Dịch thuật: Tại địa vi liên lí chi (418) (Đặng Trần Côn: Chinh phụ ngâm)

 

TẠI ĐỊA VI LIÊN LÍ CHI (418)

在地為連理枝

Dưới đất làm cây liền cành 

          Liên lí chi 連理枝: Cây liền cành.

          Trong Sưu thần kí 搜神记có thuật một câu chuyện:

          Thời Chiến Quốc tại nước Tống có một xá nhân tên Hàn Bằng 韩凭. Hàn Bằng cùng với vợ là Hà Thị 何氏yêu thương nhau. Tống quân đương thời là Khang Vương 康王 hoang dâm vô đạo, thấy Hà Thị xinh đẹp hiền thục bèn đoạt lấy. Hàn Bằng oán hận, Khang Vương  liền cho bắt giam Hàn Bằng, luận tội cho làm “thành đán” 城旦. Hà Thị ngầm viết thư cho chồng, trong thư viết rằng:

Kì vũ dâm dâm

Hà đại thuỷ thâm

Nhật xuất đương tâm

其雨淫淫

河大水深

日出当心

          Không ngờ thư lọt vào tay Tống Vương, Vương đọc không hiểu, đưa cho tả hữu giải thích nhưng tả hữu cũng không hiểu. Tô Hạ 苏贺 đáp rằng:

          “Kì vũ dâm dâm” ý nói sầu muộn nhớ nhung không dứt. “Hà đại thuỷ thâm” tức không qua lại với nhau được. Nhật xuất đương tâm” ý nói lòng đã xác định tìm cái chết.

          Chẳng bao lâu sau, Hàn Bằng tự sát. Hà Thị ngầm làm cho y phục mục nát. Ngày nọ Tống Vương và Hà Thị lên đài. Hà Thị từ trên cao nhảy xuống đất tự tận. Tuỳ tùng của Tống Vương liền nắm áo kéo lại, nhưng do y phục đã mục nên nắm không được. Trong đai áo của Hà Thị lộ ra di thư, viết rằng:

          “Tống Vương muốn sống một cách thuận lợi, nhưng thiếp muốn được chết một cách thuận lợi. Xin cho thi thể của thiếp được hợp táng cùng Hàn Bằng”.

          Tống vương cả giận, không để ý gì đến lời thỉnh cầu của Hà thị, sai người cùng làng của Hàn Bằng và Hà thị mai táng, cho mộ của hai người cách xa xa. Tống Vương bảo rằng:

          - Hai vợ chồng nhà ngươi yêu thương nhau mãi không thôi, nếu hai mộ hợp lại, thì ta sẽ không ngăn trở nữa.

          Qua một đêm, có hai cây đại tử 大梓 từ bên cạnh hai mộ mọc lên, chưa tới 10 ngày mà cành lá đã vươn dài ra quấn quýt lấy nhau, hai thân cây cong lại nương kề nhau, rễ ở dưới giao nhau, cành lá đan xen nhau. Lại có một đôi chim uyên ương, một trống một mái luôn đậu trên cây, sớm tối không rời, gối đầu cất tiếng kêu, tiếng kêu thảm thiết cảm động lòng người. Người nước Tống vì tiếng kêu đó mà đau buồn, bèn gọi cây đó là “tương tư thụ”相思树. Từ “tương tư” 相思 bắt nguồn từ đó.

          Người phương nam cho rằng loài chim uyên ương đó chính là linh hồn của Hàn Bằng và Hà Thị biến thành.

          (Can Bảo 干宝 “Sưu thần kí”, Trường Sa – Nhạc Lộc thư xã, 2006)

          (Thành đán城旦: một loại hình phạt thời Tần Hán, thuộc đồ hình. Thành đán là hình phạt giành cho nam phạm nhân. Ý nghĩa là “trị thành” 治城 tức xây thành. Hình phạt giành cho nữ phạm nhân gọi là “thung” , ý nghĩa là “trị mễ” 治米tức giã gạo).

          Trong bài Trường hận ca 長恨歌 của Bạch Cư Dị 白居易 thời Đường có câu:

Tại thiên nguyện tác tị dực điểu

Tại địa nguyện vi liên lí chi

在天願作比翼鳥

在地願為連理枝

(Trên trời nguyện làm chim liền cánh

Dưới đất nguyện làm cây liền cành)

Bản diễn Nôm “Chinh phụ ngâm diễn ca” tương truyền của Đoàn Thị Điểm đã diễn Nôm câu 417 - 418:

An đắc tại thiên vi tị dực điểu

Tại địa vi liên lí chi

(417 – 418)

Thiếp xin muôn kiếp duyên này

Như chim liền cánh như cây liền cành

(359 – 360)

Bản Chinh phụ ngâm khúc của Vân Bình Tôn Thất Lương, nxb Tân Việt, in năm 1953 là:

Thiếp xin VỀ kiếp SAU này

Như chim liền cánh, như cây liền cành

                                                                            Huỳnh Chương Hưng

                                                                            Quy Nhơn 15/3/2022