“ĐỒ THƯ QUÁN” Ở TRUNG QUỐC
Trong “Dịch
– Hệ từ thượng” 易 - 系辞上 có câu:
Hà xuất đồ, Lạc xuất thư.
河出图, 洛出书
(Hoàng hà xuất hiện đồ, sông
Lạc xuất hiện thư)
Tuy “đồ
thư quán” 图书馆 (thư
viện) lúc đó không thấy ghi chép trong điển tịch, nhưng từ trước đời Chu đã có
việc tàng trữ sách vở rồi.
“Đồ thư
quán” 图书馆 ở
Trung Quốc có lịch sử lâu đời, nhưng lúc ban đầu không gọi là “đồ thư quán”, mà
gọi là “phủ” 府, “các” 阁, “quán” 观, “đài” 台, “điện” 殿, “viện” 院, “đường” 堂, “trai” 斋, “lâu” 楼… như:
-“Minh phủ” 盟府 thời
Tây Chu.
-“Thạch Cừ các” 石渠阁, “Đông quán” 东馆 và “Lan đài” 兰台thời Lưỡng Hán.
-“Quan Văn điện” 观文殿triều Tuỳ.
-“Sùng Văn viện” 崇文院 triều Tống.
-“Đạm Sinh đường” 澹生堂đời Minh.
-“Tứ khố toàn thư thất các” 四库全书七阁 triều Thanh…
“Đồ thư
quán” 图书馆là từ ngoại lai, từ Nhật Bản truyền đến Trung Quốc vào
cuối thế kỉ 19.
Trung Quốc bắt đầu có “đồ thư quán” với ý nghĩa hiện đại, đại khái là vào khoảng sau năm Quang Tự 光绪 thứ 30 (năm 1904). “Đồ thư quán” lớn nhất hiện có ở Trung Quốc là “Bắc Kinh đồ thư quán” 北京图书馆 (hiện là “Thư viện quốc gia”) được thành lập bắt đầu từ năm 1910, năm 1912 chính thức mở cửa.
Huỳnh Chương Hưng
Quy Nhơn 27/12/2025
Nguồn
BẤT KHẢ BẤT TRI ĐÍCH 3000 CÁ VĂN HOÁ THƯỜNG THỨC
不可不知的3000个文化常识
Biên soạn: Tinh Hán 星汉
