CHÙM THƠ HAIKU VIỆT
(BÀI CÚ 俳句)
(5-7-5)
Bài 36
Mộc tê vàng tháng
Tám
Nhạt nồng chín dặm
vẫn thơm hương
Hoa đã hiện cát tường
Tạm dịch sang chữ
Hán
木犀黄桂月
淡濃九里任飄香
花開現吉祥
Mộc
tê hoàng quế nguyệt
Đạm
nùng cửu lí nhậm phiêu hương
Hoa khai hiện cát tường
Huỳnh
Chương Hưng
Quy Nhơn 23/9/2026
Mộc tê 木犀 (樨): biệt
xưng của hoa quế. Nhân vì đường vân trên vỏ cây quế rất giống sừng tên giác nên
có tên như thế.
Ngoài
ra hoa quế còn có mĩ xưng “cửu lí hương” 九里香, “cửu
lí phiêu hương” 九里飄香do bởi mùi thơm của hoa quế lan
toả thật xa.
Hoa
quế là hoa cát tường nổi tiếng trong văn hoá truyền thống Trung Quốc, tượng
trưng cho điềm may, phú quý, tốt đẹp.
Chữ
“quế” 桂hài âm với chữ “quý” 貴, ngụ ý “phú quý” 富貴,
“quý nhân tương trợ” 貴人相助 (được
quý nhân giúp đỡ). Ngoài ra khoa cử thời xưa khi thi đậu gọi là “chiết quế” 折桂 (bẻ quế) hoặc “thiềm cung chiết
quế” 蟾宮折桂 (bẻ quế cung thiềm). Nhân đó hoa quế cũng tượng
trưng cho vinh dự, công danh hoặc việc học có được thành tựu. Còn trong dân
gian, hoa quế cũng ngụ ý đa tử đa phúc, thường phối cùng hoa sen, ngụ ý “liên
sinh quý tử” 連生貴子hoặc đại biểu cho gia đình hạnh
phúc mĩ mãn, con cháu hiển quý.
Quế nguyệt 桂月: tháng Tám âm lịch là thời kì hoa quế nở rộ, hương thơm bay xa vạn dặm, cho nên tháng Tám còn gọi là “Quế nguyệt” 桂月.
