Dịch thuật: Thái giám - Hoạn quan

 

THÁI GIÁM – HOẠN QUAN

          Trong khái niệm của chúng ta hiện nay, nhìn chung đa phần đều cho rằng “thái giám” 太监 là “hoạn quan” 宦官, cả hai là một. Kì thực không phải như thế, xưng vị “thái giám” có muộn hơn “hoạn quan”, vả lại lúc ban đầu cũng khác với “hoạn quan”. Gần đây có bộ phim truyền hình gọi Triệu Cao 赵高là “thái giám” là không thích hợp, triều Tần chưa có xưng vị “thái giám”. Lại có nhà phê bình văn chương nói rằng xưng vị ‘thái giám” bắt đầu từ thời Đường, cũng không thích hợp lắm. Riêng nhìn từ xưng vị “hoạn quan”, người đời nay đa phần cũng có người cho rằng chính là “yêm nhân” 阉人 (con trai bị thiến sinh thực khí), đó cũng là sự giải thích sai lầm.

          Tập tục dùng “yêm nhân” 阉人để hầu hạ đế vương cùng gia tộc, đại để bắt đầu từ thời Thương Chu, lúc bấy giờ đã có “yêm nhân” gọi là “tự nhân” 寺人. Ý nghĩa của chữ (tự) là (thị = hầu hạ), “tự nhân” 寺人 chính là người bị thiến hầu hạ quân vương, tức gọi là “tiểu thần” 小臣, thời Chiến Quốc còn gọi là “hoạn giả” 宦者, thời Tần Hán đổi gọi là “hoạn quan” 宦官.

          Theo cách nói của Hứa Thận 许慎, ý nghĩa của “hoạn” là “sĩ” , có bộ (miên) và chữ (thần), Đoàn Ngọc Tài 段玉裁 chú giải là “học quan sự” 学官事, tức học làm quan, nhưng kì thực đó là nghĩa phái sinh, nghĩa ban đầu là nô bộc trong nhà, tức làm nô bộc trong nhà quý tộc, nhân vì ý nghĩa (thần) là khuất phục cúi đầu. Về sau mới phái sinh nghĩa làm quan, chính là dùng chung với chữ (quan) gọi là “quan hoạn” 官宦, rồi dùng từ “hoạn quan” 宦官đã  đảo trật tự để chỉ ‘yêm nhân”. Chỉ có điểu xưng vị “hoạn quan”, trước thời Đông Hán cũng chưa phải đều là “yêm nhân”, như trong “Hậu Hán thư – Hoạn giả truyện tự” 后汉书 - 宦者传序có nói:

         Hán hưng, nhưng tập Tần chế, chế Trung thường thị quan, nhiên diệc dẫn dụng sĩ nhân ….. Trung hưng chi sơ, hoạn quan tất dụng yêm nhân, bất phức tạp điều tha sĩ.

          汉兴, 仍袭秦制, 制中常侍官, 然亦引用士人 ….. 中兴之初, 宦官悉用阉人, 不复杂调它士.

          (Nhà Hán hưng thịnh, vẫn theo chế độ triều Tần, đặt Trung thường thị quan, nhưng cũng dùng sĩ nhân …. Đầu thời trung hưng, hoạn quan hết thảy dùng “yêm nhân”, không điều kẻ sĩ khác để thêm phức tạp)

          “Trung thường thị quan” 中常侍官 ở đây là hoạn quan, đầu thời Hán hưng thịnh “diệc dẫn dụng sĩ nhân” 亦引用士人 (cũng dùng sĩ nhân). Trong “Hán thư – Bách quan công khanh biểu” 汉书 - 百官公卿表 cũng nói, hầu hạ hoàng hậu là Đại trường thu 大长秋  “hoặc dụng trung nhân (yêm nhân), hoặc dụng sĩ nhân” 或用中人 (阉人), 或用士人. Có thể thấy lúc bấy giờ hoạn quan hoàn toàn không phải đều là “yêm nhân”. Hoạn quan “tất dụng yêm nhân” 悉用阉人 (hết thảy dùng yêm nhân) là sự việc sau khi Hán Quang Vũ 汉光武 trung hưng (năm 25), cho nên hoạn quan lúc ban đầu hoàn toàn không phải đều là yêm nhân.

          Hiện tại hoạn quan nhìn chung đều gọi là “thái giám” 太监, chỉ có điều xưng vị “thái giám” bắt đầu thừ lúc nào, trước mắt cũng có nhiều thuyết khác nhau.

          Thuyết tương đối đông cho rằng bắt đầu từ triều Đường, nhưng trong mục “Chức quan chí” 职官志“Hoạn quan truyện” 宦官传trong Tân và Cựu “Đường thư” đều không thấy quan xưng “Thái giám” 太监, chỉ có “giám” (như Nội yết giả giám 内谒者监), Thiếu giám 少监 (như Điện trung Thiếu giám 殿中少监) và Đại giám 大监 (như Trung ngự Đại giám 中御大监), chính là không có “Thái giám” 太监, mà những “giám “ đó đại đa số cũng không phải là hoạn quan. Cho nên, thuyết cho rằng từ “Thái giám” 太监bắt đầu từ đời Đường cần phải bàn lại.

          Chữ (giám) phồn thể là , đây là chữ hội ý, hội ý nghĩa soi khuôn mặt của mình nơi mặt nước trong chậu, dẫn đến ý nghĩa khảo sát, đốc sát và chủ quản. Trước đời Tuỳ từng lấy “giám” làm quan danh, như trong “Sử kí – Ngũ Đế bản kỉ” 史记 - 五帝本纪 có nói Hoàng Đế 黄帝 “trí tả hữu Đại giám” 置左右大监 (đặt tả hữu Đại giám), trong “Tần Thuỷ Hoàng bản kỉ” 秦始皇本纪 có nói “quận trí Thú, Uý, Giám” 郡置守, , (cấp quận đặt quan Thú, quan Uý, quan Giám), trong “Lí tướng quân liệt truyện” 李将军列传 có nói Lí Lăng 李陵 “thiên vi Kiến Chương giám” 为建章监 (đổi làm Kiến Chương giám) v.v… Sau thời Dượng Đế 炀帝, “giám” bắt đầu trở thành danh xưng cơ cấu của chính phủ, như Trường thu giám 长秋监, Thiếu phủ giám 少府监, Quốc tử giám 国子监, Tương tác giám 将作监, Đô thuỷ giám 都水监… trong đó Trường thu giám 长秋监chính là cơ cấu hoạn quan, là đổi tên của “Nội thị sảnh” 内侍省. … (còn tiếp)

Huỳnh Chương Hưng

Quy nhơn 16/3/2026

Nguồn

HÁN TỰ LÍ ĐÍCH TRUNG QUỐC

汉字里的中国

Tác giả: Trần Bích Diệu 陈璧耀

Thượng Hải: Thượng Hải Viễn đông xuất bản xã, 2017

Previous Post Next Post