• Thứ Bảy, 20 tháng 4, 2019

    HOẠN QUAN Y LỆ MƯU HẠI THÁI TỬ NƯỚC TỐNG

              Năm 547 trước công nguyên (Tống Bình Công 宋平公 năm thứ 29), trước năm này, Đại phu nước Tống là Nhuế Tư Đồ 芮司徒  sinh được một cô con gái, nhân vì toàn thân có màu đỏ, lại mọc lông, nên đã đem vứt bỏ dưới chân đê. Phu nhân của Tống Cung Công 宋共公 liền nhặt đưa về, đặt tên là “Khí” (vứt bỏ). Không ngờ, sau khi trưởng thành, Khí vô cùng xinh đẹp. Tống Bình Công (1) nhìn thấy liên thu nạp làm cơ thiếp. Được sự sủng ái, Khí sinh ra một người con trai, đặt tên là Tá . Tướng mạo của Tá xấu xí, nhưng tính tình lại rất ôn thuận. Ngược lại, thái tử Toạ 痤 tướng mạo đẹp đẽ, nhưng tính tình lại rất ác độc, đến nỗi Tả sư Hướng Nhung 向戎 không thích. Một hoạn quan của thái tử Toạ tên là Y Lệ 伊戾, không được thái tử sủng tín. Mùa thu năm đó, sứ giả nước Sở đến thăm nước Tấn, trên đường đi ngang qua nước Tống. Thái tử Toạ muốn có mối quan hệ với nước Sở, quyết định mời dùng bữa cơm ngoài trời. Y Lệ xin được đi cùng, Bình Công bảo rằng:
              - Chẳng phải thái tử không thích nhà ngươi sao?
              Y Lệ đáp rằng:
              - Tiểu nhân hầu hạ quân tử, có bị chán ghét cũng không dám rời xa, có được ưa thích cũng không dám dựa kề, chỉ có thể cung kính phục vụ mệnh lệnh, thần sao dám hai lòng được?
              Nhưng, Y Lệ theo thái tử đi chẳng bao lâu, liền chạy đến chỗ Bình Công báo rằng:
              - Thái tử chuẩn bị làm loạn, đang cùng với người nước Sở đính lập minh ước.
              Bình Công hỏi:
              - Nó ta đã là thái tử lại còn muốn gì nữa?
              Y Lệ đáp rằng:
              - Ông ta muốn nhanh chóng lên ngôi quốc quân.
              Tống Bình Công sai người đến hiện trường xem thử, quả nhiên phát hiện có một số đồ vật dùng trong lúc minh thệ. Kì thực, những đồ này đều là do Y Lệ đặt trước. Bình Công hỏi Khí và Hướng Nhung, họ đều chứng thực lời báo cáo của Y Lệ. Bình Công bèn bắt nhốt thái tử Toạ. Thái tử nói rằng:
              - Chỉ có Tá ra mặt làm chứng ta mới có thể miễn tội chết.
    Liền sai người đi mời người anh em là Tá, đồng thời nói rằng:
              - Nếu như đến giữa trưa mà Tá chưa đến, ta biết là mình chết chắc.
              Hướng Nhung nghe được liền đi tìm cách trò chuyện với Tá, nói chuyện lôi thôi dài dòng mãi không chịu dứt. Nhìn thấy đã qua buổi trưa, Tá vẫn chưa đến, thái tử cho rằng Tá không muốn làm chứng, bèn tự sát.

    Chú của người dịch:
    1- Tống Bình Công là con của Tống Cung Công.

                                                                    Huỳnh Chương Hưng
                                                                    Quy Nhơn 20/4/2019

    Nguyên tác Trung văn
    HOẠN QUAN Y LỆ MƯU HẠI TỐNG QUỐC THÁI TỬ
    宦官伊戾谋害宋国太子
    Trong quyển
    ĐỒ VĂN TRUNG QUỐC THÔNG SỬ
    图文中国通史
    (tập Sử tiền sử - Chiến quốc)
    Chủ biên: Triệu Hướng Tiêu 赵向标
    Tân Cương nhân dân xuất bản xã, 2002.

    Dịch thuật: Hoạn quan Y Lệ mưu hại thái tử nước Tống

    Đăng lúc  23:11  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    HOẠN QUAN Y LỆ MƯU HẠI THÁI TỬ NƯỚC TỐNG

              Năm 547 trước công nguyên (Tống Bình Công 宋平公 năm thứ 29), trước năm này, Đại phu nước Tống là Nhuế Tư Đồ 芮司徒  sinh được một cô con gái, nhân vì toàn thân có màu đỏ, lại mọc lông, nên đã đem vứt bỏ dưới chân đê. Phu nhân của Tống Cung Công 宋共公 liền nhặt đưa về, đặt tên là “Khí” (vứt bỏ). Không ngờ, sau khi trưởng thành, Khí vô cùng xinh đẹp. Tống Bình Công (1) nhìn thấy liên thu nạp làm cơ thiếp. Được sự sủng ái, Khí sinh ra một người con trai, đặt tên là Tá . Tướng mạo của Tá xấu xí, nhưng tính tình lại rất ôn thuận. Ngược lại, thái tử Toạ 痤 tướng mạo đẹp đẽ, nhưng tính tình lại rất ác độc, đến nỗi Tả sư Hướng Nhung 向戎 không thích. Một hoạn quan của thái tử Toạ tên là Y Lệ 伊戾, không được thái tử sủng tín. Mùa thu năm đó, sứ giả nước Sở đến thăm nước Tấn, trên đường đi ngang qua nước Tống. Thái tử Toạ muốn có mối quan hệ với nước Sở, quyết định mời dùng bữa cơm ngoài trời. Y Lệ xin được đi cùng, Bình Công bảo rằng:
              - Chẳng phải thái tử không thích nhà ngươi sao?
              Y Lệ đáp rằng:
              - Tiểu nhân hầu hạ quân tử, có bị chán ghét cũng không dám rời xa, có được ưa thích cũng không dám dựa kề, chỉ có thể cung kính phục vụ mệnh lệnh, thần sao dám hai lòng được?
              Nhưng, Y Lệ theo thái tử đi chẳng bao lâu, liền chạy đến chỗ Bình Công báo rằng:
              - Thái tử chuẩn bị làm loạn, đang cùng với người nước Sở đính lập minh ước.
              Bình Công hỏi:
              - Nó ta đã là thái tử lại còn muốn gì nữa?
              Y Lệ đáp rằng:
              - Ông ta muốn nhanh chóng lên ngôi quốc quân.
              Tống Bình Công sai người đến hiện trường xem thử, quả nhiên phát hiện có một số đồ vật dùng trong lúc minh thệ. Kì thực, những đồ này đều là do Y Lệ đặt trước. Bình Công hỏi Khí và Hướng Nhung, họ đều chứng thực lời báo cáo của Y Lệ. Bình Công bèn bắt nhốt thái tử Toạ. Thái tử nói rằng:
              - Chỉ có Tá ra mặt làm chứng ta mới có thể miễn tội chết.
    Liền sai người đi mời người anh em là Tá, đồng thời nói rằng:
              - Nếu như đến giữa trưa mà Tá chưa đến, ta biết là mình chết chắc.
              Hướng Nhung nghe được liền đi tìm cách trò chuyện với Tá, nói chuyện lôi thôi dài dòng mãi không chịu dứt. Nhìn thấy đã qua buổi trưa, Tá vẫn chưa đến, thái tử cho rằng Tá không muốn làm chứng, bèn tự sát.

    Chú của người dịch:
    1- Tống Bình Công là con của Tống Cung Công.

                                                                    Huỳnh Chương Hưng
                                                                    Quy Nhơn 20/4/2019

    Nguyên tác Trung văn
    HOẠN QUAN Y LỆ MƯU HẠI TỐNG QUỐC THÁI TỬ
    宦官伊戾谋害宋国太子
    Trong quyển
    ĐỒ VĂN TRUNG QUỐC THÔNG SỬ
    图文中国通史
    (tập Sử tiền sử - Chiến quốc)
    Chủ biên: Triệu Hướng Tiêu 赵向标
    Tân Cương nhân dân xuất bản xã, 2002.

    Thứ Sáu, 19 tháng 4, 2019

    TẠI SAO NGƯỜI XƯA GỌI TRƯỞNG QUAN ĐỊA PHƯƠNG LÀ 
    “PHỤ MẪU QUAN”

              “Phụ mẫu quan” 父母官 (quan phụ mẫu) là từ tôn xưng của bách tính đối với châu quan, huyện quan vào thời cổ. Thế thì, do đâu mà mọi người gọi quan của địa phương là “phụ mẫu quan”?
              Theo ghi chép trong Hán thư 汉书, thời Hán Nguyên Đế 汉元帝có một vị đại thần tên Thiệu Tín Thần 召信臣, đảm nhiệm chức Thái thú ở Nam Dương 南阳. Thời gian cai trị, ông yêu dân như con, tạo phúc cả một vùng; còn làm thuỷ lợi, xây dựng những công trình thực tế có lợi cho dân. Thiệu Tín Thần thường xuyên xuống ruộng đích thân hướng dẫn dân canh tác. Làm việc mệt nhọc, ông với dân cùng ăn cùng ngủ. Do bởi nước tưới kịp thời, canh tác hợp lí, nên thu nhập của nông dân hàng năm tăng lên. Đồng thời với việc hướng dẫn dân nỗ lực sản xuất, Thiệu Tín Thần còn đặc biệt chú trọng đến việc giáo hoá. Ông chế định ra không ít những quy định thay đổi phong tục, ví dụ như: yêu cầu người dân địa phương trong hôn tang giá thú không được phô trương lãng phí; quan lại cùng con em nếu có người kiêu xa dâm dật, phải bị bãi quan và chịu hình phạt.
              Dưới sự trị lí của Thiệu Tín Thần, quận Nam Dương an lạc hoà mục, phong tục tiết kiệm thịnh hành, địa phương giàu có. Bách tính các nơi khác nghe nói, đều dời đến ở. Người dân địa phương vô cùng kính yêu vị Thái thú này, thế là gọi ông ta là “Thiệu phụ” 召父. Nơi phía nam thành ở huyện Đường Hà 唐河đến nam vẫn bảo lưu được di chỉ “Thiệu phụ cừ” 召父渠 (mương nước Thiệu phụ).
              Không chỉ có một, đến thời Quang Vũ Đế 光武帝 triều Đông Hán, bách tính Nam Dương lại được gặp một vị Thái thú tốt, tên ông ta là Đỗ Thi 杜诗. Tương truyền Đỗ Thi đem lại điều lợi cho dân nhiều hơn Thiệu Tín Thần. Thế là người dân Nam Dương trước có cách nói “tiền hữu Thiệu phụ, hậu hữu Đỗ mẫu” 前有召父, 后有杜母 (trước có  Thiệu phụ, sau có Đỗ mẫu).
              Về sau, bách tính cũng thường gọi một cách thân thiết những quan viên cần chính liêm khiết là “phụ mẫu quan”. Và về sau nữa, bất luận chính tích của quan viên như thế nào, họ cũng đều được tôn trọng. Cho nên, để đề cao quan viên, mọi người bèn gọi chung quan địa phương là “phụ mẫu quan”. Đương nhiên, cách gọi này cũng hi vọng ở họ cũng có thành phần giống như “Thiệu phụ Đỗ mẫu” biết mưu cầu phúc lợi cho dân.

                                                                   Huỳnh Chương Hưng
                                                                   Quy Nhơn 19/4/2019

    Nguyên tác Trung văn
    Trong quyển
    THÚ VỊ VĂN HOÁ TRI THỨC ĐẠI TOÀN
    趣味文化知识大全
    Thanh Thạch 青石 biên soạn
    Trung Quốc Hoa kiều xuất bản xã, 2013

    Dịch thuật: Tại sao người xưa gọi trưởng quan địa phương là "phụ mẫu quan"

    Đăng lúc  21:41  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    TẠI SAO NGƯỜI XƯA GỌI TRƯỞNG QUAN ĐỊA PHƯƠNG LÀ 
    “PHỤ MẪU QUAN”

              “Phụ mẫu quan” 父母官 (quan phụ mẫu) là từ tôn xưng của bách tính đối với châu quan, huyện quan vào thời cổ. Thế thì, do đâu mà mọi người gọi quan của địa phương là “phụ mẫu quan”?
              Theo ghi chép trong Hán thư 汉书, thời Hán Nguyên Đế 汉元帝có một vị đại thần tên Thiệu Tín Thần 召信臣, đảm nhiệm chức Thái thú ở Nam Dương 南阳. Thời gian cai trị, ông yêu dân như con, tạo phúc cả một vùng; còn làm thuỷ lợi, xây dựng những công trình thực tế có lợi cho dân. Thiệu Tín Thần thường xuyên xuống ruộng đích thân hướng dẫn dân canh tác. Làm việc mệt nhọc, ông với dân cùng ăn cùng ngủ. Do bởi nước tưới kịp thời, canh tác hợp lí, nên thu nhập của nông dân hàng năm tăng lên. Đồng thời với việc hướng dẫn dân nỗ lực sản xuất, Thiệu Tín Thần còn đặc biệt chú trọng đến việc giáo hoá. Ông chế định ra không ít những quy định thay đổi phong tục, ví dụ như: yêu cầu người dân địa phương trong hôn tang giá thú không được phô trương lãng phí; quan lại cùng con em nếu có người kiêu xa dâm dật, phải bị bãi quan và chịu hình phạt.
              Dưới sự trị lí của Thiệu Tín Thần, quận Nam Dương an lạc hoà mục, phong tục tiết kiệm thịnh hành, địa phương giàu có. Bách tính các nơi khác nghe nói, đều dời đến ở. Người dân địa phương vô cùng kính yêu vị Thái thú này, thế là gọi ông ta là “Thiệu phụ” 召父. Nơi phía nam thành ở huyện Đường Hà 唐河đến nam vẫn bảo lưu được di chỉ “Thiệu phụ cừ” 召父渠 (mương nước Thiệu phụ).
              Không chỉ có một, đến thời Quang Vũ Đế 光武帝 triều Đông Hán, bách tính Nam Dương lại được gặp một vị Thái thú tốt, tên ông ta là Đỗ Thi 杜诗. Tương truyền Đỗ Thi đem lại điều lợi cho dân nhiều hơn Thiệu Tín Thần. Thế là người dân Nam Dương trước có cách nói “tiền hữu Thiệu phụ, hậu hữu Đỗ mẫu” 前有召父, 后有杜母 (trước có  Thiệu phụ, sau có Đỗ mẫu).
              Về sau, bách tính cũng thường gọi một cách thân thiết những quan viên cần chính liêm khiết là “phụ mẫu quan”. Và về sau nữa, bất luận chính tích của quan viên như thế nào, họ cũng đều được tôn trọng. Cho nên, để đề cao quan viên, mọi người bèn gọi chung quan địa phương là “phụ mẫu quan”. Đương nhiên, cách gọi này cũng hi vọng ở họ cũng có thành phần giống như “Thiệu phụ Đỗ mẫu” biết mưu cầu phúc lợi cho dân.

                                                                   Huỳnh Chương Hưng
                                                                   Quy Nhơn 19/4/2019

    Nguyên tác Trung văn
    Trong quyển
    THÚ VỊ VĂN HOÁ TRI THỨC ĐẠI TOÀN
    趣味文化知识大全
    Thanh Thạch 青石 biên soạn
    Trung Quốc Hoa kiều xuất bản xã, 2013

    Thứ Năm, 18 tháng 4, 2019

    NHẤT NGÔN CỬU ĐỈNH
    一言九鼎

    Giải thích: cửu đỉnh: 9 cái đỉnh, báu vật truyền quốc tượng trưng cho chính quyền quốc gia. Chỉ một câu nói mà có sức nặng như 9 cái đỉnh, hình dung lời nói cực kì có sức mạnh, có tác dụng mang tính quyết định.
    Xuất xứ: Hán . Tư Mã Thiên 司马迁: Sử Kí – Bình Nguyên Quân Ngu Khanh liệt truyện 史记 - 平原君虞卿列传.

              Tần Chiêu Vương 秦昭王năm thứ 15, quân Tần tấn công đô thành Hàm Đan 邯郸 của nước Triệu, nước Triệu phái Bình Nguyên Quân 平原君 đến nước Sở thỉnh cầu viện trợ. Sở Vương không đáp ứng. Cuối cùng, môn khách Mao Toại 毛遂 - một thủ hạ của Bình Nguyên Quân trước giờ bị xem thường, tự nguyện rút kiếm bước lên điện, phân tích thời cuộc cho Sở Vương nghe, nói rõ lợi hại, cuối cùng thuyết phục được Sở Vương. Mao Toại nhân đó lập được đại công.
              Bình Nguyên Quân khen ngợi Mao Toại rằng:
              - Mao tiên sinh nhất chí Sở, nhi sử Triệu quốc trọng vu cửu đỉnh Đại Lữ. Mao tiên sinh tam thốn chi thiệt, cường vu bách vạn chi sư.
              毛先生一至楚, 而使赵国重于九鼎大吕. 毛先生三寸之舌, 强于百万之师.
              Ý của câu này là:
    Tiên sinh vừa đến nước Sở, đã khiến cho địa vị nước Triệu của chúng ta được nâng cao, trọng yếu như cửu đỉnh Đại Lữ (1). Ba tấc lưỡi của tiên sinh còn mạnh hơn đội quân trăm vạn người.

    Chú của người dịch:
    1- Cửu đỉnh Đại Lữ 九鼎大吕:
              Cửu đỉnh: tương truyền Hạ Vũ đúc 9 đỉnh tượng trưng cho 9 châu. 9 đỉnh này là báu vật truyền quốc của 3 đời Hạ, Thương, Chu.
              Đại Lữ: tên một chiếc chuông cổ trong Chu miếu.

                                                          Huỳnh Chương Hưng
                                                Quy Nhơn 18/4/2019

    Nguyên tác Trung văn
    NHẤT NGÔN CỬU ĐỈNH
    一言九鼎
    TRUNG QUỐC THÀNH NGỮ CỐ SỰ TỔNG TẬP
    中国成语故事总集
    (tập 1)
    Chủ biên: Đường Kì 唐麒
    Trường Xuân – Thời đại văn nghệ xuất bản xã, 2004

    Dịch thuật: Nhất ngôn cửu đỉnh (thành ngữ)

    Đăng lúc  21:49  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    NHẤT NGÔN CỬU ĐỈNH
    一言九鼎

    Giải thích: cửu đỉnh: 9 cái đỉnh, báu vật truyền quốc tượng trưng cho chính quyền quốc gia. Chỉ một câu nói mà có sức nặng như 9 cái đỉnh, hình dung lời nói cực kì có sức mạnh, có tác dụng mang tính quyết định.
    Xuất xứ: Hán . Tư Mã Thiên 司马迁: Sử Kí – Bình Nguyên Quân Ngu Khanh liệt truyện 史记 - 平原君虞卿列传.

              Tần Chiêu Vương 秦昭王năm thứ 15, quân Tần tấn công đô thành Hàm Đan 邯郸 của nước Triệu, nước Triệu phái Bình Nguyên Quân 平原君 đến nước Sở thỉnh cầu viện trợ. Sở Vương không đáp ứng. Cuối cùng, môn khách Mao Toại 毛遂 - một thủ hạ của Bình Nguyên Quân trước giờ bị xem thường, tự nguyện rút kiếm bước lên điện, phân tích thời cuộc cho Sở Vương nghe, nói rõ lợi hại, cuối cùng thuyết phục được Sở Vương. Mao Toại nhân đó lập được đại công.
              Bình Nguyên Quân khen ngợi Mao Toại rằng:
              - Mao tiên sinh nhất chí Sở, nhi sử Triệu quốc trọng vu cửu đỉnh Đại Lữ. Mao tiên sinh tam thốn chi thiệt, cường vu bách vạn chi sư.
              毛先生一至楚, 而使赵国重于九鼎大吕. 毛先生三寸之舌, 强于百万之师.
              Ý của câu này là:
    Tiên sinh vừa đến nước Sở, đã khiến cho địa vị nước Triệu của chúng ta được nâng cao, trọng yếu như cửu đỉnh Đại Lữ (1). Ba tấc lưỡi của tiên sinh còn mạnh hơn đội quân trăm vạn người.

    Chú của người dịch:
    1- Cửu đỉnh Đại Lữ 九鼎大吕:
              Cửu đỉnh: tương truyền Hạ Vũ đúc 9 đỉnh tượng trưng cho 9 châu. 9 đỉnh này là báu vật truyền quốc của 3 đời Hạ, Thương, Chu.
              Đại Lữ: tên một chiếc chuông cổ trong Chu miếu.

                                                          Huỳnh Chương Hưng
                                                Quy Nhơn 18/4/2019

    Nguyên tác Trung văn
    NHẤT NGÔN CỬU ĐỈNH
    一言九鼎
    TRUNG QUỐC THÀNH NGỮ CỐ SỰ TỔNG TẬP
    中国成语故事总集
    (tập 1)
    Chủ biên: Đường Kì 唐麒
    Trường Xuân – Thời đại văn nghệ xuất bản xã, 2004

    Thứ Tư, 17 tháng 4, 2019

    “Á THÁNH” MẠNH TỬ

              Mạnh Tử tên Kha , tự Tử Dư 子舆, là người nước Trâu thời Chiến Quốc, học trò của Tử Tư 子思, đệ tử tái truyền của Khổng Tử 孔子. Lúc nhỏ phụ thân đã qua đời, Mạnh Tử dựa vào sự nuôi dưỡng của mẫu thân hiền thục. Về mẫu thân của Mạnh Tử, lưu truyền giai thoại “Mạnh mẫu tam thiên” 孟母三迁 (ba lần dời chỗ ở) và “đoạn cơ giáo tử” 断机教子 (cắt vải đang dệt để dạy con).
              Mạnh Tử đi học chẳng bao lâu, một ngày nọ, mẫu thân hỏi ông:
              - Hôm nay con ở trường học được những gì?
              - Con không biết.
              Mạnh Tử trả lời không được, nhưng trên mặt chẳng có chút xấu hổ nào. Mạnh mẫu giận cầm dao cắt đứt tấm vải đang dệt trên khung cửi. Mạnh Tử kinh ngạc nói rằng:
              - Mẹ, sao lại cắt đứt tấm vải.
              Mạnh mẫu giận nói rằng:
              - Một người nếu không chịu nghiên cứu học hỏi thì cũng giống như tấm vải này, không có cách nào dệt tiếp tục để thành loại hữu dụng. Con đi học, mà lại không chịu đọc sách, thế thì đi học có ích gì?
              Từ lúc được mẫu thân giáo huấn, Mạnh Tử bắt đầu nỗ lực đọc sách, cuối cùng trở thành một đại học giả.
              Về sau, Mạnh Tử đi chu du các nước, tuyên dương chủ trương chính trị “nhân chính” 仁政 “vương đạo” 王道 của Nho gia, không tán thành chiến tranh, hi vọng quốc quân các nước dùng tinh thần “nhân nghĩa” của Nho gia để trị lí đất nước. Đáng tiếc, cuối triều Chu, các nước tranh cường công kích lẫn nhau, người mà chư hầu cần là người hiểu được quyền mưu, có thể mở rộng đất nước cho họ để xưng bá thiên hạ. Nhân đó quốc quân các nước đều cho rằng lí luận của Mạnh Tử không thực tế, nên lần lượt cự tuyệt ông. Tề Vương 齐王 nói rằng:
              - Xin lỗi, hiện tại ta cần người có thể giúp ta đánh thắng trận.
              Lương Huệ Vương 梁惠王 cũng nói với Mạnh Tử:
              - Thực hành nhân chính ư? Không phải là điều mà ta hiện muốn!
              Mạnh Tử đi đến nước Tề, nước Lương đều không thể có được cơ hội giúp quốc quân, ông thất vọng nghĩ rằng:
    Ôi! Đương lúc khắp nơi đánh nhau, muốn thực hiện lí tưởng của mình, e là không thể rồi, chi bằng quay trở về.
              Thế là, Mạnh Tử về lại nước Trâu, cùng các đệ tử Công Tôn Sửu 公孙丑, Vạn Chương 万章 giảng nghĩa luận đạo, hoằng dương tư tưởng nhân nghĩa của Nho gia, đồng thời hoàn thành 7 thiên luận thuật. Người đời sau kính trọng nhân cách  và học vấn của Mạnh Tử, tôn xưng ông là “Á Thánh” 亚圣.

                                                             Huỳnh Chương Hưng
                                                             Quy Nhơn 17/4/2019

    Nguyên tác Trung văn
     “Á THÁNH” MẠNH TỬ
    亚圣孟子
    Trong quyển
    BÁCH GIA TÍNH
    百家姓
    Biên soạn: Triệu Dương 赵阳
    Cát Lâm Đại học xuất bản xã, 2005 

    Dịch thuật: "Á Thánh" Mạnh Tử

    Đăng lúc  21:43  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    “Á THÁNH” MẠNH TỬ

              Mạnh Tử tên Kha , tự Tử Dư 子舆, là người nước Trâu thời Chiến Quốc, học trò của Tử Tư 子思, đệ tử tái truyền của Khổng Tử 孔子. Lúc nhỏ phụ thân đã qua đời, Mạnh Tử dựa vào sự nuôi dưỡng của mẫu thân hiền thục. Về mẫu thân của Mạnh Tử, lưu truyền giai thoại “Mạnh mẫu tam thiên” 孟母三迁 (ba lần dời chỗ ở) và “đoạn cơ giáo tử” 断机教子 (cắt vải đang dệt để dạy con).
              Mạnh Tử đi học chẳng bao lâu, một ngày nọ, mẫu thân hỏi ông:
              - Hôm nay con ở trường học được những gì?
              - Con không biết.
              Mạnh Tử trả lời không được, nhưng trên mặt chẳng có chút xấu hổ nào. Mạnh mẫu giận cầm dao cắt đứt tấm vải đang dệt trên khung cửi. Mạnh Tử kinh ngạc nói rằng:
              - Mẹ, sao lại cắt đứt tấm vải.
              Mạnh mẫu giận nói rằng:
              - Một người nếu không chịu nghiên cứu học hỏi thì cũng giống như tấm vải này, không có cách nào dệt tiếp tục để thành loại hữu dụng. Con đi học, mà lại không chịu đọc sách, thế thì đi học có ích gì?
              Từ lúc được mẫu thân giáo huấn, Mạnh Tử bắt đầu nỗ lực đọc sách, cuối cùng trở thành một đại học giả.
              Về sau, Mạnh Tử đi chu du các nước, tuyên dương chủ trương chính trị “nhân chính” 仁政 “vương đạo” 王道 của Nho gia, không tán thành chiến tranh, hi vọng quốc quân các nước dùng tinh thần “nhân nghĩa” của Nho gia để trị lí đất nước. Đáng tiếc, cuối triều Chu, các nước tranh cường công kích lẫn nhau, người mà chư hầu cần là người hiểu được quyền mưu, có thể mở rộng đất nước cho họ để xưng bá thiên hạ. Nhân đó quốc quân các nước đều cho rằng lí luận của Mạnh Tử không thực tế, nên lần lượt cự tuyệt ông. Tề Vương 齐王 nói rằng:
              - Xin lỗi, hiện tại ta cần người có thể giúp ta đánh thắng trận.
              Lương Huệ Vương 梁惠王 cũng nói với Mạnh Tử:
              - Thực hành nhân chính ư? Không phải là điều mà ta hiện muốn!
              Mạnh Tử đi đến nước Tề, nước Lương đều không thể có được cơ hội giúp quốc quân, ông thất vọng nghĩ rằng:
    Ôi! Đương lúc khắp nơi đánh nhau, muốn thực hiện lí tưởng của mình, e là không thể rồi, chi bằng quay trở về.
              Thế là, Mạnh Tử về lại nước Trâu, cùng các đệ tử Công Tôn Sửu 公孙丑, Vạn Chương 万章 giảng nghĩa luận đạo, hoằng dương tư tưởng nhân nghĩa của Nho gia, đồng thời hoàn thành 7 thiên luận thuật. Người đời sau kính trọng nhân cách  và học vấn của Mạnh Tử, tôn xưng ông là “Á Thánh” 亚圣.

                                                             Huỳnh Chương Hưng
                                                             Quy Nhơn 17/4/2019

    Nguyên tác Trung văn
     “Á THÁNH” MẠNH TỬ
    亚圣孟子
    Trong quyển
    BÁCH GIA TÍNH
    百家姓
    Biên soạn: Triệu Dương 赵阳
    Cát Lâm Đại học xuất bản xã, 2005 

    Thứ Ba, 16 tháng 4, 2019

    NGUỒN GỐC HỌ MẠNH

    Về nguồn gốc họ (tính) Mạnh  chủ yếu xuất phát từ tính Cơ :
              Công tộc nước Lỗ thời Xuân Thu là con cháu tính Cơ của Chu Văn Vương 周文王, thuỷ tổ mang họ Mạnh là Khánh Phủ Cung Trọng 庆父共仲 (1), con thứ của Lỗ Hoàn Công 鲁桓公.
    Khánh Phủ 庆父phẩm hạnh cực xấu. Trong số các con thứ của Lỗ Hoàn Công, ông là lớn nhất. Để tránh tội thí quân của Khánh Phủ, đồng thời trong thứ tự anh em, chữ “Mạnh” đại biểu cho người lớn nhất, con cháu của Khánh Phủ đã đổi xưng là “Mạnh Tôn thị” 孟孙氏, về sau giản hoá là Mạnh thị 孟氏. Chi mang họ Mạnh này xuất phát từ Sơn Đông 山东.
    Con cháu đời sau của Mạnh Kha 孟轲, nhân bổn tộc được vinh dự đã tôn Mạnh Kha làm thuỷ tổ họ Mạnh.
              Họ Mạnh ước chiếm 0,24% nhân khẩu của dân tộc Hán trong cả nước, chiếm vị trí thứ 84. Tại các tỉnh Sơn Đông, Hà Nam, Liêu Ninh, Hắc Long Giang, Cát Lâm nhiều người mang họ Mạnh, trong đó ở Sơn Đông họ Mạnh tập trung nhiều nhất.

    Danh nhân các đời
              Thời Chiến Quốc có Mạnh Kha 孟轲, triết học gia nổi tiếng, Mặc gia Mạnh Thắng 孟胜, dũng sĩ Mạnh Bôn (Bí) 孟贲. Thời Tây Hán có Mạnh Hỉ 孟喜, người khai sáng kim văn Dịch học “Mạnh Dịch học” 孟易学. Thời Đông Hán có Mạnh Quang 孟光đã “cử án tề mi”  举案齐眉 (nâng mâm ngang mày) (2) đối với chồng. Thời Tam Quốc, tại nước Ngô có Mạnh Tông 孟宗thờ mẹ chí hiếu “khốc trúc sinh duẫn” 哭竹生笋 (khóc trúc sinh măng) (3), Thục Hán có Mạnh Hoạch 孟获, thủ lĩnh tộc Di. Cuối đời Tuỳ có Mạnh Nhượng 孟让, Mạnh Hải Công 孟海公 thủ lĩnh khởi nghĩa nông dân. Thời Đường có thi nhân Mạnh Hạo Nhiên 孟浩然, Mạnh Vân Khanh 孟云卿, Mạnh Giao 孟郊, thuỷ lợi học gia Mạnh Giản 孟简.

    Chú của người dịch
    1- Khánh Phủ Cung Trọng 庆父共仲 (? – năm 660 trước công nguyên): tính Cơ danh Khánh Phủ 庆父, tự Trọng Tôn 仲孙, Thượng khanh của nước Lỗ thời Xuân Thu, con của Lỗ Hoàn Công Cơ Doãn 鲁桓公姬允, em khác mẹ với Lỗ Trang Công Cơ Đồng 鲁庄公姬同. Khánh Phủ được xem là ông tổ của Mạnh Tôn thị 孟孙氏, một trong “tam Hoàn” 三桓 của nước Lỗ. Sau khi Lỗ Trang Công qua đời, Khánh Phủ trước sau sai người sát hại quốc quân công tử Cơ Ban 姬般 và Lỗ Mẫn Công Cơ Khải 鲁闵公姬启, gây ra nội loạn chính trị. Về sau, cũng vì nội loạn, Khánh Phủ chạy sang nước Cử . Qua một thời gian, quốc quân nước Cử nhận hối lộ, đưa Khánh Phủ về nước, giữa đường Khánh Phủ
    thắt cổ chết, thuỵ hiệu là “Cung Trọng” 共仲. Người đời sau gọi người mà gây ra nội loạn là “Khánh Phủ”, và thành ngữ “Khánh Phủ bất tử, Lỗ nạn vị dĩ” 庆父不死, 鲁难未已 (Khánh Phủ mà chưa chết thì nạn của nước Lỗ chưa hết) bắt nguồn từ đây.
    2- Cử án tề mi 举案齐眉:
    Theo Hậu Hán thư – Lương Hồng truyện 后汉书 - 梁鸿传 của Phạm Việp 范晔thời Nam Triều, Lương Hồng 梁鸿 giã gạo thuê, mỗi khi về nhà, vợ là Mạnh Quang 孟光 đã chuẩn bị sẵn thức ăn, cung kính nâng mâm lên ngang tầm chân mày.
    (“Thành ngữ đại từ điển” – Bắc Kinh . Thương vụ ấn thư quán. Quốc tế hữu hạn công ti, 2004)
    3- Khốc trúc sinh duẫn哭竹生笋:
              Mạnh Tông 孟宗người Giang Hạ 江夏 thời Tam Quốc, phụ thân mất từ sớm, mẫu thân già yếu, hai mẹ con sống nương tựa lẫn nhau. Một ngày nọ, mẫu thân cảm thấy không được khoẻ, thầy thuốc cho biết dùng măng tươi làm canh thì có thể chữa đươc bệnh cho mẫu thân. Đương lúc mùa đông, không thể tìm được măng, Mạnh Tông không biết cách nào, trong lòng lo lắng, một mình đến rừng trúc, ôm trúc mà khóc. Tiếng khóc của Mạnh Tông đánh động những cây trúc gần bên, thế là kì tích phát sinh, chỉ nghe một tiếng vang, trong phút chốc nhiều măng non chồi lên mặt đất. Mạnh Tông vô cùng vui mừng liền hái mang về nhà, nấu thành canh trúc dâng cho mẫu thân. Mẫu thân sau khi dùng qua, quả nhiên thân thể chuyển biến tốt. Mạnh Tông về sau có nhiều thành tích,  làm quan đến chức Tư Không 司空.

                                                            Huỳnh Chương Hưng
                                                            Quy Nhơn 16/4/2019

    Nguyên tác Trung văn
     CƠ TÍNH UYÊN NGUYÊN
    姬姓渊源
    Trong quyển
    BÁCH GIA TÍNH
    百家姓
    Biên soạn: Triệu Dương 赵阳
    Cát Lâm Đại học xuất bản xã, 2005 

    Dịch thuật: Nguồn gốc họ Mạnh (Bách gia tính)

    Đăng lúc  21:52  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    NGUỒN GỐC HỌ MẠNH

    Về nguồn gốc họ (tính) Mạnh  chủ yếu xuất phát từ tính Cơ :
              Công tộc nước Lỗ thời Xuân Thu là con cháu tính Cơ của Chu Văn Vương 周文王, thuỷ tổ mang họ Mạnh là Khánh Phủ Cung Trọng 庆父共仲 (1), con thứ của Lỗ Hoàn Công 鲁桓公.
    Khánh Phủ 庆父phẩm hạnh cực xấu. Trong số các con thứ của Lỗ Hoàn Công, ông là lớn nhất. Để tránh tội thí quân của Khánh Phủ, đồng thời trong thứ tự anh em, chữ “Mạnh” đại biểu cho người lớn nhất, con cháu của Khánh Phủ đã đổi xưng là “Mạnh Tôn thị” 孟孙氏, về sau giản hoá là Mạnh thị 孟氏. Chi mang họ Mạnh này xuất phát từ Sơn Đông 山东.
    Con cháu đời sau của Mạnh Kha 孟轲, nhân bổn tộc được vinh dự đã tôn Mạnh Kha làm thuỷ tổ họ Mạnh.
              Họ Mạnh ước chiếm 0,24% nhân khẩu của dân tộc Hán trong cả nước, chiếm vị trí thứ 84. Tại các tỉnh Sơn Đông, Hà Nam, Liêu Ninh, Hắc Long Giang, Cát Lâm nhiều người mang họ Mạnh, trong đó ở Sơn Đông họ Mạnh tập trung nhiều nhất.

    Danh nhân các đời
              Thời Chiến Quốc có Mạnh Kha 孟轲, triết học gia nổi tiếng, Mặc gia Mạnh Thắng 孟胜, dũng sĩ Mạnh Bôn (Bí) 孟贲. Thời Tây Hán có Mạnh Hỉ 孟喜, người khai sáng kim văn Dịch học “Mạnh Dịch học” 孟易学. Thời Đông Hán có Mạnh Quang 孟光đã “cử án tề mi”  举案齐眉 (nâng mâm ngang mày) (2) đối với chồng. Thời Tam Quốc, tại nước Ngô có Mạnh Tông 孟宗thờ mẹ chí hiếu “khốc trúc sinh duẫn” 哭竹生笋 (khóc trúc sinh măng) (3), Thục Hán có Mạnh Hoạch 孟获, thủ lĩnh tộc Di. Cuối đời Tuỳ có Mạnh Nhượng 孟让, Mạnh Hải Công 孟海公 thủ lĩnh khởi nghĩa nông dân. Thời Đường có thi nhân Mạnh Hạo Nhiên 孟浩然, Mạnh Vân Khanh 孟云卿, Mạnh Giao 孟郊, thuỷ lợi học gia Mạnh Giản 孟简.

    Chú của người dịch
    1- Khánh Phủ Cung Trọng 庆父共仲 (? – năm 660 trước công nguyên): tính Cơ danh Khánh Phủ 庆父, tự Trọng Tôn 仲孙, Thượng khanh của nước Lỗ thời Xuân Thu, con của Lỗ Hoàn Công Cơ Doãn 鲁桓公姬允, em khác mẹ với Lỗ Trang Công Cơ Đồng 鲁庄公姬同. Khánh Phủ được xem là ông tổ của Mạnh Tôn thị 孟孙氏, một trong “tam Hoàn” 三桓 của nước Lỗ. Sau khi Lỗ Trang Công qua đời, Khánh Phủ trước sau sai người sát hại quốc quân công tử Cơ Ban 姬般 và Lỗ Mẫn Công Cơ Khải 鲁闵公姬启, gây ra nội loạn chính trị. Về sau, cũng vì nội loạn, Khánh Phủ chạy sang nước Cử . Qua một thời gian, quốc quân nước Cử nhận hối lộ, đưa Khánh Phủ về nước, giữa đường Khánh Phủ
    thắt cổ chết, thuỵ hiệu là “Cung Trọng” 共仲. Người đời sau gọi người mà gây ra nội loạn là “Khánh Phủ”, và thành ngữ “Khánh Phủ bất tử, Lỗ nạn vị dĩ” 庆父不死, 鲁难未已 (Khánh Phủ mà chưa chết thì nạn của nước Lỗ chưa hết) bắt nguồn từ đây.
    2- Cử án tề mi 举案齐眉:
    Theo Hậu Hán thư – Lương Hồng truyện 后汉书 - 梁鸿传 của Phạm Việp 范晔thời Nam Triều, Lương Hồng 梁鸿 giã gạo thuê, mỗi khi về nhà, vợ là Mạnh Quang 孟光 đã chuẩn bị sẵn thức ăn, cung kính nâng mâm lên ngang tầm chân mày.
    (“Thành ngữ đại từ điển” – Bắc Kinh . Thương vụ ấn thư quán. Quốc tế hữu hạn công ti, 2004)
    3- Khốc trúc sinh duẫn哭竹生笋:
              Mạnh Tông 孟宗người Giang Hạ 江夏 thời Tam Quốc, phụ thân mất từ sớm, mẫu thân già yếu, hai mẹ con sống nương tựa lẫn nhau. Một ngày nọ, mẫu thân cảm thấy không được khoẻ, thầy thuốc cho biết dùng măng tươi làm canh thì có thể chữa đươc bệnh cho mẫu thân. Đương lúc mùa đông, không thể tìm được măng, Mạnh Tông không biết cách nào, trong lòng lo lắng, một mình đến rừng trúc, ôm trúc mà khóc. Tiếng khóc của Mạnh Tông đánh động những cây trúc gần bên, thế là kì tích phát sinh, chỉ nghe một tiếng vang, trong phút chốc nhiều măng non chồi lên mặt đất. Mạnh Tông vô cùng vui mừng liền hái mang về nhà, nấu thành canh trúc dâng cho mẫu thân. Mẫu thân sau khi dùng qua, quả nhiên thân thể chuyển biến tốt. Mạnh Tông về sau có nhiều thành tích,  làm quan đến chức Tư Không 司空.

                                                            Huỳnh Chương Hưng
                                                            Quy Nhơn 16/4/2019

    Nguyên tác Trung văn
     CƠ TÍNH UYÊN NGUYÊN
    姬姓渊源
    Trong quyển
    BÁCH GIA TÍNH
    百家姓
    Biên soạn: Triệu Dương 赵阳
    Cát Lâm Đại học xuất bản xã, 2005 

    Thứ Hai, 15 tháng 4, 2019

    ĐIỀN THIÊN THU

              Điền Thiên Thu 田千秋 (? – năm 77 trước công nguyên), cũng gọi là Xa Thiên Thu 车千秋, Tể tướng thời Hán Vũ Đế 汉武帝triều Tây Hán. Bệnh mất.

              Điền Thiên Thu田千秋 tổ tiên người nước Tề, sau dời đến sống ở Trường Lăng 长陵 (nay là phía đông bắc thành phố Hàm Dương 咸阳tỉnh Thiểm Tây 陕西). Thời trẻ từng nhậm chức Cao Tẩm trưởng 高寑长, phụ trách hộ vệ Cao Tổ miếu 高祖庙.
              Năm 91 trước công nguyên, Vũ Đế bị bệnh tại cung Cam Tuyền 甘泉ở Bắc Sơn 北山, nịnh thần Giang Sung 江充 nói rằng bệnh đó có liên quan đến một người dùng phép thuật vu cổ 巫蛊 (1) gây ra. Hán Vũ Đế lúc tuổi già đa nghi bèn gây ra nhiều vụ án về vu cổ, kinh thành cùng quận quốc, người liên luỵ bị giết oan nhiều đến cả mấy vạn người. Giang Sung lại nói bừa trong cung có khí độc, Vũ Đế bèn lệnh cho ông ta dẫn binh tra xét. Giang Sung nhân vì bất hoà với thái tử liền thừa cơ vu cáo thái tử chôn nhiều hình nhân bằng gỗ trong cung, trù yểm cho Vũ Đế chết sớm để được kế vị. Thái tử sợ, dẫn binh đi giết Giang Sung, Vũ Đế điều binh trấn áp, kịch chiến 5 ngày, thái tử cùng mấy vạn người bị giết chết, Vệ hoàng hậu nhân đó cũng bị phế mà tự sát. Năm 89 trước công nguyên, Điền Thiên Thu dám dâng thư minh oan cho thái tử. Vũ Đế mới biết thái tử bị vu hãm, bị bức phải khởi binh để tự bảo vệ, nên rất hối hận, đồng thời triệu kiến Điền Thiên Thu. Vũ Đế thấy Điền Thiên Thu thân hình khôi ngô, thể hiện được nhân tài nên vô cùng coi trọng, nói rằng:
              Ân oán giữa cha con vướng mắc, quả thực khó mà nói cho rõ, chỉ có riêng mình khanh có thể biện minh, đây đúng là Cao Tổ miếu hiển linh, đã phái khanh đến phò tá trẫm.
              Liền bái Điền Thiên Thu làm Đại hồng lô 大鸿胪. Điền Thiên Thu lại tấu thỉnh giải tán phương sĩ, để tránh họ giả quỷ giả thần, mê hoặc hoàng thượng. Vũ Đế cũng tiếp nhận ý kiến. Mấy tháng sau, Vũ Đế lại thăng cho ông làm Thừa tướng, phong Phú Dân Hầu 富民侯. Vũ Đế lại hạ “tội kỉ chiếu” 罪己诏 (chiếu trách tội bản thân), biểu thị sự hối hận vì đã nhiều năm huy động binh lực gây chiến, hình pháp thì nghiêm ngặt, thuế khoá lại nặng nề, việc làm này khiến mâu thuẫn xã hội vốn gay gắt đã dần đi đến chỗ ổn định.
              Điền Thiên Thu không có học thức tài năng to lớn gì, cũng chưa lập qua đại công, chỉ nhờ vào mấy câu nói hợp với tâm ý của Vũ Đế mà từ một Cao Tẩm Lang thấp kém trở thành Thừa tướng, vì thực lực trước đó thiếu thốn, cho nên gặp phải dị nghị. Nhưng, con người Điền Thiên Thu đôn hậu, sau khi bái Tướng, lại ra sức khuyên can Vũ Đế hạ lệnh đình chỉ dụng binh, mở rộng nông cụ khuyến khích sản xuất nông nghiệp, đình chỉ truy cứu những quan viên tham dự vụ án thái tử khởi binh để an định lòng dân, cho nên cũng đã có được chính tích.  
              Năm 87 trước công nguyên, Vũ Đế bệnh và qua đời, Điền Thiên Thu 田千秋cùng Hoắc Quang 霍光, Kim Nhật Đê 金日磾, Thượng Quan Kiệt 上官桀được bái làm thác cô (2) đại thần, cùng phò Lưu Phất Lăng 刘弗陵 con của Vũ Đế chỉ mới 8 tuổi lên ngôi, đó là Chiêu Đế 昭帝. Do bởi Chiêu Đế còn nhỏ, chính sự đều nghe theo đại tướng Hoắc Quang. Điền Thiên Thu biết rõ quyền lực của Hoắc Quang cực mạnh, nên xử sự càng cẩn thận. Mỗi khi công khanh triều hội, Hoắc Quang luôn nói với ông rằng:
              - Tôi với Thừa tướng cùng nhận di mệnh của tiên đế, nay tôi cai quản bên trong, Thừa tướng cai quản bên ngoài.
              Điền Thiên Thu luôn đáp rằng:
              - Hết thảy dựa vào sức của tướng quân.
              Còn đối với chủ trương của Hoắc Quan, ông rất ít có dị nghị gì, cho nên hai người đối xử hoà mục. Hoắc Quang cũng rất kính trọng Điền Thiên Thu. Thời Chiêu Đế, thiên hạ cũng tương đối thái bình, kinh tế xã hội phát triển, bách tính dễ thở hơn lúc trước.
              Điền Thiên Thu về già suy yếu, Chiêu Đế cho phép ông được ngồi xe vào cung, cho nên, người lúc bấy giờ gọi ông là “Xa Thừa tướng” 车丞相 hoặc “Xa Thiên Thu” 车千秋.
              Năm 77 trước công nguyên, Điền Thiên Thu bệnh và qua đời, được truy thuỵ là Định Hầu 定侯.

    Chú của người dịch
    1- Vu cổ 巫蛊: loại vu thuật thời cổ dùng các phương thức như, trù yếm, găm kim vào hình nhân, hoặc dùng chất độc để hại chết đối thủ.
    2- Thác cô 托孤: hoàng đế đem con của mình gởi gắm cho người khác trước khi qua đời.

                                                            Huỳnh Chương Hưng
                                                            Quy Nhơn 15/4/2019

    Nguyên tác Trung văn
    ĐIỀN THIÊN THU
    田千秋
    Trong quyển
    TRUNG QUỐC LỊCH ĐẠI TỂ TƯỚNG LỤC
    中国历代宰相录
    Chủ biên: Dương Kiếm Vũ 杨剑宇
    Thượng Hải văn hoá xuất bản xã, 1999

    Dịch thuật: Điền Thiên Thu (Tể tướng Trung Quốc)

    Đăng lúc  21:37  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    ĐIỀN THIÊN THU

              Điền Thiên Thu 田千秋 (? – năm 77 trước công nguyên), cũng gọi là Xa Thiên Thu 车千秋, Tể tướng thời Hán Vũ Đế 汉武帝triều Tây Hán. Bệnh mất.

              Điền Thiên Thu田千秋 tổ tiên người nước Tề, sau dời đến sống ở Trường Lăng 长陵 (nay là phía đông bắc thành phố Hàm Dương 咸阳tỉnh Thiểm Tây 陕西). Thời trẻ từng nhậm chức Cao Tẩm trưởng 高寑长, phụ trách hộ vệ Cao Tổ miếu 高祖庙.
              Năm 91 trước công nguyên, Vũ Đế bị bệnh tại cung Cam Tuyền 甘泉ở Bắc Sơn 北山, nịnh thần Giang Sung 江充 nói rằng bệnh đó có liên quan đến một người dùng phép thuật vu cổ 巫蛊 (1) gây ra. Hán Vũ Đế lúc tuổi già đa nghi bèn gây ra nhiều vụ án về vu cổ, kinh thành cùng quận quốc, người liên luỵ bị giết oan nhiều đến cả mấy vạn người. Giang Sung lại nói bừa trong cung có khí độc, Vũ Đế bèn lệnh cho ông ta dẫn binh tra xét. Giang Sung nhân vì bất hoà với thái tử liền thừa cơ vu cáo thái tử chôn nhiều hình nhân bằng gỗ trong cung, trù yểm cho Vũ Đế chết sớm để được kế vị. Thái tử sợ, dẫn binh đi giết Giang Sung, Vũ Đế điều binh trấn áp, kịch chiến 5 ngày, thái tử cùng mấy vạn người bị giết chết, Vệ hoàng hậu nhân đó cũng bị phế mà tự sát. Năm 89 trước công nguyên, Điền Thiên Thu dám dâng thư minh oan cho thái tử. Vũ Đế mới biết thái tử bị vu hãm, bị bức phải khởi binh để tự bảo vệ, nên rất hối hận, đồng thời triệu kiến Điền Thiên Thu. Vũ Đế thấy Điền Thiên Thu thân hình khôi ngô, thể hiện được nhân tài nên vô cùng coi trọng, nói rằng:
              Ân oán giữa cha con vướng mắc, quả thực khó mà nói cho rõ, chỉ có riêng mình khanh có thể biện minh, đây đúng là Cao Tổ miếu hiển linh, đã phái khanh đến phò tá trẫm.
              Liền bái Điền Thiên Thu làm Đại hồng lô 大鸿胪. Điền Thiên Thu lại tấu thỉnh giải tán phương sĩ, để tránh họ giả quỷ giả thần, mê hoặc hoàng thượng. Vũ Đế cũng tiếp nhận ý kiến. Mấy tháng sau, Vũ Đế lại thăng cho ông làm Thừa tướng, phong Phú Dân Hầu 富民侯. Vũ Đế lại hạ “tội kỉ chiếu” 罪己诏 (chiếu trách tội bản thân), biểu thị sự hối hận vì đã nhiều năm huy động binh lực gây chiến, hình pháp thì nghiêm ngặt, thuế khoá lại nặng nề, việc làm này khiến mâu thuẫn xã hội vốn gay gắt đã dần đi đến chỗ ổn định.
              Điền Thiên Thu không có học thức tài năng to lớn gì, cũng chưa lập qua đại công, chỉ nhờ vào mấy câu nói hợp với tâm ý của Vũ Đế mà từ một Cao Tẩm Lang thấp kém trở thành Thừa tướng, vì thực lực trước đó thiếu thốn, cho nên gặp phải dị nghị. Nhưng, con người Điền Thiên Thu đôn hậu, sau khi bái Tướng, lại ra sức khuyên can Vũ Đế hạ lệnh đình chỉ dụng binh, mở rộng nông cụ khuyến khích sản xuất nông nghiệp, đình chỉ truy cứu những quan viên tham dự vụ án thái tử khởi binh để an định lòng dân, cho nên cũng đã có được chính tích.  
              Năm 87 trước công nguyên, Vũ Đế bệnh và qua đời, Điền Thiên Thu 田千秋cùng Hoắc Quang 霍光, Kim Nhật Đê 金日磾, Thượng Quan Kiệt 上官桀được bái làm thác cô (2) đại thần, cùng phò Lưu Phất Lăng 刘弗陵 con của Vũ Đế chỉ mới 8 tuổi lên ngôi, đó là Chiêu Đế 昭帝. Do bởi Chiêu Đế còn nhỏ, chính sự đều nghe theo đại tướng Hoắc Quang. Điền Thiên Thu biết rõ quyền lực của Hoắc Quang cực mạnh, nên xử sự càng cẩn thận. Mỗi khi công khanh triều hội, Hoắc Quang luôn nói với ông rằng:
              - Tôi với Thừa tướng cùng nhận di mệnh của tiên đế, nay tôi cai quản bên trong, Thừa tướng cai quản bên ngoài.
              Điền Thiên Thu luôn đáp rằng:
              - Hết thảy dựa vào sức của tướng quân.
              Còn đối với chủ trương của Hoắc Quan, ông rất ít có dị nghị gì, cho nên hai người đối xử hoà mục. Hoắc Quang cũng rất kính trọng Điền Thiên Thu. Thời Chiêu Đế, thiên hạ cũng tương đối thái bình, kinh tế xã hội phát triển, bách tính dễ thở hơn lúc trước.
              Điền Thiên Thu về già suy yếu, Chiêu Đế cho phép ông được ngồi xe vào cung, cho nên, người lúc bấy giờ gọi ông là “Xa Thừa tướng” 车丞相 hoặc “Xa Thiên Thu” 车千秋.
              Năm 77 trước công nguyên, Điền Thiên Thu bệnh và qua đời, được truy thuỵ là Định Hầu 定侯.

    Chú của người dịch
    1- Vu cổ 巫蛊: loại vu thuật thời cổ dùng các phương thức như, trù yếm, găm kim vào hình nhân, hoặc dùng chất độc để hại chết đối thủ.
    2- Thác cô 托孤: hoàng đế đem con của mình gởi gắm cho người khác trước khi qua đời.

                                                            Huỳnh Chương Hưng
                                                            Quy Nhơn 15/4/2019

    Nguyên tác Trung văn
    ĐIỀN THIÊN THU
    田千秋
    Trong quyển
    TRUNG QUỐC LỊCH ĐẠI TỂ TƯỚNG LỤC
    中国历代宰相录
    Chủ biên: Dương Kiếm Vũ 杨剑宇
    Thượng Hải văn hoá xuất bản xã, 1999

    Chủ Nhật, 14 tháng 4, 2019

    NỮ CHÚA “LÂM TRIỀU XƯNG CHẾ” BẮT ĐẦU TỪ AI

              “Lâm triều xưng chế” 临朝称制là chế độ chỉ lúc hoàng đế còn nhỏ, Hoàng hậu, Hoàng thái hậu, Thái hoàng thái hậu thay mặt hành sử quyền lực hoàng đế. Thời cổ, nữ giới không được can dự triều chính, các hậu phi muốn nắm quyền phải “lâm triều” 临朝. “Chế” là mệnh lệnh của hoàng đế, bắt đầu từ Tần Thuỷ Hoàng 秦始皇. “Lâm triều xưng chế” sớm nhất là Mị Bát Tử 羋八子, mẫu thân của Tần Chiêu Vương 秦昭王, nhưng nhìn từ hiện thực đại nhất thống hoặc sau khi sản sinh ra “chế”, thì lại là Lữ Hậu 吕后.
              Mị Bát Tử 羋八子 là cơ thiếp đến từ nước Sở của Tần Huệ Vương, “Mị”   là quốc tính của Sở, còn “Bát Tử” 八子 là phong hiệu của bà. Địa vị của Bát Tử không cao, vị thứ sau Hoàng hậu 皇后, Phu nhân 夫人, Mĩ nhân 美人, Lương nhân 良人, trong 8 cấp ở hậu cung nước Tần (ở dưới còn Thất Tử 七子, Trưởng sử 长使, Thiếu sử 少使), thì Bát tử ở gần giữa. Nhân đó, dưới sự hợp mưu của hoàng hậu và tân quân Tần Vũ Vương 秦武王, bà và con là Doanh Tắc 嬴稷bị đưa đến nước Yên làm con tin. Sau 3 năm, Tần Vũ Vương bất ngờ qua đời. được sự giúp đỡ của nước Yên, Mị Bát Tử quả đoán liên lạc với Nguỵ Nhiễm 魏冉 người em khác cha với mình, đưa Doanh Tắc về nước, trải qua 3 năm “quý quân chi loạn” 季君之乱 (1), cuối cùng Doanh Tắc được lên bảo toạ vương vị, làm Tần Chiêu Vương. Mị Bát Tử nhân đó trở thành Tuyên Thái Hậu 宣太后, đồng thời tại nước Tần lâm triều xưng chế 14 năm. Thời kì bà thống trị, quốc lực nước Tần ngày càng cường thịnh, đã đặt nền móng vững chắc cho Tần Thuỷ Hoàng Doanh Chính 秦始皇嬴政sau này thống nhất lục quốc.
              Hoàng hậu Lữ Trĩ 吕雉của Hán Cao Tổ Lưu Bang 汉高祖刘邦 cũng là đại biểu của “lâm triều xưng chế”. Sau khi con là Huệ Đế 惠帝qua đời, bà chính thức lâm triều thay quyền thiên tử, là người nắm quyền chân chính lúc bấy giờ của triều Tây Hán. Trong thời gian bảy tám năm bà chấp chính, trong sử thư trực tiếp dùng “Cao Hậu mỗ niên” 高后某年để ghi chép, các chính sử như Sử kí 史记, Hán thư 汉书 cũng lập cho bà “bản kỉ” 本纪 với tư cách đế vương. Việc chấp chính của Lữ hậu cũng coi như thành công, tuy bà nâng đỡ cho người nhà họ Lữ, đối đãi khắc bạc với triều thần, nhưng cục diện chính trị cơ bản ổn định, kinh tế xã hội được khôi phục, đặt nền móng cho thời kì “Văn Cảnh chi trị” 文景之治 (2) sau này.
              Trong lịch sử Trung Quốc, các đời đều có những hậu phi “lâm triều xưng chế”. Trong đó, Võ Tắc Thiên 武则天 của triều Đường và Từ Hi Thái Hậu 慈禧太后cuối đời Thanh là hai vị nổi tiếng nhất. Võ Tắc thiên không những lâm triều xưng chế, mà còn lên làm nữ hoàng đế, đồng thời đổi quốc hiệu là Chu . Từ Hi Thái Hậu tuy không thay đổi quốc hiệu Đại Thanh 大清, nhưng đã khống chế chính trị Trung Quốc lâu đến mấy mươi năm.

    Chú của người dịch
    1- Quý quân chi loạn季君之乱: Doanh Tắc 嬴稷 làm con tin ở nước Yên được nước Yên đưa về lại nước Tần kế vị trở thành Tần Chiêu Tương Vương 秦昭襄王 . Do vì còn nhỏ, mẫu thân là Bát Mị Tử羋八子 chủ trì triều chính, cậu là Nguỵ Nhiễm 魏冉 nắm giữ đại quyền. Tần Chiêu Tương Vương năm thứ 2 (năm 305 trước công nguyên) Thứ trưởng Quý Quân công tử Tráng 季君公子壮 cùng đại thần, chư hầu, công tử tạo phản, nhưng bị Nguỵ Nhiễm tru diệt toàn bộ, sử xưng là “Quý quân chi loạn”.
    2- Văn Cảnh chi trị 文景之治: giai đoạn thịnh thế thời kì đầu nhà Tây Hán. Văn tức Hán Văn Đế 汉文帝, Cảnh tức Hán Cảnh Đế 汉景帝.

                                                                   Huỳnh Chương Hưng
                                                                   Quy Nhơn 14/4/2019

    Nguyên tác Trung văn
    Trong quyển
    THÚ VỊ VĂN HOÁ TRI THỨC ĐẠI TOÀN
    趣味文化知识大全
    Thanh Thạch 青石 biên soạn
    Trung Quốc Hoa kiều xuất bản xã, 2013

    Dịch thuật: Nữ chúa "lâm triều xưng chế" bắt đầu từ ai

    Đăng lúc  22:05  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    NỮ CHÚA “LÂM TRIỀU XƯNG CHẾ” BẮT ĐẦU TỪ AI

              “Lâm triều xưng chế” 临朝称制là chế độ chỉ lúc hoàng đế còn nhỏ, Hoàng hậu, Hoàng thái hậu, Thái hoàng thái hậu thay mặt hành sử quyền lực hoàng đế. Thời cổ, nữ giới không được can dự triều chính, các hậu phi muốn nắm quyền phải “lâm triều” 临朝. “Chế” là mệnh lệnh của hoàng đế, bắt đầu từ Tần Thuỷ Hoàng 秦始皇. “Lâm triều xưng chế” sớm nhất là Mị Bát Tử 羋八子, mẫu thân của Tần Chiêu Vương 秦昭王, nhưng nhìn từ hiện thực đại nhất thống hoặc sau khi sản sinh ra “chế”, thì lại là Lữ Hậu 吕后.
              Mị Bát Tử 羋八子 là cơ thiếp đến từ nước Sở của Tần Huệ Vương, “Mị”   là quốc tính của Sở, còn “Bát Tử” 八子 là phong hiệu của bà. Địa vị của Bát Tử không cao, vị thứ sau Hoàng hậu 皇后, Phu nhân 夫人, Mĩ nhân 美人, Lương nhân 良人, trong 8 cấp ở hậu cung nước Tần (ở dưới còn Thất Tử 七子, Trưởng sử 长使, Thiếu sử 少使), thì Bát tử ở gần giữa. Nhân đó, dưới sự hợp mưu của hoàng hậu và tân quân Tần Vũ Vương 秦武王, bà và con là Doanh Tắc 嬴稷bị đưa đến nước Yên làm con tin. Sau 3 năm, Tần Vũ Vương bất ngờ qua đời. được sự giúp đỡ của nước Yên, Mị Bát Tử quả đoán liên lạc với Nguỵ Nhiễm 魏冉 người em khác cha với mình, đưa Doanh Tắc về nước, trải qua 3 năm “quý quân chi loạn” 季君之乱 (1), cuối cùng Doanh Tắc được lên bảo toạ vương vị, làm Tần Chiêu Vương. Mị Bát Tử nhân đó trở thành Tuyên Thái Hậu 宣太后, đồng thời tại nước Tần lâm triều xưng chế 14 năm. Thời kì bà thống trị, quốc lực nước Tần ngày càng cường thịnh, đã đặt nền móng vững chắc cho Tần Thuỷ Hoàng Doanh Chính 秦始皇嬴政sau này thống nhất lục quốc.
              Hoàng hậu Lữ Trĩ 吕雉của Hán Cao Tổ Lưu Bang 汉高祖刘邦 cũng là đại biểu của “lâm triều xưng chế”. Sau khi con là Huệ Đế 惠帝qua đời, bà chính thức lâm triều thay quyền thiên tử, là người nắm quyền chân chính lúc bấy giờ của triều Tây Hán. Trong thời gian bảy tám năm bà chấp chính, trong sử thư trực tiếp dùng “Cao Hậu mỗ niên” 高后某年để ghi chép, các chính sử như Sử kí 史记, Hán thư 汉书 cũng lập cho bà “bản kỉ” 本纪 với tư cách đế vương. Việc chấp chính của Lữ hậu cũng coi như thành công, tuy bà nâng đỡ cho người nhà họ Lữ, đối đãi khắc bạc với triều thần, nhưng cục diện chính trị cơ bản ổn định, kinh tế xã hội được khôi phục, đặt nền móng cho thời kì “Văn Cảnh chi trị” 文景之治 (2) sau này.
              Trong lịch sử Trung Quốc, các đời đều có những hậu phi “lâm triều xưng chế”. Trong đó, Võ Tắc Thiên 武则天 của triều Đường và Từ Hi Thái Hậu 慈禧太后cuối đời Thanh là hai vị nổi tiếng nhất. Võ Tắc thiên không những lâm triều xưng chế, mà còn lên làm nữ hoàng đế, đồng thời đổi quốc hiệu là Chu . Từ Hi Thái Hậu tuy không thay đổi quốc hiệu Đại Thanh 大清, nhưng đã khống chế chính trị Trung Quốc lâu đến mấy mươi năm.

    Chú của người dịch
    1- Quý quân chi loạn季君之乱: Doanh Tắc 嬴稷 làm con tin ở nước Yên được nước Yên đưa về lại nước Tần kế vị trở thành Tần Chiêu Tương Vương 秦昭襄王 . Do vì còn nhỏ, mẫu thân là Bát Mị Tử羋八子 chủ trì triều chính, cậu là Nguỵ Nhiễm 魏冉 nắm giữ đại quyền. Tần Chiêu Tương Vương năm thứ 2 (năm 305 trước công nguyên) Thứ trưởng Quý Quân công tử Tráng 季君公子壮 cùng đại thần, chư hầu, công tử tạo phản, nhưng bị Nguỵ Nhiễm tru diệt toàn bộ, sử xưng là “Quý quân chi loạn”.
    2- Văn Cảnh chi trị 文景之治: giai đoạn thịnh thế thời kì đầu nhà Tây Hán. Văn tức Hán Văn Đế 汉文帝, Cảnh tức Hán Cảnh Đế 汉景帝.

                                                                   Huỳnh Chương Hưng
                                                                   Quy Nhơn 14/4/2019

    Nguyên tác Trung văn
    Trong quyển
    THÚ VỊ VĂN HOÁ TRI THỨC ĐẠI TOÀN
    趣味文化知识大全
    Thanh Thạch 青石 biên soạn
    Trung Quốc Hoa kiều xuất bản xã, 2013

    Thứ Bảy, 13 tháng 4, 2019

    TRƯƠNG LƯƠNG NHẶT GIÀY

              Trương Lương 张良,một trong tam kiệt thời Hán sơ, là mưu sĩ và cũng là đại thần nổi tiếng những năm đầu triều Hán. Ông từng có tác dụng then chốt tại bữa tiệc ở Hồng Môn 鸿门, cuối cùng bảo toàn được Lưu Bang 刘邦, giúp Lưu Bang trở thành vị hoàng đế khai quốc của triều Hán.

              Có một lần Trương Lương rỗi rãi tản bộ dạo chơi trên cầu ở huyện Hạ Bì 下邳, một ông lão mặc quần áo vải gai đi đến chỗ Trương Lương, cầm chiếc giày của mình quăng xuống cầu, rồi quay đầu lại nói với Trương Lương:
              - Tiểu tử, mau xuống dưới cầu nhặt chiếc giày lên cho ta!
              Trương Lương kinh ngạc, định đánh. Nhìn thấy ông ta đã già bèn nhịn, leo xuống dưới lấy giày lên. Ông lão lại bảo:
              - Mang vào cho ta.
              Trương Lương đã lấy giúp giày, giờ cũng quỳ xuống mang giày cho ông lão. Sau khi ông lão chìa chân ra cho Trương Lương mang vào, liền cười lớn và bỏ đi. Trương Lương vô cùng kinh ngạc, nhìn theo ông lão đi rất xa. Ông lão đi độ khoảng một dặm đường liền quay trở lại, nói rằng:
              - Tên tiểu tử này có thể dạy được. Năm ngày sau vào lúc sáng sớm, gặp ta tại nơi đây.
              Trương Lương càng kinh ngạc hơn nữa, quỳ xuống đất nói rằng:
              - Vâng.
    Năm ngày sau vào lúc sáng sớm Trương Lương tới. Ông lão đã tới trước, giận dữ nói rằng:
              - Đã hẹn gặp với người già, lại tới sau ta, sao thế?
              Ông lão bỏ đi, và có dặn rằng:
              - Năm ngày sau nữa tới sớm.
              Năm ngày sau khi gà mới gáy lần một, Trương Lương lại tới. ông lão cũng lại tới trước rồi, ông lão giận dữ nói:
              - Lại đến muộn nữa, sao thế?
              Ông lão lại bỏ đi, và cũng dặn:
              - Năm ngày sau nữa phải tới thật sớm.
              Năm ngày sau chưa tới nửa đêm Trương Lương đã tới. Qua một lúc sau, ông lão tới, vui mừng nói rằng:
              - Phải như thế chứ.
              Ông lấy ra một quyển sách, nói rằng:
              - Đọc sách này có thể làm thầy của hoàng đế, 10 năm sau anh sẽ phát đạt, 13 năm sau nữa anh sẽ gặp ta tại Tế Bắc 济北, hoàng thạch dưới núi Cốc Thành 谷城 chính là ta.
              Sau đó ông lão bỏ đi, không nói lời từ biệt, cũng không thấy xuất hiện nữa.  Sau khi trời sáng, Trương Lương đọc qua sách đó, hoá ra là “Thái Công binh pháp” 太公兵法.
              Trương Lương nhân cảm thấy kì lạ, thường học quyển sách này, cuối cùng ngày sau giúp Lưu Bang hoàn thành đại nghiệp.

    Phụ lục
              Đương thời Lưu Bang 刘邦bị bức đến vùng Ba Thục 巴蜀, Hạng Vũ 项羽luôn sợ thực lực của Lưu Bang hơn mình, cho nên luôn canh chừng Lưu Bang, đồng thời phái trọng binh tiến hành trấn giữ đường lớn từ Ba Thục thông đến trung nguyên. Trước lúc Lưu Bang tiến vào trung nguyên đã cho thiêu huỷ sạn đạo đương thời. Lúc này đại tướng dưới trướng của Lưu Bang là Hàn Tín 韩信 nghĩ ra một biện pháp, đó chính là ngoài mặt phái rất nhiều người ra sức tu sửa sạn đạo, nhưng bên trong ngầm để đội quân tinh nhuệ theo đường nhỏ ra khỏi Ba Thục, tập kích đội quân Hạng Vũ đang đóng ở Trần Thương 陈仓.
             
                                                           Huỳnh Chương Hưng
                                                            Quy Nhơn 13/4/2019

    Nguyên tác Trung văn
    TRƯƠNG LƯƠNG THẬP HÀI
    张良拾鞋
    Trong quyển
    TRUNG QUỐC LỊCH SỬ CỐ SỰ (tập 2)
    中国历史故事
    Biên soạn: Sơ Dương Tả Tả 初阳姐姐
    Trường Xuân: Cát Lâm văn sử xuất bản xã, 2015

    Dịch thuật: Trương Lương nhặt giày

    Đăng lúc  22:00  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    TRƯƠNG LƯƠNG NHẶT GIÀY

              Trương Lương 张良,một trong tam kiệt thời Hán sơ, là mưu sĩ và cũng là đại thần nổi tiếng những năm đầu triều Hán. Ông từng có tác dụng then chốt tại bữa tiệc ở Hồng Môn 鸿门, cuối cùng bảo toàn được Lưu Bang 刘邦, giúp Lưu Bang trở thành vị hoàng đế khai quốc của triều Hán.

              Có một lần Trương Lương rỗi rãi tản bộ dạo chơi trên cầu ở huyện Hạ Bì 下邳, một ông lão mặc quần áo vải gai đi đến chỗ Trương Lương, cầm chiếc giày của mình quăng xuống cầu, rồi quay đầu lại nói với Trương Lương:
              - Tiểu tử, mau xuống dưới cầu nhặt chiếc giày lên cho ta!
              Trương Lương kinh ngạc, định đánh. Nhìn thấy ông ta đã già bèn nhịn, leo xuống dưới lấy giày lên. Ông lão lại bảo:
              - Mang vào cho ta.
              Trương Lương đã lấy giúp giày, giờ cũng quỳ xuống mang giày cho ông lão. Sau khi ông lão chìa chân ra cho Trương Lương mang vào, liền cười lớn và bỏ đi. Trương Lương vô cùng kinh ngạc, nhìn theo ông lão đi rất xa. Ông lão đi độ khoảng một dặm đường liền quay trở lại, nói rằng:
              - Tên tiểu tử này có thể dạy được. Năm ngày sau vào lúc sáng sớm, gặp ta tại nơi đây.
              Trương Lương càng kinh ngạc hơn nữa, quỳ xuống đất nói rằng:
              - Vâng.
    Năm ngày sau vào lúc sáng sớm Trương Lương tới. Ông lão đã tới trước, giận dữ nói rằng:
              - Đã hẹn gặp với người già, lại tới sau ta, sao thế?
              Ông lão bỏ đi, và có dặn rằng:
              - Năm ngày sau nữa tới sớm.
              Năm ngày sau khi gà mới gáy lần một, Trương Lương lại tới. ông lão cũng lại tới trước rồi, ông lão giận dữ nói:
              - Lại đến muộn nữa, sao thế?
              Ông lão lại bỏ đi, và cũng dặn:
              - Năm ngày sau nữa phải tới thật sớm.
              Năm ngày sau chưa tới nửa đêm Trương Lương đã tới. Qua một lúc sau, ông lão tới, vui mừng nói rằng:
              - Phải như thế chứ.
              Ông lấy ra một quyển sách, nói rằng:
              - Đọc sách này có thể làm thầy của hoàng đế, 10 năm sau anh sẽ phát đạt, 13 năm sau nữa anh sẽ gặp ta tại Tế Bắc 济北, hoàng thạch dưới núi Cốc Thành 谷城 chính là ta.
              Sau đó ông lão bỏ đi, không nói lời từ biệt, cũng không thấy xuất hiện nữa.  Sau khi trời sáng, Trương Lương đọc qua sách đó, hoá ra là “Thái Công binh pháp” 太公兵法.
              Trương Lương nhân cảm thấy kì lạ, thường học quyển sách này, cuối cùng ngày sau giúp Lưu Bang hoàn thành đại nghiệp.

    Phụ lục
              Đương thời Lưu Bang 刘邦bị bức đến vùng Ba Thục 巴蜀, Hạng Vũ 项羽luôn sợ thực lực của Lưu Bang hơn mình, cho nên luôn canh chừng Lưu Bang, đồng thời phái trọng binh tiến hành trấn giữ đường lớn từ Ba Thục thông đến trung nguyên. Trước lúc Lưu Bang tiến vào trung nguyên đã cho thiêu huỷ sạn đạo đương thời. Lúc này đại tướng dưới trướng của Lưu Bang là Hàn Tín 韩信 nghĩ ra một biện pháp, đó chính là ngoài mặt phái rất nhiều người ra sức tu sửa sạn đạo, nhưng bên trong ngầm để đội quân tinh nhuệ theo đường nhỏ ra khỏi Ba Thục, tập kích đội quân Hạng Vũ đang đóng ở Trần Thương 陈仓.
             
                                                           Huỳnh Chương Hưng
                                                            Quy Nhơn 13/4/2019

    Nguyên tác Trung văn
    TRƯƠNG LƯƠNG THẬP HÀI
    张良拾鞋
    Trong quyển
    TRUNG QUỐC LỊCH SỬ CỐ SỰ (tập 2)
    中国历史故事
    Biên soạn: Sơ Dương Tả Tả 初阳姐姐
    Trường Xuân: Cát Lâm văn sử xuất bản xã, 2015

    Thứ Sáu, 12 tháng 4, 2019

    CHỮ “KHAI”
     
    Bính âm kai (thanh điệu 1)

    4 nét
    12 nét

    1- Mở ra, phân khai:
              Khai môn 开门 / khai toả 开锁 / li khai 离开.
    2- Đả thông, khai thác:
              Khai lộ 开路 / khai khoáng 开矿 / khai toại đạo 开隧道.
    3- Xoè ra, dãn ra, khai phóng:
              Khai nhan 开颜 / khai hoài  开怀 / khai tâm 开心 / hoa khai 花开.
    4- Băng tan chảy ra:
              Khai đống 开冻.
    5- Giải trừ, thủ tiêu:
              Khai cấm 开禁 / khai giới 开戒.
    6- Chạy, điều khiển (xe / máy móc), bắn:
              Khai xa 开车 / khai pháo 开炮.
    7- Bắt đầu:
              Khai học 开学 / khai công 开工 / khai diễn 开演 / khai nghiệp 开业.
    8- Cử hành:
              Khai hội 开会 / khai công xưởng 开工厂 / khai y viện 开医院.
    9- Viết ra, liệt kê ra:
              Khai đơn cứ 开单据 / khai dược phương 开药方 / khai giới thiệu tín 开介绍信.
    10- Chi ra:
              Khai tiêu 开销 / khai chi 开支.
    11- Thiết lập, mở:
              Khai tam môn khoá 开三门课.
    12- Dùng sau động từ hoặc tính từ, biểu thị khuếch đại hoặc bắt đầu đồng thời tiếp tục:
              Tiêu tức truyền khai liễu 消息传开了 / nhất qua Lập hạ, thiên khí tựu nhiệt khai liễu 一过立夏, 天气就热开了.
    13- Tỉ lệ phần mười:
              Tam thất khai 三七开 / nhị bát khai 二八开 .
    14- Khổ giấy dùng trong in ấn:
              Thập lục khai chỉ 十六开纸 / tam thập nhị khai chỉ 三十二开纸.
    15- Nước sôi:
              Thuỷ khai liễu 水开了.
    16- Thông, thấu:
              Bả thoại thuyết khai liễu hảo 把话说开了好 / biệt tưởng bất khai 别想不开.
    17- Chứa đựng:
              Địa phương tiểu, toạ bất khai 地方小, 坐不开.

    Thuyết giải
              Chữ , bộ hoặc bộ , kết cấu độc thể. Chữ bỏ chữ bên ngoài thành chữ . Giản hoá của chữ không thể viết chữ bên ngoài và chữ và bên trong.
              Chữ quy về bộ (môn).

                                                          Huỳnh Chương Hưng
                                                          Quy Nhơn 12/4/2019

    Nguồn
    GIẢN HOÁ TỰ, PHỒN THỂ TỰ ĐỐI CHIẾU TỰ ĐIỂN
    简化字繁体字对照字典
    Chủ biên: Giang Lam Sinh 江蓝生, Lục Tôn Ngô 陆尊梧
    Thượng Hải – Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 1998

    Dịch thuật: Chữ "khai" (Đối chiếu tự điển)

    Đăng lúc  21:44  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    CHỮ “KHAI”
     
    Bính âm kai (thanh điệu 1)

    4 nét
    12 nét

    1- Mở ra, phân khai:
              Khai môn 开门 / khai toả 开锁 / li khai 离开.
    2- Đả thông, khai thác:
              Khai lộ 开路 / khai khoáng 开矿 / khai toại đạo 开隧道.
    3- Xoè ra, dãn ra, khai phóng:
              Khai nhan 开颜 / khai hoài  开怀 / khai tâm 开心 / hoa khai 花开.
    4- Băng tan chảy ra:
              Khai đống 开冻.
    5- Giải trừ, thủ tiêu:
              Khai cấm 开禁 / khai giới 开戒.
    6- Chạy, điều khiển (xe / máy móc), bắn:
              Khai xa 开车 / khai pháo 开炮.
    7- Bắt đầu:
              Khai học 开学 / khai công 开工 / khai diễn 开演 / khai nghiệp 开业.
    8- Cử hành:
              Khai hội 开会 / khai công xưởng 开工厂 / khai y viện 开医院.
    9- Viết ra, liệt kê ra:
              Khai đơn cứ 开单据 / khai dược phương 开药方 / khai giới thiệu tín 开介绍信.
    10- Chi ra:
              Khai tiêu 开销 / khai chi 开支.
    11- Thiết lập, mở:
              Khai tam môn khoá 开三门课.
    12- Dùng sau động từ hoặc tính từ, biểu thị khuếch đại hoặc bắt đầu đồng thời tiếp tục:
              Tiêu tức truyền khai liễu 消息传开了 / nhất qua Lập hạ, thiên khí tựu nhiệt khai liễu 一过立夏, 天气就热开了.
    13- Tỉ lệ phần mười:
              Tam thất khai 三七开 / nhị bát khai 二八开 .
    14- Khổ giấy dùng trong in ấn:
              Thập lục khai chỉ 十六开纸 / tam thập nhị khai chỉ 三十二开纸.
    15- Nước sôi:
              Thuỷ khai liễu 水开了.
    16- Thông, thấu:
              Bả thoại thuyết khai liễu hảo 把话说开了好 / biệt tưởng bất khai 别想不开.
    17- Chứa đựng:
              Địa phương tiểu, toạ bất khai 地方小, 坐不开.

    Thuyết giải
              Chữ , bộ hoặc bộ , kết cấu độc thể. Chữ bỏ chữ bên ngoài thành chữ . Giản hoá của chữ không thể viết chữ bên ngoài và chữ và bên trong.
              Chữ quy về bộ (môn).

                                                          Huỳnh Chương Hưng
                                                          Quy Nhơn 12/4/2019

    Nguồn
    GIẢN HOÁ TỰ, PHỒN THỂ TỰ ĐỐI CHIẾU TỰ ĐIỂN
    简化字繁体字对照字典
    Chủ biên: Giang Lam Sinh 江蓝生, Lục Tôn Ngô 陆尊梧
    Thượng Hải – Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 1998

    Thứ Năm, 11 tháng 4, 2019

    THÀNH CÁT TƯ HÀN (HÃN) THỐNG NHẤT MÔNG CỔ

              Năm 1162 (niên hiệu Đại Định 大定 thứ 2 đời Kim Thế Tông 金世宗, niên hiệu Thiệu Hưng 绍兴 thứ 32 đời Cao Tông 高宗 triều Nam Tống), trên cao nguyên Mông Cổ, vợ của tù trưởng bộ tộc Mông Cổ Dã Tốc Cai 也速该sinh được một người con trai. Hôm đó, Dã Tốc Cai dẫn bộ hạ tập kích người Tháp Tháp Nhi 塔塔儿, giành được thắng lợi. Để kỉ niệm thắng lợi này, Dã Tốc Cai đặt tên cho đứa con vừa mới sinh là Thiết Mộc Chân 铁木真, ý nghĩa là “tinh cang” 精钢.
              Do bởi bộ tộc Mông Cổ và bộ tộc Tháp Tháp Nhi thường đánh lẫn nhau, cho nên thời trẻ và thời thanh niên của Thiết Mộc Chân luôn ở trong giai đoạn quá độ chiến tranh. Năm Thiết Mộc Chân 9 tuổi, phụ thân của ông bị người Tháp Tháp Nhi hạ độc chết.
              Sau khi Dã Tốc Cai qua đời, thuộc bộ và các võ sĩ của ông nhìn thấy thế lực của bộ tộc Mông Cổ ngày càng suy yếu, nên họ lần lượt rời đi. Qua mấy năm, chủ nô lệ của bộ Thái Xích Ô 泰赤乌 ngày trước lo sợ Thiết Mộc Chân sau khi trưởng thành sẽ báo thù, bèn đột nhiên dùng biện pháp tập kích bắt Thiết Mộc Chân, cho đeo gông để thị chúng. Về sau, Thiết Mộc Chân thừa lúc người của bộ Thái Xích Ô cử hành yến hội, đã dùng gông đánh ngã tên canh giữ, được sự giúp đỡ của cha con nô lệ Toả Nhi Hãn Phu Thích 锁儿罕夫剌, Thiết Mộc Chân đã đào thoát về quê nhà. Chẳng bao lâu, lại gặp phải sự tập kích của người Miệt Nhi Khất 蔑儿乞, trong lúc vội vã tháo chạy, ngay cả vợ con ông cũng không kịp dẫn theo, khiến vợ con trở thành tù binh của người Miệt Nhi Khất.
              Sự thất bại và hoạn nạn đã rèn luyện ý chí của Thiết Mộc Chân, ông nén đau thương đem áo cừu hắc điêu lúc cưới của vợ dâng cho Thoát Oát Lí Lặc Hàn 脱斡里勒汗 của bộ Khắc Liệt 克烈, gọi ông ta là nghĩa phụ. Lại cùng với thủ lĩnh bộ Trát Đáp Khoát Nhi 札答阔儿là Trát Mộc Hợp 札木合kết làm huynh đệ, để có được sự ủng hộ. Họ liên hợp xuất binh đánh bại người Miệt Nhi Khất, đoạt lại người vợ của Thiết Mộc Chân. Thắng lợi lần đó đã khiến cho Thiết Mộc Chân bắt đầu khôi phục nguyên khí, thuộc bộ cũng các dũng sĩ ngày trước lần lượt đầu bôn  trở lại với Thiết Mộc Chân. Năm 1189 (niên hiệu Đại Định thứ 29 đời Kim Thế Tông), một số chủ nô lệ lập Thiết Mộc Chân làm Hàn (Hãn) (1) (xưng hiệu người thống trị tối cao của dân tộc thiểu số phương bắc thời cổ)
              Thắng lợi của Thiết Mộc Chân khiến Trát Mộc Hợp không vui. Đương lúc em trai của Trát Mộc Hợp do vì chiếm đoạt bầy ngựa của Thiết Mộc Chân bị bộ tộc Mông Cổ giết chết, Trát Mộc Hợp mượn cớ phát động 3 vạn người của 13 bộ sở thuộc tấn công Thiết Mộc Chân. Thiết Mộc Chân cũng đem 3 vạn sĩ binh của mình chia làm 3 cánh nghinh chiến Trát Mộc Hợp, hai bên triển khai một trận đại chiến tại Đáp Lan Ba Lặc Chủ Dịch 答兰巴勒主惕bên bờ sông Khắc Lỗ Luân 克鲁伦 . Đây là trận “thập tam dực chi chiến” 十三翼之战 nổi tiếng trong lịch sử Mông Cổ. Kết quả, Thiết Mộc Chân bị đánh đại bại. Nhưng, do bởi Trát Mộc Hợp sát hại tù binh một cách tàn khốc, đã làm cho bộ hạ của ông bất mãn. Họ mạnh dạn thoát li Trát Mộc Hợp, đầu bôn đến Thiết Mộc Chân, Thiết Mộc Chân chuyển hoạ thành phúc, lực lượng của ông lớn mạnh.
              Chẳng bao lâu, thủ lĩnh Miệt Cổ Chân 蔑古真của bộ Tháp Tháp Nhi phản kháng triều Kim, hoàng đế triều Kim mệnh lệnh đại tướng Hoàn Nhan Tương 完颜襄 đem binh đánh Tháp Tháp Nhi. Thiết Mộc Chân tiếp nhận phong chức của triều Kim tham gia trận chiến này. Kết quả, Thiết Mộc Chân không chỉ báo được thù, mà còn bắt được nhiều bộ dân và gia súc của Tháp Tháp Nhi, từ đó, lực lượng của ông càng thêm hùng hậu.
              Năm 1201 (năm Thái Hoà 泰和 nguyên niên đời Kim Chương Tông 金章宗), Thiết Mộc Chân đánh bại Trát Mộc Hợp, năm sau, tiêu diệt toàn bộ người Tháp Tháp Nhi tàn dư. Như vậy, Thiết Mộc Chân đã thống nhất đông bộ Mông Cổ.
              Nhưng phía tây vẫn còn nhiều bộ lạc, trong đó cách rất gần là bộ Khắc Liệt 克烈 lớn mạnh. Vương Hàn (Hãn) 王汗 của bộ Khắc Liệt là Thoát Oát Lí Lặc 脱斡里勒 vào mùa xuân năm 1202 đột nhiên phát động cuộc tập kích Thiết Mộc Chân. Thiết Mộc Chân trong nhất thời mất phòng thủ, đành dẫn 19 người vội vã tháo chạy. Sau khi rút lui, họ đóng trại bên bờ Ban Chu Nê Hà 班朱泥河 (ý nghĩa là ao đầm). Nơi đây không có bóng người, không có lương thực, họ phải uống nước đục để đỡ khát, bắn ngựa rừng để ăn. Thời gian này là những ngày gian khổ nhất trong quá trình Thiết Mộc Chân thống nhất Mông Cổ. Cho nên, sau khi ông ta hoàn thành đại nghiệp thống nhất, đã phong công thần cho những người đã “đồng ẩm Ban Chu Nê Hà”.
              Về sau Thiết Mộc Chân lui đến phía đông hồ Bối Gia Nhĩ 贝加尔, một mặt ông hướng đến vương Hàn (Hãn) cầu hoà, một mặt lợi dụng thơi cơ tạm nghỉ, thu tập lại đội quân. Đến mùa thu năm đó, thực lực quân sự của ông được khôi phục, bèn ngầm phái binh bao vây nơi đóng của của vương Hàn (Hãn), đột nhiên phát khởi tấn công. Sau 3 ngày 3 đêm kịch chiến, Thiết Mộc Chân chiếm lĩnh Kim Trướng 金帐của vương Hàn (Hãn). Vương Hàn (Hãn) khi chạy đến bên bờ Ngạc Nhĩ Hồn 鄂尔浑 bị người Nãi Man 乃蛮 giết chết.
              Sau khi tiêu diệt bộ Khắc Liệt, mùa hè năm 1204 (niên hiệu Thái Hoà năm thứ 4 đời Kim Chương Tông), Thiết Mộc Chân đích thân dẫn đại quân xuất chinh Nãi Man, giết chết thủ lĩnh Tháp Dương Hàn (Hãn) 塔阳汗 của bộ Nãi Man. Từ đó, uy danh của Thiết Mộc Chân chấn động cả cao nguyên Mông Cổ, các bộ lạc khác cũng không dám cùng ông tranh phong. Người Miệt Nhi Khất nghe hơi gió đã khiếp đảm, thủ lĩnh của họ chạy đến một nơi rất xa; bộ Uông Cổ 汪古 chủ động đến quy phụ, Trát Mộc Hợp chạy trốn khắp nơi , bị bộ hạ của ông trói đưa về cho Thiết Mộc Chân, cuối cùng bị Thiết Mộc Chân xử tử. Như vậy, Thiết Mộc Chân đã hoàn thành đại nghiệp thống nhất toàn Mông Cổ.
              Năm 1206 (niên hiệu Thái Hoà thứ 6 đời Kim Chương Tông), Thiết Mộc Chân 44 tuổi được các chủ nô lệ của toàn Mông Cổ tiến cử làm Thành Cát Tư Hàn (Hãn) 成吉思汗. “Thành Cát Tư Hàn (Hãn)” theo tiếng Mông Cổ có nghĩa là “cường đại” 强大. Thành Cát Tư Hàn (Hãn) trở thành Đại Hàn (Hãn) 大汗 của toàn Mông Cổ, đánh dấu lịch sử Mông Cổ tiến vào một giai đoạn mới: kết thúc cục diện các bộ lạc nhiều năm tàn sát lẫn nhau; phía đông từ thảo nguyên Hô Luân Bối Nhĩ 呼伦贝尔, phía tây đến khu vực rộng lớn của núi A Nhĩ Thái 阿尔泰. Các bộ lạc sử dụng ngôn ngữ khác nhau và có trình độ văn hoá khác nhau, đã dần hình thành nên tộc Mông Cổ cần cù chăm chỉ.
              Sau khi Thành Cát Tư Hàn (Hãn) thống nhất toàn Mông Cổ, đã kiến lập một chính quyền Mông Cổ đầu tiên – nước Mông Cổ.

    Chú của người dịch
    1- Về chữ :
    Trong Khang Hi tự điển 康熙字典có ghi các âm đọc: “hãn”, “hàn”, “can”.
    - Với âm “hàn” bính âm han (thanh 2):
              “Đường vận”: hồ an thiết.
              “Tập vận”, “Vận hội”, “Chính vận”: hà can thiết. Tịnh âm (hàn)
              Khắc Hàn, tù trưởng chi xưng. Độc nhược 克韓 (khắc hàn).
              Hựu Bàn Hàn, Hán huyện danh. Độc Bàn Hàn.
              “唐韻”: 胡安切.
         集韻”, “韻會”, “正韻”: 河干切. 並音寒.
         可汗, 酋長之稱. 讀若克韓.
         又番汗, 漢縣名. 音盤寒.
              “Đường vận” phiên thiết là hồ an.
              “Tập vận”, “Vận hội”, “Chính vận” phiên thiết là “hà can”. Đều có âm đọc là (hàn).
              可汗 “Khắc hàn là từ gọi tù trưởng. Đọc như 克韓 “khắc hàn”.”
              Lại có Bàn Hàn, tên một huyện đời Hán. Đọc là “Bàn Hàn”.
              (“Khang Hi tự điển”, Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 2003, trang 553)

    Trong Hán Việt tự điển của Thiều Chửu có âm “hãn” và “hàn”. Với âm “hàn” ghi rằng:
              Một âm là hàn, vua rợ Đột quyết gọi là khả hàn 可汗.
              (Ở chữ trang 73 thì có âm đọc là khắc hàn, ở đây lại là khả hàn. Chắc có lẽ tác giả nhầm – ND)
              (Nhà xuất bản Hồng Đức, 2015, trang 299)

              Trong Từ điển Hán Việt văn ngôn dẫn chứng của Nguyễn Tôn Nhan, chữ cũng có 2 âm đọc: “hãn” và  “hàn”. Với âm “hàn” ghi rằng:
              Vua Hung Nô được gọi là Khả Hàn 可汗 (cũng quen đọc là Hãn)
              Ở chữ ghi rằng:
              Tên gọi vua Tây Vực (Khả Hãn 可汗, đọc như Khắc Hàn)
              (Nhà xuất bản TP Hồ chí Minh, 2002, trang 736, trang 195)
              Như vậy chữ với nghĩa là tù trưởng đọc là “Hàn”, ta quen đọc là “Hãn”. 可汗 đọc là “Khắc Hàn”, ta quen đọc là “Khả Hãn”.

                                                             Huỳnh Chương Hưng
                                                              Quy Nhơn 11/4/2019

    Nguồn
    TRUNG HOA THƯỢNG HẠ NGŨ THIÊN NIÊN
    中华上下五千年
    Chủ biên: Lí Tinh 李晶
    Nam Kinh đại học xuất bản xã, 2007

    Dịch thuật: Thành Cát Tư Hàn (Hãn) thống nhất Mông Cổ

    Đăng lúc  22:41  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    THÀNH CÁT TƯ HÀN (HÃN) THỐNG NHẤT MÔNG CỔ

              Năm 1162 (niên hiệu Đại Định 大定 thứ 2 đời Kim Thế Tông 金世宗, niên hiệu Thiệu Hưng 绍兴 thứ 32 đời Cao Tông 高宗 triều Nam Tống), trên cao nguyên Mông Cổ, vợ của tù trưởng bộ tộc Mông Cổ Dã Tốc Cai 也速该sinh được một người con trai. Hôm đó, Dã Tốc Cai dẫn bộ hạ tập kích người Tháp Tháp Nhi 塔塔儿, giành được thắng lợi. Để kỉ niệm thắng lợi này, Dã Tốc Cai đặt tên cho đứa con vừa mới sinh là Thiết Mộc Chân 铁木真, ý nghĩa là “tinh cang” 精钢.
              Do bởi bộ tộc Mông Cổ và bộ tộc Tháp Tháp Nhi thường đánh lẫn nhau, cho nên thời trẻ và thời thanh niên của Thiết Mộc Chân luôn ở trong giai đoạn quá độ chiến tranh. Năm Thiết Mộc Chân 9 tuổi, phụ thân của ông bị người Tháp Tháp Nhi hạ độc chết.
              Sau khi Dã Tốc Cai qua đời, thuộc bộ và các võ sĩ của ông nhìn thấy thế lực của bộ tộc Mông Cổ ngày càng suy yếu, nên họ lần lượt rời đi. Qua mấy năm, chủ nô lệ của bộ Thái Xích Ô 泰赤乌 ngày trước lo sợ Thiết Mộc Chân sau khi trưởng thành sẽ báo thù, bèn đột nhiên dùng biện pháp tập kích bắt Thiết Mộc Chân, cho đeo gông để thị chúng. Về sau, Thiết Mộc Chân thừa lúc người của bộ Thái Xích Ô cử hành yến hội, đã dùng gông đánh ngã tên canh giữ, được sự giúp đỡ của cha con nô lệ Toả Nhi Hãn Phu Thích 锁儿罕夫剌, Thiết Mộc Chân đã đào thoát về quê nhà. Chẳng bao lâu, lại gặp phải sự tập kích của người Miệt Nhi Khất 蔑儿乞, trong lúc vội vã tháo chạy, ngay cả vợ con ông cũng không kịp dẫn theo, khiến vợ con trở thành tù binh của người Miệt Nhi Khất.
              Sự thất bại và hoạn nạn đã rèn luyện ý chí của Thiết Mộc Chân, ông nén đau thương đem áo cừu hắc điêu lúc cưới của vợ dâng cho Thoát Oát Lí Lặc Hàn 脱斡里勒汗 của bộ Khắc Liệt 克烈, gọi ông ta là nghĩa phụ. Lại cùng với thủ lĩnh bộ Trát Đáp Khoát Nhi 札答阔儿là Trát Mộc Hợp 札木合kết làm huynh đệ, để có được sự ủng hộ. Họ liên hợp xuất binh đánh bại người Miệt Nhi Khất, đoạt lại người vợ của Thiết Mộc Chân. Thắng lợi lần đó đã khiến cho Thiết Mộc Chân bắt đầu khôi phục nguyên khí, thuộc bộ cũng các dũng sĩ ngày trước lần lượt đầu bôn  trở lại với Thiết Mộc Chân. Năm 1189 (niên hiệu Đại Định thứ 29 đời Kim Thế Tông), một số chủ nô lệ lập Thiết Mộc Chân làm Hàn (Hãn) (1) (xưng hiệu người thống trị tối cao của dân tộc thiểu số phương bắc thời cổ)
              Thắng lợi của Thiết Mộc Chân khiến Trát Mộc Hợp không vui. Đương lúc em trai của Trát Mộc Hợp do vì chiếm đoạt bầy ngựa của Thiết Mộc Chân bị bộ tộc Mông Cổ giết chết, Trát Mộc Hợp mượn cớ phát động 3 vạn người của 13 bộ sở thuộc tấn công Thiết Mộc Chân. Thiết Mộc Chân cũng đem 3 vạn sĩ binh của mình chia làm 3 cánh nghinh chiến Trát Mộc Hợp, hai bên triển khai một trận đại chiến tại Đáp Lan Ba Lặc Chủ Dịch 答兰巴勒主惕bên bờ sông Khắc Lỗ Luân 克鲁伦 . Đây là trận “thập tam dực chi chiến” 十三翼之战 nổi tiếng trong lịch sử Mông Cổ. Kết quả, Thiết Mộc Chân bị đánh đại bại. Nhưng, do bởi Trát Mộc Hợp sát hại tù binh một cách tàn khốc, đã làm cho bộ hạ của ông bất mãn. Họ mạnh dạn thoát li Trát Mộc Hợp, đầu bôn đến Thiết Mộc Chân, Thiết Mộc Chân chuyển hoạ thành phúc, lực lượng của ông lớn mạnh.
              Chẳng bao lâu, thủ lĩnh Miệt Cổ Chân 蔑古真của bộ Tháp Tháp Nhi phản kháng triều Kim, hoàng đế triều Kim mệnh lệnh đại tướng Hoàn Nhan Tương 完颜襄 đem binh đánh Tháp Tháp Nhi. Thiết Mộc Chân tiếp nhận phong chức của triều Kim tham gia trận chiến này. Kết quả, Thiết Mộc Chân không chỉ báo được thù, mà còn bắt được nhiều bộ dân và gia súc của Tháp Tháp Nhi, từ đó, lực lượng của ông càng thêm hùng hậu.
              Năm 1201 (năm Thái Hoà 泰和 nguyên niên đời Kim Chương Tông 金章宗), Thiết Mộc Chân đánh bại Trát Mộc Hợp, năm sau, tiêu diệt toàn bộ người Tháp Tháp Nhi tàn dư. Như vậy, Thiết Mộc Chân đã thống nhất đông bộ Mông Cổ.
              Nhưng phía tây vẫn còn nhiều bộ lạc, trong đó cách rất gần là bộ Khắc Liệt 克烈 lớn mạnh. Vương Hàn (Hãn) 王汗 của bộ Khắc Liệt là Thoát Oát Lí Lặc 脱斡里勒 vào mùa xuân năm 1202 đột nhiên phát động cuộc tập kích Thiết Mộc Chân. Thiết Mộc Chân trong nhất thời mất phòng thủ, đành dẫn 19 người vội vã tháo chạy. Sau khi rút lui, họ đóng trại bên bờ Ban Chu Nê Hà 班朱泥河 (ý nghĩa là ao đầm). Nơi đây không có bóng người, không có lương thực, họ phải uống nước đục để đỡ khát, bắn ngựa rừng để ăn. Thời gian này là những ngày gian khổ nhất trong quá trình Thiết Mộc Chân thống nhất Mông Cổ. Cho nên, sau khi ông ta hoàn thành đại nghiệp thống nhất, đã phong công thần cho những người đã “đồng ẩm Ban Chu Nê Hà”.
              Về sau Thiết Mộc Chân lui đến phía đông hồ Bối Gia Nhĩ 贝加尔, một mặt ông hướng đến vương Hàn (Hãn) cầu hoà, một mặt lợi dụng thơi cơ tạm nghỉ, thu tập lại đội quân. Đến mùa thu năm đó, thực lực quân sự của ông được khôi phục, bèn ngầm phái binh bao vây nơi đóng của của vương Hàn (Hãn), đột nhiên phát khởi tấn công. Sau 3 ngày 3 đêm kịch chiến, Thiết Mộc Chân chiếm lĩnh Kim Trướng 金帐của vương Hàn (Hãn). Vương Hàn (Hãn) khi chạy đến bên bờ Ngạc Nhĩ Hồn 鄂尔浑 bị người Nãi Man 乃蛮 giết chết.
              Sau khi tiêu diệt bộ Khắc Liệt, mùa hè năm 1204 (niên hiệu Thái Hoà năm thứ 4 đời Kim Chương Tông), Thiết Mộc Chân đích thân dẫn đại quân xuất chinh Nãi Man, giết chết thủ lĩnh Tháp Dương Hàn (Hãn) 塔阳汗 của bộ Nãi Man. Từ đó, uy danh của Thiết Mộc Chân chấn động cả cao nguyên Mông Cổ, các bộ lạc khác cũng không dám cùng ông tranh phong. Người Miệt Nhi Khất nghe hơi gió đã khiếp đảm, thủ lĩnh của họ chạy đến một nơi rất xa; bộ Uông Cổ 汪古 chủ động đến quy phụ, Trát Mộc Hợp chạy trốn khắp nơi , bị bộ hạ của ông trói đưa về cho Thiết Mộc Chân, cuối cùng bị Thiết Mộc Chân xử tử. Như vậy, Thiết Mộc Chân đã hoàn thành đại nghiệp thống nhất toàn Mông Cổ.
              Năm 1206 (niên hiệu Thái Hoà thứ 6 đời Kim Chương Tông), Thiết Mộc Chân 44 tuổi được các chủ nô lệ của toàn Mông Cổ tiến cử làm Thành Cát Tư Hàn (Hãn) 成吉思汗. “Thành Cát Tư Hàn (Hãn)” theo tiếng Mông Cổ có nghĩa là “cường đại” 强大. Thành Cát Tư Hàn (Hãn) trở thành Đại Hàn (Hãn) 大汗 của toàn Mông Cổ, đánh dấu lịch sử Mông Cổ tiến vào một giai đoạn mới: kết thúc cục diện các bộ lạc nhiều năm tàn sát lẫn nhau; phía đông từ thảo nguyên Hô Luân Bối Nhĩ 呼伦贝尔, phía tây đến khu vực rộng lớn của núi A Nhĩ Thái 阿尔泰. Các bộ lạc sử dụng ngôn ngữ khác nhau và có trình độ văn hoá khác nhau, đã dần hình thành nên tộc Mông Cổ cần cù chăm chỉ.
              Sau khi Thành Cát Tư Hàn (Hãn) thống nhất toàn Mông Cổ, đã kiến lập một chính quyền Mông Cổ đầu tiên – nước Mông Cổ.

    Chú của người dịch
    1- Về chữ :
    Trong Khang Hi tự điển 康熙字典có ghi các âm đọc: “hãn”, “hàn”, “can”.
    - Với âm “hàn” bính âm han (thanh 2):
              “Đường vận”: hồ an thiết.
              “Tập vận”, “Vận hội”, “Chính vận”: hà can thiết. Tịnh âm (hàn)
              Khắc Hàn, tù trưởng chi xưng. Độc nhược 克韓 (khắc hàn).
              Hựu Bàn Hàn, Hán huyện danh. Độc Bàn Hàn.
              “唐韻”: 胡安切.
         集韻”, “韻會”, “正韻”: 河干切. 並音寒.
         可汗, 酋長之稱. 讀若克韓.
         又番汗, 漢縣名. 音盤寒.
              “Đường vận” phiên thiết là hồ an.
              “Tập vận”, “Vận hội”, “Chính vận” phiên thiết là “hà can”. Đều có âm đọc là (hàn).
              可汗 “Khắc hàn là từ gọi tù trưởng. Đọc như 克韓 “khắc hàn”.”
              Lại có Bàn Hàn, tên một huyện đời Hán. Đọc là “Bàn Hàn”.
              (“Khang Hi tự điển”, Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 2003, trang 553)

    Trong Hán Việt tự điển của Thiều Chửu có âm “hãn” và “hàn”. Với âm “hàn” ghi rằng:
              Một âm là hàn, vua rợ Đột quyết gọi là khả hàn 可汗.
              (Ở chữ trang 73 thì có âm đọc là khắc hàn, ở đây lại là khả hàn. Chắc có lẽ tác giả nhầm – ND)
              (Nhà xuất bản Hồng Đức, 2015, trang 299)

              Trong Từ điển Hán Việt văn ngôn dẫn chứng của Nguyễn Tôn Nhan, chữ cũng có 2 âm đọc: “hãn” và  “hàn”. Với âm “hàn” ghi rằng:
              Vua Hung Nô được gọi là Khả Hàn 可汗 (cũng quen đọc là Hãn)
              Ở chữ ghi rằng:
              Tên gọi vua Tây Vực (Khả Hãn 可汗, đọc như Khắc Hàn)
              (Nhà xuất bản TP Hồ chí Minh, 2002, trang 736, trang 195)
              Như vậy chữ với nghĩa là tù trưởng đọc là “Hàn”, ta quen đọc là “Hãn”. 可汗 đọc là “Khắc Hàn”, ta quen đọc là “Khả Hãn”.

                                                             Huỳnh Chương Hưng
                                                              Quy Nhơn 11/4/2019

    Nguồn
    TRUNG HOA THƯỢNG HẠ NGŨ THIÊN NIÊN
    中华上下五千年
    Chủ biên: Lí Tinh 李晶
    Nam Kinh đại học xuất bản xã, 2007

    Mã nguồn bởi Huỳnh Chương Hưng
    Copyright © 2012 Huỳnh Chương Hưng.
    back to top