Dịch thuật: Diễn biến của Hán tự

 

DIỄN BIẾN CỦA HÁN TỰ

          Hán tự là loại văn tự biểu ý kết hợp mật thiết giữa hình thể và ý nghĩa. Nó dần từ cụ thể đi đến trừu tượng, phù hiệu hoá, hình thức khối vuông dần từng bước cố định. Bắt đầu từ vật thực có văn tự từ thời Ân Thương, diễn biến của Hán tự đã trải qua nhiều giai đoạn: giáp cốt văn, kim văn, đại triện, tiểu triện, lệ thư, khải thư, thảo thư, hành thư, Tống thể.

          - Giáp cốt văn 甲骨文: Trước mắt, hình thái văn tự sớm nhất được phát hiện khởi nguồn từ thời Ân Thương.

          - Kim văn 金文: Văn tự được chạm khắc trên khí vật chuông đỉnh, xuất hiện thời Thương Chu.

          - Đại triện 大篆: Cũng gọi là trứu văn, do Thái sử Trứu đời Chu sáng tạo, thông hành ở nước Tần thời Xuân Thu.

          - Tiểu triện 小篆: Thích ứng với hình thế Tần thống nhất Trung Quốc mà hình thành, từ đại triện giản hoá mà ra.

          - Lệ thư 隶书: Hình thành vào cuối thời Chiến Quốc, thành thục vào đời Hán, từ tiểu triện giản hoá mà ra.

          - Khải thư 楷书: Xuất hiện vào thời Đông Hán, tiến một bước hoàn thiện vào thời Lục Triều, thành thục vào thời Đường, từ lệ thư giản hoá mà ra.

          - Thảo thư 草书: Biến thể của khải thư, sản sinh vào đời Hán.

          - Hành thư 行书: Khởi nguồn từ đời Hán, là loại tự thể giữa khải thư và thảo thư.

          - Tống thể 宋体: Xuất hiện vào đời Tống, hưng khởi vào tay các thợ ấn loát và khắc bản. Thư tịch đời sau đa phần đều dùng tự thể này.

                                                                   Huỳnh Chương Hưng

                                                                   Quy Nhơn 19/4/2022

Nguồn

BẤT KHẢ BẤT TRI ĐÍCH 3000 CÁ VĂN HOÁ THƯỜNG THỨC

不可不知的 3.000 个文化常识

Biên soạn: Tinh Hán 星汉

Bắc Kinh: Trung Quốc Hoa Kiều xuất bản xã, 2010