Dịch thuật: Kì Lân đài hề Hoắc Phiêu diêu (447) (Đặng Trần Côn: Chinh phụ ngâm)

 

KÌ LÂN ĐÀI HỀ HOẮC PHIÊU DIÊU (447)

麒麟臺兮霍嫖姚

Như Hoắc Phiêu diêu có công, hoạ tượng được treo ở Kì Lân đài

          Kì Lân đài 麒麟臺/麒麟台: Kiến trúc hoàng gia thời Tây Hán, toạ lạc phía tây bắc Thiên Lộc các 天禄阁 trong cung Vị Ương 未央. Khoảng thời Nguyên Thú 元狩, nhân Hán Vũ Đế Lưu Triệt 汉武帝刘彻 đi săn bắt được kì lân nên đã đặt tên Kì Lân các 麒麟阁, ngụ ý “long” tượng trưng cho đế vương, “kì lân” tượng trưng cho công thần danh tướng phò tá đế vương. Nguyên Kì Lân các chủ yếu dùng vào việc tàng trữ tư liệu lịch sử các đời cùng các văn kiện lịch sử bí mật. Năm Cam Lộ 甘露 thứ 3 (năm 51 trước công nguyên), Tây Hán trung hưng, nhân hung nô quy hàng Đại Hán, biên giới an định, nhung địch thần phục, Hán Tuyên Đế Lưu Tuân 汉宣帝刘询tưởng nhớ đến các công thần đã có công phò tá, đã sai người vẽ đồ tượng 11 vị công thần treo trong Kì Lân các để kỉ niệm và biểu dương.

          11 vị gồm:

          - Đại tư mã, Đại tướng quân, Bác Lục Hầu Hoắc Quang 博陆侯霍光

          - Đại tư mã, Vệ tướng quân lĩnh Thượng thư sự, Phú Bình Hầu Trương An Thế  富平侯张安世.

          - Đại tư mã, Xa kị tướng quân lĩnh Thượng thư sự, Án Đạo Hầu Hàn Tăng 按道侯韩增.

          - Hậu tướng quân, Thiếu phủ, Doanh Bình Hầu Triệu Sung Quốc 营平侯赵充国.

          - Đại tư nông, Ngự sử đại phu, Thừa tướng, Cao Bình Hầu Nguỵ Tương  高平侯魏相.

          - Thái tử thái phó, Ngự sử đại phu, Thừa tướng, Bác Dương Hầu Bính Cát 博阳侯丙吉.

          - Thái bộc, Hữu tào, Cấp sự trung, Ngự sử đại phu, Kiến Bình Hầu Đỗ Diên Niên 建平侯杜延年.

          - Tông chính, Dương Thành Hầu Lưu Đức  阳成侯刘德.

          - Thái trung đại phu, Cấp sự trung Thiếu phủ Lương Khâu Hạ 梁丘贺.

          - Nhậm gián đại phu, Thừa tướng tư trực, Ngự sử đại phu, Tả phùng dực, Đại hồng lô, Thái tử thái phó, Tiền tướng quân, Quang lộc huân lĩnh Thượng thư sự, Quan Nội Hầu Tiêu Vọng Chi 关内侯萧望之.

          - Trung lang tướng, Điển thuộc quốc, Quan Nội Hầu Tô Vũ 关内侯苏武.

https://baike.baidu.com/item/%E9%BA%92%E9%BA%9F%E9%98%81%E5%8D%81%E4%B8%80%E5%8A%9F%E8%87%A3/2222007

          Hoắc Phiêu diêu霍嫖姚:

          “Phiêu diêu” 嫖姚 ý nghĩa là dáng vẻ mạnh mẽ nhanh nhẹn. “Hoắc Phiêu diêu” 霍嫖姚 tức Hoắc Khứ Bệnh 霍去病. Trong Sử kí – Vệ tướng quân Phiêu kị liệt truyện 史记 - 卫将军骠骑列传 viết là 剽姚. Trong Hán thư – Hoắc Khứ Bệnh truyện 汉书 - 霍去病传viết là 票姚.

          Hoắc Khứ Bệnh 霍去病 (năm 140 – năm 117 trước công nguyên): danh tướng, quân sự gia thời Tây Hán, người Bình Dương 平阳 Hà Đông 河东 (nay là thành phố Lâm Phần 临汾 tỉnh Sơn Tây 山西), anh cùng cha khác mẹ với Đại tư mã, Đại Tướng quân Hoắc Quang 霍光. Năm 18 tuổi, Hoắc Khứ Bệnh được phong làm Phiêu kị hiệu uý 剽骑校尉, thống lĩnh 800 kị binh thâm nhập đại mạc, hai lần công lao đứng đầu toàn quân nên được phong là Quán Quân Hầu 冠军侯. Năm 10 tuổi thăng Phiêu kị tướng quân 骠骑将军, hai lần chỉ huy chiến dịch Hà Tây 河西, giết và chiêu hàng gần cả 10 vạn quân Hung nô Hà Tây, xông thẳng đến Kì Liên sơn 祁连山. Năm Nguyên Thú 元狩 thứ 4 (năm 119 trước công nguyên), Hoắc Khứ Bệnh cùng Vệ Thanh 卫青 đem quân thâm nhập mạc bắc, trong trận chiến ở mạc bắc đã tiêu diệt hơn 7 vạn quân chủ lực của Hung nô Tả Hiền Vương bộ 左贤王部, truy kích Hung nô đến Lang Cư Tư sơn 狼居胥山. Sau trận chiến được bái làm Đại tư mã Phiêu kị tướng quân 大司马骠骑将军, cùng Vệ Thanh nắm giữ quân chính. Năm Nguyên Thú thứ 6 (năm 117 trước công nguyên), Hoắc Khứ Bệnh bệnh và qua đời, năm đó chỉ mới 24 tuổi. Vũ Đế ban thuỵ hiệu là “Cảnh Hoàn” 景桓, được bồi tang ở Mậu Lăng 茂陵, đồng thời mô phỏng hình dạng Kì Liên sơn để đắp mộ.

https://baike.baidu.com/item/%E9%9C%8D%E5%8E%BB%E7%97%85/137234

          Trong Kì Lân các có danh tướng họ Hoắc, nhưng không phải là Hoắc Khứ Bệnh mà là Hoắc Quang.

          Hoắc Quang 霍光 (? – năm 68 trước công nguyên): Tự Tử Mạnh 子孟, người Bình Dương 平阳 Hà Đông 河东 (nay là thành phố Lâm Phần 临汾 tỉnh Sơn Tây 山西), quyền thần, chính trị gia thời Tây Hán, em cùng cha khác mẹ với Đại tư mã Hoắc Khứ Bệnh 霍去病.

          Hoắc Quang dáng vóc khôi ngô, râu dài và đẹp. Ông làm quan trải nhậm các chức Phụng xa đô uý 奉车车都尉, Quang Lộc đại phu 光禄大夫. Ông trung thành cần mẫn, một lòng ngay thẳng. Khi Hán Vũ Đế lâm chung, trao chức Đại tướng quân, Đại tư mã, nhận mệnh thác cô. Hán Chiêu Đế  Lưu Phất Lăng 汉昭帝刘弗陵 kế vị, trừ khử âm mưu Thượng Quan Kiệt 上官桀 ủng hộ lập Lưu Hằng 刘恒. Ông được sách phong Bác Lục Hầu 博陆侯. Hán Chiêu Đế mất, ông phế trừ việc lập Xương Ấp Vương Lưu Hạ 昌邑王刘贺, ủng hộ lập Hán Tuyên Đế Lưu Tuân 汉宣帝 刘询 tức vị, ông nắm quyền nhiếp chính, quyền khuynh triều dã.

          Năm Địa Tiết 地节 thứ 2 đời Hán Tuyên Đế (năm 68 trước công nguyên), Hoắc Quang mất, được ban thuỵ hiệu là Tuyên Thành 宣成, bồi táng tại Mậu lăng 茂陵của Hán Vũ Đế. Tên ông đứng đầu của 11 công thần trong Kì Lân các. Hai năm sau, nhà họ Hoắc mưu đồ tạo phản, hại mẹ con hoàng hậu Hứa Bình Quân 许平君, sự việc bị phát giác, cả tộc bị tội xử tử.

https://baike.baidu.com/item/%E9%9C%8D%E5%85%89/419055

Câu 446 và câu 447

Kì Lân đài hề Hoắc Phiêu diêu

麒麟臺兮霍嫖姚

bản diễn Nôm “Chinh phụ ngâm diễn ca” tương truyền của Đoàn Thị Điểm là:

So tài Tần Hoắc vẹn toàn

Tên ghi gác Khói tượng truyền đài Lân

(383 – 384)

Bản Chinh phụ ngâm khúc của Vân Bình Tôn Thất Lương, nxb Tân Việt, in năm 1953 là:

So tài Tần, Hoắc, vẹn TUYỀN

Tên ghi gác “Khói”, tượng truyền đài “Lân”

                                                                            Huỳnh Chương Hưng

                                                                            Quy Nhơn 11/4/2022