BAN HÀNH “THÁI SƠ LỊCH”
Tiểu tổ nghiên cứu lịch pháp do Tư Mã Thiên 司马迁 và Hồ Toại 壶遂lãnh đạo, tiến hành nghiên cứu lịch pháp, chế định một bộ lịch pháp mới gọi là “Thái Sơ lịch” 太初历.
Lịch
pháp là dùng để tính trường độ thời gian năm, tháng, ngày và mối quan hệ giữa
chúng với nhau, là phép tắc chế định trật tự thời lệnh. Nói chung, độ dài ngắn
của ngày tháng dựa vào thiên tượng. Số tháng và số ngày của năm có lúc dựa vào
thiên tượng để định, cũng có lúc do người quy định.
Tân lịch
pháp mà nhóm Tư Mã Thiên chế định, dựa vào thiên tượng định ra ngày tháng, lấy Chinh
nguyệt 正月 (tháng
Giêng) làm khởi đầu của một năm, lấy tháng kiến Dần 寅
làm Chinh nguyệt, tức “Hạ chính” 夏正. Nó tuyển dụng cách
chia 81 phần của Đặng Bình 邓平 (1) định
ra số ngày của một tháng, tiếp tục dùng cách 19 năm có 7 lần nhuận, khiến lịch
pháp tương ứng với bốn mùa, càng tiện lợi để phối hợp với việc sản xuất nông
nghiệp. Nó được gọi là “âm lịch” 阴历tức “Hạ lịch” 夏历.
Trong
lòng Tư Mã Thiên đối với việc thực thi lịch pháp đã kí thác một dụng ý khác, nhân
đó mà trong lòng có sự phấn kích. Tư Mã Thiên từ sau khi làm Thái sử lệnh 太史令, đã muốn học theo Khổng Tử 孔子nước
Lỗ thời trước. Khổng Tử năm đó có lí tưởng, muốn dùng thời lịch triều Hạ. Lúc bấy
giờ Khổng Tử truyền dạy cho học trò của mình lịch pháp “Hạ tiểu chính” 夏小正, đáng tiếc là không được thực thi. Như nay, tân lịch
pháp quán triệt dùng lịch triều Hạ, lấy Chinh nguyệt làm đầu. Điều chỉnh kết cấu
lịch pháp như vậy đó là đã thực hiện lí tưởng “hành Hạ chi thời” 行夏之时của Khổng Tử. Đối với điểm này, Tư Mã Thiên chỉ để
trong lòng, chỉ xem như một sự an ủi của mình đối với bậc tiên triết.
Hán Vũ Đế
sau khi xem “Thái Sơ lịch”, cảm thấy vui mừng, chuẩn bị tiếp nhận để thi hành.
Không
ngờ, một số người trong triều phản đối đổi lịch đã nắm lấy chỗ sơ hở của “Thái
Sơ lịch”: đổi tháng 10 sang làm Chinh nguyệt (tháng Giêng) làm tháng đầu tiên của
năm, là không phù hợp với thuyết “ngũ đức chung thuỷ” 五德终始. Họ cho rằng đó là hành động nguy hiểm mạo phạm thiên quy, không chừng
sẽ mang đến tai hoạ, nhân đó mà tuyệt đối không thể ban hành.
Đối với
vấn đề này, Tư Mã Thiên sớm đã nghĩ tới.
Đối mặt
với sự công kích của phái bảo thủ, Tư Mã Thiên bẩm cáo Hán Vũ Đế: “Thái Sơ lịch”
tuy không phù hợp với thuyết “ngũ đức chung thuỷ” từ đời Chu đến nay, nhưng nó
khớp với thuyết “tam thống” 三统 mà tiên đế truyền lại.
Theo cách nói của Đổng Trọng Thư 董仲舒, triều Hạ lấy tháng
Dần làm Chinh nguyệt (tức tháng Giêng - tháng đầu tiên của năm), lấy màu đen làm
thượng sắc; triều Thương lấy tháng 12 âm lịch làm Chinh nguyệt, lấy màu trắng làm
thượng sắc; triều Chu lấy tháng 11 âm lịch làm Chinh nguyệt, lấy màu đỏ làm thượng
sắc. Ba màu hắc, bạch, xích thay thế nhau, tuần hoàn hết vòng rồi trở lại, cải
triều hoán đại. Triều Tần lập quốc, lấy màu đen làm thượng sắc. Tiên đế cho rằng,
người Hán bỏ triều Tần kiến lập triều Hán, là triều Hán trực tiếp kế thừa triều
Chu, nhân đó định màu đen làm thượng sắc, lấy tháng Dần làm Chinh nguyệt là rất
bình thường.
Hán Vũ Đế
nghe qua y cứ lí luận “Thái Sơ lịch” của Tư Mã Thiên, long nhan hớn hở tươi
vui, hạ lệnh ban hành.
Từ đó,
tân lịch pháp đã mọc rễ trên khắp đất Trung Hoa, được sử dụng cả hai ngàn năm
nay, trở thành quy phạm chi phối khái niệm thời gian của người Trung Quốc. Đó
chính là “lịch pháp” mà được mọi người sử dụng hiện nay. Nhân vì triều Hạ dùng
Chinh nguyệt làm tháng đầu một năm, cho nên lịch pháp này cũng gọi là “Hạ lịch”.
Lấy việc
cải cách lịch pháp làm nòng cốt, nhiều chế độ của quốc gia cũng theo đó mà tiến
hành một loạt những cải cách.
Hán Vũ Đế đem năm ban hành “Thái Sơ lịch” 太初历 cải nguyên thành “Thái Sơ nguyên niên” 太初元年 (năm 104 trước công nguyên).
Chú của người dịch
1-Đặng Bình 邓平: thiên văn học gia thời Hán Vũ Đế nhà Tây Hán, không rõ năm sinh năm mất.
Huỳnh Chương Hưng
Quy Nhơn 28/12/2025
Nguồn
TƯ MÃ THIÊN
司马迁
Tác giả: Đặng
Tương Tử 邓湘子
Triết Giang thiếu niên nhi đồng xuất bản xã, 2006.
