CHỮ “NGUYÊN” 元 VÀ CHỮ “ĐÁN” 旦
Ngày đẩu tiên của một năm tại sao lại gọi là “nguyên đán” 元旦? Điều này phải bắt đầu nói từ hai chữ “nguyên” 元 và “đán” 旦.
1-NGUYÊN
Chữ 元 (nguyên) nghĩa gốc đồng với chữ 兀 (ngột). Chữ 兀 (ngột) trong cổ văn
kim văn giống như hình người đứng được nhìn nghiêng, đặc biệt là cường điệu cái
đầu, trên hình người đứng nhìn nghiêng dùng một điểm tròn thực thể biểu thị cho
cái đầu. Đó là sự khu biệt rõ nhất giữa chữ 兀 (ngột) và chữ 人 (nhân). Chữ 人 (nhân) chỉ là giống
hình cánh tay và bắp chân, chữ 兀 (ngột) nhiều hơn chữ 人 (nhân) một cái đầu.
Điều này hoàn toàn giống cấu hình của chữ 天 (thiên).
天 (thiên) cũng là chữ
大 (đại) hình người
chính diện thêm cái đầu. Cái đầu ở chữ 天 (thiên) trong giáp
cốt văn vẽ thành một hình vuông, giống như người máy, về sau diễn hoá thành nét
ngang, chính là chữ 天 (thiên) hiện nay.
Chữ 兀 (ngột) dùng để biểu
thị điểm tròn ở phần đầu, về sau cũng diễn hoá thành nét ngang, nhưng để đột xuất
chỉ rõ bộ phận đầu, người xưa đã thêm một nét ngang nữa ở trên, đây trở thành
chữ 元 (nguyên) mà chúng
ta thường thấy trong giáp cốt văn và kim văn. Sau khi biến đổi từ kiểu chữ lệ, hình
người đứng nghiêng lại diễn biến là 儿
(nhi), trở thành chữ 元
(nguyên) mà chúng ta hiện nay viết.
Trong “Nhĩ nhã – Thích hỗ hạ” 尔雅 - 释诂下có câu:
Nguyên, thủ dã.
元, 首也
(Nguyên là đầu vậy)
Cách
giải thích này chính là nghĩa gốc của 元 (nguyên).
Trong “Tả truyện – Hi Công tam thập
tam niên” 左传 - 僖公三十三年cũng có câu:
Địch nhân quy kì
nguyên, diện như sinh.
狄人归其元, 面如生
(Người Địch đem chiếc đầu đưa về nước Tấn,
sắc mặt chiếc đầu còn tươi như lúc còn sống)
Chữ 元 (nguyên) trong câu
này chính là ví dụ điển hình biểu thị cái đầu.
Trong “Thuyết văn” 说文, Hứa Thận 许慎 giải thích 元 (nguyên) là 始也 (thuỷ dã = bắt đầu), kì thực 始 (thuỷ) hoàn toàn không phải là nghĩa gốc, chỉ là nghĩa phái sinh. Đầu ở vào vị trí cao nhất trên thân thể, đo chiều cao bắt đầu từ “đầu”, con người khi sinh ra cũng là cái đầu ra trước, cho nên 始 (thuỷ) là nghĩa phái sinh từ nghĩa gốc của “đầu”.
2-ĐÁN
Chữ 旦 (đán) giống mặt trời
mọc ra, nhiều chữ 旦 (đán) trong giáp cốt
văn , bên trên vẽ một hình tròn giống như mặt trời, trong hình tròn thường thêm
một chấm hoặc một nét ngang ngắn, phía dưới là một hình vuông hoặc hình chữ nhật
tượng trưng cho mặt đất (điều này đã phản ánh quan niệm trời tròn đất vuông của
người xưa ở hình tượng của văn tự).
Chữ 旦 (đán) ở kim văn
trong tự hình tượng trưng cho trời và đất còn có một bộ phận nối liền lại, chính
là mô phỏng hình tượng mặt trời khi mới mọc ra hãy còn chưa rời khỏi mặt đất. Về
sau, mặt đất hình vuông giản hoá thành nét ngang, sau khi biến đổi từ kiếu chữ
lệ, trở thành chữ 旦 (đán) hiện nay.
Trong “Thuyết văn – Đán bộ” 说文 - 旦部có câu:
Đán, minh dã. Tùng
nhật hiện nhất thượng. Nhất, địa dã.
旦, 明也. 从日见一上; 一地也.
(Đán là sáng. Mặt
trời hiện trên nét ngang. Nét ngang là mặt đất.)
Đây chính là nghĩa gốc của 旦 (đán).
Cho nên, ý nghĩa của “nguyên đán” 元旦chính là lúc mặt trời
bắt đầu mọc ra sớm nhất, ngày đầu tiên. Từ khi có ghi chép về kỉ nguyên, nhân
loại lấy năm làm đơn vị để tính thời gian, thế là trong một năm, ngày đầu tiên
lúc mặt trời bắt đầu mọc ra được gọi là “nguyên đán” 元旦.
Ngày trước “nguyên đán” 元旦chỉ ngày mùng 1 tháng
Giêng theo lịch nhà Hạ, chính là hiện tại ngày tết năm mới theo nghĩa hẹp. Ngô
Tự Mục 吴自牧đời Tống trong “Mộng
lương lục – Chinh nguyệt” 梦梁录 - 正月có
viết:
Chinh nguyệt sóc
nhật.
正月朔日
Gọi đó là “nguyên đán” 元旦, tục gọi là “tân niên” 新年. “Sóc nhật” 朔日 chính là mùng 1. Nhưng hiện tại “nguyên đán” 元旦là chỉ ngày 1 tháng 1 dương lịch, tức “tân niên” của công lịch.
Huỳnh Chương Hưng
Quy nhơn 16/5/2026
Nguồn
HÁN TỰ LÍ ĐÍCH
TRUNG QUỐC
汉字里的中国
Tác giả: Trần Bích Diệu 陈璧耀
Thượng Hải: Thượng Hải Viễn đông xuất bản xã, 2017
