Dịch thuật: Thảo thánh Trương Húc

THẢO THÁNH TRƯƠNG HÚC

          Trương Húc 张旭 (không rõ năm sinh năm mất), tự Bá Cao 伯高, người huyện Ngô Tô Châu 苏州 (nay thuộc Giang Tô 江苏 ), làm quan tới chức Kim ngô trưởng sử 金吾长史, là thư pháp gia nổi tiếng triều Đường.

          Thư pháp, là môn nghệ thuật đặc hữu của Trung Quốc, trong lịch sử đã sản sinh nhiều thư pháp gia, để lại nhiều tác phẩm nghệ thuật thư pháp. Ngoài Âu Dương Tuân 欧阳询, Ngu Thế Nam 虞世南, Chử Toại Lương 褚遂良, Tiết Tắc 薛稷, còn có Lục Giản Chi 陆柬之, Tôn Quá Đình 孙过庭, Lí Ung 李邕và Trương Húc 张旭 đều là đại thư pháp gia tiền kì đời Đường. Có người sở trường khải thư, có người sở trường hành thư, có người sở trường thảo thư, trên cơ sở kế thừa nghệ thuật pháp của tiền bối, họ còn có những sáng tạo riêng.

          Trương Húc thích uống rượu, mỗi lần uống, ông uống đến độ say mèm, thường la hét, sau đó vung bút viết thật nhanh, thậm chí dùng cả tóc nhúng mực để viết. Sau khi tỉnh rượu, ông nhìn lại chữ của mình đã viết, nhìn đến độ nhập thần, nhưng nếu bảo viết lại thì không thể nào viết được như trước, cho nên người ta gọi ông là “Trương điên” 张颠.

          Trương Húc từng làm qua một chức quan nhỏ tại huyện Thường Thục 常熟. Một lần nọ, trong huyện có một ông lão cầm văn thư đến nhờ Trương Húc viết cho ông mấy câu phán từ. Vô duyên vô cớ bảo Trương Húc viết phán từ, ông không viết. Qua hôm sau, ông lão đó lại đến. Trương Húc cho rằng ông lão chẳng có việc gì đến tìm lấy việc, hay là không bằng lòng viết thì hơn. Ông lão nói rằng:

          Tôi đã xem chữ của ông, vô cùng thích, cho nên muốn nhờ ông viết cho mấy câu phán từ để xem như bảo vật mang về nhà cất giữ.

          Trương Húc nghe qua, biết ông lão là người yêu thích thư pháp, liền hỏi trong nhà đã cất giữ những tác phẩm nào. Ông lão trở về lấy những tác phẩm thư pháp của phụ thân ông đang lưu giữ đem cho Trương Húc xem. Trương Húc xem qua, quả là bút pháp thần kì. Trương Húc vô cùng vui mừng, bèn khẩn khoản xin ông lão cho giữ lại những bức thư pháp đó, tự mình ngày đêm nghiền ngẫm tập viết theo, những bút pháp kì diệu đó ông đã học được, khiến nghệ thuật thư pháp của ông đạt đến trình độ “lô hoả thuần thanh” 炉火纯青 (lửa lò đã thuần một sắc xanh, ý nói đã thành thục). Về sau, Đường Văn Tông 唐文宗 đem thơ của Lí Bạch 李白, kiếm pháp của Bùi Mân 裴旻và thảo thư của Trương Húc 张旭 gọi chung là “Đường đại tam tuyệt” 唐代三绝 (đương thời cũng có người đem kiếm pháp của Búi Mân 裴旻, thảo thư của Trương Húc 张旭 và tranh của Ngô Đạo Tử 吴道子gọi là ‘tam tuyệt”). Đỗ Phủ 杜甫 từng viết qua bài thơ “Ẩm trung bát tiên ca” 饮中八仙歌, có ba câu trong đó chính là miêu tả Trương Húc không chịu câu thúc, khí thế vung bút viết chữ:

Trương Húc tam bôi thảo thánh truyền

Thoát mạo lộ đính vương công tiền

Huy hào lạc chỉ như vân yên

张旭三杯草圣传

脫帽露顶王公前

挥毫落纸如云烟

(Trương Húc uống ba chén rượu mà nổi danh là thảo thánh

Cởi mũ để đầu trần trước mặt vương công

Vung bút viết xuống giấy nhẹ nhàng như mây khói)

          Trương Húc viết chữ, đặc biệt giỏi ở chỗ học tập. Ông không những giỏi học những sở trường của tiền nhân đã viết, mà còn giỏi ở chỗ học tập từ trong cuộc sống. Có một lần, Trương Húc trên đường thấy hai người đang gánh đồ, nhân vì tranh cãi nhau, cả hai ẩu đả, níu chặt đối phương không buông, hình thành một bức tranh tuyệt diệu. Trương Húc nhìn qua, cảm thấy tư thế của họ rất đẹp, liền đem những động tác đó dung nhập vào kết cấu trong tự thể thảo thư. Một lần khác, ông thấy đại vũ đạo gia Tôn Đại Nương 孙大娘múa kiếm, nhìn thấy tư thế ưu mĩ của bà, tư thế kinh tâm động phách, Trương Húc ngẩn ngơ. Thế là ông lại đem thần vận của vũ đạo đó đưa vào trong thư pháp.

          Trương Húc tuy nổi tiếng về thảo thư, nhưng ông còn tinh thông về khải thể. Chữ ông viết không phải là thảo thư thông thường, mà được xưng là “cuồng thảo” 狂草. Như thế nào là “cuồng thảo”? Đó là thế bút của chữ phóng túng, đường nét nối liên miên, tự hình luôn biến hoá, nhưng lại rất có chương pháp. Ông thường dùng thư pháp để biểu đạt tình cảm tư tưởng của mình. Đại văn học gia Hàn Dũ 韩愈 từng trong một bài văn đã viết rằng:

          Trương Húc giỏi về thảo thư, những hỉ nộ, ưu bi, đau buồn, vui sướng, oán hận, mến mộ, bất bình của ông, phàm thuộc nội tâm sở cảm, tất định sẽ bộc phát ra ở thư pháp.

          Trương Húc 张旭 và Hoài Tố 怀素 (“cuồng thảo” thư pháp gia) đã đưa thảo thư lên một cảnh giới mới, có cống hiến trác việt đối với sự phát triển của nghệ thuật thư pháp.

Huỳnh Chương Hưng

Quy Nhơn 02/03/2026

Nguồn

TĂNG QUẢNG HIỀN VĂN

增广贤文

Thanh . Chu Hi Đào 周希陶  tu đính

Nam Kinh: Giang Tô Phụng Hoàng mĩ thuật xuất bản xã. 2015 

Previous Post Next Post