留春令
綠深紅淺
去鶯飛燕
南陸開初雨
水上荷錢點青青
岸邊柳飄烟縷
石榴牆頭紅火聚
粉蝶黄三五
枝上輕輕杜鵑啼
暮春去留難住
LƯU XUÂN LỆNH
Lục
thâm hồng thiển
Khứ
oanh phi yến
Nam lục
khai sơ vũ
Thuỷ
thượng hà tiền điểm thanh thanh
Ngạn biên liễu, phiêu yên lũ
Thạch
lựu tường đầu hồng hoả tụ
Phấn
điệp hoàng tam ngũ
Chi
thượng khinh khinh đỗ quyên đề
Mộ xuân khứ, lưu nan trú.
Huỳnh
Chương Hưng
Quy Nhơn 09/4/2026
Lục
thâm hồng thiển 綠深紅淺: tức “màu xanh rậm rạp, màu hồng
thưa thớt”, ý nói thời gian đã vào lúc cuối xuân đầu hạ. Cuối xuân hoa còn lại
thưa thớt, đầu hạ cành lá đã rậm rạp. Mượn ý từ câu trong bài Mộ xuân Sản
thuỷ tống biệt 暮春滻水送别
của Hàn Tông 韩琮 thời
Đường:
绿暗红稀出凤城
暮云楼阁古今情
行人莫听宫前水
流尽年光是此声
Lục ám hồng hi xuất Phụng thành
Mộ vân lâu các cổ kim tình
Hành nhân mạc thính cung tiền thuỷ
Lưu tận niên quang thị thử thanh
(Đương lúc lá xanh đã rậm, hoa xuân đã
thưa, rời khỏi Kinh thành
Mây chiều sà xuống nơi lầu các, ẩn chứa
biết bao tình cảm u buồn xưa nay
Người đi xa chớ có nghe tiếng nước chảy ở
trước cung
Bởi vì làm trôi hết năm tháng chốn nhân
gian chính là tiếng đó)
https://baike.baidu.com/item/%E6%9A%AE%E6%98%A5%E6%B5%90%E6%B0%B4%E9%80%81%E5%88%AB
Câu
370 “thưa hồng rậm lục” trong “Truyện Kiều”, Nguyễn Du đã dịch từ cụm “lục ám hồng
hi” này.
Lần lần, ngày gió đêm trăng
Thưa hồng rậm lục đã chừng xuân qua
(“Truyện Kiều” 369 – 370)
Nam
lục 南陸: chỉ
mùa hạ hoặc phương nam. Mặt trời đi đến khu vực 7 sao ở phương nam gọi là “nam
lục”, ứng với mùa hạ. Trong “Hậu Hán thư – Luật lịch chí hạ” 后汉书 - 律历志下có câu:
Nhật
hành nam lục vị chi hạ.
日行南陸谓之夏
(Mặt
trời đi đến “nam lục” (khu vực phương nam) gọi là hạ)
Hà
tiền 荷錢: lá
sen non mới mọc ra có hình dạng giống tiền đồng nên được gọi là “hà tiền”. Triệu Trường Khanh 赵长卿 đời Tống trong bài Triều trung thố 朝中措có câu:
Hà tiền phù thuý điểm tiền khê
Mai vũ nhật trường thời
荷钱浮翠点前溪
梅雨日长时
(Lá sen non nổi xanh trên mặt nước
điểm xuyết cho khe suối phía trước
Mưa mai lúc ngày Hạ chí)
Uông Dương 汪洋 trong bài Tây hồ tức sự 西湖即事 cũng có viết:
Thạch lan nhiễu thuỷ tự thê
thanh
Kỉ điểm hà tiền nhậm ý sinh
石栏绕水自凄清
几点荷钱任意生
(Lan can đá quanh hồ nước mang vẻ
u buồn
Mấy lá sen non mặc tình mọc lên
điểm xuyết)
Và Lí Ngư 李渔 đời Minh trong bài Nhàn tình ngẫu kí – Phù cừ 闲情偶记 - 芙蕖:
Tự hà tiền xuất thuỷ chi nhật, tiện vi điểm xuyết lục ba. Cập kì
hành diệp kí sinh, tắc hựu nhật cao nhất nhật, nhật thướng nhất nghiên...
自荷钱出水之日, 便为点缀绿波. 及其茎叶既生, 则又日高一日, 日上日妍.
(Từ ngày lá sen non mọc lên trên
mặt nước, nó đã điểm xuyết cho sóng nước xanh. Đến khi cuống và lá lớn lên, nó
càng ngày càng cao, mỗi ngày mọc vươn lên nó càng ngày càng đẹp ...)
http://www.zaoju6.com/%E8%8D%B7%E9%92%B1_ci/
Trong “Chinh phụ ngâm” bản chữ Hán của Đặng Trần
Côn, câu 169 là:
Bất giác hà tiền dĩ tam chú
不覺荷錢已三鑄
(Bất giác lá sen non đã ba lần mọc
lên)
bản diễn
Nôm của Vân Bình Tôn Thất Lương, nxb Tân Việt, in năm 1953 là:
TIỀN sen này đã nảy là ba.
Yên
lũ 烟縷: sợi
khói. Vốn chỉ làn khói kéo dài không dứt nhẹ nhàng bay lên, được mượn dùng chỉ
khói bếp, cũng được dùng để chỉ nhành liễu non mềm mại phất phơ, nhìn giống như
sợi khói.
Thạch
lựu tường đầu hồng hoả tụ 石榴牆頭紅火聚: mượn
ý từ câu 1308 trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du:
Dưới
trăng quyên đã gọi hè
Đầu tường lửa lựu
lập loè đâm bông
(1307 – 1308)
Tạm dịch
Sắc
xanh đã rậm, sắc hồng đã thưa
Chim
oanh chim yến bay đi mất
Hạ đến,
có cơn mưa đầu mùa
Trên mặt
nước, tiền sen điểm xanh xanh
Hàng liễu bên bờ, nhành non phơ phất như sợi khói
Thạch
lựu nơi đầu tường trổ hoa sắc đỏ
Bướm
vàng bay lại năm ba con
Chim đỗ
quyên trên cành khẽ khàng gọi hạ
Cuối
xuân qua đi, níu giữ lại không được.
