香山風景歌
風光禪景
到香山夢想已成眞
看山山水水雲雲
第一峒著名斯是否
鳥囀梅林其獻果
漂搖燕澗聽經魚
耳邊聞鯨杵一聲
桑海客乍驚乎夢裡
有佛寺解冤溪在彼
佛跡庵雪扃峒於斯
向上看誰善畫形
五色石玲瓏如織錦
一峒深深浮月影
崎嶇幾路上雲梯
若江山等待誰兮
或造化安排而動手
數唸珠誦南無佛
功德乎無量廣慈悲
愈看愈愛愈奇
HƯƠNG SƠN PHONG CẢNH CA
Phong quang thiền cảnh,
Đáo Hương Sơn mộng tưởng dĩ thành chân.
Khán sơn sơn thuỷ thuỷ vân vân,
“Đệ nhất động” trứ danh tư thị phủ?
Điểu chuyển mai lâm, kì hiến quả,
Phiêu dao Yến giản, thính kinh ngư.
Nhĩ biên văn kình chử nhất thanh,
Tang hải khách sạ kinh hồ mộng lí.
Hữu Phật tự, Giải Oan khê tại bỉ,
Phật Tích am, Tuyết Quynh động ư tư.
Hướng thượng khan, thuỳ thiện hoạ hình,
Ngũ sắc thạch linh lung như chức cẩm.
Nhất động thâm thâm phù nguyệt ảnh,
Khi khu kỉ lộ thướng vân thê.
Nhược giang sơn đẳng đãi thuỳ hề?
Hoặc tạo hoá an bài nhi động thủ?
Sổ niệm châu, tụng: Nam mô Phật!
Công đức hồ vô lượng quảng từ bi?
Dũ khan dũ ái dũ kì.
Huỳnh Chương Hưng
Quy Nhơn 08/01/2026
Bài
này tạm dịch từ bài “Hương Sơn phong cảnh ca” của Chu Mạnh Trinh.
HƯƠNG SƠN PHONG CẢNH CA (1)
Bầu
trời cảnh bụt,
Thú Hương sơn ao ước bấy lâu nay!
Kìa non non, nước nước, mây mây,
“Đệ nhất động” (2), hỏi đây là có phải?
Thỏ thẻ rừng mai, chim cúng trái;
Lửng lơ khe Yến (3), cá nghe kinh.
Thoảng bên tai một tiếng chày kình (4)
Khách tang hải (5) giật mình trong giấc mộng!
Này suối Giải Oan (6), này chùa Cửa Võng (7),
Này am Phật Tích (8), này động Tuyết
Quynh (9),
Nhác trông lên, ai khéo vẽ hình;
Đá ngũ sắc long lanh như gấm dệt.
Thăm thẳm một hang lồng bóng nguyệt;
Gập ghềnh mấy lối uốn thang mây.
Chừng giang sơn còn đợi ai đây?
Hay tạo hoá khéo ra tay xếp đặt?
Lần tràng hạt, niệm: Nam mô Phật!
Cửa từ bi công đức biết là bao?
Càng trông phong cảnh càng yêu.
Chú
thích
1-Hương Tích 香跡là tên một cái động ở núi
Hương sơn, thuộc phủ Mỹ Đức, tình Hà Đông. Động này thờ Phật bà Quan Âm. Hàng
năm cứ đến tháng hai tháng ba, người đi trẩy hội chùa rất đông. Đây là một thắng
cảnh nổi tiếng của ta (chú ở bài “Động Hương Tích” của Dương Khuê)
2-“Đệ
nhất Nam thiên” 第一南天: (Đẹp) thứ nhất trời Nam. Tục truyền rằng mấy chữ
“Nam thiên đệ nhất động” khắc ở cửa động là của vua Lê Thánh Tông (Có thuyết
khác nói của Chúa Trịnh, của vua Minh Mạng) (chú ở bài “Động Hương Tích”
của Dương Khuê)
3-Tên suối thuộc xã Yến Vĩ, ở
bên đường vào chùa.
4-Cái vồ đánh chuông làm theo
hình cá kính.
5-Người đời. (Tang: dâu; hải:
bể) Ruộng dâu hoá ra biển, ý nói cuộc đời biến đổi.
6-Giải Oan: tên suối nước ở lối
vào động. Nước suối từ trong đá chảy ra rất trong. Giải Oan có nghĩa là cởi gỡ
mối oan. Khách thập phương qua suối thường dừng lại uống nước trước khi vào động.
(chú ở bài “Động Hương Tích” của Dương Khuê).
7-Một ngôi chùa ở lối vào động.
8-Am
Phật Tích 佛跡: Am thờ Phật. Tương truyền Phật Quan Âm đã hoá kiếp
tại động Hương Tích (Phật tích: dấu vết của Phật).
9-Tuyết
quynh 雪扃: tên động (Tuyết quynh: cửa tuyết). Tác giả muốn
nói cửa Tuyết ở mé ngoài động Hương Tích, gần bến đó Suối.
(“Việt văn độc bản”. Lớp
Đệ Nhị: Đàm Xuân Thiều – Trần Trọng San. Bộ Văn hoá Giáo dục, 1965)
