THỦ CẤP
LẤY ĐẦU KẺ ĐỊCH ĐỂ ĐƯỢC THĂNG CẤP
(Kì 1)
“Đầu” 头của con người có nhiều tên gọi, đơn âm như
“thủ” 首, “lô” 颅; song âm như “thủ
cấp” 首級, “đầu lô” 头颅, “đầu não” 头脑, “não đại” 脑袋, “não xác 脑壳; lại còn có cả đa
âm như “não qua tử” 脑瓜子, “não đại tử” 脑袋子v.v…
Dạng phồn thể của chữ 头
(đầu) là 頭 , Hứa Thận 许慎 trong “Thuyết
văn giải tự” 说文解字nói rằng:
Đầu, thủ dã. Tùng
hiệt đậu thanh.
头首也从页豆声
(“Đầu” tức “thủ”, phần trên cùng của thân
thể con người. Loại chữ hình thanh, “hiệt” là hình phù, “đậu” là thanh phù.)
“Đầu” 头 dùng chữ 豆 (đậu) để biểu
thanh, kì thực, 豆 (đậu) cũng biểu
nghĩa. Trong “Thuyết văn” có nói:
Đậu, cổ thực nhục
khí dã.
豆, 古食肉器也
(Đậu là một loại
khí vật thời cổ dùng khi ăn thịt)
Đầu của con người giống cái 豆 (đậu), xương đầu
vào thời cổ cũng thường được dùng làm đồ đựng thức uống, như trong “Chiến quốc
sách – Triệu sách nhất” 战国策 - 赵策一 có ghi:
Triệu Tương Tử tối
oán Trí Bá, tương kì đầu dĩ vi ẩm khí.
赵襄子最怨智伯, 将其头以为饮器
(Triệu Tương Tử vô cùng oán hận Trí Bá, đã
lấy đầu của ông ta làm đồ đựng thức uống.)
Và như trong “Sử kí – Trương Khiên liệt
truyện” 史记 - 张骞列传:
Thời Hung nô hàng giả ngôn Hung nô phá
Nguyệt Chi vương, dĩ kì đầu vi ẩm khí.
时匈奴降者言匈奴破月氏王,
以其头为饮器
(Lúc Hung nô đầu hàng có nói rằng Hung nô
đánh bại Nguyệt Chi vương, lấy dâud của ông ta làm đồ đựng thức uống.)
Có thể thấy, đầu giống như cái đậu có giá
trị sử dụng, cho nên vào thời cổ cũng thường được dùng làm lễ vật tiến dâng.
Trong “Hàn Phi Tử - Nội trừ thuyết thượng” 韩非子 - 内儲说上có những câu như:
Thỉnh dĩ đầu hiến
vương giả tuế thập dư nhân. (1)
请以头献王者岁十余人
(Qua năm sau, người xin được lấy đầu mình
dâng lên Việt Vương, chỉ trong một năm mà có được hơn mười người.)
Và câu:
Thị tuế nhân hữu tự
hĩnh tử dĩ kì đầu hiến giả.
是岁人有自刭死以其头献者
(Năm đó, có người
tự cắt lấu đầu mình để dâng lên)
Một trong những lễ vật mà Kinh Kha 荆轲khi thích Tần Vương dâng lên cũng là “Phàn Ô Kì chi đầu” 樊於期之头 (2).
“Đầu” 头cũng được gọi là “thủ” 首, điều này dễ hiểu,
bởi chữ “thủ” 首 trong kim văn hoặc
triện văn giống như đầu người bên trên có tóc, nghĩa gốc chính đầu, cho nên Hứa
Thận mới giải thích “đầu” là “thủ”.
Nhưng tại sao “đầu” 头lại gọi là “thủ cấp” 首級? “Cấp” 級 có ý nghĩa gì? Đây chính là điểm khó lí giải. Muốn nói rõ vấn đề này thì phải bắt đầu từ biến pháp của Thương Ưởng 商鞅thời Chiến quốc…. (còn tiếp)
Chú
của người dịch
1-Trong
“Hàn Phi Tử - Nội trừ thuyết thượng” 韩非子 - 内儲说上có đoạn:
“Việt Vương Câu Tiễn định công phạt nước
Ngô, muốn dân chúng coi nhẹ cái chết ra sức giúp mình. Lúc ra ngoài nhìn thấy một
con ếch đang phình to bụng lộ vẻ tức giận liền hướng tới nó hành lễ bày tỏ sự kính
trọng. Tuỳ tùng hỏi rằng: “Sao ngài lại cung kính với con ếch như thế?” Việt Vương
đáp rằng: “Ấy là do ếch có dũng khí phẫn nộ.” Qua năm sau, người xin được lấy đầu
của mình dâng lên Việt Vương, chỉ trong một năm mà có đến hơn 10 người. Từ đó có
thể thấy, việc động viên khen ngợi đủ để người ta vì việc lớn xem nhẹ cái chết.
Lại có một thuyết khác. Việt Vương Câu
Tiễn nhìn thấy một con ếch đang phình to bụng tức giận liền vịn đòn ngang trên
xe hành lễ biểu thị sự cung kính. Người đánh xe hỏi rằng: “Sao ngài lại hành lễ
cung kính như thế?” Vương đáp: “Ếch có dũng khí, há không thể bày tỏ sự cung kính
đối với ếch sao?” Các binh sĩ sau khi nghe qua đều nói: “Đến con ếch có dũng khí
mà Vương còn bày tỏ sự cung kính huống hồ võ sĩ dũng cảm!” Trong năm đó, có người
tự cắt lấy đầu mình dâng lên Việt Vương.
Từ câu chuyện trên có thành ngữ “Nộ oa
khả thức” 怒蛙可式 dùng để ví sự tôn
kính đối với dũng sĩ hoặc những người dám đấu tranh, nhằm chiêu nạp kẻ sĩ trong
thiên hạ.
2-Về
tên nhân vật 樊於期:
A- Với chữ 於, trong Khang Hi tự điển có 2
âm như sau:
- Bính âm wū, âm Hán Việt là “Ô”
Đường vận 唐韻 phiên thiết là AI ĐÔ 哀都 (ô).
Tập vận 集韻, Vận hội 韻會, Chính vận 正韻 phiên thiết là
UÔNG HỒ 汪胡.
Đều
có âm là 烏.
- Bính âm yú, âm Hán Việt là “Ư”
Quảng
vận 廣韻 phiên thiết là ƯƠNG CƯ 央居 (ư)
Tập vận 集韻, Vận hội 韻會, Chính vận 正韻 phiên thiết là Y HƯ 衣虛 (ư).
Đều có âm là 淤.
(trang 430, Hán ngữ
đại từ điển xuất bản xã, 2003)
Hán Việt tự điển của Thiều Chửu có
2 âm: Ư và Ô
B- Với chữ 期, trong Khang Hi tự điển cũng
có 2 âm:
-
Bính âm qí, âm Hán Việt là “KÌ”
Đường
vận 唐韻 , Tập vận 集韻, Vận hội 韻會 đều phiên thiết là CỪ CHI 渠之 (kì)
-
Bính âm jī, âm Hán
Việt là “KI”
Tập vận 集韻 phiên thiết là CƯ CHI 居之 (ki)
(trang 454, Hán ngữ
đại từ điển xuất bản xã, 2003)
Hán Việt tự điển của Thiều Chửu có
2 âm: KỲ và KY
Theo http://baike.baidu.com/view/671559.htm, tên của nhân vật viết theo dạng phồn
thể là樊於期 với âm Bắc Kinh chú bên cạnh là fán wū jī, âm Hán Việt là Phàn Ô Ki.
Theo http://www.zwbk.org/MylemmaShow.aspx, tên của nhân vật lại chú âm Bắc Kinh
là fán wū
qí, âm Hán Việt là Phàn Ô Kì.
Trong “Sử Kí” bản dịch của Giản Chi và Nguyễn
Hiến Lê phiên âm là Phàn Ô Kì; bản dịch
của Phan Ngọc, bản dịch của Phạm Văn Ánh phiên âm là Phàn Ư Kỳ.
Tôi theo bản dịch của Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê phiên là Phàn Ô Kì.
Huỳnh Chương Hưng
Quy nhơn 19/7/2026
Nguồn
HÁN TỰ LÍ ĐÍCH
TRUNG QUỐC
汉字里的中国
Tác giả: Trần Bích
Diệu 陈璧耀
Thượng Hải: Thượng
Hải Viễn đông xuất bản xã, 2017
