黎庶坐車都是役
大夫乘駕總爲驂
Lê thứ toạ xa đô thị dịch
Đại phu thừa giá tổng vi tham
Huỳnh Chương Hưng
Quy Nhơn 18/10/2026
Chế độ
xe ngựa thời cổ Trung Quốc lấy lễ chế đời Chu làm hạt nhân, đem hình chế của
xe, số lượng ngựa, chủng loại thùng xe cùng với quy phạm ngồi xe làm thành một
bộ điển chương kết hợp trật tự đẳng cấp phong kiến một cách chặt chẽ nghiêm ngặt.
Xe ngựa không chỉ là lợi khí trong chiến trận mà còn là công cụ dùng trong đi lại,
tượng trưng trọng yếu cho địa vị chính trị, thân phận cao thấp.
Sử dụng
số lượng ngựa nhiều ít có quy định nghiêm ngặt, nếu vượt số lượng quy định là
“tiếm việt” sẽ bị hậu quả nghiêm trọng.
Theo “Dật
lễ - Vương độ kí” 逸礼 - 王度记:
Thiên
tử giá lục, chư hầu giá tứ, đại phu giá tam, sĩ giá nhị, thứ nhân giá nhất.
天子駕六, 諸侯駕四, 大夫駕三, 士駕二, 庶人駕一.
(Thiên
tử đóng 6 ngựa, chư hầu đóng 4 ngựa, đại phu đóng 3 ngựa, sĩ đóng 2 ngựa, thứ nhân
đóng 1 ngựa.)
Ngoài
ra, xe thiên tử gọi là “lộ” 路, phân làm 5 lộ là “ngọc lộ” 玉路 (dùng khi quốc gia tế điển), “kim lộ” 金路 (dùng
khi đại yến tân khách) , “tượng lộ” 象路 (lúc lên triều hoặc khi tuần hành), “cách lộ” 革路
(dùng trong hoạt động quân sự), “mộc lộ” 木路
(dùng khi săn bắn). Xe của công khanh sĩ đại phu trở xuống gọi là “phục xa” 服車, xe của thứ dân gọi là “dịch xa” 役車.
Với xe của đại phu đóng
3 ngựa, gồm 1 con phục 服 (con ngựa ở giữa) và 2 con tham 驂 (2
con ngựa 2 bên) (trích).
https://zhuanlan.zhihu.com/p/651577471
Tạm dịch
Xe ngựa của bách tính di gọi là “dịch”
Xe ngựa của đại phu dùng gọi là “tham”
