Dịch thuật: Chữ "hào / hiệu" 號 trong Hán ngữ cổ (Vương Lực)

 

CHỮ “HÀO / HIỆU” TRONG HÁN NGỮ CỔ 

1-HÀO (bính âm háo)

          Lớn tiếng kêu gào.

          Trong “Thi kinh” 詩經phần Tiểu nhã 小雅ở bài “Tân chi sơ diên” 賓之初筵 có câu:

Tái hào tái nao

載號載呶

(Vừa kêu vừa gào)

(nao: bính âm náo có nghĩa là ồn áo)

          Và trong bài “Bắc sơn” 北山

Hoặc bất tri khiếu hào

或不知叫號

(Có kẻ không biết kêu gào)

          Dẫn đến nghĩa khóc người mất, đặc chỉ khóc mà nói. Trong “Trang Tử - Dưỡng sinh chủ” 莊子 - 養生主có câu:

Lão Đam tử, Tần Thất điếu chi, tam hào nhi xuất.

老聃死秦失弔之三號而出

(Lão Đam mất, Tần Thất đến điều viếng, kêu khóc ba lần rồi bước ra)

          Trong “Hán thư – Lưu Hướng truyện” 漢書 - 劉向傳

Cốt nhục quy phục ư thổ, mệnh dã.

骨肉歸復於土

(Cốt nhục đã trở về với đất, số mệnh vậy)

          Dẫn đến nghĩa cất tiếng khóc to. Hàn Dũ 韓愈trong “Tiến học giải” 進學解đã viết:

Đông noãn nhi nhi hào hàn.

冬暖而兒號寒

(Mùa đông ấm mà trẻ kêu khóc lạnh)

    Lại dùng để ví gió nổi lên. Phạm Trọng Yêm 笵仲淹trong “ Nhạc Dương lâu kí” 岳陽樓記có viết:

Âm phong nộ hào

陰風怒號

(Gió buốt gào thét)

          “Hào đào” 號咷 từ điệp vận, cất tiếng khóc to. Trong “Kinh Dịch” ở quẻ “Đồng nhân” 同人có câu:

Đồng nhân tiên hào đào nhi hậu tiếu.

同人先號咷而後笑

(Hoà đồng với mọi người, trước tiên gào khóc sau đó mới vui cười)

          Và Đỗ Phủ 杜甫trong bài “Tự kinh phó Phụng Tiên huyện vịnh hoài thi” 自京赴奉先縣詠懷詩 đã viết:

Nhập môn văn hào đào.

入門聞號咷

(Vừa bước vào cửa đã nghe thấy tiếng gào khóc)

2-HIỆU (HẠO) (bính âm hào)

          Hiệu lệnh, hiệu biểu mệnh lệnh. Trong “Trang Tử - Điền Tử Phương” 莊子 - 田子方có câu:

Hà bất hiệu ư quốc trung.

何不號於國中

(Sao không ra hiệu lệnh trong nước)

          Trong “Nghị binh” 議兵của Tuân Tử 荀子:

Cố chế hiệu chính lệnh dục nghiêm dĩ uy.

故制號政令欲嚴以威

(Cho nên đặt hiệu chính lệnh, muốn được nghiêm phải dùng uy)

          Về ý nghĩa ở đây, thường dùng “hiệu lệnh” 號令hai chữ đi liền nhau. Trong “Quốc ngữ - Việt ngữ” 國語 - 越語có câu:

Nãi hiệu lệnh ư tam quân.

乃號令於三軍

(Bèn ra hiệu lệnh với ba quân)

                                                                                           (còn tiếp)

Chú của người dịch

Chữ trong “Khang Hi tự điển” 康煕字典 có chép:

1-“Đường Vận” 唐韻, “Chính vận” 正韻phiên thiết là Hồ Đao 胡刀

          “Tập vận” 集韻 phiên thiết là Hồ Đao 乎刀

          Bính âm là “háo”, âm Hán Việt là “Hào”

Đều có âm là (hào), có nghĩa là kêu lớn.

2-“Quảng vận” 廣韻phiên thiết là Hồ Đáo 胡到, âm đọc là (hạo / hiệu) với nghĩa là danh hiệu, hiệu lệnh, hiệu triệu.

          Bính âm là “hào”, như vậy âm Hán Việt là “Hạo”, nhưng ta quen đọc là “Hiệu”.

          Như tác giả bài “Hoàng Hạc lâu” 黄鶴樓là Thôi Hạo 崔顥, bính âm là Cuī Hào, cũng đọc là “Thôi Hiệu”.

    Và còn có “diêu / dao”, “điều / đào”, “kiếu / cáo”, “hiếu / háo”,  “triều / trào” …

Huỳnh Chương Hưng

Quy Nhơn 23/3/2026

Nguyên tác Trung văn trong

CỔ ĐẠI HÁN NGỮ

古代漢語

(tập 4)

Chủ biên: Vương Lực 王力

Trung Hoa thư cục, 1998.

Previous Post Next Post