ĐẠI PHÓNG QUYẾT TỪ
大放厥词
Điển xuất: “Xương Lê tiên sinh tập – Tế Liễu Tử Hậu văn” 昌黎先生集 - 祭柳子厚文.
Liễu Tông Nguyên 柳宗元 (năm
773 – năm 819), tự Tử Hậu 子厚, người huyện Giải 解Hà Đông
河东 (nay là
Giải Châu 解州 Vận Thành 运城 Sơn Tây 山西), người đời gọi ông là Liễu Hà Đông 柳河东. Ông từ nhỏ đã khắc khổ học tập, 20 tuổi đậu Tiến sĩ, được
trao chức Hiệu thư lang, điều làm Lam Điền uý, thăng Giám sát ngự sử.
Thành tựu văn học của Liễu Tông Nguyên
rất cao, là một trong “Đường Tống bát đại gia” (1). Tản văn của ông
mạnh mẽ, lí lẽ thấu triệt; du kí sơn thuỷ miêu tả cảnh vật, đa phần đều có kí
thác. Năm 819, Liễu Tông Nguyên bệnh và mất ở Liễu Châu 柳州, năm đó ông 46 tuổi.
Một năm sau, khi Liễu Tông Nguyên qua
đời, văn học gia trứ danh và là người bạn tốt của Liễu Tông Nguyên là Hàn Dũ 韩愈đã viết “Tế Liễu Tử Hậu văn” 祭柳子厚文, kí thác nỗi suy tư của Liễu Tông Nguyên. Trong tế
văn, xưng tụng nét tài hoa đối với văn phong của ông, nói rằng:
Ngọc bội quỳnh cư, đại phóng
quyết từ.
玉珮琼琚, 大放厥词
Ý là văn chương văn bút của Liễu Tông
Nguyên tươi đẹp, từ tảo rất điêu luyện, đẹp như ngọc thạch tinh khiết.
“Đại phóng quyết từ” 大放厥词nguyên có ý nghĩa khen tặng Liễu Tông Nguyên đã viết một số lượng lớn văn chương tươi đẹp. Về sau người ta khi vận dụng điển cố này ngữ nghĩa có sự biến đổi, thường dùng để phúng thích người có nghị luận to lớn, đa phần dùng với ý chê bai.
Chú của người dịch
1-Đường Tống bát đại gia 唐宋八大家: hợp xưng tám vị tác gia tản văn đại biểu thời Đường Tống, gồm Hàn Dũ 韩愈, Liễu Tông Nguyên 柳宗元đời Đường và Âu Dương Tu 欧阳修, Tô Tuân 苏洵, Tô Thức 苏轼, Tô Triệt 苏辙, Tăng Củng 曾巩, Vương An Thạch 王安石. Họ đề xướng tản văn, phản đối biền thể, là những tác gia đại biểu trọng yếu của phong trào cổ văn.
Nguồn
ĐỒ GIẢI QUỐC HỌC ĐIỂN CỐ
图解国学典故
Chủ biên: Nhậm Tê Nhiên 任犀然
Bắc Kinh: Trung Quốc Hoa Kiều
xuất bản xã, 2016
