Dịch thuật: Nhiếp y bộ tiền đường (366) (Đặng Trần Côn: Chinh phụ ngâm)

 

NHIẾP Y BỘ TIỀN ĐƯỜNG (366)

攝衣步前堂

Vén vạt áo lên dạo bước nơi nhà trước

 

          Nhiếp y 攝衣/摄衣: “Nhiếp” /là vén lên. Nhiếp y là vén vạt áo lên. Điển xuất từ Quản Tử - Đệ tử chức 管子-弟子职:

          Thiếu giả chi sự, dạ mị tảo tác. Kí phấn quán sấu, chấp sự hữu khác, nhiếp y cung quán, tiên sinh nãi tác. Ốc quán triệt quán, phiếm phấn chính tịch, tiên sinh nãi toạ. Xuất nhập cung kính, như kiến tân khách. Nguy toạ hướng sư, nhan sắc vô tạc.

          少者之事, 夜寐早作. 既拚盥漱, 执事有恪, 摄衣共盥, 先生乃作. 沃盥彻盥, 汎拚正席, 先生乃坐. 出入恭敬, 如见宾客, 危坐乡师, 颜色毋怍.

          (Bổn phận của trẻ là ngủ muộn dậy sớm. Sáng sớm khi thức dậy dọn dẹp giường chiếu sau đó đánh răng rửa mặt, làm việc phải cẩn thận cung kính, vén vạt áo lên chuẩn bị dụng cụ đánh răng rửa mặt cho thầy, lúc này thầy cũng đã thức dậy. Sau khi thầy rửa mặt đánh răng xong, dọn dẹp dụng cụ, lại quét dọn nhà cửa trải chiếu ngay ngắn, thầy bắt đầu vào chiếu giảng bài. Đệ tử ra vào phải luôn cung kính, như gặp được khách. Ngồi ngay ngắn hướng đến thầy, không được tuỳ ý thay đổi sắc mặt)

https://baike.baidu.com/item/%E5%BC%9F%E5%AD%90%E8%81%8C/9395549

Theo Hán điển 汉典, “nhiếp y” còn có một nghĩa nữa là “chỉnh sức y trang” 整饬衣装 (chỉnh sửa trang phục).

https://www.zdic.net/hans/%E6%91%84%E8%A1%A3

Câu 366 “Nhiếp y bộ tiền đường” này xuất từ bài Tứ Triệu Sĩ Trung nhị thủ 赐赵士忠二首 (bài 2) của Tống Hiếu Tông 宋孝宗thời Tống. (Có tư liệu cho là của Phó Huyền 傅玄thời Tấn):

Chí sĩ tích nhật đoản. Sầu nhân tri dạ trường. Nhiếp y bộ tiền đình. Ngưỡng quan nam nhạn tường. Thuần ảnh tuỳ hình vận. Lưu hưởng quy không phòng. Thanh phong hà phiêu diêu. Vi nguyệt xuất tây phương. Phồn tinh y thanh thiên. Liệt tú tự thành hàng. Thiền minh cao thụ gian. Dã điểu hào đông sương. Tiêm vân thời phảng phất. Ác lộ triêm ngã thường. Lương thời vô đình ảnh. Bắc đẩu hốt đê ngang. Thường khủng hàn tiết chí. Ngưng khí kết vi sương. Lạc diệp tuỳ phong tồi. Nhất tuyệt như lưu quang.

志士惜日短. 愁人知夜长. 摄衣步前庭. 仰观南雁翔. 淳景随形运. 流响归空房. 清风何飘颻, 微月出西方. 繁星依青天. 列宿自成行. 蝉鸣高树间. 野鸟号东厢. 纤云时髣髴. 渥露沾我裳. 良时无停景. 北斗忽低昂. 常恐寒节至. 凝气结为霜. 落叶随风摧. 一绝如流光.

(Kẻ sĩ có chí hướng tiếc ngày luôn ngắn. Người u sầu cho đêm lại dài. Vén vạt áo dạo bước trong sân. Ngước nhìn bầy chim nhạn bay liệng về phương nam. Cảnh đêm đẹp theo ánh trăng lưu chuyển. Có thanh âm vang đến phòng trống vắng. Gió mát nhẹ nhàng lướt qua. Trăng non từ phương tây mọc ra. Sao dày tựa vào bầu trời xanh. Chúng bày ra thành hàng. Ve kêu trên ngọn cây cao. Chim rừng kêu nơi gian nhà phía đông. Áng mây nhẹ nhàng dường phảng phất. Sương đêm nặng thấm đẫm áo của ta. Thời khắc đẹp không dừng lại. Chòm Bắc đẩu chợt bày ra. Thường sợ khí lạnh kéo đến. Ngưng kết lại thành sương. Lá rụng hư hại theo làn gió. Cảnh đẹp như một bài thơ theo ánh trăng lưu chuyển trên sóng nước)

Câu 366 này, bản của Vân Bình Tôn Thất Lương dịch là:

Vén áo lên bước ra trước nhà.

Câu 366 bản diễn Nôm “Chinh phụ ngâm diễn ca” tương truyền của Đoàn Thị Điểm là:

Sửa xiêm dạo bước tiền đường (311) 

                                                                            Huỳnh Chương Hưng

                                                                            Quy Nhơn 17/01/2022