桂影傾搖清夜嫦娥奔玉兔
桃林怒放炎天夸父逐金烏
Quế ảnh
khuynh dao, thanh dạ Thường Nga bôn ngọc thố
Đào lâm nộ phóng, viêm thiên Khoa Phủ trục kim ô
Huỳnh
Chương Hưng
Quy Nhơn 31/3/2026
Quế
ảnh 桂影: bóng
quế. Tương truyền trên cung trăng có cây quế.
Ngọc
thố 玉兔: biệt
xưng của mặt trăng.
Kim
ô 金烏: biệt
xưng của mặt trời.
Vế trên: điển
xuất từ truyền thuyết thần thoại “Thường Nga bôn nguyệt” 嫦娥奔月(Thường Nga bay lên mặt trăng).
Tương
truyền thời viễn cổ, một năm nọ trên trời xuất hiện 10 mặt trời, 10 mặt
trời này đều là con của Thiên đế, chúng rất thích vui đùa trên không trung,
nướng mặt đất bốc khói, biển khô cạn, bách tính không có cách nào để sinh sống.
Sự kiện đó làm Thiên đế kinh động, Thiên đế sai anh hùng Hậu Nghệ 后羿 doạ
10 đứa con để chúng sợ, nhân tiện tiêu diệt loài cầm thú hoành hành.
Hậu Nghệ dẫn người vợ xinh đẹp là Thường Nga 嫦娥 (1) xuống
hạ giới, nhìn thấy cả ngàn dặm khô cháy, khắp nơi trên mặt đất đầy xương khô,
nghe được những lời nguyền rủa của bách tính đối với mặt trời. Hậu Nghệ tức
giận lắp tên giương cung muốn bắn, nhưng 10 mặt trời không sợ vẫn thản nhiên
vui đùa. Hậu Nghệ lửa giận bốc cao ba ngàn trượng, vận thần lực, kéo căng thần
cung, dùng tài nghệ bình sinh của mình bắn liền mấy phát, rụng 9 mặt trời.
Hậu Nghệ lập được công lớn được bách tính tôn kính và yêu mến, nhưng giết con
của Thiên đế, Thiên đế trách tội Hậu Nghệ, đày Hậu Nghệ và Thường Nga xuống hạ
giới làm người. Nhiều người mộ danh đến xin học bắn cung. Có một tên gian trá
điêu toa, tâm thuật bất chính tên là Bàng Mông 逢蒙 cũng
trà trộn vào.
Hậu Nghệ cảm thấy có lỗi với Thường Nga, trừ lúc truyền nghề săn bắn ra, còn
lại suốt ngày bên vợ. Hậu Nghệ nói rằng:
Trên trời đẳng cấp nghiêm nhặt, chốn nhân gian lại tự tại tiêu
dao. Chỉ có điều con người cuối cùng rồi sẽ chết, nếu muốn trường sinh tất phải
vượt qua biển lớn núi cao, leo lên đỉnh Côn Luân 昆仑 đi
đến chỗ Tây Vương Mẫu cầu linh dược bất tử.
Hậu Nghệ dựa vào thần công cái thế, ý chí hơn người, vượt qua núi cao
biển lớn, leo lên đến đỉnh Côn Luân. Tây Vương Mẫu khâm phục hành vi của Hậu
Nghệ, đồng tình với cảnh ngộ của Hậu Nghệ. Nhưng tiên dược chỉ còn lại 1 viên,
Tây Vương Mẫu nói rằng:
Thuốc bất tử dùng quả bất tử của cây “bất tử số” 不死数 luyện
thành. Bất tử số 3000 năm ra hoa một lần, 3000 năm kết quả một lần, luyện thành
thuốc cũng cần 3000 năm. Hiện chỉ còn 1 viên, hai người chia ra uống đều có thể
trường sinh bất lão, nếu 1 người uống thì thành tiên bay lên trời.
Hậu Nghệ quay về bàn với vợ là Thường Nga chọn một ngày tốt cùng nhau uống, tạm
thời giao viên thuốc cho Thường Nga cất giữ. Thường Nga bỏ viên thuốc vào hộp
bách bảo để trên bàn trang điểm, không ngờ Bàng Mông nhìn thấy được.
Khi Hậu Nghệ dẫn đám học trò ra ngoài săn bắn, Bàng Mông quỷ quyệt giả vờ đau
bệnh ở lại. Đợi Hậu Nghệ đi chẳng bao lâu, Bàng Mông tay cầm gươm xông vào
trong nhà, ép Thường Nga giao thuốc bất tử. Thường Nga biết mình không phải là
đối thủ của Bàng Mông, trong lúc nguy cấp, Thường Nga xoay người mở hộp lấy
viên thuốc nuốt vào bụng.
Thường Nga nuốt viên thuốc, thân thể ngay lập tức nhẹ nhàng rời khỏi mặt đất,
bay qua cửa sổ, hướng thẳng lên trời. Do bởi nhớ chồng, nên Thường Nga bay đến
cung trăng gần nhân gian nhất thành tiên.
Chiều tối, Hậu Nghệ quay về, bọn thị nữ khóc lóc kể hết sự tình phát sinh lúc
ban ngày. Hậu Nghệ vừa kinh ngạc vừa tức giận, rút gươm đi giết tên ác đồ,
nhưng Bàng Mông đào tẩu từ sớm, Hậu Nghệ giận đến mức đấm ngực giậm chân thét
lớn. Hậu Nghệ đau đớn tuyệt vọng ngước nhìn lên bầu trời đêm gọi tên người vợ
yêu dấu. Lúc bấy giờ Hậu Nghệ phát hiện một việc lạ kì, trăng đêm đó vô cùng
trong sáng, lại còn có bóng người lay động rất giống Thường Nga.
Hậu Nghệ vội sai người đến hoa viên mà Thường Nga yêu thích, bày hương án, đặt
lên án quả tươi cùng bánh mứt mà bình thường Thường Nga rất thích ăn để tế
Thường Nga đang trên cung trăng quyến luyến mình.
Bách tính sau khi biết được chuyện Thường Nga thành tiên bay lên cung trăng
cũng tấp nập bày hương án dưới trăng, hướng đến Thường Nga lương thiện cầu xin
bình an cát tường.
Từ đó, phong tục Trung Thu bái nguyệt lan truyền trong dân gian.
(Nguồn: Ngô Cảnh Minh 吴景明: “Thanh thiếu niên tối hoan hỉ đích thần thoại cố
sự” 青少年最欢喜的神话故事. Diên
Biên Nhân dân xuất bản xã, 2002)
Vế dưới: điển
xuất từ truyền thuyết thần thoại “Khoa Phủ trục nhật” 夸父逐日 (Khoa Phủ đuổi theo mặt trời).
Vào
thời viễn cổ, nơi vùng hoang dã phương bắc có một ngọn núi cao đến tận mây, một
bầy người khổng lồ sức mạnh vô song đang sinh sống trong rừng sâu. Thủ lĩnh của
họ nơi tai đeo 2 con rắn màu vàng, tay cũng cầm hai con rắn vàng. Vị thủ lĩnh
nọ có tên là Khoa Phủ 夸父, nhân đó bầy người này được gọi
là tộc Khoa Phủ. Người tộc Khoa Phủ có lòng lương thiện, cần lao dũng cảm, sống
những ngày tháng tiêu dao, không tranh với đời.
Một năm nọ, khí trời vô cùng nóng bức, mặt trời như khối lửa chiếu thẳng trên
mặt đất, cây cối bị thiêu cháy, sông hồ bị khô cạn. Con người không chịu nỗi
cái nóng, người tộc Khoa Phủ lần lượt chết đi. Thủ lĩnh Khoa Phủ lo lắng, ngẩng
đầu nhìn mặt trời rồi nói với mọi người:
Mặt trời đáng ghét!, ta nhất định phải đuổi theo mặt trời, bắt mặt
trời lại, bảo mặt trời nghe theo sự chỉ huy của ta.
Mọi người nghe xong ra
sức can ngăn. Có người nói:
Thủ lĩnh chớ có đi, mặt trời cách chúng ta xa như thế, thủ lĩnh sẽ
chết vì mệt đấy.
Có người nói:
Mặt trời nóng như thế, thủ lĩnh sẽ bị đốt cháy mất.
Nhưng Khoa Phủ lòng đã quyết, ông nhìn người trong tộc khổ sở bất kham, nói
rằng:
Để mọi người an vui, ta nhất định phải đi.
Khoa Phủ từ biệt người trong tộc, nhắm đến hướng mặt trời mọc cất bước ra đi.
Mặt trời trên tầng không chuyển động nhanh như bay, Khoa Phủ trên mặt đất ra
sức chạy. Xuyên qua bao ngọn núi, vượt qua mấy dòng sông, mặt đất bị bước chân
của Khoa Phủ gây chấn động, rung lắc. Khoa Phủ chạy mệt nhoài, giũ cát trong
đôi giày cho rơi xuống đất, vì thế hình thành một ngọn thổ sơn to lớn. Khi Khoa
Phủ nấu cơm, nhặt 3 cục đá làm ông Táo, 3 cục đá này trở thành 3 ngọn núi thế
chân vạc, cao đến mấy ngàn mét.
Khoa Phụ mãi đuổi theo mặt trời, mắt nhìn thấy cách mặt trời ngày càng gần,
niềm tin của Khoa Phủ ngày càng tăng thêm. Cuối cùng, Khoa Phủ đã đuổi kịp mặt
trời đến chỗ mặt trời lặn. Một khối cầu lửa trước mắt Khoa Phủ, hàng vạn tia
sáng phủ lên người ông. Khoa Phủ hân hoan giơ hai cánh tay định ôm lấy mặt
trời. Nhưng mặt trời nóng dị thường, Khoa Phủ cảm thấy vừa khát vừa mệt, liền
chạy đến bên Hoàng hà uồng một hơi cạn cả nước sông. Khoa Phủ lại chạy đến bên
bờ sông Vị uống cạn nước sông Vị, những vẫn chưa đã khát. Khoa Phủ lại chạy lên
phía bắc, nơi đó ao lớn ngang dọc cả ngàn dặm, nước trong ao đủ để Khoa Phủ
giải khát. Nhưng Khoa Phủ chưa kịp chạy đến thì giữa đường đã chết.
Khi sắp mất, trong lòng Khoa Phủ đầy nỗi ân hận tiếc nuối, ông luôn nhớ về
người của tộc mình nên đã đem cây gậy trong tay liệng đi. Nơi cây gậy rơi
xuống, trong phút chốc mọc lên một rừng đào sầm uất, rừng đào này quanh năm
tươi tốt, tạo bóng mát cho khách vãng lai qua đường, đào kết trái cho họ giải
khát để họ tiêu hết nỗi nhọc nhằn mệt mỏi, tăng thêm sức lực để lên đường.
Câu chuyện Khoa Phủ đuổi theo mặt trời đã phản ánh nguyện vọng chiến thắng khô
hạn của tiên dân Trung Quốc cổ đại. Khoa Phủ cuối cùng tuy hi sinh, nhưng tinh
thần ngoan cường của Khoa Phủ lại bất tử. Trong nhiều sách cổ của Trung Quốc
đều có chép những truyền thuyết liên quan đến việc Khoa Phủ đuổi theo mặt trời.
Có địa phương ở Trung Quốc còn đặt tên núi lớn là “Khoa Phủ sơn” 夸父山để kỉ niệm Khoa Phủ.
(Nguồn: Ngô Cảnh Minh 吴景明: “Thanh thiếu niên tối hoan hỉ đích thần thoại cố sự” 青少年最欢喜的神话故事. Diên Biên Nhân dân xuất bản xã, 2002)
Tạm dịch
Bóng
quế nghiêng lay, đêm thanh Thường Nga bay lên cung nguyệt
Rừng
đào rộ nở, ngày nóng Khoa Phủ rượt đuổi vầng ô
