Dịch thuật: Ấy sông Hắc thuỷ mộ bà Chiêu Quân (1108) (Nhị độ mai)

 

ẤY SÔNG HẮC THUỶ MỘ BÀ CHIÊU QUÂN (1108)

Cánh Ninh 竟宁 nguyên niên (năm 33 trước công nguyên), Hán Nguyên Đế 汉元帝 gả Chiêu Quân 昭君 cho Thiền vu Hung Nô Hô Hàn Da 呼韩邪. Chiêu Quân xuất tái, trên đường đến phương bắc, cát vàng trên sa mạc bốc lên bay cuồn cuộn, ngựa hí nhạn kêu. Trong lòng đau buồn, Chiêu Quân trên ngựa bèn lấy đàn tì bà đàn khúc “Tì bà oán” 琵琶怨, tiếng đàn ai oán đau buồn, khiến bầy nhạn đang bay về phương nam quên cả vỗ cánh, rơi trên bãi cát. Từ đó “Lạc nhạn” 落雁 trở thành nhã xưng chỉ Vương Chiêu Quân.

          Chiêu Quân 昭君 (khoảng năm 54 – năm 19 trước công nguyên), tên Tường , tự Chiêu Quân 昭君 (có thuyết cho Chiêu Quân không phải là biểu tự), nhũ danh Hạo Nguyệt皓月, người Tỉ Quy 姊归 Nam Quận 南郡thời Tây Hán (nay là huyện Hưng Sơn 兴山 thành phố Nghi Xương 宜昌 tỉnh Hồ Bắc 湖北). Chiêu Quân cùng với Điêu Thiền 貂蝉, Tây Thi 西施, Dương Ngọc Hoàn 杨玉环 được gọi là Trung Quốc cổ đại tứ đại mĩ nữ, là “lạc nhạn” 落雁trong tứ đại mĩ nữ. Thành ngữ “trầm ngư lạc nhạn” 沉鱼落雁, “hoạ công khí thị” 画工弃市xuất phát từ câu chuyện của Chiêu Quân.

          Kiến Chiêu 建昭 nguyên niên (năm 38 trước công nguyên), Chiêu Quân được chọn vào Dịch đình 掖庭, trở thành một cung nữ nổi tiếng. Theo truyền thuyết dân gian, Chiêu Quân sau khi nhập cung do bởi không chịu hối lộ hoạ sư Mao Diên Thọ 毛延寿 , Mao Diên Thọ bèn vẽ Chiêu Quân không đẹp, nhân đó không được tuyển vào hậu cung của Hán Nguyên Đế 汉元帝. Chiêu Quân tiến cung nhiều năm mà không được hoàng đế sủng hạnh, sinh lòng bi oán.

          Cánh Ninh 竟宁 nguyên niên (năm 33 trước công nguyên), thủ lãnh Nam Hung Nô thuộc quốc của triều Hán là Hô Hàn Da 呼韩邪 đến Trường An 长安 triều kiến thiên tử, tận lễ phiên thần, đồng thời xin được làm rể. Nguyên Đế bản ban cung nữ Chiêu Quân cho Thiền vu Hô Hàn Da, đồng thời cải nguyên là Cánh Ninh 竟宁. Thiền vu dâng thư bày tỏ ý nguyện sẽ vĩnh viễn bảo vệ vùng quan tái nơi biên cảnh. Chiêu Quân sau khi đến Hung Nô được xưng là Ninh Hồ Yên Chi 宁胡阏氏. Chiêu Quân sống cùng thiền vu Hô Hàn Da 3 năm, sinh được một người con tên là Y Đồ Trí Nha Sư 伊屠智伢师, phong làm Hữu Nhật Trục Vương 右日逐王.

          Năm Kiến Thuỷ 建始 thứ 2 (năm 31 trước công nguyên), thiền vu Hô Hàn Da qua đời, Vương Chiêu Quân dâng thư lên triều Hán xin được về, Hán Thành Đế sắc lệnh “tùng Hồ tục” (theo phong tục người Hồ), theo chế độ thu kế hôn 收继婚 của dân tộc du mục, lại gả cho con trưởng của Thiền vu Hô Hàn Da là Thiền vu Phục Chu Luỹ 复株累. Hai người sống với nhau 11 năm sinh được hai người con gái, trưởng nữ là Tu Bốc Cư Thứ 须卜居次, thứ nữ là Đương Vu Cư Thứ 当于居次.

          Hồng Gia 鸿嘉nguyên niên (năm 20 trước công nguyên), Thiền vu Phục Chu Luỹ qua đời, Thả Mi Tư 且糜胥 kế nhiệm là Thiền vu Sưu Hài Nhược Đê 搜谐若鞮, chưa đến 2 năm, Chiêu Quân bệnh và qua đời.

          Năm 265 Tư Mã Viêm 司马炎 xưng đế, kiếp lập triều Tây Tấn, truy tôn Tư Mã Chiêu 司马昭 là Văn Đế 文帝, để tị huý Tư Mã Chiêu, Vương Chiêu Quân được đổi gọi là Vương Minh Quân 王明君, sử xưng là Minh Phi 明妃.

Hỏi qua mới biết rằng là

Ấy sông Hắc thuỷ mộ bà Chiêu Quân

(Nhị độ mai 1107 - 1108)

Hay đâu mấy bộ Công tào

Đã đem lời khấn tâu vào Chiêu Quân

(Nhị độ mai 1159 - 1160)

Rằng: Ta là Hán Chiêu Quân

Cứu cho cũng dự phu nhân trinh thành

(Nhị độ mai 1169 - 1170)

                                                                   Huỳnh Chương Hưng

                                                                   Quy Nhơn 23/9/2023

Previous Post Next Post