Dịch thuật: Đường tu sẵn cách khảo bàn (633) (Bích Câu kì ngộ)

 

ĐƯỜNG TU SẴN CÁCH KHẢO BÀN (633) 

          Khảo bàn 考槃: Tên một bài thơ ở phần Vệ phong 衛風trong kinh Thi. Bài thơ miêu tả một vị ẩn sĩ cất gian nhà cỏ nơi sơn động, nơi gò cao tự vui với cuộc sống ẩn cư. Toàn bài có 3 chương, mỗi chương 4 câu, ngôn từ sảng khoái tự do, tạo nên một khung cảnh an lạc thanh nhàn.

          1- Khảo bàn tại giản. Thạc nhân chi khoan. Độc mị ngụ ngôn. Vĩnh thỉ phất huyên.

          2- Khảo bàn tại a. Thạc nhân chi khoa. Độc mị ngụ ca. Vĩnh thỉ phất qua.

          3- Khảo bàn tại lục. Thạc nhân chi trục. Độc mị ngụ túc. Vĩnh thỉ phất cốc.

          1- 考槃在澗. 碩人之寬. 獨寐寤言. 永矢弗諼.

          2- 考槃在阿. 碩人之. 獨寐寤歌. 永矢弗過.

          3- 考槃在陸. 碩人之軸. 獨寐寤宿. 永矢弗告.

Chú thích

Khảo bàn 考槃: Chỉ tị thế ẩn cư. Khảo là xây nên; bàn là gác cây làm nhà. Có thuyết lại cho “khảo” là giả tá của chữ “khấu” nghĩa là gõ, “bàn” chỉ một loại khí cụ bằng gỗ dùng để đựng.

           Có thuyết lại nói “Khảo” là thành tựu, “bàn” là bàn hoàn, tức quanh quẩn không rời đi. “Khảo bàn” ý nói ẩn cư sau khi đã có thành tựu.

Dịch nghĩa

          1- Làm nhà nơi khe núi. Người hiền độ lượng khoan dung không muốn ra làm quan. Thức ngủ một mình, tự nói một mình. Thề không quên cảnh vui thú này.

          2- Làm nhà bên gò. Là nơi ở của người hiền. Thức ngủ một mình, tự mình ca hát. Thề mãi mãi không rời chỗ này.

          3- Làm nhà nơi bờ đất cao. Người hiền mãi quanh quẩn nơi đây. Thức ngủ một mình. Thề chẳng nói với ai thú vui ở ẩn này.

          (Bạch thoại tân giải - Thi kinh. Đài Loan: Trí Dương xuất bản xã, 2004)

Đường tu sẵn cách khảo bàn

Rượu sen sánh giọng, trà lan thơm lòng

(Bích Câu kì ngộ: 633 - 634)

                                                                     Huỳnh Chương Hưng

                                                                     Quy Nhơn 17/11/2022

Previous Post Next Post