DANH, TỰ, HIỆU
DANH 名
Khi
tính thị chưa sản sinh, người xưa dùng sớm nhất là “danh” 名. “Danh” là phù hiệu mang tính tiêu chí của cá
nhân, tức đại xưng của cá nhân.
“Danh”
sớm nhất bắt nguồn từ xã hội thị tộc, thường dùng chung với “tính” 姓. Trong “Chu lễ” 周礼 – kinh điển của Nho gia có chép:
Hôn sinh tam nguyệt nhi gia danh
婚生三月而加名
(Em bé sau khi sinh được 3 tháng thì cha mẹ sẽ đặt tên cho)
TỰ 字
“Tự”
字 cũng xưng là “biểu” 表, tức trừ “danh” ra, người xưa còn có một cách xưng hô khác. Văn học
gia Nhan Chi Thôi 颜之推 (năm 531 – khoảng năm 590) thời Nam Bắc triều.
trong trứ tác “Nhan Thị gia huấn” 颜氏家训 của mình, ông đã
viết rằng:
Cổ giả, danh dĩ chính thể, tự dĩ biểu đức.
古者, 名以正体, 字以表德
(Danh dùng
để phân biệt thân phận, tự dùng để biểu chương phẩm đức mà cá nhân có được hoặc
kì vọng đạt được)
“Tự”
là xưng vị có mối tương quan với “danh”, tức biệt danh, đa phần dùng để biểu thị
phẩm đức của cá nhân.
Nhìn
chung, người xưa đều có danh và tự. Con trai đến 20 tuổi, khi làm “quán lễ” 冠礼 (tức lễ
thành niên của con trai) sẽ đặt “tự”; con gái đến 15 tuổi khi làm “kê lễ” 笄礼 (tức lễ thành niên của con gái) sẽ đặt tự.
Người xưa khi tự xưng thì dùng “danh” 名, khi xưng hô người khác thì dùng “tự” 字để biểu thị sự tôn kính. Hiện nay tập tục đặt “tự” không còn thấy nhiều.
HIỆU 号
“Hiệu”
号là biệt
xưng ngoài danh và tự ra của người xưa. Theo ghi chép, vào thời Xuân Thu đã xuất
hiện “hiệu”. Khác với danh và tự, việc chọn đặt “hiệu” tự do hơn, không phải chịu
ảnh hưởng về các phương diện như gia tộc, bối phận, chế độ …, chỉ căn cứ vào sự
yêu thích khác nhau của cá nhân mà chọn đặt.
Huỳnh Chương Hưng
Quy Nhơn 25/6/2026
Nguồn
TRUNG QUỐC TÍNH THỊ
中国姓氏
Biên soạn: Thượng Quan Ngôn Linh 上官言灵
Hợp Phì: Hoàng Sơn thư xã, 2014
