Dịch thuật: Khổng Quang (Tể tướng Trung Quốc)

 

KHỔNG QUANG

          Khổng Quang 孔光 (năm 65 trước công nguyên – năm 5), tự Tử Hạ 子夏, Tể tướng thời Thành Đế 成帝và Ai Đế 哀帝 triều Tây Hán. Kinh học gia trứ danh, cháu đời thứ 14 của Khổng Tử 孔子. Bệnh mất, hưởng niên 71 tuổi.

          Khổng Quang 孔光 người Khúc Phụ 曲阜 (nay là Khúc Phụ 曲阜tỉnh Sơn Đông 山东), cháu đời thứ 14 của Khổng Tử 孔子. Từ nhỏ ông đã ham thích kinh học, chưa đến 20 tuổi được tiến cử làm Nghị lang 议郎, về sau trải qua sự tiến cử của Quang Lộc khanh Khuông Hành 光禄卿匡衡 ông được làm Phương chính 方正, nhậm chức Gián đại phu 谏大夫.

          Sau khi Thành Đế 成帝lên ngôi, Khổng Quang được cử làm Bác sĩ 博士, thụ mệnh tra xét án oan và cứu tế dân bị hoạ tai, đều xứng đáng với chức vụ. Chẳng bao lâu, thăng nhậm Thượng thư 尚书, đồng thời ra sức nghiên cứu cổ tịch, nhanh chóng biết được rõ chế độ, pháp lệnh triều Tây Hán, nhân đó Thành Đế rất tán thưởng, cất nhắc ông làm Thượng thư bộc dạ 尚书仆射 (1), sau lại thăng nhậm Thượng thư lệnh 尚书令. Thượng thư lệnh là vị quan chủ quản Thượng thư đài 尚书台, Thượng thư đài đương thời là cơ quan xử lí công văn hoàng đế, tương đương với ban thư kí cơ yếu ngày nay, Khổng Quang cũng tương đương với Thư kí trưởng ngày nay. Khổng Quang nắm giữ việc cơ yếu hơn 10 năm, nghiêm chỉnh tuân thủ pháp quy, xử lí sự vụ đều lấy pháp luật hoặc chế độ quy chương làm chuẩn, không hề có riêng tư. Khi ông dâng lời lên Thành Đế, tâm địa thẳng thắn, không hùa theo sở thích tâm ý của Thành Đế, mà là thực sự cầu thị, có kiến giải độc lập của mình. Khi ý kiến không được tiếp nhận, ông cũng không miễn cưỡng can gián để tránh sự kích nộ của hoàng đế. Ông không tự kiêu ngạo bày tỏ công lao, sau khi dâng thư tỏ lời, đem bản thảo tiêu huỷ, để tránh ngày sau lấy đó chứng minh công lao. Sau khi tiến cử người khác làm quan, ông chưa từng tuyên dương là nhờ tác dụng của bản thân. Con người Khổng Quang cẩn thận, xử lí mối quan hệ với đồng liêu rất tốt, không kết bè đảng, lại nghiêm thủ việc cơ mật, đối với việc của triều đình, luôn giữ miệng như giữ chiếc bình, một giọt nước cũng không rỉ ra được. Có một lần, Khổng Quang về nhà nghỉ ngơi, người nhà hiếu kì hỏi ông nơi hoa cỏ trong phòng ấm nơi hoàng cung như thế nào, ông chỉ bâng quơ mấy lời cho xong, không hồi đáp. Do bởi ông tận chức cẩn thận như thế, cho nên nắm giữ việc cơ mật trọng yếu hơn 10 năm mà không có sai sót nào, rất được Thành Đế tin tưởng. Năm 15 trước công nguyên, Khổng Quang được thăng làm Ngự sử đại phu 御史大夫, cùng xử lí triều chính với Thừa tướng Địch Phương Tiến 霍翟方进.

          Thành Đế lúc về già không có con, khi cùng với các đại thần thảo luận việc lập tự quân, Khổng Quang chủ trương lập em của Thành Đế là Trung Sơn Vương 中山王. Hoàng hậu ủng hộ chủ trương của nhóm Địch Phương Tiến, lập cháu của Thành Đế là Định Đào Vương Lưu Hân 定陶王刘欣làm thái tử. Khổng Quang nhân vì ý kiến không hợp với hoàng hậu nên bị giáng làm Đình uý 廷尉. … (còn tiếp)

Chú của người dịch

1-Về âm đọc của chữ 射

          Theo Khang Hi tự điển, chữ 射 có 4 âm đọc: XẠ, DẠ, THẬT, DỊCH

- Âm XẠ bính âm là shè. Đường vận 唐韻 phiên thiết là THẦN CHÁ 神柘; Tập vận 集韻 phiên thiết là THỰC DẠ 食夜. Vận hội 韻會, Chính vận 正韻 phiên thiết là THẦN DẠ 神夜. Đều có âm đọc là 蛇 (xà) khứ thanh. 

- Âm DẠ, bính âm là yè. Quảng vận 廣韻 phiên thiết là DƯƠNG TẠ 羊謝; Tập vận集韻, Vận hội韻會, Chính vận韻會 phiên thiết là DẦN TẠ 夤謝. Đều có âm là 夜 (dạ). Có ghi rằng:

Bộc dạ, Tần quan danh

僕射秦官名

(Bộc dạ là tên chức quan triều Tần)

- Âm THẬT, bính âm là shè. Quảng vận廣韻, Tập vận 集韻 phiên thiết là THỰC DIỆT 食亦, âm 實 (thật).

- Âm DỊCH, bính âm là yì. Quảng vận 廣韻 phiên thiết là DƯƠNG ÍCH 羊益; Tập vận 集韻, Vận hội 韻會, Chính vận 韻會 phiên thiết là DI ÍCH 夷益, âm 睪 (dịch).

          (Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, 2002, trang 233).  

          Chức quan 僕射 / 仆射, các tài liệu đều bính âm là pú yè , chú âm phù hiệu là ㄆㄨˊ ㄧㄝˋ, như vậy đọc là “bộc dạ”.

Huỳnh Chương Hưng

Quy Nhơn 05/10/2026

Nguyên tác Trung văn

KHỔNG QUANG

孔光

Trong quyển

TRUNG QUỐC LỊCH ĐẠI TỂ TƯỚNG LỤC

中国历代宰相录

Chủ biên: Dương Kiếm Vũ 杨剑宇

Thượng Hải văn hoá xuất bản xã, 1999

Previous Post Next Post