想屈原
年年五月蕙蘭馨
粽子清香寄寓情
挫折崎嶇心不改
堅貞鵜鴂任先鳴
TƯỞNG KHUẤT NGUYÊN
Niên niên ngũ nguyệt huệ lan hinh
Tông tử thanh hương kí ngụ tình
Chiết toả khi khu tâm bất cải
Kiên trinh đề quyết nhậm tiên minh
Huỳnh Chương Hưng
Quy Nhơn 18/5/2026
Huệ
lan hinh 蕙蘭馨: mượn ý từ trong “Li tao” 離騷 của Khuất Nguyên 屈原.
Dư kí tư lan chi cửu uyển hề
Hựu thụ huệ chi bách mẫu
余既滋蘭之九畹兮
又樹蕙之百畝
(Ta đã trồng chín uyển lan
Lại trồng thêm trăm mẫu huệ)
Tông
tử 粽子: ở đây chỉ bánh tro cũng gọi là “bánh ú tro”, thường
được cúng vào dịp tết Đoan ngọ mùng 5 tháng 5 âm lịch.
Vào dịp tết Đoan ngọ, người Trung Quốc cũng cúng “tông tử”
nhưng là bánh nhân mặn, có trứng muối, lạp xưởng, thịt ba rọi, tôm khô, hạt sen,
nấm đông cô, đậu xanh …được gói bằng lá tre, loại bánh này còn có tên là “nhục
tông” 肉粽 tức
bánh ú nhân thịt. “Nhục tông” đọc theo âm Phúc Kiến, Triều Châu là “ba chang”,
ta đọc chệch thành “bá trạng”, nên có tên “bánh ú bá trạng”. Người Hoa quan niệm
ăn bánh này để tưởng nhớ đến thi nhân Khuất Nguyên 屈原và cũng để giải
trừ bệnh tật.
Đề
quyết tiên minh 鵜鴂先鳴: cũng mượn ý từ trong “Li tao” 離騷.
Khủng đề quyết chi tiên minh
Sử bách thảo vị chi bất phương
恐鵜鴂之先鳴
使百草爲之不芳
(Sợ chim đề quyết kêu trước
Khiến trăm hoa khô héo không còn toả mùi thơm nữa)
Đề
quyết 鵜鴂: tức chim “quých” 鶪, chim “bá lao” 伯勞, tháng 7 bắt đầu kêu, lúc khí âm đến, các loài hoa
không còn toả mùi hương.
Có thuyết cho “đề quyết” 鵜鴂là chim “tử quy” 子规, còn có tên là “đỗ vũ” 杜宇, “đỗ quyên” 杜鵑, tháng 3 bắt đầu kêu.
“Bách
thảo” 百草ở đây dụ chỉ người hiền.
(Theo “Khuất Nguyên thi tuyển” 屈原诗选: Vương Bồi Nguyên 王培源tuyển chú. Sơn Đông Đại học
xuất bản xã, 1999)
Hai câu này Đào Duy Anh dịch là:
Sợ tu hú hót trước a,
Khiến trăm hoa vì thế mà không thơm nữa?
Tạm dịch
TƯỞNG NHỚ KHUẤT NGUYÊN
Hàng năm vào tháng Năm hoa huệ hoa lan toả mùi thơm,
Gửi tình cảm vào chiếc bánh tro với mùi hương thanh
đạm.
Cuộc đời của thi nhân gập ghềnh trắc trở nhưng lòng ông
không thay đổi,
Vẫn kiên trinh mặc cho chim đề quyết kêu trước tiên.
