Dịch thuật: Biệt hiệu

 

 BIỆT HIỆU 

          Người xưa ngoài danh và tự ra, còn có biệt hiệu. Điểm khác nhau giữa biệt hiệu và tự ở chỗ, tự là do phụ thân hoặc bậc tôn trưởng khác đặt cho, còn biệt hiệu thì do bản thân đặt lấy, cũng có thiểu số là do sau này người khác tặng cho.

          Sau thời Đường Tống, tình hình đặt biệt hiệu vô cùng phổ biến, như:

-Lí Bạch 李白, tự Thái Bạch 太白, hiệu Thanh Liên Cư Sĩ 青莲居士.

          -Tô Thức 苏轼, tự Tử Chiêm 子瞻, hiệu Đông Pha Cư Sĩ 东坡居士.

          -Tân Khí Tật 辛弃疾, tự Ấu An 幼安, hiệu Giá Hiên 稼轩.

          Bất luận là có do bản thân mình đặt hay không, biệt hiệu nhìn chung đều phản ánh sự từng trải nào đó hoặc một phương diện nào đó của bản thân, tình huống thường thấy là lấy danh xưng nơi cư trú hoặc cảnh vật của một nơi nào đó làm biệt hiệu, như

-Vương Thủ Nhân 王守仁 nhân vì từng cư trú tại Dương Minh Động 阳明洞ở quê nhà, nên người đời gọi ông là Dương Minh Tiên Sinh 阳明先生.

-Bạch Cư Dị 白居易nhân vì vãn niên trường cư tại Hương Sơn 香山 Lạc Dương 洛阳mà tự hiệu là Hương Sơn Cư Sĩ 香山居士.

-Âu Dương Tu 欧阳修 tự hiệu là “Lục Nhất Cư Sĩ” 六一居士, hàm ý là 1 vạn quyển sách, 1 quyển kim thạch văn, một cây đàn, một bàn cờ, một bầu rượu, lại thêm con người ông là 1 ông lão, điều này thể hiện loại nhã thú văn nhân điển hình.

Ứng dụng của biệt hiệu vô cùng rộng, đối với một số người mà nói người đời sau về tập quán không còn xưng danh hoặc tự của người đó nữa, mà lấy hiệu để xưng hô, ví dụ như Tô Đông Pha 苏东坡, Trịnh Bản Kiều 郑板桥, Tề Bạch Thạch 齐白石, Bát Đại Sơn Nhân 八大山人  (1) .v.v…, những xưng hô này đều là biệt hiệu.

Chú của người dịch

1-Tô Đông Pha (1037 – 1101): tức Tô Thức 苏轼, tự Tử Chiêm 子瞻, một tự khác là Hoà Trọng 和仲, hiệu Thiết Quan Đạo Nhân 铁冠道人, Đông Pha Cư Sĩ 东坡居士, người đời gọi ông là Tô Đông Pha 苏东坡, người Mi Sơn 眉山 Mi Châu 眉州 (nay là thành phố Mi Sơn 眉山 tỉnh Tứ Xuyên 四川). Ông là văn học gia, thư pháp gia, hoạ gia, lịch sử trị thuỷ danh gia thời Bắc Tống. Tô Thức cùng với phụ thân là Tô Tuân 苏洵, em là Tô Triệt 苏辙hợp xưng là “Tam Tô” 三苏.

Trịnh bản kiều 郑板桥 (1693 – 1766): nguyên danh là Trịnh Nhiếp 郑燮, tự Khắc Nhu 克柔, hiệu Lí Am 理庵và Bản Kiều 板桥, người đời thường gọi ông là Bản Kiều Tiên Sinh 板桥先生, người Hưng Hóa 兴化Giang Tô 江苏, tổ tịch Tô Châu 苏州. Ông là thư hoạ gia, văn học gia đời Thanh.

Tề Bạch Thạch 齐白石 (1864 – 1957): tổ tịch Đãng Sơn 砀山Túc Châu 宿州An Huy 安徽, sinh tại Tương Đàm 湘潭phủ Trường Sa 长沙Hồ Nam 湖南, tên Hoàng , tự Bình Sinh 萍生, hiệu Bạch Thạch 白石, Bạch Thạch Ông 白石翁, Lão Bạch 老白, ngoài ra còn có hiệu khác là Kí Bình 寄萍, Lão Bình 老萍, Tá Sơn Ông 借山翁, Tề Đại 齐大, Mộc Cư Sĩ 木居士, Tam Bách Thạch Ấn Phú Ông 三百石印富翁. Ông là thư hoạ gia, thư pháp triện khắc gia hiện đại Trung Quốc. Tề Bạch Thạch cùng với Hoàng Tân Hồng 黄宾虹hợp xưng là “Nam Hoàng Bắc Tề” 南黄北齐.

Bát Đại Sơn Nhân 八大山人 (1626 – 1705): tức Chu Đáp 朱耷, tự Nhẫn Am 刃庵, hiệu Bát Đại Sơn Nhân 八大山人, Tuyết Cá 雪个, Cá Sơn 个山, Nhân Ốc 人屋, Đạo Lãng 道朗, lúc xuất gia Thích danh là Truyền Khể  传綮, người Nam Xương 南昌 Giang Tây 江西. Ông là hoạ gia cuối Minh đầu Thanh, Trung Quốc hoạ nhất đại tông sư.

Huỳnh Chương Hưng

Quy Nhơn 11/12/2025

Nguồn

BẤT KHẢ BẤT TRI ĐÍCH 3000 CÁ VĂN HOÁ THƯỜNG THỨC

不可不知的3000个文化常识

Biên soạn: Tinh Hán 星汉

Nam Xương: Giang Tây mĩ thuật xuất bản xã, 1018

Previous Post Next Post