名利
成事由天理
擔 (1)乾坤誰莫英雄
書曾云窮達變通
人亦有偏偏 (2)名與利
有志功名才不累 (3)
初來蓬矢又何妨
許幾人榱桷棟梁 (4)
而世上却喜尋物色 (5)
稱卿相古來而得
亦屢番辱辱榮榮
方知天地多情
DANH LỢI
Thành sự do thiên lí.
Đam (1) càn khôn thuỳ mạc anh hùng.
Thư tằng vân: “Cùng đạt biến thông”,
Nhân diệc hữu thiên thiên (2) danh dữ lợi.
Hữu chí công danh tài bất luỵ (3),
Sơ lai bồng thỉ hựu hà phương.
Hứa kỉ nhân thôi giốc đống lương (4)
Nhi thế thượng khước hỉ tầm vật sắc (5).
Xứng khanh tướng cổ lai nhi đắc,
Diệc lũ phiên nhục nhục vinh vinh.
Phương tri thiên địa đa tình.
Huỳnh Chương Hưng
Quy Nhơn 04/01/2026
Chú
thích
1-Đam
擔: gánh
vác (động từ), tự gánh lấy trách nhiệm gọi là “đam nhậm” 擔任.
Nếu đọc là “đảm” tức đồ vật mà gánh vác (danh từ). một trăm
cân gọi là nhất
đảm 一擔.
2-Thiên
thiên 偏偏: khư
khư, khăng khăng.
3-Hai
câu:
Hữu chí công danh tài bất luỵ
Sơ lai bồng thỉ hựu hà phương
有志功名才不累
初來蓬矢又何妨
(Có chí công danh, khi mình có tài thì chẳng phải luỵ
ai
Mới sinh ra đã có chí tang hồ bồng thỉ thì đâu có phải
ngại gì.)
3-Thôi
giốc đống lương 榱桷棟梁:
Chữ 榱 trong “Khang Hi tự điển” phiên thiết là “sở truy” 所追, âm 衰 (suy), “Hán Việt tự điển” của Thiều Chửu
phiên âm là “suy” với nghĩa là cái rui (cái rui đóng trên mái để móc ngòi giắt
lá vào.
Chữ 桷trong “Khang Hi tự điển” phiên thiết là “cổ nhạc” 古岳, “cật nhạc” 訖岳có âm đọc là 角 (giác). “Hán Việt tự điển”
của Thiều Chửu phiên âm là “giác” với nghĩa là cái xà vuông, cái vồ, cột to.
Chữ 梁 cũng viết là 樑, cái
xà nhà. “Đống lương” hoặc “lương đống” thường dùng để ví người có tài gánh vác
được việc quan trọng cho đất nước (như Tể tướng) gọi là đống lương 棟梁.
Ở đây tôi theo như trong nguyên tác đọc là “thôi giốc”.
5-Vật sắc 物色: dáng vẻ bề ngoài.
Bài
này tạm dịch từ bài “Danh lợi” của Nguyễn Công Trứ.
DANH LỢI
Thành sự
do thiên lí (1)
Gánh
kiền khôn ai chẳng anh hùng (2)
Sách
có câu: “Cùng đạt biến thông” (3)
Lại
có kẻ dập dìu danh với lợi.
Hữu chí
công danh tài bất luỵ, (4)
Sơ lai
bồng thỉ hựu hà phương. (5)
Dễ mấy
ai thôi giốc đống lương, (6)
Mà
người thế đã đem nhau vật sắc. (7)
Làng
khanh tướng xưa nay mấy mặt,
Cũng
lắm phen nhục nhục nhục vinh vinh,
Mới hay thiên địa đa tình.
Chú thích
A-Bản ĐH (Đỗ Bằng Đoàn, Đỗ trọng Huề): Thành sự
do thiên.
1-Làm nên sự nghiệp là do lẽ trời. Mưu sự tại
nhân, thành sự tại thiên (Gia Cát Lượng),
nghĩa là: mưu việc ở người, thành việc ở trời.
2-Kiền khôn: trời đất, vũ trụ, đất nước (càn khôn)
3-Cùng đạt biến thông: lúc nghèo, lúc làm
nên, lúc gặp trắc trở, lúc thông suốt.
4-Người có chí lập công danh thì không bị ràng buộc.
5-Xưa nay chí tang bồng hồ thỉ vốn không sai.
6-Thôi giốc đống lương: rui mè rường cột, ý
nói những người tài giỏi giúp việc nước, giữ vai trò quan trọng.
7-Vật sắc: khen chê, bắt bẻ, màu sắc bề
ngoài, hay là tướng người. Ý tác giả muốn nói: không nên quá nhìn vào hình thức
bên ngoài mà vội vã nhận định, kết luận.
(“Nguyễn Công Trứ - Tác giả, tác phẩm, giai thoại” Nguyễn Viết Ngoạn, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia TP. HCH, 2002)
