Dịch thuật: Nguồn gốc và sự phát triển tính thị

 

NGUỒN GỐC VÀ SỰ PHÁT TRIỂN TÍNH THỊ 

          Trong “Quốc ngữ” 国语có đoạn:

          Phàm Hoàng Đế chi tử nhị thập ngũ tông, kì đắc tính giả thập tứ nhân, vi thập nhị tính.

          凡黄帝之子二十五宗, 其得姓者十四人, 为十二姓.

          (Phàm 25 tông con của Hoàng Đế, được có tính (họ) là 14 người, 12 tính.)

          Sử gia Vi Chiêu 韦昭 thời Tam Quốc đã chú giải:

          Đắc tính, dĩ đức cư quan, nhi tứ chi tính dã. Vị thập tứ nhân, nhi nội nhị nhân vi Cơ, nhị nhân vi Kỉ, cố thập nhị tính.

          得姓, 以德居官, 而赐之姓也. 谓十四人, 而内二人为姬, 二人为己, 故十二姓.

          (Người có được tính là những người đức độ làm quan nên được ban cho tính. Nói 14 người đó là trong đó có hai người tính Cơ, 2 người tính Kỉ, cho nên có 12 tính.)

Thuỷ tổ của dân tộc Trung Hoa là Hoàng Đế 黄帝, sinh được tổng cộng 25 người con, ông ban tính cho 14 người lần lượt là:

          , Dậu , Kì , Kỉ , Đằng , Châm , Nhâm , Tuân , Hi , Cật , Huyên , Y .

          Trong đó có 2 người cùng tính Cơ , 2 người cùng tính Kỉ .

          Đến thời Tiên Tần, con cháu trực hệ của Hoàng Đế đông lên, phân ra tổng cộng có 510 tính thị. Đến nay, tính thị Trung Quốc diễn biến phức tạp đa phần là từ tính thị cổ xưa ở thời kì Viêm Hoàng 炎黄phát triển mà ra.

          Trong “Tiềm phu luận – Chí thị tính” 潜夫论 - 志氏姓 của văn học gia Vương Phù 王符thời Đông Hán cò ghi chép mấy phương thức diễn biến của tính thị Trung Quốc:

Hoặc truyền bổn tính, hoặc thị hiệu ấp thuỵ, hoặc thị vu tước, hoặc thị vu chí.

或传本姓, 或氏号邑謚, 或氏于爵, 或氏于志.

(Hoặc là truyền từ tính (họ) gốc, hoặc lấy tên hiệu, tên ấp, tên thuỵ làm thị (họ). hoặc lấy tước vị làm thị, hoặc lấy chí làm thị.)

Căn cứ vào kết quả nghiên cứu, diễn biến của tính thị từ xưa đến nay quy nạp lại chủ yếu có 13 nguồn gốc và phát triển.

Thứ 1: lấy totem mà tổ tiên sùng bái làm tính thị. Tính (họ) của tộc Hạ và tộc Thương đều là từ totem của bộ lạc thị tộc dần diễn biến mà ra.

Thứ 2: lấy danh, tự, miếu hiệu, thuỵ hiệu của tổ tiên làm tính thị. Ví dụ như:

Tính “Chu” là lấy danh của tổ tiên làm tính: Con của Đế Nghiêu là Đan Chu 丹朱, con cháu đời sau phân làm 4 chi, trong đó có một chi lấy chữ “chu” trong tên “Đan Chu” 丹朱làm tính.

Tính “Thi” là lấy tên tự của tổ tiên làm tính: Thời Xuân Thu, con của Lỗ Huệ Công 鲁惠公là Vĩ Sinh 尾生, tự là Thi Phủ 施父. Để kỉ niệm ông, con cháu đời sau đã lấy tên tự của ông làm tính.

Thứ 3: lấy tên bộ lạc, tên đất phong (phong địa danh 封地名), tên nước làm tính thị. Ví dụ như:

Tính “Nguỵ” là lấy tên đất phong làm tính: Thời Tây Chu, hậu duệ của Chu Văn Vương 周文王là Tất Vạn 毕万được phong ở đất Nguỵ , con cháu đời sau bèn lấy tên đất phong làm tính, xưng Nguỵ thị.

          Tính “Tưởng” là lấy tên nước làm tính: Thời Tây Chu, con của Chu Văn Công 周文公 là Bá Linh 伯龄được phong ở đất Tưởng , kiến lập nước Tưởng. Thời Xuân Thu, nước Tưởng nhược tiểu, bị nước Sở diệt. Để kỉ niệm cố quốc, con cháu bèn lấy tên nước làm tính.

Thứ 4: lấy tước vị, quan chức của tiên nhân làm tính thị. Ví dụ như:

          Tính “Tào” là lấy tên chức quan làm tính. Thời kì Đế Thuấn 帝舜, ông An phò tá Hạ Vũ 夏禹trị thuỷ có công được ban làm Tào quan 曹官, về sau ông bèn lấy tên chức quan làm tính.

Thứ 5: lấy nghề nghiệp làm tính thị. Ví dụ như:

          Tính “Bốc” : thời thượng cổ thịnh hành vu thuật, phàm mọi việc đều tiến hành chiêm bốc, thế là sản sinh ra “vu sư” 巫师 (giống như pháp sư, thầy mo). Con cháu của họ lấy nghề nghiệp của tổ tiên làm tính.

Thứ 6: lấy tên núi, tên sông, tên đất làm tính thị. Ví dụ như:

          Tính “Diêu” là lấy nơi sinh ra làm tính: Ông Thuấn sinh ở Diêu Khư  姚虚 (nay là Bộc Dương 瀑阳Hà Nam 河南), bèn lấy tên đất là “Diêu” làm tính. Sau này, một bộ phận người trong tộc dời đến bên sông Quy (trong địa phận tỉnh Sơn Tây 山西), lấy tên sông làm tính, đổi sang tính Quy , một bộ phận con cháu còn ở lại Diêu Khư thì vẫn giữ nguyên tính “Diêu”  … (còn tiếp)

Huỳnh Chương Hưng

Quy Nhơn 26/6/2026

Nguồn

TRUNG QUỐC TÍNH THỊ

中国姓氏

Biên soạn: Thượng Quan Ngôn Linh 上官言灵

Hợp Phì: Hoàng Sơn thư xã, 2014

Previous Post Next Post