Dịch thuật: Thông tịch, hộ tịch

 

THÔNG TỊCH, HỘ TỊCH

          Thời cổ khi bắt đầu làm quan gọi là “thông tịch” thông通籍. Văn học gia nổi tiếng đời Thanh Viên Mai 袁枚 trong Hoàng sinh tá thư thuyết 黄生借书说viết rằng:

Thông tịch hậu, bổng khứ thư lai.

通籍后, 俸去书来

(Sau  khi ra làm quan, có bổng lộc dùng để mua sách)

          Ý là: (bản thân mình lúc còn trẻ do vì nghèo khó, mua không nỗi sách) Sau khi làm quan, dùng bổng lộc để mua sách.

          Có một bài văn, không rõ ý nghĩa của từ “thông tịch” đã đem câu của Viên Mai ngắt câu sai:

Triếp tỉnh kí thông tịch, hậu bổng khứ thư lai.

辄省记通籍, 后俸去书来

          (Sách xem qua liền ghi nhớ trong lòng. Ra làm quan, sau khi có bổng lộc dùng để mua sách)

          Chữ “tịch” ở “thông tịch” 通籍có liên quan đến ý nghĩa của “hộ tịch” 户籍. Vì thế, cần truy ngược đến đặc điểm công cụ dùng để viết thời cổ, mới có thể tiến thêm một bước giải thích ý nghĩa của chữ “tịch” này.

          Trung Quốc thời cổ việc dùng bút lông viết chữ có từ rất sớm. Có thể viết trên lụa, nhưng giá cả rất đắt, dân thường không thường dùng. Đa phần viết trên “độc” từ mảnh gỗ làm thành và viết trên “giản” từ trúc làm thành, viết trên “giản” chiếm đa số.

          “Giản” lại có các loại, như “tiên” . Tiên là một loại trúc giản tương đối nhỏ.

          “Tịch” cũng là một loại giản, đặc điểm của nó đa phần dùng để đăng kí.

          “Tịch” khi dùng như động từ, chỉ việc đăng kí. Ví dụ như trong Sử kí – Hạng Vũ bản kỉ’ 史记 - 项羽本纪 có ghi:

Tịch lại dân, phong phủ khố.

籍吏民, 封府库

          Ở đây là nói Lưu Bang 刘邦 sau khi tiến vào Hàm Cốc quan 函谷关, nhưng nơi nào đã đến đều cho quan lại và bách tính đăng kí, phủ khố thì niêm phong lại để đợi Hạng Vũ 项羽sắp xếp.

          Thời cổ khi trưng điệu ngựa của dân gian cũng phải đăng kí, gọi là “tịch mã”. Đồ vật đăng kí nếu là tịch thu sung công thì gọi là “tịch một”.

          “Tịch” khi dùng như danh từ là chỉ danh sách đăng kí. Hộ tịch đương nhiên cũng cần đăng kí vào danh sách. Trong Quản Tử - Cấm tàng 管子 - 禁藏có nói:

Hộ tịch điền kết giả, sở dĩ tri bần phú chi bất tí.

户籍田结者, 所以知贫富之不訾

          Ý nói: Mỗi hộ đều dùng “tịch” để dăng kí, mỗi khoảnh ruộng đều tính sản lượng. do đó biết được sự sai biệt giàu nghèo.

          Trong Tam quốc chí – Nguỵ thư – Thôi Diễm truyện 三国志 - 魏书 - 崔琰传có ghi:

Tạc án hộ tịch, khả đắc tam thập vạn chúng.

昨案户籍, 可得三十万众

(Hôm qua kiểm tra đối chiếu hộ tịch, đông đến ba chục vạn)

          Có thể thấy Trung Quốc từ rất sớm đã có chế độ hộ tịch. Dân Trung Quôc từ xưa đến nay luôn muốn ở yên nơi quê hương của mình, không muốn di dời. đời đời nối nhau ở một nơi nào đó, hộ tịch luôn tại nơi đó, điều mà gọi là “tịch quán” 籍贯chính là nói ý này. Tịch quán sở tại là quê hương của mình. “Tổ tịch” 祖籍, “nguyên tịch” 原籍 để gọi tịch quán sở tại của tổ tiên sau khi mình chuyển đến một nơi khác.

          Danh sách các loại đăng kí khác đều có thể gọi là “tịch” . Như:

          Học tịch 学籍, là danh sách học sinh đăng kí.

          Hội tịch 会籍, là danh sách hội viên đăng kí.

          Đăng kí vào danh sách là để biểu thị một thân phận nào đó. Nhân đó mà, “quốc tịch” 国籍 chỉ một người có thân phận thuộc một quốc gia nào đó.

          Quân tịch 军籍, chỉ thân phận quân nhân.

          Hiện tại mọi người sử dụng những từ như hộ tịch, quốc tịch, đại khái không nghĩ tới “tịch” lúc ban đầu của nó là chỉ loại trúc giản dùng để đăng kí.

          Thời cổ, ra làm quan, phải đem họ tên, tuối tác, thân phận của mình đăng kí trên tịch. Tịch này được đưa đến cung đình, treo trên gian phòng nới cửa cung, lính bảo vệ căn cứ vào tịch để kiểm tra thân phận, đem danh tịch báo lên cung đinhg, gọi đó là “thông tịch” 通籍. Đó chính bước đầu tiên của việc làm quan, nhân đó mà sau này đem “thông tịch” gọi thay cho việc bắt đầu làm quan.

                                                              Huỳnh Chương Hưng

                                                              Quy Nhơn 19/4/2023

Nguồn

HÁN NGỮ HÁN TỰ VĂN HOÁ THƯỜNG ĐÀM

汉语汉字文化常谈

Tác giả: Tào Tiên Trạc 曹先擢

Thương vụ ấn thư quán Quốc Tế hữu hạn công ti

Trung Quốc – Bắc kinh 2015

Previous Post Next Post