Thứ Năm, 10 tháng 10, 2019

Dịch thuật: Thuỷ đức chi thuỷ Sự thống thượng pháp (kì 3 - hết)

Đăng lúc  21:18  |  Thư Mục  Nghiên Cứu - Dịch Thuật

THUỶ ĐỨC CHI THUỶ   SỰ THỐNG THƯỢNG PHÁP
Cải cách chế độ và hình phạt của triều Tần
(kì 3)

         Loại 2 nhục hình 肉刑: đây là loại hình phạt tàn hại chi thể, bao gồm kình, tị, ngoạt, si, cung, nguyên vốn là hình phạt thường thấy ở thời Thương Chu, triều Tần vẫn sử dụng rộng rãi loại hình phạt này.
          Kình : thích khắc bôi mực lên trán, tức “mặc hình” 墨刑. Trong Tần giản “Pháp luật vấn đáp” có hình phạt “kình dĩ vi thành đán” 鲸以为城旦, người thụ hình không chỉ chịu nhục hình mà còn phải đi làm lao dịch xây thành. Năm Tần Thuỷ Hoàng thứ 34 (năm 213 trước công nguyên), Lí Tư tấu thỉnh thiêu đốt “Thi” “Thư”, lệnh cho 30 ngày mà không đốt sẽ “kình vi thành đán” 鲸为城旦 (thích chữ lên trán, đưa đi xây Trường thành), chính là tập dụng loại hình phạt này. Theo ghi chép trong Sử kí – Trương Nhĩ Trần Dư liệt truyện 史记 - 张耳陈馀列传, Phạm Dương 范阳 triều Tần ra lệnh “kình nhân chi thủ, bất khả thắng số” 黥人之首, 不可胜数 (người bị thích chữ lên trán, nhiều không kể xiết), có thể thấy đó là hình phạt thường dùng.
          Tị : cắt mũi; ngoạt : chặt chân cũng gọi là “ốc túc” 鋈足, tức “phí hình” 剕足, “trảm tả chỉ” 斩左止  (1) đều là khốc hình tàn hại chi thể. Trong Diêm thiết luận – Chiếu thánh thiên 盐铁论 - 诏圣篇 có nói: Tần Thuỷ Hoàng “nhậm hành tất tru, tị tị doanh loa, đoạn túc doanh xa” 任刑必诛, 劓鼻盈蔂, 断足盈车 (lạm dụng hình phạt, thực hiện nghiêm tru sát, mũi bị cắt chứa đầy giỏ, chân bị chặt chất đầy xe) cũng là 2 loại hình phạt thường thấy.
          Cung hình 宫刑: cũng gọi là “hủ hình” 腐刑, đàn ông thì “cát thế” 割势, đàn bà thì “u bế” 幽闭, là loại hình phạt phá hoại sinh thực khí. Như Tần thuỷ Hoàng lấy “ẩn cung đồ hình giả thất thập dư vạn nhân”  隐宫徒刑者七十余万人 (hơn bảy mươi vạn người chịu tội đồ và tội thiến ở ẩn cung (theo bản dịch của Trần Quang Đức - ND) (*) (Sử kí – Tần Thuỷ Hoàng bản kỉ史记 - 秦始皇本纪) chia ra đi xây dựng cung A Bàng 阿房 và lăng mộ ở Li sơn 骊山.
          Si : đánh roi. Si hình là loại nhục hình tương đối nhẹ trong số các nhục hình, nhưng “Tần giản” ở Vân Mộng có chép điều “thục si” 熟笞, tức việc người bị đánh đến chết hoặc tàn phế khó mà tránh được.
          Loại 3 phạt tác 罚作: tức hình phạt lao dịch. Đây là đối với người phạm tội nhẹ lấy lao dịch làm hình phạt. Phạt tác hình có thể phân ra làm mấy loại như sau:
          - Khôn kiềm vi thành đán, thung 髡钳为城旦, : “khôn kiềm” tức gọt tóc đồng thời gia thêm hình cụ, nam thì làm thành đán tức xây thành, nữ thì làm thung tức giã gạo.
          - Hoàn thành đán, thung 完城旦, : “hoàn” tức không bị gọt tóc, chỉ phục vụ lao dịch xây thành, giã gạo.
          - Quỷ tân 鬼薪, bạch xán 白粲: nam làm quỷ tân tức lấy củi dùng cho việc thờ cúng, nữ thì bạch xan tức chọn lựa gạo dùng cho việc thờ cúng.
          - Tư khấu 司寇, tác như tư khấu 作如司寇: “tư khấu” tức (tứ khấu), đàn ông bị phạt đi vùng biên giới lao dịch, đồng thời phòng ngự ngoại khấu, nữ cũng lao dịch như tư khấu, nhưng không ra nơi biên giới.
         - Thú phạt tác 戍罚作, phục tác 复作: nam “thú phạt tác” tức ra biên giới phục vụ lao dịch; nữ “phục tác” tức lao dịch tại phủ quan.
          Thời gian thụ hình của các loại phạt tác hình nêu trên, do bởi hạnh chế về sử liệu nên không có cách nào xác định. Nhưng “Hán thừa Tần chế”, thời gian đầu Huệ Đế 惠帝 lên ngôi, phạt tác vẫn thi hành. Hán thư – Huệ Đế kỉ 汉书 - 惠帝纪 chú dẫn lời của Ứng Thiệu 应劭, thành đán, thung là “tứ tuế hình” (hình phạt 4 năm), quỷ tân, bạch xán “giai tam tuế hình” (đều là hình phạt 3 năm). Khôn kiềm thành đán, thung nặng hơn thành đán, thung, thời gian thụ hình từ 4 năm trở lên, trong Hán cựu nghi nói là “giai tác ngũ tuế” (đều là 5 năm). Còn tư khấu, tác như tư khấu “giai tác nhị tuế” (đều là 2 năm). Thú phạt tác, phục tác là nhẹ nhất, thời gian thụ hình “giai nhất tuế đáo tam nguyệt” (đều từ 1 năm xuống còn 3 tháng). Đầu đời Hán thừa tập hình chế của Tần, thời gian thụ hình các loại phạt tác của triều Tần đại khái đầu đời Hán phỏng theo. 
          Loại 4 thiên hình 迁刑: cũng gọi là “tỉ hình” 徙刑 tức đi đày. Đây là hình phạt đưa người có tội đày ra vùng biên viễn. Như nhà Tần sau khi dẹp phản loạn Lao Ải 嫪毐, đã đem xá nhân của y hơn 4000 nhà bị đưa đi Phòng Lăng 房陵. Ba năm sau, Lã Bất Vi 吕不韦uống rượu độc tự sát, xá nhân của ông ta bị đưa đi Phòng Lăng cũng không phải là ít. Tần Thuỷ Hoàng năm thứ 33 (năm 214 trước công nguyên), triều Tần phía bắc đuổi Hung Nô, từ Du Trung 榆中 (nay là vùng Y Kim Hoắc Lạc Kì 伊金霍洛旗 của Nội Mông), đến khu vực Âm sơn 阴山  (nay là phía bắc thành phố Bao Đầu 包头 Nội Mông), kiến lập 44 huyện, đồng thời dời những lại dân có tội đến đó.
          Loại 5 thục hình 赎刑: đây là hình thức phổ thông giao nộp tài vật nhằm chuộc tội, mượn đó để giảm miễn hình phạt. Trong Tần giản ở Vân Mộng, có ghi chép về thục tử 赎死, thục cung 赎宫, thục thiên 赎迁, thục kình 赎黥, thục nại 赎耐, tức từ nại hình 耐刑 (**) đến tử hình đều có thể dùng tài vật để chuộc tội. Số lượng tài vật mà thục hình giao nộp, hiện không có cách nào biết rõ được, đại khái là lấy tội hình nặng nhẹ làm căn cứ. Theo Tần giản “Tư không luật”, phàm những người không đủ sức giao nộp tài vật để chuộc tội, cho phép lấy hình thức phục vụ lao dịch để bù. Nhưng bất luận áp dụng thục hình hình thức nào, điều mà Tần luật bảo hộ đó là lợi ích của quý tộc quan liêu. Ví dụ như Tần luật quy định, thủ lĩnh của dân tộc thiểu số thuộc Tần, quý tộc tông thất không có tước vị, nếu có tội có thể hưởng hữu thục miễn, hoặc ưu đãi giảm nhẹ thục hình (2). Lại như, người có tước “công sĩ” 公士 (***), lấy lao dịch để chuộc, cho phép không phải mặc quần áo tù, không đeo hình cụ. Bảo tử trở lên mà phạm tội, người tại phủ quan lao dịch để chuộc tội, có thể không cần giám quản, vả lại còn được lấy người có tuổi tương đương để thay làm lao dịch. Nhìn chung địa chủ có thể dùng nô lệ, trâu ngựa để bù vào (3). Thục hình đối với nông dân bần khổ, không chỉ không đủ sức giao nộp tài vật để chuộc tội dù lấy lao dịch để chuộc, cũng không có quyền hưởng thụ các loại ưu đãi nói trên.
          Hình pháp triều Tần nghiêm khốc, hình chủng nhiều, là công cụ bạo lực để kẻ thống trị áp bức nhân dân, trấn áp thế lực phản đối. Đối với việc ủng hộ quyền uy hoàng đế, nó bảo hộ lợi ích của giai cấp thống trị, củng cố chính quyền, đều có tác dụng tích cực. Tần Thuỷ Hoàng vừa mới thống nhất toàn quốc, đầu tiên mượn thuyết “ngũ đức” từ thần hoá hoàng quyền, đến pháp chế cưỡng hoá hoàng quyền hai phương diện khác nhau, để tăng cường sự thống trị chế độ tập quyền trung ương. Đó chính là nguyên nhân sở tại Tần Thuỷ Hoàng chuộng pháp sở dĩ “triều thánh” 朝圣 (****) Trâu Diễn, thuyết “ngũ đức chung thuỷ” đã lọt vào mắt xanh. (hết)

Chú của nguyên tác
1- “Ốc túc” 鋈足, “trảm tả chỉ” 斩左止, thấy ở Tần giản “Pháp luật đáp vấn”.
2- Tham duyệt Vân Mộng Tần giản “Pháp luật đáp vấn”
3- Tham duyệt Vân Mộng Tần giản “Tư không luật”

Chú của người dịch
*- Về câu “ẩn cung đồ hình giả thất thập dư vạn nhân”  隐宫徒刑者七十余万人, có tư liệu giải thích rằng:
          “Ẩn cung” 隐宫 là nơi mà quan viên trong cung nhậm chức cư trú, do bởi vị trí ở vào nơi tương đối vắng vẻ cho nên gọi là “ẩn cung”. Dùng “ẩn cung” để chỉ quan viên nhậm chức.
          “Đồ” thời Tiên Tần có ý nghĩa là bộ binh, sĩ binh.
          Như vậy cả câu được ngắt là: “Ẩn cung, đồ, hình giả thất thập dư vạn nhân” 隐宫, , 刑者七十余万人 có nghĩa “quan viên trong cung, quân đội và tù phạm hơn 70 vạn người”, và cũng có thể ngắt câu là “ẩn cung, đồ hình giả thất thập dư vạn nhân” 隐宫, 徒刑者七十余万人, “đồ hình giả” 徒刑者3 chữ hợp lại giải thích là “sĩ binh bị tội”, chính là sĩ binh của 6 nước chiến bại bị bắt.
**- Nại hình 耐刑: một trong những hình phạt của triều tần, cưỡng chế gọt tóc mai và râu, tóc trên đầu để lại. Nại hình耐刑nhẹ hơn khôn hình 髡刑.
***- Công sĩ 公士: là cấp tước đầu tiên trong 20 cấp ở thời Tần, tức cấp thấp nhất. Người dân có được cấp này vẫn phải phục vụ lao dịch, chỉ là thân phận hơn người không có tước một chút.
****- Triều thánh 朝圣: triều bái thánh tượng, ở đây ý nói sùng bái.

                                                                    Huỳnh Chương Hưng
                                                                     Quy Nhơn 10/10/2019

Nguyên tác Trung văn
THUỶ ĐỨC CHI THUỶ   SỰ THỐNG THƯỢNG PHÁP
水德之始  事统上法
Trong quyển
TẦN HÁN SỬ THOẠI
秦汉史话
Tác giả: Phan Quốc Cơ 潘国基
Bắc Kinh: Trung Quốc quốc tế quảng bá xuất bản xã, 2007

Chia sẻ bài viết

Mã nguồn bởi Huỳnh Chương Hưng
Copyright © 2012 Huỳnh Chương Hưng.
back to top