含露海棠春早睡
帶烟絲柳夏遲醒
Hàm lộ hải đường xuân tảo thuỵ
Đới yên ti liễu hạ trì tinh
Huỳnh Chương Hưng
Quy Nhơn 28/8/2026
Ti liễu 絲柳:
cành liễu mềm như sợi tơ.
Tinh 醒: ngủ
thức dậy gọi là “tinh”.
Trong
“Khang Hi tự điển” 康熙字典có ghi:
A-“Đường
vận” 唐韻, “Tập vận” 集韻, “Vận hội” 韻會 phiên thiết là 桑經 (TANG KINH)
“Chính
vận” 正韻phiên thiết là 先青
(tiên thanh)
Đều có âm là 星 (TINH).
“Thuyết
văn” 說文giải thích là: “tuý giải” 醉解 (hết
say). Trong “Sở từ - Ngư phủ” 楚辭 - 漁父 có câu:
Chúng nhân giai tuý ngã độc tinh.
衆人皆醉我獨醒
(Mọi người đều say chỉ có mình ta tỉnh).
Và
trong “Tăng vận” 增韻cũng giải thích là:
Mộng giáo dã.
夢覺也
(Ngủ thức dậy)
B-“Quảng
vận” 廣韻 phiên
thiết là 蘇挺 (TÔ ĐĨNH)
“Tập
vận” 集韻, “Vận hội” 韻會phiên thiết là 銑挺 (TIÊN ĐĨNH)
“Chính
vận” 正韻phiên thiết là 息井 (TỨC TỈNH)
Đều có âm 星 (tinh) thượng thanh (tức TỈNH), nghĩa giống với mục
A ở trên.
(Thượng
Hải: Thượng Hải thư điếm, 2005, trang 1434)
Trong
“Từ điển Hán Việt văn ngôn dẫn chứng” của Nguyễn Tôn Nhan ở mục chữ 醒ghi rằng:
1-Tỉnh
rượu, hết say, Thơ Lí Bạch:
Chỉ mong say mãi không mong tỉnh.
但願長醉不願醒
(Đản nguyện trường tuý bất nguyện tinh)
2-Tỉnh
ngủ, tỉnh giấc mộng, thơ Nguyên Chẩn:
Gà gáy dục trời sáng, bóng trăng chiếu tỉnh giấc.
雞聲催欲曙, 蟾影照初醒
Kê thanh thôi dục thử, thiềm ảnh chiếu sơ tinh
3-Tỉnh
ngộ, đang mê lầm tỉnh lại, như Tỉnh ngộ 醒悟.
Cũng
đọc TỈNH.
(NXB Thành phố HCM, trang 1481)
Tạm dịch
Hoa hải đường mùa xuân ngậm
sương ngủ sớm
Cành liễu mềm mùa hạ vương khói
dậy muộn
