• Chủ Nhật, 21 tháng 10, 2018



    THẬP ÁC

              Thập ác là 10 tội trạng nặng nhất. Trong pháp luật Bắc Chu, Bắc Tề đã liệt kê danh mục “thập điều” 十条 (10 điều) trọng tội, trong pháp luật thời Tuỳ bắt đầu có tên gọi “thập ác” 十恶. Nội dung “thập ác” trong Đường luật 唐律 là:
    1- Mưu phản 谋反: phạm tội dự mưu cùng thực thi lật đổ sự thống trị của đế vương, bao gồm việc nguy hại đến nhân thân hoàng đế.
    2- Mưu đại nghịch 谋大逆: (nghịch : bội phản, phản nghịch) phạm tội dự mưu cùng thực thi huỷ hoại tông miếu vương thất, lăng mộ và cung điện.
    3- Mưu bạn 谋叛: phạm tội dự mưu cùng thực thi phản bội lại triều đình, đầu hàng ngoại quốc hoặc chính quyền khác.
    4- Ác nghịch 恶逆: đánh hoặc mưu sát ông bà nội, cha mẹ, giết bác trai bác gái, cô, anh, chị, ông bà ngoại, chồng cùng ông bà nội hoặc cha mẹ của chồng.
    5- Đại bất kính 大不敬: hành vi xâm phạm đến quyền uy tôn nghiêm của hoàng đế, uy hiếp sự an toàn nhân thân hoàng đế. Trong pháp luật thời Tống gọi là “đại bất cung” 大不恭.
    6- Bất đạo 不道: phạm tội giết chết 3 người vô tội của một nhà hoặc 3 người trở lên, chặt thi thể người bị giết; nuôi trùng độc hoặc phối chế thuốc độc để hại người; dùng pháp thuật tà ác khiến người bị mắc tai bệnh hoặc chết.
    7- Bất hiếu 不孝: phạm tội tố cáo hoặc chửi mắng ông bà nội, cha mẹ; khi ông bà nội, cha mẹ còn sống ra ở riêng hoặc cung dưỡng không đủ. Thời Minh Thanh, luật tăng thêm “ông bà nội, cha mẹ của chồng”.
    8- Bất mục 不睦: (mục : hoà thuận, gần gũi) phạm tội với thân tộc, như phạm tội mưu sát hại và bán đứng thân thuộc, đánh nhau hoặc tố cáo chồng, bậc tôn trưởng, thân thuộc.
    9- Bất nghĩa 不义: hạ thuộc (cấp dưới) giết chủ phủ của bản thuộc, thứ sử, huyện lệnh, thầy dạy; lại viên giết trưởng quan từ ngũ phẩm trở lên của bản bộ, chồng chết liền cải giá.
    10- Nội loạn 内乱: (nội : nội bộ, gia tộc nội loạn; loạn : nam nữ quan hệ không chính đáng, dâm loạn) hành vi dâm loạn trong gia tộc, như cưỡng gian thân thuộc hoặc thiếp của cha, của ông nội.
              Quy định về “thập ác” các đời noi theo. “Thập ác” không có khoan xá, nhân đó lời tục có câu: “thập ác bất xá” 十恶不赦.

                                                                     Huỳnh Chương Hưng
                                                                     Quy Nhơn 21/10/2018

    Nguồn
    TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI VĂN HOÁ THƯỜNG THỨC
    中国古代文化常识
    Biên soạn: Thiệu Sĩ Mai 邵士梅
                      Đào Tịch Giai 陶夕佳
                      Tưởng Tiểu Ba 蒋筱波
    Tam Xuân xuất bản xã, 2008


    Dịch thuật: Thập ác

    Đăng lúc  20:15  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »



    THẬP ÁC

              Thập ác là 10 tội trạng nặng nhất. Trong pháp luật Bắc Chu, Bắc Tề đã liệt kê danh mục “thập điều” 十条 (10 điều) trọng tội, trong pháp luật thời Tuỳ bắt đầu có tên gọi “thập ác” 十恶. Nội dung “thập ác” trong Đường luật 唐律 là:
    1- Mưu phản 谋反: phạm tội dự mưu cùng thực thi lật đổ sự thống trị của đế vương, bao gồm việc nguy hại đến nhân thân hoàng đế.
    2- Mưu đại nghịch 谋大逆: (nghịch : bội phản, phản nghịch) phạm tội dự mưu cùng thực thi huỷ hoại tông miếu vương thất, lăng mộ và cung điện.
    3- Mưu bạn 谋叛: phạm tội dự mưu cùng thực thi phản bội lại triều đình, đầu hàng ngoại quốc hoặc chính quyền khác.
    4- Ác nghịch 恶逆: đánh hoặc mưu sát ông bà nội, cha mẹ, giết bác trai bác gái, cô, anh, chị, ông bà ngoại, chồng cùng ông bà nội hoặc cha mẹ của chồng.
    5- Đại bất kính 大不敬: hành vi xâm phạm đến quyền uy tôn nghiêm của hoàng đế, uy hiếp sự an toàn nhân thân hoàng đế. Trong pháp luật thời Tống gọi là “đại bất cung” 大不恭.
    6- Bất đạo 不道: phạm tội giết chết 3 người vô tội của một nhà hoặc 3 người trở lên, chặt thi thể người bị giết; nuôi trùng độc hoặc phối chế thuốc độc để hại người; dùng pháp thuật tà ác khiến người bị mắc tai bệnh hoặc chết.
    7- Bất hiếu 不孝: phạm tội tố cáo hoặc chửi mắng ông bà nội, cha mẹ; khi ông bà nội, cha mẹ còn sống ra ở riêng hoặc cung dưỡng không đủ. Thời Minh Thanh, luật tăng thêm “ông bà nội, cha mẹ của chồng”.
    8- Bất mục 不睦: (mục : hoà thuận, gần gũi) phạm tội với thân tộc, như phạm tội mưu sát hại và bán đứng thân thuộc, đánh nhau hoặc tố cáo chồng, bậc tôn trưởng, thân thuộc.
    9- Bất nghĩa 不义: hạ thuộc (cấp dưới) giết chủ phủ của bản thuộc, thứ sử, huyện lệnh, thầy dạy; lại viên giết trưởng quan từ ngũ phẩm trở lên của bản bộ, chồng chết liền cải giá.
    10- Nội loạn 内乱: (nội : nội bộ, gia tộc nội loạn; loạn : nam nữ quan hệ không chính đáng, dâm loạn) hành vi dâm loạn trong gia tộc, như cưỡng gian thân thuộc hoặc thiếp của cha, của ông nội.
              Quy định về “thập ác” các đời noi theo. “Thập ác” không có khoan xá, nhân đó lời tục có câu: “thập ác bất xá” 十恶不赦.

                                                                     Huỳnh Chương Hưng
                                                                     Quy Nhơn 21/10/2018

    Nguồn
    TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI VĂN HOÁ THƯỜNG THỨC
    中国古代文化常识
    Biên soạn: Thiệu Sĩ Mai 邵士梅
                      Đào Tịch Giai 陶夕佳
                      Tưởng Tiểu Ba 蒋筱波
    Tam Xuân xuất bản xã, 2008


    Thứ Bảy, 20 tháng 10, 2018

    “LÊ DÂN” VÀ “BÁCH TÍNH” THỜI CỔ CÓ PHẢI ĐỀU CHỈ BÌNH DÂN

              Trong tác phẩm văn học thường dùng “lê dân bách tính” 黎民百姓 để chỉ bình dân phổ thông, “lê dân” 黎民 và “bách tính” 百姓 có phải đều chỉ bình dân?
              Muốn truy nguyên lai lịch từ “lê dân”, chúng ta phải bắt đầu từ Viêm Đế 炎帝 và Hoàng Đế 黄帝. Tương truyền vào thời hai vị Đế này, ngoài Trung Quốc ra còn có các bộ lạc Đông Di 东夷, Tây Nhung 西戎, Nam Man 南蛮, Bắc Địch 北狄. Theo truyền thuyết, ở Nam Man có một liên minh bộ lạc lớn mạnh nhất lấy mãnh thú làm totem. Liên minh này do 9 bộ lạc tổ thành, tên là “Cửu Lê tộc” 九黎族, đứng đầu là Xi Vưu 蚩尤. Về sau, Xi Vưu nhìn thấy lưu vực Hoàng hà đất đai phì nhiêu tươi tốt bèn đưa mọi người đến tranh đoạt.
              Đương thời, bộ lạc của Viêm Đế sống ở nơi này. Để bảo vệ đất đai vườn tược của mình, Viêm Đế triển khai đại chiến với bộ lạc Xi Vưu. Viêm Đế chiến bại. Sau khi Viêm Đế thất bại đã nhờ vào bộ lạc của Hoàng Đế ở phía tây, tổ thành liên minh Viêm Hoàng. Thế là, để tranh đoạt khu vực trung nguyên, bộ lạc Viêm Hoàng một lần nữa kịch chiến với bộ lạc Xi Vưu. Hoàng Đế không những đánh bại bộ lạc Cửu Lê, mà còn lấy được thủ cấp của Xi Vưu. Sau khi chiến bại, người của Cửu Lê tộc trở thành tù nhân cấp thấp, bị người của bộ lạc Viêm Hoàng gọi là “lê dân”. Đương nhiên, cách gọi này hàm ý miệt thị xem thường.
              Trong bộ lạc Viêm Hoàng thực hành một loại chế độ, chỉ người có địa vị thân phận mới được quyền mang tính thị 姓氏. Nói chung, người mang tính 姓 là phụ nữ, người mang thị là đàn ông, ví như nói Hiên Viên thị 轩辕氏, Thần Nông thị 神农氏 (1). Theo Thuyết văn giải tự 说文解字, Hiên Viên theo tính của mẹ, còn con của ông ta, thì tính thị do Hoàng Đế (tức Hiên Viên - ND) chỉ định. Sự chuyển biến này, đã phản ánh sự thực lịch sử quá độ từ thị tộc mẫu hệ sang thị tộc phụ hệ. Thời kì của hai vị Viêm Đế và Hoàng Đế, khu vực trung nguyên đã hình thành liên minh bộ lạc do họ đứng đầu. Liên minh này ước chừng có khoảng 100 thị tộc, mỗi thị tộc đều có tính thị riêng. Cho nên tập đoàn thống trị này trở thành “bách tính”. Từ đó có thể biết, lúc bắt đầu của “bách tính” là hợp xưng các thủ lĩnh thị tộc trong bộ lạc, thân phận cao quý, không phải là bình dân.
              Theo ghi chép trong Thượng thư 尚书, thời Đế Thuấn từng cưỡng bức “lê dân” lao động vất vả là để cung phụng “bách tính”. Trong Thượng thư – Nghiêu điển 尚书 - 尧典 có nói:

    Bình chương bách tính, bách tính chiêu minh. (2)
    平章百姓, 百姓昭明
              Các học giả đời sau giải thích rằng “bách tính chính là chỉ bách quan”. Trịnh Huyền 郑玄đời Hán chú rằng:
    Bách tính, quân thần chi phụ tử huynh đệ.
    百姓, 君臣之父子兄弟.
    (Bách tính là cha con anh em của vua tôi)
              Có thể thấy vào thời cổ, trong một thời gian tương đối dài, chỉ có vương công quý tộc mới có “tính”, bình dân áo vải không có tư cách để có “tính”.
              Theo sự biến động của xã hội, các triều đại thay nhau, “lê dân” đã hưng vượng lên, “bách tính” đã sa sút, nhân đó mà sự khu biệt này đã không còn rõ ràng. Thời Chiến Quốc, quý tộc bị suy yếu triệt để, “lê dân bách tính” cũng trở thành từ gọi chung đại chúng nhân dân.

    Chú của người dịch
    1- Hiên Viên 轩辕: tức Hoàng Đế 黄帝, vị thủ lĩnh liên minh bộ lạc của Hoa Hạ thời cổ. Theo truyền thuyết, Hiên Viên là con của Thiếu Điển 少典và bà Phụ Bảo 附宝, vốn tính là Công Tôn 公孙, sau đổi sang tính Cơ , cho nên cũng gọi là Cơ Hiên Viên 姬轩辕, vì cư trú ở gò Hiên Viên 轩辕 nên có hiệu là Hiên Viên thị轩辕氏.
              Thần Nông 神农: tức Viêm Đế, là thủ lĩnh của bộ lạc tính Khương 姜 thời thượng cổ Trung Quốc, có hiệu là Thần Nông thị 神农氏, Khôi Ngỗi thị 魁隗氏, Liên Sơn thị 连山氏, Liệt Sơn thị 列山氏.

    2- Trong Thượng thư – Nghiêu điển 尚书 - 尧典 ghi rằng:
              Khắc minh tuấn đức, dĩ thân cửu tộc. Cửu tộc kí mục, bình chương bách tính. Bách tính chiêu minh, hiệp hoà vạn bang.
              克明俊德, 以亲九族. 九族既睦, 平章百姓. 百姓昭明, 协和万邦.
              Tỏ rõ đức lớn: Thân với chín tộc, chín tộc lại hoà mục; hoà vui trăm họ, trăm họ được sáng, hoà hợp với muôn nước ...
              - Chín tộc: Chín đời trong họ: Cao Tổ, Tằng Tổ, Tổ, Phụ, Thân, Tử, Tôn, Tằng tôn, Huyền tôn.
              - Trăm họ: Dân trong một nước.
                              (Bản dịch và chú thích của Trần Lê Sáng, Phạm Kỳ Nam)
              Tỏ rõ được đức lớn, để thân với người chín tộc. Chín tộc thuận rồi, rạng đều trăm họ. Trăm họ đã rỡ sáng, hoà hợp muôn nước...
              - Chín tộc: kể trong họ nội, từ người ngang hàng với ông tổ năm đời (cao tổ) của mình, cho đến kẻ ngang hàng với cháu năm đời của mình (huyền tôn), tất cả là chín bậc. Người ở trong chín bậc ấy gọi là trong chín tộc.
              - Trăm họ: dân trong một nước.
                                      (Bản dịch và chú thích của Nhượng Tống)

                                                      Huỳnh Chương Hưng
                                                      Quy Nhơn 20/10/2018

    Nguyên tác Trung văn
    Trong quyển
    THÚ VỊ VĂN HOÁ TRI THỨC ĐẠI TOÀN
    趣味文化知识大全
    Thanh Thạch 青石 biên soạn
    Trung Quốc Hoa kiều xuất bản xã, 2013

    Dịch thuật: "Lê dân" và "bách tính" thời cổ có phải đều chỉ bình dân

    Đăng lúc  21:25  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    “LÊ DÂN” VÀ “BÁCH TÍNH” THỜI CỔ CÓ PHẢI ĐỀU CHỈ BÌNH DÂN

              Trong tác phẩm văn học thường dùng “lê dân bách tính” 黎民百姓 để chỉ bình dân phổ thông, “lê dân” 黎民 và “bách tính” 百姓 có phải đều chỉ bình dân?
              Muốn truy nguyên lai lịch từ “lê dân”, chúng ta phải bắt đầu từ Viêm Đế 炎帝 và Hoàng Đế 黄帝. Tương truyền vào thời hai vị Đế này, ngoài Trung Quốc ra còn có các bộ lạc Đông Di 东夷, Tây Nhung 西戎, Nam Man 南蛮, Bắc Địch 北狄. Theo truyền thuyết, ở Nam Man có một liên minh bộ lạc lớn mạnh nhất lấy mãnh thú làm totem. Liên minh này do 9 bộ lạc tổ thành, tên là “Cửu Lê tộc” 九黎族, đứng đầu là Xi Vưu 蚩尤. Về sau, Xi Vưu nhìn thấy lưu vực Hoàng hà đất đai phì nhiêu tươi tốt bèn đưa mọi người đến tranh đoạt.
              Đương thời, bộ lạc của Viêm Đế sống ở nơi này. Để bảo vệ đất đai vườn tược của mình, Viêm Đế triển khai đại chiến với bộ lạc Xi Vưu. Viêm Đế chiến bại. Sau khi Viêm Đế thất bại đã nhờ vào bộ lạc của Hoàng Đế ở phía tây, tổ thành liên minh Viêm Hoàng. Thế là, để tranh đoạt khu vực trung nguyên, bộ lạc Viêm Hoàng một lần nữa kịch chiến với bộ lạc Xi Vưu. Hoàng Đế không những đánh bại bộ lạc Cửu Lê, mà còn lấy được thủ cấp của Xi Vưu. Sau khi chiến bại, người của Cửu Lê tộc trở thành tù nhân cấp thấp, bị người của bộ lạc Viêm Hoàng gọi là “lê dân”. Đương nhiên, cách gọi này hàm ý miệt thị xem thường.
              Trong bộ lạc Viêm Hoàng thực hành một loại chế độ, chỉ người có địa vị thân phận mới được quyền mang tính thị 姓氏. Nói chung, người mang tính 姓 là phụ nữ, người mang thị là đàn ông, ví như nói Hiên Viên thị 轩辕氏, Thần Nông thị 神农氏 (1). Theo Thuyết văn giải tự 说文解字, Hiên Viên theo tính của mẹ, còn con của ông ta, thì tính thị do Hoàng Đế (tức Hiên Viên - ND) chỉ định. Sự chuyển biến này, đã phản ánh sự thực lịch sử quá độ từ thị tộc mẫu hệ sang thị tộc phụ hệ. Thời kì của hai vị Viêm Đế và Hoàng Đế, khu vực trung nguyên đã hình thành liên minh bộ lạc do họ đứng đầu. Liên minh này ước chừng có khoảng 100 thị tộc, mỗi thị tộc đều có tính thị riêng. Cho nên tập đoàn thống trị này trở thành “bách tính”. Từ đó có thể biết, lúc bắt đầu của “bách tính” là hợp xưng các thủ lĩnh thị tộc trong bộ lạc, thân phận cao quý, không phải là bình dân.
              Theo ghi chép trong Thượng thư 尚书, thời Đế Thuấn từng cưỡng bức “lê dân” lao động vất vả là để cung phụng “bách tính”. Trong Thượng thư – Nghiêu điển 尚书 - 尧典 có nói:

    Bình chương bách tính, bách tính chiêu minh. (2)
    平章百姓, 百姓昭明
              Các học giả đời sau giải thích rằng “bách tính chính là chỉ bách quan”. Trịnh Huyền 郑玄đời Hán chú rằng:
    Bách tính, quân thần chi phụ tử huynh đệ.
    百姓, 君臣之父子兄弟.
    (Bách tính là cha con anh em của vua tôi)
              Có thể thấy vào thời cổ, trong một thời gian tương đối dài, chỉ có vương công quý tộc mới có “tính”, bình dân áo vải không có tư cách để có “tính”.
              Theo sự biến động của xã hội, các triều đại thay nhau, “lê dân” đã hưng vượng lên, “bách tính” đã sa sút, nhân đó mà sự khu biệt này đã không còn rõ ràng. Thời Chiến Quốc, quý tộc bị suy yếu triệt để, “lê dân bách tính” cũng trở thành từ gọi chung đại chúng nhân dân.

    Chú của người dịch
    1- Hiên Viên 轩辕: tức Hoàng Đế 黄帝, vị thủ lĩnh liên minh bộ lạc của Hoa Hạ thời cổ. Theo truyền thuyết, Hiên Viên là con của Thiếu Điển 少典và bà Phụ Bảo 附宝, vốn tính là Công Tôn 公孙, sau đổi sang tính Cơ , cho nên cũng gọi là Cơ Hiên Viên 姬轩辕, vì cư trú ở gò Hiên Viên 轩辕 nên có hiệu là Hiên Viên thị轩辕氏.
              Thần Nông 神农: tức Viêm Đế, là thủ lĩnh của bộ lạc tính Khương 姜 thời thượng cổ Trung Quốc, có hiệu là Thần Nông thị 神农氏, Khôi Ngỗi thị 魁隗氏, Liên Sơn thị 连山氏, Liệt Sơn thị 列山氏.

    2- Trong Thượng thư – Nghiêu điển 尚书 - 尧典 ghi rằng:
              Khắc minh tuấn đức, dĩ thân cửu tộc. Cửu tộc kí mục, bình chương bách tính. Bách tính chiêu minh, hiệp hoà vạn bang.
              克明俊德, 以亲九族. 九族既睦, 平章百姓. 百姓昭明, 协和万邦.
              Tỏ rõ đức lớn: Thân với chín tộc, chín tộc lại hoà mục; hoà vui trăm họ, trăm họ được sáng, hoà hợp với muôn nước ...
              - Chín tộc: Chín đời trong họ: Cao Tổ, Tằng Tổ, Tổ, Phụ, Thân, Tử, Tôn, Tằng tôn, Huyền tôn.
              - Trăm họ: Dân trong một nước.
                              (Bản dịch và chú thích của Trần Lê Sáng, Phạm Kỳ Nam)
              Tỏ rõ được đức lớn, để thân với người chín tộc. Chín tộc thuận rồi, rạng đều trăm họ. Trăm họ đã rỡ sáng, hoà hợp muôn nước...
              - Chín tộc: kể trong họ nội, từ người ngang hàng với ông tổ năm đời (cao tổ) của mình, cho đến kẻ ngang hàng với cháu năm đời của mình (huyền tôn), tất cả là chín bậc. Người ở trong chín bậc ấy gọi là trong chín tộc.
              - Trăm họ: dân trong một nước.
                                      (Bản dịch và chú thích của Nhượng Tống)

                                                      Huỳnh Chương Hưng
                                                      Quy Nhơn 20/10/2018

    Nguyên tác Trung văn
    Trong quyển
    THÚ VỊ VĂN HOÁ TRI THỨC ĐẠI TOÀN
    趣味文化知识大全
    Thanh Thạch 青石 biên soạn
    Trung Quốc Hoa kiều xuất bản xã, 2013

    Thứ Sáu, 19 tháng 10, 2018



    华山   钱来山   松果山
        西山经华山之首, 曰钱来之山, 其上多松, 其下多洗石. 有兽焉, 其状如羊而马尾, 名曰羬羊(1 ), 其脂可以已腊.
        西四十五里, 曰松果之山. 濩水出焉, 北流注于渭, 其中多铜. 有鸟焉, 其名曰..... (*) , 其状如山, 黑身赤足, 可以已..... (**).
                                 (山海经 - 西山经)

    HOÁ SƠN   TIỀN LAI SƠN   TÙNG QUẢ SƠN
              “Tây sơn kinh” Hoá sơn chi thủ, viết Tiền Lai chi sơn, kì thượng đa tùng, kì hạ đa tẩy thạch. Hữu thú yên, kì trạng như dương nhi mã vĩ, danh viết Kiềm dương (1), kì chi khả dĩ dĩ lạp.
              Tây tứ thập ngũ lí, viết Tùng Quả chi sơn. Hoạch thuỷ xuất yên, bắc lưu chú vu Vị, kì trung đa đồng. Hữu điểu yên, kì danh viết Đồng (*) cừ, kì trạng như sơn kê, hắc thân xích túc, khả dĩ dĩ bạc (**).
                                                                     (Sơn hải kinh – Tây sơn kinh)

    HOÁ SƠN   TIỀN LAI SƠN   TÙNG QUẢ SƠN
              Hệ núi đầu tiên ở phía tây là hệ núi Hoá sơn, ngọn núi đầu tiên của nó là Tiền Lai sơn, trên núi có nhiều cây tùng, dưới núi có nhiều loại đá có thể dùng để kì cọ cáu bẩn khi tắm rửa. Trong núi có loài dã thú, hình dạng giống con dê, nhưng đuôi giống đuôi ngựa, tên là Kiềm dương, mỡ của nó có thể bôi lên da để tránh bị nứt nẻ.
              Hướng về phía tây 45 dặm, có Tùng Quả sơn. Sông Hoạch phát nguyên từ núi này, sau đó chảy về phía bắc rồi đổ vào sông Vị, men bờ sông Vị có trữ lượng đồng phong phú. Trong núi có một loài chim, tên là Đồng cừ, hình dạng của nó giống gà rừng, thân màu đen, móng màu đỏ, có thể trị được vết nhăn vết nứt ở da.

    Chú của nguyên tác
    1- Kiềm dương 羬羊: một giống dê cổ đại hình thể tương đối lớn.

    Chú của người dịch
    *- Chữ “đồng” này gồm chữ (trùng) bên trái và chữ (điểu) bên phải.
              Trong Khang Hi tự điển 康熙字典chữ này thuộc bộ (điểu),bính âm tong (thanh 2), ghi rằng:
              “Quảng vận”, “Tập vận” tịnh ĐỒ ĐÔNG thiết. Âm ĐỒNG.
              “Ngọc thiên”: điểu danh. “Sơn hải kinh”: Tùng Quả sơn hữu điểu, danh Đồng cừ, như sơn kê.
              “廣韻” “集韻並徒冬切. 音彤
         玉篇”: 鳥名. “山海經”: 松果山有鳥, ... , 如山雞.
              (“Quảng vận và “Tập vận” đều phiên thiết là ĐỒ ĐÔNG. Âm ĐỒNG.
              Trong “Ngọc thiên” giải thích là tên một loài chim. Trong “Sơn hải kinh” có nói: Tại Tùng Quả sơn có loài chim, tên là Đồng cừ, giống gà rừng.)
                             (trang 1486. Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 2003)

    **- Chữ “bạc” này gồm bộ (nhục) bên trái và chữ (bạo) bên phải.
              Trong Khang Hi tự điển 康熙字典chữ này thuộc bộ (nhục),bính âm bao (thanh 2), ghi rằng:
              “Quảng vận” BỒ GIÁC thiết. “Tập vận” BẬT GIÁC thiết. Tịnh âm BẠC. “Quảng vận”: nhục phu khởi dã. “Tập vận” bì phá khởi.
            “Sơn hải kinh”: Tùng Quả chi sơn hữu điểu yên, kì danh viết Đồng cừ, khả dĩ dĩ bạc. Chú: Quách viết: vị bì trứu khởi dã.
              “廣韻蒲角切. “集韻弼角切. 並音雹. “廣韻”: 肉肤起也. “集韻: 皮破起.
         山海經”: 松果之山有鳥焉, 其名曰 ... ,可以已 .... . : 郭曰: 謂皮皺起也.
              (“Quảng vận” phiên thiết là BỒ GIÁC. “Tập vận” phiên thiết là BẬT GIÁC. Đều âm BẠC. “Quảng vận” giải thích là thịt da nổi sần lên. “Tập vận” giải thích là da bị nứt.
              Trong “Sơn hải kinh” có nói: Tùng Quả sơn có loài chim, tên Đồng cừ, có thể làm cho da hết “bạc”. Chú: Họ Quách nói rằng: là da bị nhăn.)
                              (trang 964. Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 2003)

                                                                           Huỳnh Chương Hưng
                                                                           Quy Nhơn 19/10/2018

    Nguyên tác
    HOÁ SƠN   TIỀN LAI SƠN   TÙNG QUẢ SƠN
    华山 钱来山 松果山
    Trong quyển
    SƠN HẢI KINH
    山海经
    Tác giả: Lưu Hướng 刘向, Lưu Hâm 刘歆 (Tây Hán)
    Cáp Nhĩ Tân: Bắc phương văn nghệ xuất bản xã, 2013 

    Dịch thuật: Hoá sơn, Tiền Lai sơn, Tùng Quả sơn (Sơn hải kinh)

    Đăng lúc  21:18  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »



    华山   钱来山   松果山
        西山经华山之首, 曰钱来之山, 其上多松, 其下多洗石. 有兽焉, 其状如羊而马尾, 名曰羬羊(1 ), 其脂可以已腊.
        西四十五里, 曰松果之山. 濩水出焉, 北流注于渭, 其中多铜. 有鸟焉, 其名曰..... (*) , 其状如山, 黑身赤足, 可以已..... (**).
                                 (山海经 - 西山经)

    HOÁ SƠN   TIỀN LAI SƠN   TÙNG QUẢ SƠN
              “Tây sơn kinh” Hoá sơn chi thủ, viết Tiền Lai chi sơn, kì thượng đa tùng, kì hạ đa tẩy thạch. Hữu thú yên, kì trạng như dương nhi mã vĩ, danh viết Kiềm dương (1), kì chi khả dĩ dĩ lạp.
              Tây tứ thập ngũ lí, viết Tùng Quả chi sơn. Hoạch thuỷ xuất yên, bắc lưu chú vu Vị, kì trung đa đồng. Hữu điểu yên, kì danh viết Đồng (*) cừ, kì trạng như sơn kê, hắc thân xích túc, khả dĩ dĩ bạc (**).
                                                                     (Sơn hải kinh – Tây sơn kinh)

    HOÁ SƠN   TIỀN LAI SƠN   TÙNG QUẢ SƠN
              Hệ núi đầu tiên ở phía tây là hệ núi Hoá sơn, ngọn núi đầu tiên của nó là Tiền Lai sơn, trên núi có nhiều cây tùng, dưới núi có nhiều loại đá có thể dùng để kì cọ cáu bẩn khi tắm rửa. Trong núi có loài dã thú, hình dạng giống con dê, nhưng đuôi giống đuôi ngựa, tên là Kiềm dương, mỡ của nó có thể bôi lên da để tránh bị nứt nẻ.
              Hướng về phía tây 45 dặm, có Tùng Quả sơn. Sông Hoạch phát nguyên từ núi này, sau đó chảy về phía bắc rồi đổ vào sông Vị, men bờ sông Vị có trữ lượng đồng phong phú. Trong núi có một loài chim, tên là Đồng cừ, hình dạng của nó giống gà rừng, thân màu đen, móng màu đỏ, có thể trị được vết nhăn vết nứt ở da.

    Chú của nguyên tác
    1- Kiềm dương 羬羊: một giống dê cổ đại hình thể tương đối lớn.

    Chú của người dịch
    *- Chữ “đồng” này gồm chữ (trùng) bên trái và chữ (điểu) bên phải.
              Trong Khang Hi tự điển 康熙字典chữ này thuộc bộ (điểu),bính âm tong (thanh 2), ghi rằng:
              “Quảng vận”, “Tập vận” tịnh ĐỒ ĐÔNG thiết. Âm ĐỒNG.
              “Ngọc thiên”: điểu danh. “Sơn hải kinh”: Tùng Quả sơn hữu điểu, danh Đồng cừ, như sơn kê.
              “廣韻” “集韻並徒冬切. 音彤
         玉篇”: 鳥名. “山海經”: 松果山有鳥, ... , 如山雞.
              (“Quảng vận và “Tập vận” đều phiên thiết là ĐỒ ĐÔNG. Âm ĐỒNG.
              Trong “Ngọc thiên” giải thích là tên một loài chim. Trong “Sơn hải kinh” có nói: Tại Tùng Quả sơn có loài chim, tên là Đồng cừ, giống gà rừng.)
                             (trang 1486. Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 2003)

    **- Chữ “bạc” này gồm bộ (nhục) bên trái và chữ (bạo) bên phải.
              Trong Khang Hi tự điển 康熙字典chữ này thuộc bộ (nhục),bính âm bao (thanh 2), ghi rằng:
              “Quảng vận” BỒ GIÁC thiết. “Tập vận” BẬT GIÁC thiết. Tịnh âm BẠC. “Quảng vận”: nhục phu khởi dã. “Tập vận” bì phá khởi.
            “Sơn hải kinh”: Tùng Quả chi sơn hữu điểu yên, kì danh viết Đồng cừ, khả dĩ dĩ bạc. Chú: Quách viết: vị bì trứu khởi dã.
              “廣韻蒲角切. “集韻弼角切. 並音雹. “廣韻”: 肉肤起也. “集韻: 皮破起.
         山海經”: 松果之山有鳥焉, 其名曰 ... ,可以已 .... . : 郭曰: 謂皮皺起也.
              (“Quảng vận” phiên thiết là BỒ GIÁC. “Tập vận” phiên thiết là BẬT GIÁC. Đều âm BẠC. “Quảng vận” giải thích là thịt da nổi sần lên. “Tập vận” giải thích là da bị nứt.
              Trong “Sơn hải kinh” có nói: Tùng Quả sơn có loài chim, tên Đồng cừ, có thể làm cho da hết “bạc”. Chú: Họ Quách nói rằng: là da bị nhăn.)
                              (trang 964. Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 2003)

                                                                           Huỳnh Chương Hưng
                                                                           Quy Nhơn 19/10/2018

    Nguyên tác
    HOÁ SƠN   TIỀN LAI SƠN   TÙNG QUẢ SƠN
    华山 钱来山 松果山
    Trong quyển
    SƠN HẢI KINH
    山海经
    Tác giả: Lưu Hướng 刘向, Lưu Hâm 刘歆 (Tây Hán)
    Cáp Nhĩ Tân: Bắc phương văn nghệ xuất bản xã, 2013 

    Thứ Năm, 18 tháng 10, 2018

    ĐÔNG NHẬT KHẢ ÁI
    冬日可爱
    MẶT TRỜI NGÀY ĐÔNG ĐÁNG YÊU

    Giải thích: giống như mặt trời của ngày mùa đông, mọi người cảm thấy ấm áp. Ví người hiền lành đáng gần.
    Xuất xứ: Xuân Thu . Tả Khâu Minh 左丘明: Tả truyện – Văn Công thất niên 左传 - 文公七年.

              Thời Xuân Thu, quốc quân nước Tấn là Tấn Tương Công 晋襄公qua đời, thái tử Di Cao 夷皋 được kế thừa quân vị, nhưng Di Cao hãy còn là một đứa bé, không thể nào chấp hành, lúc bấy giờ đất nước lại đang ở vào cuộc thế khó khăn, cho nên các đại thần chủ trương lập công tử Ung lên làm quốc quân nước Tấn. Triệu Thuẫn 赵盾 nắm giữ đại quyền nói với các Đại phu rằng:
              - Công tử Ung tuổi lớn, tiên quân vừa qua đời rất sủng ái công tử Ung, và công tử Ung lại có quan hệ rất gần với nước Tần, lập ông ta lên làm quốc quân đất nước sẽ ổn định.
              Mẹ của thái tử Di Cao nghe nói sẽ lập công tử Ung lên làm quốc quân, vừa giận vừa lo, bà ta bế Di Cao lên triều vừa khóc vừa gào, lại chạy đến nhà Triệu Thuẫn khấu đầu van xin:
              - Tiên quân đã giao phó đứa bé này cho ông, nếu được như ý, tôi không quên ơn của ông. Nếu như không được, tôi oán hận ông cả đời.
              Triệu Thuẫn sợ mẹ của Di Cao gây ra sự việc, lại lo mấy vị công tử khác phản đối, đành thay đổi chủ ý, quyết định lập Di Cao làm quốc quân nước Tấn. Để dẹp yên sự tranh chấp, Triệu Thuẫn lập tức phái quân đội nghinh chiến với quân đội nước Tần, do bởi nước Tần đã đem binh hộ tống công tử Ung về lại nước Tấn. Quân đội hai nước giao chiến tại Lệnh Hồ 令狐, quân Tần thất bại, vội rút về nước.
              Triệu Thuẫn độc đoán chuyên quyền, nói một đằng làm một nẻo, khiến Đại phu Giả Quý 贾季của nước Tấn vô cùng giận. Chẳng bao lâu quân đội nước Địch xâm phạm nước Lỗ, quốc quân nước Lỗ là Lỗ Văn Công 鲁文公phái sứ giả cầu viện nước Tấn. Triệu Thuẫn sai Giả Quý đi trách phạt Tướng quốc Phong Thư 酆舒 của nước Địch. Phong Thư hỏi Giả Quý:
              - Hiện tại, Triệu Thuẫn của nước Tấn các ông so với Triệu Thôi 赵衰 trước đây, người nào tốt hơn?
              Triệu Thôi vốn là khanh sĩ của nước Tấn, nắm giữ đại quyền quân chính quốc gia. Sau khi ông ta qua đời, Triệu Thuẫn mới kế nhậm chức vị. Do vì Giả Quý rất oán hận Triệu Thuẫn, nên đáp rằng:
              - Triệu Thôi là mặt trời của ngày đông, Triệu Thuẫn là mặt trời của ngày hè!
              Đỗ Dự 杜预  khi chú Tả truyện 左传  đã viết:
    Đông nhật khả ái, hạ nhật khả uý.
    冬日可爱, 夏日可畏.
    (Mặt trời ngày đông đáng yêu, mặt trời ngày hè đáng sợ.)
              Thành ngữ “Đông nhật khả ái” xuất phát từ đây.

                                                           Huỳnh Chương Hưng
                                                 Quy Nhơn 18/10/2018

    Nguyên tác Trung văn
    ĐÔNG NHẬT KHẢ ÁI
    冬日可爱
    TRUNG QUỐC THÀNH NGỮ CỐ SỰ TỔNG TẬP
    中国成语故事总集
    (tập 1)
    Chủ biên: Đường Kì 唐麒
    Trường Xuân – Thời đại văn nghệ xuất bản xã, 2004. 

    Dịch thuật: Đông nhật khả ái (thành ngữ)

    Đăng lúc  21:01  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    ĐÔNG NHẬT KHẢ ÁI
    冬日可爱
    MẶT TRỜI NGÀY ĐÔNG ĐÁNG YÊU

    Giải thích: giống như mặt trời của ngày mùa đông, mọi người cảm thấy ấm áp. Ví người hiền lành đáng gần.
    Xuất xứ: Xuân Thu . Tả Khâu Minh 左丘明: Tả truyện – Văn Công thất niên 左传 - 文公七年.

              Thời Xuân Thu, quốc quân nước Tấn là Tấn Tương Công 晋襄公qua đời, thái tử Di Cao 夷皋 được kế thừa quân vị, nhưng Di Cao hãy còn là một đứa bé, không thể nào chấp hành, lúc bấy giờ đất nước lại đang ở vào cuộc thế khó khăn, cho nên các đại thần chủ trương lập công tử Ung lên làm quốc quân nước Tấn. Triệu Thuẫn 赵盾 nắm giữ đại quyền nói với các Đại phu rằng:
              - Công tử Ung tuổi lớn, tiên quân vừa qua đời rất sủng ái công tử Ung, và công tử Ung lại có quan hệ rất gần với nước Tần, lập ông ta lên làm quốc quân đất nước sẽ ổn định.
              Mẹ của thái tử Di Cao nghe nói sẽ lập công tử Ung lên làm quốc quân, vừa giận vừa lo, bà ta bế Di Cao lên triều vừa khóc vừa gào, lại chạy đến nhà Triệu Thuẫn khấu đầu van xin:
              - Tiên quân đã giao phó đứa bé này cho ông, nếu được như ý, tôi không quên ơn của ông. Nếu như không được, tôi oán hận ông cả đời.
              Triệu Thuẫn sợ mẹ của Di Cao gây ra sự việc, lại lo mấy vị công tử khác phản đối, đành thay đổi chủ ý, quyết định lập Di Cao làm quốc quân nước Tấn. Để dẹp yên sự tranh chấp, Triệu Thuẫn lập tức phái quân đội nghinh chiến với quân đội nước Tần, do bởi nước Tần đã đem binh hộ tống công tử Ung về lại nước Tấn. Quân đội hai nước giao chiến tại Lệnh Hồ 令狐, quân Tần thất bại, vội rút về nước.
              Triệu Thuẫn độc đoán chuyên quyền, nói một đằng làm một nẻo, khiến Đại phu Giả Quý 贾季của nước Tấn vô cùng giận. Chẳng bao lâu quân đội nước Địch xâm phạm nước Lỗ, quốc quân nước Lỗ là Lỗ Văn Công 鲁文公phái sứ giả cầu viện nước Tấn. Triệu Thuẫn sai Giả Quý đi trách phạt Tướng quốc Phong Thư 酆舒 của nước Địch. Phong Thư hỏi Giả Quý:
              - Hiện tại, Triệu Thuẫn của nước Tấn các ông so với Triệu Thôi 赵衰 trước đây, người nào tốt hơn?
              Triệu Thôi vốn là khanh sĩ của nước Tấn, nắm giữ đại quyền quân chính quốc gia. Sau khi ông ta qua đời, Triệu Thuẫn mới kế nhậm chức vị. Do vì Giả Quý rất oán hận Triệu Thuẫn, nên đáp rằng:
              - Triệu Thôi là mặt trời của ngày đông, Triệu Thuẫn là mặt trời của ngày hè!
              Đỗ Dự 杜预  khi chú Tả truyện 左传  đã viết:
    Đông nhật khả ái, hạ nhật khả uý.
    冬日可爱, 夏日可畏.
    (Mặt trời ngày đông đáng yêu, mặt trời ngày hè đáng sợ.)
              Thành ngữ “Đông nhật khả ái” xuất phát từ đây.

                                                           Huỳnh Chương Hưng
                                                 Quy Nhơn 18/10/2018

    Nguyên tác Trung văn
    ĐÔNG NHẬT KHẢ ÁI
    冬日可爱
    TRUNG QUỐC THÀNH NGỮ CỐ SỰ TỔNG TẬP
    中国成语故事总集
    (tập 1)
    Chủ biên: Đường Kì 唐麒
    Trường Xuân – Thời đại văn nghệ xuất bản xã, 2004. 

    Thứ Tư, 17 tháng 10, 2018



    HAI BÀI THƠ VỀ HOA CÚC CỦA HOÀNG SÀO

    Bài 1
    题菊花
    飒飒秋风满院栽,
    蕊寒香冷蝶难来.
    他年若我为青帝,
    报与桃花一处开.
                                                                      (黄巢)

    ĐỀ CÚC HOA
    Táp táp thu phong mãn viện tài,
    Nhuỵ hàn hương lãnh điệp nan lai.
    Tha niên nhược ngã vi Thanh đế,
    Báo dữ đào hoa nhất xứ khai.
                                                                               (Hoàng Sào)

    ĐỀ CÚC HOA
    Gió thu xào xạc thổi đến, khắp sân hoa cúc đều lay động,
    Mùi hương từ nhuỵ toả ra mang hơi lạnh, ong bướm khó đến gần.
    Một ngày nào đó nếu ta là Thanh đế
    Sẽ sắp xếp cho hoa cúc và hoa đào cùng đua nở.
      

    Bài 2
    不第后赋菊
    待到秋来九月八,
    我花开后百花杀.
    冲天香阵透长安,
    满城尽带黄金甲.
                                        (黄巢)

    BẤT ĐỆ HẬU PHÚ CÚC
    Đãi đáo thu lai cửu nguyệt bát,
    Ngã hoa khai hậu bách hoa sát.
    Xung thiên hương trận thấu Trường An,
    Mãn thành tận đới hoàng kim giáp.
                                                                                      (Hoàng Sào)

    SAU KHI THI RỚT LÀM BÀI THƠ VỀ HOA CÚC
    Đợi đến tiết Trùng Dương vào tháng 9 mùa thu,
    Lúc hoa cúc của ta nở rộ, các loài hoa khác đều héo úa.
    Mùi hương từng trận xông lên trời, thấu đến Trường An,
    Khắp cả kinh thành đều mặc áo giáp vàng.

    Phụ lục
    Hoàng Sào 黄巢 (820 – 884): Người Oan Cú 冤句 Tào Châu 曹州 (nay là phía tây nam Hà Trạch 菏泽 Sơn Đông 山东), lãnh tụ khởi nghĩa nông dân cuối thời Đường.
              Hoàng Sào xuất thân trong một gia đình buôn muối, giỏi về cưỡi ngựa bắn cung, lúc nhỏ đã có tài về thơ, lên 5 tuổi đã làm được thơ, nhưng sau khi thành niên thi nhiều lần không đậu. Trước cuộc khởi nghĩa của Vương Tiên Chi 王仙芝 một năm, vùng Quan Đông 关东 phát sinh đại hạn, quan lại cưỡng bức bách tính nộp tô thuế, phục vụ sai dịch, bách tính không còn con đường nào khác đã tụ tập chung quanh Hoàng Sào, nhiều lần tiến hành xung đột vũ trang với quan lại triều Đường.
              Tháng 6 năm Càn Phù 乾符 thứ 2 (năm 875), Hoàng Sào cùng 8 người bà con hưởng ứng Vương Tiên Chi. Tháng 2 năm Càn Phù thứ 4 (năm 877), Hoàng Sào dẫn quân công hãm Vận Châu 郓州, giết chết Tiết độ sứ Tiết Sùng 薛崇. Năm Càn Phù thứ 5 (năm 878) Vương Tiên Chi qua đời, mọi người tôn Hoàng Sào làm chủ, hiệu xưng là “Xung thiên đại tướng quân” 冲天大将军, cải nguyên là Vương Bá 王霸. Tháng Giêng năm Càn Phù thứ 6 (879), binh vây Quảng Châu 广州. Ngày 17 tháng 11 năm Quảng Minh 广明 nguyên niên (năm 880), Lưu thủ Đông Đô là Lưu Doãn Chương 刘允章 nghinh đón quân Hoàng Sào vào Lạc Dương 洛阳. Ngày 1 tháng 12, binh đến Đồng Quan 潼关. Ngày 13 tháng 12, binh tiến vào Trường An 长安, lên ngôi hoàng đế tại điện Hàm Nguyên 含元, lấy quốc hiệu là “Đại Tề” 大齐, kiến nguyên là Kim Thống 金统, đại xá thiên hạ.
              Ngày 15 tháng 6 năm Trung Hoà 中和 thứ 4 (năm 884), Hoàng Sào bị bại chết tại Lang Hổ cốc 狼虎谷. Đầu niên hiệu Thiên Phục 天复 thời Chiêu Tông 昭宗, người cháu của Hoàng Sào là Hoàng Hạo 黄皓dẫn tàn quân bỏ chạy, bị thổ hào Tương Âm 湘阴là Đặng Tiến Tư 邓进思phục kích giết chết. Cuộc khởi nghĩa nông dân cuối thời Đường kết thúc.

                                                              Huỳnh Chương Hưng
                                                              Quy Nhơn 17/10/2018
                                                     Tiết Trùng Dương năm Mậu Tuất

    Nguồn
    TRUNG HOA THƯỢNG HẠ NGŨ THIÊN NIÊN
    中华上下五千年
    Chủ biên: Lí Tinh 李晶
    Nam Kinh đại học xuất bản xã, 2007

    Dịch thuật: Hai bài thơ về hoa cúc của Hoàng Sào

    Đăng lúc  22:55  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »



    HAI BÀI THƠ VỀ HOA CÚC CỦA HOÀNG SÀO

    Bài 1
    题菊花
    飒飒秋风满院栽,
    蕊寒香冷蝶难来.
    他年若我为青帝,
    报与桃花一处开.
                                                                      (黄巢)

    ĐỀ CÚC HOA
    Táp táp thu phong mãn viện tài,
    Nhuỵ hàn hương lãnh điệp nan lai.
    Tha niên nhược ngã vi Thanh đế,
    Báo dữ đào hoa nhất xứ khai.
                                                                               (Hoàng Sào)

    ĐỀ CÚC HOA
    Gió thu xào xạc thổi đến, khắp sân hoa cúc đều lay động,
    Mùi hương từ nhuỵ toả ra mang hơi lạnh, ong bướm khó đến gần.
    Một ngày nào đó nếu ta là Thanh đế
    Sẽ sắp xếp cho hoa cúc và hoa đào cùng đua nở.
      

    Bài 2
    不第后赋菊
    待到秋来九月八,
    我花开后百花杀.
    冲天香阵透长安,
    满城尽带黄金甲.
                                        (黄巢)

    BẤT ĐỆ HẬU PHÚ CÚC
    Đãi đáo thu lai cửu nguyệt bát,
    Ngã hoa khai hậu bách hoa sát.
    Xung thiên hương trận thấu Trường An,
    Mãn thành tận đới hoàng kim giáp.
                                                                                      (Hoàng Sào)

    SAU KHI THI RỚT LÀM BÀI THƠ VỀ HOA CÚC
    Đợi đến tiết Trùng Dương vào tháng 9 mùa thu,
    Lúc hoa cúc của ta nở rộ, các loài hoa khác đều héo úa.
    Mùi hương từng trận xông lên trời, thấu đến Trường An,
    Khắp cả kinh thành đều mặc áo giáp vàng.

    Phụ lục
    Hoàng Sào 黄巢 (820 – 884): Người Oan Cú 冤句 Tào Châu 曹州 (nay là phía tây nam Hà Trạch 菏泽 Sơn Đông 山东), lãnh tụ khởi nghĩa nông dân cuối thời Đường.
              Hoàng Sào xuất thân trong một gia đình buôn muối, giỏi về cưỡi ngựa bắn cung, lúc nhỏ đã có tài về thơ, lên 5 tuổi đã làm được thơ, nhưng sau khi thành niên thi nhiều lần không đậu. Trước cuộc khởi nghĩa của Vương Tiên Chi 王仙芝 một năm, vùng Quan Đông 关东 phát sinh đại hạn, quan lại cưỡng bức bách tính nộp tô thuế, phục vụ sai dịch, bách tính không còn con đường nào khác đã tụ tập chung quanh Hoàng Sào, nhiều lần tiến hành xung đột vũ trang với quan lại triều Đường.
              Tháng 6 năm Càn Phù 乾符 thứ 2 (năm 875), Hoàng Sào cùng 8 người bà con hưởng ứng Vương Tiên Chi. Tháng 2 năm Càn Phù thứ 4 (năm 877), Hoàng Sào dẫn quân công hãm Vận Châu 郓州, giết chết Tiết độ sứ Tiết Sùng 薛崇. Năm Càn Phù thứ 5 (năm 878) Vương Tiên Chi qua đời, mọi người tôn Hoàng Sào làm chủ, hiệu xưng là “Xung thiên đại tướng quân” 冲天大将军, cải nguyên là Vương Bá 王霸. Tháng Giêng năm Càn Phù thứ 6 (879), binh vây Quảng Châu 广州. Ngày 17 tháng 11 năm Quảng Minh 广明 nguyên niên (năm 880), Lưu thủ Đông Đô là Lưu Doãn Chương 刘允章 nghinh đón quân Hoàng Sào vào Lạc Dương 洛阳. Ngày 1 tháng 12, binh đến Đồng Quan 潼关. Ngày 13 tháng 12, binh tiến vào Trường An 长安, lên ngôi hoàng đế tại điện Hàm Nguyên 含元, lấy quốc hiệu là “Đại Tề” 大齐, kiến nguyên là Kim Thống 金统, đại xá thiên hạ.
              Ngày 15 tháng 6 năm Trung Hoà 中和 thứ 4 (năm 884), Hoàng Sào bị bại chết tại Lang Hổ cốc 狼虎谷. Đầu niên hiệu Thiên Phục 天复 thời Chiêu Tông 昭宗, người cháu của Hoàng Sào là Hoàng Hạo 黄皓dẫn tàn quân bỏ chạy, bị thổ hào Tương Âm 湘阴là Đặng Tiến Tư 邓进思phục kích giết chết. Cuộc khởi nghĩa nông dân cuối thời Đường kết thúc.

                                                              Huỳnh Chương Hưng
                                                              Quy Nhơn 17/10/2018
                                                     Tiết Trùng Dương năm Mậu Tuất

    Nguồn
    TRUNG HOA THƯỢNG HẠ NGŨ THIÊN NIÊN
    中华上下五千年
    Chủ biên: Lí Tinh 李晶
    Nam Kinh đại học xuất bản xã, 2007

    TIẾT TRÙNG DƯƠNG

              Ngày mồng 9 tháng 9 âm lịch là tiết Trùng Dương 重阳. Tiết Trùng Dương, gió thu mát mẻ, sương móc rơi xuống làm cho muôn vật tươi nhuận, đan quế trong cung toả mùi thơm. Sau tiết Trùng Dương, khí thu ngày càng se sắt. Vì thế, đón tiết Trùng Dương trở thành một tập tục của các đời ở Trung Quốc, uống rượu, lên cao, cài cành thù du, thưởng thức hoa cúc, ăn bánh nếp. Trong Tây Kinh tạp kí 西京杂记 có nói, trong cung Hán, hàng năm vào ngày mồng 9 tháng 9, người trong cung trên dưới đều cài cành thù du, ăn bánh Trùng Dương , uống rượu hoa cúc. Rượu hoa cúc là loại rượu được làm khi hoa cúc nở, hái một nhúm lá, bỏ vào vò kê để ủ, đến mồng 9 tháng 9 năm sau ủ thành, mở vò lấy rượu ra dùng.
              Hoa cúc nở rộ sau khi các hoa khác héo úa. Mọi người xem hoa cúc là loài hoa cát tường, nó tượng trưng cho tính kiên nhẫn, bền bỉ; tượng trưng cho trường thọ. Cái lạnh se sắt của mùa thu như cùng với tuổi già của con người, nên mọi người xem trọng tiết Trùng Dương, uống rượu hoa cúc, biểu đạt nguyện vọng sinh mệnh được sống mãi không ngừng, trường thọ mạnh khoẻ không suy yếu. Vào mùa thu, hoa cúc độc chiếm phong tao, rất được mọi người ưa thích; đế vương, hậu phi trong cung cũng tỏ lòng khâm phục đối với hoa cúc, yêu quý không rời tay.
              Nguỵ Vũ Đế Tào Tháo 曹操 rất coi trọng tiết Trùng Dương. Vào ngày này, Tào Tháo ban thưởng lễ vật cho đại thư pháp gia Chung Diêu 钟繇; đồng thời  theo lễ, Chung Diêu dâng thư lên: ngày mồng 9 tháng 9, cây cỏ héo úa, chỉ riêng cúc tốt tươi, nay xin dâng lên một bó. Trong Đông Kinh mộng hoa lục 东京梦华录có nói, đô thành Biện Kinh 汴京triều Tống vào tiết Trùng Dương thường thưởng ngoạn hoa cúc. Chủng loại hoa cúc lúc bấy giờ rất nhiều, loại hoa cúc kì lạ, quý hiếm như: Mộc hương cúc 木香菊 màu trắng, Vạn linh cúc 万龄菊màu vàng pha trắng, Hỉ dung cúc 喜容菊đoá lớn thuần màu trắng, Đào hoa cúc 花菊màu hồng phấn, Kim linh cúc 金铃菊 màu vàng. Tại điện Khánh Thuỵ 庆瑞  triều Nam Tống, trước tiết Trùng Dương cho bày cả vạn cây hoa cúc, sắc màu rực rỡ, mùi hương bay xa đến mấy dặm, lại còn trang trí đèn hoa cúc để tăng thêm không khí vui tươi. Hoàng đế khi thưởng ngoạn hoa cúc, bình phẩm hoa cúc, còn thưởng thức hoa đăng, nghe tấu nhạc, hoàng đế cảm thấy rất thư thái, thường ban thưởng cho nghệ nhân tấu nhạc.
               Mộc hương cúc 木香菊 là loại cúc đặc biệt và kì lạ. Trong Thuyết Phu – Lưu Mông cúc phổ 说郛 - 刘蒙菊谱 có nói, Mộc hương cúc là loại Ngọc cầu cúc 玉球 xuất xứ từ Trần Châu 陈州, nở vào cuối tháng 9. Cúc lá nhiều, hoa màu trắng, chỗ gần nhuỵ có điểm chút hồng. Cánh hoa lớn phía ngoài có 2 đường gân, cánh hoa nhỏ gần nhuỵ giống nhung hươu mới cắt. Lá nhỏ mà dài, cành và lá đều có lông tơ. Mộc hương cúc khác với hoa cúc phổ thông, màu sắc nổi bật, tú nhã đẹp mắt, rất có phong vận.

                                                                    Huỳnh Chương Hưng
                                                                   Quy Nhơn 17/10/2018
                                                           Tiết Trùng Dương năm Mậu Tuất

    Nguồn
    HOÀNG TRIỀU ĐIỂN CỐ KỈ VĂN
    皇朝典故纪闻
    Tác giả: Hướng Tư 向斯
    Bắc Kinh: Trung Quốc văn sử xuất bản xã, 2002

    Dịch thuật: Tiết Trùng Dương

    Đăng lúc  22:36  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    TIẾT TRÙNG DƯƠNG

              Ngày mồng 9 tháng 9 âm lịch là tiết Trùng Dương 重阳. Tiết Trùng Dương, gió thu mát mẻ, sương móc rơi xuống làm cho muôn vật tươi nhuận, đan quế trong cung toả mùi thơm. Sau tiết Trùng Dương, khí thu ngày càng se sắt. Vì thế, đón tiết Trùng Dương trở thành một tập tục của các đời ở Trung Quốc, uống rượu, lên cao, cài cành thù du, thưởng thức hoa cúc, ăn bánh nếp. Trong Tây Kinh tạp kí 西京杂记 có nói, trong cung Hán, hàng năm vào ngày mồng 9 tháng 9, người trong cung trên dưới đều cài cành thù du, ăn bánh Trùng Dương , uống rượu hoa cúc. Rượu hoa cúc là loại rượu được làm khi hoa cúc nở, hái một nhúm lá, bỏ vào vò kê để ủ, đến mồng 9 tháng 9 năm sau ủ thành, mở vò lấy rượu ra dùng.
              Hoa cúc nở rộ sau khi các hoa khác héo úa. Mọi người xem hoa cúc là loài hoa cát tường, nó tượng trưng cho tính kiên nhẫn, bền bỉ; tượng trưng cho trường thọ. Cái lạnh se sắt của mùa thu như cùng với tuổi già của con người, nên mọi người xem trọng tiết Trùng Dương, uống rượu hoa cúc, biểu đạt nguyện vọng sinh mệnh được sống mãi không ngừng, trường thọ mạnh khoẻ không suy yếu. Vào mùa thu, hoa cúc độc chiếm phong tao, rất được mọi người ưa thích; đế vương, hậu phi trong cung cũng tỏ lòng khâm phục đối với hoa cúc, yêu quý không rời tay.
              Nguỵ Vũ Đế Tào Tháo 曹操 rất coi trọng tiết Trùng Dương. Vào ngày này, Tào Tháo ban thưởng lễ vật cho đại thư pháp gia Chung Diêu 钟繇; đồng thời  theo lễ, Chung Diêu dâng thư lên: ngày mồng 9 tháng 9, cây cỏ héo úa, chỉ riêng cúc tốt tươi, nay xin dâng lên một bó. Trong Đông Kinh mộng hoa lục 东京梦华录có nói, đô thành Biện Kinh 汴京triều Tống vào tiết Trùng Dương thường thưởng ngoạn hoa cúc. Chủng loại hoa cúc lúc bấy giờ rất nhiều, loại hoa cúc kì lạ, quý hiếm như: Mộc hương cúc 木香菊 màu trắng, Vạn linh cúc 万龄菊màu vàng pha trắng, Hỉ dung cúc 喜容菊đoá lớn thuần màu trắng, Đào hoa cúc 花菊màu hồng phấn, Kim linh cúc 金铃菊 màu vàng. Tại điện Khánh Thuỵ 庆瑞  triều Nam Tống, trước tiết Trùng Dương cho bày cả vạn cây hoa cúc, sắc màu rực rỡ, mùi hương bay xa đến mấy dặm, lại còn trang trí đèn hoa cúc để tăng thêm không khí vui tươi. Hoàng đế khi thưởng ngoạn hoa cúc, bình phẩm hoa cúc, còn thưởng thức hoa đăng, nghe tấu nhạc, hoàng đế cảm thấy rất thư thái, thường ban thưởng cho nghệ nhân tấu nhạc.
               Mộc hương cúc 木香菊 là loại cúc đặc biệt và kì lạ. Trong Thuyết Phu – Lưu Mông cúc phổ 说郛 - 刘蒙菊谱 có nói, Mộc hương cúc là loại Ngọc cầu cúc 玉球 xuất xứ từ Trần Châu 陈州, nở vào cuối tháng 9. Cúc lá nhiều, hoa màu trắng, chỗ gần nhuỵ có điểm chút hồng. Cánh hoa lớn phía ngoài có 2 đường gân, cánh hoa nhỏ gần nhuỵ giống nhung hươu mới cắt. Lá nhỏ mà dài, cành và lá đều có lông tơ. Mộc hương cúc khác với hoa cúc phổ thông, màu sắc nổi bật, tú nhã đẹp mắt, rất có phong vận.

                                                                    Huỳnh Chương Hưng
                                                                   Quy Nhơn 17/10/2018
                                                           Tiết Trùng Dương năm Mậu Tuất

    Nguồn
    HOÀNG TRIỀU ĐIỂN CỐ KỈ VĂN
    皇朝典故纪闻
    Tác giả: Hướng Tư 向斯
    Bắc Kinh: Trung Quốc văn sử xuất bản xã, 2002

    Thứ Ba, 16 tháng 10, 2018

    PHÁN QUAN THỎ

              Một con sói đói đi tìm thức ăn trong rừng, chẳng may lọt xuống hố mà  thợ săn ngầm đào để bẫy thú. Sói trong hố quay qua trở lại mà không cách nào thoát ra được, thế là nó kêu to lên:
              - Cứu tôi với! cứu tôi với!
              Lúc bấy giờ một con sơn dương đi qua, sói nước mắt nước mũi ràn rụa nói với sơn dương:
              - Anh sơn dương hiền lành ơi, cứu tôi với, tôi chết ở hố này cũng  chẳng sao, nhưng đám con nhỏ ở nhà sẽ chết đói mất.
              Sơn đương nói rằng:
              - Không được, tôi cứu anh, anh sẽ ăn thịt tôi!
              Sói bảo rằng:
              - Tôi thề với anh, chỉ cần anh cứu tôi, tôi tuyệt đối không làm tổn thương anh đâu.
              Sơn dương kềm lòng không nổi trước lời van xin khẩn cầu đau khổ của sói, nó liền đi tìm sợi dây thừng, một đầu buộc vào sừng của mình, một đầu quăng xuống hố bảo sói nắm chặt. Sơn dương kéo được sói lên khỏi hố.
              Sói cuối cùng thoát hiểm, lúc này nó đang đói liền muốn nhảy bổ vào sơn dương ngoạm một miếng, nhưng lại cảm thấy cần phải nói mấy câu với sơn đương. Sói bảo rằng:
              - Anh sơn dương hiền lành ơi! Anh đã cứu mạng tôi, hiện tôi đói sắp chết, xin anh cứu cho tới cùng.
              Sơn dương bảo rằng:
              - Anh đã thề là không làm tổn thương tôi mà.
              Sói bảo rằng:
              - Trời sinh tôi ra là để ăn thịt, tôi làm sao có thể tha cho anh chứ?
              Đang lúc sơn dương không biết cách nào thoát khỏi móng vuốt của sói, bỗng thấy một con thỏ đi qua, sơn dương liền nói:
              - Anh thỏ thông minh kia ơi! Xin anh phân xử chuyện này một chút.
              Sau khi thỏ nghe sói và sơn dương thuật lại sự việc, nó bảo rằng:
              - Hai anh, người nào cũng có lí cả, nhưng, tôi không tin những lời mà hai anh nói. Xin hai anh hãy làm lại một lần nữa để tôi tận mắt thấy, tôi mới phân xử được.
              Sói nhảy lại xuống hố, đồng thời kêu sơn dương cứu.
              Lúc này, thỏ đứng bên miệng hố bảo rằng:
              - Đồ vong ân phụ nghĩa, mầy đợi dây thừng của thợ săn tới cứu đi.
              Thế là sơn dương và thỏ hớn hở ra đi.

                                                             Huỳnh Chương Hưng
                                                             Quy Nhơn 16/10/2018

    Nguồn
    PHI CẦM TẨU THÚ ĐÍCH NGỤ NGÔN
    飛禽走獸的寓言
    Nhóm biên soạn
    Ngọc thụ đồ thư ấn loát hữu hạn công ti xuất bản, 2000.

    Dịch thuật: Phán quan thỏ

    Đăng lúc  20:35  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    PHÁN QUAN THỎ

              Một con sói đói đi tìm thức ăn trong rừng, chẳng may lọt xuống hố mà  thợ săn ngầm đào để bẫy thú. Sói trong hố quay qua trở lại mà không cách nào thoát ra được, thế là nó kêu to lên:
              - Cứu tôi với! cứu tôi với!
              Lúc bấy giờ một con sơn dương đi qua, sói nước mắt nước mũi ràn rụa nói với sơn dương:
              - Anh sơn dương hiền lành ơi, cứu tôi với, tôi chết ở hố này cũng  chẳng sao, nhưng đám con nhỏ ở nhà sẽ chết đói mất.
              Sơn đương nói rằng:
              - Không được, tôi cứu anh, anh sẽ ăn thịt tôi!
              Sói bảo rằng:
              - Tôi thề với anh, chỉ cần anh cứu tôi, tôi tuyệt đối không làm tổn thương anh đâu.
              Sơn dương kềm lòng không nổi trước lời van xin khẩn cầu đau khổ của sói, nó liền đi tìm sợi dây thừng, một đầu buộc vào sừng của mình, một đầu quăng xuống hố bảo sói nắm chặt. Sơn dương kéo được sói lên khỏi hố.
              Sói cuối cùng thoát hiểm, lúc này nó đang đói liền muốn nhảy bổ vào sơn dương ngoạm một miếng, nhưng lại cảm thấy cần phải nói mấy câu với sơn đương. Sói bảo rằng:
              - Anh sơn dương hiền lành ơi! Anh đã cứu mạng tôi, hiện tôi đói sắp chết, xin anh cứu cho tới cùng.
              Sơn dương bảo rằng:
              - Anh đã thề là không làm tổn thương tôi mà.
              Sói bảo rằng:
              - Trời sinh tôi ra là để ăn thịt, tôi làm sao có thể tha cho anh chứ?
              Đang lúc sơn dương không biết cách nào thoát khỏi móng vuốt của sói, bỗng thấy một con thỏ đi qua, sơn dương liền nói:
              - Anh thỏ thông minh kia ơi! Xin anh phân xử chuyện này một chút.
              Sau khi thỏ nghe sói và sơn dương thuật lại sự việc, nó bảo rằng:
              - Hai anh, người nào cũng có lí cả, nhưng, tôi không tin những lời mà hai anh nói. Xin hai anh hãy làm lại một lần nữa để tôi tận mắt thấy, tôi mới phân xử được.
              Sói nhảy lại xuống hố, đồng thời kêu sơn dương cứu.
              Lúc này, thỏ đứng bên miệng hố bảo rằng:
              - Đồ vong ân phụ nghĩa, mầy đợi dây thừng của thợ săn tới cứu đi.
              Thế là sơn dương và thỏ hớn hở ra đi.

                                                             Huỳnh Chương Hưng
                                                             Quy Nhơn 16/10/2018

    Nguồn
    PHI CẦM TẨU THÚ ĐÍCH NGỤ NGÔN
    飛禽走獸的寓言
    Nhóm biên soạn
    Ngọc thụ đồ thư ấn loát hữu hạn công ti xuất bản, 2000.

    Thứ Hai, 15 tháng 10, 2018

    CHU CÔNG CHẾ LỄ TÁC NHẠC

              Chu Công Cơ Đán 周公姬旦là chính trị gia nổi tiếng của xã hội nô lệ Trung Quốc. Để củng cố chính quyền của giai cấp thống trị và tăng cường trật tự nội bộ của giai cấp thống trị thời Tây Chu, Chu Công đã tham chiếu chế độ lễ nhạc của vương triều Thương, đồng thời kết hợp với truyền thống thị tộc của tộc Chu, chế định ra một loạt lễ chế khu biệt quân thần, thượng hạ, phụ tử, thân sơ, tôn ti và những điển chương chế độ để duy trì mối quan hệ của giai cấp thống trị, đó chính là điều mà hậu thế gọi là “chế lễ tác nhạc” 制礼作乐 của Chu Công.
              Kẻ thống trị tối cao của vương triều Chu là Chu thiên tử.
    Phổ thiên chi hạ,
    Mạc phi vương thổ.
    Suất thổ chi tân,
    Mạc phi vương thần.
    普天之下,
    莫非王土.
    率土之滨,
    莫非王臣.
    Khắp cõi dưới trời,
    Chẳng có chỗ nào là không phải lãnh thổ của vua.
    Noi theo những vùng đất ven bờ,
    Dân chúng khắp nơi, chẳng ai là không phải bề tôi của vua.
                                                              (Thi kinh – Tiểu nhã – Bắc sơn)
                                                   (Bản dịch của Tạ Quang Phát – Thi kinh, tập 2)
              Đất đai và nhân dân trong cả nước đều thuộc về sở hữu của Chu thiên tử. Vùng đất thủ đô Phong , Hạo  do khanh, đại phu quản lí, gọi là “vương kì” 王畿, đây là khu vực do Chu thiên tử trực tiếp nắm giữ.
              Vùng ngoài vương kì, phân phong cho chư hầu cùng họ hoặc khác họ với vương triều Chu. Những chư hầu được thụ phong này lại đem phong địa của mình phân cho người cùng tộc làm “thái ấp” 采邑, những người được thụ phong này là khanh, đại phu. Khanh, đại phu lại đem thái ấp của mình phân cho “sĩ”, tức người cùng tộc làm “thực địa” 食地. Sĩ trở xuống không phân phong nữa, thực địa do thứ dân – nô lệ cày cấy. Đất đai các cấp và kẻ chiếm hữu nô lệ từ sĩ trở lên là giai cấp thống trị của vương triều Chu, còn quảng đại thứ dân và kẻ bị chinh phục là giai cấp bị thống trị.
              Do bởi vương triều Chu đối với việc tái phân phối một số lượng lớn đất đai mới chinh phục và nô lệ, nên từ trên xuống dưới đã cấu thành từng cấp một những kẻ chiếm hữu đất đai, đồng thời cũng hình thành mối quan hệ lệ thuộc đẳng cấp nghiêm nhặt giữa các cấp chiếm hữu đất đai. Trong Tả truyện 左传, đã thuật lại một cách rõ ràng chế độ đẳng cấp của xã hội nô lệ:   
             Thiên hữu thập nhật, nhân hữu thập đẳng, hạ sở dĩ sự thượng, thượng sở dĩ cung thần dã. Cố vương thần công, công thần đại phu, đại phu thần sĩ, sĩ thần tạo, tạo thần dư, dư thần lệ, lệ thần liêu, liêu thần bộc, bộc thần đài. Mã hữu ngữ, ngưu hữu mục, dĩ đãi bách sự.
              天有十日, 人有十等, 下所以事上, 上所以供神也. 故王臣公, 公臣大夫, 大夫臣士, 士臣皂, 皂臣舆, 舆臣隶, 隶臣僚, 僚臣仆, 仆臣台. 马有圉, 牛有牧, 以待百事.
              (Trời có 10 ngày, người có 10 cấp. Kẻ dưới phụng thờ bề trên, bề trên tế tự thần linh. Cho nên vương sai công, công sai đại phu, đại phu sai sĩ, sĩ sai tạo, tạo sai dư, dư sai lệ, lệ sai liêu, liêu sai bộc, bộc sai đài. Ngựa có người nuôi, bò có người chăn, mỗi người đều chuyên việc của mình để ứng phó trăm việc.)
                                                       (Tả truyện – Chiêu Công thất niên)
              Các cấp quý tộc từ sĩ trở lên và giai cấp nô lệ từ sĩ trở xuống, về chính trị và kinh tế có sự phân biệt sâu sắc. “Lễ” trở thành hoạt động chính trị và những quy phạm về hành động sinh hoạt thường ngày của chủ nô lệ. Còn “hình” chủ yếu để trấn áp quảng đại nô lệ và bình dân. Đó chính là “lễ bất há thứ nhân, hình bất thướng đại phu” 礼不下庶人, 刑不上大夫 (lễ không xuống đến thứ nhân, hình phạt không lên đến đại phu) mà mọi người đã biết. 
              Cơ sở của “lễ” chế ở xã hội nô lệ là chế độ tông pháp. Chế độ phân phong của vương triều Chu và mối quan hệ lệ thuộc nghiêm nhặt được kiến lập trên chế độ tông pháp. Thiên tử nối đời truyền nhau, thiên tử mỗi đời đều lấy thân phận đích trưởng tử kế thừa vương vị, chủ tế thuỷ tổ, đó là “đại tông” của Chu vương thất. Còn anh em của đích trưởng tử thụ phong làm chư hầu, đối với thiên tử mà nói đó là “tiểu tông”. Chư hầu của mỗi đời cũng lấy thân phận đích trưởng tử kế thừa hầu vị, thờ phụng thuỷ tổ của mình, đó là “đại tông”. Anh em của họ thụ phong làm khanh đại phu, là “tiểu tông” của chư hầu. Khanh đại phu mỗi đời cũng như thế, lấy thân phận đích trưởng tử kế thừa phụ vị làm khanh đại phu, thờ phụng thuỷ tổ của mình, đó là “đại tông”. Các em của khanh đại phu là sĩ, sĩ đối với khanh đại phu mà nói, trở thành “tiểu tông”. Đích trưởng tử của sĩ vẫn kế thừa phụ vị làm sĩ, nhưng những người con khác trở thành bình dân. Nhân đó, “đại tông” nhất định là con cháu đích hệ của thuỷ tổ, còn “tiểu tông” là thứ tử, thứ tôn. Chư hầu tuy đối với thiên tử mà nói là “tiểu tông”, nhưng tại nước chư hầu của mình lại là “đại tông”. Khanh đại phu đối với chư hầu mà nói là “tiểu tông”, nhưng tại bổn tộc lại là “đại tông”. Chế độ này, ngăn ngừa giữa anh em với nhau có sự tranh đoạt tạo nên sự tranh chấp nội bộ, củng cố chế độ phân phong.
              Chế độ tông pháp lại lấy mối quan hệ huyết thống của đại gia tộc quý tộc làm cơ sở. Mỗi đại gia tộc đều có tổ tiên trực hệ chung, tông miếu chung, mộ địa chung và có nghĩa vụ bảo vệ lẫn nhau, còn đích trưởng tử của đại gia tộc nối đời nắm giữ đại quyền của gia tộc, trở thành “đại tông” có địa vị trọng yếu trong gia tộc, các con thứ khác là “tiểu tông”. Chu thiên tử đối với các chư hầu cùng họ mà nói vừa là “cộng chủ” về chính trị, vừa là “đại tông” “trăm đời không dời đổi” của thiên hạ. Như vậy, các phong quốc lớn nhỏ cùng họ với vương triều Chu trở thành bá phụ 伯父, thúc phụ 叔父, còn chư hầu khác họ trở thành bá cữu 伯舅, thúc cữu 叔舅, đều là thân thích đồng tộc của vương triều Chu, trở thành lực lượng trọng yếu, là “cánh tay đắc lực của Chu thất”.
              Tương truyền, quý tộc Tây Chu có 5 loại lễ: khi tế tự dùng “cát lễ” 吉礼, cẩn thận thờ phụng quỷ thần; lúc tang táng hung hoang dùng “hung lễ” 凶礼, cần đau buồn ưu tư. Lúc triều sính hội đồng dùng “tân lễ” 宾礼, phải lễ mạo hoà tiết. Lúc chinh phạt dùng “quân lễ” 军礼, hưng sư động chúng phải quả cảm cương nghị. Hoạt động cát khánh dùng “gia lễ” 嘉礼, yến tiệc hôn nhân, gia quan nghi thức phức tạp. Những lễ nghi phức tạp này phối thêm âm nhạc có thân phận tương ứng với chúng, hình thành một chế độ lễ nhạc. Thanh đồng khí và nhạc khí sử dụng trong tông miếu trở thành tượng trưng cho chế độ lễ nhạc, nhân đó mà có câu:
    Duy khí dữ danh bất khả giả nhân
    唯器与名不可假人
     (Duy chỉ có lễ khí và danh vị không thể trao cho người khác.)
              Thời kì đầu triều Tây Chu, “thiên hạ hữu đạo, lễ nhạc chinh phạt tự thiên tử xuất” 天下有道, 礼乐征伐自天子出 (thiên hạ hữu đạo, lễ nhạc chinh phạt đều xuất phát từ thiên tử), Chu thiên tử có quyền lực rất lớn đối với chư hầu. Thuỷ tổ nước Tề là Thái Công Vọng 太公望từng được Thành Vương ban cho quyền “ngũ hầu cửu bá, thực đắc chinh chi” 五侯九伯, 实得征之 (ngũ hầu cửu bá, đều có thể bị chinh phạt) (1), chinh phạt những kẻ không phục tùng sự thống trị của vương triều Chu. Còn Bá Cầm 伯禽con của Chu Công, do bởi Chu Công lập được đại công, nên đã được đặc ân sử dụng “thiên tử lễ nhạc”.
              Chế độ lễ nhạc và điển chương văn vật do Chu Công chế định ra, đã khiến cho giai cấp thống trị các cấp có được đặc quyền quốc vương ban cho đồng thời quy định nghĩa vụ nhất định mà họ phải thực hiện đối với vương triều Chu. Tất cả những điều này, ở đời sau đã có sự phát triển rất lớn. Sáng tác mà thác danh Chu Công, bộ Chu lễ 周礼, trên thực tế bắt đầu thành sách vào thời Chiến Quốc, có không ít chế độ là ở vào thời Xuân Thu, nhưng cũng là tư liệu quý báu bảo tồn được một số chế độ lễ nhạc và điển chương văn vật đầu đời Chu, là tư liệu tham khảo quan trọng cho chúng ta khi nghiên cứu về chế độ lễ nhạc và lịch sử đời Chu.

    Chú của người dịch
    1- Trong Tả truyện – Hi Công tứ niên 左传 - 僖公四年, câu này là:
    “Ngũ hầu cửu bá, nhữ thực chinh chi”
    五侯九伯, 女实征之
    (Ngũ hầu cửu bá, ông đều có thể chinh phạt họ)

                                                             Huỳnh Chương Hưng
                                                             Quy Nhơn 15/10/2018

    Nguyên tác Trung văn
    CHU CÔNG CHẾ LỄ TÁC NHẠC
    周公制礼作乐
    Trong quyển
     TÂY CHU SỬ THOẠI
    西周史话
    Tác giả: Vương Vũ Tín 王宇信
    Trung Quốc quốc tế quảng bá xuất bản xã, 2007

    Dịch thuật: Chu Công chế lễ tác nhạc

    Đăng lúc  22:03  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật  |  Xem chi tiết »

    CHU CÔNG CHẾ LỄ TÁC NHẠC

              Chu Công Cơ Đán 周公姬旦là chính trị gia nổi tiếng của xã hội nô lệ Trung Quốc. Để củng cố chính quyền của giai cấp thống trị và tăng cường trật tự nội bộ của giai cấp thống trị thời Tây Chu, Chu Công đã tham chiếu chế độ lễ nhạc của vương triều Thương, đồng thời kết hợp với truyền thống thị tộc của tộc Chu, chế định ra một loạt lễ chế khu biệt quân thần, thượng hạ, phụ tử, thân sơ, tôn ti và những điển chương chế độ để duy trì mối quan hệ của giai cấp thống trị, đó chính là điều mà hậu thế gọi là “chế lễ tác nhạc” 制礼作乐 của Chu Công.
              Kẻ thống trị tối cao của vương triều Chu là Chu thiên tử.
    Phổ thiên chi hạ,
    Mạc phi vương thổ.
    Suất thổ chi tân,
    Mạc phi vương thần.
    普天之下,
    莫非王土.
    率土之滨,
    莫非王臣.
    Khắp cõi dưới trời,
    Chẳng có chỗ nào là không phải lãnh thổ của vua.
    Noi theo những vùng đất ven bờ,
    Dân chúng khắp nơi, chẳng ai là không phải bề tôi của vua.
                                                              (Thi kinh – Tiểu nhã – Bắc sơn)
                                                   (Bản dịch của Tạ Quang Phát – Thi kinh, tập 2)
              Đất đai và nhân dân trong cả nước đều thuộc về sở hữu của Chu thiên tử. Vùng đất thủ đô Phong , Hạo  do khanh, đại phu quản lí, gọi là “vương kì” 王畿, đây là khu vực do Chu thiên tử trực tiếp nắm giữ.
              Vùng ngoài vương kì, phân phong cho chư hầu cùng họ hoặc khác họ với vương triều Chu. Những chư hầu được thụ phong này lại đem phong địa của mình phân cho người cùng tộc làm “thái ấp” 采邑, những người được thụ phong này là khanh, đại phu. Khanh, đại phu lại đem thái ấp của mình phân cho “sĩ”, tức người cùng tộc làm “thực địa” 食地. Sĩ trở xuống không phân phong nữa, thực địa do thứ dân – nô lệ cày cấy. Đất đai các cấp và kẻ chiếm hữu nô lệ từ sĩ trở lên là giai cấp thống trị của vương triều Chu, còn quảng đại thứ dân và kẻ bị chinh phục là giai cấp bị thống trị.
              Do bởi vương triều Chu đối với việc tái phân phối một số lượng lớn đất đai mới chinh phục và nô lệ, nên từ trên xuống dưới đã cấu thành từng cấp một những kẻ chiếm hữu đất đai, đồng thời cũng hình thành mối quan hệ lệ thuộc đẳng cấp nghiêm nhặt giữa các cấp chiếm hữu đất đai. Trong Tả truyện 左传, đã thuật lại một cách rõ ràng chế độ đẳng cấp của xã hội nô lệ:   
             Thiên hữu thập nhật, nhân hữu thập đẳng, hạ sở dĩ sự thượng, thượng sở dĩ cung thần dã. Cố vương thần công, công thần đại phu, đại phu thần sĩ, sĩ thần tạo, tạo thần dư, dư thần lệ, lệ thần liêu, liêu thần bộc, bộc thần đài. Mã hữu ngữ, ngưu hữu mục, dĩ đãi bách sự.
              天有十日, 人有十等, 下所以事上, 上所以供神也. 故王臣公, 公臣大夫, 大夫臣士, 士臣皂, 皂臣舆, 舆臣隶, 隶臣僚, 僚臣仆, 仆臣台. 马有圉, 牛有牧, 以待百事.
              (Trời có 10 ngày, người có 10 cấp. Kẻ dưới phụng thờ bề trên, bề trên tế tự thần linh. Cho nên vương sai công, công sai đại phu, đại phu sai sĩ, sĩ sai tạo, tạo sai dư, dư sai lệ, lệ sai liêu, liêu sai bộc, bộc sai đài. Ngựa có người nuôi, bò có người chăn, mỗi người đều chuyên việc của mình để ứng phó trăm việc.)
                                                       (Tả truyện – Chiêu Công thất niên)
              Các cấp quý tộc từ sĩ trở lên và giai cấp nô lệ từ sĩ trở xuống, về chính trị và kinh tế có sự phân biệt sâu sắc. “Lễ” trở thành hoạt động chính trị và những quy phạm về hành động sinh hoạt thường ngày của chủ nô lệ. Còn “hình” chủ yếu để trấn áp quảng đại nô lệ và bình dân. Đó chính là “lễ bất há thứ nhân, hình bất thướng đại phu” 礼不下庶人, 刑不上大夫 (lễ không xuống đến thứ nhân, hình phạt không lên đến đại phu) mà mọi người đã biết. 
              Cơ sở của “lễ” chế ở xã hội nô lệ là chế độ tông pháp. Chế độ phân phong của vương triều Chu và mối quan hệ lệ thuộc nghiêm nhặt được kiến lập trên chế độ tông pháp. Thiên tử nối đời truyền nhau, thiên tử mỗi đời đều lấy thân phận đích trưởng tử kế thừa vương vị, chủ tế thuỷ tổ, đó là “đại tông” của Chu vương thất. Còn anh em của đích trưởng tử thụ phong làm chư hầu, đối với thiên tử mà nói đó là “tiểu tông”. Chư hầu của mỗi đời cũng lấy thân phận đích trưởng tử kế thừa hầu vị, thờ phụng thuỷ tổ của mình, đó là “đại tông”. Anh em của họ thụ phong làm khanh đại phu, là “tiểu tông” của chư hầu. Khanh đại phu mỗi đời cũng như thế, lấy thân phận đích trưởng tử kế thừa phụ vị làm khanh đại phu, thờ phụng thuỷ tổ của mình, đó là “đại tông”. Các em của khanh đại phu là sĩ, sĩ đối với khanh đại phu mà nói, trở thành “tiểu tông”. Đích trưởng tử của sĩ vẫn kế thừa phụ vị làm sĩ, nhưng những người con khác trở thành bình dân. Nhân đó, “đại tông” nhất định là con cháu đích hệ của thuỷ tổ, còn “tiểu tông” là thứ tử, thứ tôn. Chư hầu tuy đối với thiên tử mà nói là “tiểu tông”, nhưng tại nước chư hầu của mình lại là “đại tông”. Khanh đại phu đối với chư hầu mà nói là “tiểu tông”, nhưng tại bổn tộc lại là “đại tông”. Chế độ này, ngăn ngừa giữa anh em với nhau có sự tranh đoạt tạo nên sự tranh chấp nội bộ, củng cố chế độ phân phong.
              Chế độ tông pháp lại lấy mối quan hệ huyết thống của đại gia tộc quý tộc làm cơ sở. Mỗi đại gia tộc đều có tổ tiên trực hệ chung, tông miếu chung, mộ địa chung và có nghĩa vụ bảo vệ lẫn nhau, còn đích trưởng tử của đại gia tộc nối đời nắm giữ đại quyền của gia tộc, trở thành “đại tông” có địa vị trọng yếu trong gia tộc, các con thứ khác là “tiểu tông”. Chu thiên tử đối với các chư hầu cùng họ mà nói vừa là “cộng chủ” về chính trị, vừa là “đại tông” “trăm đời không dời đổi” của thiên hạ. Như vậy, các phong quốc lớn nhỏ cùng họ với vương triều Chu trở thành bá phụ 伯父, thúc phụ 叔父, còn chư hầu khác họ trở thành bá cữu 伯舅, thúc cữu 叔舅, đều là thân thích đồng tộc của vương triều Chu, trở thành lực lượng trọng yếu, là “cánh tay đắc lực của Chu thất”.
              Tương truyền, quý tộc Tây Chu có 5 loại lễ: khi tế tự dùng “cát lễ” 吉礼, cẩn thận thờ phụng quỷ thần; lúc tang táng hung hoang dùng “hung lễ” 凶礼, cần đau buồn ưu tư. Lúc triều sính hội đồng dùng “tân lễ” 宾礼, phải lễ mạo hoà tiết. Lúc chinh phạt dùng “quân lễ” 军礼, hưng sư động chúng phải quả cảm cương nghị. Hoạt động cát khánh dùng “gia lễ” 嘉礼, yến tiệc hôn nhân, gia quan nghi thức phức tạp. Những lễ nghi phức tạp này phối thêm âm nhạc có thân phận tương ứng với chúng, hình thành một chế độ lễ nhạc. Thanh đồng khí và nhạc khí sử dụng trong tông miếu trở thành tượng trưng cho chế độ lễ nhạc, nhân đó mà có câu:
    Duy khí dữ danh bất khả giả nhân
    唯器与名不可假人
     (Duy chỉ có lễ khí và danh vị không thể trao cho người khác.)
              Thời kì đầu triều Tây Chu, “thiên hạ hữu đạo, lễ nhạc chinh phạt tự thiên tử xuất” 天下有道, 礼乐征伐自天子出 (thiên hạ hữu đạo, lễ nhạc chinh phạt đều xuất phát từ thiên tử), Chu thiên tử có quyền lực rất lớn đối với chư hầu. Thuỷ tổ nước Tề là Thái Công Vọng 太公望từng được Thành Vương ban cho quyền “ngũ hầu cửu bá, thực đắc chinh chi” 五侯九伯, 实得征之 (ngũ hầu cửu bá, đều có thể bị chinh phạt) (1), chinh phạt những kẻ không phục tùng sự thống trị của vương triều Chu. Còn Bá Cầm 伯禽con của Chu Công, do bởi Chu Công lập được đại công, nên đã được đặc ân sử dụng “thiên tử lễ nhạc”.
              Chế độ lễ nhạc và điển chương văn vật do Chu Công chế định ra, đã khiến cho giai cấp thống trị các cấp có được đặc quyền quốc vương ban cho đồng thời quy định nghĩa vụ nhất định mà họ phải thực hiện đối với vương triều Chu. Tất cả những điều này, ở đời sau đã có sự phát triển rất lớn. Sáng tác mà thác danh Chu Công, bộ Chu lễ 周礼, trên thực tế bắt đầu thành sách vào thời Chiến Quốc, có không ít chế độ là ở vào thời Xuân Thu, nhưng cũng là tư liệu quý báu bảo tồn được một số chế độ lễ nhạc và điển chương văn vật đầu đời Chu, là tư liệu tham khảo quan trọng cho chúng ta khi nghiên cứu về chế độ lễ nhạc và lịch sử đời Chu.

    Chú của người dịch
    1- Trong Tả truyện – Hi Công tứ niên 左传 - 僖公四年, câu này là:
    “Ngũ hầu cửu bá, nhữ thực chinh chi”
    五侯九伯, 女实征之
    (Ngũ hầu cửu bá, ông đều có thể chinh phạt họ)

                                                             Huỳnh Chương Hưng
                                                             Quy Nhơn 15/10/2018

    Nguyên tác Trung văn
    CHU CÔNG CHẾ LỄ TÁC NHẠC
    周公制礼作乐
    Trong quyển
     TÂY CHU SỬ THOẠI
    西周史话
    Tác giả: Vương Vũ Tín 王宇信
    Trung Quốc quốc tế quảng bá xuất bản xã, 2007

    Mã nguồn bởi Huỳnh Chương Hưng
    Copyright © 2012 Huỳnh Chương Hưng.
    back to top