Dịch thuật: Bốn chữ "Xuân Hạ Thu Đông" cũng là họ


BỐN CHỮ “XUÂN HẠ THU ĐÔNG”
 CŨNG LÀ HỌ

          Cách dùng chữ trong Bách gia tính 百家姓  (1) quả thật là phong phú đa dạng. Quốc danh địa danh, động vật thực vật, số tự phương vị, thiên thể khí tượng, địa hình địa mạo, thực vật dụng phẩm, kim loại màu sắc, thiên can địa chi, quý tiết thời gian v.v… không gì là không có. Như Hoa , Thảo , Mộc , Dương , Liễu , Phong , Vân , Lôi , Vũ , Tuyết , Chu , Hoàng , Lam , Bạch , Hắc , Công , Nông , Binh , Học , Thương … tất cả đều là họ. Càng thú vị hơn, ngay cả bút , mặc , chỉ , nghiễn , cầm , kì , thư , hoạ , thậm chí chua ngọt đắng cay cũng đều là họ.
          Bốn chữ “Xuân Hạ Thu Đông” dùng để biểu thị 4 mùa cũng đều là họ.
          Đầu tiên là họ Xuân . Họ Xuân vốn bắt nguồn từ một trong “tứ quân tử” nổi tiếng thời Chiến quốc, đó là Xuân Thân Quân 春申君. Ba người còn lại là Mạnh Thường Quân 孟常君 nước Tề, Tín Lăng Quân 信陵君 nước Nguỵ, Bình Nguyên Quân 平原君 nước Triệu. Xuân Thân Quân tên là Hoàng Yết 黄歇, là Tể tướng nước Sở thời Chiến quốc. Tương truyền, sông Hoàng Phố 黄浦 ở Thượng Hải là do ông chủ trì khai tạc lưu thông, cho nên sông Hoàng Phố cũng còn gọi là Hoàng Yết Phố 黄歇浦, Xuân Thân giang 春申江. Tên gọi tắt của Thượng Hải là “Thân” cũng là từ phong hiệu của ông mà ra. Sau khi Xuân Thân Quân qua đời, trong số hậu duệ của ông đã lấy chữ “Xuân” làm họ, vì thế trong Bách gia tính có họ Xuân.
          Họ Hạ là một họ lớn trong Bách gia tính, họ này vốn bắt nguồn từ Đại Vũ 大禹. Hậu duệ của Đại Vũ vào thời nhà Hạ được gọi là “Hạ Hậu thị” 夏后氏, “Hậu” lúc bấy giờ có nghĩa là “đế” . Khi Chu Vũ Vương kiến lập triều Chu đã đem đất Kỉ phong cho Đông Lâu Công 东楼公, một hậu duệ của Hạ Vũ lập ra nước Kỉ. Những hậu duệ của Hạ Vũ mà không được thụ phong, sau này đã lấy “Hạ” làm họ.
          Họ Thu vốn bắt nguồn từ một truyền thuyết. Chuyện kể rằng, thời cổ tại nước Lỗ có một người tên là Thu Hồ 秋胡, cưới vợ được 3 ngày liền đi làm quan, sau 3 năm mới trở về. Khi sắp đến nhà, Thu Hồ trông thấy một cô gái dung mạo xinh đẹp đang hái dâu bên đường, cô gái đó chính là vợ của anh ta, nhưng anh ta không nhận ra, cô gái cũng không nhận ra chồng mình. Thu Hồ muốn trêu ghẹo, lên tiếng muốn tặng cô gái 20 lượng vàng. Cô gái không nhận, nghiêm nghị đáp rằng:
          Tôi là người đã có chồng, chồng tôi ra ngoài làm quan đã 3 năm rồi, tôi đóng cửa ở một mình, từ trước tới giờ chưa bị ai làm nhục như thế này.
          Nói xong liền quay đầu bỏ đi về nhà. Qua một lúc sau, Thu Hồ về đến nhà mới phát hiện cô gái mà mình trêu ghẹo lúc nãy chính là vợ của mình, trong lòng vô cùng xấu hổ. Người vợ của Thu Hồ trông thấy người chồng mà mình khổ công chờ đợi 3 năm, sau khi trở về lại trở thành kẻ phẩm hạnh không nghiêm trang, tức giận nhảy xuống sông tự tận.
          Có sách viết về họ tên chỉ ra rằng: họ “Thu” bắt nguồn từ Thu Hồ.
          Thời Hán cũng có một người tên là Thu Hồ 秋胡, người này có học qua Thượng thư 尚书. Một ông lão họ Địch rất thích tinh thần học hỏi của Thu Hồ, muốn đem cháu gái của mình gã cho, nhưng anh ta lại nói rằng:
          Thời cổ có một người tên Thu Hồ, đã cưới vợ nhưng lại thất lễ với vợ, khiến vợ nhảy xuống sông tự tận, nên tôi không thể cưới.
          Ông lão họ Địch cũng là người có học, nghe anh ta nói xong liền cười bảo rằng:
          Thời cổ nước Lỗ có 2 Tăng Sâm 曾参, nước Triệu có 2 Mao Toại 毛遂, những việc họ làm không giống nhau, sao lại có thể vì Thu Hồ thời cổ thất lễ mà Thu Hồ thời nay lại không cưới vợ?
          Thu Hồ nghe qua thấy có lí liền bằng lòng lấy cô cháu gái của ông lão họ Địch. Câu chuyện này cũng là nguồn gốc của họ “Thu”.
          Họ Đông có nguồn gốc từ tên một vị quan thời cổ. Thời Chu có một vị quan chuyên quản việc thuỷ lợi tên là Đông Nhật 冬日, trong số hậu duệ của vị quan này có người lấy “Đông” làm họ, vì thế họ này đã lưu truyền lại.
          Đây là những câu chuyện thú vị về lai lịch của 4 chữ “Xuân Hạ Thu Đông” được lấy làm họ.

CHÚ CỦA NGƯỜI DỊCH
(1)- BÁCH GIA TÍNH 百家姓: đây là bộ sách về các họ Trung văn. Sách được hình thành vào đầu thời Bắc Tống. Nguyên sách thu thập 411 họ, sau tăng bổ thành 504 họ, trong đó họ đơn có 444 họ, họ phức có 60 họ.
          Bách gia tính百家姓 cùng với Tam tự kinh 三字经, Thiên tự văn 千字文 được gọi chung là Tam Bách Thiên 三百千, đây là những bộ sách thời cổ dùng để dạy cho trẻ em.
          Nguồn http://baike.baidu.com/view/6559.htm

                                                                       Huỳnh Chương Hưng
                                                                       Quy Nhơn 28/3/2013

Nguyên tác Trung văn
“XUÂN HẠ THU ĐÔNG” TỨ CÁ TỰ DÃ THỊ TÍNH
春夏秋冬四个字也是姓
Trong quyển
TRUNG QUỐC NHÂN DANH ĐÍCH CỐ SỰ
中国人名的故事
Tác giả:  Trương Tráng Niên  张壮年
               Trương Dĩnh Chấn  张颖震
Sơn Đông hoạ báo xuất bản xã, tháng 9-2005.
Previous Post Next Post