Dịch thuật: Nguồn gốc họ Tần (Bách gia tính)


NGUỒN GỐC HỌ TẦN

Về nguồn gốc họ (tính) Tần chủ yếu có 3 thuyết:
1- Xuất phát từ tính Doanh , là hậu duệ của Chuyên Húc đế 颛顼帝, lấy tên nước làm thị. 
          Tương truyền, Chuyên Húc 颛顼 có cô con gái tên Nữ Tu 女修, ngày nọ, Nữ Tu nhặt được một cái trứng chim yến, sau khi ăn vào và có thai, sinh ra Đại Nghiệp 大业. Con của Đại Nghiệp là Đại Phí 大费 (Bá Ích 伯益) phò tá Đại Vũ trị thuỷ có công, Đế Thuấn 帝舜 ban cho ông họ (tính) Doanh . Hậu nhân của Bá Ích có người tên là Đại Lạc 大骆, con thứ của Đại Lạc là Phi Tử 非子 được Chu Hiếu Vương 周孝王phong tại Tần Đình 秦亭 Lũng Tây 陇西 (nay là đông bắc huyện Thanh Thuỷ 清水 Cam Túc 甘肃) cho ông khôi phục tính Doanh , xưng là Tần Doanh 秦嬴. Nước Tần sau này đứng đầu trong thất hùng thời Chiến Quốc, đồng thời tiến thêm một bước thống nhất toàn quốc. Sau khi Tần bị diệt, con cháu trong vương tộc lấy tên nước làm thị, xưng Tần  thị 秦氏.
2- Xuất phát từ tính Cơ , là hậu duệ của Văn Vương 文王, lấy ấp làm thị.
          Bá Cầm 伯禽 là con của Chu Công Đán 周公旦, hậu duệ của Bá Cầm, được phong ở  Tần ấp, con cháu đời sau lấy ấp làm thị, xưng Tần thị, trong sử xưng là Tần  tính chính tông.
3- Thời cổ người Đại Tần大秦đến Trung Quốc, có người lấy “Tần” làm thị.
Đại Tần 大秦 tức đế quốc La Mã 罗马. Thời Đông Hán, Tây Tấn, Đại Tần từng sai sứ đến giao hảo với Trung Quốc, có người ở lại không về, lấy “Tần” làm họ.
          Thời cổ, Tây vực gọi Trung Quốc là “Tần” , sau này các nước phương tây thông xưng Trung Quốc là “Chi Na” 支那, tức đối âm của chữ “Tần” .
Họ Tần ước chiếm 0,26% nhân khẩu của dân tộc Hán trong cả nước, chiếm vị trí thứ 78. Tứ Xuyên 四川, Hà Nam 河南, Quảng Tây 广西, Giang Tô 江苏 có nhiều người mang họ Tần .

Danh nhân các đời
          Tần Việt Nhân 秦越人, tức danh y Biển Thước 扁鹊 thời Chiến Quốc, ông nổi tiếng về chẩn mạch trị bệnh, sáng lập “tứ chẩn pháp” 四疹法  là vọng , văn , vấn , thiết , dùng những y cụ đơn giản như “châm” , “thạch” , “uý” để trị liệu, đồng thời tinh thông các khoa như nội, phụ, nhi, ngũ quan.
Tần  Thúc Bảo 秦叔宝danh tướng thời Đường, nổi tiếng kiêu dũng thiện chiến, chí tiết hoàn chỉnh, về sau được dân gian tôn làm một trong “Môn thần” 门神.
          Tần Quán 秦观, tự Thiếu Du 少游, từ nhân thời Bắc Tống, cùng với Hoàng Đình Kiên 黄庭坚, Triều Bổ Chi 晁补之, Trương Lỗi 张耒 được gọi chung là “Tô môn tứ học sĩ” 苏门四学士.
          Tần Cửu Thiều 秦九韶, Số học gia kiệt xuất thời Nam Tống, biên soạn quyển Số thư cửu chương 数书九章.
          Tần Cối 秦桧, Tể tướng thời Nam Tống, nhân vật đại biểu phái đầu hàng, vu sát Nhạc phi 岳飞 vị anh hùng kháng Kim.

Chú của người dịch
1- Đại Tần 大秦: là cách gọi của Trung Quốc đối với đế quốc La Mã cùng khu vực cận đông. Cuối thế kỉ thứ 2 trước công nguyên, Trương Khiên 张骞 đi sứ Tây vực, sự giao lưu  văn minh giữa đông phương và tây phương dần tăng lên, con đường tơ lụa từ đó chính thức quán thông, La Mã ở vào điểm cuối cùng của con đường tơ lụa.  Trong Nguỵ lược 魏略 đã gọi La Mã là “Đại Tần”, trong Hậu Hán thư – Tây vực truyện 后汉书 - 西域传, cũng có ghi chép về việc này.

                                                              Huỳnh Chương Hưng
                                                               Quy Nhơn 14/9/2020

Nguyên tác Trung văn
TẦN TÍNH UYÊN NGUYÊN
秦姓渊源
Trong quyển
BÁCH GIA TÍNH
百家姓
Biên soạn: Triệu Dương 赵阳
Cát Lâm Đại học xuất bản xã, 2005