臨江仙
奮翼飛翔千萬里
鶴高極目無窮
任風隨轉任長空
藍天黄麥秀
歲月永驕雄
蟻聚蜂屯來亂者
惡行天地難容
舉兵父子誓心中
以醪投饗士
明日太陽紅
LÂM GIANG TIÊN
Phấn dực
phi tường thiên vạn lí
Hạc
cao cực mục vô cùng
Nhậm
phong tuỳ chuyển nhậm trường không
Lam
thiên hoàng mạch tú
Tuế nguyệt vĩnh kiêu hùng
Nghĩ tụ
phong đồn lai loạn giả
Ác
hành thiên địa nan dung
Cử
binh phụ tử thệ tâm trung
Dĩ lao
đầu hưởng sĩ
Minh nhật thái dương hồng
Huỳnh
Chương Hưng
Quy Nhơn 24/02/2026
Phấn
dực 奮翼: vươn
cánh bay cao.
Phi
tường 飛翔: bay
lượn.
Lam
thiên, hoàng mạch tú 藍天黄麥秀: trời
xanh, lúa vàng tươi tốt.
Nghĩ
tụ phong đồn 蟻聚蜂屯: lũ
kiến bầy ong, ý nói lũ giặc đông.
Nguyễn Đình Chiểu trong “Lục Vân Tiên”
có viết:
Dẹp rồi
lũ kiến chòm ong
Hỏi: “Ai
than khóc ở trong xe này?”
Hai
câu:
Cử
binh phụ tử thệ tâm trung.
Dĩ lao
đầu hưởng sĩ
舉兵父子誓心中
以醪投饗士
ý nói tướng sĩ một lòng, quân dân đồng cam cộng
khổ.
Điển xuất từ “Lã Thị Xuân Thu – Thuận dân” 呂氏春秋 - 顺民.
越王苦会稽之耻,欲深得民心,以致必死于吴. 身不安枕席, 口不甘厚味, 目不视靡曼, 耳不听钟鼓. 三年苦身劳力, 焦唇干肺. 內亲群臣, 下养百姓, 以来其心. 有甘肥不足分, 弗敢食, 有酒流之江, 与民同之.
Việt Vương khổ
Cối Kê chi sỉ, dục thâm đắc dân tâm, dĩ trí tất tử vu Ngô. Thân bất an chẩm
tịch, khẩu bất cam hậu vị, mục bất thị mị man, nhĩ bất thính chung cổ. Tam niên
khổ thân lao lực, tiêu thần can phế. Nội thân quần thần, hạ dưỡng bách tính, dĩ
lai kì tâm. Hữu cam phì bất túc phân, phất cảm thực, hữu tửu lưu chi giang, dữ
dân đồng chi.
(Việt Vương khổ vì mối nhục Cối Kê, muốn
có được lòng dân để tử chiến với nước Ngô, đến nỗi thân không yên nơi giường
chiếu, miệng không ăn món ngon, mắt không nhìn mĩ sắc, tai không nghe chuông trống
âm nhạc. Ba năm khổ thân lao lực, môi khô phổi héo. Trong thì thân cận quần thần,
dưới thì nuôi dưỡng bách tính để có mong được nhân tâm. Nếu có được món ngon mà
không đủ phân chia thì bản thân mình không dám ăn, nếu có được rượu thì đem hoà
với nước sông để người dân cùng uống.)
Nguyễn Trãi trong “Bình Ngô đại cáo” cũng đã
viết:
揭竿爲旗,氓隸之徒四集
投醪饗士,父子之兵一心
Yết
can vi kì, manh lệ chi đồ tứ tập
Đầu
lao hưởng sĩ, phụ tử chi binh nhất tâm
(Nhân
dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới
Tướng
sĩ một lòng phụ tử, hoà nước sông chén rượu ngọt ngào)
(Bản
dịch của Ngô Tất Tố)
Minh nhật thái dương hồng 明日太陽紅:
ngày mai mặt trời lại đỏ.
