Dịch thuật: Xưng vị "thủ túc" "nhĩ mục"

 

XƯNG VỊ “THỦ TÚC” “NHĨ MỤC” 

Thủ túc 手足

          Người xưa thường dùng “tả bàng hữu tí” 左膀右臂(tay trái tay phải) để hình dung những người phò tá quân chủ làm nên nghiệp lớn, còn những người đi theo chúa công chinh chiến nam bắc, bày kế mưu, ra sống vào chết cũng thường được gọi là “tâm phúc đại tướng” 心腹大将, “thủ túc huynh đệ” 手足兄弟… Tại sao người ta lại dùng bộ phận tổ thành trên thân thể để chỉ thay người?

          Trong “Tam quốc diễn nghĩa” 三国演义hồi thứ14 có câu:

Tào Mạnh Đức di giá hạnh Hứa Đô, Lữ Phụng Tiên dạ tập Từ quận.

曹孟德移驾幸许都, 呂奉先乘夜袭徐郡

          (Tào Mạnh Đức nghinh Hán Hiến Đế dời đô về Hứa Đô, Lữ Phụng Tiên nhân lúc đêm tối tập kích Từ quận)

Và đã giảng rằng:

          Lữ Bố 呂布liên hợp với Tào Báo 曹豹chiếm thành Từ Châu 徐州, chận cửa nhà Lưu Bị 刘备. Trương Phi 张飞vì tính tình lỗ mãng ham uống rượu mất cảnh giác, đến nỗi mất cả thành trì, liền chạy đến trước mặt Lưu Bị, khóc lên tự trách mình. Huyền Đức 玄德than rằng:

Đắc hà túc hỉ, thất hà túc ưu.

得何足喜, 失何足忧

(Được sao đủ để mừng, mất sao đủ để lo)

Quan Công 关公hỏi:

-Chị dâu giờ ở đâu?

Trương Phi đáp:

-Đều bị vây hãm trong thành.

Huyền Đức im lặng không nói tiếng nào, Quan Công trách rằng:

-Đệ ban đầu khi giữ thành đã nói gì? huynh trưởng đã dặn đệ những gì? Nay thành trì đã mất, chị dâu lại bị vây hãm, làm thế nào đây?”

          Trương Phi nghe qua vô cùng khủng hoảng, rút kiếm muốn tự sát. Huyền Đức tiến đến ngăn lại, giật lấy kiếm quăng xuống đất, nói rằng:

          -Cổ nhân có nói, “Huynh đệ như thủ túc, thể tử như y phục. Y phục phá, thượng khả phùng; thủ túc đoạn, an khả tục? 兄弟如手足, 妻子如衣服. 衣服破, 尚可缝, 手足断安可续? (Anh em như tay chân, vợ con như quần áo, Quần áo rách còn có thể vá lại, chứ tay chân đã đứt lìa thì làm sao ma nối lại được?) Ba anh em ta kết nghĩa ở vườn đào, không cầu đồng sinh, nhưng nguyện đồng tử. Nay tuy mất thành mất nhà đó là việc nhỏ, làm sao nỡ để anh em chết giữa đường. Huống hồ thành trì vốn không phải là của ta, gia quyến tuy bị vây hãm, nhưng Lữ Bố tất sẽ không mưu hại, hãy còn có thể nghĩ cách để cứu. Hiền đệ nhất thời sai lầm, sao lại muốn quyên sinh.

          Nói xong khóc lên, Quan, Trương cũng cảm động khóc theo.

          Những lời của Lưu Bị khiến Quan, Trương cảm động không thôi, về sau đối với Lưu Bị lại càng dốc lòng trung thành.

          “Huynh đệ như thủ túc” 兄弟如手足 rốt cuộc có từ lúc nào, hiện không có tư liệu để khảo chứng, nhưng một khi Lưu Bị đã nói ra, thì người nào cũng hiểu.

Nhĩ mục 耳目

          “Nhĩ mục” 耳目 (tai mắt) là để chỉ “người dọ thám tin tức”, được thấy sớm nhất trong “Quốc ngữ” 国语. Trong sách có câu:

Nhược tiên, tắc khủng quốc nhân chi thuộc nhĩ mục dữ ngã dã.

若先, 則恐国人之属耳目与我也.

          (Nếu tôi tranh vào thành trước thì sợ rằng người trong nước tập trung chú ý đến tôi.)

          Trong đó có ý nghĩa là giám thị, thẩm tra. Người đời sau căn cứ vào tác dụng của “nhĩ mục” 耳目 (tai mắt) đã tiến hành phát huy, thế là “nhĩ mục” mang ý nghĩa là gián điệp, người dọ thám tình báo.

          Do bởi ý nghĩa của chữ Hán sâu xa, hơn nữa có thể dùng để chỉ những sự việc có ý nghĩa phái sinh, cho nên những từ như “thủ túc” 手足, “nhĩ mục” 耳目đã được dùng làm xưng vị đặc thù một cách trừu tượng.

Huỳnh Chương Hưng

Quy Nhơn 13/6/2026

Nguyên tác Trung văn

Trong quyển

THÚ VỊ VĂN HOÁ TRI THỨC ĐẠI TOÀN

趣味文化知识大全

Thanh Thạch 青石 biên soạn

Trung Quốc Hoa kiều xuất bản xã, 2013

Previous Post Next Post