Dịch thuật: Đại triện

 

ĐẠI TRIỆN 

          “Đại triện” 大篆là một loại tự thể của chữ Hán thời cổ Trung Quốc, nhân vì được chép trong tự thư “Sử Trứu” 史籀, cho nên cũng được gọi là “Trứu văn” 籀文. Trong “Hán thư – Nghệ văn chí” 汉书 - 艺文志có chép:

          “Sử Trứu” thập ngũ thiên. Chu Tuyên Vương Thái sử Trứu tác đại triện.

          史籀十五篇. 王太史籀作大篆.

          (“Sử Trứu” có 15 thiên. Thái sử Trứu thời Chu Tuyên Vương làm ra đại triện.)

          225 chữ Trứu văn được thu thập trong “Thuyết văn giải tự” 说文解字 chính là Hứa Thận 许慎 dựa vào 9 thiên “Trứu văn” 籀文 đã nhìn thấy mà thu tập đưa vào. Đây là tư liệu chủ yếu mà hiện nay dùng để nghiên cứu về đại triện. Đại triện kế thừa kim văn phát triển mà ra, hình thành vào hậu kì Tây Chu, đặc điểm của nó là đường nét nhu hoà, giản luyện sinh động, đồng thời kết cấu tự hình có xu hướng quy phạm, đặt nền móng vững chắc cho loại chữ Hán hình khối.

          Theo “Thuyết văn giải tự”, hàm nghĩa của chữ “triện” mang ý nghĩa là “dẫn bút nhi trứ chi vu trúc bạch” 引笔而著之于竹帛 (dẫn ngọn bút mà viết nơi thẻ tre tấm lụa). Đại triện là để đối lập với “tiểu triện” 小篆sau này, tức loại văn tự nước Tần thông hành vào thời Xuân Thu Chiến Quốc. Về nghĩa rộng, còn bao hàm văn tự của các nước khác.

Đầu thời Đường, tại phía nam Trần Thương 陈仓 huyện Thiên Hưng 天兴(nay là Bảo Minh 宝鸣 Thiểm Tây 陕西) phát hiện 3 khối đá bên trên có khắc “Thạch cổ văn” 石鼓文được cho là chân tích của đại triện.

Huỳnh Chương Hưng

Quy Nhơn 20/02/2026 

Nguồn

BẤT KHẢ BẤT TRI ĐÍCH 3000 CÁ VĂN HOÁ THƯỜNG THỨC

不可不知的 3000个文化常识

Biên soạn: Tinh Hán 星汉

Previous Post Next Post