Câu đối: Hầu Điếm danh hàn, đồng quản hào tiêm tính kiện (HCH)

 

侯店名翰彤管毫尖性健

端溪寶石墨池色潤質堅

Hầu Điếm danh hàn, đồng quản hào tiêm tính kiện

Đoan Khê bảo thạch, mặc trì sắc nhuận chất kiên

Huỳnh Chương Hưng

Quy Nhơn 17/5/2026

Hầu điếm 侯店: tức thôn Hầu Điếm 侯店, thuộc thành phố Hành Thuỷ 衡水tỉnh Hà Bắc 河北Trung Quốc, nơi sản xuất bút lông nổi tiếng. Nghề làm bút nơi đây bắt đầu từ năm thứ 2 niên hiệu Vĩnh Lạc 永乐đời Minh, thịnh vào đời Thanh, có lịch sử cách nay hơn 500 năm. Đời Thanh bút lông nơi đây được định làm bút lông ngự dụng, hoàng đế Quang Tự 光绪 từng cho lập bia biểu dương nghề làm bút của thôn Hầu Điếm.

Hàn : vốn chỉ lông cánh chim dài mà cứng, ngày xưa lấy làm bút, cho nên “hàn” là bút, như “hàn mặc” 翰墨là bút mực.

Đồng quản 彤管: cổ xưng và nhã xưng của bút lông. “Đồng” là sắc đỏ. “quản” chi cây bút. Trong “Thi kinh – Bội phong – Tĩnh nữ” 诗經 - 邶風 - 靜女có câu:

靜女其戀

貽我彤管

Tĩnh nữ kì luyến

Di ngã đồng quản

(Cô gái xinh đẹp nhàn tĩnh

Tặng cho ta cây bút sắc đỏ)

Thời cổ Nữ sử trong hoàng cung hoặc một bộ phận quan viên sử dụng bút lông có cán màu đỏ. Câu “Nữ sử dồng quản” 女史彤管đại biểu cho chức trách của nữ sử quan nắm giữ việc ghi chép sự thực lịch sử trong cung.

Đời sau dùng “đồng quản” 彤管để chỉ bút, và cũng dùng để ca tụng mĩ đức và tài hoa của giới nữ.

Bốn đặc điểm lớn truyền thống của bút lông, đó là “viên, tề, tiêm, kiện”

-Viên : ngọn bút tròn lúc bút chấm no mực 

-Tề : khi đè ngọn bút, lông ở đầu bút đều không so le.

-Tiêm : bút khi nhấc lên, đầu bút thu nhọn lại.

-Kiện : bút sau khi đè xuống, lúc nhấc lên ngọn bút nhanh chóng trở lại hình dạng ban đầu, thể hiện tính đàn hồi mạnh.

Đoan Khê 端溪: thời cổ là Đoan Châu 端州, ở ngoại ô phía đông thành phố Triệu Khánh 肇庆tỉnh Quảng Đông 广东, nơi sản xuất nghiên mực nổi tiếng. Nghề làm nghiên nơi đây bắt đầu từ niên hiệu Vũ Đức 武德đời Đường Cao Tổ. Chất đá làm nghiên nơi đây ôn nhuận rắn chắc. Nghiên mực nơi đây được gọi là “Đoan nghiễn”

Mặc trì 墨池: Ao mực. Ở đây chỉ cái nghiên mực.

Mặc trì tại vùng Lâm Xuyên 临川thành phố Phủ Châu 抚州 tỉnh Giang Tây 江西, tương truyền đây là nơi mà đại thư pháp gia Vương Hi Chi 王羲之đời Tấn rửa bút nghiên sau khi tập viết, lâu ngày nước trong ao đen như mực nên có tên như thế. Tăng Củng 曾巩 đời Tống rất hâm mộ danh tiếng của Vương Hi Chi nên vào tháng 9 năm Khánh Lịch 庆历 thứ 8 (năm 1049), Tăng Củng đến thăm di tích “Mặc trì”. Quan giáo thụ Vương Thạnh 王盛 nhờ ông viết một bài kí. Tăng Củng căn cứ vào dật sự của Vương Hi Chi viết ra thiên tản văn nổi tiếng “Mặc trì kí” 墨池记. Gọi là “Mặc trì kí”, nhãn tự không phải ở chữ “trì” mà là ở chỗ xiển thuật đạo lí thành tựu không phải là do trời ban cho mà ở chỗ khắc khổ chuyên cần học tập, lấy đó để khuyến khích người học cố gắng phấn đấu.

          “Mặc trì” 墨池ngoài ý nghĩa là nơi Vương Hi Chi rửa bút nghiên ra, còn có những nghĩa như sau:

          - Chỉ cái nghiên mực.

          - Chỉ nơi luyện tập thư pháp.

          - Lúc chế tạo bút lông, lấy loại “dương thanh mao” 羊青毛 cho vào lớp trong cùng làm thành “mặc trì” dùng để hút mực.       

https://baike.baidu.com/item/%E5%A2%A8%E6%B1%A0/5835474

Previous Post Next Post