Dịch thuật: Cầm huyền dữ tri âm (Tiểu song u kí)

 

琴弦与知音

弄绿绮之琴 (1), 焉得文君之听 (2).

濡彩毫之笔 (3), 难描京兆之眉 (4).

瞻云望月 (5), 无非凄怆之声 (6).

弄柳拈花, 尽是销魂之处 (7).

(陈继儒: 小窗幽记) 

CẦM HUYỀN DỮ TRI ÂM

Lộng Lục ỷ chi cầm (1), yên đắc Văn Quân chi thính (2).

 Nhu thái hào chi bút (3), nan miêu Kinh Triệu chi mi (4).

Chiêm vân vọng nguyệt (5), vô phi thê sảng chi thanh (6).

Lộng liễu niêm hoa, tận thị tiêu hồn chi xứ (7).

(Trần Kế Nho: Tiểu song u kí)

Chú thích

1-Lục ỷ chi cầm 绿绮之琴: “Lục ỷ” 绿绮 là tên một cây đàn của từ phú gia Tư Mã Tương Như 司马相如thời Tây Hán. Trong sử chép rằng, Tư Mã Tương Như 司马相如 cùng Lâm Cung lệnh 临邛令là Vương Cát Thiện 王吉善 đến chơi nhà phú nhân Trác Vương Tôn 卓王孙, vừa gặp lúc Trác Văn Quân 卓文君do vì chồng mới qua đời nên về ở nhà cha mẹ. Tư Mã Tương Như nảy sinh tình cảm với Trác Văn Quân, đã dùng đàn Lục ỷ tấu khúc “Phụng cầu hoàng” 凤求凰 để quyến rủ Văn Quân. Trác Văn Quân lĩnh hội được tình ý trong tiếng đàn của Tư Mã Tương Như, ngay trong đêm đó đã tư bôn cùng Tư Mã Tương Như.

2-Yên 焉: Làm sao.

3-Nhu 濡: thấm ướt. Thái hào 彩毫: bút màu.

4- Kinh Triệu chi mi 京兆之眉: Trương Xưởng 张敞người đời Hán cùng với vợ hai người rất thương yêu nhau. Việc ông đích thân vẽ chân mày cho vợ, trở thành giai thoại một thời. Do bởi Trương Xưởng từng nhậm chức Kinh Triệu doãn 京兆尹, nên ở đây đã dùng Kinh Triệu doãn để chỉ Trương Xưởng.

5-Chiêm 瞻: ngước lên nhìn.

6-Thê sảng 凄怆: bi thương.

7-Tiêu hồn 销魂: cũng viết là 消魂, vì tình mà xúc cảm, phảng phất hồn phách đã rời thân thể. Hình dung đau buồn đến cực độ.

Dịch nghĩa

ĐÀN VỚI TRI ÂM

          Khảy cây đàn như đàn Lục ỷ của Tư Mã Tương Như, nhưng làm sao mà có được người con gái nghe hiểu tiếng đàn như Trác Văn Quân?

          Thấm ướt cây bút vẽ để chân mày, nhưng khó mà vẽ được chân mày đẹp như Trương Xưởng đã vẽ.

          Ngẩng đầu lên nhìn mây trôi trăng sáng, những tiếng mà tai nghe được đều là những tiếng thê lương đau buồn. 

          Vịn liễu hái hoa, những nơi đi đến đều là những chỗ khiến người thương cảm.

Phân tích và thưởng thức

          Tư Mã Tương Như 司马相如, là đại từ phú gia thời Tây Hán. Câu chuyện Trác Văn Quân 卓文君tư bôn cùng với ông, xưa nay khoái chá nhân khẩu, truyền thành giai thoại. Trong “Phụng cầu hoàng” 凤求凰ông hát rằng:

Giao tình thông ý tâm hoà hài

Trung dạ tương tùng tri giả thuỳ?

Song dực câu khởi phiên cao phi

Vô cảm ngã tư sử dư bi.

交情通意心和谐

中夜相从知者谁

双翼俱起翻高飞

无感我思使余悲

(Tình ý tương giao tâm hài hoà

Nửa đêm người hiểu mà đi theo cùng ta là ai?

Đôi cánh đã giương để bay cao

Không cảm được với tình ý của tôi khiến lòng tôi tràn đầy sầu bi)

          Khúc nhạc mà Tư Mã Tương Như đàn đã khiến Trác Văn Quân cảm động, quyết định tư bôn cùng ông.

Dục thủ minh cầm đàn

Hận vô tri âm thưởng

欲取鸣琴弹

恨无知音赏

Ta muốn lấy đàn đàn một khúc

Chỉ hận chẳng có tri âm thưởng thức)

          Tri âm khó gặp, tình nhân khó tìm, vừa là tình nhân lại là tri âm, há chẳng phải là khó càng thêm khó? Tình nhân nếu chẳng phải là tri âm, thì đàn lên cho ai nghe? Chi bằng không có thì tốt hơn. Trong xã hội Trung Quốc cổ đại, chồng làm giềng cho vợ, phụ nữ không có địa vị trong xã hội, nhưng thân là Kinh Triệu doãn Trương Xưởng 张敞đích thân vẽ chân mày cho vợ, nhất thời truyền thành giai thoại. Vẽ chân mày cho người, điều mả vẽ ra là tình chứ không phải chân mày. Nếu không có tình lang giống như Trương Xưởng, thì vẽ chân mày đậm nhạt cho ai xem? Nhưng từ xưa đến nay, tri âm khó tìm, cho nên ngẩng đầu lên, không tránh khỏi chỉ thấy mây trôi trăng sáng, những gì tai nghe được đều là những thanh âm thê lương đau buồn; vịn liễu bẻ hoa, những nơi mà đi đến đều là những chỗ khiến người thương cảm.

Huỳnh Chương Hưng

Quy Nhơn 08/11/2026

Nguyên tác

CẦM HUYỀN DỮ TRI ÂM

琴弦与知音

Trong quyển

TIỂU SONG U KÍ

小窗幽记

Tác giả: Trần Kế Nho 陈继儒

Chú dịch: Lôi Phương 雷芳

Sùng Văn thư cục, 2007.

Previous Post Next Post