉, 北流注于渭, 其阳多竹箭, 多苍玉. 丹水出焉, 东南流注于洛水, 其中多水玉, 多人鱼. 有兽焉, 其状如豚而白毛, 大如笄而黑端, 名曰豪彘.
                                       (山海经 - 西山经)

    ANH SƠN   TRÚC SƠN
              Hựu tây thất thập lí, viết Anh sơn. Kì thượng đa nữu (1), cương, kì âm đa thiết, kì dương đa xích kim. Ngu (*)  thuỷ xuất yên, bắc lưu chú vu Chiêu thuỷ, kì trung đa bạng (**) ngư, kì trạng như miết, kì âm như dương, kì dương đa tiễn mị  (***), kì thú đa tác (****) ngưu, kiềm dương, hữu thú yên, kì trạng như thuần, hoàng thân nhi xích huế, kì danh viết Phì di, thực chi dĩ lệ, khả dĩ sát trùng.
              Hựu tây ngũ thập nhị lí, viết Trúc sơn. Kì thượng đa kiều mộc, kì âm đa thiết. Hữu thảo yên, kì danh viết Hoàng hĩnh, kì trạng như xư, kì diệp như ma, bách hoa nhi xích thực, kì trạng như giả, dục chi dĩ giới, hựu khả dĩ dĩ phụ. Trúc
    thuỷ xuất yên, bắc lưu chú vu Vị, kì dương đa trúc tiễn, đa thương ngọc. Đan thuỷ xuất yên, đông nam lưu chú vu Lạc thuỷ, kì trung đa thuỷ ngọc, đa nhân ngư. Hữu thú yên, kì trạng như đồn nhi bạch mao, đại như kê nhi hắc đoan, danh viết Hào trệ.
                                                                            (Sơn hải kinh – Tây sơn kinh)

    ANH SƠN   TRÚC SƠN
              Lại hướng về phía tây 70 dặm, có Anh sơn. Trên núi có nhiều cây nữu, cây cương, phía bắc của núi có nhiều thiết, phía nam có nhiều xích kim. Sông Ngu phát nguyên từ núi này, sau đó chảy về phía bắc rồi đổ vào sông Chiêu, trong sông có nhiều cá bạng, hình trạng loại cá này giống con ba ba, tiếng kêu của nó giống tiếng con dê. Phía nam của núi có nhiều trúc tiễn và trúc mị, loài thú ở đó có nhiều ngưu tác và kiềm dương. Trong núi có loài chim, hình dạng giống chim am thuần, thân màu vàng mỏ màu đỏ, tên của nó là Phì di, ăn thịt của nó có thể trị khỏi mụt nhọt, có thể sát trùng.
              Lại hướng về phía tây 25 dặm, có Trúc sơn, trên núi có nhiều cây lớn, phía bắc của núi có nhiều thiết. Trên núi có một loại cỏ, tên là Hoàng hĩnh, hình trạng giống cây xư, lá như lá cây đay, hoa màu trắng quả màu đỏ, quả chín màu đỏ sậm, dùng nó pha nước để tắm có thể trừ được ghẻ chốc, cũng có thể trị bệnh phù thủng. Sông Trúc phát nguyên từ núi này, sau đó chảy về phía bắc rồi đổ vào sông Vị, phía bắc sông Vị có nhiều trúc tiễn, có nhiều ngọc sắc xanh. Sông Đan cũng phát nguyên từ núi này, sau đó chảy về hướng đông nam rồi đổ vào sông Lạc. Trong sông có nhiều thuỷ tinh, và có nhiều nhân ngư. Trong núi có loài thú, hình trạng giống heo con, lông sắc trắng, lông của nó lớn như cây kê, phần đầu màu đen, tên của nó là Hào trệ.

    Chú của nguyên tác
    1- Nữu : (bính âm niǔ ) cây nữu, ngoại hình tựa cây đệ , lá nhỏ.
    Chú của người dịch
    *- Ở đây, trong nguyên tác in nhầm là chữ (vũ), phần bạch thoại là chữ (ngu). Trong Khang Hi tự điển, mục chữ “bạng” có dẫn câu trong Sơn hải kinh:
              Án Sơn hải kinh: Ngu thuỷ xuất yên, bắc lưu chú vu Chiêu thuỷ kì trung đa bạng  ngư, kì trạng như miết, kì thủ như dương.
              按山海經: 禺水出焉, 北流注于招水, 其中多 ..... , 其状如鳖, 其首如羊
              (Trong nguyên tác là “kì âm như dương”, trong “Khang Hi tự điển” là “kì thủ như dương”)
              Theo phần dịch sang bạch thoại trong tác và căn cứ vào “Khang Hi tự điển”, tôi sửa là chữ (ngu).
              (“Khang Hi tự điển”, Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 2002, trang 1463)
    **- Chữ “bạng” gồm bên trái chữ bên phải chữ .
              Tập vận 集韻phiên thiết là BỘ HẠNG 部项. Âm .
    (“Khang Hi tự điển”, ”, Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 2002, trang 1463)
    ***- Chữ “mị” gồm ở trên bộ , ở dưới là chữ .
              Quảng vận 廣韻, Tập vận 集韻 đều phiên thiết là MINH BÍ 明祕. Âm (mị).
    (“Khang Hi tự điển”, ”, Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 2002, trang 859)
    ****- Chữ “tác” gồm bên trái là bộ , bên phải là chữ .
              Tập vận 集韻  phiên thiết là TỨC CÁC 即各. Âm (tác).
    (“Khang Hi tự điển” ”, Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 2002, trang 651)

                                                                           Huỳnh Chương Hưng
                                                                           Quy Nhơn 07/11/2019

    Nguyên tác
    ANH SƠN   TRÚC SƠN
    英山 竹山
    Trong quyển
    SƠN HẢI KINH
    山海经
    Tác giả: Lưu Hướng 刘向, Lưu Hâm 刘歆 (Tây Hán)
    Cáp nhĩ Tân: Bắc phương văn nghệ xuất bản xã, 2013 

    Thứ Tư, 6 tháng 11, 2019

    "TÁNG CHÚNG" VÀ "PHẦN LẪM" ĐỜI THƯƠNG

              Sự phản kháng của nô lệ triều Thương đối với chủ nô, ngoài cách tiêu cực là lười biếng làm việc, phá hoại nông cụ, còn có bỏ trốn và đốt kho đụn của chủ nô.
              Trong giáp cốt văn phản ánh rõ nhất chính là nô lệ bỏ trốn với số lượng lớn. Nô lệ bỏ trốn có sô , khương , bộc , chúng , châu thần 州臣 .... Trong giáp cốt văn thường thấy ghi chép như “vong sô” 亡刍 “vong khương” 亡羌. “Vong” chính là đào vong, (bỏ trốn). Trong đó có một hình thức đào vong gọi là “táng chúng” 丧众. Như:
    “Trinh ngã kì táng chúng nhân”
    贞我其丧众人
    “Trinh kì táng chúng”
    贞囗其丧众
    囗囗 bốc, trinh chúng tác tịch, bất táng”
    囗囗卜, 贞众作藉不丧
              Gọi là “chúng” hoặc “chúng nhân” 众人 chính là một loại nô lệ nông nghiệp đời Thương, Chữ “chúng” trong giáp cốt văn có hình 3 người dưới mặt trời (Nhật hạ tam nhân hình 日下三人形). Chữ “tam” thời cổ đại biểu cho số đồng, cho nên ý nghĩa ban đầu của chữ “chúng” chính là dưới mặt trời có nhiều nô lệ nông nghiệp đang lao động trên cánh đồng. Loại nô lệ nông nghiệp “chúng” này, dưới sự giám sát của quốc vương, hoặc tiểu thần, tiểu tịch thần đã “hiệp điền” 协田 hoặc “tịch điền” 藉田 đại quy mô. Họ chẳng có thứ gì, thậm chí ngay cả chiếc liềm thô cũng phải do chủ nô tạm thời cấp phát. Lúc chiến tranh, nô lệ còn bị sung làm binh sĩ, trở thành vật hi sinh trong chiến tranh bị chủ nô cướp đoạt. Như trong giáp cốt văn có câu:
    Đinh Mùi bốc, tranh, trinh vật lệnh thị chúng phạt [phương]
    丁未卜, , 贞勿令囗氏众伐囗  []
    Chính là ghi chép việc khi Vũ Đinh 武丁 công phạt phương, đã cưỡng bức chúng nhân đi phục dịch. “Táng chúng” 丧众 chính là nô lệ bỏ trốn. Các loại nô lệ (bao gồm chúng và chúng nhân trong đó) chẳng qua chỉ là giống như trâu ngựa, là một loại tài sản của giai cấp chủ nô, một khi bỏ chạy, coi như là “táng thất” 丧失 (mất) một món tài phú. Nhân đó, Thương vương rất quan tâm đối với sự việc nô lệ phát sinh bỏ trốn, thường cầu thần để hỏi. Giáp cốt văn mà ở trên nêu ra,
    Điều 1 là:  Chúng nhân của ta đã bỏ trốn rồi chăng?
    Điều 2 là: Chúng nhân của người họ đã bỏ trốn rồi chăng?
    Điều 3 là: Chúng nhân đi xới đất, không phát sinh bỏ trốn chăng?
    Sở dĩ trong giáp cốt văn thường thấy “táng chúng” chính là ghi chép liên quan đến chúng hoặc chúng nhân bỏ trốn một cách quy mô.
              Nô lệ một khi đã bỏ trốn, chủ nô lập tức điều động nhân mã đuổi theo bắt lại, việc này trong giáp cốt văn cũng có nhiều ghi chép.
              Tháng 12 một năm nọ lúc Vũ Đinh đương triều, có mấy nô lệ bỏ trốn, Thương Vương vô cùng nóng ruột, lập tức lệnh cho bốc nhân dùng mai rùa tiến hành bói, hỏi rằng: Nô lệ bỏ trốn có thể bắt lại được không? Đối với lời bói Thương Vương vẫn chưa yên tâm, lại đích thân xem bốc triệu, tự mình hỏi rằng: Ông trời bảo hộ, ngày thứ 2 Giáp Tuất hoặc ngày thứ 3 Ất Hợi có thể bắt lại được không? Nhưng vấn bốc qua, ông trời cũng không hiển linh trên mai rùa. Hôm sau gặp ngày Giáp Tuất, nô lệ bỏ trốn đến bên sông, vội vàng leo lên một chiếc thuyền đỗ ở bên bờ định vượt sông, nhưng không thành thạo, trong lúc vội vàng thuyền chìm xuống nước. Nhưng ông trời không thấu lộ chút điềm gì trên mai rùa về việc nô lệ bị chìm thuyền. Thương Vương không biết nô lệ chạy hướng nào, kết quả nô lệ vẫn bỏ trốn được. Qua 15 ngày sau tốn một sức lực lớn,  vào ngày Đinh Hợi mới bắt lại được nô lệ. Có một mảnh yếm rùa lớn thời Vũ Đinh đã ghi chép lại việc truy bắt nô lệ lần đó:
              Quý Dậu bốc, tuyên, trinh thần đắc. Vương chiêm viết: kì đắc duy Giáp Ất. Giáp Tuất thần thiệp chu diên hãm, phất cáo. Tuần hữu ngũ nhật Đinh Hợi hạnh. Thập nhị nguyệt.
              Quý Dậu bốc, tuyên, trinh [thần] bất kì đắc.
              癸酉卜, , . 王占曰: 其得唯甲乙. 甲戌臣涉舟延陷, 弗告. 旬有五日丁亥幸. 十二月
              癸酉卜, , [] 不其得
              Để giết một mà răn một trăm, nô lệ bỏ trốn bị bắt trở lại, sẽ bị bức hại càng tàn khốc hơn. Có người bị loạn tên bắn chết, có người bị chặt đầu, có người bị cưa chân, cũng có người làm vật hi sinh dùng trong tế lễ tổ tiên....
              Sự trấn áp tàn khốc của chủ nô đối với quảng đại nô lệ, chỉ có thể gây ra sự phản kháng mãnh liệt hơn. Họ không chỉ tiếp tục bỏ trốn với quy mô lớn, mà còn dấy lên bạo động, đả kích trầm trọng cơ sở thống trị của vương triều Thương.
              Có một ngày, Ân vương sai một nhóm bộc nô đi làm cỏ ruộng ở một nơi nọ, lại sai một nhóm tể nô khác đi làm cỏ ruộng ở một nơi khác. Bọn giám công như hổ sói vung roi vừa đánh vừa mắng nô lệ. Việc làm đó đã gây ra sự phản kháng của họ.
              Đến xế chiều, nhóm nô lệ tập trung lại, tay cầm gậy gộc, xẻng đá và đuốc chạy đến kho lương cao lớn của chủ nô, đánh với binh sĩ giữ kho lương một trận kịch liệt, một mồi lửa thiêu rụi kho chứa đầy lương thực. Tiếp đó lại đốt kho thứ 2, kho thứ 3. Lửa ở 3 kho hừng hực cháy, chiếu sáng rực cả trời đêm ...
              Chỉ trong một buổi xế chiều, cả 3 kho lương bị nhóm nô lệ bạo động đốt cháy, Thương Vương Vũ Đinh sợ đến mức trố mắt đờ đẫn. Đó không chỉ là chủ nô tổn thất một số lượng lớn lương thực, mà còn khiến cho việc tế tự tổ tiên cũng bị ảnh hưởng. Thương Vương Vũ Đinh trong lòng luôn lo sợ phát sinh sự việc tương tự, không tiếc sử dụng cả mảnh mai rùa hoàn chỉnh, tiến hành mấy lần  trinh bốc, trong đó có đoạn ghi chép như sau:
              [Quý Tị bốc], tranh, [trinh] tuần [vong] hoạ. Nhị; vương chiêm viết: hữu sùng, quang kì hữu lai gian. Hất chí lục nhật Mậu Tuất, duẫn hữu [lai gian], hữu bộc tại , tể tại , kì hao, diệc (dạ) phần lẫm tam. Thập nhất nguyệt.
              [癸巳卜], , [] [] . ; 王占曰: 有崇, 囗光其有来艰. 迄至六日戊戌, 允有 [来艰], 有仆在囗, 宰在囗, 其囗, () 焚廪三. 十一月
              Những mảnh giáp cốt này đều khắc chữ lớn đồng thời dùng chu sa bôi lên chữ đã khắc, phản ánh việc Thương Vương Vũ Đinh lo sợ nô lệ bạo động đốt kho và rất coi trọng sự kiện này.
              Sự bỏ trốn và bạo động của nô lệ, không chỉ thấy ở giáp cốt văn, mà trong các văn hiến cổ đại cũng có ghi chép. Theo ghi chép trong Thượng thư – Mục thệ 尚书 - 牧誓 và trong Tả truyện – Chiêu Công thất niên 左传 - 昭公七年:
    Trụ vi thiên hạ bô đào chủ (1)
    纣为天下逋逃主
    (Trụ Vương là chủ nhân của bọn tội phạm trong thiên hạ bỏ trốn)
    đã phản ánh sự bỏ trốn của nô lệ thời Đế Tân 帝辛 cuối thời Ân đã rất nhiều lần.

    Chú của người dịch
    1- Thiên Mục thệ 牧誓 trong Thượng thư 尚书 ghi rằng:
              Nãi duy tứ phương chi đa tội bô đào, thị sùng thị trưởng, thị kính thị sử, thị dĩ vi đại phu khanh sĩ. Tỉ bạo ngược vu bách tính, dĩ gian quỹ vu Thương ấp.
              乃惟四方之多罪逋逃, 是崇是长, 是敬是使, 是以为大夫卿士, 俾暴虐于百姓, 以奸宄于商邑.
              ((Thương Vương) ..... đối với bọn người tứ phương phạm trọng tội bỏ trốn, tôn sùng kính trọng, tín nhiệm sử dụng, dùng họ làm đại phu khanh sĩ. Khiến họ tàn bạo đối với bách tính, làm loạn ấp Thương ...)
              Thiên Vũ Thành 武成 trong Thượng thư 尚书 ghi rằng:
              Kim Thương Vương thụ vô đạo, bạo điển thiên vật, hại ngược chưng dân, vi thiên hạ bô đào chủ, tuỵ uyên tẩu.
              今商王受无道, 暴殄天物, 害虐烝民, 为天下逋逃主, 萃渊薮.
              (Nay Thương Vương Trụ bạo ngược vô đạo, tuyệt diệt trăm vật trong thiên hạ, là chủ nhân của bọn tội phạm trong thiên hạ bỏ trốn, tụ tập nơi đầm sâu)
              Và trong Tả truyện – Chiêu  Công thất niên 左传 - 昭公七年 cũng có ghi:
              Trụ vi thiên hạ bô đào chủ, tuỵ uyên tẩu.
              纣为天下逋逃主, 萃渊薮.
              (Trụ Vương là chủ nhân của bọn tội phạm trong thiên hạ bỏ trốn, là đầm vực cho bọn chúng tụ tập)

                                                             Huỳnh Chương Hưng
                                                             Quy Nhơn 06/11/2019

    Nguồn
    TÂY CHU SỬ THOẠI
    西周史话
    Tác giả: Vương Vũ Tín 王宇信
    Trung Quốc quốc tế quảng bá xuất bản xã, 2007


    Dịch thuật: "Táng chúng" và "phần lẫm" đời Thương

    Đăng lúc  18:11  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    "TÁNG CHÚNG" VÀ "PHẦN LẪM" ĐỜI THƯƠNG

              Sự phản kháng của nô lệ triều Thương đối với chủ nô, ngoài cách tiêu cực là lười biếng làm việc, phá hoại nông cụ, còn có bỏ trốn và đốt kho đụn của chủ nô.
              Trong giáp cốt văn phản ánh rõ nhất chính là nô lệ bỏ trốn với số lượng lớn. Nô lệ bỏ trốn có sô , khương , bộc , chúng , châu thần 州臣 .... Trong giáp cốt văn thường thấy ghi chép như “vong sô” 亡刍 “vong khương” 亡羌. “Vong” chính là đào vong, (bỏ trốn). Trong đó có một hình thức đào vong gọi là “táng chúng” 丧众. Như:
    “Trinh ngã kì táng chúng nhân”
    贞我其丧众人
    “Trinh kì táng chúng”
    贞囗其丧众
    囗囗 bốc, trinh chúng tác tịch, bất táng”
    囗囗卜, 贞众作藉不丧
              Gọi là “chúng” hoặc “chúng nhân” 众人 chính là một loại nô lệ nông nghiệp đời Thương, Chữ “chúng” trong giáp cốt văn có hình 3 người dưới mặt trời (Nhật hạ tam nhân hình 日下三人形). Chữ “tam” thời cổ đại biểu cho số đồng, cho nên ý nghĩa ban đầu của chữ “chúng” chính là dưới mặt trời có nhiều nô lệ nông nghiệp đang lao động trên cánh đồng. Loại nô lệ nông nghiệp “chúng” này, dưới sự giám sát của quốc vương, hoặc tiểu thần, tiểu tịch thần đã “hiệp điền” 协田 hoặc “tịch điền” 藉田 đại quy mô. Họ chẳng có thứ gì, thậm chí ngay cả chiếc liềm thô cũng phải do chủ nô tạm thời cấp phát. Lúc chiến tranh, nô lệ còn bị sung làm binh sĩ, trở thành vật hi sinh trong chiến tranh bị chủ nô cướp đoạt. Như trong giáp cốt văn có câu:
    Đinh Mùi bốc, tranh, trinh vật lệnh thị chúng phạt [phương]
    丁未卜, , 贞勿令囗氏众伐囗  []
    Chính là ghi chép việc khi Vũ Đinh 武丁 công phạt phương, đã cưỡng bức chúng nhân đi phục dịch. “Táng chúng” 丧众 chính là nô lệ bỏ trốn. Các loại nô lệ (bao gồm chúng và chúng nhân trong đó) chẳng qua chỉ là giống như trâu ngựa, là một loại tài sản của giai cấp chủ nô, một khi bỏ chạy, coi như là “táng thất” 丧失 (mất) một món tài phú. Nhân đó, Thương vương rất quan tâm đối với sự việc nô lệ phát sinh bỏ trốn, thường cầu thần để hỏi. Giáp cốt văn mà ở trên nêu ra,
    Điều 1 là:  Chúng nhân của ta đã bỏ trốn rồi chăng?
    Điều 2 là: Chúng nhân của người họ đã bỏ trốn rồi chăng?
    Điều 3 là: Chúng nhân đi xới đất, không phát sinh bỏ trốn chăng?
    Sở dĩ trong giáp cốt văn thường thấy “táng chúng” chính là ghi chép liên quan đến chúng hoặc chúng nhân bỏ trốn một cách quy mô.
              Nô lệ một khi đã bỏ trốn, chủ nô lập tức điều động nhân mã đuổi theo bắt lại, việc này trong giáp cốt văn cũng có nhiều ghi chép.
              Tháng 12 một năm nọ lúc Vũ Đinh đương triều, có mấy nô lệ bỏ trốn, Thương Vương vô cùng nóng ruột, lập tức lệnh cho bốc nhân dùng mai rùa tiến hành bói, hỏi rằng: Nô lệ bỏ trốn có thể bắt lại được không? Đối với lời bói Thương Vương vẫn chưa yên tâm, lại đích thân xem bốc triệu, tự mình hỏi rằng: Ông trời bảo hộ, ngày thứ 2 Giáp Tuất hoặc ngày thứ 3 Ất Hợi có thể bắt lại được không? Nhưng vấn bốc qua, ông trời cũng không hiển linh trên mai rùa. Hôm sau gặp ngày Giáp Tuất, nô lệ bỏ trốn đến bên sông, vội vàng leo lên một chiếc thuyền đỗ ở bên bờ định vượt sông, nhưng không thành thạo, trong lúc vội vàng thuyền chìm xuống nước. Nhưng ông trời không thấu lộ chút điềm gì trên mai rùa về việc nô lệ bị chìm thuyền. Thương Vương không biết nô lệ chạy hướng nào, kết quả nô lệ vẫn bỏ trốn được. Qua 15 ngày sau tốn một sức lực lớn,  vào ngày Đinh Hợi mới bắt lại được nô lệ. Có một mảnh yếm rùa lớn thời Vũ Đinh đã ghi chép lại việc truy bắt nô lệ lần đó:
              Quý Dậu bốc, tuyên, trinh thần đắc. Vương chiêm viết: kì đắc duy Giáp Ất. Giáp Tuất thần thiệp chu diên hãm, phất cáo. Tuần hữu ngũ nhật Đinh Hợi hạnh. Thập nhị nguyệt.
              Quý Dậu bốc, tuyên, trinh [thần] bất kì đắc.
              癸酉卜, , . 王占曰: 其得唯甲乙. 甲戌臣涉舟延陷, 弗告. 旬有五日丁亥幸. 十二月
              癸酉卜, , [] 不其得
              Để giết một mà răn một trăm, nô lệ bỏ trốn bị bắt trở lại, sẽ bị bức hại càng tàn khốc hơn. Có người bị loạn tên bắn chết, có người bị chặt đầu, có người bị cưa chân, cũng có người làm vật hi sinh dùng trong tế lễ tổ tiên....
              Sự trấn áp tàn khốc của chủ nô đối với quảng đại nô lệ, chỉ có thể gây ra sự phản kháng mãnh liệt hơn. Họ không chỉ tiếp tục bỏ trốn với quy mô lớn, mà còn dấy lên bạo động, đả kích trầm trọng cơ sở thống trị của vương triều Thương.
              Có một ngày, Ân vương sai một nhóm bộc nô đi làm cỏ ruộng ở một nơi nọ, lại sai một nhóm tể nô khác đi làm cỏ ruộng ở một nơi khác. Bọn giám công như hổ sói vung roi vừa đánh vừa mắng nô lệ. Việc làm đó đã gây ra sự phản kháng của họ.
              Đến xế chiều, nhóm nô lệ tập trung lại, tay cầm gậy gộc, xẻng đá và đuốc chạy đến kho lương cao lớn của chủ nô, đánh với binh sĩ giữ kho lương một trận kịch liệt, một mồi lửa thiêu rụi kho chứa đầy lương thực. Tiếp đó lại đốt kho thứ 2, kho thứ 3. Lửa ở 3 kho hừng hực cháy, chiếu sáng rực cả trời đêm ...
              Chỉ trong một buổi xế chiều, cả 3 kho lương bị nhóm nô lệ bạo động đốt cháy, Thương Vương Vũ Đinh sợ đến mức trố mắt đờ đẫn. Đó không chỉ là chủ nô tổn thất một số lượng lớn lương thực, mà còn khiến cho việc tế tự tổ tiên cũng bị ảnh hưởng. Thương Vương Vũ Đinh trong lòng luôn lo sợ phát sinh sự việc tương tự, không tiếc sử dụng cả mảnh mai rùa hoàn chỉnh, tiến hành mấy lần  trinh bốc, trong đó có đoạn ghi chép như sau:
              [Quý Tị bốc], tranh, [trinh] tuần [vong] hoạ. Nhị; vương chiêm viết: hữu sùng, quang kì hữu lai gian. Hất chí lục nhật Mậu Tuất, duẫn hữu [lai gian], hữu bộc tại , tể tại , kì hao, diệc (dạ) phần lẫm tam. Thập nhất nguyệt.
              [癸巳卜], , [] [] . ; 王占曰: 有崇, 囗光其有来艰. 迄至六日戊戌, 允有 [来艰], 有仆在囗, 宰在囗, 其囗, () 焚廪三. 十一月
              Những mảnh giáp cốt này đều khắc chữ lớn đồng thời dùng chu sa bôi lên chữ đã khắc, phản ánh việc Thương Vương Vũ Đinh lo sợ nô lệ bạo động đốt kho và rất coi trọng sự kiện này.
              Sự bỏ trốn và bạo động của nô lệ, không chỉ thấy ở giáp cốt văn, mà trong các văn hiến cổ đại cũng có ghi chép. Theo ghi chép trong Thượng thư – Mục thệ 尚书 - 牧誓 và trong Tả truyện – Chiêu Công thất niên 左传 - 昭公七年:
    Trụ vi thiên hạ bô đào chủ (1)
    纣为天下逋逃主
    (Trụ Vương là chủ nhân của bọn tội phạm trong thiên hạ bỏ trốn)
    đã phản ánh sự bỏ trốn của nô lệ thời Đế Tân 帝辛 cuối thời Ân đã rất nhiều lần.

    Chú của người dịch
    1- Thiên Mục thệ 牧誓 trong Thượng thư 尚书 ghi rằng:
              Nãi duy tứ phương chi đa tội bô đào, thị sùng thị trưởng, thị kính thị sử, thị dĩ vi đại phu khanh sĩ. Tỉ bạo ngược vu bách tính, dĩ gian quỹ vu Thương ấp.
              乃惟四方之多罪逋逃, 是崇是长, 是敬是使, 是以为大夫卿士, 俾暴虐于百姓, 以奸宄于商邑.
              ((Thương Vương) ..... đối với bọn người tứ phương phạm trọng tội bỏ trốn, tôn sùng kính trọng, tín nhiệm sử dụng, dùng họ làm đại phu khanh sĩ. Khiến họ tàn bạo đối với bách tính, làm loạn ấp Thương ...)
              Thiên Vũ Thành 武成 trong Thượng thư 尚书 ghi rằng:
              Kim Thương Vương thụ vô đạo, bạo điển thiên vật, hại ngược chưng dân, vi thiên hạ bô đào chủ, tuỵ uyên tẩu.
              今商王受无道, 暴殄天物, 害虐烝民, 为天下逋逃主, 萃渊薮.
              (Nay Thương Vương Trụ bạo ngược vô đạo, tuyệt diệt trăm vật trong thiên hạ, là chủ nhân của bọn tội phạm trong thiên hạ bỏ trốn, tụ tập nơi đầm sâu)
              Và trong Tả truyện – Chiêu  Công thất niên 左传 - 昭公七年 cũng có ghi:
              Trụ vi thiên hạ bô đào chủ, tuỵ uyên tẩu.
              纣为天下逋逃主, 萃渊薮.
              (Trụ Vương là chủ nhân của bọn tội phạm trong thiên hạ bỏ trốn, là đầm vực cho bọn chúng tụ tập)

                                                             Huỳnh Chương Hưng
                                                             Quy Nhơn 06/11/2019

    Nguồn
    TÂY CHU SỬ THOẠI
    西周史话
    Tác giả: Vương Vũ Tín 王宇信
    Trung Quốc quốc tế quảng bá xuất bản xã, 2007


    Thứ Ba, 5 tháng 11, 2019

    LỮ BỐ
    (kì 1)

              Lữ Bố 吕布 (? – năm 200) tự Phụng Tiên 奉先, người Cửu Nguyên 久原quận Ngũ Nguyên 五原 thời Tam Quốc. Lữ Bố là viên mãnh tướng, nói về võ nghệ thì rất ít người là đối thủ. Lữ Bố trước sau nhận Đinh Nguyên 丁原 và Đổng Trác 董卓làm nghĩa phụ, 2 lần giết chết nghĩa phụ. Lữ Bố lúc qua lại với Viên Thuật 袁术 và Lưu Bị 刘备, cũng phản phúc vô thường, cuối cùng không ai chịu thu nhận, ở vào tình cảnh mọi người quay lưng bà con xa lánh. Lữ Bố có tài nhưng không có đức, cuối cùng bị Tào Tháo giết chết.

    TAY VUNG ĐAO, ĐÍCH THÂN GIẾT CHẾT NGHĨA PHỤ
    ĐINH NGUYÊN
              Lữ Bố lúc nhỏ, cha mệ đều mất. Lữ Bố tướng mạo anh tuấn, sức lự phi phàm, được Thứ sử Tịnh Châu 并州 là Đinh Nguyên丁原 nhận nuôi dưỡng. Lữ Bố lớn lên trong quân của Đinh Nguyên, luyện tập võ nghệ, tinh thông xạ kị, hiệu xưng là “Phi tướng” 飞将.
              Sau khi Đinh Nguyên được thăng làm Thứ sử, nhậm Lữ Bố làm chủ bạ, nắm giữ sự vụ trong quân, xem Lữ Bố như tâm phúc. Lữ Bố và Đinh Nguyên có quan hệ thân mật, vào thì cùng an, ra thì hộ vệ. Do bởi có lữ Bố làm chỗ dựa, Đinh Nguyên ở trong số tướng lĩnh các lộ đã  trổ hết tài năng.
              Lữ Bố là người tài trong số các võ tướng thời Tam Quốc, rất ít người có thể cùng giao chiến. Lữ Bố sống khí vũ hiên ngang, uy phong các mặt, tay cầm phương thiên hoạ kích, thần thái bất phàm. Đầu bới tóc đội kim quan, thân khoác chiến bào bách hoa, lưng thắt đai, cung tên đeo bên người, tay cầm hoạ kích, ngồi trên ngựa Xích thố. Có thể nói là “nhân trung Lữ Bố, mã trung Xích thố”  人中吕布, 马中赤兔 (trong đám người, nổi bật có Lữ Bố, trong số ngựa, nổi bật có Xích thố).
              Mùa hạ tháng 4 niên hiệu Trung Bình 中平 thứ 6, Linh Đế 灵帝giá băng, thái tử Lưu Biện 刘辩 tức vị. Đương thời, Thập thường thị nắm giữ triều chính, vị cao quyền trọng. Cậu của Lưu Biện là Hà Tiến 何进muốn tru sát Thập thường thị, chiêu nạp dũng sĩ bốn phương tụ hội ở đô thành, Đổng Trác 董卓, Đinh Nguyên 丁原 cũng có trong số đó.
              Về sau, Thập thường thị bị giết, Hà Tiến cũng bị giết, Đổng Trác đoạt lấy binh mã của Hà Tiến, thực lực lớn mạnh, các công khanh đều rất sợ.
              Tại vườn Ôn Minh 温明, sau khi Đổng Trác nói muốn phế Lưu Biện, lập Trần Lưu Vương Lưu Hiệp 陈留王刘协, giả vờ trưng cầu ý kiến quần thần, quần thần sợ, không dám trả lời. Đinh Nguyên hét rằng:
              - Không được! Ông là người nào? Dám khẩu xuất cuồng ngôn, coi khinh Hán thất không có người sao? Thiên tử là đích trưởng tử của Linh Đế, ông dựa vào đâu mà đòi phế? Lẽ nào không sợ diệt cả chín họ à?
              Đổng Trác thấy Đinh Nguyên dám giở trò với mình, thái độ cứng rắn, cần phải cho Đinh Nguyên biết tay, không thể đàn hặc quần thần. Đổng Trác tay đè kiếm, hét rằng:
              - Ông dám ở đây ngang ngược, hôm nay ta phải cho đầu ông rơi xuống đất, xem ông có còn cuồng không!
              Đổng Trác tuốt kiếm, bách quan vô cùng sợ.
              Đinh Nguyên cười mỉm, nhìn không hề động đậy. Một lát sau, Đổng Trác lại hạ kiếm xuống, cho vào vỏ, nhảy lên chỗ ngồi phía trên. Hoá ra Đổng Trác phát hiện sau lưng Đinh Nguyên có Lữ Bố đang đứng. Lữ Bố thân cao 1 trượng, vai rộng lưng tròn, anh tuấn dị thường, một tay cầm kiếm, tay kia cầm phương thiên hoạ kích, hai mắt trừng trừng.
              Dưới sự cổ động của Đinh Nguyên, Lư Thực 卢植 cùng các đại thần đề xuất ý kiến phản đối. Đổng Trác vô cùng tức giận. Tan buổi tiệc, Đổng Trác chuẩn bị bức vấn quần thần, ai không theo chém đầu ngay lập tức. Đổng Trác chưa ra tay, Lữ Bố theo Đinh Nguyên từ trong vườn bước ra, quan sát động tĩnh của Đổng Trác, Đổng Trác sợ bèn lên đường về phủ. Bách quan được thoát thân. Sau khi về phủ, Đổng Trác buồn bực không vui, giận đến mức không nói ra lời.
              Sáng sớm hôm sau, Đổng Trác vừa mới ăn xong, quân sĩ báo cáo, nói rằng Đinh Nguyên dẫn quân khiêu chiến ngoài thành. Đổng Trác dẫn quân xuất thành, bày thế trận, muốn giết Đinh Nguyên. Đổng Trác từ xa nhìn, chỉ thấy Lữ Bố với bộ quân trang, nhảy lên ngựa, trong tay có phương thiên hoạ kích, giống tướng nhà trời xuống phàm trần.
              Lữ Bố một ngựa đi đầu, xông lên, Đinh Nguyên dẫn quân theo sau, Đổng Trác không đủ sức chống lại, bèn quay ngựa bỏ chạy, chạy được 30 dặm, nhìn thấy sau lưng không có truy binh, mới từ từ an tâm.
              Mấy ngày liền, Đổng Trác ngủ không ngon giấc, bọn Lí Nhu 李儒biết ông ta sợ Lữ Bố, không tiện nói ra, trong lòng rất lo.
              Ngày nọ, tướng lãnh Lí Túc 李肃 cầu kiến Đổng Trác, nói rằng:
              - Chúa công buồn bực không vui, có phải là vì Lữ Bố?
              Đổng Trác thất kinh, tức giận nói rằng:
              - Thế ông có cách gì không?
              Lí Túc nói rằng:
              - Tôi trước sau chỉ nghĩ đến một việc, tôi với Lữ Bố là đồng hương, Lúc nhỏ từng chơi với nhau nên biết rõ con người Lữ Bố, hữu dũng nhưng vô mưu, lại là người thấy lợi là quên nghĩa. Tôi muốn lấy thân phận là đồng hương, mang lễ vật đi gặp Lữ Bố, chuyển đạt ý của chúa công, khuyên Lữ Bố hàng chúa công. Chúa công thấy kế đó như thế nào?
              Đổng Trác cả mừng, nói với Lí Túc:
              - Chỉ cần Lữ Bố về với ta, lễ vật gì ta cũng không tiếc, ông cần thứ gì?
              Lí Túc nói:
              - Chúa công có con ngựa quý, tên là “Xích thố” 赤兔, ban ngày đi được ngàn dặm, ban đêm đi được tám trăm dặm. Lại thêm vàng ngọc, hứa cho chức quan cao, Lữ Bố nhất định sẽ đến hàng. Chúa công lo gì mà không xưng bá thiên hạ!
              Đổng Trác y lời, mệnh Lí Túc nhanh chóng đến quân trung của Lữ Bố khuyên hàng.
              Lí Túc và 2 nô bộc dẫn theo ngựa Xích thố và rất nhiều báu vật đến quân doanh của Lữ Bố, nói là đồng hương cầu kiến. Sau khi vào, Lí Túc miệng gọi  “hiền đệ”, tiến lên phía trước thi lễ. Lữ Bố sững sờ hỏi:
              - Ông là ai. sao lại gọi ta là hiền đệ?
              Lí Túc hỏi lại:
              - Lẽ nào ông quên, tôi là Lí Túc quê ở Ngũ Nguyên, lúc nhỏ tôi là ông cùng chơi đùa với nhau!
              Lữ Bố vội hành lễ, nói rằng:
              - Thất lễ! thất lễ! Không biết Lí huynh hiện là quan cao ở nơi nào?
              Lí Túc đáp rằng:
              - Tôi hiện là Hổ bôn Trung lang tướng tại triều. Nghe nói hiền đệ vốn có chí lớn, tôi rất vui mừng. Hôm nay có được con ngựa Xích thố, ngày đi được ngàn dặm. Hiền đệ là thânn vũ nó rất xứng để hiền đệ cưỡi, tôi đặc biệt tặng cho hiền đệ.
              Lữ Bố nhìn thấy, quả thực là ngựa quý, toàn thân màu đỏ, không có một sợi lông tạp nào, thân dài 1 trượng, cao đến 8 xích, có thần thái như muốn bay lên không. Lữ Bố sai người đưa ngựa vào chuồng chăm sóc. Lữ Bố và Lí Túc uống rượu chuyện trò. Lí Túc sai nô bộc dâng báu vật, Lữ Bố nhận toàn bộ.
              Rượu đến lúc ngà say, Lí Túc hỏi Lữ Bố:
              - Lâu năm không gặp, hiền đệ vẫn tốt chứ?
              Lữ Bố đỏ mặt, ấp a ấp úng nói rằng:
              - Đinh Nguyên đối đãi tôi ơn nặng như núi, chỉ có điều là khó mà vượt lên cao được.
              Lí Túc nói rằng:
              - Hiền đệ, ngựa quý và báu vật đều là của Thừa tướng Đổng Trác. Thừa tướng có ý xem là tri kỉ, giao cho nhiệm vụ quan trọng, cùng hiền đệ hưởng giang sơn. Với tài năng của hiền đệ, sẽ được cấp đất phong vương có gì mà phải buồn.
              Lữ Bố nói rằng:
              - Đinh Nguyên tuy không phải là phụ thân của tôi, nhưng có ơn nuôi dưỡng, không nỡ rời xa.
              Lí Túc bảo rằng:
              - Vô độc bất trượng phu, đại trượng phu phải làm nên đại sự nghiệp, sao lại phải suy nghĩ nhiều.
              Lữ Bố suy nghĩ một hồi lâu rồi nói:
              - Lí huynh trước tiên đợi một chút, đợi tôi giết Đinh Nguyên sẽ theo huynh đi đến chỗ Đổng Trác thỉnh tội.
              Lí Túc bảo:
              - Hiền đệ tuyệt đối không nên một phút mềm tay làm hỏng việc lớn.
              Lữ Bố đáp:
              - Lí huynh yên tâm, Lữ Bố không làm hỏng việc đâu.
              Lữ Bố xách đao đến phòng Đinh Nguyên.
              Đinh Nguyên đang xem sách, thấy Lữ Bố xách đao bước vào, cho rằng lại có chiến sự, liền hỏi:
              - Có phải là Đổng tặc đến khiêu chiến không?
              Lữ Bố đáp rằng:
              - Với tài của Lữ Bố, làm sao có thể nhận ông làm cha?
              Đinh Nguyên mắng:
              - Mầy là đứa nghịch tử!
              Lữ bố tay vung đao chém Đinh Nguyên, đến trong trướng hét lớn:
              - Đinh Nguyên bị ta chép thủ cấp, hiện các người mau theo ta đầu bôn Đổng thái sư.
              Quân sĩ vội thu xếp hành lí đi theo cùng Lữ Bố.... (còn tiếp)

                                                                    Huỳnh Chương Hưng
                                                                    Quy Nhơn 05/11/2019

    Nguyên tác
    LỮ BỐ
    吕布
    Trong quyển
    HỔ CHI UY
    虎之威
    Tác giả: Hàn Tố Văn 韩素文
    Bắc Kinh: Trung Quốc Trường An xuất bản xã, 2006.

    Dịch thuât: Lữ Bố (kì 1) (Hổ chi uy)

    Đăng lúc  17:12  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    LỮ BỐ
    (kì 1)

              Lữ Bố 吕布 (? – năm 200) tự Phụng Tiên 奉先, người Cửu Nguyên 久原quận Ngũ Nguyên 五原 thời Tam Quốc. Lữ Bố là viên mãnh tướng, nói về võ nghệ thì rất ít người là đối thủ. Lữ Bố trước sau nhận Đinh Nguyên 丁原 và Đổng Trác 董卓làm nghĩa phụ, 2 lần giết chết nghĩa phụ. Lữ Bố lúc qua lại với Viên Thuật 袁术 và Lưu Bị 刘备, cũng phản phúc vô thường, cuối cùng không ai chịu thu nhận, ở vào tình cảnh mọi người quay lưng bà con xa lánh. Lữ Bố có tài nhưng không có đức, cuối cùng bị Tào Tháo giết chết.

    TAY VUNG ĐAO, ĐÍCH THÂN GIẾT CHẾT NGHĨA PHỤ
    ĐINH NGUYÊN
              Lữ Bố lúc nhỏ, cha mệ đều mất. Lữ Bố tướng mạo anh tuấn, sức lự phi phàm, được Thứ sử Tịnh Châu 并州 là Đinh Nguyên丁原 nhận nuôi dưỡng. Lữ Bố lớn lên trong quân của Đinh Nguyên, luyện tập võ nghệ, tinh thông xạ kị, hiệu xưng là “Phi tướng” 飞将.
              Sau khi Đinh Nguyên được thăng làm Thứ sử, nhậm Lữ Bố làm chủ bạ, nắm giữ sự vụ trong quân, xem Lữ Bố như tâm phúc. Lữ Bố và Đinh Nguyên có quan hệ thân mật, vào thì cùng an, ra thì hộ vệ. Do bởi có lữ Bố làm chỗ dựa, Đinh Nguyên ở trong số tướng lĩnh các lộ đã  trổ hết tài năng.
              Lữ Bố là người tài trong số các võ tướng thời Tam Quốc, rất ít người có thể cùng giao chiến. Lữ Bố sống khí vũ hiên ngang, uy phong các mặt, tay cầm phương thiên hoạ kích, thần thái bất phàm. Đầu bới tóc đội kim quan, thân khoác chiến bào bách hoa, lưng thắt đai, cung tên đeo bên người, tay cầm hoạ kích, ngồi trên ngựa Xích thố. Có thể nói là “nhân trung Lữ Bố, mã trung Xích thố”  人中吕布, 马中赤兔 (trong đám người, nổi bật có Lữ Bố, trong số ngựa, nổi bật có Xích thố).
              Mùa hạ tháng 4 niên hiệu Trung Bình 中平 thứ 6, Linh Đế 灵帝giá băng, thái tử Lưu Biện 刘辩 tức vị. Đương thời, Thập thường thị nắm giữ triều chính, vị cao quyền trọng. Cậu của Lưu Biện là Hà Tiến 何进muốn tru sát Thập thường thị, chiêu nạp dũng sĩ bốn phương tụ hội ở đô thành, Đổng Trác 董卓, Đinh Nguyên 丁原 cũng có trong số đó.
              Về sau, Thập thường thị bị giết, Hà Tiến cũng bị giết, Đổng Trác đoạt lấy binh mã của Hà Tiến, thực lực lớn mạnh, các công khanh đều rất sợ.
              Tại vườn Ôn Minh 温明, sau khi Đổng Trác nói muốn phế Lưu Biện, lập Trần Lưu Vương Lưu Hiệp 陈留王刘协, giả vờ trưng cầu ý kiến quần thần, quần thần sợ, không dám trả lời. Đinh Nguyên hét rằng:
              - Không được! Ông là người nào? Dám khẩu xuất cuồng ngôn, coi khinh Hán thất không có người sao? Thiên tử là đích trưởng tử của Linh Đế, ông dựa vào đâu mà đòi phế? Lẽ nào không sợ diệt cả chín họ à?
              Đổng Trác thấy Đinh Nguyên dám giở trò với mình, thái độ cứng rắn, cần phải cho Đinh Nguyên biết tay, không thể đàn hặc quần thần. Đổng Trác tay đè kiếm, hét rằng:
              - Ông dám ở đây ngang ngược, hôm nay ta phải cho đầu ông rơi xuống đất, xem ông có còn cuồng không!
              Đổng Trác tuốt kiếm, bách quan vô cùng sợ.
              Đinh Nguyên cười mỉm, nhìn không hề động đậy. Một lát sau, Đổng Trác lại hạ kiếm xuống, cho vào vỏ, nhảy lên chỗ ngồi phía trên. Hoá ra Đổng Trác phát hiện sau lưng Đinh Nguyên có Lữ Bố đang đứng. Lữ Bố thân cao 1 trượng, vai rộng lưng tròn, anh tuấn dị thường, một tay cầm kiếm, tay kia cầm phương thiên hoạ kích, hai mắt trừng trừng.
              Dưới sự cổ động của Đinh Nguyên, Lư Thực 卢植 cùng các đại thần đề xuất ý kiến phản đối. Đổng Trác vô cùng tức giận. Tan buổi tiệc, Đổng Trác chuẩn bị bức vấn quần thần, ai không theo chém đầu ngay lập tức. Đổng Trác chưa ra tay, Lữ Bố theo Đinh Nguyên từ trong vườn bước ra, quan sát động tĩnh của Đổng Trác, Đổng Trác sợ bèn lên đường về phủ. Bách quan được thoát thân. Sau khi về phủ, Đổng Trác buồn bực không vui, giận đến mức không nói ra lời.
              Sáng sớm hôm sau, Đổng Trác vừa mới ăn xong, quân sĩ báo cáo, nói rằng Đinh Nguyên dẫn quân khiêu chiến ngoài thành. Đổng Trác dẫn quân xuất thành, bày thế trận, muốn giết Đinh Nguyên. Đổng Trác từ xa nhìn, chỉ thấy Lữ Bố với bộ quân trang, nhảy lên ngựa, trong tay có phương thiên hoạ kích, giống tướng nhà trời xuống phàm trần.
              Lữ Bố một ngựa đi đầu, xông lên, Đinh Nguyên dẫn quân theo sau, Đổng Trác không đủ sức chống lại, bèn quay ngựa bỏ chạy, chạy được 30 dặm, nhìn thấy sau lưng không có truy binh, mới từ từ an tâm.
              Mấy ngày liền, Đổng Trác ngủ không ngon giấc, bọn Lí Nhu 李儒biết ông ta sợ Lữ Bố, không tiện nói ra, trong lòng rất lo.
              Ngày nọ, tướng lãnh Lí Túc 李肃 cầu kiến Đổng Trác, nói rằng:
              - Chúa công buồn bực không vui, có phải là vì Lữ Bố?
              Đổng Trác thất kinh, tức giận nói rằng:
              - Thế ông có cách gì không?
              Lí Túc nói rằng:
              - Tôi trước sau chỉ nghĩ đến một việc, tôi với Lữ Bố là đồng hương, Lúc nhỏ từng chơi với nhau nên biết rõ con người Lữ Bố, hữu dũng nhưng vô mưu, lại là người thấy lợi là quên nghĩa. Tôi muốn lấy thân phận là đồng hương, mang lễ vật đi gặp Lữ Bố, chuyển đạt ý của chúa công, khuyên Lữ Bố hàng chúa công. Chúa công thấy kế đó như thế nào?
              Đổng Trác cả mừng, nói với Lí Túc:
              - Chỉ cần Lữ Bố về với ta, lễ vật gì ta cũng không tiếc, ông cần thứ gì?
              Lí Túc nói:
              - Chúa công có con ngựa quý, tên là “Xích thố” 赤兔, ban ngày đi được ngàn dặm, ban đêm đi được tám trăm dặm. Lại thêm vàng ngọc, hứa cho chức quan cao, Lữ Bố nhất định sẽ đến hàng. Chúa công lo gì mà không xưng bá thiên hạ!
              Đổng Trác y lời, mệnh Lí Túc nhanh chóng đến quân trung của Lữ Bố khuyên hàng.
              Lí Túc và 2 nô bộc dẫn theo ngựa Xích thố và rất nhiều báu vật đến quân doanh của Lữ Bố, nói là đồng hương cầu kiến. Sau khi vào, Lí Túc miệng gọi  “hiền đệ”, tiến lên phía trước thi lễ. Lữ Bố sững sờ hỏi:
              - Ông là ai. sao lại gọi ta là hiền đệ?
              Lí Túc hỏi lại:
              - Lẽ nào ông quên, tôi là Lí Túc quê ở Ngũ Nguyên, lúc nhỏ tôi là ông cùng chơi đùa với nhau!
              Lữ Bố vội hành lễ, nói rằng:
              - Thất lễ! thất lễ! Không biết Lí huynh hiện là quan cao ở nơi nào?
              Lí Túc đáp rằng:
              - Tôi hiện là Hổ bôn Trung lang tướng tại triều. Nghe nói hiền đệ vốn có chí lớn, tôi rất vui mừng. Hôm nay có được con ngựa Xích thố, ngày đi được ngàn dặm. Hiền đệ là thânn vũ nó rất xứng để hiền đệ cưỡi, tôi đặc biệt tặng cho hiền đệ.
              Lữ Bố nhìn thấy, quả thực là ngựa quý, toàn thân màu đỏ, không có một sợi lông tạp nào, thân dài 1 trượng, cao đến 8 xích, có thần thái như muốn bay lên không. Lữ Bố sai người đưa ngựa vào chuồng chăm sóc. Lữ Bố và Lí Túc uống rượu chuyện trò. Lí Túc sai nô bộc dâng báu vật, Lữ Bố nhận toàn bộ.
              Rượu đến lúc ngà say, Lí Túc hỏi Lữ Bố:
              - Lâu năm không gặp, hiền đệ vẫn tốt chứ?
              Lữ Bố đỏ mặt, ấp a ấp úng nói rằng:
              - Đinh Nguyên đối đãi tôi ơn nặng như núi, chỉ có điều là khó mà vượt lên cao được.
              Lí Túc nói rằng:
              - Hiền đệ, ngựa quý và báu vật đều là của Thừa tướng Đổng Trác. Thừa tướng có ý xem là tri kỉ, giao cho nhiệm vụ quan trọng, cùng hiền đệ hưởng giang sơn. Với tài năng của hiền đệ, sẽ được cấp đất phong vương có gì mà phải buồn.
              Lữ Bố nói rằng:
              - Đinh Nguyên tuy không phải là phụ thân của tôi, nhưng có ơn nuôi dưỡng, không nỡ rời xa.
              Lí Túc bảo rằng:
              - Vô độc bất trượng phu, đại trượng phu phải làm nên đại sự nghiệp, sao lại phải suy nghĩ nhiều.
              Lữ Bố suy nghĩ một hồi lâu rồi nói:
              - Lí huynh trước tiên đợi một chút, đợi tôi giết Đinh Nguyên sẽ theo huynh đi đến chỗ Đổng Trác thỉnh tội.
              Lí Túc bảo:
              - Hiền đệ tuyệt đối không nên một phút mềm tay làm hỏng việc lớn.
              Lữ Bố đáp:
              - Lí huynh yên tâm, Lữ Bố không làm hỏng việc đâu.
              Lữ Bố xách đao đến phòng Đinh Nguyên.
              Đinh Nguyên đang xem sách, thấy Lữ Bố xách đao bước vào, cho rằng lại có chiến sự, liền hỏi:
              - Có phải là Đổng tặc đến khiêu chiến không?
              Lữ Bố đáp rằng:
              - Với tài của Lữ Bố, làm sao có thể nhận ông làm cha?
              Đinh Nguyên mắng:
              - Mầy là đứa nghịch tử!
              Lữ bố tay vung đao chém Đinh Nguyên, đến trong trướng hét lớn:
              - Đinh Nguyên bị ta chép thủ cấp, hiện các người mau theo ta đầu bôn Đổng thái sư.
              Quân sĩ vội thu xếp hành lí đi theo cùng Lữ Bố.... (còn tiếp)

                                                                    Huỳnh Chương Hưng
                                                                    Quy Nhơn 05/11/2019

    Nguyên tác
    LỮ BỐ
    吕布
    Trong quyển
    HỔ CHI UY
    虎之威
    Tác giả: Hàn Tố Văn 韩素文
    Bắc Kinh: Trung Quốc Trường An xuất bản xã, 2006.

    Thứ Hai, 4 tháng 11, 2019

    HỈ THẦN TRUYỀN THUYẾT
    TỔ TIÊN HOẠ TƯỢNG

              Đời Tống gọi “hoạ tượng” 画像 (ảnh chân dung) là Hỉ thần, Hỉ thần là lời tục thường dùng đời Tống.
              Từ đời Tống trở về sau, Hỉ thần đa phần chỉ hoạ tượng tổ tiên. Sùng bái tổ tiên là sự kết hợp giữa quan niệm hồn quỷ và quan niệm huyết duyên, cho nên tổ tiên cũng xưng là Thần tổ, bài vị tổ tông cũng xưng là Thần chủ, di tượng tổ tông cũng xưng là Hỉ thần. Trong tổ tông được sùng bái, đối với việc lập nghiệp của gia tộc, sinh sôi phát triển có cống hiến đột xuất thì thuỷ tổ là chí tôn, thần cách tối cao, được thờ phụng làm thần bảo hộ của gia tộc tính thị huyết thống. Con cháu kiền thành thắp hương lễ bái, nhớ tới ân trạch cần cù khai phá của tiên nhân, cầu mong sự bảo hộ tổ linh vĩnh hằng bất diệt. Cho nên tế tổ, bái tổ trở thành đại sự của mọi người.
              Du Minh 俞明 trong Ngũ muội cựu mộng 五妹旧梦 có thuật lại thuyết vào năm mới tế bái Hỉ thần:
              Nhập tứ dạ hậu, trạch tử lí đáo xứ phi hồng quải thái, môn sảnh lí quải khởi tứ trản đại hồng đăng lung, hoàn hình sảnh thượng quải trước kỉ trản tẩu mã đăng. Cung trác thượng thỉnh xuất Hỉ thần, Hỉ thần tựu thị tổ tông thần thượng, chính trung nhất bức đại hồng hỉ tự, thị Hàm Phong đế tứ cấp Bành Khải Phong đích ngự bút.
              廿四夜, 宅子里到处披红挂彩, 门厅里挂起四盏大红灯笼, 环形厅挂上著几盏走马灯. 供卓上请出喜神, 喜神就是祖宗神像, 正中一幅大红喜字, 是咸丰帝赐给彭启丰的御笔.
              (Sau đêm ngày 24, trong nhà khắp nơi treo lụa đỏ gấm màu, trong môn sảnh treo 4 chiếc đèn lồng đỏ lớn, trong sảnh hình tròn treo mấy chiếc đèn tẩu mã. Trên bàn cúng, thỉnh Hỉ thần ra, Hỉ thần chính là thần tượng tổ tông, chính giữa là bức chữ hỉ lớn màu đỏ, là ngự bút của hoàng đế Hàm Phong tặng cho Bành Khải Phong)
              Cuối đời Thanh, Ngô Nghiên Nhân 吴研人 trong quyển Nhị thập niên mục đổ chi quái hiện tượng 二十年目睹之怪现状, ở hồi thứ 79 “Luận tang lễ thống biếm lậu tục, chúc minh thọ nhạ xuất kì đàm” 论丧礼痛砭陋俗祝冥寿惹出奇谈 đã miêu tả:
    Đến ngày đầu chính nhật, thiết lập thọ đường, Bá Minh đích thân chỉ huy đốc suất trần thiết thoả đáng, bèn nói với Nhã Cầm 雅琴: “Lúc này đây có thể thỉnh Hỉ thần lão bá mẫu ra.” Nhã Cầm hỏi: “Hỉ thần nào?” Bá Minh đáp: “Chính là chân dung”. Nhã Cầm mới hỏi: “Là như thế nào?” Bá Minh đáp: “Một người mất đi, dựa theo khuôn mặt của họ mà vẽ một chân dung, đến năm mới thì treo lên để thờ, bái âm thọ này không thể thiếu được.”
              Dân gian thời Minh Thanh cũng gọi tổ tông là Hỉ thần, thời trước nhà nhà đa phần treo vào lúc Trừ tịch, dùng hương đăng quả phẩm trà để dâng cúng, đồng thời dẫn người trong nhà đến bái, gọi là “bái Hỉ thần”. Cố Lộc 顾禄, người Thanh trong quyển Thanh gia lục – Chinh nguyệt – Quải Hỉ thần 清嘉录 - 正月  - 挂喜神 chép tập tục Tô Châu, nói rằng:
              Mồng 1 tháng Giêng năm mới âm lịch, nhà nhà đều treo hoạ tượng tổ tiên, trước thần vị tổ tiên thắp hương cúng bái, người trong nhà theo thứ tự lớn nhỏ kiền thành tế bái, gọi là bái Hỉ thần.
              Xuân tiết tế tổ là sự lưu truyền việc sùng bái tổ tiên từ thời viễn cổ, cầu âm linh tổ tiên phù hộ, giáng phúc cho mình, tự nhiên xem tổ tiên là Hỉ thần. Thái Vân 蔡云 người Thanh trong Ngô Du bách tuyệt 吴歈百绝 cũng nói:
    Hữu kỉ nhân gia quải Hỉ thần
    Thông thông bái tiết sấn thanh thần
    Đông phì niên sấu sinh phân biệt (1)
    Thượng tập Cơ gia kiến Tí xuân
    有几人家挂喜神
    匆匆拜节趁清晨
    冬肥年瘦生分别
    尚袭姬家建子春
    (Có mấy nhà treo tượng Hỉ thần
    Vội vàng lễ bái nhân lúc sáng sớm
    Có sự phân biệt coi trọng Đông chí mà coi nhẹ tiết xuân
    Theo tập tục nhà Chu lấy tháng 11 kiến Tí làm đầu năm)
    Ghi chép rõ tập tục chủ yếu lúc Đông chí là bái tiết, kính thần, cũng cho thấy vị thần được kính đó là Tổ tiên Hỉ thần.
              Tập tục ở Thái Bình 太平 An Huy 安徽, tổ tông không chỉ được cả tộc tế tự trong từ đường của làng, mà còn được tế tự trong mỗi gia đình, ăn tết cùng con cháu. Ngày 24 tháng Chạp, là ngày tổ tông “hạ giá” 下驾, mỗi nhà trước đó mấy ngày phải dọn dẹp chính sảnh, lau chùi sạch sẽ, từ lầu gác cao nhất của cả nhà thỉnh Tổ tông Hỉ thần ra, từng bức từng bức treo lên. Phục trang của Tổ tông Hỉ thần, có từ mũ ô sa đai ngọc của triều Minh đến linh đới triều châu của triều Thanh, lại còn có “yến vĩ phục”, mũ đại lễ thời Dân Quốc. Nơi chính sảnh treo hoa đăng cung đình lụa đỏ, dưới trải thảm đỏ, bàn và ghế nhất loạt gắn màn đỏ, trên án thắp đuốc đỏ, có mâm son, nhìn thấy lung linh mãn nhãn, hỉ khí tràn trề.

    Chú của người dịch
    1- Tập tục vùng đất Ngô đa phần coi trọng Đông chí mà coi nhẹ tiết xuân, Đông chí đến nhà nhà đều sắm sửa lễ vật dâng cúng rất hậu, còn ngày tết thì ít hơn nên mới có câu “Đông phì niên sấu”.
              Người xưa lấy tháng có tiết Đông chí 冬至 (tháng 11 theo lịch nhà Hạ) làm tháng kiến Tí. Cơ gia 姬家chỉ triều Chu, lịch pháp triều Chu lấy tháng đó làm tháng đầu của năm, cho nên có thể gọi tuế thủ của Chu lịch là “kiến Tí xuân”.

                                                                   Huỳnh Chương Hưng
                                                               Quy Nhơn 04/11/2019

    Nguồn
    HỈ THẦN TRUYỀN THUYẾT – TỔ TIÊN HOẠ TƯỢNG
    喜神传说 - 祖先画像
    Trong quyển
    ĐỒ THUYẾT HỈ VĂN HOÁ
    图说喜文化
    Tác giả: Ân Vĩ 殷伟, Trình Kiến Cường 程建强
    Bắc Kinh: Thanh Hoa đại học xuất bản xã, 2013

    Dịch thuật: Hỉ thần truyền thuyết - Tổ tiên hoạ tượng

    Đăng lúc  17:05  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    HỈ THẦN TRUYỀN THUYẾT
    TỔ TIÊN HOẠ TƯỢNG

              Đời Tống gọi “hoạ tượng” 画像 (ảnh chân dung) là Hỉ thần, Hỉ thần là lời tục thường dùng đời Tống.
              Từ đời Tống trở về sau, Hỉ thần đa phần chỉ hoạ tượng tổ tiên. Sùng bái tổ tiên là sự kết hợp giữa quan niệm hồn quỷ và quan niệm huyết duyên, cho nên tổ tiên cũng xưng là Thần tổ, bài vị tổ tông cũng xưng là Thần chủ, di tượng tổ tông cũng xưng là Hỉ thần. Trong tổ tông được sùng bái, đối với việc lập nghiệp của gia tộc, sinh sôi phát triển có cống hiến đột xuất thì thuỷ tổ là chí tôn, thần cách tối cao, được thờ phụng làm thần bảo hộ của gia tộc tính thị huyết thống. Con cháu kiền thành thắp hương lễ bái, nhớ tới ân trạch cần cù khai phá của tiên nhân, cầu mong sự bảo hộ tổ linh vĩnh hằng bất diệt. Cho nên tế tổ, bái tổ trở thành đại sự của mọi người.
              Du Minh 俞明 trong Ngũ muội cựu mộng 五妹旧梦 có thuật lại thuyết vào năm mới tế bái Hỉ thần:
              Nhập tứ dạ hậu, trạch tử lí đáo xứ phi hồng quải thái, môn sảnh lí quải khởi tứ trản đại hồng đăng lung, hoàn hình sảnh thượng quải trước kỉ trản tẩu mã đăng. Cung trác thượng thỉnh xuất Hỉ thần, Hỉ thần tựu thị tổ tông thần thượng, chính trung nhất bức đại hồng hỉ tự, thị Hàm Phong đế tứ cấp Bành Khải Phong đích ngự bút.
              廿四夜, 宅子里到处披红挂彩, 门厅里挂起四盏大红灯笼, 环形厅挂上著几盏走马灯. 供卓上请出喜神, 喜神就是祖宗神像, 正中一幅大红喜字, 是咸丰帝赐给彭启丰的御笔.
              (Sau đêm ngày 24, trong nhà khắp nơi treo lụa đỏ gấm màu, trong môn sảnh treo 4 chiếc đèn lồng đỏ lớn, trong sảnh hình tròn treo mấy chiếc đèn tẩu mã. Trên bàn cúng, thỉnh Hỉ thần ra, Hỉ thần chính là thần tượng tổ tông, chính giữa là bức chữ hỉ lớn màu đỏ, là ngự bút của hoàng đế Hàm Phong tặng cho Bành Khải Phong)
              Cuối đời Thanh, Ngô Nghiên Nhân 吴研人 trong quyển Nhị thập niên mục đổ chi quái hiện tượng 二十年目睹之怪现状, ở hồi thứ 79 “Luận tang lễ thống biếm lậu tục, chúc minh thọ nhạ xuất kì đàm” 论丧礼痛砭陋俗祝冥寿惹出奇谈 đã miêu tả:
    Đến ngày đầu chính nhật, thiết lập thọ đường, Bá Minh đích thân chỉ huy đốc suất trần thiết thoả đáng, bèn nói với Nhã Cầm 雅琴: “Lúc này đây có thể thỉnh Hỉ thần lão bá mẫu ra.” Nhã Cầm hỏi: “Hỉ thần nào?” Bá Minh đáp: “Chính là chân dung”. Nhã Cầm mới hỏi: “Là như thế nào?” Bá Minh đáp: “Một người mất đi, dựa theo khuôn mặt của họ mà vẽ một chân dung, đến năm mới thì treo lên để thờ, bái âm thọ này không thể thiếu được.”
              Dân gian thời Minh Thanh cũng gọi tổ tông là Hỉ thần, thời trước nhà nhà đa phần treo vào lúc Trừ tịch, dùng hương đăng quả phẩm trà để dâng cúng, đồng thời dẫn người trong nhà đến bái, gọi là “bái Hỉ thần”. Cố Lộc 顾禄, người Thanh trong quyển Thanh gia lục – Chinh nguyệt – Quải Hỉ thần 清嘉录 - 正月  - 挂喜神 chép tập tục Tô Châu, nói rằng:
              Mồng 1 tháng Giêng năm mới âm lịch, nhà nhà đều treo hoạ tượng tổ tiên, trước thần vị tổ tiên thắp hương cúng bái, người trong nhà theo thứ tự lớn nhỏ kiền thành tế bái, gọi là bái Hỉ thần.
              Xuân tiết tế tổ là sự lưu truyền việc sùng bái tổ tiên từ thời viễn cổ, cầu âm linh tổ tiên phù hộ, giáng phúc cho mình, tự nhiên xem tổ tiên là Hỉ thần. Thái Vân 蔡云 người Thanh trong Ngô Du bách tuyệt 吴歈百绝 cũng nói:
    Hữu kỉ nhân gia quải Hỉ thần
    Thông thông bái tiết sấn thanh thần
    Đông phì niên sấu sinh phân biệt (1)
    Thượng tập Cơ gia kiến Tí xuân
    有几人家挂喜神
    匆匆拜节趁清晨
    冬肥年瘦生分别
    尚袭姬家建子春
    (Có mấy nhà treo tượng Hỉ thần
    Vội vàng lễ bái nhân lúc sáng sớm
    Có sự phân biệt coi trọng Đông chí mà coi nhẹ tiết xuân
    Theo tập tục nhà Chu lấy tháng 11 kiến Tí làm đầu năm)
    Ghi chép rõ tập tục chủ yếu lúc Đông chí là bái tiết, kính thần, cũng cho thấy vị thần được kính đó là Tổ tiên Hỉ thần.
              Tập tục ở Thái Bình 太平 An Huy 安徽, tổ tông không chỉ được cả tộc tế tự trong từ đường của làng, mà còn được tế tự trong mỗi gia đình, ăn tết cùng con cháu. Ngày 24 tháng Chạp, là ngày tổ tông “hạ giá” 下驾, mỗi nhà trước đó mấy ngày phải dọn dẹp chính sảnh, lau chùi sạch sẽ, từ lầu gác cao nhất của cả nhà thỉnh Tổ tông Hỉ thần ra, từng bức từng bức treo lên. Phục trang của Tổ tông Hỉ thần, có từ mũ ô sa đai ngọc của triều Minh đến linh đới triều châu của triều Thanh, lại còn có “yến vĩ phục”, mũ đại lễ thời Dân Quốc. Nơi chính sảnh treo hoa đăng cung đình lụa đỏ, dưới trải thảm đỏ, bàn và ghế nhất loạt gắn màn đỏ, trên án thắp đuốc đỏ, có mâm son, nhìn thấy lung linh mãn nhãn, hỉ khí tràn trề.

    Chú của người dịch
    1- Tập tục vùng đất Ngô đa phần coi trọng Đông chí mà coi nhẹ tiết xuân, Đông chí đến nhà nhà đều sắm sửa lễ vật dâng cúng rất hậu, còn ngày tết thì ít hơn nên mới có câu “Đông phì niên sấu”.
              Người xưa lấy tháng có tiết Đông chí 冬至 (tháng 11 theo lịch nhà Hạ) làm tháng kiến Tí. Cơ gia 姬家chỉ triều Chu, lịch pháp triều Chu lấy tháng đó làm tháng đầu của năm, cho nên có thể gọi tuế thủ của Chu lịch là “kiến Tí xuân”.

                                                                   Huỳnh Chương Hưng
                                                               Quy Nhơn 04/11/2019

    Nguồn
    HỈ THẦN TRUYỀN THUYẾT – TỔ TIÊN HOẠ TƯỢNG
    喜神传说 - 祖先画像
    Trong quyển
    ĐỒ THUYẾT HỈ VĂN HOÁ
    图说喜文化
    Tác giả: Ân Vĩ 殷伟, Trình Kiến Cường 程建强
    Bắc Kinh: Thanh Hoa đại học xuất bản xã, 2013

    Mã nguồn bởi Huỳnh Chương Hưng
    Copyright © 2012 Huỳnh Chương Hưng.
    back to top