KHẤT CÁI VÀ THÍ CHỦ
Xưa nay trong và ngoài nước đều có “khất cái” 乞丐 (người ăn xin), nhiệm vụ chủ yếu của khất cái là làm sao cho
bụng được no, nhưng cũng có trường hợp ngoại lệ. Như cuối triều Thanh có “nghĩa
cái” 义丐 tên Vũ Huấn 武训, ông chính là một người
ăn xin mà ai ai cũng kính trọng. Mục đích xin của ông là để xây trường học chấn
hưng giáo dục. Mọi người đều tưởng nhớ tới ông.
Trước đây, khất cái ở Trung Quốc có tương đối nhiều, hình
thành một hệ thống hoặc bang phái. Các nơi đều có tổ chức lớn nhỏ khác nhau, đồng
thời có lãnh đạo của họ, gọi là “Hoa tử đầu” 花头子 hoặc “Lâu tử đầu” 篓头子, có địa bàn riêng. Nguyên tắc của họ là, nói chung là xin chứ
không lấy cắp. Nếu như gặp phải người làm khó dễ, gây trở ngại, họ sẽ động viên
cả bang tĩnh toạ thị uy. Nhu sẽ thắng cương, họ luôn trở về trong thắng lợi.
Hình thức xin của khất cái không giống nhau. Có người men
theo đường phố để xin, gặp các đại gia đại nương cất tiếng than “Đáng thương! Đáng
thương!” Đây là loại khất cái không có bản lĩnh. Có người tay cầm miếng xương bò,
bên trên cột chiếc chuông nhỏ, khi xin vừa lắc vừa hát. Cũng có người bạo hơn,
tay cầm một con dao nhỏ bén nhọn, gặp một sạp bán hàng, con dao trong tay lắc
qua lắc lại ra vẻ như muốn chém. Nhìn chung chủ sạp vội cho tiền hoặc đồ vật
cho họ mau đi khỏi. Nếu chủ sạp không muốn cho, họ liền rạch nhẹ vào đùi của mình,
cho máu chảy ra, người ta xúm lại xem, điều này ảnh hưởng lớn đến việc buôn bán
của chủ sạp, cho nên chủ sạp không muốn thấy kết quả này. Cơ hội cho khất cái
loại này rất ít, chỉ là cần một sự uy hiếp. Lại còn có một loại chuyên dựa vào tiếng
riêng của nghề ăn xin, dựa vào tiếng lóng của bang mình mà xin. Những bang khất
cái lớn đều có tiếng riêng tiếng lóng riêng, nếu đối đáp chính xác, là người của
bang mình, ai đi đường nấy; nếu trả lời không được, thì xin lỗi, bạn phải tốn
chút phí.
Một một người ăn xin nọ đến trước một sạp hàng, đứng nói rằng:
-Bách niên bất ngộ, thuyền đáo mã đầu liễu.
百年不遇, 船到码头了.
(Trăm năm không gặp, thuyền đã tới bến rồi.)
Chủ sạp đáp rằng:
-Ngoại kháo trước.
外靠着
(Dựa vào bên ngoài đi)
Người ăn xin liền nói:
-Phao miêu liễu.
拋锚了
(Bỏ neo rồi)
Chủ sạp lại nói:
-Giá lí thị đồng bang thiết để nha!
这是铜帮铁底呀
(Đây là bang đồng đáy sắt đó!)
Người ăn xin nghe qua, không nói gì nữa, quay đầu bỏ đi.
Huỳnh Chương Hưng
Quy Nhơn 03/5/2026
Nguồn
CỰU NGỮ TÂN THUYẾT
旧语新说
Lưu Thanh Châu 刘清洲 biên soạn
Bắc Kinh: Đại Chúng văn nghệ xuất bản
xã, 1998
