桃林色艶思夸父
桂魄香濃望素娥
Đào lâm sắc diễm tư Khoa Phủ
Quế phách hương nùng vọng Tố Nga
Đào lâm 桃林:
cũng gọi là Đặng lâm 鄧林, rừng đào trong truyền thuyết thần
thoại cổ đại Trung Quốc. Trong “Sơn hải kinh – Hải ngoại bắc kinh” 山海經 - 海外北經 có đoạn:
Khoa
Phủ dữ nhật trục tẩu, nhập nhật. Khát dục đắc ẩm, ẩm vu Hà, Vị; Hà Vị bất túc,
bắc ẩm đại trạch. Vị chí, đạo khát nhi tử. Khí kì trượng hoá vi Đặng lâm.
夸父與日逐走, 入日. 渴欲得飲, 飲于河, 渭; 河, 渭不足, 北飲大澤. 未至, 道渴而死. 棄其杖, 化爲鄧林.
(Khoa
Phủ đuổi theo mặt trời, đã đuổi gần đến được mặt trời. Lúc này Khoa Phủ khát muốn
uống nước, thế là đến bên Hoàng hà và Vị thuỷ để uống. Khoa Phủ uống cạn hai
con sông đó nhưng chưa đã khát, lại muốn uống nước ở một cái đầm lớn phía bắc,
nhưng đi được nửa đường thì chết khát. Khoa Phủ vất chiếc gậy cầm tay bên đường,
nơi đó biến thành “Đặng lâm”.)
“Đặng lâm” 鄧林 chú
là “đào lâm” 桃林.
Theo Lâm Lê 林藜 trong “Mỗi nhật nhất từ” 每日一辭có ghi:
“Nhân vì Khoa Phủ vốn họ Đặng 鄧, theo
hiệu chủ trong “Sơn hải kinh” 山海經: Đặng lâm cũng chính là đào lâm, bời “đặng” 鄧 và
“đào” 桃 âm đọc tương cận. Đương thời Đặng lâm tại phía bắc nước
Sở, cũng chính là trong địa phận tỉnh Hồ Nam, Hồ Bắc hiện nay.”
Khoa Phủ 夸父: một vị thần khổng lồ trong thần thoại cổ đại Trung Quốc,
còn có tên là Bác Phủ 博父, Phác Phủ 朴父. Ông là hậu duệ của Viêm Đế 炎帝. Khoa Phủ nổi tiếng với câu chuyện đuổi theo mặt trời,
về sau trong thành ngữ Trung Quốc có câu “Khoa Phủ trục nhật” 夸父逐日 hay “Khoa Phủ truy nhật” 夸父追日dùng để ví với người không biết tự lượng sức mình.
Quế phách 桂魄: Theo truyền thuyết cổ đại,
trên cung trăng có cây quế nên “quế phách” là biệt xưng của mặt trăng.
Trong Dậu dương tạp trở 酉陽雜俎có ghi:
Nguyệt
trung hữu quế, cao ngũ bách trượng, hạ hữu nhất nhân thướng chước chi, thụ sang
tuỳ hợp.
月中有桂, 高五百丈, 下有一人常斫之, 樹創隨合.
(Trong mặt trăng có
cây quế, cao năm trăm trượng, bên dưới cây có một người thường đốn nó, vết
thương của cây theo nhát búa rút ra liền lành lại)
Ở lời chú trong Thượng
thư 尚書 có nói, trên mặt trăng nơi mà không có ánh
sáng thì gọi là “phách” 魄.
Ngày trước đối với mặt trăng, phần
sáng gọi là “minh” 明, phần không
có ánh sáng gọi là “phách” 魄.
Sau mùng một, “nguyệt minh” 月明dần
tăng, “nguyệt phách” 月魄 dần giảm
cho nên gọi là “tử phách” 死魄. Ngược lại, sau ngày rằm, “nguyệt minh” 月明
dần giảm, “nguyệt phách” 月魄dần sinh,
cho nên gọi là “sinh phách” 生魄.
Tố Nga 素娥: tức Hằng Nga 姮娥, nhân vì tị huý Hán Văn Đế Lưu Hằng 劉恆nên đổi gọi là Thường Nga 嫦娥, nữ thần trên cung trăng trong thần thoại cổ đại Trung Quốc.
Tạm dịch
Rừng đào tươi sắc tư Khoa Phủ
Trăng quế nồng hương vọng Tố Nga

