揚鞭催馬
青青草野
揚鞭催馬
撲面春風
馬脚天空
隨飛粉蝶
千重跋涉
背後長途
荊棘乾枯
陽光燦爛金烏
藍天黄麥基圖又春
DƯƠNG TIÊN THÔI MÃ
Thanh thanh thảo dã
Dương tiên thôi mã
Phác diện xuân phong
Mã cước thiên không
Tuỳ phi phấn điệp
Thiên trùng bạt thiệp
Bối hậu trường đồ
Kinh cức can khô
Dương quang xán lạn kim ô
Lam thiên hoàng mạch cơ đồ hựu xuân
Huỳnh Chương Hưng
Quy Nhơn 10/3/2026
Phác
diện 撲面: (gió) phả vào mặt.
Hai
câu
Mã cước thiên không. Tuỳ phi phấn điệp”
馬脚天空. 隨飛粉蝶
mượn ý từ câu thứ 4 “Đạp
hoa quy khứ mã đề hương” 踏花歸去馬蹄香 trong
bài thơ thất ngôn bát cú được thấy trong “Cổ kim từ thoại” 古今詞話của Dương Thực 楊湜 thời Nam Tống mà tác giả của
bài thơ còn nhiều tranh nghị. Hai câu 3, 4 là:
Phất thạch toạ lai sam tụ lãnh
Đạp hoa quy khứ mã đề hương
拂石坐來衫袖冷
踏花歸去馬蹄香
(Phủi đá ngồi xuống, tay áo hãy còn hơi lạnh
Ngựa giẫm lên hoa lúc quay trở về, vó đầy cả mùi
thơm)
Tương truyền câu thơ đó có nguồn gốc từ điển cố lịch sử thời
Bắc Tống. Tồng Huy Tông Triệu Cát 宋徽宗趙佶 đã ra
câu thơ “Đạp hoa quy khứ mã đề hương” làm đề thi để khảo hạch các hoạ
gia, đa số hoạ gia đã miêu hoạ cụ thể, duy nhất chỉ có một người vẽ một đàn bướm
bay quanh vó ngựa để biểu hiện mùi hương, và người này được chọn đỗ đầu. Bức
tranh thông qua thủ pháp dùng thị giác chuyển hoá thành khứu giác, trở thành
hình tượng trừu tượng hoá trong sáng tác nghệ thuật.
Bạt
thiệp 跋涉: tức
“bạt sơn thiệp thuỷ” 跋山涉水trèo non lội suối, hình dung đường dài gian nan vất vả.
Kinh cức 荊棘: bụi gai.Trong văn học thường mượn dùng để chỉ gian nan hiểm trở, cảnh ngộ tao loạn hoặc tiểu nhân gian nịnh.
Tạm dịch
VUNG ROI GIỤC NGỰA
Đồng cỏ xanh xanh
Vung roi giục ngựa
Gió xuân thổi đến
Vó ngựa tung cao
Đàn bướm bay theo
Muôn trùng gian khó
Bỏ lại sau lưng
Gai góc héo khô
Rồi đây xán lạn vầng ô
Xanh trời vàng lúa cơ đồ vào xuân.
