無題
壁上微塵霑舊榻
階前細雨潤青苔
徑花未掃香終日
歲月烟霞伴菊梅
VÔ ĐỀ
Bích thượng vi trần triêm cựu tháp
Giai tiền tế vũ nhuận thanh đài
Kính hoa vị tảo hương chung nhật
Tuế nguyệt yên hà bạn cúc mai
Huỳnh Chương Hưng
Quy Nhơn 25/10/2026
Bích
thượng vi trần triêm cựu tháp 壁上微塵霑舊榻: trên vách, lớp bụi đã bám lên chiếc sạp cũ. “Tháp” 榻là cái sạp, khí cụ bằng gỗ dùng để ngồi hoặc nằm.
Trần
Phồn 陈蕃thời Đông Hán, tự Trọng Cử 仲举, người Bình Dư 平舆 Nhữ Nam 汝南 (nay là
Bình Dư 平舆 Hà
Nam 河南), là
vị Thái thú được phong Cao Dương Hầu 高阳侯. Trần Phồn từng nhậm chức ở Dự Chương 豫章, tại quận ông không thích nghinh tiếp tân khách, chỉ
có danh sĩ đương thời Từ Trĩ 徐稚 là được ông mến mộ nghinh tiếp.
Từ
Trĩ 徐稚 (稺) (năm 97 – năm 168), tự Tử Nhụ 子孺, người Nam Xương 南昌 Dự Chương 豫章 (nay thuộc Giang Tây 江西), gia cảnh bần hàn lấy việc cấy
cày để mưu sinh. Thời Hán Hoàn Đế 汉桓帝, nhân vì bất mãn với việc hoạn quan chuyên quyền, ông nhiều lần từ chối
lời mời của triều đình, không muốn làm quan, được người đời ngợi khen là “Nam
Châu cao sĩ” 南州高士.
Theo “Hậu Hán thư – Từ Trĩ truyện” 后汉书 - 徐稚传của Phạm Việp 范晔nhà Tống
thời Nam triều có chép:
Thời Trần Phồn vi Thái thú, dĩ lễ thỉnh thự Công tào, Trĩ bất miễn chi, kí
yết nhi thoái. Phồn tại quận bất tiếp tân khách, duy Trĩ lai đặc thiết nhất tháp,
khứ tắc huyền chi. Hậu cử hữu đạo, gia bái Thái Nguyên Thái thú, giai bất tựu.
时陈蕃为太守, 以礼请署功曹, 稺不免之, 既谒而退. 蕃在郡不接宾客, 惟稺来特设一榻, 去則县之. 后举有道, 家拜太原太守, 皆不就.
(Đương lúc Trần Phồn làm Thái thú, lấy lễ mời người ra nhậm chức Công tào,
Từ Trĩ cũng không tránh khỏi, nhưng ông đến bái kiến rồi lui về. Trần Phồn lúc ở
quận không tiếp tân khách, chỉ khi Từ Trĩ đến, Trần Phồn đặc biệt làm một chiếc
sạp để tiếp, khi Từ Trĩ ra về, liền treo sạp lên. Về sau Từ Trĩ được tiến cử vì
đức hạnh, gia đình cũng đề nghị ông làm Thái thú ở Thái Nguyên, nhưng ông đều từ
chối.)
https://baike.baidu.com/item/%E9%99%88%E8%95%83%E4%B8%8B%E6%A6%BB/10635206
Về sau, căn cứ vào câu chuyện này, trong thành ngữ Trung Quốc có câu: “Trần
Phồn há tháp” 陳蕃下榻 (Trần Phồn đưa sạp xuống), dùng
để thể hiện sự trân trọng và sự mến mộ giữa hai người bạn với nhau.
Trong bài “Khóc Dương Khuê”. Nguyễn Khuyến (Việt Nam) cũng đã viết:
Giường kia treo những hững hờ
Đàn kia gẩy cũng ngẩn ngơ tiếng đàn
Giai
tiền tế vũ nhuận thanh đài 階前細雨潤青苔: trước thềm, cơm mưa phùn đã làm tưới mát rêu xanh.
Nguyễn Bính (Việt Nam) trong bài “Từ độ về đây” sáng tác tại Rạch Giá năm 1947 đã viết:
Từ độ về đây sống rất nghèo
Bạn bè chỉ có gió trăng theo
Những thằng bất nghĩa xin đừng đến
Hãy để thềm ta xanh sắc rêu
https://isach.info/poem.php?poem=tu_do_ve_day__nguyen_binh
Kính
hoa vị tảo 徑花未掃: hoa nơi lối nhỏ chưa quét. Điền xuất từ câu thơ
trong bài “Khách chí” 客至của Đỗ Phủ 杜甫đời Đường:
Hoa
kính bất tằng duyên khách tảo
Bồng
môn kim thuỷ vị quân khai.
花徑不曾緣客掃
蓬門今始為君開
(Lối hoa tôi chưa từng vì ai mà
quét
Nhưng cửa bồng hôm nay vì anh
mà mở)
Yên hà 烟霞: khói và ráng trời, thường dùng để chỉ cảnh đẹp thiên nhiên,
hoặc cảnh ở ẩn.
Bạn cúc
mai 伴菊梅: làm bạn với hoa cúc, hoa mai.
Trong văn hoá truyền thống Trung Quốc, hoa cúc có nhã
xưng là “thọ khách” 夀客, một trong “tứ quân tử”, tượng trưng cho cao khiết, ẩn
dật, trường thọ và cát tường.
Hoa mai có nhã xưng là “thanh khách” 清客, đứng đầu trong “tứ quân tử”, tượng trưng cho tinh thần tự cường bất tức, phẩm cách và khí tiết cao khiết.
Tạm dịch
VÔ ĐỀ
Bụi đã bám vào chiếc sạp cũ treo
trên vách
Rêu trong cơn mưa phùn đã lên
xanh trước thềm
Hoa nơi lối nhỏ chưa quét, suốt
cả ngày toả hương thơm
Tháng năm vui cảnh yên hà, làm
bạn với cúc và mai
