• Thứ Sáu, 26 tháng 5, 2017

    TRIỆU THUẪN VỚI TẤN LINH CÔNG

              Mùa thu năm 621 trước công nguyên (Tấn Tương Công 晋襄公 năm thứ 7), Tấn Tương Công qua đời. Triệu Thuẫn 赵盾 vốn muốn lập công tử Ung , nhưng Tương Công phu nhân khóc lóc ầm ĩ, Triệu Thuẫn ngăn không được, cuối cùng lập thái tử Di Cao 夷皋 (Tấn Linh Công 晋灵公). Triệu Thuẫn tuy rất có tài năng, nhưng không thể so với chính trị gia thiên tài như Quản Trọng 管仲. Lúc đó, thời đại mà đại phu đoạt quyền của chư hầu vẫn chưa bắt đầu. Kẻ đương chính muốn cho chính lệnh của mình thông suốt, phải có sự ủng hộ của quốc quân, nhưng vị quốc quân đối mặt với Triệu Thuẫn hãy còn là một đứa bé. Tấn Linh Công sau này lớn lên, căn bản không biết làm quốc quân là như thế nào, ông ta tăng nặng thuế khoá, mục đích chỉ là để cung ứng trang sức cho cuộc sống của mình; lại còn ở trên đài cao dùng cung đạn bắn người qua đường, xem họ trốn chạy như thế nào mà lấy đó làm vui; ông bắt phụ nữ khiêng bản thân mình đi qua đi lại nơi triều đường, những ai bên cạnh không hợp ý, muốn giết là giết. Triệu Thuẫn không ngừng can gián, nhưng Tấn Linh Công không hối cải, ngược lại năm lần bảy lượt muốn giết Triệu Thuẫn, Triệu Thuẫn đành trốn chạy sang nước khác. Nhưng Triệu Thuẫn chưa ra khỏi lãnh thổ đã truyền đến tin em họ của Triệu Thuẫn là Triệu Xuyên 赵穿 giết Tấn Linh Công. Thế là, Triệu Thuẫn vội quay về lại quốc đô, bảo Triệu Xuyên đến nhà Chu nghinh đón em trai của Tấn Tương Công là công tử Hắc Đồn 黑臀 về kế vị. Triệu Xuyên giết Tấn Linh Công, rất có khả năng là do Triệu Thuẫn sắp đặt, còn bản thân ông dùng cách giả trang để tránh trách nhiệm. Cho nên, quan Thái sử nước Triệu là Đổng Hồ 董狐 khi thuật lại câu chuyện này đã viết rằng:
    - Triệu Thuẫn đã giết quốc quân
              Triệu Thuẫn không đồng ý, Đổng Hồ nói rằng:
              - Ông thân làm chính khanh, khi trốn chạy vẫn chưa ra khỏi đất nước, nên  gánh lấy trách nhiệm này, đáng lẽ sau khi quay về phải tìm người đã giết chết quốc quân chứ. Vậy thì không phải ông, thì ai giết chết quốc quân đây?

                                                                     Huỳnh Chương Hưng
                                                                     Quy Nhơn 26/5/2017

    Nguyên tác Trung văn
    TRIỆU THUẪN DỮ TẤN LINH CÔNG
    赵盾与晋灵公
    Trong quyển
    ĐỒ VĂN TRUNG QUỐC THÔNG SỬ
    图文中国通史
    (tập Sử tiền sử - Chiến quốc)
    Chủ biên: Triệu Hướng Tiêu 赵向标
    Tân Cương nhân dân xuất bản xã, 2002.

    Dịch thuật: Triệu Thuẫn với Tấn Linh Công

    Đăng lúc  21:53  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    TRIỆU THUẪN VỚI TẤN LINH CÔNG

              Mùa thu năm 621 trước công nguyên (Tấn Tương Công 晋襄公 năm thứ 7), Tấn Tương Công qua đời. Triệu Thuẫn 赵盾 vốn muốn lập công tử Ung , nhưng Tương Công phu nhân khóc lóc ầm ĩ, Triệu Thuẫn ngăn không được, cuối cùng lập thái tử Di Cao 夷皋 (Tấn Linh Công 晋灵公). Triệu Thuẫn tuy rất có tài năng, nhưng không thể so với chính trị gia thiên tài như Quản Trọng 管仲. Lúc đó, thời đại mà đại phu đoạt quyền của chư hầu vẫn chưa bắt đầu. Kẻ đương chính muốn cho chính lệnh của mình thông suốt, phải có sự ủng hộ của quốc quân, nhưng vị quốc quân đối mặt với Triệu Thuẫn hãy còn là một đứa bé. Tấn Linh Công sau này lớn lên, căn bản không biết làm quốc quân là như thế nào, ông ta tăng nặng thuế khoá, mục đích chỉ là để cung ứng trang sức cho cuộc sống của mình; lại còn ở trên đài cao dùng cung đạn bắn người qua đường, xem họ trốn chạy như thế nào mà lấy đó làm vui; ông bắt phụ nữ khiêng bản thân mình đi qua đi lại nơi triều đường, những ai bên cạnh không hợp ý, muốn giết là giết. Triệu Thuẫn không ngừng can gián, nhưng Tấn Linh Công không hối cải, ngược lại năm lần bảy lượt muốn giết Triệu Thuẫn, Triệu Thuẫn đành trốn chạy sang nước khác. Nhưng Triệu Thuẫn chưa ra khỏi lãnh thổ đã truyền đến tin em họ của Triệu Thuẫn là Triệu Xuyên 赵穿 giết Tấn Linh Công. Thế là, Triệu Thuẫn vội quay về lại quốc đô, bảo Triệu Xuyên đến nhà Chu nghinh đón em trai của Tấn Tương Công là công tử Hắc Đồn 黑臀 về kế vị. Triệu Xuyên giết Tấn Linh Công, rất có khả năng là do Triệu Thuẫn sắp đặt, còn bản thân ông dùng cách giả trang để tránh trách nhiệm. Cho nên, quan Thái sử nước Triệu là Đổng Hồ 董狐 khi thuật lại câu chuyện này đã viết rằng:
    - Triệu Thuẫn đã giết quốc quân
              Triệu Thuẫn không đồng ý, Đổng Hồ nói rằng:
              - Ông thân làm chính khanh, khi trốn chạy vẫn chưa ra khỏi đất nước, nên  gánh lấy trách nhiệm này, đáng lẽ sau khi quay về phải tìm người đã giết chết quốc quân chứ. Vậy thì không phải ông, thì ai giết chết quốc quân đây?

                                                                     Huỳnh Chương Hưng
                                                                     Quy Nhơn 26/5/2017

    Nguyên tác Trung văn
    TRIỆU THUẪN DỮ TẤN LINH CÔNG
    赵盾与晋灵公
    Trong quyển
    ĐỒ VĂN TRUNG QUỐC THÔNG SỬ
    图文中国通史
    (tập Sử tiền sử - Chiến quốc)
    Chủ biên: Triệu Hướng Tiêu 赵向标
    Tân Cương nhân dân xuất bản xã, 2002.

    Thứ Năm, 25 tháng 5, 2017



    尧光山, 羽山
        又东三百五十里, 曰尧光之山. 其阳多玉, 其阴多金. 有兽焉, 其状如人而彘鬣 (1), 穴居而冬蛰, 其名曰猾裹, 其音如斫木, 见则县有大繇.
        又东三百五十里, 曰羽山. 其下多水, 其上多雨, 无草木, 多蝮虫.
                                  (山海经 - 南山经)

    NGHIÊU QUANG SƠN, VŨ SƠN
              Hựu đông tam bách ngũ thập lí, viết Nghiêu Quang chi sơn. Kì dương đa ngọc, kì âm đa kim. Hữu thú yên, kì trạng như nhân nhi trệ liệp (1), huyệt cư nhi đông trập, kì danh viết Hoạt Khoả, kì âm như chước mộc, hiện tắc huyện hữu đại diêu.
              Hựu đông tam bách ngũ thập lí, viết Vũ sơn. Kì hạ đa thuỷ, kì thượng đa vũ, vô thảo mộc, đa phúc trùng.
                                                                  (Sơn hải kinh – Nam sơn kinh)

    NGHIÊU QUANG SƠN, VŨ SƠN
              Lại hướng về phía đông 350 dặm, có ngọn Nghiêu Quang sơn. Phía nam của núi sản sinh nhiều ngọc, phía bắc của núi sản sinh nhiều kim loại. Trong núi có một loài thú, hình trạng giống con người, nơi cổ mọc ra những chiếc lông cứng như lông heo, loài thú này sống ở hang, mùa đông ngủ vùi không ra, tên nó là Hoạt Khoả, tiếng kêu của nó nghe giống tiếng chặt cây, khi nó xuất hiện thì nhất định ở huyện có việc phu dịch nặng nề.
              Lại hướng về phía đông 350 dặm nữa, có ngọn Vũ sơn. Dưới núi có nhiều nước, trên núi có nhiều mưa, nhưng lại không có bất kì cây cỏ nào, khắp núi đều có loại phúc trùng.

    Chú của nguyên tác
    1- Trệ liệp 彘鬣: loại lông thô cứng trên thân của một loài thú giống heo.

                                                                              Huỳnh Chương Hưng
                                                                              Quy Nhơn 25/5/2017

    Nguyên tác
    NGHIÊU QUANG SƠN, VŨ SƠN
    尧光山,
    Trong quyển
    SƠN HẢI KINH
    山海经
    Tác giả: Lưu Hướng 刘向, Lưu Hâm 刘歆 (Tây Hán)
    Cáp Nhĩ Tân: Bắc phương văn nghệ xuất bản xã, 2013 

    Dịch thuật: Nghiêu Quang sơn, Vũ sơn

    Đăng lúc  21:17  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »



    尧光山, 羽山
        又东三百五十里, 曰尧光之山. 其阳多玉, 其阴多金. 有兽焉, 其状如人而彘鬣 (1), 穴居而冬蛰, 其名曰猾裹, 其音如斫木, 见则县有大繇.
        又东三百五十里, 曰羽山. 其下多水, 其上多雨, 无草木, 多蝮虫.
                                  (山海经 - 南山经)

    NGHIÊU QUANG SƠN, VŨ SƠN
              Hựu đông tam bách ngũ thập lí, viết Nghiêu Quang chi sơn. Kì dương đa ngọc, kì âm đa kim. Hữu thú yên, kì trạng như nhân nhi trệ liệp (1), huyệt cư nhi đông trập, kì danh viết Hoạt Khoả, kì âm như chước mộc, hiện tắc huyện hữu đại diêu.
              Hựu đông tam bách ngũ thập lí, viết Vũ sơn. Kì hạ đa thuỷ, kì thượng đa vũ, vô thảo mộc, đa phúc trùng.
                                                                  (Sơn hải kinh – Nam sơn kinh)

    NGHIÊU QUANG SƠN, VŨ SƠN
              Lại hướng về phía đông 350 dặm, có ngọn Nghiêu Quang sơn. Phía nam của núi sản sinh nhiều ngọc, phía bắc của núi sản sinh nhiều kim loại. Trong núi có một loài thú, hình trạng giống con người, nơi cổ mọc ra những chiếc lông cứng như lông heo, loài thú này sống ở hang, mùa đông ngủ vùi không ra, tên nó là Hoạt Khoả, tiếng kêu của nó nghe giống tiếng chặt cây, khi nó xuất hiện thì nhất định ở huyện có việc phu dịch nặng nề.
              Lại hướng về phía đông 350 dặm nữa, có ngọn Vũ sơn. Dưới núi có nhiều nước, trên núi có nhiều mưa, nhưng lại không có bất kì cây cỏ nào, khắp núi đều có loại phúc trùng.

    Chú của nguyên tác
    1- Trệ liệp 彘鬣: loại lông thô cứng trên thân của một loài thú giống heo.

                                                                              Huỳnh Chương Hưng
                                                                              Quy Nhơn 25/5/2017

    Nguyên tác
    NGHIÊU QUANG SƠN, VŨ SƠN
    尧光山,
    Trong quyển
    SƠN HẢI KINH
    山海经
    Tác giả: Lưu Hướng 刘向, Lưu Hâm 刘歆 (Tây Hán)
    Cáp Nhĩ Tân: Bắc phương văn nghệ xuất bản xã, 2013 

    Thứ Tư, 24 tháng 5, 2017

    THỢ MAY HẮC TÂM VÀ QUAN HUYỆN THAM TÂM

              Giả Vô Bệnh 贾无病 là thợ may có tiếng ở huyện Hoàng Mai 黄梅, các nhà dù ở xa mấy chục dặm cũng nhất định mời anh ta may cho quần áo.
              Tri huyện họ Mã là vị thanh quan nổi tiếng huyện Hoàng Mai, hàng năm được được dấu son về công tích.
              Mùa đông năm nọ, vào tháng Chạp Mã tri huyện chuẩn bị việc may áo mới cho vợ, con gái và cho mình. Mã tri huyện mời Giả Vô Bệnh đến, sắp xếp cho anh ta một chỗ nơi hành lang bên lầu đọc sách của mình, lúc rỗi Mã tri huyện thích từ cửa sổ nhìn Giả Vô Bệnh làm việc.
              Ngày nọ, Mã tri huyện thấy Giả Vô Bệnh giấu một miếng vải vào trong ngực. “Hừm! hừm! ăn trộm của huyện thái gia rồi!” Mã tri huyện nghĩ bụng. Thế là ông ta viết một tờ giấy rồi gói một viên sỏi, vo tròn lại quăng đến bàn may  của Giả Vô Bệnh. Giả Vô Bệnh mở ra xem, trên giấy viết rằng:
    Tài phùng hoài trung tàng khối miên
    裁缝怀中藏块棉
    (Thợ may trong ngực giấu miếng vải)
              Giả Vô Bệnh mặt nóng lên, biết huyện thái gia đang nhạo mình. Giả Vô Bệnh nghĩ bụng “Lẽ nào ông lại là một vị quan thanh liêm?” Thế là anh ta viết một tờ giấy rồi ném qua lại. Mã tri huyện xem qua, trên giấy viết rằng:
    Thính thuyết thanh quan dã tham tiền
    听说清官也贪钱
    (Nghe nói quan thanh liêm cũng tham tiền)
              Đương nhiên Mã tri huyện biết bản thân mình tham hay không tham. Mã tri huyện lại viết một tờ giấy khác ném qua. Giả Vô Bệnh xem, trên giấy viết rằng:
    Ngã hữu thập niên hàn song khổ
    我有十年寒窗苦
    (Ta đã mười năm khổ nhọc bên cửa sổ)
              Giả Vô Bệnh biết tri huyện đang tự bào chữa. Đọc sách làm quan tốn rất nhiều tiền, tham một chút cũng là bình thường, lẽ nào khi học nghề may lại không tốn tiền sao? Giả Vô Bệnh bất bình, lại viết một tờ giấy nữa ném qua cho Mã tri huyện. Mã Tri huyện mở xem, trên giấy viết rằng:
    Ngã hữu tam niên lương mễ tiền
    我有三年粮米钱
    (Tôi tốn 3 năm tiền cơm gạo)
              Ý tứ cũng đã rõ: học nghề cũng tốn tiền.
              Sự việc như thế, Giả Vô Bệnh và Mã tri huyện huề nhau, không ai thắng thua. Nhưng Mã tri huyện không phục, đường đường là một quan tri huyện tôn quý lại huề với một tay thợ may, còn ra thể thống gì nữa? Huề là thua rồi, thế là ông ta muốn báo thù. Làm sao báo thù đây? Mã tri huyện lấy lí do là ăn trộm vải trừ một nửa tiền công của Giả Vô Bệnh.
              Giả Vô Bệnh biết đấu không lại huyện thái gia, đành hậm hực ra về.
              Một một tết, Mã tri huyện mặc chiếc áo bông mới may, nhưng mặc như thế nào cũng cài cúc không thoải mái, phía sau như vướng một thứ gì. Thế là Mã tri huyện bảo bà vợ tháo ra xem. Lúc bấy giờ Mã tri huyện nhìn thấy ở phía sau  lớp vải bông dày lên một khối, nhìn như một trái tim đen. Xé ra xem, bên trong trái tim đen đó là những mảnh vải vụn lúc may dồn lại.
              Sau này, Mã tri huyện nghe nói Giả Vô Bệnh mắc chứng đau ngực, nhét vải vào ngực chẳng qua là để cho ngực ấm lên.

                                                              Huỳnh Chương Hưng
                                                              Quy Nhơn 24/5/2017

    Dịch thuật: Thợ may hắc tâm và quan huyện tham tâm

    Đăng lúc  18:40  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    THỢ MAY HẮC TÂM VÀ QUAN HUYỆN THAM TÂM

              Giả Vô Bệnh 贾无病 là thợ may có tiếng ở huyện Hoàng Mai 黄梅, các nhà dù ở xa mấy chục dặm cũng nhất định mời anh ta may cho quần áo.
              Tri huyện họ Mã là vị thanh quan nổi tiếng huyện Hoàng Mai, hàng năm được được dấu son về công tích.
              Mùa đông năm nọ, vào tháng Chạp Mã tri huyện chuẩn bị việc may áo mới cho vợ, con gái và cho mình. Mã tri huyện mời Giả Vô Bệnh đến, sắp xếp cho anh ta một chỗ nơi hành lang bên lầu đọc sách của mình, lúc rỗi Mã tri huyện thích từ cửa sổ nhìn Giả Vô Bệnh làm việc.
              Ngày nọ, Mã tri huyện thấy Giả Vô Bệnh giấu một miếng vải vào trong ngực. “Hừm! hừm! ăn trộm của huyện thái gia rồi!” Mã tri huyện nghĩ bụng. Thế là ông ta viết một tờ giấy rồi gói một viên sỏi, vo tròn lại quăng đến bàn may  của Giả Vô Bệnh. Giả Vô Bệnh mở ra xem, trên giấy viết rằng:
    Tài phùng hoài trung tàng khối miên
    裁缝怀中藏块棉
    (Thợ may trong ngực giấu miếng vải)
              Giả Vô Bệnh mặt nóng lên, biết huyện thái gia đang nhạo mình. Giả Vô Bệnh nghĩ bụng “Lẽ nào ông lại là một vị quan thanh liêm?” Thế là anh ta viết một tờ giấy rồi ném qua lại. Mã tri huyện xem qua, trên giấy viết rằng:
    Thính thuyết thanh quan dã tham tiền
    听说清官也贪钱
    (Nghe nói quan thanh liêm cũng tham tiền)
              Đương nhiên Mã tri huyện biết bản thân mình tham hay không tham. Mã tri huyện lại viết một tờ giấy khác ném qua. Giả Vô Bệnh xem, trên giấy viết rằng:
    Ngã hữu thập niên hàn song khổ
    我有十年寒窗苦
    (Ta đã mười năm khổ nhọc bên cửa sổ)
              Giả Vô Bệnh biết tri huyện đang tự bào chữa. Đọc sách làm quan tốn rất nhiều tiền, tham một chút cũng là bình thường, lẽ nào khi học nghề may lại không tốn tiền sao? Giả Vô Bệnh bất bình, lại viết một tờ giấy nữa ném qua cho Mã tri huyện. Mã Tri huyện mở xem, trên giấy viết rằng:
    Ngã hữu tam niên lương mễ tiền
    我有三年粮米钱
    (Tôi tốn 3 năm tiền cơm gạo)
              Ý tứ cũng đã rõ: học nghề cũng tốn tiền.
              Sự việc như thế, Giả Vô Bệnh và Mã tri huyện huề nhau, không ai thắng thua. Nhưng Mã tri huyện không phục, đường đường là một quan tri huyện tôn quý lại huề với một tay thợ may, còn ra thể thống gì nữa? Huề là thua rồi, thế là ông ta muốn báo thù. Làm sao báo thù đây? Mã tri huyện lấy lí do là ăn trộm vải trừ một nửa tiền công của Giả Vô Bệnh.
              Giả Vô Bệnh biết đấu không lại huyện thái gia, đành hậm hực ra về.
              Một một tết, Mã tri huyện mặc chiếc áo bông mới may, nhưng mặc như thế nào cũng cài cúc không thoải mái, phía sau như vướng một thứ gì. Thế là Mã tri huyện bảo bà vợ tháo ra xem. Lúc bấy giờ Mã tri huyện nhìn thấy ở phía sau  lớp vải bông dày lên một khối, nhìn như một trái tim đen. Xé ra xem, bên trong trái tim đen đó là những mảnh vải vụn lúc may dồn lại.
              Sau này, Mã tri huyện nghe nói Giả Vô Bệnh mắc chứng đau ngực, nhét vải vào ngực chẳng qua là để cho ngực ấm lên.

                                                              Huỳnh Chương Hưng
                                                              Quy Nhơn 24/5/2017

    Thứ Ba, 23 tháng 5, 2017

    XƯNG HIỆU “BA ĐỒ LỖ” TRONG TIẾNG MÃN CHÂU
    (tiếp theo)  

              Xưng hiệu có lúc cũng có thể thay đổi, con trưởng của Thái Tổ là Chử Anh 褚英 lúc ban đầu có hiệu là Hồng Ba đồ lỗ 洪巴图鲁, về sau nhân vì có công đánh thắng Bố Chiêm Thái 布占泰 nên được ban hiệu là A Nhĩ Cáp Đồ Thổ Môn 阿尔哈图土门 (Sử cảo 史稿 truyện 3). Thời Tuyên Tông, Tề Thận 齐慎 được ban hiệu là Kiện Dũng Ba đồ lỗ 健勇巴图鲁, sau tùng chinh Hồi Cương 回疆 có công, được đổi hiệu là Cường Khiêm Ba đồ lỗ 强谦巴图鲁 (Sử cảo 史稿 truyện 155, ‘phụ Dương Phương truyện’ 杨芳传). Thời Văn Tông, Bảo Siêu 鲍超 được ban hiệu là Tráng Dũng Ba đồ lỗ 壮勇巴图鲁, sau được ban hiệu là Bác Thông Ngạch Ba đồ lỗ 博通额巴图鲁 (Sử cảo 史稿 truyện 196). Phàm có hiệu mới, hiệu cũ sẽ bỏ, không thể tồn tại. Năm Hàm Phong 咸丰thứ 8, Điền Hưng Thứ 田兴恕 được ban hiệu là Thượng Dũng Chí Dũng lưỡng Ba đồ lỗ 尚勇挚勇两巴图鲁(Sử cảo 史稿 truyện 207). Năm Đồng Trị 同治 thứ 2, Lí Trường Lạc 李长乐 được ban hiệu Khản Dũng Ba đồ lỗ 侃勇巴图鲁, năm sau được ban hiệu là Thượng Dũng Ba đồ lỗ 尚勇巴图鲁 (Sử cảo 史稿 truyện 218). Đó không phải là điển chế, mà là sự sơ suất.
              Việc ban tặng dũng hiệu nhằm biểu dương võ công, cho nên không có đẳng cấp thứ bậc, cũng không phân biệt văn võ. Có người chỉ là quan nhỏ nhưng được ban tặng, có người tuy là quan lớn nhưng lại không được. Năm Hàm Phong thứ 4, Hổ Khôn Nguyên 虎坤元 chỉ là Thủ bị 守备 (chánh ngũ phẩm), được ban hiệu Cổ Dũng Ba đồ lỗ 鼓勇巴图鲁(Sử cảo 史稿 truyện 189), cùng năm đó, khi Tăng Cách Lâm Thấm 僧格林沁 được ban hiệu Thoan Đa Ba đồ lỗ 湍多巴图鲁 đã là Quận Vương, Nội đại thần (chánh nhất phẩm) Tham tán đại thần (Sử cảo 史稿 truyện 191). Năm Hàm Phong thứ 3, Đới Văn Anh 戴文安英 chỉ là Thiên tổng 千总 (tùng lục phẩm) được ban hiệu Sắc Cố Ba đồ lỗ 色固巴图鲁(Sử cảo 史稿 truyện 189), cùng năm đó, khi Thác Minh A 托明阿 được ban hiệu là Tây Lâm Ba đồ lỗ 西林巴图鲁 đã là Tuy Viễn tướng quân Tương biên quân vụ (tùng nhất phẩm) (Sử cảo 史稿 truyện 190). Và như Viên Bảo Hằng 袁保恒 là Hàn lâm viên biên tu được ban hiệu Lặc Y Lặc Đồ Ba đồ lỗ 勒伊勒图巴图鲁(Sử cảo 史稿 truyện 205), Thắng Bảo 胜保 là Nội các học sĩ bang biện Hà Bắc quân vụ được ban hiệu là Hoắc Loan Ba đồ lỗ 霍銮巴图鲁(Sử cảo 史稿 truyện 190), Tưởng Ích Lễ 蒋益澧 là Tri phủ được ban hiệu là Ngạch Triết Nhĩ Khắc Ba đồ lỗ 额哲尔克巴图鲁(Sử cảo 史稿 truyện 195), Lưu Đằng Hồng 刘腾鸿 là Tri huyện được ban hiệu là Xung Dũng Ba đồ lỗ 冲勇巴图鲁(Sử cảo 史稿 truyện 195), tất cả đều là văn chức; còn như khi Tăng Trinh Can 曾贞干 được ban hiệu là Tấn Dũng Ba đồ lỗ 迅勇巴图鲁(Sử cảo 史稿 truyện 200), chỉ là giáo quan  - huấn đạo tùng bát phẩm.
              Dũng hiệu chuyên xưng, lúc đầu dùng tiếng Mãn đặt ở trước từ Ba đồ lỗ, như Thanh Ba đồ lỗ 青巴图鲁, Cổ Anh Ba đồ lỗ 古英巴图鲁, là dũng hiệu Mãn tự; sau dùng Hán tự, như Vũ Dũng Ba đồ lỗ武勇巴图鲁, Tráng Dũng Ba đồ lỗ 壮勇巴图鲁, là dũng hiệu chữ Hán. Dũng hiệu Hán tự toàn dùng 2 chữ, chữ ở sau luôn là chữ “dũng”, cho nên nó chỉ biến hoá ở chữ đầu. Cuối đời Càn Long, Sài Đại Kỉ 柴大纪 được ban hiệu là Tráng Kiện Ba đồ lỗ 壮健巴图鲁 (Sử cảo 史稿 truyện 116), Thái Phan Long 蔡攀龙 được ban hiệu là Cường Thắng Ba đồ lỗ 强胜巴图鲁(Sử cảo 史稿 truyện 115), như những ví dụ này sau này không dùng. Dũng hiệu Mãn tự và dũng hiệu Hán tự không có sự phân biệt, người Mãn có thể được ban tặng dũng hiệu Hán tự, người Hán cũng có thể được ban tặng dũng hiệu Mãn tự. Phúc Khang An 福康安 có hiệu là Gia Dũng Ba đồ lỗ 嘉勇巴图鲁(Sử cảo 史稿 truyện 117), Đạt Tam Thái 达三泰 có hiệu là Thường Dũng Ba đồ lỗ 常勇巴图鲁(Sử cảo 史稿 truyện 136), Quả Quyền 果权 có hiệu là Chí Dũng Ba đồ lỗ 志勇巴图鲁(Sử cảo 史稿 truyện 241), là người Mãn được ban hiệu Hán tự; Đức Lăng Thái 德楞泰 có hiệu là Kế Dũng Ba đồ lỗ 继勇巴图鲁(Sử cảo 史稿 truyện 131) là người Mông Cổ được ban dũng hiệu Hán tự; La Tư Cử 罗思举 có hiệu là Tô Lặc Phương Ba đồ lỗ 苏勒芳巴图鲁(Sử cảo 史稿 truyện 134), Trương Quốc Lương 张国樑 có hiệu là Hoắc Khỉ Ba đồ lỗ 霍绮巴图鲁(Sử cảo 史稿 truyện 188), Đường Hữu Canh 唐友耕 có hiệu là Ngạch Lặc Mạc Khắc Y Ba đồ lỗ 额勒莫克依巴图鲁(Sử cảo 史稿 truyện 217), là người Hán được ban hiệu dũng hiệu Mãn tự.
              Dũng hiệu Mãn tự và dũng hiệu Hán tự vốn không có sự phân biệt cao thấp, Lí Tục Tân 李续宾 là Tri phủ được ban hiệu là Chí Dũng 挚勇, người em Tục Nghi 续宜 cũng là Tri phủ được ban hiệu là Y Lặc Đạt 依勒达(Sử cảo 史稿 truyện 195), Sầm Dục Anh 岑毓英 là Đạo viên được ban hiệu là Miễn Dũng 勉勇, người em Dục Bảo 毓宝 cũng là Đạo viên được ban hiệu là Ngạch Đồ Huy 额图珲(Sử cảo 史稿 truyện 206), đó là những ví dụ rõ nhất. Thời Mục Tông, Đức Tông, quan võ lập công thường từ dũng hiệu Hán tự đổi sang dũng hiệu Mãn tự, đó gọi là “hoán hiệu”, trong Thanh sử cảo 清史稿 gọi là “tấn hiệu”. Như Quách Bảo Xương 郭宝昌 từ Trác Dũng Ba đồ lỗ 卓勇巴图鲁 tấn hiệu là Pháp Lăng A Ba đồ lỗ 法凌阿巴图鲁 (Sử cảo 史稿 truyện 215), Trương Văn Đức 张文德 từ Dực Dũng Ba đồ lỗ 翼勇巴图鲁 tấn hiệu là Đạt Tang Ba đồ lỗ 达桑巴图鲁(Sử cảo 史稿 truyện 216), Lôi Chính Oản 雷正绾 từ Trực Dũng Ba đồ lỗ 直勇巴图鲁 tấn hiệu là Đạt Xuân Ba đồ lỗ 达春巴图鲁(Sử cảo 史稿 truyện 217), Đào Mậu Lâm 陶茂林 từ Chung Dũng Ba đồ lỗ 钟勇巴图鲁 tấn hiệu là Ái Tinh A Ba đồ lỗ 爱星阿巴图鲁(Sử cảo 史稿 truyện 217), những ví dụ như thế rất nhiều. Đó là do bởi việc quân đang lúc cấp bách, không thể không phân biệt để ban thưởng, trước đó chưa từng có. Năm Càn Long thứ 60, Dương Ngộ Xuân 杨遇春 là Thủ bị được ban hiệu Kính Dũng Ba đồ lỗ 劲勇巴图鲁(Sử cảo 史稿 truyện 134). Năm Gia Khánh thứ 5, Dương Phương 杨芳 là Tham tướng được ban hiệu là Thành Dũng Ba đồ lỗ 诚勇巴图鲁(Sử cảo 史稿 truyện 155), họ đều lên tới đại tướng phong hầu, trải qua 40 năm mà xưng hiệu không thay đổi, chưa từng được tấn hiệu.
              Trước khi vào quan trung, người được ban hiệu rất nhiều, sang thời Khang Hi, Ung Chính, Càn Long, tuy có nhiều người nhiều lần đi chinh phạt, có thể nói là danh tướng nhất thời, như Nhạc Chung Kì 岳钟琪 (Sử cảo 史稿 truyện 83), Sách Lăng 策凌 (Sử cảo 史稿 truyện 83), Cáp Nguyên Sinh 哈元生 (Sử cảo 史稿 truyện 85), Cát Nhĩ Bật 葛尔弼 (Sử cảo 史稿 truyện 85), hết thảy đều chưa từng được ban qua dũng hiệu. Sau năm Càn Long thứ 20, Bản Tiến Trung 本进忠 có hiệu là Pháp Thức Thiện Ba đồ lỗ 法式善巴图鲁(Sử cảo 史稿 truyện 98), Hải Lan Sát 海兰察 có hiệu là Ngạch Nhĩ Khắc Ba đồ lỗ 额尔克巴图鲁 (Sử cảo 史稿 truyện 118), Thư Lượng 舒亮 có hiệu là Mục Đằng Ngạch 穆腾额巴图鲁(Sử cảo 史稿 truyện 115), mới dần được thấy lại, nhưng không phải ai ai cũng được. Như Lam Nguyên Mai 蓝元枚 (Sử cảo 史稿 truyện 118), Đổng Thiên Bật 董天弼 (Sử cảo 史稿 truyện 116) Hoà Long Vũ 和隆武 (Sử cảo 史稿 truyện 118), tuy công lao to lớn, được ban hoa linh, bào phục, yên cương, túi thơm, ngân tệ, đặc biệt ban thưởng rất nhiều, nhưng chưa từng được ban dũng hiệu, khác với thời Hàm Phong và Đồng Trị sau này. Từ đó cũng có thể thấy sự chuyển biến trước sau của phong khí ban hiệu.
       (Viết tại ngõ Điện Hoa 靛花, Côn Minh 昆明ngày 17 tháng 10 năm 1943)

                                                           Huỳnh Chương Hưng
                                                           Quy Nhơn 23/5/2017

    Nguyên tác Trung văn
    BA ĐỒ LỖ
    巴图鲁
    Trong quyển
    THANH SỬ THÁM VI
    清史探微
    Tác giả: Trịnh Thiên Đĩnh 郑天挺
    Bắc Kinh Đại học xuất bản xã, 1999

    Dịch thuật: Xưng hiệu "Ba đồ lỗ" trong tiếng Mãn Châu (tiếp theo)

    Đăng lúc  20:08  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    XƯNG HIỆU “BA ĐỒ LỖ” TRONG TIẾNG MÃN CHÂU
    (tiếp theo)  

              Xưng hiệu có lúc cũng có thể thay đổi, con trưởng của Thái Tổ là Chử Anh 褚英 lúc ban đầu có hiệu là Hồng Ba đồ lỗ 洪巴图鲁, về sau nhân vì có công đánh thắng Bố Chiêm Thái 布占泰 nên được ban hiệu là A Nhĩ Cáp Đồ Thổ Môn 阿尔哈图土门 (Sử cảo 史稿 truyện 3). Thời Tuyên Tông, Tề Thận 齐慎 được ban hiệu là Kiện Dũng Ba đồ lỗ 健勇巴图鲁, sau tùng chinh Hồi Cương 回疆 có công, được đổi hiệu là Cường Khiêm Ba đồ lỗ 强谦巴图鲁 (Sử cảo 史稿 truyện 155, ‘phụ Dương Phương truyện’ 杨芳传). Thời Văn Tông, Bảo Siêu 鲍超 được ban hiệu là Tráng Dũng Ba đồ lỗ 壮勇巴图鲁, sau được ban hiệu là Bác Thông Ngạch Ba đồ lỗ 博通额巴图鲁 (Sử cảo 史稿 truyện 196). Phàm có hiệu mới, hiệu cũ sẽ bỏ, không thể tồn tại. Năm Hàm Phong 咸丰thứ 8, Điền Hưng Thứ 田兴恕 được ban hiệu là Thượng Dũng Chí Dũng lưỡng Ba đồ lỗ 尚勇挚勇两巴图鲁(Sử cảo 史稿 truyện 207). Năm Đồng Trị 同治 thứ 2, Lí Trường Lạc 李长乐 được ban hiệu Khản Dũng Ba đồ lỗ 侃勇巴图鲁, năm sau được ban hiệu là Thượng Dũng Ba đồ lỗ 尚勇巴图鲁 (Sử cảo 史稿 truyện 218). Đó không phải là điển chế, mà là sự sơ suất.
              Việc ban tặng dũng hiệu nhằm biểu dương võ công, cho nên không có đẳng cấp thứ bậc, cũng không phân biệt văn võ. Có người chỉ là quan nhỏ nhưng được ban tặng, có người tuy là quan lớn nhưng lại không được. Năm Hàm Phong thứ 4, Hổ Khôn Nguyên 虎坤元 chỉ là Thủ bị 守备 (chánh ngũ phẩm), được ban hiệu Cổ Dũng Ba đồ lỗ 鼓勇巴图鲁(Sử cảo 史稿 truyện 189), cùng năm đó, khi Tăng Cách Lâm Thấm 僧格林沁 được ban hiệu Thoan Đa Ba đồ lỗ 湍多巴图鲁 đã là Quận Vương, Nội đại thần (chánh nhất phẩm) Tham tán đại thần (Sử cảo 史稿 truyện 191). Năm Hàm Phong thứ 3, Đới Văn Anh 戴文安英 chỉ là Thiên tổng 千总 (tùng lục phẩm) được ban hiệu Sắc Cố Ba đồ lỗ 色固巴图鲁(Sử cảo 史稿 truyện 189), cùng năm đó, khi Thác Minh A 托明阿 được ban hiệu là Tây Lâm Ba đồ lỗ 西林巴图鲁 đã là Tuy Viễn tướng quân Tương biên quân vụ (tùng nhất phẩm) (Sử cảo 史稿 truyện 190). Và như Viên Bảo Hằng 袁保恒 là Hàn lâm viên biên tu được ban hiệu Lặc Y Lặc Đồ Ba đồ lỗ 勒伊勒图巴图鲁(Sử cảo 史稿 truyện 205), Thắng Bảo 胜保 là Nội các học sĩ bang biện Hà Bắc quân vụ được ban hiệu là Hoắc Loan Ba đồ lỗ 霍銮巴图鲁(Sử cảo 史稿 truyện 190), Tưởng Ích Lễ 蒋益澧 là Tri phủ được ban hiệu là Ngạch Triết Nhĩ Khắc Ba đồ lỗ 额哲尔克巴图鲁(Sử cảo 史稿 truyện 195), Lưu Đằng Hồng 刘腾鸿 là Tri huyện được ban hiệu là Xung Dũng Ba đồ lỗ 冲勇巴图鲁(Sử cảo 史稿 truyện 195), tất cả đều là văn chức; còn như khi Tăng Trinh Can 曾贞干 được ban hiệu là Tấn Dũng Ba đồ lỗ 迅勇巴图鲁(Sử cảo 史稿 truyện 200), chỉ là giáo quan  - huấn đạo tùng bát phẩm.
              Dũng hiệu chuyên xưng, lúc đầu dùng tiếng Mãn đặt ở trước từ Ba đồ lỗ, như Thanh Ba đồ lỗ 青巴图鲁, Cổ Anh Ba đồ lỗ 古英巴图鲁, là dũng hiệu Mãn tự; sau dùng Hán tự, như Vũ Dũng Ba đồ lỗ武勇巴图鲁, Tráng Dũng Ba đồ lỗ 壮勇巴图鲁, là dũng hiệu chữ Hán. Dũng hiệu Hán tự toàn dùng 2 chữ, chữ ở sau luôn là chữ “dũng”, cho nên nó chỉ biến hoá ở chữ đầu. Cuối đời Càn Long, Sài Đại Kỉ 柴大纪 được ban hiệu là Tráng Kiện Ba đồ lỗ 壮健巴图鲁 (Sử cảo 史稿 truyện 116), Thái Phan Long 蔡攀龙 được ban hiệu là Cường Thắng Ba đồ lỗ 强胜巴图鲁(Sử cảo 史稿 truyện 115), như những ví dụ này sau này không dùng. Dũng hiệu Mãn tự và dũng hiệu Hán tự không có sự phân biệt, người Mãn có thể được ban tặng dũng hiệu Hán tự, người Hán cũng có thể được ban tặng dũng hiệu Mãn tự. Phúc Khang An 福康安 có hiệu là Gia Dũng Ba đồ lỗ 嘉勇巴图鲁(Sử cảo 史稿 truyện 117), Đạt Tam Thái 达三泰 có hiệu là Thường Dũng Ba đồ lỗ 常勇巴图鲁(Sử cảo 史稿 truyện 136), Quả Quyền 果权 có hiệu là Chí Dũng Ba đồ lỗ 志勇巴图鲁(Sử cảo 史稿 truyện 241), là người Mãn được ban hiệu Hán tự; Đức Lăng Thái 德楞泰 có hiệu là Kế Dũng Ba đồ lỗ 继勇巴图鲁(Sử cảo 史稿 truyện 131) là người Mông Cổ được ban dũng hiệu Hán tự; La Tư Cử 罗思举 có hiệu là Tô Lặc Phương Ba đồ lỗ 苏勒芳巴图鲁(Sử cảo 史稿 truyện 134), Trương Quốc Lương 张国樑 có hiệu là Hoắc Khỉ Ba đồ lỗ 霍绮巴图鲁(Sử cảo 史稿 truyện 188), Đường Hữu Canh 唐友耕 có hiệu là Ngạch Lặc Mạc Khắc Y Ba đồ lỗ 额勒莫克依巴图鲁(Sử cảo 史稿 truyện 217), là người Hán được ban hiệu dũng hiệu Mãn tự.
              Dũng hiệu Mãn tự và dũng hiệu Hán tự vốn không có sự phân biệt cao thấp, Lí Tục Tân 李续宾 là Tri phủ được ban hiệu là Chí Dũng 挚勇, người em Tục Nghi 续宜 cũng là Tri phủ được ban hiệu là Y Lặc Đạt 依勒达(Sử cảo 史稿 truyện 195), Sầm Dục Anh 岑毓英 là Đạo viên được ban hiệu là Miễn Dũng 勉勇, người em Dục Bảo 毓宝 cũng là Đạo viên được ban hiệu là Ngạch Đồ Huy 额图珲(Sử cảo 史稿 truyện 206), đó là những ví dụ rõ nhất. Thời Mục Tông, Đức Tông, quan võ lập công thường từ dũng hiệu Hán tự đổi sang dũng hiệu Mãn tự, đó gọi là “hoán hiệu”, trong Thanh sử cảo 清史稿 gọi là “tấn hiệu”. Như Quách Bảo Xương 郭宝昌 từ Trác Dũng Ba đồ lỗ 卓勇巴图鲁 tấn hiệu là Pháp Lăng A Ba đồ lỗ 法凌阿巴图鲁 (Sử cảo 史稿 truyện 215), Trương Văn Đức 张文德 từ Dực Dũng Ba đồ lỗ 翼勇巴图鲁 tấn hiệu là Đạt Tang Ba đồ lỗ 达桑巴图鲁(Sử cảo 史稿 truyện 216), Lôi Chính Oản 雷正绾 từ Trực Dũng Ba đồ lỗ 直勇巴图鲁 tấn hiệu là Đạt Xuân Ba đồ lỗ 达春巴图鲁(Sử cảo 史稿 truyện 217), Đào Mậu Lâm 陶茂林 từ Chung Dũng Ba đồ lỗ 钟勇巴图鲁 tấn hiệu là Ái Tinh A Ba đồ lỗ 爱星阿巴图鲁(Sử cảo 史稿 truyện 217), những ví dụ như thế rất nhiều. Đó là do bởi việc quân đang lúc cấp bách, không thể không phân biệt để ban thưởng, trước đó chưa từng có. Năm Càn Long thứ 60, Dương Ngộ Xuân 杨遇春 là Thủ bị được ban hiệu Kính Dũng Ba đồ lỗ 劲勇巴图鲁(Sử cảo 史稿 truyện 134). Năm Gia Khánh thứ 5, Dương Phương 杨芳 là Tham tướng được ban hiệu là Thành Dũng Ba đồ lỗ 诚勇巴图鲁(Sử cảo 史稿 truyện 155), họ đều lên tới đại tướng phong hầu, trải qua 40 năm mà xưng hiệu không thay đổi, chưa từng được tấn hiệu.
              Trước khi vào quan trung, người được ban hiệu rất nhiều, sang thời Khang Hi, Ung Chính, Càn Long, tuy có nhiều người nhiều lần đi chinh phạt, có thể nói là danh tướng nhất thời, như Nhạc Chung Kì 岳钟琪 (Sử cảo 史稿 truyện 83), Sách Lăng 策凌 (Sử cảo 史稿 truyện 83), Cáp Nguyên Sinh 哈元生 (Sử cảo 史稿 truyện 85), Cát Nhĩ Bật 葛尔弼 (Sử cảo 史稿 truyện 85), hết thảy đều chưa từng được ban qua dũng hiệu. Sau năm Càn Long thứ 20, Bản Tiến Trung 本进忠 có hiệu là Pháp Thức Thiện Ba đồ lỗ 法式善巴图鲁(Sử cảo 史稿 truyện 98), Hải Lan Sát 海兰察 có hiệu là Ngạch Nhĩ Khắc Ba đồ lỗ 额尔克巴图鲁 (Sử cảo 史稿 truyện 118), Thư Lượng 舒亮 có hiệu là Mục Đằng Ngạch 穆腾额巴图鲁(Sử cảo 史稿 truyện 115), mới dần được thấy lại, nhưng không phải ai ai cũng được. Như Lam Nguyên Mai 蓝元枚 (Sử cảo 史稿 truyện 118), Đổng Thiên Bật 董天弼 (Sử cảo 史稿 truyện 116) Hoà Long Vũ 和隆武 (Sử cảo 史稿 truyện 118), tuy công lao to lớn, được ban hoa linh, bào phục, yên cương, túi thơm, ngân tệ, đặc biệt ban thưởng rất nhiều, nhưng chưa từng được ban dũng hiệu, khác với thời Hàm Phong và Đồng Trị sau này. Từ đó cũng có thể thấy sự chuyển biến trước sau của phong khí ban hiệu.
       (Viết tại ngõ Điện Hoa 靛花, Côn Minh 昆明ngày 17 tháng 10 năm 1943)

                                                           Huỳnh Chương Hưng
                                                           Quy Nhơn 23/5/2017

    Nguyên tác Trung văn
    BA ĐỒ LỖ
    巴图鲁
    Trong quyển
    THANH SỬ THÁM VI
    清史探微
    Tác giả: Trịnh Thiên Đĩnh 郑天挺
    Bắc Kinh Đại học xuất bản xã, 1999

    Thứ Hai, 22 tháng 5, 2017

     XƯNG HIỆU “BA ĐỒ LỖ” TRONG TIẾNG MÃN CHÂU

             “Ba đồ lỗ” 巴图鲁 cũng còn được gọi là “Ba thổ lỗ” 巴土鲁, tiếng Hán có nghĩa là anh hùng. Tức từ “bạt đô” 拔都 (quyển 156 “Trương Hoằng Phạm truyện” 张弘范传), “Bạt đô lỗ” 拔都 (quyển 174 “Hách Thiên Đĩnh truyện” 郝天挺传), “Bát đô” 八都 (quyển 120 “Thuật Xích Thai (Đài) truyện” 术赤台传) trong Nguyên sử 元史 và “Ba đô nhi” 巴都儿 trong Nguyên bí sử 元秘史.
              Mãn Châu có tập tục lấy xưng hiệu đặt cho người, đa phần theo tính hạnh của họ mà định ra mĩ danh, Thanh Thái Tổ dùng xưng hiệu đó để biểu dương tài năng và công đức của bộ hạ, cho nên việc ban tặng hiệu trở thành một loại ân sủng. Thời Thái Tổ triều Thanh, Ba Nhã Lạt 巴雅喇 được ban hiệu là Trác lễ khắc đồ 卓礼克图 (Sử cảo 史稿 truyện 2), Chử Anh 褚英 được ban hiệu là A nhĩ cáp đồ thổ môn 阿尔哈图土门(Sử cảo 史稿 truyện 3), Hỗ Nhĩ Hán được ban hiệu là Đạt nhĩ hán hạt 达尔汉辖, (trong Sử cảo 史稿 truyện 12 viết là Đạt nhĩ hán 达尔汉), Vũ Nạp Cách 武纳格 được ban hiệu là Ba khắc thập 巴克什(Sử cảo 史稿 truyện 17); thời Thái Tông, Đa Nhĩ Cổn 多尔衮 được ban hiệu là Mặc nhĩ căn đại thanh 墨尔根代青 (Sử cảo 史稿 truyện 5), Đa Đạc 多铎được ban hiệu là Ngạch nhĩ khắc sở hô nhĩ 额尔克楚呼尔(Sử cảo 史稿 truyện 5), Lí Quốc Hàn 李国翰 được ban hiệu là Mặc nhĩ căn thị vệ 墨尔根侍卫  (Sử cảo 史稿 truyện 23) đều như thế.
              Đa Nhĩ Cổn, Đa Đạc nhân vì có công đặc biệt trong việc chinh phạt Sát Cáp  Nhĩ Đa La 察哈尔多罗 vào năm Thiên Thông 天聪 thứ 2 mà được ban hiệu. Sự kiện đó trong Đông Hoa lục 东华录 có nói:
              Tam nguyệt Mậu Thìn (sơ thất nhật), thượng tương hoàn Thẩm Dương, vu đồ trung đại yến. Thượng viết, mông thiên quyến hựu nhị ấu đệ tuỳ chinh dị quốc, phu hoạch khải tuyền, nghi tứ dĩ mĩ hiệu ..... (Thiên Thông tam)
              三月戊辰 (初七日), 上将还沈阳, 于途中大宴. 上曰, 蒙天眷祐二幼弟随征异国, 俘获凯旋, 宜赐以美号..... (天聪三)
              (Tháng 3 Mậu Thìn (ngày mồng 7), bề trên sắp về lại Thẩm Dương, giữa đường tổ chức đại yến. Bề trên nói rằng: trời cao bảo hộ hai ấu đệ theo ta đi chính phạt nước khác, bắt được giặc thắng lợi trở về, nên ban tặng cho mĩ hiệu ...) (năm Thiên Thông thứ 3)
              Có thể thấy việc ban tặng hiệu lúc bấy giờ rất trịnh trọng.
              Trong  việc ban tặng hiệu, xưng hiệu thường thấy nhất là “Ba đồ lỗ”, nhân vì nó biểu thị vũ dũng, cho nên cũng còn xưng là “dũng hiệu”. Ba đồ lỗ dũng hiệu có 2 loại:
              - Một loại chỉ xưng Ba đồ lỗ, không thêm chữ nào khác, là loại phổ thông.
              - Một loại trước Ba đồ lỗ gia thêm chữ khác, là chuyên xưng.
              Dũng hiệu phổ thông chỉ có đầu thời khai quốc của triều Thanh. Từ Thái Tổ trở về trước xưng Ba đồ lỗ có Lễ Đôn 礼敦(Sử cảo 史稿 truyện 2). Thời Thái Tổ, Ngạch Diệc Đô 额亦都 là trước nhất (Sử cảo 史稿 truyện 12), sau đó có Mục Khắc Đàm 穆克谭 (Sử Cảo 史稿 truyện 13 ‘phụ Ba Đốc Lí truyện 巴笃里传), Khách Lạt 喀喇 (cùng sách trên ‘phụ Đạt Âm Bố truyện’ 达音布传)  Ngạc Mạc Khắc Đồ 鄂莫克图 (Sử cảo 史稿 truyện 17), Ngô Ba Hải 吴巴海 (cùng sách trên ‘phụ Cát Tư Cáp truyện; 吉思哈传, Ni Đa Khách 尼多喀 (Sử cảo 史稿 truyện 20, phụ ‘Tề Nhĩ cách Thân truyện’齐尔格申传), Tô Lỗ Mại 苏鲁迈 (cùng sách trên, phụ ‘Diệp Thần truyện’ 叶臣传).
              Xưng hiệu “Ba đồ lỗ” phổ thông này đặt ở sau tên người, như trong Thái Tổ Vũ hoàng đế thực lục 太祖武皇帝实录 năm Đinh hợi ghi:
              Bát nguyệt nội lệnh Ách Nhất Đô (Ngạch Diệc Đô) Ba thổ lỗ lãnh binh thủ Ba Lí Đại thành. (quyển 1)
              八月内令厄一都 (额一都) 巴土鲁领兵取巴里代城. ( 1)
              (Trong tháng 8, lệnh cho Ách Nhất Đô (Ngạch Nhất Đô) Ba thổ lỗ lãnh binh đi lấy thành Ba Lí Đại)
              Và năm Thiên Mệnh 天命 thứ 9 có ghi “đại phụ Lí Đôn Ba thổ lỗ” 大父李敦巴土鲁 (quyển 4) (Lí Đôn tức Lễ Đôn), bá phụ của Thái Tổ. ở đây nói “đại phụ” là dịch nhầm. Về sau đổi lại đặt ở trước tên người, như trong Đông Hoa lục 东华录 có ghi là “Ba đồ lỗ Ngạch Diệc Đô” 巴图鲁额亦都.
              Dũng hiệu chuyên xưng, như Mục Nhĩ Cáp Tề 穆尔哈齐 được ban hiệu là Thanh Ba đồ lỗ 青巴图鲁 (Sử cảo 史稿 truyện 2), Đại Thiện 代善 được ban hiệu là Cổ Anh Ba đồ lỗ 古英巴图鲁(Sử cảo 史稿 truyện 3), An Phí Dương Cổ 安费扬古 được ban hiệu là Thạc Ông Khoa La Ba đồ lỗ 硕翁科罗巴图鲁(Sử cảo 史稿 truyện 12), Bản Khoa Lí 本科里 được ban hiệu là Tô Hách Ba đồ lỗ 苏赫巴图鲁(Sử cảo 史稿 truyện 29 ‘Đôn Bái truyện’ 敦拜传).
              Ban đầu, xưng hiệu chuyên xưng  - bao gồm dũng hiệu và phi dũng hiệu  - dùng để đại biểu cho tên của người đó, cho nên xưng xưng hiệu thì không xưng nguyên danh. Trong Thái Tổ Vũ hoàng đế thực lục ( nhị) 太祖武皇帝实录 (), năm Quý Sửu có ghi:
              Con Thái Tổ là Cổ Anh Ba thổ lỗ 古英巴土鲁, cháu là A Mẫn 阿敏, cùng Phi Anh Đống 非英冻 (Phí Anh Đông 费英东), Ha Ha Lí Ách Phu 呵呵里厄夫 (Hà Hoà Lễ Ngạch Phụ 何和礼额驸), Đả Lạt Hán Hà 打喇汉虾, Ách Nhất Đô 厄一都 (Ngạch Diệc Đô 额亦都), Hùng Khoa Lạc 雄科落 ...
              Cổ Anh Ba thổ lỗ 古英巴土鲁 là Đại Thiện 代善, Đả Lạt Hán Hà 打喇汉虾 (Đạt Nhĩ Hán Hạt 达尔汉辖) là Hỗ Nhĩ Hán 扈尔汉, Hùng Khoa Lạc 雄科落 (Thạc Ông Khoa La Ba đồ lỗ 硕翁科罗巴图鲁) là An Phí Dương Cổ 安费扬古, đều không viết nguyên danh của người đó. Trong Thực lục nhị 实录二, năm Thiên Mệnh 天命 thứ 1, có nói:
              Đế sai 2 tướng là Đáp Nhi Hán Hà 答儿汉虾 (Đạt Nhĩ Hán Hạt 达尔汉辖) và Hùng Khoa Lạc 雄科落 lãnh 2000 binh chinh phạt bộ Tra Cáp Lượng 查哈量 (Tát Cáp Liên 萨哈连) ở Đông Hải.
              Và trong quyển 4, năm Thiên Mệnh 天命 thứ 8 có nói:
              Ngày 20 tháng 10, đại thần Đáp Nhi Hán Hà 搭儿汉虾 (Đạt Nhĩ Hán Hạt 达尔汉辖) mất, hưởng niên 48 tuổi.
              Những điều trình bày ở trên là cựu tục của nhà Thanh trước khi vào trung nguyên, về sau, sau xưng hiệu vẫn nêu nguyên danh của người đó. Trong Vũ hoàng đế thực lục ( tam) 武皇帝实录 () , năm Thiên Mệnh 天命 thứ 5 có nói:
              Tháng 9, hoàng đệ Thanh Ba thổ lỗ 青巴土鲁 qua đời, trong Đông Hoa lục 东华录 nói rằng:
              Tháng 9 ngày Giáp Thân, hoàng đệ Thanh Ba đồ lỗ 青巴图鲁 bối lặc Mục Nhĩ Cáp Tề 穆尔哈齐 qua đời. (Thiên Mệnh tam天命三)
              Đó là sử quan dùng chế độ sau này truy cải, không phù hợp với nguyên ý ban tặng hiệu.
              Dũng hiệu chuyên xưng và các xưng hiệu khác, hai người cùng thời không có xưng hiệu giống nhau để tránh trùng lặp, nhưng với hai người khác thời thì có thể. An Phí Dương Cổ 安费扬古 thời Thái Tổ được ban hiệu là Thạc Ông Khoa La Ba đồ lỗ 硕翁科罗巴图鲁, sau khi mất, Lao Tát 劳萨 cũng được ban hiệu Thạc Ông Khoa La Ba đồ lỗ 硕翁科罗巴图鲁 vào năm Thiên Thông 天聪 thứ 8 (Sử cảo 史稿 truyện 13). Cùng năm đó, Lỗ Đồ Thập 鲁图什cũng được truy hiệu là Thạc Ông Khoa La Ba đồ lỗ 硕翁科罗巴图鲁(Sử cảo 史稿 truyện 13), bởi vì họ không sinh sống cùng thời. Chế độ này về sau cũng bỏ. Đầu niên hiệu Gia Khánh 嘉庆, Ô Thập Cáp Đạt 乌什哈达 có hiệu là Pháp Phúc Lí Ba đồ lỗ 法福里巴图鲁 (Sử cảo 史稿 truyện 136, ‘phụ Huệ Luân truyện’ 惠伦传), Phú Chí Na 富志那 có hiệu là Pháp Phúc Lễ Ba đồ lỗ 法福礼巴图鲁(Sử cảo 史稿 truyện 133), Vương Văn Hùng 王文雄 có hiệu là Pháp Phật Lễ Ba đồ lỗ 法佛礼巴图鲁(Sử cảo 史稿 truyện 136), cả 3 tiếng Mãn là như nhau. Khoảng năm thứ 6, thứ 7  thời Đồng Trị 同治, Triệu Đức Quang 赵德光 (Sử cảo 史稿 truyện 216), Chu Đạt Vũ 周达武 (Sử cảo 史稿 truyện 217), Lí Trường Lạc 李长乐(Sử cảo 史稿 truyện 218), cùng được ban hiệu Bác Kì Ba đồ lỗ 博奇巴图鲁. Năm Đồng Trị thứ 1, Dư Tế Xương 余际昌 (Sử cảo 史稿 truyện 216), Đằng Tự Vũ 滕嗣武 (Sử cảo 史稿 truyện 218), Tăng Quốc Thuyên 曾国荃 (Sử cảo 史稿 truyện 200), cùng được ban hiệu là Vĩ Dũng Ba đồ lỗ 伟勇巴图鲁. Trình Học Khải 程学启 (Sử cảo 史稿 truyện 203), Trịnh Quốc Khôi 郑国魁 cùng được ban hiệu là Bột Dũng Ba đồ lỗ 勃勇巴图鲁. Đó là lí do việc ban hiệu có rất nhiều, cho rằng là chế độ đó có trước khi nhập quan là không đúng. Nhưng người được ban hiệu không lấy xưng hiệu để thay nguyên danh của mình, nên có sự trùng lặp cũng không sao.  (còn tiếp)

                                                          Huỳnh Chương Hưng
                                                           Quy Nhơn 22/5/2017

    Nguyên tác Trung văn
    BA ĐỒ LỖ
    巴图鲁
    Trong quyển
    THANH SỬ THÁM VI
    清史探微
    Tác giả: Trịnh Thiên Đĩnh 郑天挺
    Bắc Kinh Đại học xuất bản xã, 1999

    Dịch thuật: Xưng hiệu "Ba đồ lỗ" trong tiếng Mãn Châu

    Đăng lúc  21:02  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

     XƯNG HIỆU “BA ĐỒ LỖ” TRONG TIẾNG MÃN CHÂU

             “Ba đồ lỗ” 巴图鲁 cũng còn được gọi là “Ba thổ lỗ” 巴土鲁, tiếng Hán có nghĩa là anh hùng. Tức từ “bạt đô” 拔都 (quyển 156 “Trương Hoằng Phạm truyện” 张弘范传), “Bạt đô lỗ” 拔都 (quyển 174 “Hách Thiên Đĩnh truyện” 郝天挺传), “Bát đô” 八都 (quyển 120 “Thuật Xích Thai (Đài) truyện” 术赤台传) trong Nguyên sử 元史 và “Ba đô nhi” 巴都儿 trong Nguyên bí sử 元秘史.
              Mãn Châu có tập tục lấy xưng hiệu đặt cho người, đa phần theo tính hạnh của họ mà định ra mĩ danh, Thanh Thái Tổ dùng xưng hiệu đó để biểu dương tài năng và công đức của bộ hạ, cho nên việc ban tặng hiệu trở thành một loại ân sủng. Thời Thái Tổ triều Thanh, Ba Nhã Lạt 巴雅喇 được ban hiệu là Trác lễ khắc đồ 卓礼克图 (Sử cảo 史稿 truyện 2), Chử Anh 褚英 được ban hiệu là A nhĩ cáp đồ thổ môn 阿尔哈图土门(Sử cảo 史稿 truyện 3), Hỗ Nhĩ Hán được ban hiệu là Đạt nhĩ hán hạt 达尔汉辖, (trong Sử cảo 史稿 truyện 12 viết là Đạt nhĩ hán 达尔汉), Vũ Nạp Cách 武纳格 được ban hiệu là Ba khắc thập 巴克什(Sử cảo 史稿 truyện 17); thời Thái Tông, Đa Nhĩ Cổn 多尔衮 được ban hiệu là Mặc nhĩ căn đại thanh 墨尔根代青 (Sử cảo 史稿 truyện 5), Đa Đạc 多铎được ban hiệu là Ngạch nhĩ khắc sở hô nhĩ 额尔克楚呼尔(Sử cảo 史稿 truyện 5), Lí Quốc Hàn 李国翰 được ban hiệu là Mặc nhĩ căn thị vệ 墨尔根侍卫  (Sử cảo 史稿 truyện 23) đều như thế.
              Đa Nhĩ Cổn, Đa Đạc nhân vì có công đặc biệt trong việc chinh phạt Sát Cáp  Nhĩ Đa La 察哈尔多罗 vào năm Thiên Thông 天聪 thứ 2 mà được ban hiệu. Sự kiện đó trong Đông Hoa lục 东华录 có nói:
              Tam nguyệt Mậu Thìn (sơ thất nhật), thượng tương hoàn Thẩm Dương, vu đồ trung đại yến. Thượng viết, mông thiên quyến hựu nhị ấu đệ tuỳ chinh dị quốc, phu hoạch khải tuyền, nghi tứ dĩ mĩ hiệu ..... (Thiên Thông tam)
              三月戊辰 (初七日), 上将还沈阳, 于途中大宴. 上曰, 蒙天眷祐二幼弟随征异国, 俘获凯旋, 宜赐以美号..... (天聪三)
              (Tháng 3 Mậu Thìn (ngày mồng 7), bề trên sắp về lại Thẩm Dương, giữa đường tổ chức đại yến. Bề trên nói rằng: trời cao bảo hộ hai ấu đệ theo ta đi chính phạt nước khác, bắt được giặc thắng lợi trở về, nên ban tặng cho mĩ hiệu ...) (năm Thiên Thông thứ 3)
              Có thể thấy việc ban tặng hiệu lúc bấy giờ rất trịnh trọng.
              Trong  việc ban tặng hiệu, xưng hiệu thường thấy nhất là “Ba đồ lỗ”, nhân vì nó biểu thị vũ dũng, cho nên cũng còn xưng là “dũng hiệu”. Ba đồ lỗ dũng hiệu có 2 loại:
              - Một loại chỉ xưng Ba đồ lỗ, không thêm chữ nào khác, là loại phổ thông.
              - Một loại trước Ba đồ lỗ gia thêm chữ khác, là chuyên xưng.
              Dũng hiệu phổ thông chỉ có đầu thời khai quốc của triều Thanh. Từ Thái Tổ trở về trước xưng Ba đồ lỗ có Lễ Đôn 礼敦(Sử cảo 史稿 truyện 2). Thời Thái Tổ, Ngạch Diệc Đô 额亦都 là trước nhất (Sử cảo 史稿 truyện 12), sau đó có Mục Khắc Đàm 穆克谭 (Sử Cảo 史稿 truyện 13 ‘phụ Ba Đốc Lí truyện 巴笃里传), Khách Lạt 喀喇 (cùng sách trên ‘phụ Đạt Âm Bố truyện’ 达音布传)  Ngạc Mạc Khắc Đồ 鄂莫克图 (Sử cảo 史稿 truyện 17), Ngô Ba Hải 吴巴海 (cùng sách trên ‘phụ Cát Tư Cáp truyện; 吉思哈传, Ni Đa Khách 尼多喀 (Sử cảo 史稿 truyện 20, phụ ‘Tề Nhĩ cách Thân truyện’齐尔格申传), Tô Lỗ Mại 苏鲁迈 (cùng sách trên, phụ ‘Diệp Thần truyện’ 叶臣传).
              Xưng hiệu “Ba đồ lỗ” phổ thông này đặt ở sau tên người, như trong Thái Tổ Vũ hoàng đế thực lục 太祖武皇帝实录 năm Đinh hợi ghi:
              Bát nguyệt nội lệnh Ách Nhất Đô (Ngạch Diệc Đô) Ba thổ lỗ lãnh binh thủ Ba Lí Đại thành. (quyển 1)
              八月内令厄一都 (额一都) 巴土鲁领兵取巴里代城. ( 1)
              (Trong tháng 8, lệnh cho Ách Nhất Đô (Ngạch Nhất Đô) Ba thổ lỗ lãnh binh đi lấy thành Ba Lí Đại)
              Và năm Thiên Mệnh 天命 thứ 9 có ghi “đại phụ Lí Đôn Ba thổ lỗ” 大父李敦巴土鲁 (quyển 4) (Lí Đôn tức Lễ Đôn), bá phụ của Thái Tổ. ở đây nói “đại phụ” là dịch nhầm. Về sau đổi lại đặt ở trước tên người, như trong Đông Hoa lục 东华录 có ghi là “Ba đồ lỗ Ngạch Diệc Đô” 巴图鲁额亦都.
              Dũng hiệu chuyên xưng, như Mục Nhĩ Cáp Tề 穆尔哈齐 được ban hiệu là Thanh Ba đồ lỗ 青巴图鲁 (Sử cảo 史稿 truyện 2), Đại Thiện 代善 được ban hiệu là Cổ Anh Ba đồ lỗ 古英巴图鲁(Sử cảo 史稿 truyện 3), An Phí Dương Cổ 安费扬古 được ban hiệu là Thạc Ông Khoa La Ba đồ lỗ 硕翁科罗巴图鲁(Sử cảo 史稿 truyện 12), Bản Khoa Lí 本科里 được ban hiệu là Tô Hách Ba đồ lỗ 苏赫巴图鲁(Sử cảo 史稿 truyện 29 ‘Đôn Bái truyện’ 敦拜传).
              Ban đầu, xưng hiệu chuyên xưng  - bao gồm dũng hiệu và phi dũng hiệu  - dùng để đại biểu cho tên của người đó, cho nên xưng xưng hiệu thì không xưng nguyên danh. Trong Thái Tổ Vũ hoàng đế thực lục ( nhị) 太祖武皇帝实录 (), năm Quý Sửu có ghi:
              Con Thái Tổ là Cổ Anh Ba thổ lỗ 古英巴土鲁, cháu là A Mẫn 阿敏, cùng Phi Anh Đống 非英冻 (Phí Anh Đông 费英东), Ha Ha Lí Ách Phu 呵呵里厄夫 (Hà Hoà Lễ Ngạch Phụ 何和礼额驸), Đả Lạt Hán Hà 打喇汉虾, Ách Nhất Đô 厄一都 (Ngạch Diệc Đô 额亦都), Hùng Khoa Lạc 雄科落 ...
              Cổ Anh Ba thổ lỗ 古英巴土鲁 là Đại Thiện 代善, Đả Lạt Hán Hà 打喇汉虾 (Đạt Nhĩ Hán Hạt 达尔汉辖) là Hỗ Nhĩ Hán 扈尔汉, Hùng Khoa Lạc 雄科落 (Thạc Ông Khoa La Ba đồ lỗ 硕翁科罗巴图鲁) là An Phí Dương Cổ 安费扬古, đều không viết nguyên danh của người đó. Trong Thực lục nhị 实录二, năm Thiên Mệnh 天命 thứ 1, có nói:
              Đế sai 2 tướng là Đáp Nhi Hán Hà 答儿汉虾 (Đạt Nhĩ Hán Hạt 达尔汉辖) và Hùng Khoa Lạc 雄科落 lãnh 2000 binh chinh phạt bộ Tra Cáp Lượng 查哈量 (Tát Cáp Liên 萨哈连) ở Đông Hải.
              Và trong quyển 4, năm Thiên Mệnh 天命 thứ 8 có nói:
              Ngày 20 tháng 10, đại thần Đáp Nhi Hán Hà 搭儿汉虾 (Đạt Nhĩ Hán Hạt 达尔汉辖) mất, hưởng niên 48 tuổi.
              Những điều trình bày ở trên là cựu tục của nhà Thanh trước khi vào trung nguyên, về sau, sau xưng hiệu vẫn nêu nguyên danh của người đó. Trong Vũ hoàng đế thực lục ( tam) 武皇帝实录 () , năm Thiên Mệnh 天命 thứ 5 có nói:
              Tháng 9, hoàng đệ Thanh Ba thổ lỗ 青巴土鲁 qua đời, trong Đông Hoa lục 东华录 nói rằng:
              Tháng 9 ngày Giáp Thân, hoàng đệ Thanh Ba đồ lỗ 青巴图鲁 bối lặc Mục Nhĩ Cáp Tề 穆尔哈齐 qua đời. (Thiên Mệnh tam天命三)
              Đó là sử quan dùng chế độ sau này truy cải, không phù hợp với nguyên ý ban tặng hiệu.
              Dũng hiệu chuyên xưng và các xưng hiệu khác, hai người cùng thời không có xưng hiệu giống nhau để tránh trùng lặp, nhưng với hai người khác thời thì có thể. An Phí Dương Cổ 安费扬古 thời Thái Tổ được ban hiệu là Thạc Ông Khoa La Ba đồ lỗ 硕翁科罗巴图鲁, sau khi mất, Lao Tát 劳萨 cũng được ban hiệu Thạc Ông Khoa La Ba đồ lỗ 硕翁科罗巴图鲁 vào năm Thiên Thông 天聪 thứ 8 (Sử cảo 史稿 truyện 13). Cùng năm đó, Lỗ Đồ Thập 鲁图什cũng được truy hiệu là Thạc Ông Khoa La Ba đồ lỗ 硕翁科罗巴图鲁(Sử cảo 史稿 truyện 13), bởi vì họ không sinh sống cùng thời. Chế độ này về sau cũng bỏ. Đầu niên hiệu Gia Khánh 嘉庆, Ô Thập Cáp Đạt 乌什哈达 có hiệu là Pháp Phúc Lí Ba đồ lỗ 法福里巴图鲁 (Sử cảo 史稿 truyện 136, ‘phụ Huệ Luân truyện’ 惠伦传), Phú Chí Na 富志那 có hiệu là Pháp Phúc Lễ Ba đồ lỗ 法福礼巴图鲁(Sử cảo 史稿 truyện 133), Vương Văn Hùng 王文雄 có hiệu là Pháp Phật Lễ Ba đồ lỗ 法佛礼巴图鲁(Sử cảo 史稿 truyện 136), cả 3 tiếng Mãn là như nhau. Khoảng năm thứ 6, thứ 7  thời Đồng Trị 同治, Triệu Đức Quang 赵德光 (Sử cảo 史稿 truyện 216), Chu Đạt Vũ 周达武 (Sử cảo 史稿 truyện 217), Lí Trường Lạc 李长乐(Sử cảo 史稿 truyện 218), cùng được ban hiệu Bác Kì Ba đồ lỗ 博奇巴图鲁. Năm Đồng Trị thứ 1, Dư Tế Xương 余际昌 (Sử cảo 史稿 truyện 216), Đằng Tự Vũ 滕嗣武 (Sử cảo 史稿 truyện 218), Tăng Quốc Thuyên 曾国荃 (Sử cảo 史稿 truyện 200), cùng được ban hiệu là Vĩ Dũng Ba đồ lỗ 伟勇巴图鲁. Trình Học Khải 程学启 (Sử cảo 史稿 truyện 203), Trịnh Quốc Khôi 郑国魁 cùng được ban hiệu là Bột Dũng Ba đồ lỗ 勃勇巴图鲁. Đó là lí do việc ban hiệu có rất nhiều, cho rằng là chế độ đó có trước khi nhập quan là không đúng. Nhưng người được ban hiệu không lấy xưng hiệu để thay nguyên danh của mình, nên có sự trùng lặp cũng không sao.  (còn tiếp)

                                                          Huỳnh Chương Hưng
                                                           Quy Nhơn 22/5/2017

    Nguyên tác Trung văn
    BA ĐỒ LỖ
    巴图鲁
    Trong quyển
    THANH SỬ THÁM VI
    清史探微
    Tác giả: Trịnh Thiên Đĩnh 郑天挺
    Bắc Kinh Đại học xuất bản xã, 1999

    Chủ Nhật, 21 tháng 5, 2017

    CHỮ “VI” “VỊ”
     

    4 nét
    12 nét

    VI (bính âm wei thanh 2)
    1- Làm:
    Vi sở dục vi 为所欲为 / sự tại nhân vi 事在人为 / đại hữu khả vi 大有可为.
    2- Xem , xem như:
              Hảo vi nhân sư 好为人师 / tứ hải vi gia 四海为家
    3- Biến thành , thành:
              Hoá hiểm vi di 化险为夷 / nhất phân vi nhị 一分为二 / thành vi 成为
    4- Là:
              Nhất công cân vi lưỡng thị cân 一公斤为两市斤 / tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri 知之为知之, 不知为不知
    5- Giới từ, bị (dùng với ):
              Vi nhân sở bất xỉ 为人所不齿 / vi quảng đại quần chúng sở hỉ văn lạc kiến 为广大群众所喜闻乐见
    6- Đứng sau một hình dung từ đơn âm tiết nào đó, biểu thị mức độ, phạm vi:
              Đại vi kích động 大为激动 / thâm vi bất mãn 深为不满 / quảng vi tuyên truyền 广为宣传.
    7- Đứng sau phó từ đơn âm nào đó biểu thị mức độ, tăng cường ngữ khí:
              Cực vi hưng phấn 极为兴奋 / thậm vi cảm động 甚为感动 / vưu vi xuất sắc 尤为出色

    VỊ (bính âm wei thanh 4)
    1- Cho, thay thế (biểu thị đối tượng của hành vi động tác):
              Vị nhân dân phục vụ 为人民服务 / vị tha cao hứng 为他高兴 / vị nhân tác giá 为人作嫁
    2- Biểu thị mục đích hoặc nguyên nhân:
              Vị liễu 为了 / vị trị bệnh nhi biến phỏng danh y 为治病而遍访名医 / vị hà 为何

    Thuyết giải
              , bộ , kết cấu độc thể. là chữ khải hoá từ thảo thư, có thể được dùng làm thiên bàng giản hoá  như: () / ()
              là dị thể, ngày trước lấychữ làm chính thể, quy về bộ (trảo); chữ quy về bộ (hoả)

                                                           Huỳnh Chương Hưng
                                                            Quy Nhơn 21/5/2017

    Nguồn
    GIẢN HOÁ TỰ, PHỒN THỂ TỰ ĐỐI CHIẾU TỰ ĐIỂN
    简化字繁体字对照字典
    Chủ biên: Giang Lam Sinh 江蓝生, Lục Tôn Ngô 陆尊梧
    Thượng Hải – Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 1998

    Dịch thuật: Chữ "vi", "vị"

    Đăng lúc  19:37  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    CHỮ “VI” “VỊ”
     

    4 nét
    12 nét

    VI (bính âm wei thanh 2)
    1- Làm:
    Vi sở dục vi 为所欲为 / sự tại nhân vi 事在人为 / đại hữu khả vi 大有可为.
    2- Xem , xem như:
              Hảo vi nhân sư 好为人师 / tứ hải vi gia 四海为家
    3- Biến thành , thành:
              Hoá hiểm vi di 化险为夷 / nhất phân vi nhị 一分为二 / thành vi 成为
    4- Là:
              Nhất công cân vi lưỡng thị cân 一公斤为两市斤 / tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri 知之为知之, 不知为不知
    5- Giới từ, bị (dùng với ):
              Vi nhân sở bất xỉ 为人所不齿 / vi quảng đại quần chúng sở hỉ văn lạc kiến 为广大群众所喜闻乐见
    6- Đứng sau một hình dung từ đơn âm tiết nào đó, biểu thị mức độ, phạm vi:
              Đại vi kích động 大为激动 / thâm vi bất mãn 深为不满 / quảng vi tuyên truyền 广为宣传.
    7- Đứng sau phó từ đơn âm nào đó biểu thị mức độ, tăng cường ngữ khí:
              Cực vi hưng phấn 极为兴奋 / thậm vi cảm động 甚为感动 / vưu vi xuất sắc 尤为出色

    VỊ (bính âm wei thanh 4)
    1- Cho, thay thế (biểu thị đối tượng của hành vi động tác):
              Vị nhân dân phục vụ 为人民服务 / vị tha cao hứng 为他高兴 / vị nhân tác giá 为人作嫁
    2- Biểu thị mục đích hoặc nguyên nhân:
              Vị liễu 为了 / vị trị bệnh nhi biến phỏng danh y 为治病而遍访名医 / vị hà 为何

    Thuyết giải
              , bộ , kết cấu độc thể. là chữ khải hoá từ thảo thư, có thể được dùng làm thiên bàng giản hoá  như: () / ()
              là dị thể, ngày trước lấychữ làm chính thể, quy về bộ (trảo); chữ quy về bộ (hoả)

                                                           Huỳnh Chương Hưng
                                                            Quy Nhơn 21/5/2017

    Nguồn
    GIẢN HOÁ TỰ, PHỒN THỂ TỰ ĐỐI CHIẾU TỰ ĐIỂN
    简化字繁体字对照字典
    Chủ biên: Giang Lam Sinh 江蓝生, Lục Tôn Ngô 陆尊梧
    Thượng Hải – Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 1998

    Thứ Bảy, 20 tháng 5, 2017

    TÊN “CHI” TRONG
    GIA TỘC VƯƠNG HI CHI

              Cách dùng chữ “Chi” để đặt tên đã có từ rất lâu, nhưng xem chữ “Chi” là cao quý, thời thượng, đặt tên một cách phổ biến là vào thời Lưỡng Tấn, Nam Bắc triều. Lúc bấy giờ những danh môn vọng tộc đều dùng “ Chi” để đặt tên. Rất nhiều nhân vật nổi tiếng có tên “Chi”, như khoa học gia Tổ Xung Chi 祖冲之, thư pháp gia Vương Hi Chi 王羲之, hoạ gia Cố Khải Chi 顾恺之, sử gia Bùi Tùng Chi 裴松之, tướng Lưu Lao Chi 刘牢之, Thẩm Khánh Chi 沈庆之.
              Gia tộc dùng “Chi” đặt tên tạo ảnh hưởng lớn nhất đó là gia tộc của thư pháp gia Vương Hi Chi. Đây là gia tộc nổi tiếng ở Lang Nha 琅琊 thời Lưỡng Tấn. Từ đời Vương Hi Chi trở đi, các đời sau đều thích dùng chữ “Chi” để đặt tên, đời trước truyền cho đời sau, kéo dài đến 120 năm.
              Vương Hi Chi là cháu đời thứ sáu của dòng họ Vương ở Lang Nha. Thế hệ của ông dùng “Chi” để đặt tên, ngoài Vương Hi Chi còn có Yến Chi 晏之, Doãn Chi 允之, Tịch Chi 籍之, Di Chi 颐之, Hồ Chi 胡之, Kỳ Chi 耆之, Tiện Chi 羡之, Bành Chi 彭之, Bưu Chi 彪之, Kiều Chi 翘之, Hưng Chi 兴之
              Đối với chữ “Chi”, Vương Hi Chi lại càng yêu thích, ông đã đặt tên cho mấy người con của mình đều là “Chi”: Huyền Chi 玄之, Ngưng Chi 凝之, Hoán Chi 涣之, Túc Chi 肃之, Huy Chi 徽之, Hiến Chi 献之. Và các con của ông cũng đều dùng “Chi” để đặt tên cho con trai của mình, đặc biệt là người con trưởng Huyền Chi, ba đời nối tiếp nhau dùng “Chi” để đặt tên cho con cháu, theo thứ tự là Uẩn Chi 蕴之, Phủ Chi 抚之, Ý Chi 懿之. Như vậy, dòng họ Vương ở Lang Nha tính từ đời Vương Hi Chi trở đi, riêng chi của Vương Hi Chi dùng “Chi” để đặt tên đã truyền được năm đời.
              Cùng thế hệ với Vương Hi Chi có Vương Doãn Chi, các thế hệ sau của ông cũng đều dùng “Chi” để đặt tên, nối nhau được sáu đời, nhiều hơn Vương Hi Chi một đời. Lần lượt theo thứ tự là: Đời thứ hai Hi Chi 唏之, Trọng Chi 仲之; đời thứ ba Xung Chi 冲之, Triệu Chi 肇之; đời thứ tư Phạm Chi 范之; đời thứ năm Hoành Chi 横之; đới thứ sáu Khiêm Chi 谦之, Kiệm Chi 俭之.
              Ngoài ra, Vương Hồ Chi, người cùng thế hệ với Vương Hi Chi, con cháu năm đời nối tiếp sau cũng đều có tên là “Chi”.
              Phương thức dùng “Chi” đặt tên cho liên tiếp mấy đời quả thật là đặc biệt và độc đáo, trong lịch sử văn hoá về tên họ của Trung quốc chỉ có một.
              Thế thì tại sao dùng chữ “Chi” để đặt tên vào thời Lưỡng Tấn, Nam Bắc triều lại thịnh hành như thế? Một số văn nhân danh sĩ tại sao thích dùng “Chi” để đặt tên?  Chủ yếu có hai nguyên do.
              - Nguyên do thứ nhất có liên quan đến đạo “Ngũ đẩu mễ” của Đạo giáo.
              Đạo “Ngũ đẩu mễ” 五斗米 do Trương Lăng 张陵, người ở huyện Phong , Bái quốc 沛国 (nay thuộc huyện Phong tỉnh Giang Tô) sáng lập vào khoảng niên hiệu Thuận Đế 顺帝 thời Đông Hán. Họ tôn Lão Tử làm Giáo tổ, lấy “Đạo Đức Kinh” 道德经 làm kinh. Đạo “Ngũ đẩu Mễ” ban đầu truyền bá trong nhân dân, đến thời Tây Tấn bắt đầu phân hoá, một bộ phận du nhập vào tầng lớp quý tộc. Đạo này chủ trương hái thuốc luyện đan, trường sinh bất lão, nhàn tản phiêu du nơi núi cao sông rộng, theo đuổi một thế giới thần tiên hư ảo, rất hợp với khẩu vị của tầng lớp  môn phiệt thế tộc đang ở vào một xã hội rối ren, muốn tìm nơi gởi gắm tinh thần. Vì thế, họ đã nảy sinh tình cảm nồng hậu đối với đạo “Ngũ đẩu mễ”. Đạo “Ngũ đẩu mễ” đã dùng chữ “Chi” làm ám hiệu đặt tên cho các tín đồ. Xuất phát từ sự sùng tín đối với đạo, chữ “Chi” đã được khoác lên một màu sắc thần bí, cấp thêm cho bản thân nó một hàm ý đặc biệt, cho nên tầng lớp môn phiệt thế tộc vô cùng yêu thích, và “Chi” đã dần xuất hiện nhiều trong tên người.
              - Nguyên do thứ hai là vào thời Lưỡng Tấn, Nam Bắc triều, vấn đề kỵ huý họ tên ngày càng nghiêm nhặt. Tên của hoàng đế phải tránh, gọi là “Quốc huý”, tên của cha mẹ ông bà phải tránh, gọi là “Gia huý”, tên của các bậc thánh phải tránh, gọi là “Thánh huý”, vì thế tìm một cái tên để đặt không phải là dễ, phải chịu rất nhiều hạn chế của việc kỵ huý. Nhưng lúc bấy giờ, chữ “Đạo” và chữ “Chi” không được liệt vào các chữ huý, cha con, ông cháu đều có thể dùng mà không ngại, vì thế văn nhân danh sĩ thích dùng “Chi” để đặt tên.
              Chính bởi những nguyên do trên, mới xuất hiện hiện tượng đặc thù dùng chữ “Chi” để đặt tên cho con cháu liên tiếp nhiều đời của gia tộc Vương Hi Chi.

                                                          Huỳnh Chương Hưng
                                                          Quy Nhơn 20/5/2017

    Nguyên tác Trung văn
    Trong quyển
    TRUNG QUỐC NHÂN DANH ĐÍCH CỐ SỰ
    中国人名的故事
    Tác giả:  Trương Tráng Niên  张壮年
                   Trương Dĩnh Chấn  张颖震
    Sơn Đông hoạ báo xuất bản xã, tháng 9-2005

    Dịch thuật: Tên "Chi" trong gia tộc Vương Hi Chi

    Đăng lúc  19:07  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    TÊN “CHI” TRONG
    GIA TỘC VƯƠNG HI CHI

              Cách dùng chữ “Chi” để đặt tên đã có từ rất lâu, nhưng xem chữ “Chi” là cao quý, thời thượng, đặt tên một cách phổ biến là vào thời Lưỡng Tấn, Nam Bắc triều. Lúc bấy giờ những danh môn vọng tộc đều dùng “ Chi” để đặt tên. Rất nhiều nhân vật nổi tiếng có tên “Chi”, như khoa học gia Tổ Xung Chi 祖冲之, thư pháp gia Vương Hi Chi 王羲之, hoạ gia Cố Khải Chi 顾恺之, sử gia Bùi Tùng Chi 裴松之, tướng Lưu Lao Chi 刘牢之, Thẩm Khánh Chi 沈庆之.
              Gia tộc dùng “Chi” đặt tên tạo ảnh hưởng lớn nhất đó là gia tộc của thư pháp gia Vương Hi Chi. Đây là gia tộc nổi tiếng ở Lang Nha 琅琊 thời Lưỡng Tấn. Từ đời Vương Hi Chi trở đi, các đời sau đều thích dùng chữ “Chi” để đặt tên, đời trước truyền cho đời sau, kéo dài đến 120 năm.
              Vương Hi Chi là cháu đời thứ sáu của dòng họ Vương ở Lang Nha. Thế hệ của ông dùng “Chi” để đặt tên, ngoài Vương Hi Chi còn có Yến Chi 晏之, Doãn Chi 允之, Tịch Chi 籍之, Di Chi 颐之, Hồ Chi 胡之, Kỳ Chi 耆之, Tiện Chi 羡之, Bành Chi 彭之, Bưu Chi 彪之, Kiều Chi 翘之, Hưng Chi 兴之
              Đối với chữ “Chi”, Vương Hi Chi lại càng yêu thích, ông đã đặt tên cho mấy người con của mình đều là “Chi”: Huyền Chi 玄之, Ngưng Chi 凝之, Hoán Chi 涣之, Túc Chi 肃之, Huy Chi 徽之, Hiến Chi 献之. Và các con của ông cũng đều dùng “Chi” để đặt tên cho con trai của mình, đặc biệt là người con trưởng Huyền Chi, ba đời nối tiếp nhau dùng “Chi” để đặt tên cho con cháu, theo thứ tự là Uẩn Chi 蕴之, Phủ Chi 抚之, Ý Chi 懿之. Như vậy, dòng họ Vương ở Lang Nha tính từ đời Vương Hi Chi trở đi, riêng chi của Vương Hi Chi dùng “Chi” để đặt tên đã truyền được năm đời.
              Cùng thế hệ với Vương Hi Chi có Vương Doãn Chi, các thế hệ sau của ông cũng đều dùng “Chi” để đặt tên, nối nhau được sáu đời, nhiều hơn Vương Hi Chi một đời. Lần lượt theo thứ tự là: Đời thứ hai Hi Chi 唏之, Trọng Chi 仲之; đời thứ ba Xung Chi 冲之, Triệu Chi 肇之; đời thứ tư Phạm Chi 范之; đời thứ năm Hoành Chi 横之; đới thứ sáu Khiêm Chi 谦之, Kiệm Chi 俭之.
              Ngoài ra, Vương Hồ Chi, người cùng thế hệ với Vương Hi Chi, con cháu năm đời nối tiếp sau cũng đều có tên là “Chi”.
              Phương thức dùng “Chi” đặt tên cho liên tiếp mấy đời quả thật là đặc biệt và độc đáo, trong lịch sử văn hoá về tên họ của Trung quốc chỉ có một.
              Thế thì tại sao dùng chữ “Chi” để đặt tên vào thời Lưỡng Tấn, Nam Bắc triều lại thịnh hành như thế? Một số văn nhân danh sĩ tại sao thích dùng “Chi” để đặt tên?  Chủ yếu có hai nguyên do.
              - Nguyên do thứ nhất có liên quan đến đạo “Ngũ đẩu mễ” của Đạo giáo.
              Đạo “Ngũ đẩu mễ” 五斗米 do Trương Lăng 张陵, người ở huyện Phong , Bái quốc 沛国 (nay thuộc huyện Phong tỉnh Giang Tô) sáng lập vào khoảng niên hiệu Thuận Đế 顺帝 thời Đông Hán. Họ tôn Lão Tử làm Giáo tổ, lấy “Đạo Đức Kinh” 道德经 làm kinh. Đạo “Ngũ đẩu Mễ” ban đầu truyền bá trong nhân dân, đến thời Tây Tấn bắt đầu phân hoá, một bộ phận du nhập vào tầng lớp quý tộc. Đạo này chủ trương hái thuốc luyện đan, trường sinh bất lão, nhàn tản phiêu du nơi núi cao sông rộng, theo đuổi một thế giới thần tiên hư ảo, rất hợp với khẩu vị của tầng lớp  môn phiệt thế tộc đang ở vào một xã hội rối ren, muốn tìm nơi gởi gắm tinh thần. Vì thế, họ đã nảy sinh tình cảm nồng hậu đối với đạo “Ngũ đẩu mễ”. Đạo “Ngũ đẩu mễ” đã dùng chữ “Chi” làm ám hiệu đặt tên cho các tín đồ. Xuất phát từ sự sùng tín đối với đạo, chữ “Chi” đã được khoác lên một màu sắc thần bí, cấp thêm cho bản thân nó một hàm ý đặc biệt, cho nên tầng lớp môn phiệt thế tộc vô cùng yêu thích, và “Chi” đã dần xuất hiện nhiều trong tên người.
              - Nguyên do thứ hai là vào thời Lưỡng Tấn, Nam Bắc triều, vấn đề kỵ huý họ tên ngày càng nghiêm nhặt. Tên của hoàng đế phải tránh, gọi là “Quốc huý”, tên của cha mẹ ông bà phải tránh, gọi là “Gia huý”, tên của các bậc thánh phải tránh, gọi là “Thánh huý”, vì thế tìm một cái tên để đặt không phải là dễ, phải chịu rất nhiều hạn chế của việc kỵ huý. Nhưng lúc bấy giờ, chữ “Đạo” và chữ “Chi” không được liệt vào các chữ huý, cha con, ông cháu đều có thể dùng mà không ngại, vì thế văn nhân danh sĩ thích dùng “Chi” để đặt tên.
              Chính bởi những nguyên do trên, mới xuất hiện hiện tượng đặc thù dùng chữ “Chi” để đặt tên cho con cháu liên tiếp nhiều đời của gia tộc Vương Hi Chi.

                                                          Huỳnh Chương Hưng
                                                          Quy Nhơn 20/5/2017

    Nguyên tác Trung văn
    Trong quyển
    TRUNG QUỐC NHÂN DANH ĐÍCH CỐ SỰ
    中国人名的故事
    Tác giả:  Trương Tráng Niên  张壮年
                   Trương Dĩnh Chấn  张颖震
    Sơn Đông hoạ báo xuất bản xã, tháng 9-2005

    Thứ Sáu, 19 tháng 5, 2017



    TAM GIA PHÂN TẤN
    (kì 9)

              三家分智氏之田 (1). 赵襄子漆智伯之头 (2), 以为饮器. 智伯之臣豫让欲为之报仇, 乃诈为刑人, 挟匕首, 入襄子宫中涂厕. 襄子如厕心动, 索之, 获豫让. 左右欲杀之, 襄子曰: 智伯死无后, 而此人欲为报仇, 真义士也, 吾谨避之耳.乃舍之. 豫让又漆身为癞, 吞炭为哑. 行乞于市, 其妻不识也. 行见其友, 其友识之, 为之泣曰: 以子之才, 臣事赵孟, 必得近幸. 子乃为所欲为, 故不易邪? 何乃自苦如此? 求以报仇, 不亦难乎!豫让曰: 既已委质为臣 (3), 而又求杀之, 是二心也. 凡吾所为者, 极难耳. 然所以为此者, 将以愧天下后世之为人臣怀二心者也.襄子出, 豫让伏于桥下. 襄子至桥, 马惊; 索之, 得豫让, 遂杀之.

    Phiên âm
              Tam gia phân Trí thị chi điền (1). Triệu Tương Tử tất Trí Bá chi đầu (2), dĩ vi ẩm khí. Trí Bá chi thần Dự Nhượng dục vị chi báo cừu, nãi trá vi hình nhân, hiệp chuỷ thủ, nhập Tương Tử cung trung đồ xí. Tương Tử như xí tâm động, sách chi, hoạch Dự Nhượng. Tả hữu dục sát chi, Tương Tử viết: “Trí Bá tử vô hậu, nhi thử nhân dục vị báo cừu, chân nghĩa sĩ dã, ngô cẩn tị chi nhĩ.” Nãi xả  chi. Dự Nhượng hựu tất thân vi lại, thôn thán vi á. Hành khất vu thị, kì thê bất thức dã. Hành kiến kì hữu, kì hữu thức chi, vị chi khấp viết: “Dĩ tử chi tài, thần sự Triệu Mạnh, tất đắc cận hạnh. Tử nãi vi sở dục vi, cố bất dị da? Hà nãi tự khổ như thử? Cầu dĩ báo cừu, bất diệc nan hồ!” Dự Nhượng viết: “Kí dĩ uỷ chí vi thần (3), nhi hựu cầu sát chi, thị nhị tâm dã. Phàm ngô sở vi giả, cực nan nhĩ. Nhiên sở dĩ vi thử giả, tương dĩ quý thiên hạ hậu thế vi nhân thần hoài nhị tâm giả dã.” Tương Tử xuất, Dự Nhượng phục vu kiều hạ. Tương Tử chí kiều, mã kinh; sách chi, đắc Dự Nhượng, toại sát chi.

    Chú thích
    1- Tam gia 三家: chỉ 3 nhà Hàn, Triệu, Nguỵ của nước Tấn. Năm Chu Uy Liệt Vương 周威烈王 thứ 23 (năm 403 trước công nguyên), 3 nhà Hàn, Triệu, Nguỵ cùng xuất binh tiêu diệt họ Trí, Chu thiên tử đành thừa nhận địa vị chư hầu của 3 nhà. Từ đó, lịch sử Trung Quốc tiến vào thời đại Chiến Quốc. Câu chuyện này phát sinh trước năm Chu Uy Liệt Vương thứ 23, ở đây Tư Mã Quang 司马光truy thuật lại câu chuyện trước khi 3 nhà phân chia nước Tấn, nhằm để trình bày lịch sử quan cơ bản  của mình.
    2- Tất : danh từ được dùng làm động tự, dùng sơn bôi lên thân thể.
    3- Uỷ chí 委质: thần phục, quy phụ.

    Dịch nghĩa
              Ba nhà Hàn, Triệu, Nguỵ phân chia ruộng đất của họ Trí. Triệu Tương Tử còn lấy đầu lâu của Trí Bá sơn đen, làm dụng cụ uống rượu cho mình. Gia thần của Trí Bá là Dự Nhượng muốn báo thù cho chủ công, bèn giả làm người đã từng chịu qua hình phạt khổ sai, giấu chiếc dao chuỷ thủ trong người, lẻn vào cung của Triệu Tương Tử quét dọn nhà xí. Lúc Triệu Tương Tử đi nhà xí, trong lòng bỗng nhiên bất an, hạ lệnh lục soát, bắt được Dự Nhượng. Tuỳ tùng tả hữu của Triệu Tương Tử muốn giết Dự Nhượng, Triệu Tương Tử nói rằng: ‘Trí Bá chết, không có hậu nhân, người này vì ông ta mà báo thù, quả là nghĩa sĩ, ta cẩn thận tránh hắn là được.” Bèn thả Dự Nhượng. Dự Nhượng bôi đen thân mình, giống như người bị bệnh hủi, lại nuốt than khiến giọng trở nên khàn. Ông ta ăn xin ở chợ, ngay cả người vợ của ông cũng nhận không ra. Dự Nhượng đến trước mặt một người bạn, người bạn sau khi nhận ra, thất kinh, khóc nói với Dự Nhượng rằng: “Với tài cán của ông, nếu đến với Triệu gia, nhất định sẽ được trọng dụng, lúc bấy giờ có cơ hội tiếp cận ông ta. Lúc đó, ông muốn làm gì chẳng phải là dễ dàng sao? Sao lại tự làm khổ mình đến mức này? Dùng cách này để báo thù, cũng chẳng phải là khó sao?” Dự Nhượng đáp rằng: “Nếu tôi đã khuất thân làm thần tử cho Triệu gia mà lại tìm cơ hội để giết ông ta, đó là đối với ông ta tôi nuôi hai lòng. Tôi cũng biết hiện làm theo cách này, muốn báo thù là cực khó. Nhưng sở dĩ tôi vẫn làm, là vì muốn đời sau những kẻ làm thần tử cho người ta mà lòng chứa sự bất trung cảm thấy xấu hổ.” Ngày nọ, Triệu Tương Tử ngồi xe ra đi, Dự Nhượng nấp dưới cây cầu mà Triệu Tương Tử nhất định sẽ đi ngang qua. Triệu Tương Tử đến trước cầu, con ngựa của ông ta đột nhiên kinh hãi; hạ lệnh lục soát, bắt được Dự Nhượng, bèn giết chết.

                                                                  Huỳnh Chương Hưng
                                                                  Quy Nhơn 19/5/2017

    Nguồn
    TƯ TRỊ THÔNG GIÁM
    资治通鉴
    Bắc Tống . Tư Mã Quang 司马光
    Chủ biên: Nhậm Tư Vũ 任思武
       Bắc Kinh . Trung Quốc Hoa kiều xuất bản xã, 2013

    Dịch thuật: Tam gia phân Tấn (kì 9)

    Đăng lúc  20:16  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »



    TAM GIA PHÂN TẤN
    (kì 9)

              三家分智氏之田 (1). 赵襄子漆智伯之头 (2), 以为饮器. 智伯之臣豫让欲为之报仇, 乃诈为刑人, 挟匕首, 入襄子宫中涂厕. 襄子如厕心动, 索之, 获豫让. 左右欲杀之, 襄子曰: 智伯死无后, 而此人欲为报仇, 真义士也, 吾谨避之耳.乃舍之. 豫让又漆身为癞, 吞炭为哑. 行乞于市, 其妻不识也. 行见其友, 其友识之, 为之泣曰: 以子之才, 臣事赵孟, 必得近幸. 子乃为所欲为, 故不易邪? 何乃自苦如此? 求以报仇, 不亦难乎!豫让曰: 既已委质为臣 (3), 而又求杀之, 是二心也. 凡吾所为者, 极难耳. 然所以为此者, 将以愧天下后世之为人臣怀二心者也.襄子出, 豫让伏于桥下. 襄子至桥, 马惊; 索之, 得豫让, 遂杀之.

    Phiên âm
              Tam gia phân Trí thị chi điền (1). Triệu Tương Tử tất Trí Bá chi đầu (2), dĩ vi ẩm khí. Trí Bá chi thần Dự Nhượng dục vị chi báo cừu, nãi trá vi hình nhân, hiệp chuỷ thủ, nhập Tương Tử cung trung đồ xí. Tương Tử như xí tâm động, sách chi, hoạch Dự Nhượng. Tả hữu dục sát chi, Tương Tử viết: “Trí Bá tử vô hậu, nhi thử nhân dục vị báo cừu, chân nghĩa sĩ dã, ngô cẩn tị chi nhĩ.” Nãi xả  chi. Dự Nhượng hựu tất thân vi lại, thôn thán vi á. Hành khất vu thị, kì thê bất thức dã. Hành kiến kì hữu, kì hữu thức chi, vị chi khấp viết: “Dĩ tử chi tài, thần sự Triệu Mạnh, tất đắc cận hạnh. Tử nãi vi sở dục vi, cố bất dị da? Hà nãi tự khổ như thử? Cầu dĩ báo cừu, bất diệc nan hồ!” Dự Nhượng viết: “Kí dĩ uỷ chí vi thần (3), nhi hựu cầu sát chi, thị nhị tâm dã. Phàm ngô sở vi giả, cực nan nhĩ. Nhiên sở dĩ vi thử giả, tương dĩ quý thiên hạ hậu thế vi nhân thần hoài nhị tâm giả dã.” Tương Tử xuất, Dự Nhượng phục vu kiều hạ. Tương Tử chí kiều, mã kinh; sách chi, đắc Dự Nhượng, toại sát chi.

    Chú thích
    1- Tam gia 三家: chỉ 3 nhà Hàn, Triệu, Nguỵ của nước Tấn. Năm Chu Uy Liệt Vương 周威烈王 thứ 23 (năm 403 trước công nguyên), 3 nhà Hàn, Triệu, Nguỵ cùng xuất binh tiêu diệt họ Trí, Chu thiên tử đành thừa nhận địa vị chư hầu của 3 nhà. Từ đó, lịch sử Trung Quốc tiến vào thời đại Chiến Quốc. Câu chuyện này phát sinh trước năm Chu Uy Liệt Vương thứ 23, ở đây Tư Mã Quang 司马光truy thuật lại câu chuyện trước khi 3 nhà phân chia nước Tấn, nhằm để trình bày lịch sử quan cơ bản  của mình.
    2- Tất : danh từ được dùng làm động tự, dùng sơn bôi lên thân thể.
    3- Uỷ chí 委质: thần phục, quy phụ.

    Dịch nghĩa
              Ba nhà Hàn, Triệu, Nguỵ phân chia ruộng đất của họ Trí. Triệu Tương Tử còn lấy đầu lâu của Trí Bá sơn đen, làm dụng cụ uống rượu cho mình. Gia thần của Trí Bá là Dự Nhượng muốn báo thù cho chủ công, bèn giả làm người đã từng chịu qua hình phạt khổ sai, giấu chiếc dao chuỷ thủ trong người, lẻn vào cung của Triệu Tương Tử quét dọn nhà xí. Lúc Triệu Tương Tử đi nhà xí, trong lòng bỗng nhiên bất an, hạ lệnh lục soát, bắt được Dự Nhượng. Tuỳ tùng tả hữu của Triệu Tương Tử muốn giết Dự Nhượng, Triệu Tương Tử nói rằng: ‘Trí Bá chết, không có hậu nhân, người này vì ông ta mà báo thù, quả là nghĩa sĩ, ta cẩn thận tránh hắn là được.” Bèn thả Dự Nhượng. Dự Nhượng bôi đen thân mình, giống như người bị bệnh hủi, lại nuốt than khiến giọng trở nên khàn. Ông ta ăn xin ở chợ, ngay cả người vợ của ông cũng nhận không ra. Dự Nhượng đến trước mặt một người bạn, người bạn sau khi nhận ra, thất kinh, khóc nói với Dự Nhượng rằng: “Với tài cán của ông, nếu đến với Triệu gia, nhất định sẽ được trọng dụng, lúc bấy giờ có cơ hội tiếp cận ông ta. Lúc đó, ông muốn làm gì chẳng phải là dễ dàng sao? Sao lại tự làm khổ mình đến mức này? Dùng cách này để báo thù, cũng chẳng phải là khó sao?” Dự Nhượng đáp rằng: “Nếu tôi đã khuất thân làm thần tử cho Triệu gia mà lại tìm cơ hội để giết ông ta, đó là đối với ông ta tôi nuôi hai lòng. Tôi cũng biết hiện làm theo cách này, muốn báo thù là cực khó. Nhưng sở dĩ tôi vẫn làm, là vì muốn đời sau những kẻ làm thần tử cho người ta mà lòng chứa sự bất trung cảm thấy xấu hổ.” Ngày nọ, Triệu Tương Tử ngồi xe ra đi, Dự Nhượng nấp dưới cây cầu mà Triệu Tương Tử nhất định sẽ đi ngang qua. Triệu Tương Tử đến trước cầu, con ngựa của ông ta đột nhiên kinh hãi; hạ lệnh lục soát, bắt được Dự Nhượng, bèn giết chết.

                                                                  Huỳnh Chương Hưng
                                                                  Quy Nhơn 19/5/2017

    Nguồn
    TƯ TRỊ THÔNG GIÁM
    资治通鉴
    Bắc Tống . Tư Mã Quang 司马光
    Chủ biên: Nhậm Tư Vũ 任思武
       Bắc Kinh . Trung Quốc Hoa kiều xuất bản xã, 2013

    Mã nguồn bởi Huỳnh Chương Hưng
    Copyright © 2012 Huỳnh Chương Hưng.
    back to top