Dịch thuật: Trung thu tiết

 

TRUNG THU TIẾT 

          Trung Thu tiết 中秋节cũng gọi là “Tế nguyệt tiết” 祭月节, “Nguyệt quang đản” 月光诞, “Nguyệt tịch” 月夕, “Thu tiết” 秋节, “Trọng thu tiết” 仲秋节, “Bái nguyệt tiết” 拜月节, “Nguyệt nương tiết” 月娘节, “Nguyệt lượng tiết” 月亮节, “Đoàn viên tiết” 团圆节 v.v... là tiết nhật truyền thống của dân gian Trung Quốc. Trung thu tiết nguyên từ việc sùng bái thiên tượng, do tập tục Thu tịch Tế nguyệt 秋夕祭月 thời thượng cổ diễn biến mà ra. Ban đầu, tiết kì của “Tế nguyệt tiết” là vào ngày “Thu phân” 秋分 trong 24 tiết khí theo lịch can chi, vế sau mới điều chỉnh đến ngày 15 tháng 8 Hạ lịch 夏历 (âm lịch), cũng có một số nơi đem Trung thu tiết định vào ngày 16 tháng 8 Hạ lịch. Từ thời cổ, Trung thu tiết đã có một số dân tục như tế trăng, thưởng trăng, ăn bánh Trung thu, chơi hoa đăng, thưởng thức hoa quế, uống rượu hoa quế v.v... còn lưu truyền đến nay.

          Trung thu tiết khởi nguồn từ thời thượng cổ, phổ cập vào đời Hán, định hình vào triều Đường, thịnh hành vào triều Tống trở về sau. Trung thu tiết là tổng hợp tập tục thời lệnh ở mùa thu, nhân tố tiết tục mà nó bao hàm đa số đều có nguồn gốc cổ xưa. Trung thu tiết lấy trăng tròn báo sự đoàn viên, kí thác tình cảm nhớ cố hương, nhớ người thân, mong được mùa, cầu hạnh phúc, trở thành di sản văn hoá đa sắc màu trân quý.

          Trung thu tiết cùng với Xuân tiết 春节, Thanh minh tiết 清明节, Đoan ngọ tiết 端午节 được gọi là “ Trung Quốc tứ đại truyền thống tiết nhật” 中国四大传统节日,  chịu ảnh hưởng văn hoá Trung Quốc. Trung thu tiết cũng là tiết nhật truyền thống ở một số nước đông Á và Đông Nam Á, nhất là những nước có Hoa nhân và Hoa kiều. Ngày 20 tháng 5 năm 2006, Quốc vụ viện Trung Quốc đã phê chuẩn đem Trung thu tiết đưa vào danh sách Di sản văn hoá phi vật chất cấp quốc gia.

Biệt xưng của Trung thu tiết

          Theo lịch pháp Trung Quốc, tháng 8 âm lịch là vào giữa mùa thu, là tháng thứ 2 của mùa thu, xưng là “Trọng thu” 仲秋, mà ngày 15 tháng 8 lại ở giữa “Trọng thu” cho nên xưng là “Trung thu” 中秋. Trung thu tiết có nhiều biệt xưng: Thời cổ có hoạt động Thu phân Nguyệt tịch 秋分月夕 (bái nguyệt), cho nên xưng là “Nguyệt tịch” 月夕 hoặc “Tế nguyệt tiết” 祭月节. Nhân bởi tiết kì vào ngày 15 tháng 8, cho nên xưng là “Bát nguyệt tiết” 八月节, “Bát nguyệt bán” 八月半. Cũng do bởi những hoạt động chủ yếu của Trung thu tiết đa phần đều tiến hành xoay quanh “nguyệt” nên tục xưng là “Nguyệt tiết” 月节. Vào Trung thu tiết, trăng tròn viên mãn, tượng trưng sự đoàn tụ, nhân đó lại xưng là “Đoàn viên tiết” 团圆节. Trung thu tiết trăng tròn, người trong nhà đoàn tụ, con gái đã xuất giá cũng trở về lại nhà đoàn tụ, nên cũng xưng là “Đoàn viên tiết” 团圆节, “Nữ nhi tiết” 女儿节. Khu vực Quảng Đông, Trung thu tiết tục xưng là “Nguyệt quang đản” 月光诞. Lúc trung thu các loại quả dưa đã chín, được đưa ra thị trường, nên gọi là “Quả tử tiết” 果子节. Dân tộc Đồng xưng là “Nam qua tiết” 南瓜节. Dân tộc Mục Lão 仫佬xưng là “Hậu sinh tiết” 后生节. Trung thu tiết còn được xưng là “Đoan chính tiết” 端正节.

                                                                              Huỳnh Chương Hưng

                                                                              Quy Nhơn 21/9/2021

                                                                             Tân Sửu Trung Thu tiết

Nguồn

https://baike.baidu.com/item/%E4%B8%AD%E7%A7%8B%E8%8A%82/128234