Dịch thuật: Chữ "hào / hiệu" 號 trong Hán ngữ cổ (Vương Lực) (tiếp theo)

 

CHỮ “HÀO / HIỆU” TRONG HÁN NGỮ CỔ

(tiếp theo)

3-HIỆU (HẠO) (bính âm hào)

          Danh xưng. Trong “Trang Tử - Biền mẫu” 莊子 - 駢拇:

Sự nghiệp bất đồng, danh thanh dị hiệu.

事業不同, 名聲異號

(Sự nghiệp khác nhau, danh thanh cũng khác nhau)

          Trong “Tuân Tử - Phú thiên” 荀子 - 賦篇:

Danh hiệu bất mĩ.

名號不美

(Danh hiệu không đẹp)

          Trong “Sử kí – Ngũ Đế bản kỉ” 史記 - 五帝本紀:

Giai đồng tính nhi dị kì quốc hiệu.

皆同姓而異其國號

(Đều cùng họ nhưng khác quốc hiệu)

          Dẫn đến nghĩa danh hiệu thể hiện “công đức”. Đế vương lúc sống có tôn hiệu, khi mất có thuỵ hiệu. Ban Cố 班固trong “Điển dẫn” 典引có viết:

Quyết hữu thị hiệu.

厥有氏號

(Họ có xưng hiệu thị tộc riêng)

          Trong “Sử kí – Tần Thuỷ Hoàng bản kỉ” 史記 - 秦始皇本紀 có câu:

Trẫm văn thái cổ hữu hiệu vô thuỵ.

朕聞太古有毋謚號

(Ta nghe thời cổ có hiệu mà không có thuỵ)

(chữ (vô) thông với chữ này).

          Còn có nghĩa là biệt hiệu (nghĩa hậu khởi). Người xưa ngoài danh còn có tự, ngoài tự còn có hiệu. Trong “Ngũ Liễu tiên sinh truyện” 五柳先生傳của Đào Tiềm 陶潛có câu:

Trạch biên hữu ngũ liễu thụ, nhân dĩ vi hiệu yên.

宅邊有五柳樹因以爲號焉

(Cạnh nhà có năm cây liễu, nhân đó mà lấy làm hiệu)

          Và như Bạch Cư Dị 白居易tự Lạc Thiên 樂天, hiệu Hương Sơn cư sĩ 香山居士.

          Tô Thức 蘇軾tự Tử Chiêm 子瞻, hiệu Đông Pha cư sĩ 東坡居士.

          Lục Du 陸游 tự Vụ Quan 務觀, hiệu Phóng Ông 放翁.

          Tân Khí Tật 辛棄疾tự Ấu An 幼安, hiệu Giá Hiên 稼軒.

          Lại dẫn đến nghĩa được người khác gọi. Hàn Dũ 韓愈trong “Liễu Tử Hậu mộ chí minh” 柳子厚墓誌鳴 đã viết:

Hiệu vi Cương Trực.

號爲剛直

(Hiệu là Cương Trực)

          Tôn Tiều 孫樵 trong “Thư Bao Thành dịch bích” 書褒城驛壁đã viết:

Bao Thành dịch hiệu Thiên hạ đệ nhất.

褒城驛號天下第一

(Bảo Thành dịch có hiệu là “Thiên hạ đệ nhất”)

Phân biệt chữ (khốc) với (khấp) (hào) (đề)

          “Khốc” là khóc thành tiếng và có nước mắt.

          “Khấp” là khóc không ra tiếng nhưng có nước mắt (khóc nức nở, tiếng khóc phát ra rất nhỏ, tức gọi là “ô yết” 嗚咽)

          “Hào” là khóc mà nói.

          “Đề” là khóc một cách đau đớn.

          Về sau, ba chữ “đề , hào , khốc ” dần dần không có sự phân biệt.

                                                                                    (hết)

Huỳnh Chương Hưng

Quy Nhơn 24/3/2026

Nguyên tác Trung văn trong

CỔ ĐẠI HÁN NGỮ

古代漢語

(tập 4)

Chủ biên: Vương Lực 王力

Trung Hoa thư cục, 1998.

Previous Post Next Post