Dịch thuật: Chữ "canh / cánh" 更

 

CHỮ “CANH / CÁNH”

-có 3 cách đọc, đó là “gēng”  “jīng”  “gèng”. Chữ 更 ngoài đọc  “jīng”  dùng để chỉ thời khắc ra, còn lại âm “gēng” và âm “gèng”  ý nghĩa không giống nhau.

          đọc “gēng” (canh): “canh tân” 更新là đổi mới;

đọc gèng” (cánh): “cánh tân” 更新 là so với mới càng mới hơn.

“Cánh sinh” 更生 là “tái sinh” 再生, “trùng sinh” 重生. “Tự lực cánh sinh”  自力更生 z ì lì gèng shēng, ngày nay đọc là  z ì lì  gēng shēng.

I-CANH

1-Chữ âm “canh” (bính âm “gēng” ) nghĩa là thay đổi, như trong “Lễ kí – Nguyệt lệnh” 礼记 - 月令 có câu:

Tuế thả canh thuỷ

岁且更始

Tức một năm qua đi, đổi sang một năm mới.

          “Canh y” 更衣chính là thay y phục, cũng có thể mượn làm uyển ngữ chỉ đi nhà vệ sinh.

          “Canh niên kì” 更年期 (1) là danh từ y học.

          “Canh bộc nan sổ” 更仆难数ví sự vật nhiều. Nhân vì sự vật nhiều, nô bộc sẽ mỏi mệt, cho nên phải thay đổi người.

2-“Canh” cũng có nghĩa là thay thế, mang ý nghĩa hỗ tương chuyển đổi, như “canh điệt” 更迭, “canh đệ” 更递. Cũng có thể giảng là “kinh lịch” 經历từng trải qua, như “thiếu bất canh sự” 少不更事, ý nói tuổi hãy còn trẻ chưa có kinh nghiệm cuộc đời.

3-“Canh” cũng là họ người, như ở nước Nguỵ thời Chiến Quốc có một xạ thủ nổi tiếng tên “Canh Doanh” 更赢.

4-“Canh” là thời khắc, buổi tối từ 7 giờ đến 5 giờ sáng hôm sau. 10 tiếng đồng hồ đó phân làm 5 canh. Chữ “canh” khi dùng để chỉ thời khắc có thể đọc là “jīng”.

II-CÁNH

1-“Cánh” : mang nghĩa là thêm một lần nữa, biểu thị ý tăng thêm tầng lớp, như Vương Chi Hoán 王之涣 trong bài “Đăng Quán Thước lâu” 登鹳鹊楼  (2) đã viết:

Bạch nhật y sơn tận

Hoàng hà nhập hải lưu

Dục cùng thiên lí mục

Cánh thướng nhất tầng lâu

白日依山尽

黄河入海流

欲穷千里目

更上一层楼

(Mặt trời dựa vào núi lặn mất

Hoàng hà chảy ra đến biển

Muốn đưa tầm mắt nhìn ra xa ngàn dặm

Thì hãy lên thêm một tầng lầu nữa)

          Và “Vương Duy” 王维 trong bài “Vị Thành khúc” 渭城曲:

Khuyến quân cánh tận nhất bôi tửu

Tây xuất Dương Quan vô cố nhân

劝君更尽一杯酒

西出阳光无故人

(Mời anh uống cạn thêm một li rượu nữa

Bởi vì đi về phía tây ra khỏi Dương Quan không có cố nhân đâu)

2-“Cánh” : còn mang ý nghĩa là rốt cuộc, cuối cùng, như Hoa Nhuỵ phu nhân 花蕊夫人 trong bài “Thuật vong quốc” 述亡国 đã viết:

Thập tứ vạn nhân tề giải giáp

Cánh vô nhất cá thị nam nhi

十四万人齐解甲

更无一个是男儿

(Mười bốn vạn quân đều giải giáp

Rốt cuộc không có lấy một đấng nam nhi)

Đó là những câu mà mọi người đều biết.

Chú của người dịch

1-Canh niên kì 更年期: danh từ y học, chỉ giai đoạn chuyển tiếp  sinh lí tự nhiên khi cơ thể chuyển từ tuổi trưởng thành sang tuổi già.

2-Quán Thước lâu 鹳鹊楼: còn được gọi là “Quán Tước lâu” 鹳雀楼 tại thành phố Vĩnh Tế 永济 Sơn Tây 山西ngày nay.

Huỳnh Chương Hưng

Quy Nhơn 02/8/2026 

Nguồn

TỰ TỰ HỮU LAI ĐẦU

字字有来头

(quyển 1)

Tác giả: Lâm Lê 林藜

Thượng Hải: Thượng Hải Tam Liên thư điếm, 2018

Previous Post Next Post