Dịch thuật: Quân 君

 

QUÂN

          “Quân vương” 君王 “quốc quân” 国君, “quân” đã diễn biến như thế nào để trở thành xưng vị chí cao vô thượng?

         Quân , tự hình ở giáp cốt văn là loại chữ hội ý, phần trên là cánh tay cầm một cây trượng, phần dưới là “” (khẩu). Cây trượng này không phải là loại trượng thông thường, mà là thần trượng, chỉ có nhân viên có thần chức mới có thể cầm được. “” (khẩu) ở dưới là chỉ miệng đang phát bố mệnh lệnh. Cả chữ hội ý lại là nhân viên có thần chức truyền đạt chỉ ý. Tự hình ở kim văn, (khẩu) được che phủ lên, nét bút càng thô càng mĩ quan. Tự hình ở tiểu triện, phần trên có biến đổi chút ít.

          Trong Thuyết văn giải tự 说文解字có chép:

          Quân, tôn dã. Tùng doãn khẩu, khẩu dĩ phát lệnh.

          , 尊也. 从尹口, 口以发令.

          (Quân là bậc tôn quý. Theo chữ doãn, “khẩu” để phát hiệu lệnh.)

          “Doãn” là từ gọi vị tù trưởng của bộ lạc, chỉ có ông ấy mới có thể có quyền trượng. Bạch Xuyên Tĩnh 白川静tiên sinh thì cho rằng, chữ “khẩu” ở phía dưới của chữ không phải chỉ miệng, mà là “trí hữu hướng thần đảo cáo thần từ đích chúc chú chi khí” 置有向神祷告的祝咒之器 (một loại đồ vật đựng những lời cầu chúc được đặt hướng đến thần để cầu khấn) Nhân đó, chữ “quân” là chữ hội ý lại, là “tay cầm thần trượng, tụng đọc những lời khấn cầu, vị thủ trưởng vu chúc có thể triệu thỉnh thần linh giáng lâm. Thủ trưởng vu chúc có quyền về chính trị, nhân đó thủ trưởng của thị tộc gọi là “quân”.

          Bạch Xuyên Tĩnh tiên sinh có điểm hơn người ở chỗ, từ việc không đem “khẩu” cho là miệng, mà xem là một loại khí cụ tế tự, thuật ngữ của ông là “chúc chú chi khí” 祝咒之器, bên trong chứa đựng các câu cầu khấn. Như vậy, “quân” trở thành một loại thần chức, tiến đến nghĩa là người thống trị tối cao của quốc gia, tức định nghĩa trong Thượng thư 尚书:

          Hoàng thiên quyến mệnh, yêm hữu tứ hải, vi thiên hạ quân.

          皇天眷命, 奄有四海, 为天下君.

          (Hoàng thiên chú ý đến, được có hết bốn biển, làm vị quân chủ của thiên hạ)

          Nhưng, trừ nét nghĩa là quốc quân ra, “quân” còn có xưng vị đặc định khác. Thiên tử, chư hầu, khanh, đại phu, có người thống trị đất đai các cấp đều gọi là “quân”; phu nhân cũng gọi là “quân”; cũng có thể gọi phụ mẫu là “quân”, ví dụ như “nghiêm quân” 严君; thiếp gọi chồng là “quân”; chồng gọi thiếp là “tế quân” 细君, thê tử của Đông Phương Sóc 东方朔 gọi là “Tế quân” 细君, về sau dùng là từ thông xưng thê tử. Các loại như thế, không cần phải nói thêm.

          “Quân tử” 君子là nhân cách lí tưởng trong học thuyết Nho gia, Ban Cố 班固 trong Bạch Hổ thông 白虎通giải thích rằng:

          Hoặc xưng quân tử hà? đạo đức chi xưng dã. Quân chi vi ngôn quần dã; Tử giả trượng phu chi thông xưng dã.

          或称君子何? 道德之称也. 君之为言群也; 子者丈夫夫之通称也.

          (Thế nào gọi là quân tử? ấy là gọi về đạo đức. Lời của quân có thể hợp quần, tử là thông xưng trượng phu)

          Vương An Thạch 王安石 giải thích càng rõ hơn:

          Cố thiên hạ chi hữu đức, thông vị quân tử.

故天下之有德, 通谓君子.

          (Cho nên người có đức trong thiên hạ, gọi chung là quân tử)

          Khổng Tử 孔孔子từng tổng kết:

          Quân tử hữu tam giới: Thiếu chi thời, huyết khí vị định, giới chi tại sắc; cập kì tráng dã, huyết khí phương cương, giới chi tại đấu; cập kì lão dã, huyết khí kí suy, giới chi tại đắc.

          君子有三戒: 少之时, 血气未定, 戒之在色; 及其壮也, 血气方刚, 戒之在斗; 及其老也, 血气既衰, 戒之在得.    

(Quân tử có ba điều cần phải cảnh giới: Lúc trẻ khí huyết chưa ổn định, cảnh giới ở chỗ mê đắm nữ sắc; đến lúc tráng niên, khí huyết đang vượng, cảnh giới ở chỗ tranh giành hiếu đấu; lúc về già khí huyết đã suy, cảnh giới ở chỗ tham không biết chán.)

          Khổng Tử còn tổng kết có ba điều nên kính sợ:

          Uý thiên mệnh, uý đại nhân, uý thánh nhân chi ngôn.

          畏天命, 畏大人, 畏圣人之言.

          (Kính sợ mệnh trời, kính sợ người ở địa vị cao, kính sợ lời nói của thánh nhân.)

          Quân tử còn có chin điều cần phải suy nghĩ, tức chín việc phải dụng tâm suy nghĩ:

         Thị tư minh, thính tư thông, sắc tư ôn, mạo tư cung, ngôn tư trung, sự tư kính, nghi tư vấn, phẫn tư nạn, kiến đắc tư nghĩa.

          视思明, 听思聪, 色思温. 貌思恭, 言思忠, 事思敬, 疑思问, 忿思难, 见得思义.

          (Nhìn cần phải nghĩ đến việc nhìn cho chính xác, nghe cần phải nghĩ đến việc nghe cho rõ, sắc mặt cần phải nghĩ đến việc có được ôn hoà hay không, dung mạo cần phải nghĩ đến việc có cung kính hay không, lời nói cần phải nghĩ đến việc có trung hậu thành khẩn hay không, làm việc cần phải nghĩ đến có chăm chỉ cẩn thận hay không, có điều nghi ngờ cần phải nghĩ đến việc nhờ người thỉnh giáo, lúc tức giận cần phải nghĩ đến hậu quả, lúc gặp được điều lợi cần phải nghĩ có hợp với điều nghĩa hay không.)

          Những điều này đều là yêu cầu đối với “quân tử”.

          Còn như cách nói “quân tử chi giao đạm nhược thuỷ” 君子之交淡若水, xuất từ sách Trang Tử 庄子:

          Quân tử chi giao đạm nhược thuỷ, tiểu nhân chi giao cam nhược lễ. Quân tử đạm dĩ thân, tiểu nhân cam dĩ tuyệt.

          君子之交淡若水, 小人之交甘若醴. 君子淡以亲, 小人甘以绝.

          (Quân tử giao thiệp nhạt như nước, tiểu nhân giao thiệp, ngọt như rượu ngọt. Quân tử nhạt để mà thân cận, tiểu nhân ngọt mà nghĩa tuyệt.)

          Quách Tượng 郭象chú rằng:

          Vô lợi cố đạm, đạo hợp cố thân

          无利故淡, 道合故亲

          (Không vì cái lợi nên nhạt, đạo hợp với nhau nên thân)

          Khổng Dĩnh Đạt 孔颖达sớ rằng:

          Quân tử chi tiếp như thuỷ giả, ngôn quân tử tương tiếp, bất dụng hư ngôn, như lưỡng thuỷ tương giao, tầm hợp nhi dĩ.

          君子之接如水者, 言君子相接, 不用虚言, 如两水相交, 寻合而已.

          Quân tử giao tiếp như nước, ý nói quân tử lúc giao tiếp với nhau, không dùng những lời hoa hoè sáo rỗng, như hai dòng nước giao nhau chỉ tìm chỗ hợp với nhau mà thôi)

          Người ta thường nói “quân tử chi giao đạm nhược thuỷ”, nhưng rất ít người nghĩ đến ở sau câu đó còn có câu “tiểu nhân chi giao cam nhược lễ”. Tiểu nhân giao tiếp với nhau giống như các ngọt của rượu ngọt, nhưng cái ngọt đó lại xuất phát từ sự suy tính về lợi ích, không phải xuất phát từ bản tâm và thiên tính, nhân đó khi có được lợi ích hoặc khi lợi ích mất đi, ngay lập tức sẽ trở mặt đoạn giao. Thái độ đối đãi của quân tử và tiểu nhân từ hai câu này có thể phân biệt rất rõ ràng.

                                                                 Huỳnh Chương Hưng

                                                                 Quy Nhơn 16/4/2023

Nguồn

TÀNG TẠI HÁN TỰ LÍ ĐÍCH CỔ ĐẠI GIA QUỐC CHÍ

藏在汉字里的的古代家国志

Biên soạn: Hứa Huy 许晖

Bắc Kinh: Hoá học công nghiệp xuất bản xã, 2020.

Previous Post Next Post