NGUỒN GỐC VÀ SỰ PHÁT TRIỂN TÍNH THỊ
(tiếp theo)
Thứ 7: lấy nơi
cư trú làm tính thị. Ví dụ như:
Tính
“Tây Môn” 西门: thời Xuân
Thu, một vị quan Khanh đại phu nước Trịnh 郑 cư trú phía
tây môn của đô thành (nay là Tân Trịnh 新郑 Hà Nam 河南), con cháu
đời sau của ông bèn lấy phương vị nơi cư trú làm tính.
Thứ 8: lấy những
điềm lạ lúc sinh ra làm tính thị. Ví dụ như:
Tính
“Vũ” 武: Chu Bình
Vương 周平王lúc mới
sinh, nơi lòng bàn tay có chữ “vũ” 武 kiểu triện
văn, thế là bèn lấy Vũ 武làm tính.
Thứ 9: nhân kị
kị huý tên của đế vương, kị cừu thù, kị hoạ tai mà đổi tính thị. Ví dụ như:
Tính
“Nghiêm” 严: sơ kì Đông
Hán, Lưu Trang 刘庄 kế vị, sử
xưng là Hán Minh Đế 汉明帝, để tránh
tên huý của ông, người trong tộc tính Trang 庄 đã đổi sang
tính Nghiêm 严.
Thứ 10: lấy đức
hạnh làm tính thị. Ví dụ như:
Tính
“Xa” 车: thời Tây
Hán sủng thần Giang Sung 江充của Hán Vũ Đế 汉武帝 hãm hại
thái tử Lưu Cứ 刘据, vu cho Lưu
Cứ dùng thuật vu cổ ếm bùa hại Hán Vũ Đế, Lưu Cứ tức giận phản kháng, bị thất bại
đã đào tẩu. Có người tên Điền Thiên Thu 田千秋dám dâng thư can gián, kêu oan cho thái tử, nhân đó được Hán Vũ Đế trọng
dụng. Mấy tháng sau, được phong làm Tể tướng. Sau khi Hán Vũ Đế mất, nhân vì tuổi
cao ông được đặc biệt ân tứ cho ngồi xe nhỏ vào cung, thế là được xưng là “Xa
thừa tướng” 车丞相. Con cháu
đời sau của ông lấy “Xa” 车 làm tính.
Thứ 11: đế vương
ban tính cho. Ví dụ như:
Tính
“Trịnh” 郑: hàng hải
gia Trịnh Hoà 郑和nổi tiếng
đời Minh (năm 1368 – năm 1644), vốn tên là Mã Tam Bảo 马三保, nguyên tịch tại Vân Nam 云南, lúc nhỏ bị quân Minh bắt đưa vào hoàng cung làm thái giám. Năm
1399, người con thứ 4 của Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương 明太祖朱元璋 là Chu Đệ 朱棣 phát động chính biến, đoạt lấy chính quyền, lên ngôi xưng đế. Mã Tam
Bảo nhân vì trong thời gian đó lập được chiến công nên được Minh Thành Tổ Chu Đệ
ban cho tính “Trịnh” 郑.
Thứ 12: lấy từ
chỉ số lượng, từ chỉ thứ tự trong gia đình, hoặc thiên can địa chi làm tính thị.
Ví dụ như:
Tính
“Quý” 季: là lấy thứ tự trong gia đình làm tính. Quý Trát 季札là chính trị gia, ngoại giao gia nổi tiếng thời
Xuân Thu. Thời cổ, thứ tự của anh em trong nhà, người lớn nhất xưng là “Bá” 伯, thứ 2 xưng là “Trọng” 仲, thứ 3 xưng là “Thúc” 叔, thứ 4 xưng là “Quý” 季, Quý Trát ở hàng thứ 4. Để kỉ niệm Quý Trát,
con cháu đời sau của ông lấy thứ tự bối phận trong gia đình làm tính.
Thứ 13: dân
tộc thiểu số Hán hoá đã đổi tính. Ví dụ như:
Tính “Nguyên” 元: thời Nam Bắc triều (năm 420 – năm 589), Hiếu Văn Đế 孝文帝nhà Bắc Nguỵ chịu ảnh hưởng văn hoá Hán tộc, đã ra sức tiến hành việc cải cách chính trị, tức “Hiếu Văn Hán hoá” 孝文汉化. Trong đó có quy định, tộc Tiên Ti 鮮卑đổi tính thị dân tộc sang tính Hán. Hiếu Văn Đế đi đầu, đem tính thị của hoàng tộc là “Thác Bạt” 拓跋đổi sang “Nguyên” 元, “Nguyên” 元mang ý nghĩa là đệ nhất, là đứng đầu. (hết)
Huỳnh Chương Hưng
Quy Nhơn 27/6/2026
Nguồn
TRUNG QUỐC TÍNH THỊ
中国姓氏
Biên soạn: Thượng Quan Ngôn Linh 上官言灵
Hợp Phì: Hoàng Sơn thư xã, 2014
