Dịch thuật: Lưỡng Tấn (năm 265 - năm 420) (kì 1)

 

LƯỠNG TẤN

(Năm 265– năm 420)

(kì 1)

          Lưỡng Tấn 两晋chỉ Tây Tấn 西晋 và Đông Tấn 东晋. Tây Tấn từ năm 265 do Tấn Vũ Đế Tư Mã Viêm 晋武帝司马炎kiến lập thay thế chính quyền Tào Nguỵ 曹魏, quốc hiệu Tấn 晋, định đô tại Lạc Dương 洛阳, sử xưng là “Tây Tấn” 西晋. Năm 280, Tấn Vũ Đế diệt Đông Ngô 东吴, thống nhất nam bắc. Tây Tấn chỉ tồn tại 51 năm, nếu như bắt đầu tính từ lúc nước Ngô diệt vong, thì Tây Tấn chỉ tồn tại 37 năm. Năm Kiến Hưng 建兴thứ 4 (năm 316), thủ lĩnh Hung nô Lưu Diệu 刘曜công hãm Trường An 长安, bắt Mẫn Đế 愍帝, Tây Tấn từ đó diệt vong.

Tháng 3 năm sau, Tư Mã Duệ 司马睿lên ngôi Tấn Vương, cải nguyên Kiến Vũ 建武. Thời gian sau vào năm 318, Tư Mã Duệ lên ngôi hoàng đế, cải nguyên Thái Hưng 太兴, chiếm cứ trung và hạ du Trường giang 长江cùng các vùng ở lưu vực Hoài hà 淮, Châu giang 珠江, sử xưng là “Đông Tấn” 东晋.

Năm 265 – Tấn Vũ Đế Thái Thuỷ 晋武帝泰始nguyên niên

          Tháng 8, Tư Mã Chiêu 司马昭 qua đời, con là Tư Mã Viêm 司马炎 (năm 216 – năm 290) kế thừa Tướng quốc 相国, ngôi vị Tấn Vương 晋王.

          Tháng 12, Tư Mã Viêm hạ lệnh Nguỵ Nguyên Đế Tào Hoán 魏元帝曹奂nhường ngôi, tự mình xưng đế, Tư Mã Viêm tức Tấn Vũ Đế 晋武帝, đặt quốc hiệu là “Tấn” 晉, định đô Lạc Dương 洛阳, đại phong chư vương tông thất.

Năm 275 – Tấn Vũ Đế Hàm Ninh 咸宁nguyên niên

          Thành Lạc Dương 洛阳 kinh đô phát sinh ôn dịch, số người chết lên đến cả vạn.

Năm 280 – Tấn Vũ Đế Thái Khang 太康 nguyên niên

          Tây Tấn diệt nước Ngô 吴, thống nhất toàn quốc. Đầu đời Tấn ban bố “Hộ điệu thức” 户调式, cụ thể bao gồm Chiếm điền khoá điền chế 占田课田制, Hộ điệu chế 户调制và Phẩm quan chiếm điền ấm khách chế 品官占田荫客制 (1).

Năm 281- Tấn Vũ Đế Thái Khang năm thứ 2

          Quận Cấp 汲 (nay là phía tây nam huyện Cấp 汲 Hà Nam 河南), phát hiện trúc giản “Trúc thư kỉ niên” 竹书纪年 trong ngôi mộ thời Chiến Quốc.

Năm 290 – Tấn Huệ Đế Vĩnh Hi 晋惠帝永煕nguyên niên

          Tấn Huệ Đế 晋惠帝 kế vị, cưới Giả  Nam Phong 贾南风 - con gái của Giả Sung 贾充làm hoàng hậu. Ngoại thích Dương Tuấn 杨骏phụ chính. Nhằm lôi kéo mua chuộc người ở xa, đã tạo ơn riêng, Dương Tuấn gia phong Lưu Uyên 刘渊 làm Ngũ bộ đại đô đốc 五部大都督.

Năm 291 – Tấn Huệ Đế Nguyên Khang 元康nguyên niên

          Hoàng hậu Giả Nam Phong 贾南风gây hoạ loạn triều cương, hại chết Dương Tuấn 杨骏, Nhữ Nam Vương Tư Mã Lượng 汝南王司马亮cùng Sở Vương Tư Mã Vĩ 楚王司马玮, dẫn đến “bát vương chi loạn” 八王之乱.

Năm 296 – Tấn Huệ Đế Nguyên Khang năm thứ 6

          Người Đê 氐cư trú ở Quan trung 关中là Tề Vạn Niên 齐万年khởi binh phản kháng vương triều Tấn.

Năm 298 – Tấn Huệ Đế Nguyên Khang năm thứ 8

          Vùng Quan trung gặp nạn đói liên miên, Ba Đê hào tù 巴氐豪酋là Lí Đặc 李特giữ Quan trung, lưu dân vùng Hán trung vào đất Thục.

Năm 300 – Tấn Huệ Đế Vĩnh Khang 永康nguyên niên

          Triệu Vương Luân 赵王伦lập kế bắt Giả Nam Phong, đồng thời biếm xuống làm thứ nhân.

Năm 304 – Tấn Huệ Đế Vĩnh An 永安nguyên niên

          Quý tộc Hung nô Lưu Uyên 刘渊lên làm Hán Vương 汉王tại Tả Quốc thành 左国城 (nay là Li Thạch 离石山西Sơn Tây), kiến quốc hiệu “Hán” 汉, 16 nước phương bắc bắt đầu từ đó.

Năm 306 – Tấn Huệ Đế Vĩnh Hưng 永兴năm thứ 3

          Tướng lãnh của Đông Hải Vương Việt 东海王越 (tức Tư Mã Việt 司马越, tự Nguyên Siêu 元超 ? – 311 - ND) là Kì Hoằng 祁弘đưa Tấn Huệ Đế về lại Lạc Dương. Tiếp đó Tấn Huệ Đế bị hạ độc chết. Em trai là Tư Mã Xí 司马炽lên ngôi. Tư Mã Xí tức Tấn Hoài Đế 晋怀帝. “Bát vương chi loạn” đến đây kết thúc.

                                                                         (còn tiếp)

Phụ lục của người dịch

1-Chiếm điền khoá điền chế 占田课田制: là chế độ thuế ruộng đất trọng yếu được ban bố sau khi Tấn Vũ Đế 晋武帝niên hiệu Thái Khang 太康nguyên niên (năm 280) diệt Ngô thống nhất toàn quốc . Chế độ này mang tính chất song trùng “hạn điền” 限田và “khoá điền” 课田, vừa bảo hộ nền kinh tế tự canh lại thoả hiệp chiếu cố đến đặc quyền của sĩ tộc quan liêu.

-Hộ điệu thức 户调式: phàm đinh nam 丁男 (nam, nữ từ 16 tuổi trở lên đến 60 tuổi là chính đinh 正丁) lập hộ, mỗi năm giao nộp 3 tấm lụa, 3 cân bông.

          Đinh nữ 丁女 và thứ đinh nam 次丁男 (nam nữ từ 15 tuổi trở xuống đến 13 tuổi, từ 61 tuổi trở lên đến 65 tuổi là thứ đinh 次丁) lập hộ, thì giao nộp một nửa.

-Chiếm điền 占田và khóa điền 课田: đàn ông được chiếm điền 70 mẫu, đàn bà được chiếm điền 30 mẫu. Trong chế độ chiếm điền này, đinh nam là 50 mẫu, thứ đinh nam là 25 mẫu, đinh nữ là 20 mẫu phải nộp thuế, đó gọi là “khoá điền” 课田, mỗi mẫu khoá điền nộp thóc là 8 thăng. Bất luận là ruộng có chiếm đủ số hay không, cũng đều theo định ngạch này mà trưng thu.

-Phẩm quan chiếm điền, ấm khách chế 品官占田荫客制: chế độ đặc quyền chiếm điền của sĩ tộc địa chủ, ấm khách và ấm thân thuộc.

          Quan nhất phẩm có quyền chiếm điển 50 khoảnh, trở xuống cứ mỗi phẩm giảm 5 khoảnh, đến cửu phẩm chiếm điền 10 khoảnh.

          Âm thân thuộc: dựa theo phẩm quan cao thấp có thể gia ơn cho thân thuộc, nhiều thì đến cửu tộc, ít thì tam tộc….

Huỳnh Chương Hưng

Quy Nhơn 12/10/2026

Nguồn

TRUNG QUỐC LỊCH SỬ NIÊN BIỂU

中国历史年表

Biên soạn: Phùng Tuệ Quyên 冯慧娟

Trường Xuân: Cát Lâm xuất bản tập đoàn cổ phần hữu hạn công ti, 2015

Previous Post Next Post