讀古詩偶成
古今簑笠本黎元
翹望君明輔弼賢
麥穗兩歧歌舜日
台階曆草頌堯天
摘星事
夢登仙
鋤辛苦
無閑田
新絲新穀留不得
凍餒纏身不限年
化爥君心茅屋照
願君莫照綺羅筵
ĐỘC CỔ THI NGẪU THÀNH
Cổ kim thoa lạp bổn lê nguyên
Kiều vọng quân minh phụ bật hiền
Mạch tuệ lưỡng kì ca Thuấn nhật
Đài giai lịch thảo tụng Nghiêu thiên
Trích tinh sự
Mộng đăng tiên
Sừ tân khổ
Vô nhàn điền
Tân ti tân cốc lưu bất đắc
Đống noãn triền thân bất hạn niên
Hóa chúc quân tâm mao ốc chiếu
Nguyện quân mạc chiếu ỷ la diên
Huỳnh Chương Hưng
Quy Nhơn 28/5/2026
Lê nguyên 黎元: tức bách tính, dân chúng. Điển xuất từ trong Xuân Thu phồn lộ 春秋繁露 của
Đổng Trọng Thư 董仲舒đời Hán:
Cứu
chi giả, tỉnh cung thất, khứ điêu văn, cử hiếu đễ, tuất lê nguyên.
救之者, 省宮室, 去雕文, 舉孝悌 恤黎元
(Cách để cứu giúp đó là giảm bớt cung
thất, bỏ đi những chạm khắc rườm rà, tuyển chọn tiến cử những người hiếu đễ,
chu cấp cho dân nghèo khổ)
Kiều
vọng 翹望: ngẩng cao đầu trông mong.
Phụ
bật 輔弼: giúp đỡ, phò tá. Ở đây chỉ bề tôi.
Mạch
tuệ lưỡng kì 麥穗兩歧: một nhánh lúa mạch trổ ra hai bông, thời cổ cho đó
là điềm cát tường may mắn, dự báo ngũ cốc được mùa.
Trong “Hậu Hán thư – Trương Kham truyện” 後漢書 - 張堪傳có chép:
Thời Đông Hán, Trương Kham 張堪nhậm chức Thái thú ở Ngư Dương 漁陽. Dưới
sự hướng dẫn của ông, bách tính khai khẩn đất đai làm thành ruộng được hơn 8000
khoảnh. Ngư Dương được mùa bách tính trở nên giàu có no đủ, họ vô cùng cảm kích
Trương Kham nên đã làm bài ca để ca ngợi chính tích của ông:
Tang vô phụ chi.
Mạch tuệ lưỡng kì.
Trương quân vi chính.
Lạc bất khả chi.
桑無附枝
麥穗兩歧
張君爲政
樂不可之
(Cây dâu mạnh khoẻ không có những cành nhánh dị dạng.
Một nhánh lúa mạch mà trổ ra hai bông.
Trương quân cai trị nơi đây
Bách tính no đủ, vui mừng cực điểm)
Đài
giai lịch thảo 台階曆草: cỏ lịch nơi sân đài. “Lịch thảo” 曆草là một loại “tường thuỵ thần
thảo” 祥瑞神草trong
truyền thuyết cổ đại Trung Quốc, cũng được gọi là “minh giáp” 蓂莢, “lịch giáp” 曆莢. Tương truyền, thời Đế
Nghiêu 帝堯, nơi
sân đài mọc lên một loại cỏ, cỏ này theo tháng mà sinh trưởng, bắt đầu từ ngày
đầu tiên của một tháng, cứ mỗi ngày mọc ra một lá, đến ngày 15 được 15 lá. Qua
ngày 16, mỗi ngày lại rụng đi một lá cho đến cuối tháng thì rụng hết. Nhưng nếu
tháng đó là tháng thiếu, thì chiếc lá cuối cùng sẽ không rụng mà chỉ héo úa.
Nhân vì quy luật sinh trưởng của cỏ kì diệu, tượng trưng cho thiên hạ thái
bình, nên trong văn học thường dùng làm phù hiệu tường thuỵ ca tụng quân vương
nhân đức, quốc gia xương thịnh.
Trích
tinh 摘星: hái sao trên trời.
Tân
ti tân cốc 新絲新穀: tơ mới dệt, lúa mới gặt.
Hai
câu “Hoá chúc quân tâm mao ốc chiếu / Nguyện quân mạc chiếu ỷ la diên” 化爥君心茅屋照 /
願君莫照綺羅筵: điển xuất từ bài “Điền gia” 田家của Nhiếp Di Trung 聶夷中thời Đường:
Ngã nguyện quân vương tâm
Hoá tác quang minh chúc
Bất chiếu ỷ la diên
Chỉ chiếu đào vong ốc
我願君王心
化作光明爥
不照綺羅筵
只照逃亡屋
(Cầu mong lòng quân vương
Hoá thành ngọn đuốc sáng
Đừng soi nơi chiếu tiệc của người mặc lụa là gấm vóc
Mà nên soi nơi nhà của những người không có cái ăn đã bỏ đi tìm cái ăn)
Tạm dịch
NHÂN ĐỌC THƠ CỔ MÀ VIẾT THÀNH
Xưa nay người mặc áo tơi đội nón là vốn là dân đen
Họ lúc nào cũng ngẩng đầu lên trông mong vua sáng
tôi hiền
Lúa mạch một nhánh mà trổ hai bông, vui những ngày của
Đế Thuấn
Nơi sân đài cỏ lịch mọc lên, mừng những ngày của Đế
Nghiêu
Nhưng việc đó thấy khó như hái sao trên trời
Như trong giấc mộng được lên tiên
Cày bừa gian khổ
Ruộng chẳng bỏ hoang
Thế mà có tơ mới dệt có lúa mới gặt nhưng giữ lại
không được
Cái lạnh cái đói năm nào cũng quấn luôn bên thân
Mong lòng vua hoá thành ngọn đuốc sáng rọi nơi gian
nhà cỏ
Đừng rọi nơi chiếu tiệc của những kẻ mặc lụa là gấm
vóc
