Dịch thuật: Dẫu rằng vật đổi sao dời (3087) ("Truyện Kiều")

 

DẪU RẰNG VẬT ĐỔI SAO DỜI (3087)

          Vật đổi sao dời: Trong Đằng Vương các tự 滕王閣序 của Vương Bột 王勃 đời Đường có bài thơ:

Đằng Vương cao các lâm giang chử

Bội ngọc minh loan bãi ca vũ

Hoạ đống triêu phi Nam Phố vân

Châu liêm mộ quyển Tây Sơn vũ

Nhàn vân đàm ảnh nhật du du

Vật hoán tinh di kỉ độ thu

Các trung đế tử kim hà tại

Hạm ngoại Trường giang không tự lưu

滕王高閣臨江渚

佩玉鳴鑾罷歌舞

畫棟朝飛南浦雲

朱簾暮卷西山雨

閒雲潭影日悠悠

物換星移幾度秋

閣中帝子今何在

檻外長江空自流

(Gác Đằng Vương cao cao bên bờ sông

Quý tộc đeo ngọc bội, ngồi xe gắn chuông kêu vang không còn đến đây ca hát

Buổi sớm, những hàng cột vẽ trông giống như mây từ Nam Phố bay đến

Chiều tối, rèm châu cuốn lên như cuốn cả cơn mưa ở Sơn Tây

Mây in bóng trên đầm, ngày trôi dằng dặc khôn cùng

Vật đổi sao dời không biết đã qua mấy độ thu

Đằng Vương trong gác giờ ở nơi đâu?

Chỉ thấy nước Trường giang bên ngoài lan can tự chảy.)

Dẫu rằng vật đổi sao dời

Tử sinh, cũng giữ lấy lời tử sinh

(“Truyện Kiều” 3087 – 3088)

Vật đổi sao dời: Chữ Hán là “vật hoán tinh di” tức vật đổi hình trạng, sao dời vị trí, chỉ sự biến thiên.

(Đào Duy Anh: “Từ điển Truyện Kiều”, nxb Khoa học xã hội, Hà Nội – 1989)

Trong “Kim Vân Kiều” (Đoạn trường tân thanh) do Bùi Khánh Diễn chú thích, ghi rằng:

          Vương bột Đằng vương các thi: Vật hoán tinh di kỉ độ thu.

          王勃滕王閣詩: 物換星移幾度秋

          (Thơ Đằng vương các của ông Vương Bột: Vật đổi sao dời mấy độ thu)

(Sài Gòn: nxb Sống Mới, 1960) 

Xét: “Vật hoán tinh di” 物換星移 tức vật đổi sao dời, được dùng làm thành ngữ. Thành ngữ này ví sự biến đổi của thời gian. Theo ý riêng, "vật đổi sao dời" ở câu 3087, Nguyễn Du đã theo thành ngữ “Vật hoán tinh di” này.

                                                                 Huỳnh Chương Hưng

                                                                 Quy Nhơn 05/5/2021