Dịch thuật: Nguyên do từ "Hoa Hạ" chỉ Trung Quốc

 

NGUYÊN DO TỪ “HOA HẠ” CHỈ TRUNG QUỐC

          Cách nói “Hoa Hạ” 华夏sản sinh từ triều Hạ. Ông Khải là con của ông Vũ đương thời đã kiến lập vương triều theo chế độ nô lệ đầu tiên của Trung Quốc – triều Hạ , thế là người triều Hạ lúc bấy giờ đã hình thành khái niệm chung chung “Hạ tộc” 夏族, cũng xưng là “Hoa tộc” 华族hoặc “Hoa Hạ tộc” 华夏族. “Hạ” có nghĩa là rộng lớn; “Hoa” là sự diễn biến của “hoa” , có liên quan đến sự sùng bái của người xưa đối với hoa, ý nghĩa là đẹp. “Hoa Hạ” 华夏tức một nơi rộng lớn và đẹp đẽ.

          Khái niệm “Hoa Hạ tộc” khi vừa mới sản sinh, cảm nhận của mọi người đối với chủng tộc này không mạnh mẽ lắm. Đến thời Chu, đối với tộc Di, người Chu không chỉ có nền văn minh vật chất tiên tiến, mà còn nhân vì Chu Công chế định chế độ lễ nhạc mà văn hoá cũng đã có sự khu biệt với tứ di. Thế là người ta liền sản sinh một loại ưu việt cảm, tiến đến sản sinh tộc quần nhận đồng cảm. Khái niệm “Hoa Hạ tộc” bắt đầu thâm nhập lòng người. Như trong Xuân Thu Tả thị truyện 春秋左氏传 Khổng Dĩnh Đạt 孔颖达 đã sớ rằng:

          Trung Quốc hữu lễ nghi chi đại, cố xưng Hạ; hữu phục chương chi mĩ, vị chi Hoa.

          中国有礼仪之大, 故称夏; 有服章之美, 谓之华.

          (Trung Quốc có lễ nghi lớn, cho nên xưng là Hạ; có phục sức đẹp nên gọi là Hoa.)

          Có thể thấy, “Hoa Hạ” đương thời ngoại trừ sự khu biệt về chủng tộc giữa dân tộc trung nguyên với tứ di, còn bao hàm sự phân biệt nội hàm văn minh tiên tiến với văn minh lạc hậu, giống như sự khu biệt “khu vực phát đạt” và “khu vực lạc hậu” ở hiện nay. Còn như “khu vực lạc hậu” cũng giống như thông qua tinh thần “khổ cực 20 năm, hướng đến tỉnh phần tiên tiến để được ngang bằng” truy cầu bước đến “khu vực phát đạt”. Man di cũng có thể thông qua sự văn minh hoá dần dần mà bước chân vào “Hoa Hạ tộc”. Ví dụ như nước Tần ở phía tây vốn thuộc tây nhung, đến thời Chiến Quốc trở thành chư hầu quốc mạnh nhất trong chư bang của Hoa Hạ; nước Sở ở phương Nam, vốn bị các nước trung nguyên xem là “nam man”, thi nhân Khuất Nguyên 屈原  từng vì thân phận “man di” mà cảm thấy khổ não. Nhưng đến thời Chiến Quốc, nước Sở đã vươn vai mà ở vào “Hoa Hạ”.

          Sự thực, cả thời kì Xuân Thu, việc Hoa Hạ hoá tứ di là một trong những sự vận động hài hoà cơ bản của cả thời đại. Các đời sau đều tồn tại hiện tượng người tộc Hán khuếch trương đến đất man di đồng thời đồng hoá man di hoặc man di dời đến ở trong khu vực người Hán đồng thời bị đồng hoá, nhân đó có thể nói Hoa Hạ tộc chính là sự dung hợp không ngừng giữa dân tộc trung nguyên với di tộc bốn bên mà hình thành. Nhân vì sự cường thịnh của đời Hán, mọi người đem dân tộc Hoa Hạ xưng là Hán tộc 汉族. Nhưng trong văn hiến tảo kì cổ đại, thường lấy “Hoa Hạ” chỉ thay Trung Quốc, nhân đó người đời sau vẫn thường lấy Hoa Hạ để chỉ Trung Quốc.

                                                                  Huỳnh Chương Hưng

                                                                   Quy Nhơn 26/9/2021

Nguồn

BẤT KHẢ BẤT TRI ĐÍCH 3000 CÁ VĂN HOÁ THƯỜNG THỨC

不可不知的 3.000 个文化常识

Biên soạn: Tinh Hán 星汉

Bắc Kinh: Trung Quốc Hoa Kiều xuất bản xã, 2010