• Thứ Năm, 21 tháng 3, 2019

    NƯỚC CỔ DẠ LANG Ở NƠI ĐÂU

              Nước cổ Dạ Lang 夜郎nhân vì có thành ngữ “Dạ Lang tự đại” 夜郎自大 (1) mà mọi người đều rõ, cả ngàn năm nay không ai không biết.
              Từ năm 28 đến năm 25 trước công nguyên, vị quốc vương cuối cùng tên Hưng của Dạ Lang cử binh cùng với chư hầu chung quanh phát sinh chiến tranh, quan viên triều Hán phái sử giả đến khuyên giải. Nhưng Dạ Lang vương Hưng không chịu phục, còn giết chết sứ giả, thế là triều Hán phát binh diệt Dạ Lang. Nước Dạ Lang cổ rút lui khỏi vũ đại lịch sử. Do bởi đại danh đỉnh đỉnh, hiện nay nhiều nơi tranh nhau tự nhận đất cũ của nước cổ Dạ Lang thuộc về mình, khiến cho vấn đề càng thêm mù mờ.
              Đầu tiên là “Quý Châu thuyết” 贵州说, thuyết này cho rằng không nghi ngờ gì, nước Dạ Lang hiện nay là ở trong địa phận Quý Châu 贵州. Trong Hậu Hán thư 后汉书 có chép sự ra đời của nước Dạ Lang:
              Dạ Lang giả, sơ hữu nữ tử hoán vu Nguyệt Trục thuỷ, hữu tam tiết đại trúc lưu nhập túc gian, văn kì trung hữu hào thanh, phẫu trúc thị chi, đắc nhất nam nhi, quy nhi dưỡng chi.
              夜郎者, 初有女子浣于月逐水, 有三节大竹流入竹间, 闻其中有号声, 剖竹视之, 得一男儿, 归而养之.
              (Dạ Lang, xưa có cô gái giặt đồ ở sông Nguyệt Trục, một thanh trúc lớn 3 đốt theo giòng nước trôi đến bên chân, nghe bên trong có tiếng kêu, bổ thanh trúc ra nhìn, thấy có một bé trai, liền đưa về nhà nuôi.)
              Dân tộc nước cổ Dạ Lang lấy trúc làm totem, Quý Châu nhiều trúc, các dân tộc thiểu số trong khu vực như Ngật Lão tộc 仡佬族, Di tộc 彝族, Bố Y tộc 布依族 đều có tập tục thờ trúc làm thần linh, không ít nơi còn xây “Trúc Vương từ” 竹王祠. Tỉnh hội của Quý Châu 贵州 là Quý Dương 贵阳 gọi tắt là “Trúc” , cũng là từ “trúc” diễn biến mà ra. Nhìn từ sự khai quật khảo cổ, Quý Châu cũng có nhiều chứng cứ. Sau khi nước Trung Quốc mới thành lập, trong địa phận Quý Châu, văn vật của nước Dạ Lang không ngừng được phát hiện. Những người làm công tác khảo cổ tại Hách Chương Khả Lạc 赫章可乐đã 9 lần khai quật được văn vật ở hơn 200 ngôi mộ táng của dân tộc Dạ Lang, đủ để chống đỡ cho luận đoán nơi đó từng là một trong những khu vực trung tâm mà người Dạ Lang cư trú.
              Thứ đến là “Hồ Nam thuyết” 湖南说, thuyết này cho rằng, văn hoá Dạ Lang mà được ghi chép trong sách sử đều mang hơi thở nước Sở nồng đậm, quốc đô của nó phải là tại đất Sở, đồng thời thuyết này đề xuất, phía tây Hoài Hoá 怀化 thuộc đất phát nguyên của nước cổ Dạ Lang, còn huyện Tân Hoảng 新晃 chính là khu vực trung tâm của nước cổ Dạ Lang.
              Những người theo thuyết này cho rằng, quan điểm của họ không hề phủ nhận nước Dạ Lang cũng bao hàm có một bộ phận địa phương của Quý Châu, chẳng qua trung tâm  của nước cổ Dạ Lang  và khởi nguyên  của nó là tại Tương tây 湘西(2) Hồ Nam 湖南, dân phong hiện nay ở nơi đó đồng dạng như cái bóng của nước cổ Dạ Lang.
    Còn có người cho rằng trung tâm của nước cổ Dạ Lang tại Tứ Xuyên 四川, tại Vân Nam 云南. Rốt cuộc nước cổ Dạ Lang ở nơi đâu vẫn còn là một bí ẩn chưa có lời giải.

    Chú của người dịch
    1- Dạ Lang tự đại 夜郎自大: thành ngữ này dùng để ví tính tự cao tự đại.
              Xuất xứ từ Sử kí – Tây nam di liệt truyện 史记 - 西南夷列传:
              Điền Vương dữ Hán sứ ngôn: ‘Hán thục dữ ngã đại?’ Cập Dạ Lang Hầu diệc nhiên. Các tự dĩ nhất châu vương, bất tri Hán quảng đại.
              滇王与汉使言汉孰与我大及夜郎侯亦然各自以一州王不知汉广大
              (Điền Vương hỏi sứ giả triều Hán rằng: ‘Hán và ta, nước nào lớn?’ Sau sứ giả triều Hán đến nước Dạ Lang, Dạ Lang Hầu cũng hỏi như thế. Mỗi người làm vương một châu, không biết rằng nước Hán lớn.)
              (“Thành ngữ đại từ điển” 成语大词典: Bắc Kinh – Thương vụ ấn thư quán, 2004)
    2- Tương tây 湘西: cũng gọi là Tương tây địa khu湘西地区, Đại Tương tây 大湘西là gọi chung khu vực phía tây của Hồ Nam 湖南 bao gồm cả thành phố Trương Gia Giới 张家界, châu tự trị Tương Tây, thành phố Hoài Hoá 怀化, cùng các huyện phía tây thành phố Thiệu Dương 邵阳.

                                                           Huỳnh Chương Hưng
                                                           Quy Nhơn 21/3/2019

    Nguyên tác Trung văn
    DẠ LANG CỔ QUỐC TẠI NÁ LÍ
    夜郎古国在哪里
    Trong quyển
    TRUNG QUỐC VỊ GIẢI CHI MÊ
    中国未解之谜
    Tác giả: Hải Tử 海子
    Trung Quốc Hoa Kiều xuất bản xã, 2013 

    Dịch thuật: Nước cổ Dạ Lang ở nơi đâu

    Đăng lúc  22:17  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    NƯỚC CỔ DẠ LANG Ở NƠI ĐÂU

              Nước cổ Dạ Lang 夜郎nhân vì có thành ngữ “Dạ Lang tự đại” 夜郎自大 (1) mà mọi người đều rõ, cả ngàn năm nay không ai không biết.
              Từ năm 28 đến năm 25 trước công nguyên, vị quốc vương cuối cùng tên Hưng của Dạ Lang cử binh cùng với chư hầu chung quanh phát sinh chiến tranh, quan viên triều Hán phái sử giả đến khuyên giải. Nhưng Dạ Lang vương Hưng không chịu phục, còn giết chết sứ giả, thế là triều Hán phát binh diệt Dạ Lang. Nước Dạ Lang cổ rút lui khỏi vũ đại lịch sử. Do bởi đại danh đỉnh đỉnh, hiện nay nhiều nơi tranh nhau tự nhận đất cũ của nước cổ Dạ Lang thuộc về mình, khiến cho vấn đề càng thêm mù mờ.
              Đầu tiên là “Quý Châu thuyết” 贵州说, thuyết này cho rằng không nghi ngờ gì, nước Dạ Lang hiện nay là ở trong địa phận Quý Châu 贵州. Trong Hậu Hán thư 后汉书 có chép sự ra đời của nước Dạ Lang:
              Dạ Lang giả, sơ hữu nữ tử hoán vu Nguyệt Trục thuỷ, hữu tam tiết đại trúc lưu nhập túc gian, văn kì trung hữu hào thanh, phẫu trúc thị chi, đắc nhất nam nhi, quy nhi dưỡng chi.
              夜郎者, 初有女子浣于月逐水, 有三节大竹流入竹间, 闻其中有号声, 剖竹视之, 得一男儿, 归而养之.
              (Dạ Lang, xưa có cô gái giặt đồ ở sông Nguyệt Trục, một thanh trúc lớn 3 đốt theo giòng nước trôi đến bên chân, nghe bên trong có tiếng kêu, bổ thanh trúc ra nhìn, thấy có một bé trai, liền đưa về nhà nuôi.)
              Dân tộc nước cổ Dạ Lang lấy trúc làm totem, Quý Châu nhiều trúc, các dân tộc thiểu số trong khu vực như Ngật Lão tộc 仡佬族, Di tộc 彝族, Bố Y tộc 布依族 đều có tập tục thờ trúc làm thần linh, không ít nơi còn xây “Trúc Vương từ” 竹王祠. Tỉnh hội của Quý Châu 贵州 là Quý Dương 贵阳 gọi tắt là “Trúc” , cũng là từ “trúc” diễn biến mà ra. Nhìn từ sự khai quật khảo cổ, Quý Châu cũng có nhiều chứng cứ. Sau khi nước Trung Quốc mới thành lập, trong địa phận Quý Châu, văn vật của nước Dạ Lang không ngừng được phát hiện. Những người làm công tác khảo cổ tại Hách Chương Khả Lạc 赫章可乐đã 9 lần khai quật được văn vật ở hơn 200 ngôi mộ táng của dân tộc Dạ Lang, đủ để chống đỡ cho luận đoán nơi đó từng là một trong những khu vực trung tâm mà người Dạ Lang cư trú.
              Thứ đến là “Hồ Nam thuyết” 湖南说, thuyết này cho rằng, văn hoá Dạ Lang mà được ghi chép trong sách sử đều mang hơi thở nước Sở nồng đậm, quốc đô của nó phải là tại đất Sở, đồng thời thuyết này đề xuất, phía tây Hoài Hoá 怀化 thuộc đất phát nguyên của nước cổ Dạ Lang, còn huyện Tân Hoảng 新晃 chính là khu vực trung tâm của nước cổ Dạ Lang.
              Những người theo thuyết này cho rằng, quan điểm của họ không hề phủ nhận nước Dạ Lang cũng bao hàm có một bộ phận địa phương của Quý Châu, chẳng qua trung tâm  của nước cổ Dạ Lang  và khởi nguyên  của nó là tại Tương tây 湘西(2) Hồ Nam 湖南, dân phong hiện nay ở nơi đó đồng dạng như cái bóng của nước cổ Dạ Lang.
    Còn có người cho rằng trung tâm của nước cổ Dạ Lang tại Tứ Xuyên 四川, tại Vân Nam 云南. Rốt cuộc nước cổ Dạ Lang ở nơi đâu vẫn còn là một bí ẩn chưa có lời giải.

    Chú của người dịch
    1- Dạ Lang tự đại 夜郎自大: thành ngữ này dùng để ví tính tự cao tự đại.
              Xuất xứ từ Sử kí – Tây nam di liệt truyện 史记 - 西南夷列传:
              Điền Vương dữ Hán sứ ngôn: ‘Hán thục dữ ngã đại?’ Cập Dạ Lang Hầu diệc nhiên. Các tự dĩ nhất châu vương, bất tri Hán quảng đại.
              滇王与汉使言汉孰与我大及夜郎侯亦然各自以一州王不知汉广大
              (Điền Vương hỏi sứ giả triều Hán rằng: ‘Hán và ta, nước nào lớn?’ Sau sứ giả triều Hán đến nước Dạ Lang, Dạ Lang Hầu cũng hỏi như thế. Mỗi người làm vương một châu, không biết rằng nước Hán lớn.)
              (“Thành ngữ đại từ điển” 成语大词典: Bắc Kinh – Thương vụ ấn thư quán, 2004)
    2- Tương tây 湘西: cũng gọi là Tương tây địa khu湘西地区, Đại Tương tây 大湘西là gọi chung khu vực phía tây của Hồ Nam 湖南 bao gồm cả thành phố Trương Gia Giới 张家界, châu tự trị Tương Tây, thành phố Hoài Hoá 怀化, cùng các huyện phía tây thành phố Thiệu Dương 邵阳.

                                                           Huỳnh Chương Hưng
                                                           Quy Nhơn 21/3/2019

    Nguyên tác Trung văn
    DẠ LANG CỔ QUỐC TẠI NÁ LÍ
    夜郎古国在哪里
    Trong quyển
    TRUNG QUỐC VỊ GIẢI CHI MÊ
    中国未解之谜
    Tác giả: Hải Tử 海子
    Trung Quốc Hoa Kiều xuất bản xã, 2013 

    Thứ Tư, 20 tháng 3, 2019

    SỰ THAY THẾ GIỮA CHÂU VÀ QUẬN
    BÀN VỀ CHỮ “QUẬN

              Chữ (quận) gồm chữ (quân) và chữ (ấp). Thuyết văn giải tự 说文解字 cho rằng (quân) là thanh phù. Một thuyết khác cho rằng:
    Quân tại tả biên, ấp tại hữu biên, quân vi nguyên thủ, ấp dĩ tái dân.
    君在左边, 邑在右边, 君为元首, 邑以载民
    (Quân ở bên trái, ấp ở bên phải, quân là vị nguyên thủ, ấp là để chứa dân)
              Theo cách nói này thì (quận) là chữ hội ý, xem Nghệ văn loại tụ 艺文类聚 (1).
              “Quận” là tên gọi khu vực hành chính. Tần Thuỷ Hoàng 秦始皇 thống nhất Trung Quốc, tiếp thụ kiến nghị của Lí Tư 李斯 , chia toàn quốc ra làm 36 quận, từ quận lại chia ra một số huyện, từ đó kiến lập nên chế độ quận huyện để thống trị. Nhưng trước triều Tần, vào cuối thời Xuân Thu, đương thời các nước đã thiết lập quận tại nơi biên địa, chẳng qua huyện lúc bấy giờ lớn hơn quận, quận nhỏ hơn huyện. Trong Thuyết văn 说文nói rằng:
              Chu lễ, thiên tử địa phương thiên lí, phân vi bách huyện, huyện hữu tứ quận.
              周礼, 天子地方千里, 分为百县, 县有四郡.
              (Theo lễ nhà Chu, vùng đất của thiên tử vuông ngàn dặm, chia làm trăm huyện, huyện lại có 4 quận.)
              Trong Xuân Thu truyện 春秋传 có ghi:
              Thượng đại phu thụ huyện, Hạ đại phu thụ quận. (2)
              上大夫受县, 下大夫受郡.
              (Thượng đại phu nhận huyện, Hạ đại phu nhận quận)
              Đầu triều Tần là 36 quận, đến cuối triều Tần tăng lên 40 quận, quản hạt hơn 1000 huyện trong toàn quốc. Quận thiết lập Quận thú 郡守, Quận uý 郡尉. Thời kì đầu, người đứng đầu quận vốn là võ chức, liên quan đến việc phòng thủ biên quan, cho nên 郡守 xưng là (thú). Xưng vị “Quận thú” này đến đời Hán Cảnh Đế 汉景帝 mới đổi là “Thái thú” 太守. Triều Hán theo chế độ triều Tần, gần 400 năm đều theo chế độ quận huyện của triều Tần. Chỉ là thời Hán Vũ Đế 汉武帝, trên quận lại kiến lập 13 Thứ sử bộ 刺史部. Do bởi Thứ sử bộ dùng theo tên gọi thời cổ là (châu), cho nên lãnh địa của Thứ sử bộ cũng xưng là (châu). Chẳng qua châu lúc bấy giờ vẫn chưa là một tổ chức hành chính địa phương, mà chỉ là một cơ cấu giám sát (3).
              Thời Nguỵ, Tấn, Nam Bắc triều là thời kì châu, quận, huyện. “Châu” thời Tam Quốc đã trở thành tổ chức hành chính trên “quận”, không còn là cơ cấu giám sát nữa. Sau thời Nguỵ Tấn, số lượng châu gia tăng, phạm vi mà châu và quận sở lãnh không khác nhau là bao, một châu chỉ có thể lãnh 1,2 quận. Cơ cấu giữa châu và quận trùng điệp, châu dần mất đi tác dụng. Chế độ 3 cấp châu, quận, huyện xu thế tất hướng đến quá độ 2 cấp. Đến thời Tuỳ Văn Đế 隋文帝 đổi quận làm châu, thành 2 cấp; Tuỳ Dượng Đế 隋炀帝 lại đổi châu làm quận.
              Thời Đường dùng tên “châu”. Như Cố Viêm Vũ 顾炎武 trong Nhật tri lục 日知录  ở mục chữ “phủ” có nói:
              Hán viết quận, Đường viết châu, châu tức quận dã.
              汉曰郡, 唐曰州, 州即郡也.
              (Thời Hán gọi là quận, thời Đường gọi là châu, châu tức là quận)
              Tuy thời Đường vào niên hiệu Thiên Bảo 天宝 nguyên niên đồi châu làm quận, nhưng đến niên hiệu Càn Nguyên 乾元 nguyên niên đời Túc Tông 肃宗lại đổi quận làm châu. Thời gian trước sau chỉ có 16 năm. Để tiện cho việc quản lí, thời Đường trên châu lại thiết lập “đạo” , có điểm tương tự với Thứ sử bộ của triều Hán, cũng là một cơ cấu giám sát. Chỉ là về sau “đạo” lại diễn hoá thành chế độ Tiết độ sứ 节度使nắm giữ quân quyền.
              Thời Tống cũng dùng tên “châu”, nhưng tên “quận” vẫn chưa biến mất, quận được dùng làm biệt xưng của châu, đến thời Minh phế bỏ quận.
              Khi đọc sách cổ, chúng ta thường thấy xuất hiện khái niệm châu, quận, nếu lưu ý, có thể giúp chúng ta nắm vững tình hình biến động về sự phân chia khu vực hành chính qua các đời, làm phong phú tri thức của chúng ta về lịch sử, địa lí. Ví dụ đọc Xích Bích chi chiến 赤壁之战 của Tư Mã Quang 司马光, Đông Ngô khi thảo luận nghinh Tháo hay kháng Tháo, Lỗ Túc 鲁肃nói rằng:
              Kim Túc khả nghinh Tháo nhĩ, Tháo đương dĩ Túc hoàn phó hương đảng. Phẩm kì danh vị, ..... luỹ quan bất thất châu quận dã.
              今肃可迎操耳, 操当以肃还付乡党.品其名位, ..... 累官不失州郡也.
              (Nay Túc tôi có thể nghinh thuận Tào Tháo, Tào Tháo muốn đưa tôi về quê nhà.  Phẩm bình danh vị của tôi ..... về sau dần thăng quan, vẫn không thấp hơn loại chức vị châu quận.)
         Từ “bất thất châu quận” có thể suy đoán thời Tam Quốc đã có chế độ 3 cấp châu, quận, huyện. Và như khi đọc trong Trần Tình biểu 陈情表của Lí Mật 李密, trong đó có câu:
              Phi độc Thục chi nhân sĩ cập nhị châu Mục Bá sở kiến minh tri, hoàng thiên hậu thổ, thực sở cộng giám.
              非独蜀之人士及二州牧伯所见明知, 皇天后土, 实所共鉴.
              ( (Nỗi khổ sở của tôi) không chỉ nhân sĩ đất Thục cùng trưởng quan hai châu tận mắt trông thấy, trong lòng hiểu rõ, mà ngay cả trời đất thần minh cũng nhìn thấy rất rõ ràng)
              Trần tình biểu là biểu văn Lí Mật dâng lên Tấn Vũ Đế 晋武帝, ông xin được phụng dưỡng tổ mẫu, không muốn đi làm quan, cho rằng Mục Bá hai châu hiểu ông. Triều Tấn là chế độ quận huyện 3 cấp, trưởng châu xưng là Mục , cũng xưng là Phương Bá 方伯. Đương thời ví việc trị dân giống như chăn dắt, Phương Bá vốn là trưởng chư hầu một phương, nói rõ vị trưởng quan địa phương tối cao đã hiểu ông. Còn như đọc Đằng Vương các tự 滕王阁序 của Vương Bột 王勃 thời Sơ Đường, mở đầu là: “Nam Xương cố quận, Hồng Đô tân phủ” 南昌故郡, 洪都新府. Nam Xương vốn thuộc quận Dự Chương 豫章 thời Hán, sau thời Tuỳ đổi Dự Chương thành Hồng Châu 洪州. Nhưng ở đây sao lại xưng là “tân phủ”? Hoá ra thời Đường đã đem một số châu có địa vị đặc thù đổi gọi là phủ.
              “Quận” còn thường đi chung với “quốc” . Từ “quận quốc” 郡国thấy nhiều trong sách cổ. Như trong bài Tàm Cốc 蚕谷行  hành của Đổ Phủ 杜甫:
    Thiên hạ “quận quốc” hướng vạn thành,
    Vô hữu nhất thành vô giáp binh
    天下郡国向万城
    无有一城无甲兵
    (Muôn vạn thành trì của quận quốc trong thiên hạ
     Không có thành nào là không có giáp binh)
              Quận và quốc đi chung với nhau, nguyên nhân là đầu đời Hán đại phong chư hầu vương, chư hầu có thể lập quốc, lãnh mấy quận. Sau thời Cảnh Đế 景帝, về cơ bản là nhất quốc nhất quận. Vốn quận không đồng với quốc, nhưng quốc của chư hầu vương lại đồng với quận, quận và quốc trở thành khái niệm giao thoa. Cho nên từ “quận quốc” được dùng rộng rãi. Ngay cả trong Hậu Hán thư – Địa lí chí 后汉书 - 地理志 cũng xưng “Quận quốc chí” 郡国志.

    Chú của nguyên tác
    1- Nghệ văn loại tụ 艺文类聚quyển lục quận quốc trang 117, Thượng Hải cổ tịch xuất bản xã.
              (Trong nguyên tác ở phần trên in nhầm là “Nghệ văn tụ loại” – ND)
    2- Như trên.
    3- Trung Quốc cổ đại văn hoá sử giảng toạ 中国古大文化史讲座, Đàm Kì Tương 谭其骧 “Lịch đại hành chính khu hoạch lược thuyết” 历代行政区划略
    , Trung ương quảng bá điện thị đại học.

                                                              Huỳnh Chương Hưng
                                                              Quy Nhơn 20/3/2019

    Nguyên tác Trung văn
    QUẬN DỮ CHÂU ĐÍCH CANH THẾ
    ĐÀM “QUẬN
    郡与州的更替
      “
    Trong quyển
    HÁN TỰ THẬP THÚ
    汉字拾趣
    Tác giả: KỶ ĐỨC DỤ (纪德裕)
    Phúc Đán Đại học xuất bản xã, 1998

    Dịch thuật: Sự thay thế giữa châu và quận

    Đăng lúc  21:31  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    SỰ THAY THẾ GIỮA CHÂU VÀ QUẬN
    BÀN VỀ CHỮ “QUẬN

              Chữ (quận) gồm chữ (quân) và chữ (ấp). Thuyết văn giải tự 说文解字 cho rằng (quân) là thanh phù. Một thuyết khác cho rằng:
    Quân tại tả biên, ấp tại hữu biên, quân vi nguyên thủ, ấp dĩ tái dân.
    君在左边, 邑在右边, 君为元首, 邑以载民
    (Quân ở bên trái, ấp ở bên phải, quân là vị nguyên thủ, ấp là để chứa dân)
              Theo cách nói này thì (quận) là chữ hội ý, xem Nghệ văn loại tụ 艺文类聚 (1).
              “Quận” là tên gọi khu vực hành chính. Tần Thuỷ Hoàng 秦始皇 thống nhất Trung Quốc, tiếp thụ kiến nghị của Lí Tư 李斯 , chia toàn quốc ra làm 36 quận, từ quận lại chia ra một số huyện, từ đó kiến lập nên chế độ quận huyện để thống trị. Nhưng trước triều Tần, vào cuối thời Xuân Thu, đương thời các nước đã thiết lập quận tại nơi biên địa, chẳng qua huyện lúc bấy giờ lớn hơn quận, quận nhỏ hơn huyện. Trong Thuyết văn 说文nói rằng:
              Chu lễ, thiên tử địa phương thiên lí, phân vi bách huyện, huyện hữu tứ quận.
              周礼, 天子地方千里, 分为百县, 县有四郡.
              (Theo lễ nhà Chu, vùng đất của thiên tử vuông ngàn dặm, chia làm trăm huyện, huyện lại có 4 quận.)
              Trong Xuân Thu truyện 春秋传 có ghi:
              Thượng đại phu thụ huyện, Hạ đại phu thụ quận. (2)
              上大夫受县, 下大夫受郡.
              (Thượng đại phu nhận huyện, Hạ đại phu nhận quận)
              Đầu triều Tần là 36 quận, đến cuối triều Tần tăng lên 40 quận, quản hạt hơn 1000 huyện trong toàn quốc. Quận thiết lập Quận thú 郡守, Quận uý 郡尉. Thời kì đầu, người đứng đầu quận vốn là võ chức, liên quan đến việc phòng thủ biên quan, cho nên 郡守 xưng là (thú). Xưng vị “Quận thú” này đến đời Hán Cảnh Đế 汉景帝 mới đổi là “Thái thú” 太守. Triều Hán theo chế độ triều Tần, gần 400 năm đều theo chế độ quận huyện của triều Tần. Chỉ là thời Hán Vũ Đế 汉武帝, trên quận lại kiến lập 13 Thứ sử bộ 刺史部. Do bởi Thứ sử bộ dùng theo tên gọi thời cổ là (châu), cho nên lãnh địa của Thứ sử bộ cũng xưng là (châu). Chẳng qua châu lúc bấy giờ vẫn chưa là một tổ chức hành chính địa phương, mà chỉ là một cơ cấu giám sát (3).
              Thời Nguỵ, Tấn, Nam Bắc triều là thời kì châu, quận, huyện. “Châu” thời Tam Quốc đã trở thành tổ chức hành chính trên “quận”, không còn là cơ cấu giám sát nữa. Sau thời Nguỵ Tấn, số lượng châu gia tăng, phạm vi mà châu và quận sở lãnh không khác nhau là bao, một châu chỉ có thể lãnh 1,2 quận. Cơ cấu giữa châu và quận trùng điệp, châu dần mất đi tác dụng. Chế độ 3 cấp châu, quận, huyện xu thế tất hướng đến quá độ 2 cấp. Đến thời Tuỳ Văn Đế 隋文帝 đổi quận làm châu, thành 2 cấp; Tuỳ Dượng Đế 隋炀帝 lại đổi châu làm quận.
              Thời Đường dùng tên “châu”. Như Cố Viêm Vũ 顾炎武 trong Nhật tri lục 日知录  ở mục chữ “phủ” có nói:
              Hán viết quận, Đường viết châu, châu tức quận dã.
              汉曰郡, 唐曰州, 州即郡也.
              (Thời Hán gọi là quận, thời Đường gọi là châu, châu tức là quận)
              Tuy thời Đường vào niên hiệu Thiên Bảo 天宝 nguyên niên đồi châu làm quận, nhưng đến niên hiệu Càn Nguyên 乾元 nguyên niên đời Túc Tông 肃宗lại đổi quận làm châu. Thời gian trước sau chỉ có 16 năm. Để tiện cho việc quản lí, thời Đường trên châu lại thiết lập “đạo” , có điểm tương tự với Thứ sử bộ của triều Hán, cũng là một cơ cấu giám sát. Chỉ là về sau “đạo” lại diễn hoá thành chế độ Tiết độ sứ 节度使nắm giữ quân quyền.
              Thời Tống cũng dùng tên “châu”, nhưng tên “quận” vẫn chưa biến mất, quận được dùng làm biệt xưng của châu, đến thời Minh phế bỏ quận.
              Khi đọc sách cổ, chúng ta thường thấy xuất hiện khái niệm châu, quận, nếu lưu ý, có thể giúp chúng ta nắm vững tình hình biến động về sự phân chia khu vực hành chính qua các đời, làm phong phú tri thức của chúng ta về lịch sử, địa lí. Ví dụ đọc Xích Bích chi chiến 赤壁之战 của Tư Mã Quang 司马光, Đông Ngô khi thảo luận nghinh Tháo hay kháng Tháo, Lỗ Túc 鲁肃nói rằng:
              Kim Túc khả nghinh Tháo nhĩ, Tháo đương dĩ Túc hoàn phó hương đảng. Phẩm kì danh vị, ..... luỹ quan bất thất châu quận dã.
              今肃可迎操耳, 操当以肃还付乡党.品其名位, ..... 累官不失州郡也.
              (Nay Túc tôi có thể nghinh thuận Tào Tháo, Tào Tháo muốn đưa tôi về quê nhà.  Phẩm bình danh vị của tôi ..... về sau dần thăng quan, vẫn không thấp hơn loại chức vị châu quận.)
         Từ “bất thất châu quận” có thể suy đoán thời Tam Quốc đã có chế độ 3 cấp châu, quận, huyện. Và như khi đọc trong Trần Tình biểu 陈情表của Lí Mật 李密, trong đó có câu:
              Phi độc Thục chi nhân sĩ cập nhị châu Mục Bá sở kiến minh tri, hoàng thiên hậu thổ, thực sở cộng giám.
              非独蜀之人士及二州牧伯所见明知, 皇天后土, 实所共鉴.
              ( (Nỗi khổ sở của tôi) không chỉ nhân sĩ đất Thục cùng trưởng quan hai châu tận mắt trông thấy, trong lòng hiểu rõ, mà ngay cả trời đất thần minh cũng nhìn thấy rất rõ ràng)
              Trần tình biểu là biểu văn Lí Mật dâng lên Tấn Vũ Đế 晋武帝, ông xin được phụng dưỡng tổ mẫu, không muốn đi làm quan, cho rằng Mục Bá hai châu hiểu ông. Triều Tấn là chế độ quận huyện 3 cấp, trưởng châu xưng là Mục , cũng xưng là Phương Bá 方伯. Đương thời ví việc trị dân giống như chăn dắt, Phương Bá vốn là trưởng chư hầu một phương, nói rõ vị trưởng quan địa phương tối cao đã hiểu ông. Còn như đọc Đằng Vương các tự 滕王阁序 của Vương Bột 王勃 thời Sơ Đường, mở đầu là: “Nam Xương cố quận, Hồng Đô tân phủ” 南昌故郡, 洪都新府. Nam Xương vốn thuộc quận Dự Chương 豫章 thời Hán, sau thời Tuỳ đổi Dự Chương thành Hồng Châu 洪州. Nhưng ở đây sao lại xưng là “tân phủ”? Hoá ra thời Đường đã đem một số châu có địa vị đặc thù đổi gọi là phủ.
              “Quận” còn thường đi chung với “quốc” . Từ “quận quốc” 郡国thấy nhiều trong sách cổ. Như trong bài Tàm Cốc 蚕谷行  hành của Đổ Phủ 杜甫:
    Thiên hạ “quận quốc” hướng vạn thành,
    Vô hữu nhất thành vô giáp binh
    天下郡国向万城
    无有一城无甲兵
    (Muôn vạn thành trì của quận quốc trong thiên hạ
     Không có thành nào là không có giáp binh)
              Quận và quốc đi chung với nhau, nguyên nhân là đầu đời Hán đại phong chư hầu vương, chư hầu có thể lập quốc, lãnh mấy quận. Sau thời Cảnh Đế 景帝, về cơ bản là nhất quốc nhất quận. Vốn quận không đồng với quốc, nhưng quốc của chư hầu vương lại đồng với quận, quận và quốc trở thành khái niệm giao thoa. Cho nên từ “quận quốc” được dùng rộng rãi. Ngay cả trong Hậu Hán thư – Địa lí chí 后汉书 - 地理志 cũng xưng “Quận quốc chí” 郡国志.

    Chú của nguyên tác
    1- Nghệ văn loại tụ 艺文类聚quyển lục quận quốc trang 117, Thượng Hải cổ tịch xuất bản xã.
              (Trong nguyên tác ở phần trên in nhầm là “Nghệ văn tụ loại” – ND)
    2- Như trên.
    3- Trung Quốc cổ đại văn hoá sử giảng toạ 中国古大文化史讲座, Đàm Kì Tương 谭其骧 “Lịch đại hành chính khu hoạch lược thuyết” 历代行政区划略
    , Trung ương quảng bá điện thị đại học.

                                                              Huỳnh Chương Hưng
                                                              Quy Nhơn 20/3/2019

    Nguyên tác Trung văn
    QUẬN DỮ CHÂU ĐÍCH CANH THẾ
    ĐÀM “QUẬN
    郡与州的更替
      “
    Trong quyển
    HÁN TỰ THẬP THÚ
    汉字拾趣
    Tác giả: KỶ ĐỨC DỤ (纪德裕)
    Phúc Đán Đại học xuất bản xã, 1998

    Thứ Ba, 19 tháng 3, 2019

    NGƯỜI NƯỚC TỐNG ĂN THỊT NGƯỜI

              Năm 595 trước công nguyên (Sở Trang Vương 楚庄王năm thứ 19, Tống Văn Công 宋文公năm thứ 16), sau khi giành được thắng lợi đối với nước Tấn, nước Sở đã tập trung chú ý vào minh quốc của nước Tấn là nước Tống. Nửa năm sau đó, nước Sở phái sứ giả đi thăm nước Tề. Sở Trang Vương 楚庄王cố ý sắp xếp sứ giả khi đi ngang nước Tống không chào quan phương nước Tống, công khai khiêu chiến với nước Tống. Người nắm giữ quốc chính nước Tống là Hoa Nguyên 华元cho rằng, nước Sở làm như thế là coi khinh nước Tống. Đối với nước Tống mà nói, bị coi khinh coi như sắp diệt vong, mà giết chết sứ giả cũng đồng nghĩa với diệt vong. Cả 2 sẽ gây hoạ diệt vong, chi bằng giết chết sứ giả. Khi Sở Trang Vương nghe tin sứ giả bị giết, vui mừng nhảy lên, đến mức giày không kịp xỏ, kiếm không kịp đeo, xe không kịp ngồi, liền tập hợp quân đội. Tháng 9, quân đội nước Sở bao vây đô thành nước Tống, chặt đến mức nước cũng không thoát ra được. Nước Tấn nói sẽ phái quân cứu viện nước Tống, nhưng trên thực tế lại sợ nước Sở, không phát binh. Đến tháng 5 năm sau, đô thành nước Tống bị vây khốn, lương thực củi đốt không còn. Theo lời kể, để khỏi bị đói, mọi người bắt đầu ăn thịt trẻ con. Do bởi không nỡ ăn thịt con mình, nhà nhà đổi con cho nhau, đem xương đốt thay củi. Thảm kịch đó, trong thời đại chiến tranh liên miên, không phải là không thể phát sinh. Nói đó là bước lùi của văn minh vẫn chưa bằng nói đó là sự tàn ác của nhân loại đối với chính mình. Đồng thời với đó, với quân Sở cũng xuất hiện nguy cơ về lương thực. Sở Trang Vương muốn triệt binh, bị đại thần khuyên can, quyết định dựng nhà, trồng trọt, dùng cách đó để kéo dài kế sách, tăng áp lực cho quân Tống. Quân Tống quả nhiên trúng kế, lo sợ, quyết định giảng hoà có điều kiện với quân Sở, nếu không sẽ liều tới cùng. Nước Sở cũng không dám quá cứng liền lui quân 30 dặm, cùng với Tống đính lập minh ước, nhấn mạnh hai bên không được lừa gạt lẫn nhau.

                                                                    Huỳnh Chương Hưng
                                                                    Quy Nhơn 19/3/2019

    Nguyên tác Trung văn
    TỐNG QUỐC ĐÍCH NHÂN NGẬT NHÂN
    宋国的人吃人
    Trong quyển
    ĐỒ VĂN TRUNG QUỐC THÔNG SỬ
    图文中国通史
    (tập Sử tiền sử - Chiến quốc)
    Chủ biên: Triệu Hướng Tiêu 赵向标
    Tân Cương nhân dân xuất bản xã, 2002.

    Dịch thuật: Người nước Tống ăn thịt người

    Đăng lúc  21:23  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    NGƯỜI NƯỚC TỐNG ĂN THỊT NGƯỜI

              Năm 595 trước công nguyên (Sở Trang Vương 楚庄王năm thứ 19, Tống Văn Công 宋文公năm thứ 16), sau khi giành được thắng lợi đối với nước Tấn, nước Sở đã tập trung chú ý vào minh quốc của nước Tấn là nước Tống. Nửa năm sau đó, nước Sở phái sứ giả đi thăm nước Tề. Sở Trang Vương 楚庄王cố ý sắp xếp sứ giả khi đi ngang nước Tống không chào quan phương nước Tống, công khai khiêu chiến với nước Tống. Người nắm giữ quốc chính nước Tống là Hoa Nguyên 华元cho rằng, nước Sở làm như thế là coi khinh nước Tống. Đối với nước Tống mà nói, bị coi khinh coi như sắp diệt vong, mà giết chết sứ giả cũng đồng nghĩa với diệt vong. Cả 2 sẽ gây hoạ diệt vong, chi bằng giết chết sứ giả. Khi Sở Trang Vương nghe tin sứ giả bị giết, vui mừng nhảy lên, đến mức giày không kịp xỏ, kiếm không kịp đeo, xe không kịp ngồi, liền tập hợp quân đội. Tháng 9, quân đội nước Sở bao vây đô thành nước Tống, chặt đến mức nước cũng không thoát ra được. Nước Tấn nói sẽ phái quân cứu viện nước Tống, nhưng trên thực tế lại sợ nước Sở, không phát binh. Đến tháng 5 năm sau, đô thành nước Tống bị vây khốn, lương thực củi đốt không còn. Theo lời kể, để khỏi bị đói, mọi người bắt đầu ăn thịt trẻ con. Do bởi không nỡ ăn thịt con mình, nhà nhà đổi con cho nhau, đem xương đốt thay củi. Thảm kịch đó, trong thời đại chiến tranh liên miên, không phải là không thể phát sinh. Nói đó là bước lùi của văn minh vẫn chưa bằng nói đó là sự tàn ác của nhân loại đối với chính mình. Đồng thời với đó, với quân Sở cũng xuất hiện nguy cơ về lương thực. Sở Trang Vương muốn triệt binh, bị đại thần khuyên can, quyết định dựng nhà, trồng trọt, dùng cách đó để kéo dài kế sách, tăng áp lực cho quân Tống. Quân Tống quả nhiên trúng kế, lo sợ, quyết định giảng hoà có điều kiện với quân Sở, nếu không sẽ liều tới cùng. Nước Sở cũng không dám quá cứng liền lui quân 30 dặm, cùng với Tống đính lập minh ước, nhấn mạnh hai bên không được lừa gạt lẫn nhau.

                                                                    Huỳnh Chương Hưng
                                                                    Quy Nhơn 19/3/2019

    Nguyên tác Trung văn
    TỐNG QUỐC ĐÍCH NHÂN NGẬT NHÂN
    宋国的人吃人
    Trong quyển
    ĐỒ VĂN TRUNG QUỐC THÔNG SỬ
    图文中国通史
    (tập Sử tiền sử - Chiến quốc)
    Chủ biên: Triệu Hướng Tiêu 赵向标
    Tân Cương nhân dân xuất bản xã, 2002.

    Thứ Hai, 18 tháng 3, 2019



    CHỮ “BẢO”
     
    Bính âm bao (thanh điệu 3)

    8 nét
    20 nét

    1- Vật trân quý:
              Bảo bối 宝贝 / bảo vật 宝物 / bảo khố 宝库 / trân bảo 珍宝 / quốc bảo 国宝 / châu bảo 珠宝 / truyền gia bảo 传家宝.
    2- Thuộc loại trân quý:
              Bảo đao 宝刀 / bảo kiếm 宝剑 / bảo thạch 宝石 / bảo thư 宝书.
    3- Kính từ, dùng để xưng gia quyến đối phương, tiệm bán hàng ...
              Bảo quyến 宝眷 / bảo địa 宝地 / bảo sát 宝刹

    Thuyết giải
              Chữ bộ (miên), kết cấu trên dưới, loại chữ hội ý. Chữ bỏ đi chữ (phữu / phẫu) và chữ (bối), sau đó đổi chữ (vương) thành chữ (ngọc). Trong Đôn Hoàng tả bản 敦煌写本và 12 sách Tục tự phổ 俗字谱 đều thấy.
              Dị thể tự của
             
    Phụ lục
              Về chữ, trong Hán Việt tự điển của Thiều Chửu ghi rằng:
    1- Báu, phàm vật gì quý đều gọi là bảo cả.
    2- Cái ấn, con dấu. Các vua đời xưa dùng ngọc khuê ngọc bích làm cái ấn cái dấu. Nhà Tần gọi là tỉ , nhà Đường lại đổi là bảo.
    3- Tiền tệ cũng gọi là bảo. Như nguyên bảo 元寶 – nén bạc; Thông bảo 通寶 – đồng tiền v.v...
    Tục viết là
                                             (trang 136, NXB Hồng Đức, 2015)

                                                          Huỳnh Chương Hưng
                                                          Quy Nhơn 18/3/2019

    Nguồn
    GIẢN HOÁ TỰ, PHỒN THỂ TỰ ĐỐI CHIẾU TỰ ĐIỂN
    简化字繁体字对照字典
    Chủ biên: Giang Lam Sinh 江蓝生, Lục Tôn Ngô 陆尊梧
    Thượng Hải – Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 1998


    Dịch thuật: Chữ "bảo" (Đối chiếu tự điển)

    Đăng lúc  21:34  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »



    CHỮ “BẢO”
     
    Bính âm bao (thanh điệu 3)

    8 nét
    20 nét

    1- Vật trân quý:
              Bảo bối 宝贝 / bảo vật 宝物 / bảo khố 宝库 / trân bảo 珍宝 / quốc bảo 国宝 / châu bảo 珠宝 / truyền gia bảo 传家宝.
    2- Thuộc loại trân quý:
              Bảo đao 宝刀 / bảo kiếm 宝剑 / bảo thạch 宝石 / bảo thư 宝书.
    3- Kính từ, dùng để xưng gia quyến đối phương, tiệm bán hàng ...
              Bảo quyến 宝眷 / bảo địa 宝地 / bảo sát 宝刹

    Thuyết giải
              Chữ bộ (miên), kết cấu trên dưới, loại chữ hội ý. Chữ bỏ đi chữ (phữu / phẫu) và chữ (bối), sau đó đổi chữ (vương) thành chữ (ngọc). Trong Đôn Hoàng tả bản 敦煌写本và 12 sách Tục tự phổ 俗字谱 đều thấy.
              Dị thể tự của
             
    Phụ lục
              Về chữ, trong Hán Việt tự điển của Thiều Chửu ghi rằng:
    1- Báu, phàm vật gì quý đều gọi là bảo cả.
    2- Cái ấn, con dấu. Các vua đời xưa dùng ngọc khuê ngọc bích làm cái ấn cái dấu. Nhà Tần gọi là tỉ , nhà Đường lại đổi là bảo.
    3- Tiền tệ cũng gọi là bảo. Như nguyên bảo 元寶 – nén bạc; Thông bảo 通寶 – đồng tiền v.v...
    Tục viết là
                                             (trang 136, NXB Hồng Đức, 2015)

                                                          Huỳnh Chương Hưng
                                                          Quy Nhơn 18/3/2019

    Nguồn
    GIẢN HOÁ TỰ, PHỒN THỂ TỰ ĐỐI CHIẾU TỰ ĐIỂN
    简化字繁体字对照字典
    Chủ biên: Giang Lam Sinh 江蓝生, Lục Tôn Ngô 陆尊梧
    Thượng Hải – Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 1998


    Chủ Nhật, 17 tháng 3, 2019

    CHU DỊCH”
    Đại bản doanh của học thuyết Âm Dương

              Chu Dịch 周易là bộ kì thư thiên cổ, nó đứng đầu lục kinh, gốc của quần nghệ, đại bản doanh của học thuyết Âm Dương.
              Vì sao bộ sách này lấy tên là “Chu Dịch”? có người cho rằng “Chu” có nghĩa là “chu táp” 周匝 (quây vòng, chu đáo, chu mật); có người cho “Chu” là “Chu tộc” 周族 (tộc Chu)  “Chu đại” 周代 (đời Chu). Còn như “Dịch” , có người cho giản hoá hình dạng con rắn mối, có người cho rằng “nhật” “nguyệt” là “dịch”, cũng có người cho nó có nghĩa là là đơn giản thô sơ, biến dịch, bất dịch.
              Về tác giả của Chu Dịch, trước giờ có thuyết “Dịch canh tam thánh” 易更三圣: Phục Hi thị 伏羲氏 làm ra bát quái (8 quẻ); Chu Văn Vương 周文王 diễn bát quái thành lục thập tứ quái (64 quẻ); Khổng Tử 孔子 viết Thập dực 十翼. Có người cho rằng Chu Dịch là do di dân nhà Ân sau khi nhà Ân bị diệt vong làm ra, cũng có người cho rằng là sáng tác của ..... Tí Tử Cung (1)  ..... 臂子弓 người nước Sở, lại có người cho rằng xuất phát từ quan coi việc bốc phệ. Trên thực tế, Chu Dịch không phải là sáng tác của một người, một thời, mà nó là sáng tác do các vu sĩ không rõ họ tên thời thượng cổ trong trường kì thực tiễn dùng hình thức tích luỹ sáng tạo ra.
              Chu Dịch 周易 bao gồm Dịch kinh 易经Dịch truyện 易传.
              Các bậc tiên triết lấy Liên sơn 连山, Quy tàng 归藏Dịch kinh 易经làm “tam Dịch”. Hai bộ đầu đã thất truyền. Dịch kinh là bộ phận kinh văn của Chu Dịch, nó là “phệ thư” 筮书 mang ý nghĩa triết học tôn giáo, văn tự thì đơn giản cổ xưa khó đọc, nội dung thì từng mảng linh tinh. Dịch kinh ghi chép 64 quẻ (quái ), mỗi quẻ có 6 hào , quẻ Càn có hào “dụng cửu” 用九, quẻ Khôn có hào “dụng lục” 用六, cho nên tổng cộng có 386 hào. Mỗi quẻ trình bày gồm quái hình, quái danh, quái từ, như:
    Thuần Càn Càn, nguyên hanh lợi trinh.
    , 元亨利贞
    Mỗi hào có hào đề, hào từ, như:
    Sơ cửu, tiềm long vật dụng.
    初九, 潜龙勿用
              Quái từ và hào từ tổng cộng có 450 điều, hơn 4900 chữ.
              Dịch truyện 易传là những lời giải thích Dịch kinh, cho nên gọi là Thập dực 十翼, “dực” mang ý nghĩa bổ trợ cho “kinh” . Thập dực vốn độc hành trên đời, về sau mới hợp với Dịch kinh làm thành Chu dịch lưu hành trên đời. Thập dực có 7 loại 10 thiên, phân biệt như sau:
              - Hệ từ 系辞 thượng hạ thiên, luận kinh nghĩa, công dụng và phệ pháp của Dịch kinh.
              - Thoán truyện 彖传 thượng hạ thiên, giải thích quái danh và quái từ của 64 quẻ.
              - Tượng truyện 象传thượng hạ thiên, giải thích quái tượng.
              - Văn ngôn 文言1 thiên, giải thích Càn Khôn.
              - Thuyết quái 说卦1 thiên, giải thích sự vật mà bát quái tượng ra.
              - Tự quái 序卦 1 thiên, giải thích quan hệ mà 64 quẻ thuận theo thứ tự bày ra.
              - Tạp quái 杂卦 1 thiên, giải thích quái nghĩa của 64 quẻ.
              Khổng Tử 孔子cùng đệ tử đều hết lòng nghiên cứu Chu Dịch. Đến đời Hán, Chu Dịch trở thành một môn hiển học. Quan phương đương thời rất coi trọng, xuất hiện những đại sư chuyên về Dịch, xuất hiện phái Tượng số và phái Dịch lí. Từ đó, Chu Dịch trải qua một thời gian không suy.
              Đối với học thuyết Âm Dương, Chu Dịch trình bày rất đầy đủ. Phù hiệu cơ bản của bát quái là hào dương (vạch liền) và hào âm (vạch đứt). Âm dương là phép tắc phổ biến đối của đối lập và thống nhất, quán xuyến sự vật vạn vật, như thiên địa, tôn ti, động tĩnh, cương nhu, quân thần, sinh tử đều có thể dùng âm dương để giải thích. Học thuyết âm dương là tư tưởng triết học chất phác, nó thẩm thấu đến các phương diện của văn hoá truyền thống, có tác dụng chính mang tính chỉ đạo. Thời cổ, y học, lịch pháp thiên văn, dân tục ở Trung Quốc không gì là không liên quan đến học thuyết âm dương, nguồn gốc của học thuyết âm dương chính là Chu Dịch.
              Học giả các đời nghiên cứu Chu Dịch và thành quả nghiên cứu nhiều không kể xiết. Tử Hạ Dịch truyện 子夏易传 là bộ sách chú về Dịch sớm nhất sau Khổng Tử mà chúng ta có thể thấy được. Ngoài ra, còn có Dịch lâm 易林của Tiêu Diên Thọ 焦延寿, Dịch truyện 易传 của Kinh Phòng 京房 đời Hán; Dịch chú 易注 của Vương Bật 王弼 đời Nguỵ, Chu Dịch chính nghĩa 周易正义 của Khổng Dĩnh Đạt 孔颖达, Chu Dịch tập giải 周易集解 của Lí Đỉnh Tộ 李鼎祚 đời Đường; Chu truyện 周传của Trình Di 程颐, Chu Dịch bản nghĩa 周易本义của Chu Hi 朱熹, Hoàng cực kinh thế 皇极经世 của Thiệu Ung 邵雍đời Tống, đều là những trứ tác về Chu Dịch có ảnh hưởng rất quan trọng.
              Từ thế kỉ 20 lại đây, các bản về Chu Dịch ra đời càng nhiều, tra duyệt vô cùng tiện lợi.

    Chú của người dịch
    1- ..... Tí Tử Cung ..... 臂子弓: Chữ ở .... này gồm bên trái chữ (ô), bên phải chữ (can), chưa biết âm đọc là gì.

                                                                    Huỳnh Chương Hưng
                                                                 Quy Nhơn 17/3/2019

    Nguyên tác Trung văn
    CHU DỊCH”
    周易
    Trong quyển
    THẦN BÍ VĂN HOÁ ĐIỂN TỊCH ĐẠI QUAN
    神秘文化典籍大观
    Tác giả: Vương Ngọc Đức 王玉德, Dương Sưởng 杨昶
    Nam Ninh: Quảng Tây nhân dân xuất bản xã, 2003.

    Dịch thuật: "Chu Dịch" (Đại bản doanh của học thuyết Âm Dương)

    Đăng lúc  22:02  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    CHU DỊCH”
    Đại bản doanh của học thuyết Âm Dương

              Chu Dịch 周易là bộ kì thư thiên cổ, nó đứng đầu lục kinh, gốc của quần nghệ, đại bản doanh của học thuyết Âm Dương.
              Vì sao bộ sách này lấy tên là “Chu Dịch”? có người cho rằng “Chu” có nghĩa là “chu táp” 周匝 (quây vòng, chu đáo, chu mật); có người cho “Chu” là “Chu tộc” 周族 (tộc Chu)  “Chu đại” 周代 (đời Chu). Còn như “Dịch” , có người cho giản hoá hình dạng con rắn mối, có người cho rằng “nhật” “nguyệt” là “dịch”, cũng có người cho nó có nghĩa là là đơn giản thô sơ, biến dịch, bất dịch.
              Về tác giả của Chu Dịch, trước giờ có thuyết “Dịch canh tam thánh” 易更三圣: Phục Hi thị 伏羲氏 làm ra bát quái (8 quẻ); Chu Văn Vương 周文王 diễn bát quái thành lục thập tứ quái (64 quẻ); Khổng Tử 孔子 viết Thập dực 十翼. Có người cho rằng Chu Dịch là do di dân nhà Ân sau khi nhà Ân bị diệt vong làm ra, cũng có người cho rằng là sáng tác của ..... Tí Tử Cung (1)  ..... 臂子弓 người nước Sở, lại có người cho rằng xuất phát từ quan coi việc bốc phệ. Trên thực tế, Chu Dịch không phải là sáng tác của một người, một thời, mà nó là sáng tác do các vu sĩ không rõ họ tên thời thượng cổ trong trường kì thực tiễn dùng hình thức tích luỹ sáng tạo ra.
              Chu Dịch 周易 bao gồm Dịch kinh 易经Dịch truyện 易传.
              Các bậc tiên triết lấy Liên sơn 连山, Quy tàng 归藏Dịch kinh 易经làm “tam Dịch”. Hai bộ đầu đã thất truyền. Dịch kinh là bộ phận kinh văn của Chu Dịch, nó là “phệ thư” 筮书 mang ý nghĩa triết học tôn giáo, văn tự thì đơn giản cổ xưa khó đọc, nội dung thì từng mảng linh tinh. Dịch kinh ghi chép 64 quẻ (quái ), mỗi quẻ có 6 hào , quẻ Càn có hào “dụng cửu” 用九, quẻ Khôn có hào “dụng lục” 用六, cho nên tổng cộng có 386 hào. Mỗi quẻ trình bày gồm quái hình, quái danh, quái từ, như:
    Thuần Càn Càn, nguyên hanh lợi trinh.
    , 元亨利贞
    Mỗi hào có hào đề, hào từ, như:
    Sơ cửu, tiềm long vật dụng.
    初九, 潜龙勿用
              Quái từ và hào từ tổng cộng có 450 điều, hơn 4900 chữ.
              Dịch truyện 易传là những lời giải thích Dịch kinh, cho nên gọi là Thập dực 十翼, “dực” mang ý nghĩa bổ trợ cho “kinh” . Thập dực vốn độc hành trên đời, về sau mới hợp với Dịch kinh làm thành Chu dịch lưu hành trên đời. Thập dực có 7 loại 10 thiên, phân biệt như sau:
              - Hệ từ 系辞 thượng hạ thiên, luận kinh nghĩa, công dụng và phệ pháp của Dịch kinh.
              - Thoán truyện 彖传 thượng hạ thiên, giải thích quái danh và quái từ của 64 quẻ.
              - Tượng truyện 象传thượng hạ thiên, giải thích quái tượng.
              - Văn ngôn 文言1 thiên, giải thích Càn Khôn.
              - Thuyết quái 说卦1 thiên, giải thích sự vật mà bát quái tượng ra.
              - Tự quái 序卦 1 thiên, giải thích quan hệ mà 64 quẻ thuận theo thứ tự bày ra.
              - Tạp quái 杂卦 1 thiên, giải thích quái nghĩa của 64 quẻ.
              Khổng Tử 孔子cùng đệ tử đều hết lòng nghiên cứu Chu Dịch. Đến đời Hán, Chu Dịch trở thành một môn hiển học. Quan phương đương thời rất coi trọng, xuất hiện những đại sư chuyên về Dịch, xuất hiện phái Tượng số và phái Dịch lí. Từ đó, Chu Dịch trải qua một thời gian không suy.
              Đối với học thuyết Âm Dương, Chu Dịch trình bày rất đầy đủ. Phù hiệu cơ bản của bát quái là hào dương (vạch liền) và hào âm (vạch đứt). Âm dương là phép tắc phổ biến đối của đối lập và thống nhất, quán xuyến sự vật vạn vật, như thiên địa, tôn ti, động tĩnh, cương nhu, quân thần, sinh tử đều có thể dùng âm dương để giải thích. Học thuyết âm dương là tư tưởng triết học chất phác, nó thẩm thấu đến các phương diện của văn hoá truyền thống, có tác dụng chính mang tính chỉ đạo. Thời cổ, y học, lịch pháp thiên văn, dân tục ở Trung Quốc không gì là không liên quan đến học thuyết âm dương, nguồn gốc của học thuyết âm dương chính là Chu Dịch.
              Học giả các đời nghiên cứu Chu Dịch và thành quả nghiên cứu nhiều không kể xiết. Tử Hạ Dịch truyện 子夏易传 là bộ sách chú về Dịch sớm nhất sau Khổng Tử mà chúng ta có thể thấy được. Ngoài ra, còn có Dịch lâm 易林của Tiêu Diên Thọ 焦延寿, Dịch truyện 易传 của Kinh Phòng 京房 đời Hán; Dịch chú 易注 của Vương Bật 王弼 đời Nguỵ, Chu Dịch chính nghĩa 周易正义 của Khổng Dĩnh Đạt 孔颖达, Chu Dịch tập giải 周易集解 của Lí Đỉnh Tộ 李鼎祚 đời Đường; Chu truyện 周传của Trình Di 程颐, Chu Dịch bản nghĩa 周易本义của Chu Hi 朱熹, Hoàng cực kinh thế 皇极经世 của Thiệu Ung 邵雍đời Tống, đều là những trứ tác về Chu Dịch có ảnh hưởng rất quan trọng.
              Từ thế kỉ 20 lại đây, các bản về Chu Dịch ra đời càng nhiều, tra duyệt vô cùng tiện lợi.

    Chú của người dịch
    1- ..... Tí Tử Cung ..... 臂子弓: Chữ ở .... này gồm bên trái chữ (ô), bên phải chữ (can), chưa biết âm đọc là gì.

                                                                    Huỳnh Chương Hưng
                                                                 Quy Nhơn 17/3/2019

    Nguyên tác Trung văn
    CHU DỊCH”
    周易
    Trong quyển
    THẦN BÍ VĂN HOÁ ĐIỂN TỊCH ĐẠI QUAN
    神秘文化典籍大观
    Tác giả: Vương Ngọc Đức 王玉德, Dương Sưởng 杨昶
    Nam Ninh: Quảng Tây nhân dân xuất bản xã, 2003.

    Thứ Bảy, 16 tháng 3, 2019

    TỪ “THỰC NGÔN” TỪ ĐÂU MÀ RA

              “Thực ngôn” 食言, từ mặt chữ mà giải thích là ăn lời nói. Hiển nhiên là lời nói không thể ăn được, vậy tại sao chúng ta thường dùng từ “thực ngôn”. Cách nói biểu đạt tương tự với “thực ngôn” còn có “thôn tiến đỗ tử lí đích thoại thổ xuất lai” 吞进肚子里吐出来 (nhổ ra những lời đã nuốt vào bụng). Lời nói có thể nuốt sao? Lại làm sao nhổ ra được?
              Kì thực chúng là loại biểu đạt hình tượng. “Thực ngôn” biểu đạt sự không tuân thủ lời hứa của mình, không giữ chữ tín. Bản thân nói ra nhưng không giữ lời, cho nên nói “thực ngôn”; “thôn” và “thổ” biểu đạt cũng như thế. “Thực ngôn” xuất xứ từ câu “thực ngôn nhi phì” 食言而肥, điển cố này liên quan đến một đại thần tên Mạnh Vũ Bá 孟武伯 thời Xuân Thu.
              Trong Tả truyện – Ai Công nhị thập ngũ niên 左传 - 哀公二十五年 có một đoạn như sau:
              Công yến vu Ngũ Đồng. Vũ Bá vi chúc, ố Quách Trọng, viết:
              Hà phì dã?
              Quý Tôn viết:
              Thỉnh ấm trệ dã! Dĩ Lỗ quốc chi mật nhĩ cừu thù, thần thị dĩ bất hoạch tùng quân, khắc miễn vu đại hành, hựu vị Trọng dã phì.
              Công viết:
              Thị thực ngôn đa hĩ, năng vô phì hồ?
              公宴于五桐. 武伯为祝, 恶郭重, :
    何肥也!
    季孙曰:
    请饮彘也! 以鲁国之密迩仇雠, 臣是以不获从君, 克免于大行, 又谓重也肥.
    公曰:
    是食多言矣, 能无肥乎?
              (Ai Công bày tiệc ở Ngũ Đồng, Vũ Bá chúc rượu, vì ghét Quách Trọng, nên nói rằng:
              - Sao ông mập thế?
              Quý Tôn nói rằng:
              - Xin phạt rượu Vũ Bá. Kẻ địch của nước Lỗ gần bên cạnh, bề tôi không theo quân chủ, đã không đi xa, mà còn lại nói Quách Trọng bôn ba lao khổ là mập.
              Ai Công bảo rằng:
              - Ăn lời nhiều quá sao mà không mập cho được?)
              Lỗ Ai Công sau khi đi thăm nước Việt trở về, Quý Khang Tử và Mạnh Vũ Bá đến Ngũ Đồng nghinh tiếp. Quân thần tại nơi đó yến ẩm. Mạnh Vũ Bá rất ghét Quách Trọng được sự sủng ái của Ai Công, liền nhân cơ hội nói rằng:
              - Sao ông mập thế?
              Quý Khang Tử tên là Phì (mập), nghe mấy lời đó không vui, liền nói:
              - Quách Trọng theo quân vương bôn ba gian khổ, Mạnh Vũ Bá lại nói ông ta mập.
              Ai Công bèn chỉ mèo mắng chó, nói rằng:
              - Người đó ăn lời của mình nhiều quá, làm sao mà không mập cho được?
              Đây là ví dụ điển hình cho mối quan hệ quân thần hoá xấu. Mạnh Vũ Bá trước giờ không giữ chữ tín, nói mà không giữ lời. Lỗ Ai Công rất ghét ông ta. Cho nên mượn cơ hội châm biếm, khiến Mạnh Vũ Bá đỏ mặt tía tai. Đương nhiên, Lỗ Ai Công nhân đó mà đắc tội với Mạnh Vũ Bá. Sau này Mạnh Vũ Bá gây nhiều phiền phức cho Ai Công.
              Về sau dùng từ này để biểu thị hạng người không giữ chữ tín, chỉ chăm chăm chiếm điều lợi cho mình.

                                                                   Huỳnh Chương Hưng
                                                                   Quy Nhơn 16/3/2019

    Nguyên tác Trung văn
    Trong quyển
    THÚ VỊ VĂN HOÁ TRI THỨC ĐẠI TOÀN
    趣味文化知识大全
    Thanh Thạch 青石 biên soạn
    Trung Quốc Hoa kiều xuất bản xã, 2013

    Dịch thuật: Từ "thực ngôn" từ đâu mà ra

    Đăng lúc  22:02  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    TỪ “THỰC NGÔN” TỪ ĐÂU MÀ RA

              “Thực ngôn” 食言, từ mặt chữ mà giải thích là ăn lời nói. Hiển nhiên là lời nói không thể ăn được, vậy tại sao chúng ta thường dùng từ “thực ngôn”. Cách nói biểu đạt tương tự với “thực ngôn” còn có “thôn tiến đỗ tử lí đích thoại thổ xuất lai” 吞进肚子里吐出来 (nhổ ra những lời đã nuốt vào bụng). Lời nói có thể nuốt sao? Lại làm sao nhổ ra được?
              Kì thực chúng là loại biểu đạt hình tượng. “Thực ngôn” biểu đạt sự không tuân thủ lời hứa của mình, không giữ chữ tín. Bản thân nói ra nhưng không giữ lời, cho nên nói “thực ngôn”; “thôn” và “thổ” biểu đạt cũng như thế. “Thực ngôn” xuất xứ từ câu “thực ngôn nhi phì” 食言而肥, điển cố này liên quan đến một đại thần tên Mạnh Vũ Bá 孟武伯 thời Xuân Thu.
              Trong Tả truyện – Ai Công nhị thập ngũ niên 左传 - 哀公二十五年 có một đoạn như sau:
              Công yến vu Ngũ Đồng. Vũ Bá vi chúc, ố Quách Trọng, viết:
              Hà phì dã?
              Quý Tôn viết:
              Thỉnh ấm trệ dã! Dĩ Lỗ quốc chi mật nhĩ cừu thù, thần thị dĩ bất hoạch tùng quân, khắc miễn vu đại hành, hựu vị Trọng dã phì.
              Công viết:
              Thị thực ngôn đa hĩ, năng vô phì hồ?
              公宴于五桐. 武伯为祝, 恶郭重, :
    何肥也!
    季孙曰:
    请饮彘也! 以鲁国之密迩仇雠, 臣是以不获从君, 克免于大行, 又谓重也肥.
    公曰:
    是食多言矣, 能无肥乎?
              (Ai Công bày tiệc ở Ngũ Đồng, Vũ Bá chúc rượu, vì ghét Quách Trọng, nên nói rằng:
              - Sao ông mập thế?
              Quý Tôn nói rằng:
              - Xin phạt rượu Vũ Bá. Kẻ địch của nước Lỗ gần bên cạnh, bề tôi không theo quân chủ, đã không đi xa, mà còn lại nói Quách Trọng bôn ba lao khổ là mập.
              Ai Công bảo rằng:
              - Ăn lời nhiều quá sao mà không mập cho được?)
              Lỗ Ai Công sau khi đi thăm nước Việt trở về, Quý Khang Tử và Mạnh Vũ Bá đến Ngũ Đồng nghinh tiếp. Quân thần tại nơi đó yến ẩm. Mạnh Vũ Bá rất ghét Quách Trọng được sự sủng ái của Ai Công, liền nhân cơ hội nói rằng:
              - Sao ông mập thế?
              Quý Khang Tử tên là Phì (mập), nghe mấy lời đó không vui, liền nói:
              - Quách Trọng theo quân vương bôn ba gian khổ, Mạnh Vũ Bá lại nói ông ta mập.
              Ai Công bèn chỉ mèo mắng chó, nói rằng:
              - Người đó ăn lời của mình nhiều quá, làm sao mà không mập cho được?
              Đây là ví dụ điển hình cho mối quan hệ quân thần hoá xấu. Mạnh Vũ Bá trước giờ không giữ chữ tín, nói mà không giữ lời. Lỗ Ai Công rất ghét ông ta. Cho nên mượn cơ hội châm biếm, khiến Mạnh Vũ Bá đỏ mặt tía tai. Đương nhiên, Lỗ Ai Công nhân đó mà đắc tội với Mạnh Vũ Bá. Sau này Mạnh Vũ Bá gây nhiều phiền phức cho Ai Công.
              Về sau dùng từ này để biểu thị hạng người không giữ chữ tín, chỉ chăm chăm chiếm điều lợi cho mình.

                                                                   Huỳnh Chương Hưng
                                                                   Quy Nhơn 16/3/2019

    Nguyên tác Trung văn
    Trong quyển
    THÚ VỊ VĂN HOÁ TRI THỨC ĐẠI TOÀN
    趣味文化知识大全
    Thanh Thạch 青石 biên soạn
    Trung Quốc Hoa kiều xuất bản xã, 2013

    Thứ Sáu, 15 tháng 3, 2019

    HẬU NGHỆ BẮN MẶT TRỜI

              Hậu Nghệ 后羿 là thủ lĩnh bộ lạc Hữu Cùng thị  有穷氏 của tộc Đông Di 东夷, là quốc quân của nước Hữu Cùng 有穷. Hậu Nghệ vốn xưng là “Tư Nghệ” 司羿. “Tư” là một trong  “quần tư chức vị” 群司职位 (chức vị trong số các tư) trong truyền thống quan vị cổ đại Trung Quốc, thực hành thế tập. Còn ý nghĩa của “Nghệ” 羿 chỉ “xạ sư” 射师. Cho nên ý nghĩa của “tư nghệ” là “thế tập đích xạ sư nhất chức” 世袭的射师一职 (chức xạ sư thế tập). Xạ sư Hậu Nghệ về sau phát động chính biến, nắm chính quyền, kế thừa đế vị, cho nên sử xưng là “Hậu Nghệ”.

              Sau khi Hạ Khải 夏启 lên làm quốc vương, có bộ lạc Hữu Hỗ thị 有扈氏 không phục, khởi binh phản kháng. Ông Khải và bộ lạc Hữu Hỗ thị phát sinh chiến tranh, cuối cùng ông Khải diệt Hữu Hỗ thị, tù nhân bắt làm mục nô. Những bộ lạc khác nhìn thấy Hữu Hỗ thị như thế, không ai dám phản kháng.
              Sau khi Hạ Khải qua đời, con là Thái Khang 太康 tức vị. Thái Khang là vị quân chủ vô cùng hôn dung. Ông ta chẳng quản chính sự, chỉ thích săn bắn. Một lần nọ, Thái Khang dẫn tuỳ tùng dến bờ nam sông Lạc săn bắn. Càng săn ông ta càng phấn khích, hơn 100 ngày không về nhà.
              Lúc bấy giờ, Di tộc 夷族 ở hạ du Hoàng hà 黄河, có một thủ lĩnh bộ lạc tên là Hậu Nghệ, dã tâm sôi sục, muốn đoạt lấy quyền lực của Hạ vương. Hậu Nghệ thấy Thái Khang đi săn, cảm thấy đó là cơ hội, liền đích thân dẫn binh giữ bờ bắc sông Lạc. Đợi đến khi Thái Khang đem một bầy dã thú săn được, hớn hở trở về, lúc tới sông Lạc, bên bờ đối diện toàn là đội quân của Hậu Nghệ ngăn chận đường về. Thái Khang không còn cách nào đành sống một cuộc sống lưu vong ở phía nam sông Lạc. Hậu Nghệ vẫn chưa dám tự lập làm vương, mà lập người anh em của Thái Khang là Trọng Khang 仲康 làm vương, còn thực quyền thì nắm trong tay mình.
              Hậu Nghệ là tay cung tiễn nổi tiếng, tài bắn của ông trăm phát trăm trúng. Có một câu chuyện thần thoại như sau:
              Thời cổ, trên bầu trời vốn có 10 mặt trời, mặt đất nóng như thiêu đốt, gây tai hại nghiêm trọng cho mùa màng. Mọi người thỉnh cầu Hậu Nghệ tìm cách. Hậu Nghệ giương cung lắp tên, “phựt, phựt” mấy tiếng, đã bắn rơi 9 mặt trời, chỉ để lại một mặt trời. Khí hậu trên mặt đất được thích nghi, không còn bị khô hạn nữa. Lại nói thêm, thời cổ trong Hoàng hà có nhiều quái thú, thường gây sóng gió tạo thành thuỷ tai, nhấn chìm mùa màng, làm chết người và súc vật, cũng bị Hậu Nghệ dùng cung tên bắn chết những con quái thú đó, cuộc sống của mọi người mới trở lại bình thường.
              Những câu chuyện thần thoại này nói rõ tài bắn cung của Hậu Nghệ rất cao siêu, mọi người đều công nhận.
              Hậu Nghệ lúc đầu vẫn là một trợ thủ cho Trọng Khang. Đến khi Trọng Khang qua đời, Hậu Nghệ dứt khoát đuổi người con của Trọng Khang là Niện , đoạt lấy vương vị triều Hạ. Hậu Nghệ dựa vào bản lĩnh bắn cung của mình cũng tác uy tác phúc. Cũng giống như Thái Khang, Hậu Nghệ di săn bắn khắp nơi, đem chính sự quốc gia giao cho tay thân tín là Hàn Trạc 寒浞. Hàn Trạc dối Hậu Nghệ, mua chuộc nhân tâm. Và một lần, Hậu Nghệ đi săn trở về bị Hàn Trạc sai người giết chết.

    Phụ lục
              Khi nhắc đến câu chuyện Hậu Nghệ bắn mặt trời, mọi người đều liên tưởng đến Thường Nga 嫦娥 một nhân vật thần thoại mà ai ai cũng biết. Thường Nga là vợ của Hậu Nghệ, nhân vì trên bầu trời có 10 mặt trời. Thiên Đế sai hai vợ chồng họ xuống nhân gian để giúp Đế Nghiêu 帝尧 trừ khử bớt mặt trời. Sau khi Hậu Nghệ bắn mặt trời thành công, người khác đã đố kị và vu hại, hai vợ chồng vĩnh viễn bị biếm ở nhân gian. Hậu Nghệ cảm thấy xấu hổ với vợ, bèn đi tìm thuốc trường sinh bất lão, hi vọng cả hai có thể sống trường sinh. Nhưng Thường Nga khó mà chịu đựng cuộc sống thanh bần, nên đã lén uống toàn bộ thuốc, và một mình bay lên cung trăng.

                                                           Huỳnh Chương Hưng
                                                            Quy Nhơn 15/3/2019

    Nguyên tác Trung văn
    HẬU NGHỆ XẠ NHẬT
    后羿射日
    Trong quyển
    TRUNG QUỐC LỊCH SỬ CỐ SỰ (tập 1)
    中国历史故事
    Biên soạn: Sơ Dương Tả Tả 初阳姐姐
    Trường Xuân: Cát Lâm văn sử xuất bản xã, 2015

    Dịch thuật: Hậu Nghệ bắn mặt trời

    Đăng lúc  22:43  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    HẬU NGHỆ BẮN MẶT TRỜI

              Hậu Nghệ 后羿 là thủ lĩnh bộ lạc Hữu Cùng thị  有穷氏 của tộc Đông Di 东夷, là quốc quân của nước Hữu Cùng 有穷. Hậu Nghệ vốn xưng là “Tư Nghệ” 司羿. “Tư” là một trong  “quần tư chức vị” 群司职位 (chức vị trong số các tư) trong truyền thống quan vị cổ đại Trung Quốc, thực hành thế tập. Còn ý nghĩa của “Nghệ” 羿 chỉ “xạ sư” 射师. Cho nên ý nghĩa của “tư nghệ” là “thế tập đích xạ sư nhất chức” 世袭的射师一职 (chức xạ sư thế tập). Xạ sư Hậu Nghệ về sau phát động chính biến, nắm chính quyền, kế thừa đế vị, cho nên sử xưng là “Hậu Nghệ”.

              Sau khi Hạ Khải 夏启 lên làm quốc vương, có bộ lạc Hữu Hỗ thị 有扈氏 không phục, khởi binh phản kháng. Ông Khải và bộ lạc Hữu Hỗ thị phát sinh chiến tranh, cuối cùng ông Khải diệt Hữu Hỗ thị, tù nhân bắt làm mục nô. Những bộ lạc khác nhìn thấy Hữu Hỗ thị như thế, không ai dám phản kháng.
              Sau khi Hạ Khải qua đời, con là Thái Khang 太康 tức vị. Thái Khang là vị quân chủ vô cùng hôn dung. Ông ta chẳng quản chính sự, chỉ thích săn bắn. Một lần nọ, Thái Khang dẫn tuỳ tùng dến bờ nam sông Lạc săn bắn. Càng săn ông ta càng phấn khích, hơn 100 ngày không về nhà.
              Lúc bấy giờ, Di tộc 夷族 ở hạ du Hoàng hà 黄河, có một thủ lĩnh bộ lạc tên là Hậu Nghệ, dã tâm sôi sục, muốn đoạt lấy quyền lực của Hạ vương. Hậu Nghệ thấy Thái Khang đi săn, cảm thấy đó là cơ hội, liền đích thân dẫn binh giữ bờ bắc sông Lạc. Đợi đến khi Thái Khang đem một bầy dã thú săn được, hớn hở trở về, lúc tới sông Lạc, bên bờ đối diện toàn là đội quân của Hậu Nghệ ngăn chận đường về. Thái Khang không còn cách nào đành sống một cuộc sống lưu vong ở phía nam sông Lạc. Hậu Nghệ vẫn chưa dám tự lập làm vương, mà lập người anh em của Thái Khang là Trọng Khang 仲康 làm vương, còn thực quyền thì nắm trong tay mình.
              Hậu Nghệ là tay cung tiễn nổi tiếng, tài bắn của ông trăm phát trăm trúng. Có một câu chuyện thần thoại như sau:
              Thời cổ, trên bầu trời vốn có 10 mặt trời, mặt đất nóng như thiêu đốt, gây tai hại nghiêm trọng cho mùa màng. Mọi người thỉnh cầu Hậu Nghệ tìm cách. Hậu Nghệ giương cung lắp tên, “phựt, phựt” mấy tiếng, đã bắn rơi 9 mặt trời, chỉ để lại một mặt trời. Khí hậu trên mặt đất được thích nghi, không còn bị khô hạn nữa. Lại nói thêm, thời cổ trong Hoàng hà có nhiều quái thú, thường gây sóng gió tạo thành thuỷ tai, nhấn chìm mùa màng, làm chết người và súc vật, cũng bị Hậu Nghệ dùng cung tên bắn chết những con quái thú đó, cuộc sống của mọi người mới trở lại bình thường.
              Những câu chuyện thần thoại này nói rõ tài bắn cung của Hậu Nghệ rất cao siêu, mọi người đều công nhận.
              Hậu Nghệ lúc đầu vẫn là một trợ thủ cho Trọng Khang. Đến khi Trọng Khang qua đời, Hậu Nghệ dứt khoát đuổi người con của Trọng Khang là Niện , đoạt lấy vương vị triều Hạ. Hậu Nghệ dựa vào bản lĩnh bắn cung của mình cũng tác uy tác phúc. Cũng giống như Thái Khang, Hậu Nghệ di săn bắn khắp nơi, đem chính sự quốc gia giao cho tay thân tín là Hàn Trạc 寒浞. Hàn Trạc dối Hậu Nghệ, mua chuộc nhân tâm. Và một lần, Hậu Nghệ đi săn trở về bị Hàn Trạc sai người giết chết.

    Phụ lục
              Khi nhắc đến câu chuyện Hậu Nghệ bắn mặt trời, mọi người đều liên tưởng đến Thường Nga 嫦娥 một nhân vật thần thoại mà ai ai cũng biết. Thường Nga là vợ của Hậu Nghệ, nhân vì trên bầu trời có 10 mặt trời. Thiên Đế sai hai vợ chồng họ xuống nhân gian để giúp Đế Nghiêu 帝尧 trừ khử bớt mặt trời. Sau khi Hậu Nghệ bắn mặt trời thành công, người khác đã đố kị và vu hại, hai vợ chồng vĩnh viễn bị biếm ở nhân gian. Hậu Nghệ cảm thấy xấu hổ với vợ, bèn đi tìm thuốc trường sinh bất lão, hi vọng cả hai có thể sống trường sinh. Nhưng Thường Nga khó mà chịu đựng cuộc sống thanh bần, nên đã lén uống toàn bộ thuốc, và một mình bay lên cung trăng.

                                                           Huỳnh Chương Hưng
                                                            Quy Nhơn 15/3/2019

    Nguyên tác Trung văn
    HẬU NGHỆ XẠ NHẬT
    后羿射日
    Trong quyển
    TRUNG QUỐC LỊCH SỬ CỐ SỰ (tập 1)
    中国历史故事
    Biên soạn: Sơ Dương Tả Tả 初阳姐姐
    Trường Xuân: Cát Lâm văn sử xuất bản xã, 2015

    Chủ Nhật, 10 tháng 3, 2019

    NHẤT ĐẠI NỮ HOÀNG – VÕ TẮC THIÊN

              Võ Tắc Thiên 武则天 (624 – 705), người huyện Văn Sơn Tây 山西. Phụ thân của bà vốn kinh doanh mua bán gỗ, cuối đời Tuỳ theo Lí Uyên 李渊khởi binh vào Trường An 长安, làm quan đến chức Công bộ Thượng thư. Năm Võ Tắc Thiên 14 tuổi, được Đường Thái Tông Lí Thế Dân 李世民 tuyển vào cung phong làm Tài Nhân 才人(xưng hiệu của phi tần), ban hiệu là “Võ Mị” 武媚. Thái Tông qua đời, theo chế độ, bà vô chùa Cảm Nghiệp 感业 ở Trường An làm ni. Chưa tới một năm, Cao Tông Lí Trị 李治lại nhìn thấy bà, triệu nhập cung, phong làm Chiêu Nghi 昭仪 (xưng hiệu của phi tần). Năm 655, Cao Tông phế Vương hoàng hậu làm thứ dân, lập Võ Chiêu Nghi làm hoàng hậu.
              Võ Tắc Thiên bản tính thông minh, rất có tài về chính trị. Bà không thoả mãn an hưởng vinh hoa, làm hoàng hậu chẳng bao lâu, liền bắt đầu tham dự triều
    Chính. Đương thời, Cao Tông thường bệnh, bách quan tấu sự, đa phần sai bà xử lí. Võ Tắc Thiên đề xuất các kiến nghị bao gồm giảm nhẹ phú thuế, đề bạt quan lại có địa vị thấp cùng thay đổi tác phong hành chính và đề xướng 12 điều hiếu đạo, biểu hiện một tài năng chính trị phi phàm.
              Sau khi Cao Tông qua đời, Võ hậu đích thân chấp chính. Đương thời, Từ Kính Nghiệp 徐敬业 nhân đắc tội bị biếm quan, cùng với Đường Chi Kì 唐之奇, Nguỵ Tư Ôn 魏思温 cũng bị biếm quan, lấy chiêu bài “khuông phục Lư Lăng Vương” 复庐陵王 phản đối Võ Tắc Thiên, đã khởi binh tại Giang Đô 江都. Đại thần triều đình Bùi Viêm 裴炎 không chịu xuất binh, nói rằng chỉ cần Thái hậu giao chính quyền về cho hoàng đế thì tự khắc bình yên. Thế là Võ Tắc Thiên xuất binh trấn áp Từ Kính Nghiệp, giết chết Bùi Viêm, lại sai người đến trong quân chém đầu Đại tướng Trình Vụ Đĩnh 程务挺, người đã nói giúp Bùi Viêm. 4 năm sau, Thứ sử Bác Châu 博州  Lang Da Vương Lí Xung 琅玡王李冲, người trong tôn thất cùng phụ thân là Thứ sử Tượng Châu 象州 Việt Vương Lí Trinh 越王李贞, khởi binh phản Võ, nhưng nhanh chóng bị thất bại.
              Đối mặt với sự khiêu chiến của Tôn thất, quý tộc cùng một bộ phận đại thần cả văn lẫn võ, Võ Tắc Thiên chọn biêbj pháp 2 mặt:
              - Một là nghiêm trị trấn áp phái phản đối.
              - Hai là ra sức đề bạt địa chủ thứ tộc làm quan, lôi kéo nhân tâm, bồi dưỡng một số quan lại trung với mình.
              Từ năm 660 Võ Tắc Thiên bắt đầu tham dự triều chính trở đi, bà từng bước mưu tính, muốn đoạt lấy hoàng vị. Đầu tiên, bà lợi dụng Phật giáo tạo ra dư luận đăng cơ. Đương thời, Hoà thượng Pháp Minh 法明 biên soạn bộ Đại Vân kinh sớ 大云经疏, tuyên dương Võ Tắc Thiên là Di Lặc Phật 弥勒佛 hoá thân, đáng được xưng đế. Vì thế, bà hạ lệnh các châu trong cả nước đều phải kiến lập Đại Vân tự 大云寺, cất giữ bộ Đại Vân kinh sớ 大云经疏 , đồng thời do cao tăng tuyên giảng cho quần chúng, lợi dụng mê tín tôn giáo tạo dư luận để bà đoạt lấy hoàng vị. Năm 669, Võ Tắc Thiên đổi quốc hiệu là Chu , hiệu “Thánh Thần Hoàng Đế” 圣神皇帝.
              Khi Võ Tắc Thiên chấp chính, bà tiếp tục thực hiện quốc sách cơ bản đầu thời Đường, kiên trì tập quyền trung ương, ủng hộ quốc gia thống nhất; ức chế một bộ phận sĩ tộc, giúp thứ tộc mới trổi dậy, phản đối áp bức dân tộc, bảo vệ biên phòng an toàn.
              Bà tương đối coi trọng sản xuất nông nghiệp, “khuyến khích nông tang, giảm nhẹ dao dịch”, đồng thời hạ lệnh khen thưởng nông tang, lấy đó làm chuẩn để khảo hạch chính tích của quan lại địa phương. Tu sửa thuỷ lợi là một tiêu chí của phát triển nông nghiệp. 4 năm yên ổn cai trị (năm 688), tại phía tây huyện Ba lợi dụng mở rộng kênh dẫn nước cũ, tưới cho hơn vạn mẫu ruộng. Tại Liên Thuỷ 涟水đào kênh Tân Kì 新奇, thông đến Hải Châu 海州, Nghi Châu 沂州, Mật Châu 密州.
              Về chính trị, Võ Tắc Thiên áp chế thân thích quý tộc và bộ phận sĩ tộc lớn tuổi, đề cao địa vị chính trị của địa chủ thứ tộc. Võ Tắc Thiên lên ngôi chẳng bao lâu, lệnh cho Hứa Kính Tông 许敬宗, Lí Nghĩa Phủ 李义府 sửa đổi Thị tộc chí 氏族志Tính thị lục 姓氏录, quy định phàm là tại triều Đường “quan ngũ phẩm đều thăng vào hàng sĩ lưu, thế là binh tốt những người lấy quân công đạt đến ngũ phẩm đông vô cùng” (Cựu Đường thư – Lí Nghĩa Phủ truyện 旧唐书 - 李义府传). Cách làm này chính là thứ tộc của chính quyền triều Đường đều được thăng vào hàng sĩ tộc, để áp chế địa vị của cựu sĩ tộc.
              Võ Tắc Thiên tiếp tục phát triển chế độ khoa cử, lôi kéo nhân tài. Triều Tuỳ và triều Đường sơ kì, thí sinh nộp quyển, không có chế độ “hồ danh” 糊名 (1), lúc chấm quyển dễ bị tệ nạn. Sau khi Võ Tắc Thiên nắm quyền, cải cách biện pháp quản lí quyển thi trong khoa cử, áp dụng chế độ hồ danh, khiến người chấm không thể biết họ tên của chủ nhân quyển thi đó, nhằm tránh tệ nạn, điều này có lợi cho việc tuyển chọn nhân tài.
              Về việc cải thiện mối quan hệ với các tộc ở biên giới, Võ Tắc Thiên cũng đã có sự cố gắng nhất định. Thời Đường Cao Tông, quý tộc Thổ Phồn 吐蕃 đã thôn tính Thổ Cốc Hồn 吐谷浑, công chiếm 4 trấn Tây An 西安của triều Đường. Võ Tắc Thiên một mặt phái binh thu phục 4 trấn, mặt khác tranh thủ khôi phục và hoà thân, ổn định biên giới.
              Võ Tắc Thiên tại vị 21 năm, thực tế nắm quyền hơn 40 năm. Bà tự cho mình công hơn cả Cao Tông, thậm chí lúc tuyển chọn nơi để dựng mộ bia cũng tranh cao thấp với chồng là Lí Trị, “nữ tả nam hữu”, “long tại hạ, phụng tại thượng”. Lúc vãn niên, bà dần đi đến chỗ xa xỉ chuyên đoán, triều chính hỗn loạn, chúng thì phản mà thân thì li. Đến năm 705, lúc Võ Tắc Thiên 82 tuổi, đại thần Trương Giản Chi 张柬之 phát động chính biến cung đình, cưỡng bức bà truyền đế vị cho Đường Trung Tông Lí Hiển 李显, khôi phục lại quốc hiệu, đặt cho bà tôn hiệu “Tắc Thiên Đại Thánh Hoàng Đế” 则天大圣皇帝. Tháng 11 năm đó, Võ Tắc Thiên bệnh và qua đời tại cung Thượng Dương 上阳

    Chú của người dịch
    1- Hồ danh 糊名: được sáng lập vào thời Võ Tắc Thiên mới lên ngôi. Trong khoa cử khảo thí, để được công bình, người ta đem họ tên thí sinh che lại rồi đổi quyển, gọi là “hồ danh pháp” 糊名法, nhưng đương thời chưa sử dụng phổ biến trong khoa cử khảo thí.
              Đời Tống, thường gọi là “di phong” 弥封, đem họ tên, quê quán, cùng sơ định thứ bậc ở quyển đầu của quyển thi phong lại, hoặc cắt đi để đề phòng người chấm theo ý riêng làm bậy.

                                                              Huỳnh Chương Hưng
                                                              Quy Nhơn 10/3/2019

    Nguồn
    TRUNG HOA THƯỢNG HẠ NGŨ THIÊN NIÊN
    中华上下五千年
    Chủ biên: Lí Tinh 李晶
    Nam Kinh đại học xuất bản xã, 2007

    Dịch thuật: Nhất đại nữ hoàng - Võ Tắc Thiên

    Đăng lúc  17:59  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    NHẤT ĐẠI NỮ HOÀNG – VÕ TẮC THIÊN

              Võ Tắc Thiên 武则天 (624 – 705), người huyện Văn Sơn Tây 山西. Phụ thân của bà vốn kinh doanh mua bán gỗ, cuối đời Tuỳ theo Lí Uyên 李渊khởi binh vào Trường An 长安, làm quan đến chức Công bộ Thượng thư. Năm Võ Tắc Thiên 14 tuổi, được Đường Thái Tông Lí Thế Dân 李世民 tuyển vào cung phong làm Tài Nhân 才人(xưng hiệu của phi tần), ban hiệu là “Võ Mị” 武媚. Thái Tông qua đời, theo chế độ, bà vô chùa Cảm Nghiệp 感业 ở Trường An làm ni. Chưa tới một năm, Cao Tông Lí Trị 李治lại nhìn thấy bà, triệu nhập cung, phong làm Chiêu Nghi 昭仪 (xưng hiệu của phi tần). Năm 655, Cao Tông phế Vương hoàng hậu làm thứ dân, lập Võ Chiêu Nghi làm hoàng hậu.
              Võ Tắc Thiên bản tính thông minh, rất có tài về chính trị. Bà không thoả mãn an hưởng vinh hoa, làm hoàng hậu chẳng bao lâu, liền bắt đầu tham dự triều
    Chính. Đương thời, Cao Tông thường bệnh, bách quan tấu sự, đa phần sai bà xử lí. Võ Tắc Thiên đề xuất các kiến nghị bao gồm giảm nhẹ phú thuế, đề bạt quan lại có địa vị thấp cùng thay đổi tác phong hành chính và đề xướng 12 điều hiếu đạo, biểu hiện một tài năng chính trị phi phàm.
              Sau khi Cao Tông qua đời, Võ hậu đích thân chấp chính. Đương thời, Từ Kính Nghiệp 徐敬业 nhân đắc tội bị biếm quan, cùng với Đường Chi Kì 唐之奇, Nguỵ Tư Ôn 魏思温 cũng bị biếm quan, lấy chiêu bài “khuông phục Lư Lăng Vương” 复庐陵王 phản đối Võ Tắc Thiên, đã khởi binh tại Giang Đô 江都. Đại thần triều đình Bùi Viêm 裴炎 không chịu xuất binh, nói rằng chỉ cần Thái hậu giao chính quyền về cho hoàng đế thì tự khắc bình yên. Thế là Võ Tắc Thiên xuất binh trấn áp Từ Kính Nghiệp, giết chết Bùi Viêm, lại sai người đến trong quân chém đầu Đại tướng Trình Vụ Đĩnh 程务挺, người đã nói giúp Bùi Viêm. 4 năm sau, Thứ sử Bác Châu 博州  Lang Da Vương Lí Xung 琅玡王李冲, người trong tôn thất cùng phụ thân là Thứ sử Tượng Châu 象州 Việt Vương Lí Trinh 越王李贞, khởi binh phản Võ, nhưng nhanh chóng bị thất bại.
              Đối mặt với sự khiêu chiến của Tôn thất, quý tộc cùng một bộ phận đại thần cả văn lẫn võ, Võ Tắc Thiên chọn biêbj pháp 2 mặt:
              - Một là nghiêm trị trấn áp phái phản đối.
              - Hai là ra sức đề bạt địa chủ thứ tộc làm quan, lôi kéo nhân tâm, bồi dưỡng một số quan lại trung với mình.
              Từ năm 660 Võ Tắc Thiên bắt đầu tham dự triều chính trở đi, bà từng bước mưu tính, muốn đoạt lấy hoàng vị. Đầu tiên, bà lợi dụng Phật giáo tạo ra dư luận đăng cơ. Đương thời, Hoà thượng Pháp Minh 法明 biên soạn bộ Đại Vân kinh sớ 大云经疏, tuyên dương Võ Tắc Thiên là Di Lặc Phật 弥勒佛 hoá thân, đáng được xưng đế. Vì thế, bà hạ lệnh các châu trong cả nước đều phải kiến lập Đại Vân tự 大云寺, cất giữ bộ Đại Vân kinh sớ 大云经疏 , đồng thời do cao tăng tuyên giảng cho quần chúng, lợi dụng mê tín tôn giáo tạo dư luận để bà đoạt lấy hoàng vị. Năm 669, Võ Tắc Thiên đổi quốc hiệu là Chu , hiệu “Thánh Thần Hoàng Đế” 圣神皇帝.
              Khi Võ Tắc Thiên chấp chính, bà tiếp tục thực hiện quốc sách cơ bản đầu thời Đường, kiên trì tập quyền trung ương, ủng hộ quốc gia thống nhất; ức chế một bộ phận sĩ tộc, giúp thứ tộc mới trổi dậy, phản đối áp bức dân tộc, bảo vệ biên phòng an toàn.
              Bà tương đối coi trọng sản xuất nông nghiệp, “khuyến khích nông tang, giảm nhẹ dao dịch”, đồng thời hạ lệnh khen thưởng nông tang, lấy đó làm chuẩn để khảo hạch chính tích của quan lại địa phương. Tu sửa thuỷ lợi là một tiêu chí của phát triển nông nghiệp. 4 năm yên ổn cai trị (năm 688), tại phía tây huyện Ba lợi dụng mở rộng kênh dẫn nước cũ, tưới cho hơn vạn mẫu ruộng. Tại Liên Thuỷ 涟水đào kênh Tân Kì 新奇, thông đến Hải Châu 海州, Nghi Châu 沂州, Mật Châu 密州.
              Về chính trị, Võ Tắc Thiên áp chế thân thích quý tộc và bộ phận sĩ tộc lớn tuổi, đề cao địa vị chính trị của địa chủ thứ tộc. Võ Tắc Thiên lên ngôi chẳng bao lâu, lệnh cho Hứa Kính Tông 许敬宗, Lí Nghĩa Phủ 李义府 sửa đổi Thị tộc chí 氏族志Tính thị lục 姓氏录, quy định phàm là tại triều Đường “quan ngũ phẩm đều thăng vào hàng sĩ lưu, thế là binh tốt những người lấy quân công đạt đến ngũ phẩm đông vô cùng” (Cựu Đường thư – Lí Nghĩa Phủ truyện 旧唐书 - 李义府传). Cách làm này chính là thứ tộc của chính quyền triều Đường đều được thăng vào hàng sĩ tộc, để áp chế địa vị của cựu sĩ tộc.
              Võ Tắc Thiên tiếp tục phát triển chế độ khoa cử, lôi kéo nhân tài. Triều Tuỳ và triều Đường sơ kì, thí sinh nộp quyển, không có chế độ “hồ danh” 糊名 (1), lúc chấm quyển dễ bị tệ nạn. Sau khi Võ Tắc Thiên nắm quyền, cải cách biện pháp quản lí quyển thi trong khoa cử, áp dụng chế độ hồ danh, khiến người chấm không thể biết họ tên của chủ nhân quyển thi đó, nhằm tránh tệ nạn, điều này có lợi cho việc tuyển chọn nhân tài.
              Về việc cải thiện mối quan hệ với các tộc ở biên giới, Võ Tắc Thiên cũng đã có sự cố gắng nhất định. Thời Đường Cao Tông, quý tộc Thổ Phồn 吐蕃 đã thôn tính Thổ Cốc Hồn 吐谷浑, công chiếm 4 trấn Tây An 西安của triều Đường. Võ Tắc Thiên một mặt phái binh thu phục 4 trấn, mặt khác tranh thủ khôi phục và hoà thân, ổn định biên giới.
              Võ Tắc Thiên tại vị 21 năm, thực tế nắm quyền hơn 40 năm. Bà tự cho mình công hơn cả Cao Tông, thậm chí lúc tuyển chọn nơi để dựng mộ bia cũng tranh cao thấp với chồng là Lí Trị, “nữ tả nam hữu”, “long tại hạ, phụng tại thượng”. Lúc vãn niên, bà dần đi đến chỗ xa xỉ chuyên đoán, triều chính hỗn loạn, chúng thì phản mà thân thì li. Đến năm 705, lúc Võ Tắc Thiên 82 tuổi, đại thần Trương Giản Chi 张柬之 phát động chính biến cung đình, cưỡng bức bà truyền đế vị cho Đường Trung Tông Lí Hiển 李显, khôi phục lại quốc hiệu, đặt cho bà tôn hiệu “Tắc Thiên Đại Thánh Hoàng Đế” 则天大圣皇帝. Tháng 11 năm đó, Võ Tắc Thiên bệnh và qua đời tại cung Thượng Dương 上阳

    Chú của người dịch
    1- Hồ danh 糊名: được sáng lập vào thời Võ Tắc Thiên mới lên ngôi. Trong khoa cử khảo thí, để được công bình, người ta đem họ tên thí sinh che lại rồi đổi quyển, gọi là “hồ danh pháp” 糊名法, nhưng đương thời chưa sử dụng phổ biến trong khoa cử khảo thí.
              Đời Tống, thường gọi là “di phong” 弥封, đem họ tên, quê quán, cùng sơ định thứ bậc ở quyển đầu của quyển thi phong lại, hoặc cắt đi để đề phòng người chấm theo ý riêng làm bậy.

                                                              Huỳnh Chương Hưng
                                                              Quy Nhơn 10/3/2019

    Nguồn
    TRUNG HOA THƯỢNG HẠ NGŨ THIÊN NIÊN
    中华上下五千年
    Chủ biên: Lí Tinh 李晶
    Nam Kinh đại học xuất bản xã, 2007

    Mã nguồn bởi Huỳnh Chương Hưng
    Copyright © 2012 Huỳnh Chương Hưng.
    back to top