Dịch thuật: Trông lên mặt sắt đen sì (1409) ("Truyện Kiều")


TRÔNG LÊN MẶT SẮT ĐEN SÌ (1409)
          Mặt sắt: chữ Hán là “thiết diện” 铁面 / 鐵面. Bao Chửng包拯 từng giữ chức Ngự sử, xử án công minh, người đời gọi ông là “Thiết diện Ngự sử” 铁面御史.
          Bao Chửng 包拯 (999 – 1062), tự Hi Nhân 希仁, người Hợp Phì 合肥 Lư Châu 庐州, danh thần thời Bắc Tống. Năm Thiên Thánh 天圣 thứ 5 (1027), Bao Chửng đậu Tiến sĩ, làm quan đến chức Giám sát ngự sử 监察御史, từng giữ qua chức Phán quan 判官 của Tam ti Hộ bộ 三司户部cùng Chuyển vận sứ 转运使ở các lộ Kinh Đông 京东, Thiểm Tây 陕西, Hà Bắc 河北. Sau về triều giữ chức Tam ti Hộ bộ phó sứ 三司户部副使. Sau được gia ban Long Đồ Các Trực học sĩ 龙图阁直学士, Hà Bắc Đô chuyển vận sứ 河北都转运使. Lịch quyền các chức Tri Khai Phong phủ 知开封府, quyền Ngự sử Trung thừa 御史中丞, Tam ti sứ 三司使. Năm Gia Hựu 嘉祐thứ 6 (1061) thăng nhậm Xu mật phó sứ 枢密副使. Nhân vì từng đảm nhiệm qua các chức Thiên Chương Các đãi chế 天章阁待制, Long Đồ Các Trực học sĩ龙图阁直学士, nên người đời gọi ông là “Bao Đãi Chế” 包待制, “Bao Long Đồ” 包龙图. Năm Gia Hựu thứ 7 (1062), Bao Chửng qua đời, hưởng niên 64 tuổi, được truy tặng Lễ bộ Thượng thư 礼部尚书, thuỵ hiệu là Hiếu Túc 孝肃, người đời sau gọi ông là “Bao Hiếu Túc” 包孝肃.
          Bao Chửng liêm khiết công chính, cương nghị, thiết diện vô tư, xử án anh minh quyết đoán, dám vì bách tính mà bày tỏ nỗi bất bình, cho nên ông còn có tên là “Bao Thanh Thiên” 包青天, “Bao Công” 包公. Đời sau tôn thờ sùng bái ông như thần minh, cho rằng ông là Khuê tinh 奎星 chuyển thế. Hình tượng Bao Chửng trong dân gian là “hắc diện”.

Trông lên mặt sắt đen sì
Lập nghiêm, trước đã ra uy nặng lời
(“Truyện Kiều” 1409 - 1410)
Mặt sắt: Chữ Hán là “thiết diện”, chỉ ông quan nghiêm khắc.
(Đào Duy Anh: “Từ điển Truyện Kiều”, nxb Khoa học xã hội, Hà Nội – 1989)
Trong “Kim Vân Kiều” (Đoạn trường tân thanh) do Bùi Khánh Diễn chú thích, ghi rằng:
          Tống thư: Thiết diện ngự sử thính đoán thậm công minh.
          宋書: 面御史聽斷甚公明
          (Sách Tống: Quan Ngự sử mặt đen như sắt, xử kiện rất công minh)

Xét: “Mặt sắt đen sì” ở câu 1409 trong truyện Kiều ý nói vị quan công chính, không thiên vị.
Trong “Tư liệu Truyện Kiều  - Bản Duy Minh Thị 1872” do GS Nguyễn Tài Cẩn phiên Nôm, câu 1410 là:
Lập UY trước đã ra uy nặng lời
                                                     (Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2002)

                                                          Huỳnh Chương Hưng
                                                              Quy Nhơn 13/8/2020


Previous Post Next Post